Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:02:15 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giải phẫu một cuộc chiến tranh  (Đọc 112788 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #200 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2008, 04:10:59 am »

CIA ở Sài Gòn, tin rằng đã nắm được nghị quyết chung đầu tiên của năm 1975, đã kết luận rằng ngoài giai đoạn một của cuộc tiến công ở vùng chiến thuật III và IV sẽ không có cuộc tiến công nào bằng quy mô của năm 1968 và 1972 nhưng chỉ hoạt động đủ để làm cho Việt Nam cộng hòa bối rối. Thiệu nhận được đánh giá đó và chấp nhận vì nó chính xác một cách phải chăng nhưng không biết rằng Đảng đã xác định chiến lược cuối cùng của họ. Khả năng xấu nhất mà Thiệu thấy trước là một cuộc tổng tiến công trùng hợp với cuộc bầu cử tổng thống Việt Nam cộng hòa tháng 10 tiếp theo hoặc có lẽ với cuộc bầu cử Mỹ một năm sau đó. Ông ta kết luận rằng như vậy thì không cần có thay đổi nào trong các lực lượng chính của mình. CIA cũng công bố đánh giá chi tiết của mình cho các nhà báo và được đưa ra công khai cuối tháng 12.

Trong khi các tướng của Đảng đặc biệt lấy cao nguyên Trung Bộ làm mục tiêu cho cuộc tiến công thì việc họ biết về những nhận định của Thiệu đối với những ý đồ của họ và việc Thiệu quyết định không củng cố vùng chiến thuật II, làm cho họ vững tin rằng họ đã chọn được đúng chỗ để tập trung cố gắng lớn ban đầu của họ.

Chỉ còn việc chọn địa điểm chính cho cuộc tiến công đầu tiên. Các đại diện B2 đề nghị Buôn Ma Thuột, một đô thị gần Phước Long và xa về phía nam của Kon-tum và Plây-cu, mà cả hai đã bị tiến công năm 1972. Đó là một mục tiêu có thể gây ra bất ngờ lớn nhất và cũng là nơi ít được bảo vệ nhất trong vùng. Họ tin rằng bằng cách kéo trục chính của cuộc chiến tranh xa hơn xuống phía nam và bằng cách gắn bó với khu vực B2, họ có thể sẽ làm cho thắng lợi càng lớn hơn và có thể rút ngắn cuộc chiến tranh.

Vì Phước Long đã tỏ ra rằng quân đội Việt Nam cộng hòa yếu hơn nhiều điều Hà Nội nhận thấy, nên lập luận của B2 có giá trị. Về phần mình, tướng Dũng cho rằng không những chiến dịch mở màn ở cao nguyên Trung Bộ sẽ thắng bất cứ ở đâu trong khu vực rộng lớn đó mà cuộc tiến công chính sẽ không thể tiến sâu xuống phía nam hơn nữa cho đến năm sau.

Những kế hoạch cuối cùng của Đảng do đó không phải là sản phẩm của một chiến lược dài hạn, chi tiết và bao quát mà là kết quả của ý muốn khai thác so sánh lực lượng rất có lợi cho mình và nắm bắt thời cơ. Cái đang được thử thách là sức mạnh của hai chế độ xã hội và những nhận thức về xã hội. Sức mạnh thực sự của cách mạng là sức mạnh của sự cố kết của bản thân mình và mối quan hệ với một phong trào quần chúng được phân quyền, bên cạnh những yếu kém chồng chất của Việt Nam cộng hòa.

Chiến lược của B2 tôn trọng cam kết cổ truyền của Đảng đối với học thuyết hỗn hợp vừa chiến tranh vừa chính trị, và ý thức của Đảng đối với những nhu cầu của miền Nam cũng như đối với tiềm năng của tình hình là chính xác. Việt Nam cộng hòa lúc này rất yếu ở tất cả các cấp và ít có nghi ngờ rằng ngay những quan niệm hưởng nhiều hơn về kỹ thuật và khá không mác-xít hiện đang có ở Hà Nội cũng có thể sẽ thắng ở chiến trường. Ở một mức độ nhất định có thể nói là cả hai quan niệm đã được áp dụng song song.

Tất cả điều mà một cuộc tiến công quân sự sẽ làm, là bộc lộ chỗ yếu tai họa của trật tự xã hội mà Mỹ đã dựng lên để đại diện cho quyền lợi của họ. Trật tự xã hội đó sẽ sụp đổ bằng cách này hay cách khác, là điều chắc chắn. Các tướng của Đảng là những người đóng vai trong lịch sử chứ không phải những người làm ra lịch sử. Tất cả các tình tiết của màn cuối cùng của chiến tranh đã được sắp đặt; không tình tiết nào là do ngẫu nhiên hoặc do tài của cá nhân, và ngay những sai lầm tai họa nhất của Việt Nam cộng hòa cũng có thể đoán trước vì Thiệu là con số đã biết.

Bắt đầu năm 1975 tất cả các nhân tố quyết định kết quả cuộc chiến tranh là những điều chồng chất mà các sự kiện và quá trình đưa lại: đó là những binh lính Việt Nam cộng hòa dàn mỏng khắp nơi, bị bỏ rơi trong thiếu thốn và mất tinh thần; đó là những nông dân kiên cường gây lo ngại cho các tỉnh trưởng và luôn luôn phải bị theo dõi; đó là những nhà lãnh đạo Mỹ kiệt sức, rất day dứt khi chỉ hai tiếng "Việt Nam" bị nhắc đến và quyết tâm tránh sự phung phí lần nữa năng lực và tiền của ở đó; đó là những tướng tham tiền với những bà vợ đầy vàng ngọc, và đó là nhiều thứ khác nữa. Số phận của Việt Nam, quá chậm đến hai thập kỷ, cuối cùng đã được quyết định.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #201 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2008, 04:11:47 am »

Chương bốn mươi mốt
SỰ KẾT THÚC CỦA CHIẾN TRANH

VIỆN TRỢ CHO THIỆU VÀ TƯƠNG LAI CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA

Cuộc khủng hoảng chính trị làm rung chuyển Việt Nam cộng hòa sau giữa năm 1974 đã đặt trước chính quyền Pho một thực tế không sao tránh khỏi rằng tất cả các cố gắng hiện tại vào quá khứ rất đồ sộ của Mỹ đang lâm nguy. Sự thờ ơ, sự bất lực và những cố gắng vụng về của chính quyền Mỹ đã kết hợp vào cuối năm 1974 để đặt nó vào một trong những tình hình xấu nhất với một chế độ bị yếu đi nghiêm trọng mà không có hy vọng có một đối tượng nào vững vàng để thay cho Thiệu.

Vấn đề viện trợ quân sự bổ sung cho Việt Nam cộng hòa đã trở thành một vấn đề lớn hơn nhiều đối với Thiệu và với những chính quyền Mỹ nhưng không ai đã thấy trước được, khi Nhà Trắng xin tiền trong tháng giêng. Nó có tác động chính trị rõ rệt hơn nhiều đối với tương lai của Thiệu và Việt Nam cộng hòa so với tác động vật chất khi Quốc hội giảm viện trợ cho năm tài chính 1975.

Việc xin viện trợ bổ sung này có mục đích lúc ban đầu là tạo ra một sự làm yên lòng tượng trưng, nhưng hóa ra nó lại là một sự từ chối rõ ràng của Quốc hội trong việc ủng hộ Thiệu và nói trắng ra rằng Thiệu phải hoàn toàn tự lo liệu lấy với quân đội của mình để đối phó với kẻ thù. Nó cũng bộc lộ những sự chia rẽ và bất lực của chính quyền Pho, đẩy nhanh thêm cuộc khủng hoảng trong chính sách Việt Nam.

Cuối năm 1974, Thiệu cần một vài cử chỉ tâm lý để chứng minh rằng quan hệ của ông ta với Oa-sinh-tơn còn mạnh và có hiệu lực như trước. Vì thế ai cũng đều hiểu rằng việc xin viện trợ bổ sung là nhằm mục đích đó chứ không nhằm vào một số vũ khí có thể có ích nào đó dâu. Những sĩ quan cấp cao, lực lượng duy nhất có thể lật đổ Thiệu, là những người quan tâm trực tiếp nhất đến sự bất lực của Thiệu trong việc xin viện trợ. Một người trong bọn họ nói trong tháng 2 năm 1975 rằng: "Có nhiều điều than phiền về sự lãnh đạo ông ta". Sự việc này đã làm cho Thiệu, cũng trong tháng đó, cử tướng Toàn bỉ ổi làm tư lệnh vùng chiến thuật III trọng yếu quanh Sài Gòn và thắt chặt hơn nữa sự kìm kẹp của ông ta đối với cảnh sát và các bộ chỉ huy chủ chốt.

Về phần mình, Kít-xin-giơ xử lý vấn đề Việt Nam và vấn đề xin viện trợ bổ sung một cách không đưa lại kết quả gì. Hết sức bị lôi cuốn vào các vấn đề Trung Đông, ông ta lại đương đầu với Quốc hội vào lúc Lầu Năm Góc không che giấu sự chống đối của mình đối với mọi viện trợ bổ sung. Hai vấn đề đó kết hợp lại trong những tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh làm cho chính sách Việt Nam của Nhà Trắng bị tê liệt và làm thiệt hại nặng đến khả năng sống sót chính trị của Thiệu.

Bảy mươi lăm hạ nghị sĩ mới, tham gia khóa Quốc hội thứ chín mươi tư, tháng giêng năm 1975, là những người chống chiến tranh mạnh mẽ và chủ trương cải tổ lại hệ thống các ủy ban đã từng giúp cho các chính quyền liên tiếp thực hiện chính sách đối ngoại. Không muốn mặc cả lôi thôi và xem thường Kít-xin-giơ là một kẻ kêu căng chỉ chạy theo quyền lực, cả Hạ lẫn Thượng viện nói rõ ngay từ đấu rằng việc xin viện trợ phụ ngày 28 tháng giêng ít có khả năng được thông qua và việc thông qua nhanh càng không chắc sẽ diễn ra.

Con số 300 triệu đô-la đã được đưa ra một cách may rủi và CIA ở Sài Gòn thì cho rằng, vì việc xin thêm này chỉ nhằm vào tác động tâm lý và vì việc mua thêm vũ khí không phải cấp bách, nên một con số nhỏ hơn có khả năng sẽ được thông qua nhanh chóng hơn. Trong những tuần đó, một báo cáo của một quan chức tổng kiểm tra về việc dùng một cách quá mức trang bị và đạn dược của Việt Nam cộng hòa đã bị lộ ra với Quốc hội, rồi với báo chí. Lầu Năm Góc cũng đưa ra tin tức về việc Việt Nam cộng hòa có những kho vũ khí đạn dược lớn. Những tiết lộ này không lợi cho Nhà Trắng. Chúng tiết lộ rằng càng có thêm tiền, Việt Nam cộng hòa sẽ trữ thêm vũ khí hoặc mở rộng chiến tranh.

Đầu tháng giêng, Kít-xin-giơ lại chỉ trích Lầu Năm Góc đã không chịu đưa một đơn vị tác chiến đặc biệt hải quân vào vùng biển Việt Nam để de dọa Việt Nam dân chủ hòa. Lầu Năm Góc tiết lộ sự việc này và làm cho Bộ trưởng ngoại giao rất lúng túng, buộc Pho ngày 21 tháng giêng tuyên bố rằng ông ta không thể thấy trước những hoàn cảnh làm cho Mỹ phải trở lại cuộc chiến tranh.

Trong những điều trần đầu tiên về viện trợ bổ sung, Lầu Năm Góc lại đưa ra những số liệu cho thấy rằng quân đội Việt Nam cộng hòa vẫn còn giữ ưu thế áp đảo về sức mạnh vật chất. Biết rằng khó có thể có được viện trợ bổ sung, Nhà Trắng đưa ra kế hoạch cả gói viện trợ quân sự và kinh tế 6,4 tỷ đô-la trong ba năm, sau đó thì sẽ chấm dứt mọi viện trợ. Lầu Năm Góc hành động trực tiếp hơn, vì thấy rằng nhiều tiền hơn sẽ bị đổ vào chiến tranh Việt Nam. Lầu Năm Góc muốn có kinh phí để hiện đại hóa các lực lượng vũ trang của mình và Sơ-lê-xin-giơ lập luận rằng nếu chính quyền Mỹ sẵn sàng để cho Việt Nam cộng hòa sụp đổ năm 1977, thì cũng có thể làm như vậy ngay tức khắc.

Trước khi kế hoạch ba năm được đưa ra, Lầu Năm Góc bắt đầu nói với Quốc hội rằng Việt Nam cộng hòa sẽ sụp đổ nếu nó không nhận được viện trợ thêm một thập kỷ nữa. Tuyên bố này làm cho kế hoạch ba năm thay thế cho viện trợ bổ sung bị tổn thương lớn. Sơ-lê-xin-giơ cũng không tiên đoán rằng Việt Nam cộng hòa sẽ thất bại nếu không có viện trợ bổ sung và đến tháng 3, ông ta công khai đòi quân sự Mỹ chuyển trung tâm của mình vào châu Âu và công cuộc hiện đại hóa.

Việc Quốc hội không cho viện trợ bổ sung đã đẩy Việt Nam cộng hòa vào một khủng hoảng tâm lý và chính trị trong giai đoạn cuối cùng của cuộc đời nó.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #202 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2008, 04:13:48 am »

CÁN CÂN QUÂN SỰ VÀ CUỘC KHỦNG HOẢNG NGÀY CÀNG SÂU SẮC CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA, ĐẦU NĂM 1975

Về mặt vật chất, quân đội Việt Nam cộng hòa đầu năm 1975 có một ưu thế to lớn về số lượng trong tất cả các lĩnh vực, so với Cách mạng. Mặc dù những lời phàn nàn này nọ, nhưng con số cho thấy rằng quân đội Việt Nam cộng hòa là một đội quân đáng sợ chỉ cần nó dám chiến đấu thôi. Nó có 1.400 cỗ súng lớn so với 400 của Cách mạng. 1200 xe tăng và xe bọc thép chở quân so với 600 của Quân đội nhân dân Việt Nam. Lầu Năm Góc đánh giá có khoảng 185.000 quân chiến đấu, 107.000 quân yểm trợ  và 45.000 du kích trong đội quân của Cách mạng, nghĩa là quân đội Việt Nam cộng hòa có ưu thế hai trên một về quân chiến đấu và một ưu thế chung ba trên một về toàn bộ lực lượng.

Không quân Việt Nam cộng hòa còn có 1.400 máy bay, tuy hệ thống phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam rất hùng mạnh. Số lượng thật sự của quân đội Việt Nam cộng hòa là một điều bí ẩn đối với ngay cả những sĩ quan cao cấp nhất. Họ chỉ biết họ chỉ tìm khoảng một nửa số 50.000 quân mà họ cần hàng năm để thay những lính đào ngũ và những thương vong bình thường.

Mặc dù những phàn nàn than vãn của Mac-tin, quân đội Việt Nam cộng hòa bắn đạn súng lớn gấp chín lần phía Cộng sản và kho đạn của họ thì từ tháng 9 năm 1974 đến tháng 3 năm 1975 đã lên đến hai phần ba dự trữ khổng lồ đã có khi ký Hiệp định Pa-ri. Người đứng đầu cơ quan hậu cần của Việt Nam cộng hòa về sau thừa nhận: "Nhưng các đơn vị chiến đấu chưa bao giờ thiếu đạn khi lâm trận với kẻ thù và không có cuộc hành quân nào phải hoãn lại vì thiếu đạn".

Trong khi tinh thần của Việt Nam cộng hòa quá sa sút cho nên không sao cứu chữa được, thì vế mặt kỹ thuật, chiến lược "bốn không" của Thiệu nhằm giữ càng nhiều đất, nhiều dân càng tốt đã phung phí những vốn quý quân sự tiềm tàng của ông ta. Vì lý do đó, Cách mạng có thể xác định thời điểm và hình thức chiến đấu và luôn luôn đánh bại quân đội Việt Nam cộng hòa. Nhiều sĩ quan Mỹ kêu gọi những sĩ quan Việt Nam cộng hòa tập trung quân đội của họ vào những vùng có thể bảo vệ được và, đã được nhiều người đồng tình.

Các tướng của Thiệu cũng thảo luận chiến lược này và tháng 8 năm 1974, sau khi không còn đủ trang bị để mở rộng ra toàn đất nước, một ủy ban của quân đội nghiên cứu khả năng bỏ các vùng nghèo hơn ở các vùng chiến thuật I và II và tập trung vào các đô thị bờ biển và khu vực nam Nha Trang gần vĩ tuyến mười hai. Mac-tin và đại sứ quán khuyến khích ý định cắt bớt đất đó nhưng chủ yếu là để gây sức ép với Quốc hội nếu Quốc hội tiếp tục cắt viện trợ; tuy vậy vẫn có những người thực sự tán thành biện pháp đó. Đó hoàn toàn không phải là một chiến lược vô nghĩa và lập dị, và chỉ sự chống đối của Thiệu mới ngăn chặn được nó. Tướng Mu-rây là người Mỹ quan trọng nhất tán thành chiến lược đó và Cơ quan tùy viên quốc phòng luôn luôn quan tâm đến việc xem xét lại chiến lược.

Cuối năm 1974, Thiệu đồng ý rằng thành lập một dự trữ chiến lược là việc đáng làm về nguyên tắc, và giao cho một ủy ban để nghiên cứu. Các tướng Viên và Khiêm mạnh mẽ ủng hộ sự cải cách. Chỉ một mình việc này làm cho Thiệu thận trọng trong việc thực hiện bởi vì Khiêm là mối đe dọa chính trong giới quân sự. Thúc đẩy việc này lại là một người Ô-xtrây-li-a, đã từng là một quan chức của CIA và tổ chức Rand, và bây giờ là một cố vấn của Việt Nam cộng hòa, Tet-xa-rông, ông ta lập luận ràng bảy trong số mười ba sư đoàn đang bảo vệ chỉ một phần sáu nhân dân và ông ta chủ trương bỏ nửa trên của Nam Việt Nam.

Phần đông người Mỹ ở Sài Gòn nghĩ rằng những sự rút lui có tính toán là khôn ngoan; khi Thiệu và những trợ lý của ông ta hỏi ý kiến những người Mỹ thì họ nói rõ sẽ ủng hộ Thiệu bất kể ông ta quyết định như thế nào.

Vấn đề trước mắt của quân đội Việt Nam cộng hòa không phải là vấn đề vật chất mà là vấn đề tinh thần và lãnh đạo. Những sĩ quan và những chiến lược không thích hợp và sự cung cấp kém dồi dào hơn trước có gây một số tổn thương, nhưng cuối cùng những điểm yếu tai họa của Việt Nam cộng hòa bắt nguồn trong tính chất căn bản hơn của chế độ xã hội và trong chính cuộc chiến tranh. Tinh thần của binh lính sa sút trong nhiều năm. Tuy nó là tồi tệ trong tháng giêng năm 1975 hơn bao giờ hết, nhưng chừng đó không thôi không đủ để giải thích những sự kiện tiếp theo.

Điều độc đáo là sự tan rã của chế độ chính trị của Thiệu là tiếp theo những phản đối chống tham nhũng, cuộc khủng hoảng kinh tế, việc cắt viện trợ, và sự phân liệt sâu sắc trong khối liên hiệp mà "Thiệu đã hàn gắn trong những năm thịnh vượng 1969-1972. Điểm ngoặt của giới thượng lưu cổ truyền là việc mất tỉnh Phước Long, tiếp theo là việc không xin được viện trợ bổ sung tại Quốc hội. Một nỗi bi quan tuyệt vọng và một cảm giác tận số đang lơ lửng trên đầu đã bao trùm cả Sài Gòn. Nó càng trở nên sâu sắc thêm khi Trần Văn Lắm, chủ tịch Thượng viện Việt Nam cộng hòa và là bộ trưởng ngoại giao cũ, từ chuyến đi thăm Oa-sinh-tơn trong tháng 2 trở về, tuyên bố nhưng không có chứng minh thực sự rằng tất cả viện trợ sẽ chấm dứt năm tài chính đó.

Vào lúc này, Thiệu không thành công trong cố gắng chở vàng của Việt Nam cộng hòa sang Thụy Sĩ, nói là phụ thêm vào tiền vay để mua đạn dược, và Thiệu cũng cố gắng vay mượn trên cơ sở thu nhập tương lai về dầu. Trạng thái buồn rầu của Sài Gòn biến thành một nỗi hoảng sợ thực sự khi một phái đoàn Quốc hội Mỹ rõ ràng lạnh nhạt nhanh chóng ghé qua vào cuối tháng 2. Chính trạng thái của "không khí... đầy tin đồn và suy đoán", như tướng Viên mô tả, đã đe dọa quyền hành của Thiệu và chiếm lĩnh tâm trí của Việt Nam cộng hòa, của các nhà lãnh đạo cũng như của binh lính, trong khi các đội quân của Cách mạng chuẩn bị cuộc tiến công của mình.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #203 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2008, 04:14:57 am »

CÁI BẮT ĐẦU CỦA SỰ KẾT THÚC:
THÁNG 3 NĂM 1975 VÀ CUỘC TÁN LOẠN QUÂN SỰ

Đầu tháng 3 năm 1975, kết quả cuộc chiến tranh chắc chắn phản ánh toàn bộ hai thập kỷ của những gì xảy ra ở Nam Việt Nam, nhưng hình thức chính xác của sự kết thúc sẽ được gắn liền ở một mức độ đáng chú ý, vào suy xét và thái độ xử sự của Nguyễn Văn Thiệu. Mỹ hoàn toàn dựa vào Thiệu để chứng minh lòng tin và hiệu quả tượng trưng của chính sách đối ngoại, làm cho cố gắng lâu dài của mình không mạnh gì hơn một con người mà một chế độ mà ngay từ đầu đã phụ thuộc vào Mỹ. Đó là một mối quan hệ đầy nguy hiểm cho cả chính quyền Pho lẫn những người cộng tác với Mỹ ở Sài Gòn.

Quyết định của Đảng tiến công cao nguyên Trung Bộ đã xảy ra vào lúc vị trí của Việt Nam cộng hòa trong khu vực đặc biệt suy yếu. Những bộ tộc miền núi trong các đơn vị vũ trang địa phương của Việt Nam cộng hòa, đặc biệt là quanh Buôn Ma Thuột, công khai chống lại Thiệu nhất là vì sự cướp bóc của quân đội Việt Nam cộng hòa. Họ không muốn báo cáo việc di chuyển rất nhiều Quân đội nhân dân Việt Nam vào khu vực trong tháng 2. Tinh thần quân đội Việt Nam cộng hòa ở cao nguyên cũng thấp như ở khắp các nơi khác; tỷ lệ nghiện ma túy được báo cáo là 30 phần trăm ở vùng Plây-cu và, ma túy là do sĩ quan bán cho.

Tuy vậy tình báo của quân đội Việt Nam cộng hòa biết trước vào giữa tháng 2 rằng một cuộc tiến công lớn sắp xảy ra ở cao nguyên và Buôn Ma Thuột là mục tiêu chính; nhưng tư lệnh vừng chiến thuật II thì cho rằng Plây-cu là mục tiêu chính và ông ta chuẩn bị theo hướng đó. Trong khi đó thì Quân đội nhân dân Việt Nam làm cho ông ta càng tin vào nhận định của mình bằng cách tổ chức những hành động nghi binh cả ở khu vực đó lần ở quanh Huế và tây Sài Gòn, một lần nữa buộc toàn bộ lực lượng vũ trang Việt Nam cộng hòa đóng quân tại chỗ. Họ bố trí rất cẩn thận nhằm cắt tất cả các đường chính để không thể đưa thêm quân vào cao nguyên hoặc đưa từ Plây-cu và Kon-tum để tiếp viện cho Buôn Ma Thuột, hoặc không cho quân của Thiệu thoát nếu Thiệu ra lệnh rút lui chiến lược khỏi khu vực, một cuộc rút lui mà họ biết đang được thảo luận trong nhiều tháng rồi.

Lực lượng vũ trang Việt Nam cộng hòa ở cao nguyên có đủ dự trữ để chiến đấu trong hai tháng. Các tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam cũng chuẩn bị cho một chiến dịch hai tháng, trước khi mùa mưa gây khó khăn cho trang bị nặng của họ. Tính toán của họ là dựa trên khả năng của quân đội Việt Nam cộng hòa. Như một sĩ quan Mỹ về sau kết luận: "Người Bắc Việt Nam không khởi xướng chiến dịch với một ưu thế lực lượng áp đảo". Dự kiến lạc quan nhất của họ là toàn bộ cao nguyên có thể chiếm được trong năm 1975, tuy năm 1976 là đích có nhiều khả năng hơn. Trừ phi Thiệu ra lệnh rút lui nếu không họ cho là phải có thời gian dể chiếm các đô thị lớn của cao nguyên.

Cuộc tiến công Buôn Ma Thuột xảy ra sáng sớm ngày 10 tháng 3. Các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu rất tốt, gây được bất ngờ và chặn được mọi tiếp viện đến thành phố. Khi không quân Việt Nam cộng hòa được phái đến, một máy bay đánh vào trung tâm tổ chức bảo vệ thành phố, phá hủy hoàn toàn trung tâm đó và kết thúc mọi sự phòng thủ có tổ chức. Tiếp theo là một loạt các sự kiện bộc lộ nhược điểm cơ cấu cơ bản của các lực lượng Việt Nam cộng hòa trên khắp đất nước.

Quân đội nhân dân Việt Nam chiếm thành phố và ngày hôm sau Thiệu ra lệnh cho tư lệnh vùng chiến thuật II chiếm lại, coi nó quan trọng hơn Plây-cu và Kon-tum. Hai trung đoàn quân tích cực, tận tụy của quân đội Việt Nam cộng hòa được không vận xuống một đô thị 30 ki-lô-mét đông Buôn Ma Thuột ngày 14 tháng 3 và hy vọng sẽ đánh tốt vì gia đình của họ bị kẹt ở Buôn Ma Thuột. Nhưng vì nhiều người trong gia đình của họ đã rời thành phố và chạy tán loạn khắp nơi, binh lính liền bỏ đơn vị và vũ khí để đi tìm gia đình. Sự trung thành của binh lính với gia đình mà phần lớn sống gần họ đã được lập lại khắp nơi, làm sụp đổ hoàn toàn tình đoàn kết chiến đấu và kỷ luật, và làm một nguyên nhân cơ bản thất bại Việt Nam cộng hòa.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #204 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2008, 04:15:36 am »

Tư lệnh sư đoàn hai mươi ba cũng bỏ nhiệm sở để đưa gia đình ra ngoài bằng máy bay lên thẳng. Vì đông đảo binh lính và gia đình họ làm tắc nghẽn các đường khi tìm cách chạy thoát ra bờ biển cách đó gần một trăm ki-lô-mét, sự hoảng sợ và hỗn loạn bắt đầu lan ra trên khắp khu vực.

Cuộc tiến công mở màn ở cao nguyên Trung Bộ được tiếp theo với một loạt các cuộc tiến công nhỏ hơn ở khắp nơi làm cho Thiệu hoang mang không biết các mục tiêu chính và khả năng của Cách mạng như thế nào. Vì vậy sự có mặt của Cách mạng trên khắp Nam Việt Nam đã gây ra những sức ép và bối cảnh cho sai lầm chiến lược tai họa của Thiệu, mà nếu không có nó, chiến tranh có thể còn kéo dài như Cách mạng đã tính toán.

Vì số lớn các lực lượng vũ trang của Cách mạng là các đơn vị chính quy, chủ yếu từ Việt Nam dân chủ cộng hòa, cho nên các lực lượng địa phương rải ra trên khắp đất nước có một tầm quan trọng chất lượng đối với Thiệu và ảnh hưởng đến tính toán và triển khai lực lượng của ông ta.

Về phía mình, Quân đội nhân dân Việt Nam tự do tập trung lực lượng để giành ưu thế bởi vì các đơn vị địa phương ở vùng chiến thuật I hoặc ở đồng bằng sông Cửu Long đã là mối đe dọa cho quân đội Việt Nam cộng hòa trong những ngày trước cuộc tiến công mở màn vào Buôn Ma Thuột và trong những tuần tiếp theo, khi các lực lượng địa phương kiểm soát các đô thị lớn phía bắc Nam Việt Nam.

Chính sự cần thiết nghiệt ngã phải triển khai quân đội trên toàn đất nước, mặc dù chống lại những du kích ít hơn về số lượng và được trang bị nghèo nàn hơn, đã đưa đến sai lầm chiến lược của Thiệu và sự kết thúc choáng váng của chiến tranh trong chỉ sáu tuần.

Thiệu đã tìm cách biến quân đội Việt Nam cộng hòa thành một vũ khí chính trị quá lâu nên ông ta không thể thay đổi được, vì vậy với chiến dịch Tây Nguyên ông ta có ít lựa chọn trước mắt. Cả Lam Sơn 719 lẫn cuộc tiến công mùa xuân 1972 đã bộc lộ tính chất không vững vàng và không thông thạo của ông ta với tư cách là một nhà chiến lược quân sự. Vì những lý do chính trị rõ rệt, Thiệu đã chống lại sự cải tổ chiến lược mà các lực lượng của ông ta đã được thảo luận từ tháng 8 năm 1974.

Ngày 10 tháng 3 sau khi tham khảo lần cuối cùng với Đại sứ quán Mỹ, Mac-tin đang ở Mỹ cho đến cuối tháng để chữa răng, Thiệu quyết định triển khai lại quân đội của mình. Sáng ngày 11 tháng 3, khi Buôn Ma Thuột đã mất, ông ta báo cho các cố vấn quân sự cấp cao về kế hoạch chỉ giữ những thành phố bờ biển then chốt trong các vùng chiến thuật I và II và bỏ tất cả vùng cao nguyên, trừ vùng Buôn Ma Thuột sẽ được chiếm lại. Cùng với nửa nam của đất nước, vùng đó sẽ hình thành một cơ sở cho một Việt Nam cộng hòa có thể bảo vệ về mặt lãnh thổ và có một dự trữ chiến lược.

Được các kẻ nịnh hót quân sự của ông ta là những quan chức cấp thấp ở Sứ quán Mỹ hà hơi, Thiệu đưa ra quyết định tai họa nhất của cuộc chiến tranh như là một cố gắng tuyệt vọng để đối phó với cuộc tiến công của Cách mạng. Hai ngày tiếp theo ông ta nghiền ngẫm lại kế hoạch mà một số bộ phận trên thực tế đã được thực hiện, gặp nhà bói toán của ông ta và gặp Tet Xa-rông, cả hai người này đều hoài nghi. Rồi ngày 14 tháng 3, ông ta bay đi Cam Ranh để ra lệnh cho tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh vùng chiến thuật II, bỏ toàn bộ cao nguyên trong vòng hai ngày. Họ sẽ dùng các lực lượng rút từ khu vực Kon-tum - Plây-cu để chiếm lại vùng Buôn Ma Thuột. Phú không được nói với ai về kế hoạch di tản trừ các sĩ quan cấp cao, nhất là ông ta cũng không báo cho các đơn vị địa phương, trước khi cuộc di tản bắt dầu. Đây là một kế hoạch ngẫu hứng, không được dự định từ trước và khi Phú thất bại trong việc chiếm lại Buôn Ma Thuột, thì tất cả các nhân tố đã làm cho thảm họa trở thành điều chắc chắn, tuy tính chất ác liệt thì khó có thể tưởng tượng được hết.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #205 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2008, 04:16:16 am »

Trong khi không có quan chức Mỹ nào dính líu vào kế hoạch này, nhưng họ biết nó sắp xảy ra. Liền sau khi nó bắt đầu, Oét-mo-len ở Oa-sinh-tơn gọi nó là một "hành động khôn ngoan". Chỉ khi nó tỏ ra là thảm họa, họ mới tìm cách tách xa mình ra. Mặc dù không có người Mỹ trọng yếu nào tham gia quyết định cụ thể, nhưng họ đã góp phần trong các cuộc thảo luận sau tháng 8, gây cảm hứng cho chủ trương đó. Trên hết, chính họ đã chọn Thiệu như là tổng tư lệnh và làm cho lời nói của ông ta trở thành mệnh lệnh.

Cuộc rút lui bắt đầu ngày 16 tháng 3. Sau khi tướng Phú gặp các sĩ quan của mình ở Plây-cu, ông ta trở về hưởng sự an toàn của Cam Ranh, bỏ cho họ tự xoay xở lấy. Một sĩ quan có hỏi về số phận của những nhân viên Việt Nam cộng hòa, những lực lượng địa phương và gia đình của binh lính Việt Nam cộng hòa, thì Phú ra lệnh, đúng theo lệnh của Thiệu: "Hãy quên họ đi. Anh không có trách nhiệm chăm sóc họ?... Nếu anh nói với họ về việc đó anh sẽ không kiểm soát được và không thể xuống đến Tuy Hòa vì sẽ có tình trạng hoảng hốt (xem Hosmer quyển "Fall of South Vietnam" trang 188).

Tuy nhiên, khi quân đội Việt Nam cộng hòa rút lui theo một con đường đã bị bỏ và không còn nhận ra được nữa, để xuống vùng bờ biển, thì gia đình của họ cũng theo với họ, và ngay tức khắc xảy ra một sự hỗn loạn cực độ. Nổi loạn, cướp bóc, hiếp dâm xảy ra trong suốt cuộc rút chạy và sự hoảng sợ do việc bỏ cao nguyên gây ra đã lan rộng đến vùng xa xôi như Huế. Những đợt sóng các lực lượng quân sự, gia đình họ và những người dân sự chen chúc nhau trên con đường ngập cỏ, bụi cây, không còn những chiếc cầu quan trọng, đã hỗn loạn hoàn toàn và còn bị chính máy bay của họ bắn phá, ít nhất ba phần tư lực lượng quân sự của vùng chiến thuật II đã bị tiêu diệt trong cuộc tán loạn đó và trong 400.000 người dân sự tìm cách chạy xuống vùng biển, chỉ một phần tư tới nơi. Những người sống sót loan truyền những câu chuyện về sự khủng khiếp và lừa dối của Việt Nam cộng hòa làm cho mọi người càng thêm hoảng sợ. Từ đó trở đi, đại bộ phận quân đội Việt Nam cộng hòa, kể cả các sĩ quan, dành lòng trung thành của họ cho gia đình họ chứ không phải cho các cấp chỉ huy mỗi khi bị Cách mạng tiến công, và một bộ phận rất lớn trang bị của họ bị vứt bỏ dọc đường.

Trong khi đó, những đơn vị tương đối nhỏ của Quân đội nhân dân Việt Nam gây sức ép đối với những cơ sở của quân đội Việt Nam cộng hòa gần Huế, là những cơ sở có thể dễ dàng giữ vững cho đến khi tin tức về cuộc tán loạn ở cao nguyên lọt đến họ. Quan trọng hơn nữa là sư đoàn dù tinh nhuệ ở phía bắc Huế, ngày 12 tháng 3, được điều về Sài Gòn vì lý do chủ yếu là chính trị, do đó mà làm yếu nghiêm trọng sự phòng thủ của vùng chiến thuật I.

Ngày 13, tư lệnh vùng chiến thuật I, trung tướng Ngô Quang Trưởng gặp Thiệu yêu cầu bỏ lệnh đó, và Thiệu báo cho ông ta bỏ tất cả vùng chiến thuật I, tập trung phòng thủ quanh Đà Nẵng và xây dựng một dự trữ chiến lược với những lực lượng dôi ra. Khi Trưởng trở về Huế, Thiệu chỉ thị cho ông ta đẩy nhanh việc rút quân; ngay khi việc rút quân bắt đầu thì quân đội Việt Nam cộng hòa tại vùng chiến thuật I bắt đầu tan rã. Gia đình quân đội chạy theo, những người dân sự hốt hoảng và ngay tức khắc, một bể người như loạn trí làm tắc nghẽn các ngả đường. Cướp bóc xảy ra khắp nơi, các đơn vị tan rã khi binh lính bỏ hàng ngũ đi tìm gia đình. Nhân dân khiếp sợ vì những cuộc cướp bóc, hiếp dâm không bao giờ dứt và vì những cuộc bắn nhau giữa lính các đơn vị của quân đội Việt Nam cộng hòa.

Khi sự khiếp sợ lan tràn, cuối cùng hai triệu người đổ vào Đà Nẵng; và một cảnh tưởng hỗn loạn và suy đồi vô hạn diễn ra. Thiệu gọi Trưởng về Sài Gòn ngày 19 và cho ông ta hoàn toàn tự do làm theo chiến lược của riêng mình. Vào lúc đó, sự tan rã của quân đội và sự cuồng loạn của quần chúng không còn để cho ông ta bao nhiêu lựa chọn. Trưởng đòi bảo vệ Huế và Thiệu đồng ý. Thiệu lên đài truyền hình chiều hôm sau với một phát biểu kỳ lạ bốn phút nhằm làm an tâm những người theo ông ta nhưng lại làm cho họ bực mình vì phát biểu quá ngắn. Ông ta tuyên bố sẽ giữ Huế với bất cứ giá nào. Nhưng cũng chính chiều hôm đó, ông ta bí mật một lần nữa ra lệnh cho Trưởng chỉ tập trung phòng thủ Đà Nẵng và cho lữ đoàn dù cuối cùng về Sài Gòn ngay. Trên thực tế, mười ngày sau cuộc tiến công Buôn Ma Thuột, quân đội Việt Nam cộng hòa trong nửa bắc của đất nước tan rã vì Thiệu gây ra hoang mang tuyệt đối cho nó. .
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #206 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2008, 03:23:42 am »

CÁCH MẠNG CHỌN PHƯƠNG ÁN THẮNG LỢI HOÀN TOÀN
   

Các nhà lãnh đạo Cách mạng sững sờ trước sự mau lẹ của những sự kiện và những khả năng mới đột ngột mở ra trong khoảng trống mênh mông trước họ. Họ có quyết tâm dứt khoát làm thay đổi cán cân ở cao nguyên nhưng khó mà hình dung rằng chỉ trong vòng vài ngày Thiệu đã phạm vô số sai lầm chồng chất và không sử dụng được các lực lượng phòng thủ ghê gớm của mình. Bây giờ những tiêu chuẩn chính quy của chiến tranh không còn thích hợp mà còn nguy hiểm nữa; những nhân tố tinh thần và chỉ huy trở nên quyết định.

Bộ Chính trị họp ngày 11 tháng 3 và xem xét khả năng thắng lợi hoàn toàn, nhanh chóng, và chỉ thị cho Quân đội nhân dân Việt Nam không để cho số còn lại của các lực lượng Việt Nam cộng hòa thoát khỏi cao nguyên và tập hợp lại ở nơi khác. Vào lúc khẩn cấp này, học thuyết quân sự của Đảng mà cho đến lúc này, ngày càng nhấn mạnh đến một lực lượng chiến đấu chính quy, dùng những kỹ thuật tiêu chuẩn đặc trưng của tất cả các quân chủng, đã được chuyển sang nhấn mạnh đến tốc độ, cơ động và sáng tạo để chống lại một kẻ thù rối loạn không còn có thể chiến đấu chính quy nữa. Quân đội nhân dân Việt Nam bỏ phần nhiều thần tượng kỹ thuật của hai năm trước và bỏ bớt trang bị cồng kềnh nặng nề như tên lửa SAM2 mà họ đã gửi vào Nam. Tốc độ nhanh chóng và cơ động là thực chất để khai thác sự hoảng hốt và tan rã tổ chức quân đội Việt Nam cộng hòa.

Bản thân tướng Dũng, người chủ trương then chốt của chính quy hóa, nhanh chóng trở lại tiến hành cuộc chiến tranh mà không cần quan tâm đến những học thuyết mới đây của ông ta, nhận thức rằng trong một cuộc tán loạn chỉ óc sáng tạo cũng đủ để chiếm lĩnh thời gian. Bây giờ ông ta thúc Quân đội nhân dân Việt Nam chiếm ngay phần bắc của Nam Việt Nam.

Liền sau khi Thiệu để cho bộ chỉ huy bỏ các vùng chiến thuật I và II tất cả các lựa chọn của Đảng có thể đưa đến thất bại hoàn toàn của Việt Nam cộng hòa. Ngày 18 tháng 3, Bộ Chính trị quyết định tiến về Sài Gòn và kết thúc chiến tranh, trước tiên củng cố sự kiểm soát ở vùng chiến thuật I. Quyết định này có những tác động to lớn đến các chính sách của Việt Nam dân chủ cộng hòa về xây dựng lại và về các ưu tiên khác, tuy nhiên chấm dứt chiến tranh khi có thể chấm dứt là một thời cơ không thể nào bỏ qua được.

Tốc độ bây giờ là thiết yếu. Nếu số quân còn lại của Thiệu mà có thể tập hợp lại và chiến đấu, kéo dài chiến tranh thì tốn kém cho Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ phải lớn nhiều. Ngày 25 tháng 3 Bộ Chính trị định một biểu thời gian cho thắng lợi cuối mùa khô vào giữa tháng 5. Lần đầu tiên Bộ Chính trị chuẩn bị một kế hoạch để chiếm Sài Gòn. Toàn bộ Quân đội nhân dân Việt Nam được dành cho chiến tranh, và tất cả các tài sản được tập trung để thắng.

Thắng nhanh chóng một cuộc chiến tranh ba mươi năm, trải ra trên một lãnh thổ rộng lớn, đòi hỏi phải dũng cảm và có tài ứng biến. Tướng Dũng yêu cầu các tướng của ông ta phải giải quyết các khó khăn hậu cần to lớn mới theo cách Cách mạng đã làm ngay từ đầu, nghĩa là lấy của địch nuôi mình. Khi họ vượt quá khu vực cao nguyên là nơi mà họ có chuẩn bị để chiến đấu trong một thời gian thì họ chuyển sang chính sách cung cấp cho nhu cầu của mình tại chỗ và ở đây các đơn vị chính trị và du kích địa phương tỏ ra rất quan trọng.

Ủy ban cách mạng lâm thời Đà Nẵng đã tiếp xúc với các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam đầu tiên để đưa vào thành phố vì họ đã thiếu xăng. Quân đội việt Nam cộng hòa rút lui đã không kịp phá hủy các kho dầu khổng lồ, xe vận tải và các loại đạn dược và súng ống, và gần một nửa vận tải của Quân đội nhân dân Việt Nam trong những ngày cuối đã sử dụng xe tải của Mỹ. Thậm chí họ thuyết phục nhiều lái xe của quân đội Việt Nam cộng hòa tiếp tục làm việc, và đã sử dụng rộng rãi trọng pháo chiếm được.

Vịnh Cam Ranh, với những phương tiện đầy đủ của nó, đã trở thành nguồn cung cấp thiết yếu cho cuộc tiến công vào Sài Gòn, và không phải chỉ hoàn toàn dùng những đường mà họ đã cần cù xây dựng, mà còn nhận thấy các đường lớn do Mỹ xây dựng cũng rất có giá trị. Cách mạng luôn luôn chung sống với kẻ thù của mình và những ngày cuối của cuộc chiến tranh vẫn như vậy, chỉ có quy mô lớn hơn.

Khi khoảng trống lớn mở ra, thì vấn đề vận chuyển là chìa khóa để thắng, và các lực lượng Cách mạng, kết hợp tài sản của mình với tài sản mà họ chiếm được, bắt đầu từ đầu tháng tư đã được trang bị tốt hơn bao giờ hết trong toàn bộ lịch sử của họ. Mặc dù có những sai sót không thể tránh khỏi về phối hợp, họ đã giữ được đà tiến quân và đã được sự suy sụp của Việt Nam cộng hòa giúp đỡ rất nhiều.

Vào giữa tháng 3 trở đi, Cách mạng thắng trận với rất ít chiến đấu, chỉ đi vào những vùng rộng lớn mà sự tan rã của kẻ thù mở ra một cách độc lập với hành động của những người chống lại họ. Khi phải chiến đấu thì với so sánh lực lượng vật chất không ngang bằng đó, cuộc chiến đấu ít khi kéo dài.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #207 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2008, 03:27:16 am »

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA SÀI GÒN:
CHÍNH TRỊ LÊN HÀNG ĐẦU

Cơ cấu quân sự của Nguyễn Văn Thiệu đã được tổ chức để duy trì quyền lực chính trị của ông ta, và việc nó đã thất bại và đẩy nhanh sự sụp đổ của chính nó trước một thách thức nghiêm trọng nhưng chưa phải quyết định, là điều lô-gích của chế độ mà người Mỹ đã dựng lên. Không phải Thiệu chỉ chia toàn bộ cơ cấu quân sự thành bốn vùng chiến thuật mà các vùng chiến thuật không còn thể liên hệ với nhau ngay cả trong trường hợp tối cần thiết.

Bộ tổng tham mưu mới dưới quyền của tướng Cao Văn Viên bị gạt ra khỏi mọi quyết định về chỉ huy: hơn nữa, Viên ít hoạt động nhưng lại thành công về mặt tài chính, luôn luôn củng cố xu hướng của những người ông ta phục và giữ im lặng khi Thiệu ngày 11 tháng 3 vạch ra kế hoạch rút lui tai họa khỏi cao nguyên. Thiệu như vậy là có đủ lý lẽ để không tín nhiệm ông ta nữa. Thiệu rất coi thường tất cả những tướng của ông ta, mua chuộc họ và luôn luôn theo dõi họ vì sợ rằng ai đó bị lôi kéo vào âm mưu chống lại ông ta.

Từ giữa năm 1974 ông ta luôn luôn sợ bị lật đổ và hoàn toàn chẳng quan tâm gì đến các vấn đề thuần túy quân sự. Thiệu luôn luôn là một con người chính trị trước hết và là một tướng chỉ vì hoàn cảnh và, việc ông ta là một quan tòa cực kỳ tồi về các vấn đề quân sự cũng không đến nỗi nào, bởi vì có người Mỹ ở đó để cứu ông ta. Toàn bộ chế độ là hậu quả của một quá trình chính trị, và trong những tuần cuối cùng, không thể tránh khỏi rằng chính trị là động cơ thúc đẩy cho nhiều quyết định quân sự của Thiệu.

Không thể tách hai chiều cạnh đó ra khỏi nhau được, bởi vì những người mà ông ta ủy cho những trách nhiệm quân sự then chốt, như tướng Phú chẳng hạn, lại gắn liền với ông ta về chính trị. Một ngoại lệ là tướng Trưởng của vùng chiến thuật I, được xem là có khả năng nhất và được chỉ huy những binh lính tốt nhất của phía Việt Nam cộng hòa. Ở một mức độ nhất định, kinh nghiệm của Trưởng càng cho thấy rõ trách nhiệm to lớn của vai trò Thiệu trong cuộc tán loạn.

Việt Nam cộng hòa có thể đã tồn tại thêm được một ít nữa nếu kế hoạch chung ngày 11 tháng 3 của Thiệu, quyết định bỏ cao nguyên và giữ các thành phố bờ biển của vùng chiến thuật I và II, được áp dụng một cách có trật tự. Nhưng bỏ cả hai vùng chiến thuật I và II cùng một lúc không sao có thể tránh được thất bại hoàn toàn hầu như ngay tức khắc.

Việc ngày 12 tháng 3 của ông ta yêu cầu tướng Trưởng đưa một sư đoàn về Sài Gòn là một quyết định nguy hiểm cùng với việc bỏ cao nguyên, gây ra sự hỗn loạn rộng khắp. Thiệu muốn đưa quân về Sài Gòn là vì những lý do chính trị. Một mặt để tự bảo vệ mình chống lại một cuộc đảo chính có thể có của các lực lượng gần Sài Gòn. Mặt khác ông ta sợ Trưởng có thể được Mỹ ủng hộ để làm người thay thế và muốn điều quân tinh nhuệ ra khỏi tay ông ta.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #208 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2008, 03:27:42 am »

Cuộc gặp Thiệu ngày 13 tháng 3 làm cho Trưởng kinh tởm đến mức ông ta nói thẳng với những người tin cẩn rằng ông ta có thể tổ chức một cuộc đảo chính nếu nhà độc tài lại thay đổi kế hoạch lần nữa. Do đó Thiệu coi Trưởng là một con người nguy hiểm. Việc rút sư đoàn dù đã làm xảy ra cuộc tán loạn ngay tức khắc ở vùng chiến thuật I, và đưa đến sự kết thúc của toàn bộ cuộc chiến tranh.

Tuy rằng đối với Thiệu, các tướng của ông và các đối thủ bảo thủ chính trị là quan trọng hơn các vấn đề thuần túy quân sự, nhưng chính trị đối với phần đông, còn đứng hàng thứ hai so với những vấn đề cá nhân. Cơ quan tùy viên quốc phòng Mỹ rất thất vọng khi thấy rằng nhiều người trong bọn họ bị lôi kéo vào các vấn đề gia đình và các vấn đề riêng tư đến mức hầu như không làm gì để xây dựng lại quân đội Việt Nam cộng hòa với những số quân chạy vào từ phía bắc. Nhiều người đang bận chuẩn bị cho việc rời đất nước của họ. Họ chỉ ra lệnh nhưng không hề làm gì để thực hiện các lệnh đó.

Chỉ Cơ quan tùy viên quốc phòng cố vá víu lại quân đội Việt Nam cộng hòa để làm cho chiến tranh có thể tiếp tục. Các tướng Sài Gòn biết rất rõ ràng Mỹ đang còn mơ ước. Thiệu đi vào hầu như biệt lập, không gặp các bộ trưởng, chỉ nói chuyện với một vài người, hiếm khi xuất hiện trước công chúng, và cũng không nói gì để làm yên lòng những người mà ông ta còn kiểm soát. Mối quan hệ của ông ta với binh lính đã được biểu hiện bằng việc quân đội Việt Nam cộng hòa địa phương ở quê hương ông ta đã ủi khu mộ tổ tiên của ông ta và không để lại dấu tích gì .

Trong những tuần cuối cùng, Thiệu cũng còn phải đương đầu với những thách thức chính trị nghiêm trọng, mất nhiều thì giờ, của những người bảo thủ đã chống lại ông ta từ giữa năm 1974 và bây giờ rêu rao có thể và sẽ tiếp tục chiến tranh cho đến cùng. Kẻ bày mưu quyết liệt nhất, như thường lệ là Nguyễn Cao Kỳ mà đằng sau ông ta có cha Thanh và một tập hợp những người khao khát làm bộ trưởng. Ngay tướng Viên cũng duy trì những tiếp xúc thân ái nhưng kín đáo với ông ta, và thủ tướng Khiêm cũng có dính líu đến.

Do đã cùng CIA theo dõi từ trước, Thiệu dùng mánh khóe mời Kỳ và hai người khác góp ý kiến về các thay đổi trong chính phủ và rồi bắt bảy người cộng tác với Kỳ, ngày 2 tháng 4, Thượng viện, một pháo đài bảo thủ truyền thống, bỏ phiếu một cách áp đảo đòi một chính phủ mới, và Thiệu nhân đó gạt Khiêm ra, và chọn một số nhà lãnh đạo Thượng viện vào một nội các đệm mới. Khiêm đã từng là mối đe đọa thực sự duy nhất cho ông ta. Rồi ông ta bắt ít nhất sáu người bày mưu chủ chốt nữa kể cả Nguyễn Văn Ngạn, trợ lý cũ của ông ta và là người đứng đầu đảng Dân chủ.

Trong cái mớ âm mưu, thủ đoạn đó, Đại sứ quán Mỹ luôn luôn ủng hộ Thiệu. Với phe cánh của Kỳ bày mưu tính kế cho đến những ngày cuối cùng của chiến tranh mà ít ra là một lần đã bị Mac-tin phản bội, Thiệu vẫn tỏ ra còn làm chủ được nền chính trị ở Sài Gòn. Nhưng ông ta chẳng làm được gì cho quân đội. Ngày 8 tháng 4 một trong các máy bay F.5 của ông ta đã mưu toan ném bom dinh tổng thống nhưng đã không trúng đích.

Đời sống chính trị của Sài Gòn, kết thúc như nó đã bắt đầu, một sự hỗn hợp những bi hài kịch, tính hám lợi, ích kỷ và phản bội. Các tướng của Thiệu cuối cùng vẫn không phế bỏ ông ta, nhưng cũng không giúp ông ta xử lý với các đội quân đang đổ về Sài Gòn. Là những nhà chiến thuật chính trị cao tay, Thiệu và các sĩ quan của ông ta đã thất bại hoàn toàn với tư cách là những nhà lãnh đạo quân sự và tài của họ bây giờ là hoàn toàn tự sát.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #209 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2008, 03:29:20 am »

SỰ TÊ LIỆT Ở OA-SINH-TƠN

Nỗi đau đớn và thống khổ mà sự sụp đổ của quân đội Việt Nam cộng hòa gây ra ở Oa-sinh-tơn là vừa tuyệt vọng vừa sâu sắc. Cố gắng hai mươi năm duy trì một tay chân ở Nam Việt Nam bây giờ rõ ràng đang đi đến kết thúc bằng một cách làm cho nước Mỹ, sự cam kết và sức mạnh của nó tỏ ra vô cùng bất lực và đáng thương. Tượng trưng toàn bộ của hình ảnh đó đè nặng lên Kít-xin-giơ và Nhà Trắng.

Cảnh tượng mà chính quyền Mỹ phải chứng kiến hoàn toàn là do họ tự làm ra, thế mà họ lại hoàn toàn không muốn nhìn vào thực tế đó. Họ đương đầu với sự kết thúc của hai thập kỷ đầu tư to lớn về thời gian và máu xương của chính họ bằng cách coi đỉnh cao của thất bại quan trọng nhất về quân sự và chính sách đối ngoại trong toàn bộ lịch sử của mình như là một vấn đề cần phải bỏ lại cho quá khứ đầy lúng túng càng nhanh càng tốt. 

Khi đội quân của Thiệu bắt đầu tan rã, thì Quốc hội Mỹ còn thảo luận đề nghị xin viện trợ bổ sung, và cuộc tán loạn chỉ thuyết phục Quốc hội rằng bất cứ viện trợ mới nào nữa cũng chỉ là lãng phí. Cuộc họp của nhóm Dân chủ trong Hạ viện ngày 12 tháng 3 bỏ phiếu 3 trên 1 chống lại đề nghị đó và trong những ngày tiếp theo của tháng 3, khi sự nghiệp của Thiệu tỏ ra tuyệt vọng hơn, nhiều người cộng hòa và bảo thủ cùng đánh giá rằng bây giờ đồ tiền thêm nữa chỉ là đổ vào hang chuột như phương ngôn đã nói đến.

Chính quyền lợi dụng phe đối lập để đổ việc mất Nam Việt Nam lên đầu Quốc hội và ép mạnh hơn để xin 6,4 tỷ đô-la cho 3 năm theo kế hoạch đã trình bày trước đây. Khó khăn duy nhất là bây giờ, tiền không còn giải quyết được các vấn đề của Việt Nam cộng hòa nữa và Lầu Năm Góc chống lại hơn bao giờ hết sự phung phí những số tiền lớn như vậy cho những cử chỉ chính trị và tượng trưng. Những bất đồng sâu sắc đó bảo đảm chắc chắn rằng cuộc chiến tranh sẽ chấm dứt cũng giống như khi nó bắt đầu và sẽ vẫn là sự kiện chia rẽ nhất chua cay nhất trong lịch sử Mỹ kể từ nội chiến.

Nhà Trắng quyết định cử tướng Phê-rê-đơ-ric C.Uây-ân, tham mưu trưởng lục quân đi Sài Gòn để đánh giá tình hình chiến tranh và giành sự ủng hộ cho đề nghị viện trợ đã đưa ra Quốc hội. Từ khi ông ta đến ngày 26 tháng 3 cho đến khi rời Sài Gòn, Viên và Thiệu yêu cầu cho B.52 đến cứu làm cho không lực trở thành chìa khóa cho sự sống còn của Việt Nam cộng hòa.

Về phần mình Uây-ân đề nghị Thiệu chuyển quyền lãnh đạo chiến tranh cho bộ tổng tham mưu. Viên gạt bỏ ngay ý kiến đó và việc này càng cho thấy sự bi quan của Viên. Uây-ân báo cáo với chính quyền rằng chỉ không quân chiến lược mới cứu vãn được Việt Nam cộng hòa khỏi thất bại, nếu Cộng sản đưa thêm ba sư đoàn nữa vào vùng chiến thuật III. Nếu không, ông ta tiên đoán rằng ngay việc cung cấp tất cả mọi vũ khí cần thiết cũng không thể gạt được thất bại trong vòng ba tháng, vì những sai lầm to lớn mà Thiệu đã phạm phải vào giữa tháng 3.

Tình báo của Lầu Năm Góc ít lạc quan hơn, họ cho Việt Nam cộng hòa chỉ một tháng, dưới bất kỳ hoàn cảnh nào. Lầu Năm Góc công khai từ chối hợp tác với Nhà Trắng, đưa ra công khai những thực tế chính làm cho họ chống lại viện trợ quân sự quá mức từ giữa năm 1974. Họ nói rằng còn đẩy đủ vũ khí và nhiên liệu trong các khu vực do Việt Nam cộng hòa kiểm soát để cho Việt Nam cộng hòa chiến đấu, và còn 270 triệu đô-la còn lại của viện trợ năm 1974. Bản thân Sơ-lê-xin-giơ ngày 2 tháng 4 lập luận công khai rằng quân đội Việt Nam cộng hòa không chịu đánh và vấn đề lãnh đạo và chỉ huy không liên quan gì đến vấn đề tiếp tế.

Tuy nhiên, Kít-xin-giơ thì xem sự bi quan của Lầu Năm Góc là không đúng chỗ bởi vì Thiệu là công cụ lựa chọn của Mỹ ở Việt Nam và, đội quân của ông ta là sản phẩm của chính sách và huấn luyện của Mỹ. Viện trợ không phải là vấn đề ngăn cản thất bại hoặc cứu vãn những khả năng hiếm hoi, mà là bảo vệ một cách tượng trưng những cam kết và lòng tin của Mỹ. Nhưng ông ta bị Quốc hội và Lầu Năm Góc ngăn cản và cố gắng lớn cuốỉ cùng của ông ta về chính sách Việt Nam cũng tỏ ra vô ích như những cố gắng trước đây nhằm chuộc lại thất bại kéo dài của đất nước ở Việt Nam.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM