Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:52:45 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giải phẫu một cuộc chiến tranh  (Đọc 112727 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #150 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2008, 09:57:32 am »

ĐI ĐẾN MỘT VAI TRÒ THẾ GIỚI
CÁCH MẠNG ĐỂ THAY THẾ

Việt Nam dân chủ cộng hòa cần phải có sự phân tích sắc sảo và sự khéo léo đặc sắc để xoay xở giữa những nguy cơ bội bạc của sự tranh chấp Trung - Xô và tiềm năng lợi dụng của Mỹ. Đảng ở trong một vị trí khó xử, không hoàn toàn tin ở đồng minh của mình nhưng cũng không thể tiến hành cuộc chiến tranh ở mức cao hơn nếu không có viện trợ của họ. Làm dịu những người ủng hộ ngày càng tranh chấp với nhau, khai thác những bất đồng của họ để đạt được viện trợ tối đa và liên minh chặt chẽ với bên này hay bên kia là một nhu cầu hết sức phức tạp của Đảng.

Trong khi sự phân liệt Trung - Xô vần còn chưa bất lợi lắm, nhưng Đảng thấy rõ về lâu về dài nó rất là nguy hiểm. Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 và Hiệp ước Lào năm 1962 chứng minh rằng người Trung Quốc có khả năng không đáng tin cậy. Dù vậy, tiếp xúc giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa và Trung Quốc vẫn còn đặc biệt gần gũi và ảnh hưởng của Trung Quốc còn lớn ngay sau khi Hà Nội cải thiện quan hệ với Liên Xô năm 1965.

Các lực lượng hậu cần của Trung quốc trong những năm 1965 - 1968, tuy có lẽ không lớn bằng lực lượng 320.000 mà về sau họ rêu rao, nhưng chắc chắn rất quan trọng và thiết yếu cho việc duy trì giao thông, vận tải. Do tính chất mật thiết trong mối quan hệ lâu đời và lòng chiếu cố đối với những người chịu ảnh hưởng nền văn hóa của mình, Bắc Kinh càng dễ bất bình khi người Việt Nam tiến tới một lập trường trung lập trong cuộc tranh chấp Trung - Xô và bắt đầu biến ý muốn có một chính sách đối ngoại độc lập của mình thành hiện thực. Mọi lời kêu gọi đoàn kết chống Mỹ của Việt Nạm dân chủ cộng hòa làm cho người Trung Quốc tức giận và vào giữa năm 1965, họ bắt đầu khiển trách người Việt Nam là "linh hoạt không nguyên tắc". Người Trung Quốc ít sẵn sàng chấp nhận một Việt Nam dân chủ cộng hòa độc lập, hơn người Liên Xô nhiều.

Cách mạng văn hóa Trung Quốc đẩy nhanh việc Việt Nam tiến tới lập trường độc lập. Từ một quan điểm về mặt tư tưởng, người Việt Nam thấy Cách mạng văn hóa là ghê tởm; về mặt thực tiễn, họ nghĩ rằng nó quá gây rối rắm cho người Trung Quốc nên họ còn quan tâm gì đến leo thang chiến tranh nữa. Hình ảnh của Hồng vệ binh và của mặt đất nước trên vực thẳm của nội chiến làm cho người Việt Nam rất kinh ngạc. Tệ hơn nữa, lập trường công khai của Trung Quốc chống lại bất cứ hình thức thương lượng nào với Mỹ trong suốt thời gian đó, bất kể vì những lý do gì, đều làm cho người Việt Nam xem như một sự lợi dụng vô nghĩa số phận của họ bởi những phe phái khác nhau của Trung Quốc.

Cuối năm 1967, Bộ Chính trị cho rằng cả Liên Xô lẫn Trung Quốc đều đặt lợi ích quốc gia của họ lên trên lợi ích của Việt Nam dân chủ cộng hòa, và vì vậy Bộ Chính trị phải xác định một đường lối ngoại giao mà không cần phải quá quan tâm đến những gợi ý mâu thuẫn một cách tuyệt vọng của họ.

Mối quan hệ của Cách mạng với Mát-xcơ-va bản thân nó ít gay cấn hơn. Liên Xô không có lợi ích trực tiếp trong khu vực và rất vừa lòng đã để cho Việt Nam dân chủ cộng hòa tự do giảm sự phụ thuộc của mình vào Trung Quốc và hưởng một lập trường độc lập, một vai trò làm giảm nhiều những kỳ vọng của Trung Quốc nhằm lãnh đạo Phong trào cộng sản quốc tế.

Rõ ràng là sau tháng 2 năm 1965, Việt Nam dân chủ cộng hòa làm hết sức mình để giành viện trợ tối đa của hai đồng minh và từ đó trở đi cả chính quyền Giôn-xơn lẫn chính quyền Ních-xơn đều tin chắc rằng họ sẽ tiếp tục làm như vậy.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #151 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2008, 09:58:04 am »

Người Xô-viết, có đủ sức cho viện trợ vượt xa khả năng của Trung Quốc và nếu chỉ nói về số lượng không thôi, cũng đã nhiều hơn nhiều rồi. Vào năm 1966, thực tế đó đã được phản ánh trong một sự quan tâm có phần nhích hơn đối với Liên Xô mỗi khi Việt Nam dân chủ cộng hòa ra những tuyên bố về đánh giá. Người Việt Nam không bao giờ không nghĩ rằng người Nga có thể và phải viện trợ nhiều hơn, nhưng họ không thể nói công khai ra như vậy được. Thực vậy, chừng nào Việt Nam còn giữ Trung Quốc, thì họ có thể đối xử với người Xô-viết trên một cơ sở bình đẳng hơn.

Vì những điều lợi to lớn cho Liên Xô trong một cuộc chiến tranh thu hút cả nhân lực và tài sản của Mỹ, chia sẻ Mỹ với đồng minh của họ, và giảm rất lớn những sức ép của Mỹ đối với Liên Xô, Việt Nam dân chủ cộng hòa có thể hy vọng tiếp tục được viện trợ ngay dù cho Việt Nam không chấp nhận lời khuyên của Mát-xcơ-va về thương lượng hoặc không thông báo cho họ về các kế hoạch của mình.

Trong nội bộ, Đảng tiếp tục phê phán những di sản của chủ nghĩa xét lại trong chính sách đối ngoại của Liên Xô, bởi vì Crem-li còn theo các học thuyết cùng tồn tại hòa bình do Khơ-rút-sốp khởi xướng.

Tuy có giảm bớt lòng tin của mình đối với các đồng minh, nhưng Việt Nam dân chủ cộng hòa, vì những lý do hệ tư tưởng, đã tán thành khôi phục đoàn kết quốc tế. Từ năm 1963 đến 1965, Việt Nam dân chủ cộng hòa tránh liên kết với những cố gắng của Trung Quốc hoặc của Liên Xô muốn xây dựng một phong trào cộng sản quốc tế dưới sự bá quyền của mình. Họ giải thích sự đoàn kết của phong trào thế giới có nghĩa là sự cố kết giữa các bạn cùng phe bình đẳng, tự do lãnh đạo sự phát triển, đi đến chủ nghĩa xã hội của chính mình, theo như mình tự nhận là đúng và thích hợp.

Tất nhiên là cả hai đồng minh đều không chấp nhận giải thích như vậy và mỗi bên có xu hướng hợp tác với Mỹ hơn là hợp tác với nhau. Đảng liền mở rộng cách nhìn để đưa sự đoàn kết của phong trào thế giới vào trong chính cuộc đấu tranh của mình. Đảng bắt đầu lập luận sau năm 1969 rằng sự đoàn kết cộng sản thế giới chỉ tồn tại trong sự ủng hộ cuộc đấu tranh của Việt Nam và nếu không có nó thì phong trào cách mạng thế giới và chủ nghĩa quốc tế vô sản chỉ là những khẩu hiệu trống rỗng.

Cuộc đấu tranh của Việt Nam là tượng trưng và là hiện thân của phần còn lại cuối cùng của lý tưởng cao quý, nó đoàn kết một số lớn những Đảng, những phong trào và những con người khác nhau trên khắp thế giới, mẫu số chung là Việt Nam và những vấn đề và những nguyên nhân của chiến tranh. Lập luận này đạt đỉnh cao năm 1971 khi nền ngoại giao hòa dịu của Mỹ cố gắng lợi dụng những mâu thuẫn Trung - Xô. Thực vậy, Việt Nam đã trở thành một hiện thân của một sự nghiệp quốc tế mới vượt xa các Đảng thân Liên Xô hoặc thân Trung Quốc, và nó tượng trưng cho một phong trào thế giới rộng lớn và nhiều mặt với một lý tưởng trong sáng mà hàng triệu, hàng triệu không kể xiết nhân dân đã hưởng ứng và tập hợp quanh nó.

Việc Cộng sản Việt Nam đòi hỏi quyền chính đáng đặc biệt là một thực tế và một sự kiện chính trị, và đối với Trung Quốc và khối Liên Xô, đoạn tuyệt với Việt Nam, một tiên phong của sự biến đổi xã hội trong thời đại hiện đại, là gánh lấy một thảm họa chính trị và những hậu quả không sao kể xiết.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #152 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2008, 10:08:11 am »

SỰ DIỄN BIẾN CỦA CHIẾN LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

Sau năm 1955, Đảng vạch ra những nét chính của một lập trường độc lập, khi những kinh nghiệm của chính bản thân mình và sự phản ứng đối với những thất bại trong nước ở Liên Xô và ở Trung Quốc buộc Đảng tinh chế lại tư tưởng của mình trong suốt thập kỷ tiếp theo. Sự xác định lại con đường riêng của mình đi đến chủ nghĩa xã hội là rất cần thiết.

Sau năm 1966, Đảng luôn luôn nhắc nhở cán bộ và đảng viên của mình rằng Việt Nam dân chủ cộng hòa có một chính sách tự chủ thích hợp với sự phát triển đặc biệt của Việt Nam. Đảng vẫn bắt đầu với những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-lê-nin, nhưng sự áp dụng những nguyên lý đó một cách sáng tạo vào những điều kiện của Việt Nam là chìa khóa của thắng lợi. Chủ đề của tất cả các bài viết về vấn đề này đều nhấn mạnh "độc lập và tự chủ" cũng như "tự lực".

Mặc khác với tư cách là những người quốc tế, các nhà lãnh đạo Đảng tìm cách tránh mọi biểu hiện của chủ nghĩa quốc gia hay chủ nghĩa ngoại lệ. Trong tổng kết của mình năm 1970, Lê Quẩn mô tả cách mạng Việt Nam như là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng thế giới và đã nhận nhiều sự ủng hộ của cách mạng đó trong chiến lược độc lập và sáng tạo của mình.

Vào giữa năm 1971, khi chính sách ngoại giao hòa dịu của Ních-xơn bắt đầu thành công. Việt Nam dân chủ cộng hòa nhấn mạnh đến tính độc lập và phàn nàn những "mánh khóe ngoại giao xảo quyệt" mà chính quyền Ních-xơn đang sử dụng. Các báo của Việt Nam dân chủ cộng hòa thường xuyên nhắc lại những đề tài như tính độc lập tự chủ tuyệt đối của Đảng, sự trung thành hoàn toàn với chủ nghĩa Mác-lê-nin, mối quan hệ bình dẳng và có chủ quyền với các thành viên khác của “phe xã hội chủ nghĩa" cùng với nghĩa vụ của các thành viên này ủng hộ vai trò tiên phong của Việt Nam trong cuộc đấu tranh thế giới chống đế quốc

Đến năm 1969 Mỹ và Cách mạng cùng có những giả thuyết và những khó khăn giống nhau. Họ đều cho rằng bất kỳ thỏa thuận ngoại giao nào cũng sẽ phản ánh so sánh lực lượng quân sự và chính trị tại Nam Việt Nam. Khi chưa đạt đến mức đó thì ngoại giao chủ yếu là một cố gắng động viên hoặc vô hiệu hóa dư luận trong nước và trên thế giới hoặc các sức ép của đồng minh. Vì vậy, quá trình tiếp xúc trong giai đoạn này chẳng đi đến đâu vì cả hai bên chưa sẵn sàng thương lượng.

Cho đến lúc Mỹ không còn tin vào hiệu quả của các lực lượng vũ trang, đặc biệt vào chiến tranh không quân để buộc đối phương phải phục tùng những mục tiêu của mình, Mỹ không có một chiến lược ngoại giao nhất quán, càng không sẵn sàng thỏa hiệp đối với những mục đích chiến tranh rất hão huyền nhằm duy trì lòng tin và giữ cho Việt Nam cộng hòa tiếp tục cầm quyền.

Thực vậy, việc Oa-sinh-tơn sử dụng "những đề nghị hòa bình" để bào chữa cho những bước leo thang cố ý của mình, chỉ tăng thêm sự nghi ngờ của Việt Nam dân chủ cộng hòa về kết quả của những cuộc thương lượng vội vã.

Đối với Việt Nam dân chủ cộng hòa, sự giảm ném bom trên lãnh thổ của mình chỉ có nghĩa là tăng thêm ném bom ở Lào và Nam Việt Nam, vì không bao giờ các máy bay nghỉ cả. Nhưng vì tính dớ dẩn và thiếu thành thật của cố gắng Mỹ, Oa-sinh-tơn chịu thế bị động ngoại giao cho đến năm 1969.

Việt Nam dân chủ cộng hòa mạnh mẽ tin rằng cuộc chiến tranh sẽ trải qua ba giai đoạn. Đánh; đánh và đàm; và cuối cùng thương lượng đi đến một hiệp định. Họ không có ảo tưởng rằng ngoại giao sẽ phản ánh cái gì hơn là so sánh lực lượng thực sự. Năm 1964, Việt Nam dân chủ cộng hòa xem Mỹ là hùng mạnh và tất nhiên là không muốn thương lượng cho đến khi Mỹ hiểu được những hạn chế của sức mạnh mình, một quá trình phải mất nhiều năm. Tuy vậy Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng có những cơ hội để đưa ra những sáng kiến mà họ cho là chỉ làm bối rối và cô lập người Mỹ.

Phải đợi đến tháng 4 năm 1968, khi Giôn-xơn công bố sự ngừng ném bom một cách lập lờ và thừa nhận những giới hạn của leo thang, Mỹ mới giành được kết quả tuyên truyền và đưa những người cộng sản đa nghi đàm phán tại Pa-ri. Nhưng do những bất đồng công khai trong nội bộ chính quyền Mỹ và những trở ngại thường xuyên của Việt Nam cộng hòa, Việt Nam dân chủ cộng hòa không bao giờ bị bối rối về ngoại giao. Vì Hội nghị Pa-ri kéo dài lê thê một cách vô bổ, nên đánh và đàm vẫn là chiến lược cơ bản của Việt Nam dân chủ cộng hòa cho đến mùa xuân 1972. Tất nhiên, lúc này so sánh lực lượng đã thay đổi một cách cơ bản.

Những vấn đề của Việt Nam dân chủ cộng hòa không phải đến từ Mỹ mà, dưới quyền Giôn-xơn, không có ý muốn chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng, mà đến từ bạn bè và đồng minh tiềm tàng của Việt Nam dân chủ cộng hòa. Một quan chức Mỹ kiên nhẫn đã thống kê đến hai nghìn đề nghị hòa bình cá nhân chỉ trong khoảng thời gian 1965 - 1968, mà một số là của các nhân vật có ích cho Việt Nam dân chủ cộng hòa hoặc là của những người quá quan trọng cho nên không có thể bỏ qua.

Một số các nước Đông Âu cũng làm cho các nhà lãnh đạo Đảng phải suy tính. Đồng thời Trung quốc chống lại mọi biểu hiện sẵn sàng thương lượng của Việt Nam dân chủ cộng hòa với Mỹ và Hà Nội phải đi một con đường rất thận trọng. Riêng người Nga rất tự kiềm chế mình trong việc ép Hà Nội. Họ cảm thấy ít có khả năng thành công về ngoại giao với Giôn-xơn và họ sợ tăng ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Việt Nam dân chủ cộng hòa. Họ thường chỉ làm trung gian nhưng cũng nói rõ rằng họ không có thế lực quyết định và họ sẽ tăng viện trợ cho Việt Nam dân chủ cộng hòa nếu Oa-sinh-tơn tiếp tục leo thang.

Vào lúc Ních-xơn vào Nhà Trắng, nền ngoại giao của Hà Nội đã đạt mức tinh vi cao, cả về lý thuyết lẫn thực tiễn và nhờ đó mà cô lập được kẻ thù của mình trên phạm vi quốc tế. Việt Nam dân chủ cộng hòa đã tránh được việc những ảo tưởng thương lượng làm mất ý chí quân sự, họ hiểu rằng khi vũ khí còn tác dụng thì không thể có thương lượng nghiêm chỉnh. Họ nắm thế chủ động trong mối quan hệ với công chúng bởi vì cuộc chiến tranh không quân và các cuộc tiến công quân sự của Mỹ, nhất là ở Cam-pu-chia sau năm 1970, hoàn toàn không đúng với những tuyên bố chính trị của Mỹ.

Ngoại giao đưa lại thời gian cho cách mạng củng cố sức mạnh quân sự của mình, trong khi thời gian lại làm xói mòn các hệ thống kinh tế, quân sự và chính trị của Việt Nam cộng hòa. Điều mà Việt Nam dân chủ cộng hòa quan tâm nhất là thái đô trước sau như một của đồng minh. Giữ thái độ cân đối giữa bên này và bên kia trong khi duy trì sự độc lập trong lập trường của mình là điều mà họ đã làm thành công cho đến năm 1969.

Liệu Việt Nam dân chủ cộng hòa có duy trì được thành tựu tuyệt vời đó cho đến khi có cơ hội gây sức ép quân sự tối đa cho kẻ thù của mình hay không là một trong những vấn đề có tính chất quyết định của toàn bộ cuộc chiến tranh và đó cũng là vấn đề mà Mỹ tìm cách ảnh hưởng đến.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #153 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2008, 10:09:23 am »

Chương ba mươi ba
CHIẾN TRANH TRÊN HAI MẶT TRẬN: NGOẠI GIAO VÀ CHIẾN TRƯỜNG, 1971 - 1972

SỰ TÌM KIẾM MỘT CHIẾN LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA NÍCH-XƠN

Những cuộc thương lượng ngoại giao nhằm chấm dứt chiến tranh đã để lại cho chính quyền mới của Ních-xơn một di sản của những thất vọng. Trong khi cả Cách mạng lẫn Mỹ đều nhất trí rằng một sự chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng sẽ phản ánh so sánh lực lượng quân sự lúc bấy giờ, thì họ lại khác nhau rất nhiều về mức độ có thể thay đổi cuộc chiến tranh thông qua chiến đấu thêm nữa. Những người có quyền làm ra quyết định bị chia sẽ sâu sắc cho đến năm 1969 cho nên không thể theo đuổi một chiến lược thương lượng nhất quán, vững chắc. Vì vậy Hội nghị Pa-ri diễn ra sau lời cam kết 31 tháng 3 của Giôn-xơn, không có khả năng thắng lợi. Tổng thống đồng ý thương lượng trên thế mạnh và dùng không quân để thay đổi cán cân quân sự.

Một nhà ngoại giao Mỹ ở Pa-ri về sau kể lại: "Những cuộc thương lượng khó khăn nhất của chúng tôi là với Oa-sinh-tơn chứ không phải với Hà Nội". Và chính thái độ nước đôi trong thương lượng và việc xem những nhượng bộ của Việt Nam dân chủ công hòa là biểu hiện của sự yếu đuối để tăng thêm sức ép quân sự, đã cho thấy trước tất cả các cử chỉ ngoại giao hèn mọn của Giôn-xơn.

Ri-sớt Ních-xơn chăm chú theo dõi quá trình ngoại giao thất vọng đó. Ông ta cũng vậy, vì bản năng mà tin rằng việc áp dụng sức mạnh quân sự có thể thay đổi nội dung thương lượng, cho nên ông ta bắt đầu tính đến những biện pháp thay thế ngay từ đầu năm 1967. Ít nhất, ông ta cũng quyết tâm không để cho một chiến lược ngoại giao nhất quán bị tổn thương vì những bất đồng công khai trong hàng ngũ chính quyền ông ta, và quyền lực thực sự về những vấn đề như vậy phải được tập trung hoàn toàn vào chính tay ông ta. Ông ta không những có những suy tính về mặt hành chính thông thường mà còn có những quan điểm sáng tạo hơn về việc kết thúc chiến tranh như thế nào. Ông ta chưa hề có trong đầu óc một hình thức chính xác nào của một chiến lược mới, nhưng với tính cả gan tự tin và lòng quyết tâm gạt bỏ mọi trở ngại, ông ta có thể có hành động quyết định hơn, cả về ngoại giao lẫn về quân sự.

Ních-xơn tin rằng Việt Nam dân chủ cộng hòa là một quốc gia độc lập với những mục tiêu cứng chắc cho nên không thể giao thiệp trực tiếp với họ mà thành công trong việc cứu Việt Nam cộng hòa, trừ phi tranh thủ những người  ủng hộ Liên Xô và Trung Quốc của họ cùng với Mỹ gây sức ép. Một cách nhìn như vậy đã xuất hiện trong đầu óc Ních-xơn năm 1967 và 1968. Ông ta kết luận rằng chiến tranh bị bế tắc, leo thang hơn nữa sẽ không thành công trừ phi được gắn với một chiến lược ngoại giao song song.

Hơn nữa phạm vi rộng lớn của những lợi ích chung Mỹ - Xô ở những nơi khác trên thế giới, kể cả việc kiềm chế các chính sách hung hăng của Trung Quốc, sẽ làm cho Liên Xô sẵn sàng đáp ứng những sáng kiến của Mỹ. Đồng thời, Trung Quốc phải được giúp để phá thế cô lập của họ và như vậy sẽ được khuyến khích hợp tác về chiến tranh Việt Nam. Ông ta xem thế tam giác của mối quan hệ Mỹ - Xô - Trung là con đường có thể có để gây sức ép đối với Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Nhưng lúc đầu, Ních-xơn không đặt vào đó nhiều hy vọng lắm. Tuy nhiên Tổng thống đặt những cố gắng song phương Mỹ - Xô cao hơn rất nhiều trong lịch hoạt động của ông ta. Ních-xơn xem người Xô-viết mà viện trợ quan trọng nhất cho Việt Nam dân chủ cộng hòa đã giúp cho nước này cưỡng lại lời khuyên của Trung Quốc, như là vấn đề lớn. Ông ta cảm thấy rằng Việt Nam dân chủ cộng hòa hết sức thành công trong việc tranh thủ được cả hai đồng minh duy trì viện trợ, tuy Liên Xô là người ít được lợi nhất.

Trong một phạm vi quan trọng, Nhà Trắng xem việc khai thông với Trung Quốc và sự xuất hiện của thế tam giác là một phương án có thể dùng để ép người Xô-viết hợp tác với Oa-sinh-tơn. Về thực chất, con đường đến Mát-xcơ-va đi qua Bắc Kinh. Bản thân Kít-xin-giơ cũng như nhiều người khác, cũng có nghĩa đến những vấn đề như vậy, nhưng Ních-xơn đã đi đến kết luận chính của ông ta trước khi gặp cố vấn an ninh quốc gia mới, và ông ta luôn luôn là sức mạnh chính đằng sau tình hình này.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #154 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2008, 10:10:07 am »

Điểm then chốt trong phân tích ngoại giao của Ních-xơn là cuộc phân liệt Trung - Xô tạo ra cho Mỹ một cơ hội quan trọng để thăm dò và khai thác, và chính khả năng của Việt Nam dân chủ cộng hòa buộc những người ủng hộ phải tôn trọng ưu tiên của họ làm cho Mỹ phải tìm cách chia rẽ hoặc giảm đến mức tối thiểu viện trợ cho Cách mạng. Thêm vào việc đưa ra những nhượng bộ cho Nga và Tnmg Quốc ở những nơi khác để đòi đổi lấy sư giúp đỡ của họ ở việt Nam, Ních-xơn sẵn sàng kết hợp ngoại giao sáng tạo với một đe dọa nối lại vũ lực buộc một hoặc cả hai đồng minh của Việt Nam dân chủ cộng hòa tham gia trực tiếp nhiều hơn vào chiến tranh hoặc phải chịu nhục.
Chính vì Ních-xơn nuôi dưỡng danh tiếng là một người chống cộng đến cùng, không gì cản trở nổi mà "học thuyết người mất trí" là phản ánh tối hậu của nó, nên ông ta nghĩ rằng bóng ma của thảm họa quân sự có thể buộc không chỉ Việt Nam dân chủ cộng hòa mà cả Nga lẫn Trung Quốc phải hợp tác với ông ta.

Tiếp xúc trực tiếp với Trung Quốc mà Ních-xơn đã công khai bàn định ngay từ năm 1967 là một việc dễ nói hơn làm. Các chuyên gia Mỹ về Trung Quốc vào đầu năm 1969 mô tả ảnh hưởng của Trung Quốc đối với chiến tranh là không khoan nhượng và quyền lực của Trung Quốc đối với Việt Nam là hạn chế. Nhưng điều thôi thúc chính là chính quyền chưa biết nên làm thế nào để Trung Quốc thích nghi với chiến lược của Mỹ. Vì vậy họ muốn thăm dò Liên Xô trước và hoãn vấn đề Trung Quốc lại sau. Bản thân người Trung Quốc cũng trong giai đoạn biến chuyển, làm theo lời khuyên của Chu Ân Lai vào cuối năm 1968 muốn có một cử chỉ với Ních-xơn, nhưng lại bị chính quyền Mỹ bác bỏ.

Chính những phản ứng và hành động của Liên Xô xác định tốc độ việc Mỹ khai thông với Trung Quốc, và Mát-xcơ-va vẫn luôn luôn là mục tiêu chủ yếu của cố gắng ngoại giao phức tạp và quấn quít với nhau của Mỹ.

Chính quyền mới nhanh chóng đưa ra những đề nghị cụ thể với Liên Xô nhằm "liên kết" cuộc chiến tranh với tất cả các mặt của mối quan hệ Xô - Mỹ, từ SALT đến Trung Đông và vấn đề buôn bán. "Liên kết các sự kiện lại với nhau, tạo ra những điều khích lệ hoặc những sức ép ở nơi này của thế giới để ảnh hưởng đến những sự kiện ở nơi khác" đã trở thành nguyên tắc ngoại giao chủ yếu của Oa-sinh-tơn.

Kít-xin-giơ làm rõ điều đó với người Nga ngày 20 tháng giêng năm 1969, nói rằng sự giúp đỡ của người Nga để giải quyết cuộc chiến tranh sẽ quyết định sự diễn biến các mối quan hệ ở những nơi khác, và nói bóng gió rằng nếu họ từ chối hợp tác thì ông ta có thể quay sang người Trung Quốc để yêu cầu giúp đỡ.

Lập trường của người Xô-viết cho đến năm 1971 là đợi thời cơ, làm cho Nhà Trắng thất vọng, và nói rõ rằng trong khi họ đồng ý liên kết các vấn đề với nhau, họ không cho rằng không có tiến bộ ở một vấn đề này sẽ không thỏa thuận được về các vấn đề khác.

Cuối mùa xuân năm 1969 Ních-xơn và Kít-xin-giơ xem xét con bài Trung Quốc, và tháng 7 Hội đồng an ninh quốc gia bắt đầu duyệt lại một cách rộng rãi những căng thẳng Trung - Xô. Cùng lúc, Tổng thống và trợ lý của ông ta quyết định rằng phải dùng "khuyến khích và trừng phạt" để kéo người Nga ra khỏi tâm trạng chần chừ, và những cố gắng tiếp xúc với Trung Quốc bắt đầu một cách nghiêm chỉnh.

Đầu tháng 3 quân Nga và Trung Quốc chạm trán nhau dọc biên giới sông U-xu-ri xa xôi ở đông bắc Trung Quốc và những xung đột biên giới nghiêm trọng cũng xảy ra ở những nơi khác trong phần còn lại của năm 1969. Vào lúc này, Kít-xin-giơ nói với nhân viên của ông ta rằng Trung Quốc sẽ cư xử như một quốc gia yếu bị bao vây hơn là một quốc gia chịu ảnh hưởng của những đòi hỏi về hệ tư tưởng, và thay đổi đã xảy ra trong giới cầm quyền Trung Quốc đủ để làm cho tiếp xúc với Mỹ có thể thực hiện được.

Sau những công việc chuẩn bị phức tạp, khúc khuỷu, tháng 12 năm 1969, Trung Quốc đồng ý mở một con đường liên lạc thường xuyên với Mỹ, và từ đó trở đi một loạt các cử chỉ tượng trưng nhỏ ở cả hai phía làm cho chính quyền Mỹ tin vào cách làm của mình. Ngoại giao tam giác về Việt Nam có thể làm được.

Trong tháng 10 và tháng 12, người Nga được báo cho biết rằng một sự cải thiện trong mối quan hệ Mỹ - Trung bây giờ là một bộ phận của toàn bộ quang cảnh ngoại giao, và trên thực tế đó là kết quả của việc hai nước không đạt được tiến bộ về các vấn đề quốc tế, nhất là vấn đề Việt Nam. Về phần mình người Trung Quốc muốn có một cử chỉ ủng hộ nào đó của Mỹ để ngăn chặn bất kỳ hành động nào có thể có của Liên Xô chống lại họ. Được khuyến khích, chính quyền Mỹ vào cuối năm 1969 cảm thấy rằng chiến lược ba gọng kìm; ngoại giao qua đầu Việt Nam dân chủ cộng hòa, đe dọa leo thang, và Việt Nam hóa, có thể thành công và chính hy vọng đó đã duy trì và hướng dẫn chính sách của Mỹ thêm ba năm nữa.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #155 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2008, 10:11:07 am »

TRẠNG THÁI HỖN ĐỘN CỦA NỀN NGOẠI GIAO LỚN

Chiến lược ngoại giao của chính quyền Ních-xơn không hề bao giờ tách ra khỏi mối quan hệ của Mỹ với phần còn lại của thế giới, và chỉ tính chất phức tạp và tầm quan trọng của phạm vi toàn cầu đó hầu như làm cho cố gắng của Mỹ trở nên vô cùng rắc rối. Ngoại giao song phương đã khó, ngoại giao tam giác lại càng khó hơn và phải hết sức khéo léo mới tránh được việc gây ra phản tác dụng. Cả Ních-xơn và những người còn lại của chính quyền đều biết rằng chiến tranh Việt Nam đã làm cho Mỹ xao lãng mối quan hệ của mình với các đồng minh châu Âu và Nhật Bản vào lúc mà những nước này đang trở nên những nước cạnh tranh về kinh tế. Những hiệp định phòng thủ chung mà lúc ban đầu đã đưa họ lại với nhau bây giờ đang rơi vào tình trạng trì trệ. Bởi vì, chừng nào Mỹ còn thèm muốn vai trò lãnh đạo và bá quyền toàn cầu, thì họ phải luôn luôn đánh giá những ưu tiên của họ, và, nhìn từ khía cạnh đó thì Việt Nam là một nhân tố làm cho Mỹ đi trệch hướng, gây tác hại cho sức mạnh và hình tượng của Mỹ trước con mắt của những đồng minh càng ngày càng giàu mạnh.

Một biểu hiện của sự lo ngại đó là việc Kít-xin-giơ suy nghĩ và nói lên công khai tính chất của thế giới lúc đó. Thế giới được coi như có năm trung tâm: Mỹ, Nga, Tây  Âu, Nhật Bản và Trung Quốc. Trung Quốc được xếp vào đây chỉ vì độ lớn của nó. Sự giải thích như vậy rất có vẻ là tài tử, tuy luôn luôn được lặp đi lặp lại, bởi vì Mỹ tìm cách đặt cả Tây  Âu lẫn Nhật Bản hoàn toàn dưới ô chính trị và quân sự của họ, gắn họ với nhau càng nhiều càng tốt về mặt kinh tế, đồng thời đạt những thỏa thuận song phương với Liên Xô. Kít-xin-giơ cho rằng Trung Quốc bây giờ có ý nghĩa ở chỗ có thể làm đòn bẩy để Mỹ đòi Liên Xô phải hợp tác với Mỹ.

Dù cho quan điểm của ông ta về một thế giới năm cực như thế nào. Kít-xin-giơ vẫn luôn luôn tin rằng về mặt quân sự, thế giới vẫn là lưỡng cực nghĩa là Liên Xô là vô cùng trọng yếu cho việc Oa-sinh-tơn muốn ổn định trật tự quốc tế. Thực tế này nhanh chóng làm phức tạp thêm chính sách liên kết trong việc giải quyết chiến tranh và mặc nhiên nêu ra vấn đề Mỹ sẵn sàng hy sinh những quyền lợi ở những nơi khác cho những đòi hỏi của một giải pháp Việt Nam. Ngay từ đầu, chiến lược liên kết của Nhà Trắng, bất chấp sự chống đối của bộ Ngoại giao, đã bỏ tất cả các vấn đề vào một cái giỏ chung vì vẫn thấy rằng mọi tiến bộ cần phải được ăn khớp với nhau.

Tuy Liên Xô sẵn sàng đàm phán nhiều vấn đề cùng một lúc, nhưng vẫn quan tâm đến những vấn đề cụ thể như giới hạn vũ khí và mậu dịch, là những vấn đề cấp bách nhất. Vì vậy ngoại giao tam giác bắt đầu trong năm 1970, chính là vì chiến lược liên kết hoặc là thất bại hoặc là quá chậm so với mục tiêu chính trị nội bộ của chính quyền nhằm chấm dứt chiến tranh trước cuộc bầu cử tới.

Cho đến năm 1971, chẳng có tiến bộ nào với Liên Xô về bất cứ vấn đề có ý nghĩa nào. Tóm lại chiến lược thương lượng ban đầu của chính quyền đã đặt toàn bộ vị trí toàn cầu của Mỹ thành con tin cho thắng lợi của một giải pháp ở Việt Nam, một tình hình không thể kéo dài mãi được nhất là trong một thế giới năm cực mà họ đã đưa ra.

Thế tiến lui đều khó đó càng làm cho chính quyền thất vọng khi nó đi vào một chiến lược hòa dịu nhằm đạt một loạt các mục tiêu: một giải pháp hòa bình cho Việt Nam, một sự ổn định của cuộc chạy đua vũ trang, vấn đề mậu dịch, vấn đề hòa bình ở Trung Đông, v.v..

Tất nhiên, khi chiến lược được ăn cả ngã về không của Mỹ bị bế tắc và khi ngoại giao tam giác với Trung Quốc phải vượt qua những ngăn cách của nghi ngờ và giao tiếp, các thành viên khác nhau của chính quyền Mỹ bắt đầu ngả về việc tìm cách đạt những thỏa thuận nhanh chóng và cụ thể ở những nơi khác. Kít-xin-giơ là một trong những người này.

Ngay từ đầu chính sách ngoại giao của Mỹ về Việt Nam bị khóa chặt bởi những mâu thuẫn giữa chiến tranh với những lợi ích toàn cầu của Mỹ, giữa những ý muốn và ảo vọng của Mỹ với thực tế phũ phàng và bởi sự ngụy biện và hoài nghi kỳ lạ của Tổng thống và cố vấn an ninh của ông ta trong một khung cảnh nó làm cho không hiểu được sâu sắc tính chất của chiến tranh và mức độ mà thương lượng có thể ảnh hưởng đến chiến tranh.

Theo đuổi một chiến lược đầy mạo hiểm, với bao nhiêu cạm bẫy có thể lường trước được, Nhà Trắng thực sự sửng sốt khi tiến bộ đến quá chậm. Về sau Ních-xơn nhắc lại: "Tôi không hề tưởng tượng rằng vào cuối năm đầu làm tổng thống, tôi sẽ phải chờ đợi thêm hai năm chiến đấu ở Việt Nam nữa".

Để rút ra khỏi ngõ cụt, chính quyền quyết tâm trong năm 1970, chơi con bài Trung Quốc đầy đủ nhất, nhưng tiến bộ không vững chắc và đáp ứng của Trung Quốc không liên tục. Cuộc xâm lược Cam-pu-chia tháng 5 năm 1970 của Mỹ và Việt Nam cộng hòa thách thức lập luận của Chu Ân Lai và phe phái ông ta rằng Mỹ không thể nào cưỡng lại việc rút ra khỏi chiến tranh. Tuy nhiên, Trung Quốc thôi chống đối các cuộc thương lượng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #156 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2008, 10:11:51 am »

Không nghi ngờ gì, người Trung Quốc sẵn sàng đặt lợi ích của Việt Nam dân chủ cộng hòa lệ thuộc vào chính những nhu cầu của họ, nhưng họ còn chưa tin rằng có thể làm được hoặc cần thiết phải làm. Và mỗi một cuộc leo thang chiến tranh càng làm cho họ thêm lo ngại rằng Mỹ chỉ lợi dụng họ để thúc đẩy Liên Xô và không thành thực trong việc bình thường hóa các quan hệ.

Vì có quá nhiều điều tranh cãi giữa Bắc Kinh và Oa-sinh-tơn nên không thể có sự hòa giải dễ dàng và nhanh chóng, và người Trung Quốc cũng muốn chơi con bài Mỹ để xem có thể cải thiện quan hệ với Mát-xcơ-va hay không.

Ở một mức độ quan trọng, quan hệ của Trung Quốc với Mỹ được cải tiến theo tỷ lệ thuận với sự thất bại của các cuộc đàm phán Trung - Xô, và tháng 7 năm 1970, khi người Nga kêu gọi hành động chung chống lại bất kỳ cường quốc hạt nhân "thứ ba" nào thì Bắc Kinh tìm cách đề phòng một liên minh thù địch có thề có chống lại mình.

Tháng 3 năm 1971 Chu Ân Lai thăm Hà Nội và trong khi công khai lặp lại sự ủng hộ Việt Nam dân chủ cộng hòa, nói với người Việt Nam là ông ta nghĩ rằng Mỹ đang rút khỏi cuộc chiến tranh, và Trung Quốc không để cho cuộc đấu tranh gây trở ngại cho sự cải thiện mối quan hệ của họ với Oa-sinh-tơn. Mỹ đã phác họa một cuộc thăm cấp cao Bắc Kinh, và mặc dù những tranh cãi liên tục trong giới lãnh đạo Trung Quốc, Bắc Kinh đã mạnh mẽ nghiêng về việc chấp nhận.

Chính sách ngoại giao "bóng bàn" công khai bắt đầu với Trung Quốc tháng 4 năm 1971, những biện pháp tiếp theo để bình thường hóa mậu dịch, và chuyến đi thăm Bắc Kinh tháng 7 của Kít-xin-giơ để chính thức hóa chuyến đi thăm đã được chấp nhận của Tổng thống tháng 2 tiếp theo, đã được sử dụng để gây sức ép ngày càng tăng đối với người Nga. Người Trung Quốc tìm cách làm cho một Hà Nội vừa tức giận vừa lo âu tin rằng họ không hy sinh lợi ích của Việt Nam, và họ công bố một viện trợ bổ sung chỉ vài ngày trước khi cố vấn của Ních-xơn đến Bắc Kinh.
Kít-xin-giơ đã nêu lên vấn đề Việt Nam khi gặp Chu Ân Lai tháng 7. Về sau ông ta thuật lại: "Tôi nghi ngờ rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể và sẽ làm gì nhiều để trực giúp đỡ, nhưng chuyến đi của tôi sẽ là một thất bại lớn cho Hà Nội" bởi vì nó làm cho công chúng Mỹ hiểu rằng những nhà lãnh đạo của họ có những bước bạo dạn cho hòa bình chứ không phải tỏ ra thụ động”.

Nhưng ngay khi người Trung Quốc đồng ý chơi trò chơi tam giác, thì người Xô-viết trở nên rất quan tâm, và trong tháng 10 Tổng thống công bố chuyến đi thăm Mát-xcơ-va của ông ta tháng 5 năm 1972. Đúng là quyết định của Trung Quốc chấp nhận những sáng kiến của Mỹ trước tiên là nhằm chủ yếu ngăn cản một sự cộng tác Mỹ - Xô ở nơi khác và giành những nhượng bộ về Đài Loan và về việc gia nhập Liên hợp quốc.

Rõ ràng điều mà cả Trung Quốc lẫn Nga làm, đã bảo đảm cho việc Ních-xơn được bầu lại và gạt bỏ nhiều thúc ép chính trị nội bộ về chính sách Việt Nam của ông ta. Nhưng dù cho ngoại giao tam giác có mức độ khiêm tốn như thế nào, nó cũng được đẩy được gánh nặng ngoại giao trở về phía Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Nhìn về mặt địa lý chính trị, những người chủ chốt vạch chiến lược Mỹ tin rằng Trung Quốc không muốn Việt Nam dân chủ cộng hòa thắng chiến tranh bởi vì Trung Quốc không tin vào thái độ của các nhà lãnh đạo Việt Nam dân chủ cộng hòa đối với Liên Xô và bởi vì họ sợ Việt Nam dân chủ cộng hoà trở thành một vệ tinh của Liên Xô và góp phần hoàn toàn bao vây Trung Quốc.

Mặc dù viện trợ của cả Liên Xô lẫn Trung Quốc đều tăng lên, nhưng cuối năm 1971, người Trung Quốc bắt đầu khuyên Việt Nam không nên vội vã mà kiên nhẫn đợi Mỹ rút lui, và rồi dựa vào đấu tranh chính trị ở miền Nam trong một thời gian vô hạn định. Đối với người Việt Nam, kiểu gợi ý này ngụ ý nhiều chuyện từ phản bội cho đến vứt bỏ mọi cam kết. Trong khi đó thì Hà nội vẫn tìm được cách giành viện trợ tối đa của cả hai bên.

Trên cơ sở kinh nghiệm cũ, người Việt Nam có đủ lý lẽ đề sợ sự phản bội của những phần tử ở Bắc Kinh. Trong năm 1971-1972, xu hướng bao trùm ở Trung Quốc là lấy người Mỹ làm nền để chống lại Liên Xô. Oa-sinh-tơn vì thế mà tin rằng thắng lợi đang ở tầm tay và điều đó làm cho họ sẵn sàng gánh những mạo hiểm lớn hơn.

Sự sẵn sàng càng tăng của Mát-xcơ-va và Bắc Kinh chơi thế tam giác chỉ khuyến khích Mỹ, nhưng sự sẵn sàng đó chẳng qua là vì những vấn đề khác. Tuy rằng Việt Nam là nguồn gốc của tam giác chiến lược, nhưng càng ngày Việt Nam càng trở nên một sự kiện phụ đối với người Xô-viết và người Trung Quốc, mặc dù nó vẫn là tiêu điểm chủ yếu, tuy không phải là độc nhất, đối với người Mỹ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #157 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2008, 10:12:43 am »

NHỮNG CUỘC THƯƠNG LƯỢNG - VÀ NỀN CHÍNH TRỊ CỦA TỔNG THỐNG

Nhà Trắng không thể nhận thức được rằng với sự giúp đỡ của Trung Quốc hoặc Nga, hoặc của cả hai sẽ không thể xác định được kết quả của chiến tranh, càng không thể quan niệm rằng các nước lớn không thể sắp đặt số phận của các nước nhỏ hơn. Nếu không có sự thiển cận ngoại giao này chính quyền Mỹ đã bị buộc phải thừa nhận thất bại, nếu không thì phải ở lại Việt Nam vô hạn định để đối phó với những thất bại xã hội, kinh tế và quân sự của chế độ Việt Nam cộng hòa.

Tự lừa dối mình bằng những cách nhìn đơn giản về những thành phần của chiến tranh cũng như về tiềm lực của nền ngoại giao lớn, chính quyền lại quay trở lại nhiệm vụ thương lượng kéo dài và gây thất vọng, với sự tin tưởng và táo bạo mới.

Chính trong quang cảnh nổi lên đó mà các cuộc thương lượng được tiến hành vừa công khai và thỉnh thoảng vừa bí mật. Cho đến khi chiến lược hòa dịu của ông ta có kết quả. Tổng thống tin rằng chỉ cán cân quân sự mới ảnh hưởng tốt đến thương lượng và điều đó đòi hỏi cả leo thang định kỳ lẫn thành công trong Việt Nam hóa. Chỉ Kít-xin-giơ trong hàng ngũ các cố vấn của ông ta là ủng hộ chiến lược, chiến thuật lớn hơn đó và cả những việc làm tùy tiện của ông ta. Ních-xơn xem bộ trưởng ngoại giao Uy-li-am Rô-giơ là một bồ câu đầu óc cũ kỹ, và chẳng kể gì đến ông ta, trong khi đó thì Le-đô theo đuổi một cách không khoan nhượng chiến lược rút quân bất chấp sự dè dặt của Tổng thống và Kít-xin-giơ.

Vượt lên trên tất cả là những thúc ép chính trị đối với chính quyền Mỹ làm cho nó phải định kỳ pha chế những đề nghị hòa bình nhằm vào những người chống đối trong nước. Đỉnh cao là kế hoạch mùng 7 tháng 10 năm 1970 của Ních-xơn đưa ra một sự ngừng bắn tại chỗ, hoàn toàn không thể thực hiện được về mặt kỹ thuật và không thể chấp nhận được cho cả Hà Nội lẫn Sài Gòn. Thiệu công khai bác bỏ những ý kiến của Ních-xơn và làm rõ ràng "hòa bình trong thắng lợi sẽ đến từ chiến trường”.

Mặc dù chính sách ngoại giao hòa dịu, Mỹ tiếp tục các cuộc thương lượng hàng tuần ở Pa-ri, mà không ai xem là nghiêm chỉnh cả. Những cuộc đàm phán mật giữa Kít-xin-giơ với Lê Đức Thọ và Xuân Thủy trong những năm 1970 - 1972 cũng bị bế tắc, ít vì các vấn đề quân sự hơn là vì các vấn đề chính trị.

Thiệu nói rõ ràng ông ta chống các cuộc thương lượng với Cách mạng, rằng "Cộng sản dùng sự liên hiệp chỉ là một mánh khóe để lừa những người ngây thơ và chiếm quyền một cách yên lặng". Chính sự ủng hộ Thiệu không ngừng của Mỹ với vũ khí, tiền của và yểm trợ kể từ năm 1968 đã là cản trở lớn nhất trong ba năm qua chứ không phải sự rút quân hay các thể thức của một cuộc ngừng bắn. Thiệu không che giấu sự bác bỏ của ông ta đối với bất kỳ thỏa thuận nào chấp nhận sự có mặt của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, còn Đảng thì không thể và sẽ không để cho Cách mạng ở miền Nam bị Thiệu tha hồ thao túng.

Oa-sinh-tơn cũng biết rằng việc họ ủng hộ Thiệu sẽ đòi hỏi sự giúp đỡ của Liên Xô hoặc của Trung Quốc hoặc của cả hai để đạt một hiệp định. Kít-xin-giơ đoán chắc với cả hai đồng minh của Việt Nam dân chủ cộng hòa là họ có thể nói với Hà Nội rằng nếu Mặt trận Dân tộc Giải phóng thách thức Thiệu về chính trị chứ không phải về quân sự sau khi lính Mỹ rút, thì Mỹ sẽ không ủng hộ Thiệu một cách không điều kiện.

Tuy nhiên, Kít-xin-giơ không chịu nói trực tiếp lời cam kết mơ hồ đó với Việt Nam dân chủ cộng hòa. Điều đó có nghĩa là Cách mạng được yêu cầu tin rằng Thiệu sẽ đồng ý với sự thay đổi chính trị một cách hòa bình. Chừng nào điểm cơ bản đó còn tồn tại thì những vấn đề quân sự rắc rối tại các cuộc thương lượng mật chỉ là phụ. Vì Nhà Trắng xem các cuộc thương lượng nghiêm chỉnh với Cách mạng là quá sớm khi chưa đạt được những thắng lợi với những đồng minh của Việt Nam dân chủ cộng hòa, cho nên Tổng thống đợi thời cơ cho đến hết năm 1971. Rồi, để đảo ngược lại vị trí đang giảm sút của ông ta tại các cuộc thăm dò dư luận, ngày 25 tháng giêng năm 1972, Ních-xơn tiết lộ là đã có những cuộc họp mật với Việt Nam dân chủ cộng hòa từ tháng 2 năm 1970 và tiết lộ cả nội dung của những cuộc họp đó.

Đảng cảm thấy đã bị đánh vào sườn bằng một thủ đoạn bầu cử và khó mà tin người Mỹ có thể thương lượng nghiêm chỉnh. Vào đầu năm 1972, chính quyền Mỹ đã đạt được 3 thắng lợi chiến thuật trước một công chúng Mỹ đang bị vỡ mộng, đưa lại một ấn tượng rằng Mỹ thành thực tìm kiếm hòa bình ở Mát-xcơ-va, Bắc Kinh và Pa-ri. Kết quả là tăng uy tín chính trị của Ních-xơn. Vì sự ủng hộ ông ta trong nước tăng lên, Ních-xơn càng tin vào chiến lược của mình.

Đảng theo dõi với sự lo ngại các cố gắng của Mỹ nhằm ve vãn các đồng minh của mình. Báo chí Việt Nam dân chủ cộng hòa tháng 8 năm 1971 và trong suốt năm 1972 lên án Ních-xơn sử dụng những "mâu thuẫn" giữa Nga và Trung Quốc làm phương tiện áp đặt ý muốn của mình lên các nước nhỏ. Chưa bao giờ Đảng thấy cần phải hành động nhanh chóng và quyết định bằng sức mình để làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho mình hơn lúc này.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #158 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2008, 10:15:53 am »

THAY ĐỔI CÁN CÂN LỰC LƯỢNG:
CUỘC TIẾN CÔNG MÙA XUÂN NĂM 1972 CỦA CÁCH MẠNG

Lam Sơn 719 khẳng định rằng quân đội Việt Nam cộng hòa dứt khoát kém hơn Quân đội nhân dân Việt Nam và điều đó làm tăng thêm lòng tin của Đảng vào chủ lực của chính mình sau ba năm thận trọng xây dựng và huấn luyện để tiến hành cuộc chiến tranh quy mô lớn hơn với vũ khí tiên tiến.

Dựa vào chủ lực không có nghĩa là coi nhẹ tý nào lực lượng du kích mà chức năng là giữ chân một số lớn lực lượng của Việt Nam cộng hòa, bảo vệ cán bộ chính trị và làm chậm công cuộc bình định.

Khi tính toán cuộc tiến công tiếp theo, các nhà lãnh đạo Đảng không phải chỉ tập trung vào chiến trường. Những mục tiêu chủ yếu của cố gắng đó còn phải làm cho thấy rõ Việt Nam hóa là một thất bại quân sự, và đặc biệt là làm đảo ngược những thắng lợi bình định ở đồng bằng sông Cửu Long và cũng có sự có mặt chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở những nơi mà Mặt trận đã bị suy yếu. Khả năng trở lại chiếm những khoản trống chính trị là rất cần thiết cho Mặt trận để giành những thắng lợi quân sự.

Thất bại của quân đội Việt Nam cộng hòa sẽ làm cho nhiều nhóm, kể cả nhân dân đô thị thấy rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng vẫn là lực lượng quyết định trong tương lai của miền Nam.

Đảng vạch kế hoạch cho cuộc tiến công năm 1972 trước hết là nhằm đảo ngược những tổn thất của mình từ trước và sử dụng hầu như chủ yếu là chủ lực. Không đặt ra khởi nghĩa đô thị, mà chỉ làm cho thay đổi so sánh lực lượng để phong trào đô thị có thể phát triển sau này. Bằng cách làm lộ rõ những chỗ yếu của Việt Nam hóa, Đảng hy vọng giành "một" thắng lợi quyết định năm 1972, làm cho Mỹ thấy rõ thế tuyệt vọng của họ đồng thời đẩy nhanh sự suy sụp quân sự, kinh tế và tâm lý của những kẻ phụ thuộc Việt Nam cộng hòa của họ.

Trong khi nghĩ rằng Việt Nam cộng hòa có thể sụp đổ hoàn toàn, Đảng cũng cho rằng điều có nhiều khả năng hơn là Việt Nam cộng hòa trở nên yếu hơn nhiều và tạo điều kiện cho ngoại giao và cho một thắng lợi cuối cùng về sau.

Về mặt ngoại giao, Bộ Chính trị tin rằng thắng trên chiến trường sẽ đi trước cố gắng của của Mỹ nhằm tranh thủ sự đồng tình của Liên Xô và Trung Quốc cho một giải pháp vượt quá khả năng thực tế của Mỹ và Việt Nam cộng hòa. Việt Nam cộng hòa tiếp tục ngày càng trở nên yếu và không có biểu hiện nào nói lên rằng thì giờ là có lợi cho Việt Nam cộng hòa và cho Việt Nam hóa.

Nhưng Đảng không muốn để cho thời gian chậm rãi trôi, ít nhất là về mặt ngoại giao, bởi vì sự biến đổi của xã hội miền Nam và nhu cầu của chính bản thân Đảng, thúc giục phải chấm dứt chiến tranh càng sớm càng tốt. Cuộc tiến công 1972 do đó tỏ ra là cơ bản cho kết quả cuộc chiến tranh.

Mỹ biết trước cuộc tiến công nhưng một lần nữa không đoán trước được thời điểm, quy mô và địa điểm. Nhà Trắng tiếp tục một niềm tin chung rằng cuộc tiến công sẽ không đảo lộn được chiến lược cơ bản là áp dụng sức ép ngoại giao, Việt Nam hóa, và đe dọa leo thang. Nhưng tướng Crây-tơn E-bram, trong khi cho rằng cuộc tiến công có nhiều khả năng nhất xảy ra trong tháng 2 ở cao nguyên Trung Bộ, đã hiểu một cách chính xác rằng thí nghiệm cơ bản của cuộc tiến công xem xem "Việt Nam hóa là một thành công hay thất bại".

CIA và các cơ quan khác nhau của Lầu Năm Góc ngày càng bi quan trước sức mạnh ngày càng tăng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở nông thôn. Những người Mỹ ở Sài Gòn, rất gần gũi với quân đội Việt Nam cộng hòa, đã trở nên chán nản sau khi Lam Sơn 719 bộc lộ thất bại rõ ràng của những năm cố gắng Việt Nam hóa. Phần còn lại của năm 1971 cũng chẳng tốt gì hơn. Đào ngũ và mất tinh thần vẫn tiếp tục, và trong những khu vực có thể xảy ra tiến công, các sĩ quan chỉ huy là những bạn chính trị chí thân của Thiệu nhưng lại là những chỉ huy tồi.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #159 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2008, 10:16:58 am »

Trong lễ Tết 1972 quân đội Việt Nam cộng hòa giữ binh lính của mình trong tình trạng báo động và chỉ còn dưới 140.000 quân Mỹ để giúp họ. Nhà Trắng cho rằng chỉ hoạt động ngoại giao mới có thể kiềm chế được trào lưu, và Kít-xin-giơ cố làm cho chuyến đi thăm Mát-xcơ-va tháng 5 của Ních-xơn gắn vào sự hạn chế quân sự của Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Các tướng của Đảng gây ra sự bất ngờ tối đa khi ngày 30 tháng 3, bốn mươi nghìn quân đội nhân dân Việt Nam vượt qua khu phi quân sự bằng phẳng tại vĩ tuyến 17 vào lúc và nơi ít ngờ nhất. Cuộc tiến công cũng đồng thời xảy ra ở khu vực Công Tum - Đắc Tô thuộc cao nguyên Trung Bộ và ở khu vực Lộc Ninh, bắc Sài Gòn. Quân đội nhân dân lần đầu tiên dùng một số lớn xe tăng cũng như súng phòng không và trọng pháo.

Với tất cả kỹ thuật tiên tiến của Mỹ, Mỹ đã không phát hiện được việc di chuyển số trang bị đó qua đường mòn Hồ Chí Minh. Tất cả những nhược điểm chồng chất của quân đội Việt Nam cộng hòa xuất hiện ngay lập tức. Theo cách nói của tướng Cao Văn Viên, thì "cuộc tiến công 1972 của địch đã làm nói lên một cách bi thảm nhất sự yếu kém cơ bản của quá trình Việt Nam hóa". Thiếu tướng Đa-vít E.Ot, chuyên gia trọng pháo của lục quân Mỹ kết luận: "Hai tuần đầu của cuộc tiến công là tai họa cho các lực lượng Nam Việt Nam".

Trong suốt cuộc chiến tranh, Cách mạng giữ quyền cơ động và thế chủ động ở khắp nơi trong khi quân đội Việt Nam cộng hòa đóng quân tại chỗ trong những vị trí phòng thủ. Hoàn toàn không được chuẩn bị cho hướng tiến công, các căn cứ vùng chiến thuật I không được bảo vệ đầy đủ. Đã bộc lộ rõ ràng là phần đông các sĩ quan cấp cao của quân Việt Nam cộng hòa là bất tài.

Những câu chuyện về sự hèn nhát và về phán đoán tồi đã trở nên đầy rẫy.. Những câu chuyện này về sau cũng đầy rẫy trong lịch sử chính thức của Mỹ. Những đơn vị đáng ra phải được phối hợp thì lại hoạt động độc lập. Lực lượng không quân Việt Nam cộng hòa bắt đầu sụp đổ và tỏ ra ít muốn làm mồi cho hỏa lực của Quân đội nhân dân.

Kỷ luật bây giờ trở thành điểm yếu nguy ngập nhất của quân đội Việt Nam cộng hòa. Vấn đề đã nhanh chóng trở nên rắc rối với những số lượng quá lớn những người trong gia đình của quân đội cùng ở trong khu vực chiến đấu, mà ngay từ đầu đã gây cản trở và trong vài tuần tiếp theo gây ra một sự khủng khiếp trong quân lính và gây tắc nghẽn trên đường rút lui. Việc sử dụng ào ạt không quân Mỹ đã ngăn chặn được một sự sụp đổ hoàn toàn dọc theo vĩ tuyến mười bảy cho đến 18 tháng 4, khi quân đội Việt Nam cộng hòa bắt đầu hoảng sợ và bỏ phòng tuyến.

Vào cuối tháng 4, toàn bộ quân đội Việt Nam cộng hòa ở phía bắc tỉnh lỵ Quảng Trị đã bị tan rã và ngày 1 tháng 5 Quân đội nhân dân chiếm tỉnh lỵ và toàn bộ tỉnh Quảng Trị. Quân đội Việt Nam cộng hòa đã bị đánh bại tồi tệ và mất tinh thần, để mất những số lượng lớn vật dụng. Việc mất Quảng Trị làm cho quân đội Việt Nam cộng hòa không thoát khỏi những thất bại lớn hơn. Huế trên thực tế không được bảo vệ. Kít-xin-giơ ghi lại ý kiến của E-bram: "Toàn bộ cơ nghiệp có thể bị mất hết”.

Quân đội nhân dân Việt Nam cũng bộc lộ một số vấn đề. Các lực lượng của họ dễ bị không quân tấn công và họ đã mất một số lớn xe tăng. Trong khi họ đã sử dụng hoàn hảo trọng pháo nhưng cơ giới của họ còn thiếu kinh nghiệm và chưa phối hợp được tốt với bộ binh. Và họ không gắn được ba khu vực mặt trận để khai thác sự kiệt sức của quân đội Việt Nam cộng hòa. Nếu cuộc tiến công của Quân đội nhân dân Việt nam tập trung hơn thì có thể còn quyết định hơn nhiều.

Một số tướng của Đảng phê phán là đã không chiếm Huế trước khi Thiệu có thể tổ chức những đơn vị cuối cùng và tốt nhất để bảo vệ. Ngay các tướng Mỹ cũng nghĩ rằng đáng ra Quân đôi nhân dân Việt Nam còn có thể đạt những thắng lợi lớn hơn nhiều. Hoàn toàn rõ ràng là Quân đội nhân dân Việt Nam đã đi được một chặng đường dài, đã học được nhiều, tuy chưa đủ, trong khi quân đội Việt Nam cộng hòa không có tiến bộ nào. Hoạt động của họ ở Lào năm 1971 và cách đối phó còn tồi hơn năm 1972 là những triệu chứng của một căn bệnh tận cùng của họ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM