Ngày hôm sau, Khánh như người mất hồn, cầm gì rót nấy, mắt trũng thành bọc. Các đồng sự đều tưởng vì thằng Chung trộm xe, họ thi nhau kể những chuyện “con là nợ, vợ là oan gia” để Khánh thấy còn những tai họa gia đình lớn hơn nhiều. Càng nghe càng ù tai nhức óc, Khánh xin phép về nhà thu xếp. Chàng lăn ra ngủ, chỉ dậy một lần khi xưởng sửa xe quân sự được phái đến lấy xe về tu bổ. Sợ lộ phần máy ngụy trang, chàng từ chối khéo, nói xe có bảo hiểm, đợi họ đến coi hư hại đã, sau đó bán quách vì nó tã quá rồi. Vẫn chưa đủ bình tĩnh để nhìn lại bộ mặt câng câng của thằng ôn con. Đến chiều, bỏ cơm trọn ngày, Khánh mặc đồ thường đi Hon-đa ôm đến khách sạn Hảo Gia. Bà chủ nhìn Khánh xoi mói:
- Thưa ông, bà nhà trả buồng đi nơi khác rồi, không để địa chỉ. Xin lỗi ông, hình như ông bà có chuyện gì... không vui... Bà khóc đến sưng mắt, sáng sớm đã kêu bồi lên xách va -li, kêu tắc-xi...
Khánh cười gượng:
- Tính nết nhà tôi xưa nay... Máu ghen đủ đánh vài chục đĩa tiết canh, nghe đồn chồng có mèo mỡ là lồng như ngựa chứng...
Đêm ấy, Khánh nhảy đến giờ giới nghiêm với các cô ở khách sạn Pacific, được một vũ nữ quen dìu về nhà mình khi quá say, cũng được cô chăm sóc gần như Mỹ Duyên đêm qua.
Được đánh thức kịp đi làm, Khánh uống vội một viên a-xpi-rin, một viên tăng lực Mỹ kèm cà-phê nữa. Trong khi Khánh mặc áo quần và chải tóc, cô kia hỏi Xi-mo-nét là ai mà anh lảm nhảm hoài vậy. “Ờ, một cô đầm lai ở Nha Trang vừa đá đít anh để làm me Mỹ. Chuyện đó bây giờ như cơm bữa, sức mấy mà kể!”. Cô kia thấy Khánh kín đáo đút bốn tờ năm trăm vào ngăn kéo bàn đêm. Cô chìa môi:
- Vội tới mức không kịp
mi-mi kia à? Mà thôi, sáp môi em hay dính lắm, anh đi đi!
Tay sĩ quan quân pháp cắp cặp đến gặp Khánh hỏi các giấy tờ về thằng Chung, rồi nói thân:
- Thằng nhỏ con toa đủ tuồi ra tòa. Toa muốn xử kín là phải. Mà moa sợ vô nhà tù, nó quen thói con ông cháu cha, nó bị bọn trùm nhét dẻ phủ mềm uýnh chết tuơi. Trại Thủ Đức không nhận số híp-py lớn. Trại Phú Quốc giam tới hăm mốt tuổi, chẳng thiếu bọn ba dao bảy búa xin ở lại để tránh đi quân dịch, ba mươi tuổi còn ở trại trừng giới làm Khuyển Ưng cho bọn cặp-rằng, sếp lao, sống như vua con.
- Toa thấy moa nên làm gì?
- Xin cho đăng lính, rồi thí chút cho bọn chỉ huy để cho nó làm bàn giấy, làm lính kiểng lính ma...
- Rồi nó lại về rửa hận với moa!
- Phóng đại mấy tấm hình của nó giao cho trạm gác ngoài, bót gác trong, không cho vô. Ra khỏi nhà nhớ phòng bị. Thỉnh thoảng gởi cho nó đôi chút, đói ăn vụng túng làm càn mà. Toa làm tâm lý chiến biết hết rồi. Hay là nhờ ông Lâm đẩy nó vô Lục tỉnh, về sư đoàn nào đó coi chữ thọ trên hết, như sư 25 sợ Cộng hơn sợ cọp.
Ngày chủ nhật, Khánh đến quân lao gặp con. Giữa mớ tóc râu bù rối, Khánh vẫn nhận ra khuôn mặt giống hệt mình với đôi mắt gườm gườm và cập môi bĩu dài khinh bỉ. Đứa con muôn vàn đáng yêu luôn đòi
mẹ Xùi “xương con một xí”, về với Khánh đã là bướm hóa ra sâu róm, không giết thì phải tránh.
Nghe Khánh nói sẵn sàng bảo lãnh cho ra khỏi quân lao, nó buông thõng:
- Cho biết điều kiện.
- Con đi quân dịch ở chỗ xa bom đạn, ba tiếp tế cho con dùng.
- Ông phải lo cho thằng Chín, là thằng sửa xe đó, đang nằm y tế quân lao, ra cùng một lần với tôi. Mấy tháng bó bột là lành thôi.
- Ty công an nói nó ăn trộm
xế đôi,
xế tư đến hơn chục vụ...
- Bao nhiêu lần kệ nó. Vụ này tôi với nó uống nước cống ăn thề, cùng sống cùng chết. Cả băng cũng tuyên thệ sẽ xử tử đứa nào lừa thầy phản bạn. Một mình tôi ra khỏi tù, cả bọn xỉa dao chết liền một khi!
- Băng của mày có những ai?
- Bí mật nhà nghề. Luật giang hồ không cho phép khai.
- Tao ra rìa hả?
- Tùy ông nghĩ.
- Vậy là hết tình nghĩa cha con. Trả mày cho pháp luật xử.
Lần đầu, Chung thấy người cha lạnh như đồng. Nó đã đi quá mức chăng? Khi Khánh ra cửa nhà giam, nó hét to:
- Ba để con chết sao, ba?
Khánh chỉ quay lại một loáng với vẻ mặt hóa đá, bước đi thẳng. Nó đã quên sức chịu đựng của ai cũng có hạn. Nó ngã vật xuống sàn xi-măng lạnh, khóc rống lên. Chẳng ai nghe tiếng khóc trong xà-lim kín.
Ba ngày sau, một nhóm cảnh sát đến xích ngoặt tay nó ra sau, đẩy lên xe cây bịt bùng, đưa đến một trại giam có đề chữ ngoài “lao công đào binh” tuy nó chưa hề là binh và chưa hề đào. Nó bước vào đoạn đời nối với tất cả khinh ghét của những người gác tù, là lính dân cày ít học nhưng đầy hằn học đối với đám công tử bột ở thành thị, ăn chơi xả láng trong khi họ và người thân của họ chịu đói khổ trăm đường. Roi đòn, phạt đói, nhốt hầm phủ lưới dưới nắng trưa, xà-lim biệt giam bịt bùng với cơm đổ xuống sàn nhà và mỗi ngày hai ca nước lạnh… Đến nỗi tù lao công đào binh được đưa đi lao động khổ sai mỗi ngày mười tiếng là tự coi như lên nước Thiên đàng.
Suốt tháng, Khánh không sao tìm ra địa chỉ của Mỹ Duyên. Chi nhánh AFP ở Sài Gòn chỉ trả lời bằng thư rằng bà Xi-mô-nét đã xin nghỉ phép tại Pháp và Thụy-sĩ. Sau đó, Khánh được thư của Pháp quốc ngân hàng báo tin bà Xi-mô-nét Mỹ Duyên ký giấy trả nợ cho thiếu tá Ung Viết Khánh năm triệu đồng, xin mời đến nhận chi phiếu tại AFP Sài Gòn, nhận tiền mặt hoặc mở tài khoản tại chi nhánh ngân hàng, trong hoàn cảnh chiến tranh không thể giải quyết bằng điện tín, điện thoại để chuyển khoản ra Đà Nẵng được.
Khánh đã để cái phao cuối cùng tuột khỏi tay. Chàng vẫn còn sức bơi, nhưng chỉ bơi một mình giữa cơn bão mỗi ngày một hung hãn.
PHAN TỨ
HẾT TẬP III
Nhà văn Phan Tứ dự định viết tiếp tập IV hoàn thành trọn bộ tiểu thuyết này.
Nhà xuất bản đã liên hệ với gia đình tác giả, được biết tác giả đã không kịp viết tập IV trước khi mất.
Vậy Nhà xuất bản xin thông báo để bạn đọc biết.