Chúng tôi hỏi về quê quán, gia đình, đơn vị của nó. Nó kể: Cấp bậc trung tá, phi công huấn luyện máy bay trinh sát L19. Nó quê Hà Nội (tôi không còn nhớ tên), năm 1954 nó tốt nghiêp trường Thành chung Hà Nội rồi đăng lính cho Pháp và được Pháp cho đi học lái máy bay, từ đó bắt đầu cuộc đời của một tên lính chống cộng cho ngoại bang. Trong chiến đấu chúng tôi rất căm thù những chiếc máy bay trinh sát L19 chuyên đi trinh sát phát hiện mục tiêu rồi chỉ điểm cho máy bay chiến đấu ném bom.
Thằng phi công và hai thằng lính văn phòng ngồi tại chỗ, câu chuyện giữa chúng tôi và chúng trở nên không có khoảng cách của tù binh và người chiến thắng. Thằng Trung tá hỏi chúng tôi là các ông đi bằng phương tiện gì, bằng cách nào mà nhanh thế? Nó nói thượng cấp của chúng bảo phải một tháng nữa các ông mới có thể đến được đây. Tôi trả lời là đi bằng ô tô, đi bộ và tôi hỏi lại nó:
- Sao anh không làm như Nguyễn Thành Chung? Nó ngần ngừ một lát và trả lời:
- Vì ông Chung là Cộng sản!
- Sao anh biết ?
- Ổng là người rất giỏi – ngừng một lát và tiếp - ổng thực hiện nhiều phi vụ khi oanh kích đều không trúng mục tiêu, khi về ông đều có lý do biện bạch do trục trặc kỹ thuật, do đó ông giỏi mà chỉ mang lon trung úy.
Sau này đọc báo tôi biết lời nó nói là thật. Đôn trợ lý quân lực tiểu đoàn lấy mấy gói kẹo ra ăn. Chúng tôi bảo tên phi công và hai thằng lính cùng ăn, nó ăn tự nhiên. Lát sau chúng tôI lấy lương khô ra và đưa cho mỗi thằng một phong.
Tiểu đoàn nhận nhiệm vụ mới. Thằng phi công ra lấy xe máy Honda để ngay gần đấy đã không còn. Nó cầm dây xích khóa xe đã bị phá khóa lắc đầu. Chắc tay nào đã phá khóa lấy xe đi chơi- tôi nghĩ. Tôi nói với nó là tất cả những thứ của các anh đang sử dụng đều là chiến lợi phẩm. Nó dạ dạ và không nói gì thêm. Thực ra cậu chiến sỹ nào đó ở trung đội thông tin lấy xe chạy chơi đâu đó thôi. Lính của tiểu đoàn bộ có nhiều cậu gốc “dân cảng mà”.
Gần mười hai giờ trưa, trung đoàn điện cho Tiểu đoàn 6 hành quân gấp về Bộ tổng tham mưu ngụy. Cứ tưởng đã hoàn thành nhiệm vụ, thế là lại vội vã hành quân ra đến đầu đường Hoàng Hoa Thám thì thấy Trung đoàn trưởng Vũ Tài đang nói với mấy cán bộ, tôi nghe có câu ông nói: “…tại ta không theo dõi trên đài phát thanh…” còn đoạn sau tôi đi vượt qua không nghe được. Nhiệm vụ sang chiếm Bộ tổng tham mưu sau đó lại hủy bỏ.
Quay lại chỗ rẽ về Đại đội 11 thì gặp hai chiến sỹ dẫn một cô gái mặc áo bà ba mầu gụ, quần đen, đội mũ tai bèo; cô có khôn mặt tròn, bầu bĩnh và nước da sạm nắng, trông rất khỏe mạnh, rắn rỏi và...xắc xảo! Tôi hỏi đây là ai thì hai chiến sỹ đang dẫn cô gái báo cáo là đang gác cổng sau sân bay, cô này cứ đòi đi qua và bảo biết Thủ trưởng Tài. Thấy tôi hỏi hai chiến sỹ cô gái quay ra nói với tôi:
- Em dẫn đường cho xe chú Tài, vào trỏng mà mấy ảnh hổng cho đi.
“Chú Tài” là Trung đoàn trưởng trung đoàn của chúng tôi. Để xác nhận lời nói của cô, tôi dẫn cô lại chỗ Trung đoàn trưởng Tài. Vừa thấy Trung đoàn trưởng cô đã gọi to :
- Chú Tài ơi ! Cháu đi mà mấy ảnh không cho đi nè!
Trung đoàn trưởng Tài vẫy tay và bảo: Đi đi! Bấy giờ tôi mới tin điều cô nói là thật. Sau này tôi biết cô tên là Nguyễn Trung Kiên (còn gọi là Cô Nhíp) là nữ Biệt động Sài Gòn đi trên xe bọc thép của Trung đoàn trưởng dẫn Trung đoàn 24 tiến quân đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất.
Tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 6 được giao nhiệm vụ đóng quân trong sở chỉ huy của Bộ tư lệnh Sư đoàn 5 không quân, còn các Đại đội vào bảo vệ nửa phía cuối sân bay. Trung đoàn bộ ở trong khu Ủy ban quốc tế giám sát Hiệp định Pa ri. Sau này tôi có vào thấy toàn là những dãy nhà gép gỗ, nền trải thảm, phòng nào cũng có máy điều hòa. Khi ở đây nhân viên đồ bản của Ban tác chiến nấu ăn bị cháy mất một ngôi nhà. Lại liên quan đến cháy. Trong nhiệm vụ bảo vệ kho tàng ở sân bay của Tiểu đoàn 6 sẩy ra vụ cháy kho dù. Đại đôi 12 của đại đội trưởng Quỷnh bào vệ, anh em vào khu lấy dù làm kỷ niệm, nghịch pháo sáng làm phát hỏa cháy hết cả kho dù. Anh Quỷnh bảo chính vì thế mà không được nhận quân hàm Trung úy.
Tiểu đoàn bộ ở ngay nhà sửa máy bay. Mọi người mắc võng hoặc trải ny lông ngay dưới gầm những chiếc máy bay đang sửa ngủ qua đêm. Bữa cơm chiều ngày đại thắng có đầy đủ thịt gà hộp, dò hộp, cá hộp, thức uống có bia hộp 333, nước hoa quả các loại, thuốc là Ru-pi hàng cây. Những thứ lần đầu tiên chúng tôi mới được biết mùi vị như bia hộp 333 uống say lắc lư, thịt hộp ăn ấm chân răng, nước hoa quả mát tận gan ruột.
Đêm đầu tiên ngủ trong sân bay tôi lại lên cơn sốt rét. Không mang theo vỏ chăn nên phải nằm co ro trên võng, gần sáng thì hết sốt. Cơn sốt rét trở thành một kỷ niệm không thể quên trong những năm chiến đấu trên chiến trường, với ba lý do để nhớ: Chỉ sốt có một cơn (điều này chưa bao giờ gặp), đêm đầu tiên kết thúc chiến tranh và là đêm đầu tiên ở Sài Gòn!
Hôm sau Tiểu đoàn trưởng Sơn cùng tôi đi khắp trong sân bay đếm số lượng máy bay ta thu được. Tổng số tôi không còn nhớ, sau này được biết là 398 máy bay các loại. Đó là những chiếc phản lực F5E đầu nhọn hoắt, những chiếc A37 đầu dẹp như đầu cá trê, những chiếc AD6 cánh quạt, ném bom dai như đỉa đói. Chiếc nào cũng đeo đầy bom đã đậu trên đường băng, sẵn sàng cất cánh. Nhìn tận mắt, sờ tận tay những chiếc L19 có hai chỗ ngồi cho phi công lái và phi công quan sát tìm mục tiêu. Trên những chiếc hai thân to kềnh càng, hai bên cửa sổ gắn đại liên hai nòng, bốn nòng, loại này mà nó bắn thì chẳng khác gì đổ đạn. Đến khu trực thăng vũ trang, vận tải, nhìn tận mắt những thứ mà trước đây thấy nó chỉ tìm nơI ẩn nấp.
Vài ngày sau máy bay từ Hà Nội bắt đầu hạ cánh xuống sân bay chở các đoàn Trung ương, chở pháo hoa chuấn bị cho mừng ngày đại thắng, chở Văn công Tổng cục chính trị vào biểu diễn. Còn bộ đội thì lấy xe hon đa, xe đạp chiến lợi phẩm đi khắp nơi, kể cả vào trong thành phố. (dĩ nhiên là vô tổ chức). Khi viết thư báo tin về gia đình mang ra tận máy bay gửi phi công cho nhanh. Tôi biết đại đội công binh gác cổng sân bay, gần Lăng Cha Cả. Lợi dụng là chiến sỹ của mình nên lấy xe đạp rủ Tấn, trợ lý chính trị trên tăng cường trong chiến dịch đạp xe khắp thành phố thăm và chụp ảnh màu trước dinh Đọc Lập (ảnh lấy ngay, nay vẫn còn nhưng hơi mờ), rồi thăm chợ lớn, sang Gia Định, đến cầu Công Lý là nơi Nguyễn Văn Trỗi đặt bom ám sát hụt Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mắc-na-ma-ra… Còn Đạt, chiến sỹ của tôi trước đây ở đại đội công binh, mang máy ảnh chiến lợi phẩm vào sân bay chụp cho tôi rất nhiều kiểu ảnh bên máy bay chiến đấu còn đeo đầy bom.

Ảnh phóng viên chụp D4 đánh chiếm sân bay ( đóng lại để chụp)
Ảnh chụp bên cánh chiéc F5E còn đeo bom.

Ảnh Phước Khánh và Tấn (trợ lý chính trị xuống tăng cường trong chiến dịch) trước dinh Độc Lập sau giải phóng mấy ngày. Ảnh màu , lấy sau 30 phút, trả tiền bắc của Tấn, vì mới vào trong chiến dịch. Ảnh bị mờ mất dinh Đọc Lập và người cũng mờ, chỉ là dấu ấn kỷ niệm.