Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:22:45 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người cùng quê - Tập 1  (Đọc 126623 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #230 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 09:58:21 am »

Chương 3


Mãi gần mười hai giờ đêm, cả đoàn xe Gip kéo theo một chuỗi xe Hon-đa, Vet-xpa mới ập đến khu nhà sĩ quan được rào riêng trong trại gia binh. Tên quân cảnh đang gật gà trong chòi gác choàng tỉnh dậy. Hắn chộp cây tiểu liên và chiếc đèn pin dài bằng dùi cui cảnh sát, vọt ra cổng, kêu lớn:

- Quá giờ giới nghiêm, không được vô!

Một bàn tay thò ra khỏi chiếc xe Gip dần dần, tát bốp vào mặt hắn:

- Mày đui hả? Soi thử biết mặt đại tá không? Mở!

Luồng sáng đèn pin chiếu đúng bộ mặt sệ mỡ của đại tá sư đoàn trưởng. Hắn rập chân chào kính, hối hả chạy vào mở khóa cổng. Đại tá khoát tay đầy khoan dung:

- Khen mi đó. Ai muốn vô, mi cứ làm rứa cho tao. Việt Cộng giả làm sĩ quan còn phải coi giấy nữa chớ.

Đoàn xe bốn bánh và hai bánh luồn lách qua mấy chỗ rẽ lắt léo nữa mới đến căn nhà được chia cho thiếu tá Ung Viết Khánh, nhận lon lên khỏi cấp đại uý từ sáng hôm qua. Sau khi xem một lượt ba buồng cùng các thứ bếp núc và vệ sinh, đại tá lắc đầu nhiều lần:

- Tồi quá. Tụi nó xếp thiếu tá chưa xôm đâu. Hay là toa vô phi trường ở với moa, xây luôn một vi-la trong đó?

- Trình đại tá, em còn độc thân, ở bấy nhiêu là vừa.

Đại tá bật cười to, làm nẩy bật cả ba lớp cằm, khúc cổ đầy mỡ, cái bụng to vượt mặt:

- Ấy đấy, biết, tớ biết. Có ai thêm bận vì ai, không ai giường rộng chiếu dài dễ xoay... Cậu tha hồ bồ bịch, mươi ngày nửa tháng lại thay một ả mèo mới trong cái tổ quỷ của cậu, chẳng sợ ai đánh ghen hay xịt a-xít vào mặt các nàng được chọn... Chúc cậu may mắn hơn chúng tớ!

Nhóm sĩ quan cười như chợ vỡ. Ngài đại tá gốc Bùi Chu này đã Nam hóa khá nhanh sau khi đứng về phía Ngô tổng thống, cầm quân đánh bọn Bình Xuyên và các giáo phái thân Pháp ở Nam phần đánh tiếp lũ quân ô hợp của Quốc dân đảng ở Nam Ngãi, của Đại Việt ở Trị Thiên. Chỉ trong hơn ba năm, lão nhảy vọt từ đại úy lên đại tá ngon ơ. Phải cái lão ít được học, nhờ đại úy Khánh dạy thêm tiếng Anh ban đêm khá lâu mà chỉ đủ để nói mấy tiếng Anh bồi với các cô chiêu đãi viên trong tiệm rượu.

Đám khách không mời mà đến đã ra đi trong tiếng xe cùng một lần nổ máy rầm rĩ. Thiếu tá Khánh lảo đảo đi vào buồng vệ sinh, nôn ọe suốt mười phút, trở ra lăn kềnh trên giường ngủ. Cuộc khao vinh thăng lên thiếu tá vừa rồi sẽ phải trả giá đắt đây. Mạnh ai nấy gọi, uýt-ki, sâm-banh, vốt-ca Nga, chian-ti Ý, cô-nhắc Pháp, cả rượu đế lậu chánh hiệu Việt Nam, mọi thứ đều có đủ và đều tính giá gấp đôi gấp ba giá chợ Đà Nẵng.

Hai Khánh mặc nguyên bộ lễ phục trắng mang đủ các thứ lon, dây biểu chương lòng thòng, huy chương và huy hiệu, lăn trên giường phủ vải trắng, chỉ vất bất bớt cái mũ lưỡi trai cồm cộm trên đầu, lịm đi rất nhanh trong vô vàn cơn mê xuôi ngược chẳng nhớ nổi sau khi tỉnh dậy.

- .... Trình thiếu tá... mười hai giờ trưa rồi...

- Hừ, cút mẹ mày đi. Tao mệt.

Dường như chỉ một phút sau, thằng lính chó má đã gọi tiếp:

- Trình thiếu tá, đã hai giờ chiều. Có một người đàn bà dẫn một đứa nhỏ tới nói là con đẻ của thiếu tá. Em biểu ngồi chỗ buồng khách, đợi lệnh thiếu tá. Hễ cần thì em đuổi ra.

- Để đó cho tao, ra gác đi... À mà mày coi giấy soát đồ nó chưa?

- Dạ, em làm kỹ hết cỡ. Nó là Phan Thị Bưởi, không có thứ gì bậy bạ. Thằng nhỏ là Phan Chung, mặt nó giống quá...hề hề...

Mươi phút sau, Khánh bước ra phòng khách với bộ mặt bừ bự đờ đẫn của người ra khỏi cơn say, vẫn mặc bộ lễ phục hơi nhàu sau giấc ngủ.

Năm Bưởi ngồi trên ghế bành, trong khi thằng bé Chung chạy loăng quăng xem các tranh khỏa thân cùng các ảnh đào xi-nê hở hang trên tường, cười rinh rích. Bưởi hơi nhỏm dậy, lại ngồi xuống, nói lạnh ngắt:

- Chào anh. Tôi mới ra khỏi tù, về Linh Lâm, thấy cả nhà quá khổ cực. Chị Thùy cho coi lá thơ, thơ thứ mấy chẳng nhớ, anh muốn đòi thằng Chung về cho anh nuôi. Thân tôi bị bắt lên bắt xuống, tra đánh nhừ xương, hai đứa con tròng vô cổ cha mẹ với chị Thùy, còn thêm lâu lâu đi thăm nuôi con Bưởi nữa, mỗi lần đi là một lần lót tay mấy trăm... Tôi mệt rồi, ngán quá rồi. Tôi đem thằng Chung cho anh đó. Chẳng đòi anh trả xu nào đâu, đừng sợ.

Bưởi nấc nhẹ trong họng, cố nén một lúc, lại nói qua hai bàn tay bưng mặt:

- Tôi xin anh, tôi lạy anh trăm lạy... anh đừng để thằng Chung nó hư hỏng, nó mang nợ máu, nó chửi cả ông bà nó... Bấy nhiêu thôi, tôi chắp tay van anh... anh thương nó...

Hai Khánh duỗi hai tay đón đứa con đã bao năm ám ảnh mình. Nhưng nó không sà vào tay anh. Nó đưa một bông lay-ơn vừa rút trong bình hoa cho mẹ, hỏi đột ngột:

- Răng Thùy không đi hả mẹ? Về đi mẹ, về chơi với con Binh, con Lúa. Con cũng phải học để lên lớp chớ mẹ!

Bưởi cười như mếu:

- Con Bình là con chị Thùy, đứa trước chết bom, anh biết rồi. Con Lúa lên ba là con anh Năm Chò với tôi. Thằng Chung, lấy họ Phan của tôi, giờ anh muốn nuôi thì khai sanh lại, tùy ý anh. Chị Thùy cực hết chỗ nói mà tối nào cũng dạy cho nó biết chữ, rồi cho đi học trường làng, hồi xưa kêu là lớp Hai, nay đặt lại là lớp Tư tiểu học...

Hai Khánh nghe kể lơ đãng, chỉ nhìn kỹ bộ mặt hốc hác và xanh bủng của Năm Bưởi sau gần bốn năm tù không án, với tất cả những vết roi hằn chưa lành hẳn, thêm chi chít những nốt đốt của muỗi và rệp xà-lim không kịp tan.

- Cả nhà tôi muốn nhắn anh điều này nữa: anh đừng theo đuổi chị Thùy mà mất thì giờ vô ích!

Khánh cảm thấy mặt mình nóng rực, nói ấp úng:

- Ai đồn lung tung vậy?

- Cả làng Linh Lâm đồn. Anh giấu uổng công, theo đuổi cũng uổng công, làm phiền cả nhà tôi uổng công. Anh dùng quyền phép uổng công. Có tra điện mười lần, cho đi tàu bay tàu lặn tới mấy, chị thà cắn lưỡi chết, treo cổ chết, nhịn đói chết, chớ không chịu ký giấy ly hôn đâu, không, không, không gì hết... Tôi nói vậy để anh đừng tưởng cái lon thiếu tá mới vinh thăng là to lắm. Giấy tờ của thằng Chung đủ hết trong gói đồ tôi đem tới đây. Chị Thùy may đủ cho nó mặc ở tuổi lên chín, lên mười, anh khỏi lo... Nó chạy ra vườn rồi. Tôi đi lén cho nó khỏi khóc lăn lộn...

Giọng Năm Bưởi vỡ ra khi nói mấy tiếng cuối cùng qua cặp môi run rẩy và bộ mặt không chút máu. Bưởi chạy ra cổng như người bị ma đuổi, nhảy vội lên chiếc xích-lô máy chợt đi qua, úp mặt vào bên vai, cả người rung giật trong tiếng nấc. Khánh chỉ ngây người nhìn theo. Vài phút sau, thằng Chung chạy vào phòng khách, lập tức gào lên đòi mẹ, đòi mẹ Thùy (không phải mẹ Xùi) lật mình như điên trên tấm nhựa mô-két trải thay thảm cho dễ cọ rửa:

- Cháu hổng ở với chú… Cháu về với mẹ Thùy, mẹ Bưởi, với em... Chú Khánh bỏ tù mẹ cháu rồi, mẹ cháu bị tù lâu rồi, o Thùy dạy cháu học, chắc cũng bị chú bỏ tù... Chú thiệt là ác, chú bỏ tù hết thảy... Cháu cũng vô tù... Răng chú ưng bỏ tù cả nhà cháu rứa?

- Chung ơi, con ơi, con đừng ghét ba quá vậy đi con!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #231 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 10:01:31 am »

Có một điều Năm Bưởi không muốn nói với Khánh, là mấy năm ve vãn chị Hai Thùy đã gây rối trong gia đình Bưởi khá nhiều.

Ông Tư đưa lò rèn về Chỗ Hai Thùy. Sau khi ta tập kết và sau vô vàn lớp “cải huấn” trong các chiến dịch trị an, chiến dịch tố cộng đợt một, hai ba, tiếp chiến dịch tố cộng giai đoạn hai nay chưa chấm dứt, nay ông biến thành một ông lão hầu như câm điếc và bắt đầu lẩm cẩm tuy chưa đến tuổi sáu mươi. Lắm lúc ông để mặc cho sắt nung trắng trong lò, ngồi ngây ra máy môi nói gì trong miệng với ai đó chẳng rõ, đến khi người thụt bễ giục to tiếng mới giật mình, thò cây kìm cán dài vào đống than đỏ rực. Chắc tại ông bị tra tấn và chịu đòn quá nhiều nên đầu óc đâm rối. Ông dửng dưng khi người làng nói xa gần về những lần Hai Khánh về thăm thằng con bị bỏ rơi nhưng lại ngồi từng buổi từng ngày bên máy may của Thùy. “Nó ngồi chai đít nó mặc kệ, tao ngồi rèn cũng chai đít thì sao?”.

Ngược lại, bà Tư lồng lên như ngựa chứng. Vốn là cái bóng của chồng, nay bà muốn trút tất cả máu uất lên đầu nàng dâu trưởng. Lại thêm vợ chồng Tư Quýt mỗi ngày mươi lượt rót vào tai bà những lời xúc xiểm. Bà coi như Thùy đã phản chồng-chưa phản hẳn thì về sau cũng trở mặt-bỏ thằng Cả Chanh để theo thằng Khánh. Cứ rao trước, chửi trước đi là vừa. Bà đã giận từ xưa, khi Chanh với Cam mỗi người một gánh đưa cô nàng dâu loạn trí về Linh Lâm: nó để cháu nội bà chết bom, rồi giả điên cho chồng nó phải bỏ nghề bỏ chức mà hầu hạ nó. Suốt chục năm qua, Thùy lành bệnh và đạp máy hùng hục từ gà gáy đến khuya kiếm tiền nuôi sáu miệng ăn, bà chỉ coi là phận làm dâu ắt phải vậy. Từng lúc, khi bà quá lời hoặc quá ồn ào, ông Tư hay Út Thanh Yên phải can, thằng Bảy Bòng trung sĩ ghé qua nhà cũng phát gắt.

Thằng Ba Mít trở cờ theo “quốc gia” cho bà biết cả nhà Hai Thùy theo đạo Thiên chúa. Khi bà hỏi dò, Thùy kể thật ngày xưa Thùy là An-na, ông Hai Rề là Phê-rô, chỉ là chuyện xưa bày nay bắt chước. À, à, à, quá rõ rồi. Hèn gì cả nhà bà bị tù đày, cô lập, cải huấn, nhảy núi, sống nay chết mai, chỉ riêng cái con theo đạo Tây từ bỏ ông bà là yên thân, chỉ bị gọi đi học tố cộng mỗi đợt vài ba tối ở ngay trong làng. Bà quên rằng Thùy lo kiếm ăn đến phờ phạc, trên rẫy ruộng và trên bàn máy, không hề dính tới một chức gì ở thôn xã hồi Kháng chiến, nhưng vẫn bị giam mấy đợt vì tội không chịu ký ly hôn. Đòn tra không nhiều lắm, vì hầu hết những ai có chồng tập kết hay “lên xanh” đều chống cự như chị, đánh cả tháng chưa khắp lượt. Làm cho chị chửa hoang để dứt tình với cộng sản cũng chẳng dễ, chị sẽ la hét vang xóm, và mũi súng của Cả Chanh cùng Bảy Bòng sẽ chĩa tới từ hai phía ngược nhau.

Chẳng cần hỏi ông Tư, như muốn tỏ ra mình hất bỏ cái gánh phu xướng phụ tùy, bà lẳng lặng xuống ngôi chùa gần chợ Huề Bình xin quy y tam bảo, nộp tiền vượt mức để rước về một lá cờ Phật năm màu, một thẻ đi chùa, một tờ phái trong khung gỗ lồng kính, một bộ Nghi thức tụng niệm in chữ to dành cho người cao tuổi, nhân tiện mua một cặp kính lão thay cho cặp cũ nhẹ độ. Lần sau bà sắm thêm một bộ chuông mõ, nộp nguyệt phí và tiền công đức, tốn tất cả một con heo choai chừng hai chục ký.

Những bản kinh tiếng ta bà đọc được, hồi Kháng chiến học Bình dân chưa quên hết. Kinh Hán-Việt khó hơn, bà hiểu rất ít. Đến những kinh bằng tiếng Tây trúc thì bà đếm từng chữ chật vật, tiếng mõ thưa hẳn đi như ngái ngủ:

- ... A lị gia bà lô kiết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da...

- ... Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà la ny đế, ny ha ra đế, tỳ lê nễ dế, ma ha dà đế, chơn lăng càn đế, ta bà ha....


Bà không sao thuộc được những chơn ngôn với thần chú từ chín phương trời, mười phương phật ban xuống cõi trần. Bà chỉ ghi lòng một điều: theo đạo Chúa thì vứt bỏ ông bà cha mẹ, theo đạo Chùa thì giữ được ông bà cha mẹ. Chánh phủ bây giờ ghép tội những ai không theo đạo nào cả-như ông Tư chồng bà-là chống cái món duy linh gì đó của tổng thống, là theo bọn cộng sản duy vật, theo bọn “vô tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo thần linh”, trong đó Cả Chanh hay được chúng nêu tên trong các lớp tố cộng. Bà tức tím ruột mà cãi không nổi với đám đầy tớ thằng Diệm.

Thôi đành, để được yên thân, bà phải theo cái đạo nào hiền lành nhất, chứ không chịu nhận cái “thập ác”, như các ông già bà lão thường rỉ tai nhau: phải làm đủ chục điều ác mới được lên thiên đàng. Tính lui tới, bà Tư thấy tiền cúng chùa khá nặng, trong khi chịu rửa tội theo Chúa thì được cấp ngay vài chục ký gạo, tiền khoảng một ngàn, sa vào vụ rắc rối nào thì cha cố xin tha cho, tổng thống Diệm cũng phải quỳ xưng tội với các cha. Đi đạo kiếm gạo mà ăn...

Bà tự hứa sẽ không bốc đồng, tin gì cũng một vừa hai phải thôi. Cũng như cha con ông Hai Rề thờ Chúa chơi chơi vậy.

Buổi chiều cuối hè ấy, mưa đổ rào từng cơn ngắn lại tạnh trên sông Linh, lúc này đang đón nước nguồn từ vùng núi Ngọc Linh nằm chìm trong làn khói núi màu tím nhạt phủ trùm mé Tây-nam làng Linh Lâm. Nước đến trước, mưa đến muộn hơn, cho tới khi hai tháng lũ lụt chín và mười theo lịch âm gây tràn ngập tất cả. Mùa ấy chưa đến.

Một người đàn bà bước xuống khỏi xe đò đậu tại chợ Linh Lâm, thất thểu đi về xóm Mới. Hàng chục người gặp chị dọc đường, chỉ vài ba người nhận ra cô Năm Bưởi chỉ huy du kích từ hồi Việt Minh đang trong bóng tối. Nhưng tất cả đều biết chị ta mới ở tù ra, khi thấy nước da bủng beo và những nốt đỏ hay nâu trên mặt, trên cổ. Vài bà kín đáo giúi tiền vào tay chị. Chị gật đầu cảm ơn, giúi trả. Vẫn với bước đi như ma lạc mồ, chị về chỗ lò rèn ông Tư Chua nằm cạnh tiệm may của Hai Thùy.

Lò ông Tư đã dứt buổi rèn. Ông đang ngồi trên chiếc đòn kê thấp, tiếp chuyện một lính ngụy mặc đồ ka-ki vàng của lính Bảo an. Khi hắn quay lại nhìn chị trân trố, chị mới nhận ra hắn là thằng Bảy Bòng em ruột, tuy nó đổi nước da đen trũi và to béo hơn hẳn trước. Giọng nó vồn vã:

- Tôi làm găng hết cỡ, họ mới chịu thả chị về đó nghen. Tôi dứt khoát không nhận chức cảnh sát trưởng xã Tây Giang, chừng nào chị tôi còn ở tù, nhà tôi treo bảng cô lập hạng A... Họ đưa tôi lên thượng sĩ Bảo an, mới đây thôi, nhà mình khỏi bị quấy rầy, lôi thôi gì cứ để tôi lo hết, đừng ngại...

Cái giọng che chở ấy dường như gây buồn nôn cho Năm Bưởi với ông Tư Chua. Ông Tư ậm ờ trong miệng không rõ tiếng, đúng kiểu “thủ khẩu như bình” trong những đêm quỳ sám hối trước hình Diệm lồng trong gươm súng-từ quỳ nền nhà tới quỳ trên sỏi, trên gai mít, quỳ dang hai tay đỡ hai viên gạch, quỳ theo đèn sáp thắp nối nhau có khi tới bốn đèn, ai lăn ra ngã ngất thì được lôi ra ném vào thùng phuy đầy nước cho tỉnh, chết ngạt thì kêu người nhà tới lãnh xác đem chôn nhưng cấm quần tam tụ ngũ làm đám ma.

Năm Bưởi không ngậm miệng. Ngót bốn năm tù không án và đứa con vừa đem đi trả đã khiến chị muốn nổi khùng, sẵn sàng thí mạng. Chị gằn giọng:

- Cũng cái vụ tôi ra tù, nhà mình xuống loại B, mà lu bù người xưng là công lao mình… Ông phủ Đỉnh nè, ông đại diện xã là Ba Mít nè, ông thiếu tá Hai Khánh nè (chỗ ấy chị buột miệng nói thêm vào), bây giờ tới cậu cũng kể ơn nữa. Nhiều ơn quá, nhà mình trả sao cho xiết?

- Chị muốn dứt hết tình nghĩa à? Cứ giở cái giọng bà Năm Nhím xách giỏ lựu đạn đi tìm thằng Bảy Bòng trốn theo Tây! Đừng cãi, tôi biết hết. Chị không giết được tôi, chắc là tiếc lắm hè. Giờ chị tính sao đây? Tôi làm cảnh sát trưởng xã Tây Giang, nắm quyền sanh sát mấy ngàn dân, thằng Ba Mít sợ tôi bằng sợ cọp, chị muốn giết tôi nữa không? Nói thử?

Đến đấy, ông Tư Chua mới cất tiếng gắt to:

- Thằng Bảy, mấy lâu mới gặp chị mày ra tù, mày gây gổ quá rồi đó. Tao thương ai ghét ai, để dành trong bụng hết, tụi nó ăn gan cắt mật kệ cha cố tổ nó, chị mày cũng vậy thôi. Mày tính rạch bụng tao hay chị Năm mày, cứ làm đây luôn cho thiên hạ thấy!

Ông Tư vén áo, vạch bụng, ngửa đầu ra sau, đưa tay vuốt chòm râu thưa và khìn khịt trong mũi.

Bảy Bòng ngẩn mặt nhìn cha, nhìn chị Bưởi. Cuộc vinh quy bái tổ của hắn khi nhậm chức cảnh sát trưởng coi như nát bét. Hắn nặng  nề đứng lên, lắc vai, úp mũ vải lên đầu, vẫn chưa tìm ra câu đáp nào xứng ý. Hắn đã đem tiền về giúp chị Hai Thùy và biết một phần tiền ấy sẽ tuồn sang anh Cả Chanh đang lẩn lút trên núi... Hắn thật tình thương anh Cả và chị Thùy, mà vẫn ghét vợ chồng Tư Quýt với Ba Song, nuôi thù oán với chị Năm Bưởi, và đạo làm con vẫn buộc hắn không được để ông cha vô thần với bà mẹ thờ Phật quá khốn khổ... Nhưng dường như cả nhà hùa nhau tẩy chay hắn, ghê tởm hắn như đứa mắc dịch. Tại sao? Tại sao? Hắn phải làm gì cho cả làng đỡ xa lánh?

Bảy Bòng ra đi một lát, Út Thanh Yên mới đến dòm qua cửa. Nó chạy nhào tới ôm chị Năm, nghẹn lời rất lâu mới thốt được:

- Coi chị như ma chết trôi mới vớt... Thằng Chung chịu ở với ông kia không? Nó đi mới mấy ngày mà em nhớ quá đi chị, bồng nó từ nhỏ tới giờ, thương  hết chỗ thương... Thôi chị đừng rầu, nghỉ đi, cắt thuốc bắc uống cho lại người, còn phải nuôi con Lúa nữa chớ... phải đợi anh Năm Chò về, sanh thêm một chùm con với chị...

Bưởi nín lặng, chỉ vuốt tóc em gái. Thanh Yên buông chị, lau mắt vội, cười gượng qua môi run run:

- Chắc chị thấy lạ. Làng mình bây giờ khác lắm chị. Một phần ba mắc học tố cộng với ở tù, một phần ba lo đi xâu công ích với cộng đồng kiến thiết, còn lại một phần ba làm lụng nuôi mấy phần kia. Thứ gì cũng sẵn, chỉ có đồng tiền quá thiếu, thành ra đi thăm nuôi chị ở nhà lao chẳng có gì ra hồn. Chị Ba Song làm giàu tới tới, mà sợ dây dính với cộng sản, đi nhờ ghe nhà chị phải năn nỉ miết... Cực nhứt là chị Hai Thùy...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #232 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 10:04:03 am »

Sau đêm sống với chồng trong “Hang nổ”, Thùy nơm nớp chờ tai họa cùng hạnh phúc trút xuống đầu mình. Thùy muốn được thêm một đứa con, con trai càng hay, chị Bình nó sẽ trông em. Nhưng bọn nắm quyền kia hung ác quá chừng, hễ không khai ra có chửa với ai thì chúng đánh chết cả mẹ lẫn con.

Nhân dịp nhà được lột bảng cô lập, xuống hạng B, được phép đi lại trong xã, Thùy đến chợ Huề Bình xin toa thuốc ngừa thai. Mấy chị quen thân lại rỉ tai: “Đừng uống thuốc của ổng. Ông theo đạo Cao Đài, hay thứ gì đó, thò một con mắt, ổng cho thuốc “giải thương” tức là dưỡng thai chớ không cho phá, sợ tội sát sanh. Thôi chịu mất tiền, tìm ông khác”.

Sau đó, Thùy vừa mừng vừa đau lòng khi kinh nguyệt lại ra. “Khốn khổ, em muốn có con với anh, mà sợ có con. Sao vợ chồng mình cực nhục tới dữ vậy anh? Bao giờ hai đứa mình mới yên ổn?”

Rất nhiều đêm, Thùy đã ôm ghì con Bình đang ngủ say, trằn trọc nhai cắn cái gối nhồi bông gòn, thầm thì nói chuyện với anh Chanh vắng mặt liên miên sau ngày cưới-luôn luôn chạy theo việc hỏa xa, tiếp đi qua Lào, nay nằm rừng ngủ núi với cái đầu được bọn địch treo giải năm chục ngàn đồng. Chị biết rõ, tụi nó để chị yên làm con tin, làm đầu mối dây khi chồng kiệt sức chịu ra hàng “chánh nghĩa quốc gia”. Quá rõ là anh thà chết không hàng. Nhưng anh có tin những lời bôi xấu của vợ chồng Tư Quýt với cơn lũ nguyền rủa của bà mẹ chồng khắc nghiệt trút vào em không, anh yêu quý nhất của em? Hễ anh tin, em không sống nổi thêm một ngày nữa, em chỉ nhảy xuống thác sông Linh là xong. Mà thiệt tình cũng chẳng xong đâu. Cái bọn ác ý độc miệng sẽ nói: “Chị ta chửa hoang với Hai Khánh, bị ông ta bỏ rơi như Năm Bưởi hồi trước, hết đường lui tới...”. Em năn nỉ anh cho em lên núi rừng với anh, nhưng bị gánh nặng cả nhà anh níu lại. Ai nuôi lũ con nít? Ai phụng dưỡng cha mẹ anh đang mỗi năm một xuống sức? Ai dành dụm từng đồng để sắm áo quần thuốc men gửi xuống nhà tù Hội An cho Năm Bưởi-gửi theo các bà các chị loại B hay C, có người nhà cùng bị giam ở đấy, chứ con đò dọc của nhà chị Ba Song vẫn lên xuống liên miên mà không nhận chuyển quà...

Còn một chút may mắn, là lò rèn ông Tư với bàn máy của Thùy, dù vướng cái bảng cô lập, vẫn còn đủ việc làm. Bọn Ba Mít và tay chân biết dân làng lui tới để rèn và may ở đấy, cũng làm ngơ đi, một phần để vét tiền thuế cứ leo thang lên mãi, phần khác cũng có cái gì đó sờ sợ, nể nể đối với gia đình “cộng sản nòi”, lại ăn ở được lòng dân xưa nay.

Sau đình chiến, công nhân quân giới cùng gia đình họ rút đi hết, lớp đi tập kết, lớp trở về quê làm ăn, bỏ lại nhiều đất khai hoang ở ven sông và trên các gò thấp, có cả ruộng bậc thang tưới bằng nước suối. Đồn điền La-phạt từ lâu đã thành đồi tranh và lau lách, chỉ lấp ló những chòm cây cà-phê và chè tàn lụi. Các chủ cũ chưa mò về được, vì khắp vùng này đang lâm vào “cái nạn Tam quốc” như các cụ ở Linh Lâm thường gọi.

Nhân khi phe thân Mỹ đánh phe thân Pháp ở Sài Gòn, bọn Quốc dân đảng ở Tây Quảng định phỗng tay trên bọn Diệm, dựng lên bộ máy cầm quyền, giống như mấy huyện khác ở Quảng Nam. Mới kiếm được một ít súng hạng bét, chúng đã hối hả ra oai bằng cách “xối máu cộng sản”, trả thù cả những người không dính tới cộng sản hay kháng chiến. Rồi Diệm hất luôn Bảo Đại trong cuộc “trưng cầu dân ý” có mật vụ hốt phiếu bỏ vào thùng, ai làm khác lời dặn “xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ thùng” lập tức bị bắt khi ra khỏi chỗ bầu cử. Quốc dân đảng rầm rộ ra tuyên ngôn “ly khai phe thằng Diệm”, vét gạo tiền của dần để lập chiến khu chống Diệm và chống Cộng, bắt đầu tập đánh du kích.

Quân Diệm kéo lên vùng ven núi, còn bỡ ngỡ nên cố lấy lòng dân, định đánh Quốc dân đảng trước rồi diệt Cộng sau. Cộng sản đã rút đi hầu hết, nhưng vẫn nắm được dân “vùng đỏ” này, phải mất nhiều năm mới tẩy não được. Bọn Việt quốc bị dân căm ghét, tránh như tránh tà, lần hồi kéo nhau ra hàng cả.

Người dân vui mừng không lâu. Nhũng tên ác ôn nhất trong Việt quốc lại được phe Diệm dùng lại, phong chức, có khi thăng chức nữa, mở đầu giai đoạn tố cộng. Chỉ có thay đổi tí chút: huyện thành quận, chủ tịch xã gọi là đại diện, tên xã Linh Giang sửa ra Tây Giang, còn sự hung dữ thì tăng chứ không giảm.

Đến đấy, hai người cùng quê Linh Lâm trở về làng: ông phủ Đỉnh và Hùng Minh tức Ba Mít.

Ông phủ theo Việt quốc từ lâu khôn hơn bọn trẻ rất nhiều, không dính vào vụ ly khai và lập chiến khu, chỉ đi tuột vào Sài Gòn để móc nối với đám quan Nam triều cũ đã rời Pháp để bám Mỹ. Nhờ thần thế và công lao chống cộng, ông ngoi lên quận trưởng, gần đây lên tỉnh phó. Để học theo cụ Ngô, ông cạo bộ râu cụ tú, chỉ chừa tí ria mép gọi là, mặc thay đổi âu phục và quốc phục, nộp lễ mừng rất hậu hĩ cho ông Cố Trầu Ngô Đình Cẩn. Cũng như xưa, ông đi khắp làng chào hỏi niềm nở, nhắc lại mãi: “Thời buổi nào, chế độ nào thì dân vẫn là dân, có chánh phủ nào sống không dân được đâu!”.

Ba Mít được đi tập kết nhưng lén ở lại, sau mấy lần hầu chuyện “ngài quận trưởng”, được ông phủ dùng làm đứa sai vặt trong quận, ông thí cho đồng nào hay đồng nấy, chỉ đủ cho hắn sống cầm hơi. Ông còn bấm riêng Bảy Suyền, kẻ nắm mối liên lạc giữa ông với đám cầm đầu Việt quốc trong các thành phố bị Pháp chiếm, nay được Diệm dùng làm cán bộ tố cộng loại kha khá trong tỉnh:

- Cháu nắm cổ thằng Ba Mít, cho nếm mùi khai thác trong lớp tố cộng loại A để nó biết thân biết phận. Thằng đó như con lươn, ai sài nó cũng bị tuột khỏi tay, nay mai Việt Cộng gây rối hay là quân Bắc Việt đánh vô là nó phản mình tức thì!

Hai Khánh dạo ấy chưa ra ở nhà thuê riêng, cũng chưa nhận vào quân đội Diệm, có mặt khi ông phủ nói thế. Anh thấy phải can ông phủ:

- Ba không tin nó thì tống cổ nó đi, bắt ăn đòn tố cộng làm gì?

Ông phủ đáp ngọt ngào:

- Thằng Mít là con chó, bỏ chủ Việt Minh chạy về với ta. Giống chó quen ăn cứt, dơ thiệt đó, có điều muốn săn thú phải dùng chó, muốn giữ nhà phải dùng chó, muốn dọn con nít ỉa bậy cũng dùng chó. Hễ nó hết bấy nhiêu việc, ta bán cho cửa hàng “cờ tây”, mất gì đâu con? Cứ thử coi nó thiệt lòng theo ta hay là do Việt Cộng gài lại!

Qua một lớp “cải huấn tố cộng loại A” dài hơn tháng, Bảy Suyền trao cho ông phủ một xấp giấy vài chục trang viết tay, cười toét miệng trên khuôn mặt xanh nhợt của kẻ sớm bị bệnh di tinh:

- Thằng mộc tồn khai đây. Bác coi thử nó giấu chút gì không, từ hồi Việt Minh bí mật tới nay.

Phủ Đỉnh đọc cẩn thận bản “phản tỉnh” của Ba Mít, gật gù. Nó khai ráo cạo, cả những điều ông chưa biết, nặng lời thề thốt sẽ chịu xẻo từng miếng thịt “nếu chưa thành khẩn hết mức với chánh nghĩa quốc gia, với chủ nghĩa duy linh nhơn vị của Ngô tổng thống anh minh luôn luôn cải huấn”. Cái bệnh dốt ưa nói chữ vẫn còn, nhưng coi bộ thằng này xài được. Miễn nó ăn cắp vừa phải, ông có thể dùng nó làm quản lý, giữ khu ấp Linh Lâm cho ông, chứ cô Huyền Tâm đau tim và ế chồng chỉ còn là một bà vãi tu tại gia, nửa ngây nửa dại.

Tiếp đó là một đột đổ bộ ồ ạt của dân Bắc di cư.

Họ được xe nhà binh chở lên theo đường 56, được ca-nô ngược dòng Thu Bồn và sông Linh lên, trút vào vùng đất của các gia đình quân giới bỏ lại. Tổng ủy di cư cấp cho họ gạo tiền và những căn nhà khung gỗ lợp tôn làm sẵn, các cha cố và chánh trương, trùm họ đứng ra chia hàng Mỹ viện trợ. Thôn mới Linh Thượng ra đời. Ông phủ Đỉnh chỉ khoanh lấy ba trăm mẫu tây dễ tưới nhất trong đồn điền La-phạt, họ hưởng phần còn lại, vỡ ra trồng khoai sắn, dựng lên xóm Tây của thôn Linh Lâm.

Chắc hẳn họ đã được các đấng chăn chiên và các vị cầm quyền căn dặn nhiều về dân vùng đỏ và Việt quốc, nên khi mới tới mặt ai cũng gườm gườm. Tất cả đều đeo thánh giá, và nói với nhau bằng giọng gì rất lạ, khó hiểu. Mãi về sau dân Linh Lâm mới biết họ đến từ Nghệ An, rời quê khi được tin “Chúa đã vào Nam, Hoa Kỳ sắp bỏ bom nguyên tử ở miền Bắc”. Họ dựng nhiều nhà nguyện với chữ thập thật to trên đỉnh, chuông sớm chuông chiều giật vang động dọc sông Linh. Tiếp nữa, họ nhận kẽm gai về rào quanh khu định cư, và những tốp vệ sĩ bắt đầu gác và đi tuần với súng và lựu đạn. Đã hiện rõ họ là tấm bình phong chống Cộng được dựng lên dưới chân dãy Trường Sơn.

Cuộc sống cứ thế trôi qua. Những kỳ hẹn hiệp thương hay tổng tuyển cử chỉ là dịp để chính quyền mở những đợt tố cộng dữ dội hơn trước. Những người dân cũ và mới lần hồi quen nhau, bớt gờm nhau, bởi dân di cư mất nguồn viện trợ phải kiếm sống ngày càng chật vật, nhiều nhà cuốn gói ra đi. Không  ít người xin làm thuê ở đồn điền phủ Đỉnh hay các nhà giàu trong xóm Chợ Linh Lâm, máu hăng chống cộng dường như nguội đi, niềm kiêu hãnh làm “dân nước Chúa” chẳng còn mấy. Nhờ đó, lò rèn ông Tư Chua và bàn máy Hai Thùy đông khách hơn trước. Trong khi chờ lấy đồ may vá, đã có những đồng bào di cư sốt sắng giúp Thùy: “Để tui lôông cho mấy cơn ná trữa cươi để phơi đồ áo”, và Thùy đã hiểu họ muốn làm gì, dịu nhẹ cảm ơn họ. Người khỏe hơn thì kiếm đôi thùng “xuống rào sương nác”, nghe vui vui.

Gia đình ông Tư vượt qua được bốn năm thử thách đầu tiên dưới chế độ mới mà chưa mất mạng nào, nhưng các vết rạn nứt ngay trong nhà đã hiện rõ. Chỉ có một người đủ sức hàn gắn là Cả Chanh, bao giờ anh mới trở về được, nếu sống sót để trở về?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #233 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 01:45:38 pm »

Chương 4


- Chúng mày ơi, thằng Phu mới tậu một đồng giờ Pôn-giốt mặt đen, mới bóc tem nhá. Kính mời nhà A4 cùng chiêm ngưỡng!

Lớp trưởng Lê Tùng rao to tiếng khi kẻng khu ký túc xá khua báo hết giờ tự học, sắp ăn cơm. Anh chính trị viên đại đội chuyển ngành đi học này, thân cao to với mắt hơi lồi, bị chứng thấp khớp đục khoét bên trong, chỉ thiếu gương mẫu vào các giờ thể dục sáng sớm và thể thao chiều.

Sáu Cam nằm trên giường tầng hai, đang nghiền ngẫm cuốn Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu và kiếm ý để làm tiểu luận, phải lồm cồm leo xuống?

- Đưa mình coi thử...

- Trước khi xem, phải tạ ơn Bác Tôn, trưởng ban Bổ túc văn hóa trung ương. Thằng Phu dạy bổ túc sáu tháng mới mua được đồng hồ.

- Ờ, xin tạ ơn Bác... Mà này, chúng mày học Trung Văn, mù chữ Nga là phải. Phải gọi là Pa-liốt, trọng âm ở iốt, nghĩa là chuyến bay. Các cô mậu dịch lại cười cho!

- Hơi sức đâu! Các cô nhìn cái biển xanh trên túi áo mình, Trường đại học Tổng hợp lại đọc ra Bách hóa Tổng hợp, cánh ta thành mậu dịch tất!

- Ơ hơ hơ, cùng nghề càng đỡ chẹt nhau chứ sao!

Trong căn nhà nền cao lợp lá cọ, đặt mười hai giường đôi của sinh viên trong khu ký túc trên bãi Phúc Xá, bên ngoài đê sông Hồng, tiếng khua bát đũa nổi dậy. Sinh viên túa ra sân trong khi nhà bếp hối hả bày thức ăn, bưng cơm. Loa truyền thanh ồm ã đưa tin, vang động khắp mười căn nhà lá cùng kiểu với nhà A4 của sinh viên đại học Tổng hợp I Hà Nội. Các trường đại học mọc lên rất nhiều sau ngày ta tiếp quản miền Bắc, trường sở chen lấn nhau, các khu ký túc được dựng hối hả và cố nuôi sinh viên với giá rẻ nhất-học bổng hăm hai đồng, tiền ăn tháng mười lăm đồng, tiền nhà điện nước không phải trả xu nào, sinh viên đi dạy thêm hay làm thêm tự do kiếm tiền bỏ túi, nhà nào khá giả thì hưởng thêm của nhà chẳng sao.

Giới sinh viên đã hiện rõ ba tầng: từ các tỉnh xa và thôn quê ra Hà Nội học thường nghèo, đi bộ và nhịn quà sáng; cán bộ và bộ đội chuyển ngành vào trường sống khá hơn nhờ được hưởng 95 phần trăm lương tại chức thay vì học bổng 35 đồng trước đây. Còn sinh viên con nhà giàu hay công chức lưu dụng vẫn sang nhất-một thư ký đánh máy ở sở nào đấy cứ lĩnh lương cao hơn Bác Hồ. Thôi thì nước ta chưa thống nhất, đành chịu những bất công kéo dài ít lâu nữa, dù miền Bắc đã giải phóng đến năm năm. Số này đi học bằng xe Mô-by-lét, Xô-lếch, về ở nhà lầu hai ba tầng, nhưng hay than thở ngày nay khó sống hơn trước, và nơm nớp sợ tư sản sẽ bị cải tạo, sợ công chức lưu dụng phải xếp lại theo lương cán bộ kháng chiến về, sợ không được ở Hà Nội khi ra trường.

Oai nhất trong giới trung lưu ở lớp Ngữ Văn khóa Ba là “bố” Lê Tùng. Anh ấy cũng là người Sáu Cam mến nhất trong lớp, tuy chỉ phục vừa vừa thôi, vì mải lo vợ con nên học ở mức trung bình. Các thầy cô giáo, lứa nghiên cứu sinh và trợ lý trẻ được giao lên lớp một số giờ chuyên đề, thường bối rối hoang mang khi thấy cậu sinh viên đồ sộ này bước vào lớp trong bộ quân phục sĩ quan, đi giày cộp bằng da đen, gọi thầy cô bằng đồng chí. Khi biết Tùng là phó bí thư chi bộ toàn khoa-cán bộ giảng dạy cùng chung chi bộ với sinh viên-lương và thâm niên cộng lại lĩnh cao hơn so với thầy cô, thì người trên bục giảng đến giờ nghỉ lại sán đến Tùng, nói rụt rè và bẻ ngón tay không ngớt: “Em là đoàn viên đã lâu, học lớp cảm tình Đảng, nhờ anh theo dõi giúp đỡ...”. Và Tùng giúp đỡ họ thật tình, xoa dịu bớt những lời chê trách đối với các thầy cô non kém, vực lên được không ít người có vết đen hay lỗ hổng trong lý lịch xin vào Đảng. Anh cũng quý cậu lớp phó thua mình tám tuổi, gốc miền Nam và luôn bốc, hăng, lắm lý sự nhưng sẵn sàng nghe anh em đập mình, sẵn sàng gánh việc vặt khi lớp trưởng về Hải Phòng thăm vợ con.

Chiều nay, Tùng và Cam cầm bát đũa xuống nhà ăn cùng một lần. Tùng huých tay Cam khi đến gần sân bóng chuyền đầy người hò hét chung quanh cuộc đấu giữa hai đội Toán và Hóa:

- Lại đằng này, tớ hỏi tí chút.

Hai đội đang hăng phục hận, cổ động viên bên ngoài gào thét đứt hơi đến át cả còi trọng tài. Bố Tùng kéo Cam vào góc vắng nhất, thấp giọng:

- Tớ bảo, tình bạn thôi nhá.... Cả lớp với cả phòng A4 đều bảo cậu đang bị rối tình cảm. Cậu về ký túc rất khuya, ngủ trằn trọc, ngồi viết thư hàng buổi. Ông Yên đọc bản khóa luận về văn học dân gian liên khu Năm của cậu, bảo chỉ đáng điểm ba, cậu làm lạo thảo cho xong. Lớp điền kinh buổi sáng cậu cũng bỏ... Mình không tò mò đâu, nếu có gì mình giúp được thì cứ nói, không thì cậu giữ riêng... Mình cũng chẳng ưa những người nhảy vào ngồi xổm trong đời tư người khác, dựa cái thế hơn tuổi, hơn cấp, lên lớp dạy đời. Tùy cậu trăm phần trăm đấy...

Cam liếc nhìn những nét lo lắng rất thật tình trên mặt ông anh cùng lớp, cảm thấy không muốn giấu chút gì với anh cũng như với anh Năm Chò. Nhưng vẫn phải hỏi thêm:

- Tối qua, nghe bảo bà nào nặng một tạ đến gặp anh, chắc lại đưa thư tố cáo tôi lần nữa, bà Ất chứ ai!

- Tớ cũng định nói. Bà ấy than vãn mãi rằng cậu bỏ rơi mẹ con Hoàng Lan hàng nửa năm không lui tới, cả nhà trách cậu lắm.

- Ừ ừ, cái mụ thần nanh đỏ mỏ ấy, mụ La Sát ấy, chửi tôi nát mặt khi gặp tôi đến thăm Hoàng Lan, còn gửi thư đến Đảng ủy nhà trường ghép tội cho tôi ve vãn vợ lính vắng chồng. Còn may là anh làm chứng hộ. Mụ ấy đầy bụng rắn độc. Ôi, chuyện tận đẩu đâu, các anh biết thế nào mà xử, chỉ đánh một dấu hỏi to tướng vào lý lịch thằng Phan Cam về khoản đạo đức!

Kẻng lại khua báo ăn cơm. Cơm nghèo thôi, mỗi ngày hai bữa đủ no nhung rau nhiều đạm ít, một bát canh chỉ nổi tí váng mỡ gọi là có con lợn sổng chuồng chạy qua vườn rau muống hay bắp cải. Rất may là bố Tùng nẩy sáng kiến “kết nghĩa” với một mâm sinh viên gái, các cô ăn yếu nên sáu người chỉ xơi được hai phần ba số cơm, chỗ còn lại họ đưa sang cho mâm Tùng và Cam vét sạch. Bù lại, mâm con trai chở các cô bằng xe đạp từ bãi Phúc Xá đến hai cơ sở của trường Tổng hợp ở cách khu ký túc đến bốn cây số.

Trận đấu bóng chuyền ngoài kia sôi nổi. Cấp dưỡng khua kẻng mỏi tay, cả dãy bàn nhà ăn vẫn bỏ trống. Hai vị lớp trưởng Toán và Hóa nhân lúc đổi sân, hổn hển chạy vào bếp, vừa vuốt mặt đầm đìa mồ hôi vừa thề độc rằng anh em ăn xong sẽ rửa sạch mọi thứ, các chị cứ bỏ đấy về nhà, chưa nghe trả lời đã co cẳng chạy biến vì trọng tài đã toe toe xướng giao bóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #234 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 01:47:14 pm »

Xong bữa cơm đạm bạc, bố Tùng kéo Cam ra khỏi cổng ký túc, rẽ sang phía bãi sông Hồng có một đoạn đường khô ráo, giúi cho Cam một điếu Hoa Hồng loại bốn hào một gói. Diêm Thống Nhất dạo này tệ quá, đánh ba que mới châm được một điếu, tiếp đó mồi chuyền cho nhau. Tùng dặng hắng vài lần, thấp giọng:

- Tớ báo tin mới nóng giòn đây. Cậu Thống hi sinh trong đợt tiễu phỉ trên biên giới, mãi tận Hà Giang.

Cam sững người, ấp úng lâu mỏi thốt:

- Anh không nói ngay với tôi...

- Đêm qua cậu về khuya, vật vã mãi mới nghe tiếng ngáy. Thống nó bị hàng chục viên tiểu liên vào ngực, anh em khiêng ngót một ngày mới đến trung đoàn. Đường xa quá không chở về được, không đợi được, phải chôn vào nghĩa trang xã. Xe con Tổng cục cán bộ đưa gấp cô Lan với thằng bé... gì nhỉ... là thằng Nhứt... lên Hà Giang chiều hôm qua, nhận mồ mả, sau bốc về đâu tùy ý. Chắc vài hôm nữa mới làm truy điệu được. Thống là chiến sĩ thi đua Quân khu nhiều năm, có thể phong anh hùng quân đội. Mình chỉ gặp vài lần mà mê nó ra phết.

Đến quãng lầy lội, Tùng xoay người trở bước thong thả:

- Hồi Đảng ủy cử mình đi tìm sự thật về lá thư bà Ất, may gặp nó về họp ở Hà Nội. Lan giận phát khóc, Thống ta lại bật cười, thằng Nhứt thì hàng chục lần đòi mình dẫn đến chú Cam, lăn ra đất. Bà con xa, pháo trăm lẻ năm bắn không tới, nhưng bà Ất mắc cái bệnh khác oai quyền kinh khủng, Thống nó bảo thế. Trên đường về mình ghé vào thăm bà ấy ở Phà Đen. Ông chồng dạy tiểu học gầy như que củi, bà vợ phát phì, đặt bên nhau thành con số 10. Tập kết mang ra bốn con, sinh liên tiếp thêm hai đứa nữa, nhà chật chen không lọt, ầm ĩ ngày đêm những chửi, cãi, khóc. Bà ấy nói ráo hoảnh: “Chặn trước thằng Cam với con Lan thì vừa, lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”.

- Bây giờ xoay ngược trăm tám mươi độ, trách tôi bỏ rơi!

- Có thể vì Thống hi sinh rồi, bà ấy hối... Sáng nay tớ gọi nhờ dây nói văn phòng, mấy cậu quen ở Tổng cục hẹn bao giờ truy điệu sẽ gọi điện về ký túc cho mình hay cho cậu, phải đợi Hoàng Lan về. Tội nghiệp, cả hai vợ chồng đều mồ côi bố mẹ, Thống lại lặn lội quanh năm trên biên giới, thảo nào thằng Nhứt nó đòi cậu đứt hơi...

Đèn điện trước cổng ký túc đã bật, tiếp các nhà đều lên đèn. Mỗi nhà hăm bốn chỗ nằm chỉ được thắp hai bóng 75 oát, điện yếu hẳn so với năm ngoái, nhiều sinh viên phải tự túc thêm đèn dầu nhỏ thắp riêng, dù Ban quản trị đã nhắc mãi nội quy chống cháy.

Dừng trước cổng, Sáu Cam ngập ngừng:

- Còn câu hỏi đầu tiên của anh, để lúc khác tôi nói rõ. Tóm gọn là chuyện trở về miền Nam anh ạ. Anh Năm Chò tiểu đoàn trưởng chuyển về nông trường Sao Vàng ở Thanh Hóa viết thư báo đã nhận giấy gọi tái đăng, tiếp đó gặp mấy cán bộ vào bàn việc vào Nam. Thế nhưng anh ấy cấm tôi không được rời trường, tốt nghiệp rồi sẽ hay. Tình cảm có rối thật đấy. Anh bảo tôi làm gì bây giờ?

Bố Tùng gãi cằm hơi lâu mới đáp:

- Chà, cái này... mình không có quyền tò mò... việc tối mật...

- Thì tôi nhắc lại câu anh ban nãy: tình bạn thôi mà!

- Mình không biết chủ trương mới nhất ra sao. Để mình nhờ mấy đứa quen hỏi dò hộ cậu. Tạm xếp lại, tạm gác đấy đã nhé.

Anh Tám Thống đền nợ nước đã trên hai tháng, dãy bằng và huân chương từ quân công hạng ba trở xuống đã lồng kính treo san sát trên căn buồng chín mét vuông dành cho vợ con anh ở khu nhà nhân viên y tế nép vào một góc bệnh viện Phủ Doãn, mà cô vợ Hoàng Lan vẫn chưa ra khỏi vẻ người và dáng vóc đờ đẫn của người mới góa chồng. Một ông cán bộ tổ chức nào đó thử gợi ý rằng chị ta chưa thỏa mãn chính sách, mắc tư tưởng công thần, bị cả chi bộ quật cho ngay không kịp thở, phải nhanh chóng xua tay rút chạy? “Tôi chỉ nêu vấn đề để các đồng chí suy xét...”. Nhưng vẫn không thoát ngón tay chỉ mặt của cụ bí thư: “Anh tưởng ai cũng là đứa đểu giả như anh?”.

Cộng hòa dân chủ Đức bắt đầu viện trợ cho bệnh viện Phủ Doãn. Cả một hệ thống hiện đại để nấu ăn, xay thịt, rửa bát đĩa bằng điện dưới vòi nước áp lực cao, vòi thuốc tẩy, vòi nước sôi giội sạch cuối cùng, lò sấy khô, tính ra giá thành tốn gấp sáu lần khi rửa mọi thứ bằng tay vì nhân công đang thừa. Nhân viên và bệnh nhân đang xin được miễn ăn các thứ thịt cá táp nham cho vào máy xay điện, biến thành bột nhão tổng hợp.

Hoàng Lan cùng với con được ưu tiên xếp vào các nhà được viện trợ, dựng chỗ góc sân bỏ hoang lâu nay. Nhìn ngoài trông xinh gọn, dọn vào ở khi còn rét cũng rất ấm áp dễ chịu. Mái lợp tôn mạ chống rỉ, vách bằng bìa dày phủ nhựa bóng loáng, nền gỗ dán dày cách mặt đất năm tấc, chia thành những căn hộ chừng trên dưới hai chục mét vuông, khối người thèm muốn. Đến mùa nóng bức mới từ lo lắng đến hoảng hốt: nhà chống rét chứ không chống nóng. Cửa sổ bé tẹo, tất cả các chỗ hở trên vách đều theo hướng Đông Tây để hứng ánh mặt trời, không có lỗ cắm phích mở quạt trong các buồng nhằm chống cháy, các giàn chạy nước nóng ven tường vách được nghỉ chơi dài ngày trong khi chủ nhà dắt con sơ tán ra những nơi có quạt, có bóng cây che mát đến xế chiều.

Không một lời nào trách các bạn Đức đã hiểu quá ít về đất nước nhiệt đới chúng ta. Họ làm việc hùng hục giúp ta, ai cũng thấy, ai cũng mến phục. Nhưng bấy nhiêu kẻ ăn lương kỹ thuật, kế hoạch, xây dựng, đều mù câm điếc cả hay sao? Phê bình họ chỉ là húc vào bức tường cao-su, cũng đôi lúc là tường đá tảng gây u đầu sứt trán. Các vị cao cấp nhất của bệnh viện là những nhân vật tầm cỡ quốc gia và quốc tế, may ra vài tháng mới trông thấy đi qua một lần, chỉ dừng nửa phút để nghe ông chủ nhiệm khoa khoát tay về phía nhân viên nói đôi câu về đời sống, lại gật gù và đi tiếp. “Ờ, được, thế là khá, cố lên nhé”.

Cũng chẳng ai trách các vị ấy được. Họ chăm lo đẩy khoa học thế giới lên các đỉnh cao mới, chớ nên quấy rầy họ. Chỉ ngại là đám lau nhau trung gian, đã từng được gọi “trung thì ít, gian thì nhiều”, do nhiều lần trôi giạt mà biến thành những cán bộ lăng xăng “nay tuyên huấn, mai tổ chức, ngày kia bảo vệ”. Đến đâu họ cũng tỏ ra mình thạo việc bằng cách “nêu vấn đề” để tỏ ra mình có mặt là vô cùng cần thiết. Cho họ đi học có hệ thống ư? Học bấy nhiêu năm không tăng lương là thua bạn đồng cấp, là bất công, là dại. Ai cũng nhắc như tụng kinh: “Cán bộ phải vừa đỏ vừa chuyên”, nhưng khi xét người xét việc thì phần lớn các vị cấp trên chỉ xét theo lý lịch, thâm niên, tính ngoan ngoãn dễ bảo được coi là đỏ, còn chuyên là tài luồn lách xoay xở qua hàng trăm bàn giấy để kiếm cho được mươi con dấu đỏ trong hạn ngắn nhất.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #235 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 01:48:43 pm »

Căn buồng mới nhận mười sáu thước vuông của mẹ con Hoàng Lan chiều nay ầm ĩ. Thằng Nhứt không chịu tắm nước lã tuy trời đã trở nóng. Nó lên năm tuổi, mặt mũi giống hệt Tám Thống, chỉ bấy nhiêu cũng đủ cho mẹ nó chiều hơn chiều vong. Suốt mùa rét Lan đun nước tắm cho nó chỗ gần chuồng lợn tập thể bằng bếp mùn cưa, trấu, dầu lửa, tiếp đó nấu thêm món gì phụ vào một suất rưỡi cơm cặp lồng, tắm xong cho con và dọn rửa xong mọi thứ thường đã tám giờ tối. Ngày quần quật từ bốn giờ rưỡi sáng đến lúc này mới tạm dứt. Còn may là Lan đã chữa lành các chứng bệnh từ địch hậu Hạ Lào mang ra Bắc, mới một con, anh Thống đi vắng lâu và chịu khó cùng vợ giữ kế hoạch mỗi khi về Hà Nội, để lại cho Lan tới hai phần ba số tiền anh được nhận, cả trước và sau khi phong quân hàm. Lắm chị vợ bộ đội sống vất vả hơn Lan nhiều. Nhưng hầu hết đều chê Lan: “Chị cưng con quá đó: Cứ như con nhà giàu cầu tự. Năm tuổi mà hờn mẹ còn lăn ra đất, mẹ ngồi bên khấn vái, chị leo cửa sổ trốn con đi làm... nói chị đừng giận, đúng là con hư tại mẹ...!”.

Lan biết mình dạy con sai phương pháp. Nhưng mỗi lần nó khóc ầm nhà, lăn ra đất, mẹ càng van xin nó càng vật mình, đập đầu côm cốp, người mẹ nào không mềm nhũn ra?

Anh Thống nhiều lần thấy cảnh ấy. Anh phớt tỉnh, túm tay vợ kéo lại khi Lan chực lao tới xốc con dậy, kéo tay Lan ra khỏi buồng và khóa cửa đánh tách, nói thật to: “Cứ nằm đấy, ba má đi coi xi-nê”, và giả điếc không nghe tiếng gào xé họng của đứa con sau lưng. Lan bật run cả người, nhưng anh ấy rỉ tai: “Anh dặn bà Tiệp rồi, lát nữa bà ấy bồng con về, rửa ráy, cho ăn, cho ngủ. Anh biếu bà hai lít mật ong, một lạng hổ cốt toàn tính, quà biên giới mà. Em để con hư quá rồi đấy!”.

Anh Thống kéo Lan đi thăm một ai đấy, xem kịch hay phim mới ra lò nào đấy, Lan cứ loạn ù vì tiếng khóc của con đuổi mãi sau lưng. “Thằng Nhứt hư, cả bầy em nó hư theo, nhà mình thành địa ngục mất thôi”. Anh Thống luôn luôn có lý. Có lý mà thiếu tình. Và tất cả những lời dặn khôn ngoan ấy chỉ đến với Lan mỗi năm vài lần, mỗi lần vài ba ngày, may lắm được bốn năm ngày. Ai dám ngăn anh làm nhiệm vụ vào? Chắc chắn không phải Lan, người đồng chí và đồng đội sống giữa lòng thủ đô Hà Nội, chỉ làm y tá mỗi ngày tám tiếng, chỉ đánh vật với đứa con cứng đầu, tiền nuôi nó lại là của người chồng sống nay chết mai nơi rừng núi. Mỗi lần anh về thăm vợ con, Lan sa ngay vào cơn hốt hoảng khi nhận thấy anh gầy đi, da tái sạm hơn, môi thâm sốt rét rừng khi nói những lời âu yếm và soạn ra tất cả những gì sắm nắm hàng nửa năm để mang về giúp vợ con nhưng vẫn áy náy vì thằng kia đứa nọ chưa được may mắn như mình, lâu nay vẫn thân cò lặn lội, vợ con nó ở tít tỉnh Thừa Thiên bên trong giới tuyến, còn chưa nói đến đám đồng đội quê gốc ở Liên khu Năm và Nam Bộ. “Em phải thấy vợ chồng mình ít khổ như ngàn vạn cặp chia cắt khác, còn được lâu lâu gặp nhau...”.

Dù sao, thằng Nhứt vẫn đòi có ba nó. Ba Thống gặp nó ít quá, như ông khách lạ ghé ngang, và mỗi lần Ba Thống về nó lại bị đem đi gửi ở một buồng bà hay cô nào đó vào ban đêm đến tận sáng. Ba đem cho nó kẹo bánh nhiều, nhưng nó không được ở buồng má, nằm chung giường với má, nghe má kể chuyện đời xưa, được má quạt hay gãi lưng cho ngủ. Ba Thống cho kẹo bánh, chở xe đạp nó đi chơi, mua các thứ nó thích ở cửa hàng mậu dịch thiếu nhi, nhưng nó cứ mê chú Sáu Cam hơn ba nó. Đôi lúc nó tần ngần tự hỏi: “Ba Tám Thống tốt hơn hay chú Sáu Cam tốt hơn?”. Nó thường ngủ thiếp đi trước khi tìm được lời đáp.

Sáu Cam bước vào căn buồng lắp ráp trong khu nhà viện trợ của Hoàng Lan. Đúng cái cảnh mà anh đoán trước: con nằm lăn lộn trên sàn ván, gào thét và quật gáy côm cốp để dọa mẹ, còn cô bạn cũ Hoàng Lan đang thút thít lau mắt:

- Anh Sáu à... nhà hết các thứ nấu nước sôi rồi, mà nó cứ nhứt định tắm nước nóng như hồi còn lạnh... Nó chạy chơi té xuống cống, hôi rình từ cổ xuống dưới, không tắm thì sanh ghẻ lở đủ thứ, Lan làm sao?

Bộ mặt của Sáu Cam với bộ râu quai nón rất oai, bỗng biến thành một dấu hỏi to tưởng với đôi mày dựng ngược, cái mồm mở há như con cá hớp không khí, kèm hai bàn tay xòe giơ cao xin đầu hàng:

- Không phải, chị coi lầm rồi, thằng Nhứt là chiến sĩ quân đội ta kia mà. Nhứt nó theo ba nó đánh giặc khắp ba nước Đông Dương, nó hẹn chắc rồi, đâu có sợ tắm nước lạnh?

Nhứt lồm ngồm chống tay ngồi dậy, rướn mình định đứng dậy, lại ngồi bệt duỗi hai chân chống hai tay. Nó không thể nằm lỳ vì chú Cam cú giụi mắt xem có phải lính Cụ Hồ nằm vạ không, nhưng không đứng được vì sợ mẹ coi như nó chịu thua.

Trên khuôn mặt hơi dài với nước da trắng và đôi mày thưa giống cha, rất dễ thấy những nét bẽn lẽn và hờn dỗi tranh chỗ nhau.

Sáu Cam khoắng tay vào chậu nước bằng tôn đặt chỗ góc buồng, bên chiếc ghế đặt khăn tắm và bộ quần áo sạch, trầm ngâm:

- Con nhà lính, tắm bấy nhiêu nước ăn thua gì. Phải tắm sông tắm biển kia. À mà nước cũng hơi lạnh thiệt đó, hơi hơi thôi, chắc ra khỏi vòi lâu rồi hả?

Nhứt chồm hẳn dậy, kêu như reo:

- Cháu nói rồi, má cứ nói không lạnh gì hếếết!

- Đồng chí Nhứt chú ý, nghiêêêm! (Thằng bé rập chân đứng nghiêm, trên còn áo, dưới cởi truồng). Giờ thể dục bắt đầu! Xuống sân, đi thường, bước!

Hoàng Lan cố nín cười trong khi hai chú cháu bước xuống hai bậc cấp bằng gỗ, tiếp những tiếng hô rất chính quy của Cam:

- Thành một hàng ngang, tập hợp! Phút khởi động bắt đầu, chạy tại chỗ, chạy! Tay cao... tay ngang... tay sau... chạy thường... tay trước... tay cao...

Hai tiếng chân chạy lộp cộp trên nền đất bên ngoài. Chừng mươi phút sau, có tiếng thằng con hổn hển:

- Mệt rồi chú... nực quá... chảy mồ hôi...

- Ngừng chạy, hồi tĩnh, thở đúng động tác!

Cam vọt lên nhà, vơ bộ áo quần sạch, khăn, cái gáo to có cán, cả tấm chăn bông chần màu ka-ki của Lan, chạy xuống chỗ thằng bé đang hít thở bàng cả hai tay lẫn bộ ngực khi cúi khi vươn. Cả hai túm tay nhau vừa chạy vừa cười ập vào một ngăn trong dãy nhà tắm công cộng của khu tập thể đang trống cửa. Lan hơi hoảng: anh ấy có giữ cho con khỏi bị viêm họng, cảm lạnh, bệnh phế quản, hay cứ coi nó như một người lính mà anh chỉ huy?

Mười lăm phút sau, Cam bế xốc chạy về buồng một bó chăn kín bưng, từ đó dội ra tiếng oai oái: “Nực quá chú ơi, cho cháu ra chút, má đâu chú? Má đâu?”

Không một người mẹ nào cưỡng nổi tiếng gọi của đứa con mồ côi cha lên tiếng gọi má. Từ trong đống chăn tùm hụp chợt nhô ra cái đầu đỏ hồng tươi nở của đứa con chuyên bắt nạt mẹ:

- Thích lắm má ơi, má tắm cho con y như chú Sáu nghe má. Ba Thống đi miết, má dặn chú Cam tới miết nghe má!

Sáu Cam và Hoàng Lan đều giả vờ không nghe tiếng gọi của đứa bé. Cam ra đi ngay để tránh những cuộc giảng đạo của bà Ất hay đến vào buổi tối.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #236 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 01:55:43 pm »

*

Một tuần sau lần Sáu Cam quay lại với mẹ con Hoàng Lan ấy, hai người lại gặp nhau ở chỗ Lan ghi hẹn là vườn Bách thảo, dưới chân núi Nùng. Lan không muốn có đôi mắt gia trưởng đến mức chuyên chế của bà Béo luôn tự coi mình là người dang tay che chở cho người cháu xa lắc là Tám Thống. Bà chỉ chuyên phá rối người khác, chẳng giúp được gì ra hồn.

Hai đồng đội cũ đi dạo thong thả quanh các chuồng khỉ, chuồng hươu cao cổ, dừng ở bên chuồng lạc đà có rào sắt và điện khá sáng, như cùng muốn tỏ cho ai đấy gặp tình cờ rằng họ chẳng có gì phải tìm đến chỗ tối. Dưới chân họ còn rải rác những dải giấy và mảnh công-phét-ti nhiều màu chưa quét hết, dấu vết rớt lại của ngày Hội thanh niên mừng Đảng ta ba mươi tuổi. Hôm ấy Cam đi giữa đám bạn cùng lớp, gặp mẹ con Lan, chỉ đưa tay vẫy kín đáo và đi thẳng. Còn may thằng Nhứt không trông thấy, Cam không bị nó réo gọi ồn ào.

- Anh Cam còn giận hả anh? Lan đã nói bà ta hối lắm mà.

- Hối hay không là việc riêng của bả, tôi không biết, cũng không cần biết. Bao nhiêu năm ăn cơm góp thiên hạ, tôi quen ngàn vạn người, hơi đâu để ý đến một bà Béo gặp thoáng qua. Nhưng cố ý gây sự với tôi là dại. Anh Tùng không can, tôi đã xốc tới cơ quan của bả, đưa lá thư bả, ghép bả vô tội vu khống, bôi nhọ danh dự...

- Anh... anh Cam... coi vậy chớ bả tốt bụng thiệt đó anh.

- Tốt hay xấu tôi không muốn để ý. Tôi quý anh Thống tôi thích đến thăm, đưa thằng nhỏ đi chơi, chạy giúp đôi việc lặt vặt. Bây giờ không thích nữa, vậy thôi. Tôi thiếu gì bạn!

Lan tắc họng, mắt bốc nóng rất nhanh, nước mắt đã bắt đầu ứa. Nhưng thói quen ghìm mình của cô bộ đội cũng nổi dậy đúng lúc. Lan buông với cái giọng lạnh ngắt của Cam:

- Tùy ý anh. Về hè!

- Chào Lan.

Mỗi người đến lấy xe đạp của mình dựng tựa hàng rào sắt. Cam gật đầu chào lần cuối, đạp về ký túc theo đường Thanh Niên, biến nhanh. Lan thong thả về theo đường Phan Đình Phùng, lúc này còn đông người qua lại. Cơn tức nghẹn dịu xuống dần, trong khi cả một búi tơ vò những xúc động từ từ dâng lên mãi, nở to mãi. Lan rẽ sang vườn hoa Hàng Đậu, ngồi vào chiếc ghế đá thấp không lưng dựa của trẻ con, úp hai tay vuốt mặt, từ từ cúi đầu.

Hai cậu trai trẻ ngất ngưởng bá vai nhau đi qua, hình như nhậu nhẹt đã ngà ngà. Họ dừng cạnh chiếc xe đạp của Lan, rỉ tai nhau lè nhè nhưng vẫn lọt tai Lan:

- Bò lạc mày ạ. Xe còn mới.

- Mới sơn lại chứ tồng tộc rồi. Tã! Xem con bé thế nào?

Lan đã gặp vài chầu bị ghẹo. Hồi còn mặc mấy bộ quân phục còn lại khi chuyển ngành sang làm y tá, các tay du đãng mới thấy đã lảng xa. Đừng trêu vào các ả “lính cái” mà hốc xực. Con người thì vêu mõm, nó ới một tiếng thì bất cứ ai mặc đồ lính hay công an đều lao tới bênh, mà có đứa sao quả tạ chiếu mệnh tưởng được ôm văn công xinh giòn lại bị các mẹ đặc công khóa tay vất nằm la liệt trên hè phố, đã khốn lại nhục với các bóng hồng nhẵn mặt cứ che miệng cười khi bước qua vội. Lắm đứa ê ẩm quá phải lặn về Hải Phòng hay Nam Định khá lâu, được bạn nhắn tin mới dám trở về Hà thành chốn cũ.

Sau một tiếng è hèm rõ to trong miệng, Lan nhấc cái mũ cứng bộ đội úp lên đầu-dù chỗ gắn quân hiệu chỉ còn là hình tròn sẫm trên mài ka-ki đã bạc, nhưng Lan vẫn đội khi không thích ai nhận ra mình, khi phải trả lời câu hỏi đầu lưỡi: “Đi đâu đấy?”. Đi gặp anh Cam càng phải úp mũ sâu hơn, tận mắt. Hai tay Lan bắt đầu xắn đôi tay áo vét diện nhất bằng xi-mi-li. Hai cậu kia chừng đã nhận ra dấu hiệu chẳng lành, níu vai nhau ngả nghiêng đi tiếp.

Chỉ qua bấy nhiêu phút thôi, những búi tơ vò chợt vỡ tung trong ngực Lan.

Mình là gì hở Lan? Em là gì hở anh Thống? Và... Lan là gì, em là gì đối với anh Cam? Zê-rô. Số không. Một mảnh con gái mồ côi cha mẹ. Một tình yêu vội vã nơi chiến trường nước bạn, trăm trai chỉ có một gái. Một người được thương hại khi tập kết ra Bắc, chồng vắng xa, con nuông đến hư, cần bàn tay đàn ông giúp, phải chiều lụy rất nhiều người để gửi con một buổi bận họp, một tối học thêm, một vài chuyến mua gạo củi và các thứ khác theo tem phiếu, và cả vai trò ngoáo ộp để buộc con chịu tắm rửa hay cho mẹ trốn qua cửa sổ đi chợ.

Còn anh Sáu Cam... Em quen anh lâu rồi, mến anh lâu rồi, cũng bị xa anh quá lâu rồi. Nhưng khi lấy chồng, em lại lấy anh Thống. Nếu ai hỏi tại sao, em sẽ không trả lời được, hay chỉ đáp chung chung: tìm hiểu lâu, thấy hợp nhau, cùng xây dựng. Chung quanh sẽ gật đầu ưng ý cả. Không ai có thể chê trách tí gì về anh Tám Thống, về đám cưới vội vã trước khi tập kết hai người hành quân hai nẻo, mà chỉ có những lời than giùm thở hộ rất thật bụng, sau đó ít lâu là những lời chia vui khi hai ngả đường gian nan lại giáp mối tại miền Bắc, khi đứa con đầu lòng dẫm chân trên đùi mẹ nhảy những bước đầu đời vào chủ nghĩa xã hội. Bà nào, chị nào buồn nhớ đến chồng con ở lại “nằm vùng” trong Nam cũng chỉ cười gượng mà không dài lời kể khổ trước bộ ba rất xứng đáng được sum họp này.

Nhưng, khốn làm sao, Lan cùng với con vẫn luôn cảm thấy có chút gì đấy khang khác giữa Tám Thống và Sáu Cam. Đứa bé chẳng có lỗi gì: ba Thống mang quà về cho nó lắm khi quên lời hứa hay chọn những thứ nó không ưa, dù đã hết lòng thương con: cho một đôi đũa ngà voi rừng, nó lại thích đũa nhựa trắng rẻ tiền hơn; một tượng gỗ lâu năm của đồng bào Tày, nó chỉ chơi vài phút rồi đút gầm giường để mải mê theo chiếc ô-tô sắt tây có chìa vặn cót.

Chú Cam ít đến, nhưng mỗi khi đến thì thằng bé bám chú không rời một phút. Chú không bắt nó ngủ nhà khác xa mẹ, đành rồi. Chú cũng không mang quà gì nhiều, không vuốt ve nó hay khen bé ngoan, bé khỏe, chẳng hiểu vì sao nó cứ coi chú như người toàn quyền ra lệnh cho nó, chú cứ chỉ huy và nó cứ vui vẻ phục tùng, lo lắng khi chưa hiểu ý chui muốn nó làm gì. Và nó chỉ chống chọi từng tí một khi Lan gắng gượng uốn nắn nó.

Anh Thống, anh Cam, các anh có hiểu được lúc này em đang cần một người đàn ông trong nhà không? Khi đánh giặc, em chưa hề bị ai chê là sợ chết, sợ khổ. Đến quãng đời này, sao em mềm nhũn đến thế? Anh Thống qua đời rồi, ai sẽ giúp em đi tiếp chặng đường nuôi con khôn lớn? Anh Cam ư? Dứt khoát không là không. Một người bạn chân tình đã chấm dứt tình bạn, ra đi không ngoái cổ lại. Bà Ất ư? Bà ấy sẽ say sưa cầm quyền bên ngoài đám chồng con đang tìm đường chạy trốn khỏi cái ách độc tài của bà, để thống trị em, dù cháu bà đã hi sinh trên biên giới.

Về đến căn buồng mới được phân mười sáu mét vuông, với các thứ nhà tắm nhà xí mới sửa sang lại nằm cạnh khu chuồng lợn tập thể, Lan sang buồng bên bồng thằng Nhứt về sau khi giúi một gói kẹo mua dọc đường vào tay con chị hàng xóm. Thằng bé yêu quý nhất của Lan vẫn ngủ say, giẫy chân, từng lúc gọi ú ớ, Lan ghé tai nghe. Nó không hề gọi tiếng gì có thể hiểu là Ba Thống.

Lan tắt đèn, ôm ghì con trong tay, khổ thật, nó nói mơ vài lần lại một lần gọi chú Cam.

Làm sao cho nó hiểu, chú Cam đã xóa sổ mẹ con ta ra khỏi danh sách hàng ngàn vạn người bạn của chú? Chú đang xoay xở mọi cách để trở về miền Nam, đâu muốn vướng mẹ con mình? Ngủ yên đi con, đứa con vô cùng yêu và quanh năm làm khổ mẹ, cố gắng ngoan thêm cho mẹ được nhờ...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #237 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 01:56:46 pm »

Trong những ngày làm lại bản khóa luận về văn học dân gian liên khu Năm-Cam cứ phải chấp nhận một cách gọi miễn cưỡng theo kiểu hành chính, vẫn luôn ghi chú thích cuối trang là bao gồm phần đất từ đèo Hải Vân đến Tây Nguyên, giáp với Đông Nam Bộ-cậu sinh viên chuyên mặc áo cũ vá vai hai túi dường như quên cả giờ, ngày, tháng, mặt mày phờ phạc ngẩn ngơ đến quên cả tên các bạn trong ký túc, sau bữa cơm không nhớ đã ăn hay chưa. Cam đang chuộc tội. Mồm cứ cao đàm khoát luận về trách nhiệm đối với vùng đất quê hương, khi viết về vùng đất ấy lại đẻ ra một mớ giấy loại mà người xứ xa cũng phải lắc đầu, quá ư là sượng mặt...

Mỗi mùa thi, ký túc linh động cho phép anh chị em xuống nhà ăn bật đèn học gạo sau kẻng ngủ, nếu là một nhóm năm bảy người trở lên và được trưởng lớp đề nghị. Cam chẳng muốn phiền ai, mỗi tối ôm xuống nhà ăn một chồng sách tham khảo với cây đèn dầu tự sắm, cố moi những tư liệu hiếm hoi về đất nước và con người ở quê mình, từng lúc chép miệng ghen với các bạn đang viết về hát dặm Nghệ Tĩnh hay ca dao vùng mỏ, dân ca Mường Thái Tày Nùng, có thể săn lùng tư liệu tại chỗ, không bị giới tuyến nào cắt ngang. Sau mỗi buổi lên lớp, Cam lại hớt hải chạy tìm các ông bà đồng hương cao tuổi, chỉ có thể gặp ngoài giờ hành chính, cùng nhau chìm đắm vào những chuyện xa xưa, cố ý không biết đến những vòng xoáy trôn ốc của các con cháu khua chén đĩa mỗi lúc một to, cùng các bà vợ gốc Bắc cưới sau năm tập kết rất cả ghen và đầy nghi ngờ cứ đem mũ và áo mưa của Cam đặt thành đống trước mũi khách, tiếp đó lại bảo người nhà bưng mâm cơm đặt đè lên tất cả mớ giấy tờ bày trên mặt cái bàn tự đóng bằng gỗ thùng, phủ lớp ni-lông cho dễ lau. Đó là tín hiệu cuối cùng buộc khách ra về, còn may đó là một cậu trai trẻ có thể làm rể gia đình, chứ không phải ả đang ngứa ngáy kiếm chồng theo khẩu hiệu mới là “tình yêu lớn không bằng đám cưới nhỏ”.

Rồi bản khóa luận mới cũng xong. Theo lệ thường, lớp trưởng Tùng xua tay hối hả: “Tớ biết gì mà đánh giá! Cậu đưa thẳng lên bộ môn, lên khoa, đừng hỏi tớ!”. Nhưng Sáu Cam biết rõ anh trốn xuống nhà ăn vào lúc vắng, kín đáo đọc bản khóa luận đến khuya, sáng hôm sau đưa trả với một nhận xét rất gọn: “Có thể điểm năm”. Các trường hồi ấy đều cho điểm phân loại từ 1 đến 5 theo kiểu Liên Xô. Một tuần sau, Cam được bộ môn văn học dân gian biểu dương trước lớp, trên khóa luận có hai thầy một cô đều cho điểm năm bằng mực đỏ, kèm theo những lời khen nhiều mức độ và chữ ký rất chính quy.

Ông bạn Lê Tùng được Cam kéo ra một quán cóc gần ký túc đãi một chầu cà-phê, cà phê phin hẳn hoi chứ không phải thứ cà-phê túi hay bít-tất đun từng nửa lít trên bếp than quả bàng bán rẻ tiền cho học trò và các lớp dân nghèo khác, kèm theo khoai sắn luộc. Một thứ nước đăng đắng lờ lợ có họ hàng xa với những giọt đen đang rỏ trong ly. Thuốc lá Hoàn Kiếm năm hào mốt một gói, bằng năm trăm đồng cũ, hút từng điếu lẻ cũng vừa túi tiền.

Anh Tùng dặng hắng vài lần trước khi nói khẽ:

- Mấy đứa mình quen có hỏi hộ cậu... (Cam nghĩ nhanh: ông ở Tổng cục chính trị nhiều năm, quen rộng khiếp!). Trung ương mới chọn một số rất ít đưa vào miền Nam cậu ạ. Mười hay mười lăm đơn mới lấy một. Trong ấy mới cho dùng vũ trang để tự vệ thôi, chưa được đánh to như hồi chống Pháp đâu. Nhiều đồng chí mình cắt máu viết đơn vẫn chưa được duyệt. Cậu đừng nản, đừng rầu Cam nhé. Học nữa đi, học nhiều vào, miền Nam đang thiếu trí thức cách mạng để sắp tới ăn nói với trí thức trong thành.

Ông bạn lớp trưởng nói dè dặt, ngả sang chuyện quấy tếu.

Sáu Cam đột ngột được gọi lên gặp Ban giám hiệu mười hôm sau, đầu giờ văn học Trung Quốc. Cạo hay khen, giao thêm việc hay bớt việc, giảng đạo đức hay đánh giá học lực? Trong mười lăm phút ngồi chỗ cô văn thư, chờ Ban giám hiệu xong việc hỏi đến, Cam chỉ ngồi lim dim mắt, không để ý đến cô văn thư niềm nở rót nước chè mời không giống lệ thường, cũng chẳng biết cô ngừng tay đánh máy để ngắm khá lâu cậu sinh viên áo lính.

Được gọi vào phòng hiệu trưởng, Cam gặp ba người đợi sẵn. Bác bí thư Đảng ủy, anh phó phòng tổ chức trẻ hơn, và một ông tóc hoa râm nói giọng Cực Nam Trung Bộ, quãng từ Nha Trang đến Phan Thiết, được giới thiệu là “đồng chí vụ phó trong Ban tổ chức Trung ương”. Cam nhận thấy ngay: không nói tên, không xưng vụ nào trong Ban, nhưng đang cầm tập hồ sơ do Cam tự viết tay đã nộp thẳng lên Ban tổ chức, qua bác chủ tịch Hội đồng hương tỉnh Quảng Nam chứ không nhờ nhà trường chuyển.

Sau Nghị quyết Trung ương Đảng giữa năm 1959 cho phép Đảng bộ và cơ sở miền Nam tự vệ bằng vũ trang, trong mấy chục vạn cán bộ và bộ đội miền Nam tập kết cùng bà con họ hàng gốc Nam gốc Bắc của họ đang diễn ra nhũng đợt sóng ngầm dữ dội. Gọi là sóng vì mỗi gia đình đều cảm thấy nền nhà rung chuyển, khi người chủ gia đình hay mấy đứa con mới lớn lên đùng đùng bỏ việc, bỏ học, đòi lao về miền Nam đánh Mỹ-ngụy.

Gọi là ngầm vì tất cả những vụ mộ quân gọi lính ấy đều diễn ra trong vòng tối mật, bên ngoài bộ máy Đảng và Nhà nước cùng các tổ chức bên dưới. Các Đảng ủy và thủ trưởng chỉ được biết một đồng chí A hay B nào đấy được điều đi công tác đặc biệt, cắt biên chế, cắt hộ khẩu, xóa tên trong quỹ lương, hiểu sao đó thì hiểu, muốn đoán mò là đi miền Nam, sang Lào, sang Cao Miên, đi làm tình báo chiến lược ở bất cứ nước nào trên trái đất cũng chẳng cần biết.

Những người từ chối nhiệm vụ đặc biệt này cũng không ít. Vô vàn lý do được nêu lên để lẩn tránh: sức khỏe kém, đang say mê công tác, nặng gánh gia đình, nghề chuyên môn không hợp với miền Nam lúc này... ông Ba Mậu, ty phó một ty Giáo dục tỉnh đang cố ngoi lên làm ty trưởng, đã rặn ra ho khan một hồi khi được cán bộ đến thăm dò. Ông khôn hơn nhiều so với một trí thức khác khi nói toạc móng heo rằng “đưa vào miền Nam chỉ nên thí quân chứ không nên thí tướng”.

Ông vụ phó trước mặt Cam lúc này nom hiền như ông bụt. Ông lơ đãng lật từng tờ trong hồ sơ của Cam, cất giọng rì rì:

- Hồi đánh Tây, tôi được dịp tới Tây Quảng nhiều lần, gặp anh Cả Chanh, anh Năm Chò, bác Tư Chua, chị Hai Thùy... ai cũng nói thằng Sáu Cam, xin lỗi, là đồng chí Phan Cam đây, phải là người học giỏi nhứt trong huyện, ít nhứt là trong họ Phan... Nguyện vọng vậy, ta không bu theo đâu, nhưng chánh sách chung là ai đang học nửa chừng ở miền Bắc thì không rút vô Nam. Hoãn lại ít lâu thôi, chắc đồng chí Cam thông cảm... Tốt nghiệp rồi, xin hẹn đem xe tới rước!.

Cả xấp hồ sơ xin về Nam của Cam được gửi lại Đảng ủy nhà trường. Khi bác bí thư Đảng ủy hỏi lần cuối: “Thông rồi chứ?”, Cam chỉ cười gượng, đáp kiểu con nhà lính: “Chưa thông thì đả cho thông”, theo kiểu chỉnh quân hồi cuối kháng chiến, quen nói “đả thông tư tưởng”.
Thôi thì đành, học đi, gián tiếp làm gì cho miền Nam cứ làm đi Cam ơi, đừng vùng quẫy thêm rối chuyện.

Sáu Cam lại lao vào học như đứa dại gái, săn lùng tài liệu hiếm hoi về cụ Đồ Chiểu và các tác giả hữu danh cũng như khuyết danh ở liên khu Năm, ghi đầy nhiều cuốn vở trăm trang về tư liệu văn học, tiếp đó lại ngồi thừ ra hàng giờ để coi lại mình đã làm việc có ích hay vô dụng. Mãi đến khi một tạp chí lớn của trung ương đăng bài khóa luận về văn học liên khu Năm của Cam, có sửa đôi chút nhưng kèm theo Lời tòa soạn khen ngợi kha khá, Cam mới nghĩ rằng mình có thể đóng góp tí xíu nào đó cho quê mình.

Duy có một điều Cam cố giấu mà vẫn bị lộ: Cam bỏ tập điền kinh khi dứt môn đẩy tạ, phóng lao, chuyển sang xà đơn, xà kép, xà lệch. Anh huấn luyện viên thúc ép mãi không được, cáu sườn, lên Phòng tổ chức nhà trường lục xem hồ sơ chuyển ngành của Cam, lật tẩy được cậu lính cũ này bị tật ở khuỷu tay trái, chỉ còn xấp xỉ một nửa mức thường. A hà hà, người ta khai tăng thương tật để lĩnh thẻ thương binh loại cao, còn hắn cố giấu thương tật để xin về đánh Mỹ ở miền Nam, không chịu đi giám định thương tật. Anh huấn luyện viên chỉ quen đánh giá con người theo số điểm thi đấu, phải mất mấy ngày băn khoăn trước khi gạch tên Phan Cam trong số gà nòi của anh sắp dự thi sáu môn, tám môn, mười môn phối hợp giữa các trường đại học và cao đẳng toàn miền Bắc.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #238 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2016, 01:58:36 pm »

*

Từ trường bồi dưỡng những người vào Nam, anh Năm Chò tạt về thăm Cam. Con người anh không hề đổi khác: vuông vức, đen như củ súng, tóc cắt ca-rê, áo quần con nhà lính. Chỉ khác khi anh nói và viết: ở nông trường Sao Vàng anh đã học hết chương trình cấp Một, lấn sang cấp Hai, và mấy tháng chính trị học chính quy cũng giúp anh nhích cao hơn thời làm thợ đào than ở vùng mỏ.

Anh nói thật tình:

- Hồi trước tao nói với mày miền bắc bỏ rơi miền Nam là sai nặng, Cam à. Không phải vậy. Dạo đó Đảng mình lo sửa sai, tao quá ngán rúc xuống lòng đất đào than kiếm tiền, bạn bè ca kíp chẳng hiểu gì hơn tao, tốt bụng thiệt đó mà dốt chánh trị cả lũ... Chỗ nông trường Sao Vàng đón anh em miền Nam ra nhiều lắm, ngày đêm bàn tính chuyện giải phóng miền Nam cách nào ít tốn xương máu nhứt. Anh em ra đi nhiều rồi. Đứa nào cũng đổi tên, làm lý lịch giả, để bọn ngụy trong kia khỏi làm hại cha mẹ vợ con. Học chánh trị ở trường Sơn Tây lu bù, còn thêm những đêm thề giữ khí tiết cách mạng, thà chết không khai báo, úi cha cha! Là tại ủy ban quốc tế cứ ngả nghiêng hoài, bọn Mỹ-Diệm trong kia la ó rầm trời là ta đưa từng trung đoàn, sư đoàn miền Bắc vô đánh nó, mỗi đứa nói một phách, cả thế giới đang chưng hửng...

Thế nhưng động đến số phận của Cam thì anh vẫn cắn cưa, trước sau như một:

- Học đi em, học giỏi đi cho làng xóm với bàn dân thiên hạ được nhờ. Bao nhiêu lý lẽ, anh Cả mày với cả nhà nói hết rồi, thành nghị quyết rồi, cứ vậy mà làm, đừng ý kiến ý cò lôi thôi!

Không sao cưỡng được nữa, Cam chịu khuất phục. Chỉ còn biết cười chua chát:

- Tiếu tựa văn nhân lạc đệ thì...

- Là sao?

- Cười như cậu bé hỏng thi... Coi như em thi rớt một keo chớ sao!

Anh Năm trở về Sơn Tây, hẹn sẽ đến thăm Cam nhiều hơn. Dạo này chuyển sang học quân sự, số cán bộ dân chính lóng ngóng vất vả trong khi lớp chỉ huy chiến đấu cũ được rảnh rỗi hơn.

Guồng máy của đời học trò quay mỗi ngày một nhanh khi tiết trời ấm lên và đợt kiểm tra cuối năm nhích dần tới. Cam không còn trằn trọc trên “kiến trúc thượng tầng” của chiếc giường ký túc nữa. Chẳng biết có bàn tay sắp xếp của lớp trưởng Lê Tùng không, mà cả lớp đột ngột bầu Cam làm cán sự bộ môn lý luận văn học, một việc hóc búa bị sinh viên đùn đẩy cho nhau, ngay Cam cũng đã một lần từ chối trong khi chờ trên xét đơn xin về Nam. Lần này thì nhận. Làm việc chúi mũi cho nguôi thất bại, phần nữa cũng vì các thầy chủ nhiệm Khoa và bộ môn gọi Cam lên dỗ dành khá lâu.

Kết quả học tập của sinh viên đang xuống dần đến mức báo động.

Đầu năm ngoái, sau hai tháng về giúp nông dân gặt mùa làm chiêm và xây dựng các hợp tác xã thí điểm, nhà trường rầm rộ phát động phong trào “cần công kiệm học” theo kinh nghiệm các trường Trung Quốc, song song với phong trào “tiến nhảy vọt” trong các ngành kinh tế. Các đoàn tham quan Trung Quốc về đi báo cáo về những chuyện thần kỳ: ruộng lúa cao sản tới bốn chục hay sáu chục tấn một công mẫu, lợn cắt mẩu tai và ăn phân trâu to bằng con bò, gang thép nấu bằng rơm rạ đã vượt nước Anh...

Trường đại học Tổng hợp I say mê nhảy vọt. Sáng chế, sáng tạo, sáng tác, sáng kiến... Ai cũng thấy mình đang đổi mới tất cả các ngành khoa học tự nhiên và xã hội đang bị tư tưởng sùng bái phương Tây đè bẹp dí, kẻ nào dám nhắc đến các sách giáo khoa Âu Mỹ hay cả của Liên Xô, Đông Âu nữa, đều bị coi như phần tử phái hữu, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu, gì gì nữa. Lồ hũ, là tiếng quen nghe mỗi khi ai đó rụt rè nêu câu hỏi về những bức ảnh chụp năm bảy chục người đứng trên ruộng lúa cao sản sắp gặt mà bông lúa không hề lún.

Còn rất may là Đảng ta, nước ta không bắt chước rập khuôn bất cứ ai. Kể chuyện nước bạn cứ việc kể, ta cứ làm theo hoàn cảnh của ta, tránh được nạn đói và nỗi thất vọng sau đột bốc đồng “phấn đấu ba năm, hạnh phúc muôn đời”.

Nhưng sinh viên năm thứ nhất và thứ hai học kém đi khá rõ. Cán bộ giảng dạy nhắc nhở ngày một nhiều, cho điểm kiểm tra ngày một thấp tuy bị sinh viên chê trách là mắc bệnh “chuyên môn thuần túy”, đôi khi bị ghép vào tật “sùng bái phương Tây”.

Một loạt cuộc họp chẩn bệnh và chữa bệnh diễn ra khắp các khoa. Kết quả nhiều chỗ trái ngược nhau. Bên phía khoa học tự nhiên, như Toán, Lý, Hóa, Vạn vật... số đông cán bộ và bộ đội đi học bị đuối, phải xếp số học sinh phổ thông lên giúp đỡ, giảng lại bài, không kể giờ các thầy cô phụ đạo. Còn phía khoa học xã hội thì ngược lại: quá nhiều học sinh trẻ ngẩn ngơ trước những tác phẩm Văn, Sử, Địa hoàn toàn xa lạ đối với những học sinh chưa một lần bước ra khỏi các thành phố bị Pháp chiếm, đọc các cuốn sách của tác giả kháng chiến cứ như chim chích lạc vào rừng. Phải mất nhiều thì giờ để cho họ hiểu đời sống của bộ đội, du kích, dân công, súng K.50 là thứ gì, mìn muỗi nó ra sao, tại sao chiến trường Đông Dương lại chia lắm khu vực đến thế, và miền Nam nước ta đối với họ là một vùng đầy bí ẩn như lưu vực sông A-ma-zôn hay các dải đất cực bắc Xi-bir của Liên Xô chưa được khai phá.

Khoa Sử ngừng nấu các thứ hóa chất gây quỹ. Khoa Ngữ Văn ngừng bán sách lăng nhăng trên tàu điện, ngừng nấu xôi sáng bán ở cửa ký túc. Ai cũng muốn “cần công kiệm học” theo đúng ngành nghề, nhưng sinh viên Sử mới vào trường thì ai chịu chi tiền cho đi nghiên cứu Sử, khoa Ngữ Văn muốn lập nhà in thì ai chịu bỏ vốn cho số tài tử ấy mở nhà in? Và ai chịu in những tập lạo thảo ấy của những kẻ mới tập tọng vào nghề?

Lại phải quay về với lời dạy của Lê-nin thôi? “Học, học nữa, học mãi”.

Và Sáu Cam, sau bấy nhiêu tháng băn khoăn chao đảo, lại tìm an ủi trong học tập và công tác.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #239 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2016, 10:23:57 am »

Chương 5


Dường như trước mặt Mỹ Duyên, tất cả khối tự tin của thiếu tá Ung Viết Khánh bị rã rất nhanh như những lâu đài đắp bằng cát bãi biển gặp con nước dâng.

Bà dì Ba kiêm nhân tình nhân bánh năm xưa của Hai Khánh vẫn diện như bà hoàng, theo mốt mới nhất châu Âu. Vẫn cái túi dết cồm cộm bên sườn, chứa máy ảnh, máy ghi âm, một sổ tay có thể lột rời từng tờ, năm bảy cây bút bi, và ai biết có cây súng ngắn 6 ly 35 kiểu bật lửa hay bút máy?

Đây là lần gặp thứ năm giữa hai người tình cũ. Hai lần gặp sau khi Khánh về Đà Nẵng, còn ở nhà ông cha dượng Phủ Đỉnh, phải hẹn nhau ở bãi tắm Mỹ Khê ở đoạn bờ biển vắng nhất. Dồn đi xóc lại, Mỹ Duyên chỉ muốn hiểu một điều: Khánh về thành do Việt Minh gài vào hay tự nguyện?

Lần thứ ba, Mỹ Duyên đến căn nhà ông thầy dạy tư tiếng Anh Pháp, thuê riêng trong một ngõ hẻm đầy dân Hoa kiều, lánh xa mọi thứ gì dính dáng với chính quyền Bảo Đại và Diệm khi các phe thân Mỹ và thân Pháp sắp nổ súng diệt nhau.

Sau những giờ ái ân mê cuồng, Hai Khánh kể hết sự tình:

- Anh mệt rồi, kiệt sức rồi sau bấy nhiêu năm theo kháng chiến. Me anh, các em anh, cả em nữa Mỹ Duyên à, cả ông Phủ Đỉnh, ở lại hết trong này. (Anh đủ tỉnh táo để không nhắc tới đứa con không thừa nhận và cô Hai Thùy không ngớt ám ảnh mình). Anh muốn trở lại cảnh sống bình thường của một trí thức bị cuốn vào con xoáy lốc của chiến tranh, nay trở về với nghề chính của mình. Anh nhận dạy các trường tư tiếng Anh, tiếng Pháp, kiếm đủ sống để soạn sách giáo khoa sinh ngữ. Kháng chiến chắc không nỡ bắt tội anh đâu, Duyên ơi!

Kháng chiến không bắt tội, nhưng một loạt hành động đáng ngờ của Khánh gây nên tội.

Hàng loạt sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp được ta trao trả nhận ra ông trưởng trại tù binh chuyên giảng bài và rất nhân từ đối với họ đã về Đà Nẵng, ở chung nhà với ông phó tỉnh trưởng mà ông ấy gọi là pa-pa. Họ báo nhau, rủ nhau, kéo từng nhóm đến thăm ông Khánh, kéo ông ta đi những cuộc ăn nhậu triền miên do các sĩ quan Pháp vung tiền ra đãi trước khi quân đội viễn chinh Pháp bị buộc phải cuốn gói khỏi Đông Dương, nhất là sau khi dân thuộc địa An-giê-ri bắt đầu nổi loạn...

- Đông Dương khác Bắc Phi. An-giê-ri sát nách nước Pháp, là lãnh thổ Pháp, người Pháp định cư đông vô số, không cựa quậy được đâu!-Các sĩ quan quân viễn chinh Pháp đều ít nhiều tin như vậy, dù trên trán mỗi người còn in chấm đen kinh khủng của Điện Biên Phủ, không tẩy được.

Ngài tỉnh phó cha dượng của Khánh, dù bỏ vùng Việt Minh về với quốc trưởng Bảo Đại với nhiều công lao làm việc cho quốc gia trong lòng địch, tỏ vẻ băn khoăn ngày càng rõ. Ông tránh không dự các cuộc đổ bộ ồn ào của quý vị đội mũ hình ống bơ vào nhà, chỉ chào lịch thiệp rồi né lên gác hay gọi lái xe ra phố. Bà mẹ Hai Khánh theo em gái định cư ở Sài Gòn với đứa con gái duy nhất chịu theo mẹ, không phải nơi ông đến. Trong số con hai trai hai gái của bà Lợi Thịnh nửa Bắc nửa Nam xưa kia, thằng Chương nhạc sĩ lang thang đã theo hẳn Việt Minh tập kết với các bạn văn công của nó, thằng Khánh chán đời chỉ muốn sống đời cao ẩn ở thị thành, con Chuân chạy lên xuống giữa khu vực ba trăm ngày Hải Phòng với Hà Nội đã giao cho Việt Minh tiếp quản, bỗng phải lòng một anh đại đội phó Việt Minh và vù trở về Hà Nội theo người yêu, chỉ bỏ lại một lá thư xin lỗi khi me và em sắp lên tàu biển vào Nam. Bà Lợi Thịnh xuống tàu di cư với đứa gái út và một bà em gái túm tay dẫn đi như người mộng du, khóc thút thít, còn may chưa bị mất hết của cải như lắm người khác. Hơn trăm lạng vàng đem theo còn nguyên, đủ cho bà mở lại một cửa hàng buôn vải cùng áo quần may sẵn nuôi hai mẹ con ở Sài Gòn, gần khu Chí Hòa lắm khách mua đồ rẻ. Nhưng đầu óc bà bị rối đến mức cô Nguyệt con út phải nháy mắt ra hiệu mỗi khi mua bán, để quý khách đừng băn khoăn khi bà chủ hiệu bắt đầu lảm nhảm chuyện xưa chuyện nay.

Đến lúc nào đó, ông Phủ Đỉnh đóng cửa phòng khách và nói riêng với Hai Khánh:

- Khánh à, ba nói con đừng giận, đám sĩ quan Pháp tới nhà mình nườm nượp kiểu đó đang gây vô số khó khăn đó con à!

- Lạ chưa?

- Ba cũng biết chuyện lạ. Có điều... Thủ tướng Ngô Đình Diệm sắp sửa lật nhào ông Bảo Đại đó con. Tức là Hoa Kỳ hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương. Con đừng dính nhiều với bọn sĩ quan Pháp sắp sửa rút lui, gây rắc rối cho con, cho ba nữa...

Tìm chỗ trốn mà vẫn không yên, Khánh nghĩ vậy. Vào Hội An hay Sài Gòn, tìm đâu ra chỗ dạy tư kiếm ăn, hay trúng nơi người khôn của khó khi người Bắc di cư vào ồ ạt với tất cả ưu tiên dành cho công giáo? Khánh lại loay hoay tìm ra một căn buồng cho thuê còn trống vì cả nhà theo đạo Phật không muốn cho dân Bắc di cư vào ở chung, giá vừa phải, lại từng biết anh Khánh đã từng theo kháng chiến chín năm nên tình riêng có trọng nể hơn. Khánh về ở đấy sau khi cảm ơn ông cha dượng.

Ông phủ Đỉnh không nói ngoa để đuổi Khánh, còn giúp anh thu xếp dạy tiếng Pháp và Anh ở bốn trường tư với lương hậu hĩ, còn dạy thêm mỗi tuần hai tối cho các bà vợ công chức và sĩ quan cấp cao muốn giúp chồng con thêm lương thêm lon. Trong những trận nổ súng dữ dội cố diệt nhau giữa hai phe thân Mỹ và thân Pháp, có hai ông chủ đàng sau giúp sức giúp mưu, ông phủ thoát và Khánh cũng không bị quấy rầy.

Lẻ tẻ trong các lớp Khánh dạy hiện ra những khuôn mặt mới: mấy sinh viên và học sinh trẻ lần lượt vượt tuyến vào Nam sau khi hết hi vọng ở hiệp thương và tổng tuyển cử để thống nhất hai miền, ít nhất cũng để đi thăm gia đình ở miền Nam. Khánh rủ họ ra bãi biển Mỹ Khê hay Thanh Bình, cà rà hỏi chuyện ngoài Bắc. Khác với số “nạn nhân cộng sản” ăn tiền của Tâm lý chiến hay Công dân vụ đi nói thuộc lòng mấy bài tố cáo tội ác cộng sản ở hàng trăm lớp tố cộng, số này kể thật tình hơn. Họ không ghét gì chế độ miền Bắc cả. Sau đợt sửa sai, miền Bắc khỏe hẳn lên. Miền Bắc dạy học miễn phí, sinh viên được Nhà nước nuôi, chưa khá lắm đâu nhưng gọi là đủ sống, vào Nam họ mới luống cuống khi phải kiếm tiền ăn ở và trả học phí ngày càng tăng. Ờ, mấy ông Nhân văn-Giai phẩm-Đất mới ra báo tư, công kích Đảng Lao động hay chủ nghĩa xã hội, tùy các ổng thôi, học trò bù đầu với giáo khoa giáo trình chỉ đọc lướt qua cho biết. Chỉ có điều là các gia đình miền Nam gửi con ra học Hà Nội bị chia cắt ở vĩ tuyến 17, là chương trình khoa học xã hội phải sửa lại gần như hoàn toàn trong khi các thầy cô giáo lóng ngóng chưa soạn được giáo trình mới, là các trường chuyển sang dạy ngoại ngữ bằng tiếng Nga tiếng Hoa trong khi họ chỉ chuyên học tiếng Pháp tiếng Anh từ nhỏ đến lớn.

- Thầy biết đó, con cá hồi sinh ở nước ngọt, lớn lên xuôi dòng sông ra biển, khi sắp đẻ lại từ xa ngàn dặm tìm về bơi ngược dòng nước ngọt đã nở ra mình, dù trải bao nhiêu thác ghềnh, đập nước, lưới chặn, cứ nhất định quay về gốc tích. Cóc chết ba năm quay đầu về núi. Thầy đừng nghĩ xấu cho bọn con...

Khánh không nghĩ xấu về họ, nhưng cũng bớt xấu hổ vì mình, đỡ áy náy cho thân phận mình, vì đã né tránh không đi tập kết. Ra đấy, còn địch đâu nữa để Khánh làm cán bộ dạy tù binh. Ai học tiếng Pháp để Khánh đi kiếm một chân giáo viên trường công hay tư. Ngoại giao với các nước phương Tây còn rất sơ sài, và Khánh đâu có được tin cậy để lọt vào ngành ấy. Được chiếu cố đến mấy cũng chỉ làm một chân dịch bản tin thông tấn xã hay tài liệu tham khảo trong xó vắng nào đó bên rìa bộ máy Nhà nước khổng lồ để chờ đến ngày về hưu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM