Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:24:07 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sau màn sương lạnh  (Đọc 36236 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Mountain King
Thành viên

Bài viết: 2


« vào lúc: 21 Tháng Chín, 2015, 08:43:16 am »



Tên truyện: Sau màn sương lạnh
Tác giả: Trần Hữu Tòng
Số trang: 170
NXB Hà Nội - 1982
Số hóa: Mountain King, dungnuocgiunuoc
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Ba, 2020, 11:14:27 am gửi bởi Giangtvx » Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #1 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2015, 08:56:41 am »

Tôi cũng có quyển này và bị mất một số trang. Hiện giờ sách cũng đã bị bán trộm mất rồi. Trước đây có gõ được một phần. Nay gửi lên đây.


Người mang số hiệu 1.10.49

Đồn trưởng biên phòng gấp tập hồ sơ tuyệt mật mang số 1A lại. Anh mở hé cửa nhìn ra, chờ đợi. Rồi anh lại đóng vào. Bếp lửa với những khúc củi thông sa mu cháy rực ở góc phòng cũng không đủ ấm, không đủ để xua làn sương lạnh lẽo. Mọi thứ trong phòng đều ẩm ướt. Trên chiếc áo bông anh mặc phủ một làn hơi nước và mầy mù đậu lại thành từng hạt tròn. Chỉ riêng trong lòng đồn trưởng thì đang nóng rực lên và những câu hỏi từ lâu cứ dồn dập hiện lên trong óc anh. Sự điềm tĩnh vốn có của anh, của một đồn trưởng biên phòng hơn mười năm trấn giữ nơi biên giới xung yếu, chứng kiến bao điều bất ngờ cũng không sao làm cho anh dằn lòng được. Anh đã thức dậy từ 3 giờ sáng. Anh không thể ngủ thêm được nữa. Anh ngồi lắng nghe không khí trầm lắng và yên tĩnh của khu rừng biên giới. Anh tính đến cuộc gặp mặt quyết định sáng nay. Muốn rèn con dao thành hai lưỡi thì phải đập sắt ngay khi vừa nung đỏ. Thế nhưng muốn mài lưỡi dao trên đá cho sắc hơn thì chỉ đổ nước lã vào thôi chứ có ai nung đỏ bao giờ. Giờ đây mọi việc trong mưu đồ của bọn giặc sắp bày từ ba mươi năm trước ở vùng này đã như một cuốn phim vừa chụp xong, ghi lại mọi hình ảnh, nhưng cuốn phim ấy có thể bị xoá trắng đi nếu ta vội vàng để hờ sáng và cũng có thể đen kịt lại nếu ta chậm tay để lâu trong thuốc hiện hình. Cái khó là ở chỗ ấy.


Đồn trưởng lại hé cửa ra, chờ đợi. Bên ngoài từng làn gió bấc thổi. Gió dội vào vách đá hoa cương núi Lũng Phúng rú lên như tiếng thác réo. Ngọn gió bắc rền rĩ trong các hốc núi. Ngọn gió bắc than vãn trên cành cây sa mu. Rồi ngọn gió bắc luồn lách qua các hẻm núi, các khe rừng, các lũng hẹp thổi vào đất miền Xín Cái này. Ngọn gió bác thổi đưa mây mù xám xỉn, đưa sương muối, tuyết lạnh sang đất ta. Theo những nơi ấy, những hẻm núi khe rừng ấy, bọn gián điệp biệt kích, bọn thám báo từ Ngưu Mã láng (làng Trâu Ngựa) luồn sang đất ta, đất vùng Dìn Chin (vàng bạc), đất vùng Xín Cái này. Chúng đang ẩn nấp sau màn sương lạnh.


Có tiếng đế giầy vải đi lạo xạo trên sỏi, đồn trưởng đến mở cửa. Một người đàn bà bước vào. Chị ta trùm khăn len đỏ kín đầu. Cái thân hình đẫy đà của chị ta nép trong chiếc áo bông xanh. Chi ta mở khăn để lô đôi má bầu bình đỏ hồng lên vì gió lạnh quất. Một làn sương buốt và mù đặc quánh theo cánh cửa chị mở thốc vào gian phòng. Đồn trưởng khẽ rùng mình. Anh khép cửa lại. Anh đẩy khúc gỗ vào cho bếp lửa cháy to lên.

-Chú, chú Sinh, chú gọi chị có việc gì đấy. Trời lạnh quá. Chị định nhắn chú xuống nhà chị, nhưng lại thôi.

-Vâng. Mời chị ngồi cho ấm đã. Tôi chờ mãi.

Mai Ngà-tên người đàn bà-đưa cặp mắy nhỏ nhìn Trần Sinh. Cái nhìn có vẻ dò hỏi. Còn Trần Sinh vẫn tươi cười. Anh rót chén nước nóng mời Mai Ngà.

-Chị Ngà, chị uống chén nước cho ấm. Chả có chuyện gì đâu chị ạ. Giữa gia đình chị và đồn biên phòng chúng tôi từ lâu vốn là người nhà và mãi mãi sau này vẫn là người nhà. Khi anh Giáo là trưởng công an vùng Xín Cái này còn sống, chị đã giúp anh em chúng tôi nhiều trong công tác bảo vệ trị an một vùng biên giới xung yếu. Nay anh Giáo mất đi, chúng tôi mong chị gúp chúng tôi như vậy, chị Mai Ngà nhé.

-Ôi, đối với chú, còn phải nói điều ấy nữa ư? Các chú đã hiểu chị rồi mà-Mai Ngà cười cởi mờ-đó không phải giúp mà trách nhiệm của chị chứ. Anh Giáo chồng chị không máy mất đi sớm thì có ảnh hưởng gì đến việc giúp các chú trong công tác bảo vệ trị an đâu. Khi chị giúp được việc gì đó có ích, chị cũng cảm thấy mát lòng vì đã làm được thay anh kế hoạch không còn anh nữa. Mai Ngà cười rạng rỡ để lộ cái răng vàng bên khóe miệng. Đôi mắt Mai Ngà mở to. Đôi mắt khôn ngoan, sắc sảo nhìn Trần Sinh ý dò hỏi.


Mai Ngà có nước da trắng hồng. Bộ ngực nở nang. Thoáng nhìn chị có vẻ trẻ và đẹp hơn nhiều so với lứa tuổi bốn mươi. Theo tiếng dân tộc thì tên chị là Mẩy Ngồ. Nhưng Sinh và các chiến sĩ biên phòng thì quen gọi chị theo tiếng Kinh cho đẹp, cho dễ nghe: chị Mai Ngà. Mai Ngà là vợ anh Hoàng Giáo trưởng công an vùng Xín Cái. Anh Giáo mới chết cách đây hai tháng. Bởi vậy gia đình chị với đồn biên phòng vẫn như người nhà. Có thể chị Mai Ngà dã biết việc cơ mật trong vùng mà nhiều chiến sĩ biên phòng không biết. Bởi anh Giáo là ngiười H’mông. Người H’mông thì có bao giờ dấu vợ một điều gì dù là nhỏ. Mai Ngà lại có gian nhà nhỏ bán hàng ở đầu chợ Xín Cái, nên chị đã có nhiều thuận lợi để nghe ngóng, để thu lượm tin tức. Chợ Xín Cái vốn là chợ mới, bà con xưa dùng để bán mua đổi chác ngựa. Con ngựa ở vùng này là phương tiện đi lại, chuyên chở như cái xe đạp ở dưới xuôi. Đi làm, đi chợ, đi thăm nhau đường xá lắm đèo dốc, con ngựa càng được quí. Người H’mông chỉ cần nhìn số ngựa nhiều hay ít là biết nhà giầu hay nghèo. Ngày họp chợ là ngày chủ nhật. Sáng sớm từ trong sương trắng, rừng vàng từng đoàn người khắp bốn ngả rừng đi theo tiếng nhạc ngựa rung đổ về chợ. Ngày họp chợ là ngày người bán gặp người mua, con gái chạm mặt con trai. Là ngày họ hàng, làng bản bạn bè gặp nhau tìm nhau; là ngày họ bàn đến chuyện nhà chuyện bản, chuyện làm ăn, chuyện cơ quan, chuyện đát nước. Chợ Xín Cái đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa ở vùng núi này của người H’mông, người Nùng, người Thù Lao, Phù Lá… Từ trước ở chợ Xín Cái các dân tộc từ các bản về đều bán; người Hoa, người Hán thì buôn. Nhưng từ khi người Hoa-Hán về nước hết thì bà con các dân tộc từ các bản về đều bán hàng cho Mai Ngà và mua hàng chỉ chị. Mà những hàng của chị bán hoặc mua lại rất hợp với nhu cầu cuộc sống hàng ngày của bà con. Chị bán hoặc mua vào ngày nào, giờ nào cũng được, cũng sẵn. Trước đây chị bán nhiều mặt hàng của Trung Quốc đưa sang như len, vải, đèn pin, mỳ chính, đá lửa, phích, bát… Nay những mặt hàng ấy không còn nữa thì chị bán rượu, bán men làm rượu, bán xà phòng, thuốc diệt chuột, bán thuốc Nam chữa các bệnh. Rồi chị mua măng khô, nấm hương, thảo quả, tắc kè… Bà con các bản mang hàng xuống, bán cho chị. Chị Mua của người cần bán, rồi lại bán cho người cần mua. Qua chuyện trò với bà con chị đã giúp đồn biên phòng biết được nhiều nguồn tin tốt. Từ những nguồn tin đó, đồn biên phòng đã làm sáng tỏ nhiều điều phức tạp. Không nói ra nhưng Mai Ngà cũng thầm tự hào với công lao và sự tín nhiệm của mình. Anh Giáo làm được việc cũng có phần cộng tác của chị. Dần dần anh Giáo kiêng nể chị hơn là yêu quí chị.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #2 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2015, 08:59:47 am »

Lúc này Trần Sinh đưa bàn tay lau khô hơi nước của sương mù phủ trên tập hồ sơ. Anh thong thả nói với Mai Ngà.

-Chị ạ, liên tục mấy tháng cuối năm nay trong vùng Dìn Chin, Xín Cái ta xảy ra nhiều sự cố. Như chị biết đấy, phiên chợ Xín Cái cũng có nhiều truyền đơn của bọn giặc Trung Quốc tung sang. Truyền đơn kêu gọi người H’mông nổi dậy, truyền đơn kiêu gọi dân lật đổ chính quyền ta, truyền đơn dọa ta bài học thứ hai; truyền đơn đề cao công lao của tên phản bội Hoàng Văn Hoan. Truyền đơn nhét trong những quả bi khoét rỗng ruột rồi đập vỡ tung vụn ra giữa chợ. Truyền đơn thả từng thùng trôi trên sông Na Hờ. Rồi hàng từ bên kia biên giới tuôn sang. Trong phích nhét đầy truyền đơn. Trong đèn pin cuộn chặt truyền đờn. Những lời chúng đe dọa đánh ta ngày này, đánh ngày khác liên tục lan truyền. Bà con hoang mang bỏ sản xuất, cuộc sống cẳng thẳng. Và như chị biết đấy, ngay hôm kia một việc xẩy ra chấn động cả vùng này, chợ đang họp đông, bà con mua bán yên ổn thì bỗng dưng có tin quân Trung Quốc đang tràn trên các ngọn núi. Người chạy tán loạn, đạp lên nhau mà chạy. Nhiều người buộc ngựa ở gốc cây để vào chợ đã mất ngựa. Cả chợ mất gần năm mươi con ngựa. Hầu hết dây buộc bị cắt chứ không phải do ngựa lồng lên rứt đứt. Bà con cho biết lúc đó có đâu năm sáu con ngựa cái tơ không biết từ đâu và ai đã lùa đến. Chính những con ngựa cái đó đã quyến rũ hết đàn ngựa đực chạy theo. Chúng chạy tất cả sang bên kia biên giới. Nhưng chỉ hôm sau những con ngựa đực đó đã theo đường cũ trở về. Và trên lưng chúng con nào cũng chất đầy hàng hóa Trung Quốc, chất đầy truyền đơn phản động. Chúng gọi đó là quà của Hoa chủ tịch, quà của Hoàng Văn Hoan gửi cho dân ta. Với mưu đó hàng chiến tranh tâm lý, truyền đơn phản động giặc đã đưa đến tận nhà dân.


Trần Sinh nói thêm để Mai Ngà biết, ngay cả việc anh Giáo chết đột ngột đến nay người ta cũng bán tín bán nghi. Có thật anh Giáo cảm gió chết trong đêm không ai biết không, hay ai đã giết anh. Anh có thù hằn gì với ai không. Và tiếp theo những sự ngờ vực, những vụ lộn xộn đó là những vụ nổ mìn, phá đường ôtô, ngăn cản việc chuyển bà con ở gần đường biên đi để xây dựng phòng tuyến bảo vệ biên giới. Rồi những vụ bọn biệt kích lẻn sang phục kích ở những đoạn vắng bắt dân quân, cán bộ, đốt cháy rừng quế, rừng hồi của ta… Những câu chuyện xấu nhằm kích động sự thù hằn giữa các dân tộc anh em, không cánh mà cứ bay đi khắp vùng. Những câu chuyện đại loại như chúng bảo người Hoa như con hoẵng, người H’mông như con chó, người Kinh như con dao sắc. Người Kinh xuỵt con chó, đuổi hoẵng chạy đi rồi thì con dao sắc sẽ mổ thịt con chó thôi. Nó không tha con chó đâu cứ lan truyền mãi. Cuối cùng Trần Sinh nói với Mai Ngà:

-Chúng tôi nghi vấn những vụ đó có bàn tay của bọn gián điệp Trung Quốc ẩn nấp trong nước ta. Bởi trong vùng nước “đục lờ” này, chúng dễ trà trộn, lẩn tránh.

Trần Sinh ngừng lời anh nhìn thẳng vào Mai Ngà. Cái nhìn dò hỏi. Mai Ngà ngồi im, chị lắng nghe vẻ mặt chị thoáng nét buồn. Chị buông tiếng thở dài, nói:

-Tôi cũng đã mang máng nghĩ như chú. Có lẽ ta phải có thời gian mới tìm ra được bọn chúng chú ạ. Tôi sẽ gắng giúp các chú. Hơn nữa việc anh Giáo mất là việc rất đau xót của tôi. Quả có dư luận như vậy thì tôi là người chịu trách nhiệm giúp các chú làm sáng tỏ vấn đề.

-Vâng, chị Ngà giúp chúng tôi việc này nhé. Tin chị lắm tôi mới nói-Trần Sinh cầm lấy tập hồ sơ. Anh lật trang đầu rồi nói tiếp-Các đồng chí trinh sát biên phòng của cấp trên vừa gửi cho tôi tập hồ sơ này và đề nghị xác minh hộ. Tôi nhờ chị giúp cho việc đó. Chị thông hiểu vùng này hơn tôi. Chị đã ở đây 13 năm. Xin chị biết cho rằng đây là tập hồ sơ tuyệt mật chỉ có chị em mình biết thôi, vì nó liên quan đến sinh mạng của người khác-Trần Sinh trao tập hồ sơ cho Mai Ngà rồi anh nói tiếp. Anh hạ giọng vẻ thận trọng-Chị Ngà ạ! Tôi nói trước với chị vài điều. Trong tập hồ sơ này các đồng chí trinh sát đã tìm ra có một người phụ nữ Trung Quốc, gốc là người Hán sang đây đã trên 10 năm. Người phụ nữ đó đổi họ tên và nhận là người một vùng dân tộc ở vùng này. Người đó mang số hiệu bí mật 1.10.49. Chính nó là con gián điệp được giặc Trung Quốc cài cắm ở đây. Nó đã tạo được vỏ bọc dày để nằm lì. Nó đang ẩn nấp ở vùng này. Có thể nó là kẻ cầm đầu và tổ chức các vụ gây rối mà chúng ta chưa tìm ra được. Người phụ nữ đó là ai? Chị Ngà ở đây lâu. Chị đã biết rõ vùng nhiều dân tộc này. Chị sẽ đọc kĩ tập hồ sơ và xác minh giúp cho. Chúng ta mong sớm tìm ra con gián điệp đó.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #3 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2015, 09:01:17 am »

Mai Ngà mỉm cười thái độ trầm tĩnh. Mai Ngà đỡ lấy tập hồ sơ trên tay Trần Sinh rồi nhẹ nhàng lật từng trang và cúi đầu đọc. Vẫn như mọi khi, chị hỏi Trần Sinh có mang tập hồ sơ về nhà được hay không. Lần nay Trần Sinh từ chối;

-Đây là việc tuyệt mật nên tôi mời chị đến đây. Ta làm việc tại đây. Mắt Mai Ngà lướt nhanh trên những trang hồ sơ:

“… Họ tên: Mẩy Dền (tiếng Việt là Mai Anh)

Năm nay 40 tuổi. Sang Việt Nam từ năm 27 tuổi (1966). Sinh ở Mã Quan, Vân Nam, Trung Quốc.
Dân tộc Hán

Họ và tên chồng: Lù Tấn Phầy, người Hán hiện là trung đoàn trưởng trưởng giải phóng quân thuộc quân đoàn 42. Quên cũng ở Mã Quan, Vân Nam, Trung Quốc.

Diện nghi vấn: Mẩy Dền sang Việt Nam trong đoàn người tránh đại loạn cách mạng văn hóa. Dền đi theo con đường mòn từ Ngưu Mã Láng sang bản Dìn Chin. Dền nhận là người Nùng và lấy chồng ở Việt Nam. Mai Dền là điệp viên của Mao Tả, màn số hiệu 1.10.49. Mao Tả là đồn trưởng đồn biên phòng Seo Pả của Trung Quốc. Mao Tả đã đánh Dền sang đây cài cắm ở vùng này để lót ổ lâu dài. Những năm trước (kể từ 1978 về trước) hàng tháng, Dền có về Trung Quốc với hình thức đi chợ để gặp Phầy, gặp Mao Tả.

Dự đoán: Hiện nay Dền là một trong bọn đầu sỏ đang nhen nhoém tổ chức phản loạn ở vùng Xín Cái, Dìn Chin. Dền liên lạc đón nhận kế hoạch, báo cáo tình hình thường xuyên với bên kia. Ta chưa tìm ra đường dây. Chưa tìm ra Mẩy Dền ẩn nấp ở đâu, mang tên gì, nhưng nhất thiết nó còn lẩn trốn ở vùng này và đã tạo được vỏ bọc dầy.

Ý kiến đề xuất: Đồn trưởng Trần Sinh tìm mọi biện pháp xác minh ngay, càng sớm càng tốt…”.


Mai Ngà ngồi lặng. Rồi chị ngước mắt lên nhìn Sinh. Ngà lật lại vài trang, làm ra vẻ xem kĩ lại những đoạn quan trọng, rồi với vẻ mặt rất tự nhiên, không tỏ ra một chút sượng sùng, chị nói:

-Chú Sinh ạ, tôi không biết rõ về người phụ nữ này. Có lẽ không ai khác ngoài các chiến sĩ trinh sát của chú mới có thể làm được việc đó-Mai Ngà nói chậm rãi. Vừa nói, chị vừa phải suy nghĩ để nói tiếp theo-có lẽ người phụ nữ có tên là Mẩy Dền trong tập hồ sơ này đã chết rồi. Bởi năm ấy, đúng là năm 1966 người bên ấy chạy sang ta nhiều, tôi nghe đồn rằng có một người đàn bà Trung Quốc đâu chừng ba mươi tuổi đã bị chết ở ngọn con suối Na Hò, đầu bản Dìn Chin. Đâu vì trên đường đi, chị ta bị rắn độc cắn. Hình như ngôi mộ của người đàn bà xấu số đó còn ở đầu con suối Na Hờ. Đã lâu rồi không ai nhắc đến chuyện đó: Không ai kể về ngôi mộ đó nữa nên tôi cũng chỉ nhớ mang máng vậy thôi. Các chú hỏi thêm có lẽ còn có nhiều người biết đấy.

-Chị Ngà cố nhớ lại xem vì thời gian cũng đã lâu, có khả năng nào người phụ nũ ấy đang ở quanh ta không. Nếu nó chui vào được cơ quan, hoặc vào các gia đình cán bộ thì càng nguy hiểm “vì váy chùng thường dễ ăn cắp” nó sẽ dễ phá phách gây tai họa nhiều. Chị gắng giúp chúng tôi.

-Chị chỉ mới nhớ được như vậy. Có ngôi mộ đầu suối đó, có lẽ người đàn bà ấy đã chất thật rồi. Chú xem lại đi, nếu nhầm lẫn thì khổ cho những người vô tội. Ngày anh Giáo còn sống, làm việc gì anh cũng thường nói rằng không để sót kẻ gian nhưng cũng đừng làm oan người ngay chú Sinh ạ. Người cán bộ có công bằng nhân đức mới được lòng dân, nhất là vùng có nhiều dân tộc thiểu số này nữa.


Mai Ngà trùm khăn kín mặt ra về. Trần Sinh đứng lặng bên cửa nhìn ngọn gió thổi rung màn sương lạnh trong lũng núi Hoàng Liên. Mai Ngà kín đáo, tự tin không mảy may có biểu hiện gì biến động. Hàng ngày không xa gần, người đã quen biết mặt và cả những người chưa quen vẫn vào ra mua bán. Chị vẫn tươi tỉnh cười nói với mọi người. Hàng tuần cứ đúng vào buổi sáng thứ bẩy, chị lại mang lù cở lên nương hái ớt về để bán vào phiên chợ sáng chủ nhật. Thế là “rung chà rồi nhưng cá không nhảy”. Con nhim lúc thấy động nó xù lông ta, là lúc dễ nhổ nhất. Nhưng đằng này nó không xù lông mà càng xẹp xuống. Một loạt câu hỏi đặt ra cho Trần Sinh: “Ao có cá không, có đúng đối tượng không? Có phải ngôi mộ ấy là của Mẩy Dền, của người trong tập hồ sơ mình đang cầm trong tay không? Tại sao rút dây rồi mà rừng không động””.


Vấn đề mới đặt ra mà chưa ai nhắc đến là có một ngôi mộ ở đầu suối Na Hờ. Có phải ngôi mộ ấy là của Mẩy Dền, của người trong tập hồ sơ mình đang truý tìm không? Đồn trưởng Trần Sinh suy nghĩ về đầu mối ấy…

Anh ngồi lặng trước tấm bản đồ vùng Xín Cai. Anh đọc lại tập hồ sơ tuyệt mật (tập thật anh vứa rút từ cặp ra) của bản án này. Anh đánh dấu những chi tiết mới biết để chú ý. Là một đồn trưởng biên phòng, anh hiểu về vùng biên giới đồn anh đang canh giữ. Đây là một điểm nóng dưới màn sương lạnh, kẻ thù có thể châm ngòi nổ phản loạn từ bất cứ lúc nào. Chúng đã từng dựa vào hạng vạn người Hoa tràn quan biên giới sang đây từ bao đời. Anh đã nhắc các chiến sĩ điều đó. Và phương án chiến đấu số một của đồn biên phòng cũng nhằm chống lại âm mưu ấy. Mười năm làm đồn trưởng, anh đã đi đến nhiều bản, đếnnhà nhiều người Hoa trong vùng để tìm hiểu về họ. Họ tràn sang đây (đợt một) từ cuối thời nhà Minh và chế độ phong kiến Mãn Thanh để tìm đường sinh sống. (Đợt hai) Sau cuộc khởi nghĩa nông dân (Thái Bình thiên quốc) bị thất bại, vào đầu năm 1860. Bọn phong kiến thẳng tay đàn áp, chém giết nên họ lại kéo nhau tràn sang nước ta lánh nạn. Rồi nữa (đợt ba) vào đầu thế kỉ này, những năm 1950 trở về trước. Vào thời kì chiến tranh Trung-Nhật (1935-1945) và thời kì Trung Quốc nội chiến (1945-1949), nhất là tháng 12-1949, khi Trung Quốc giải phóng lục địa, bọn tàn quân Tưởng Giới Thạch đã tràn sang đây, chúng còn kéo theo cả bầu đoàn thê tử bốn năm vạn người sang theo. Giặc Pháp đã thu dụng số tàn quân này bổ sung cho đội quân đánh thuê, lập nên những ổ phỉ. Chúng đã gây ra các vụ phỉ Bắc Hà có máy bay Phá tiếp tế súng và lương thực. Chúng còn tuyển dụng bọn tàn quân làm gián điệp cài cắm lâu dài…. Sinh biết rõ ở Xín Cái này có dòng họ đã sang ta từ 15-18 đơi, có dòng họ sang 13 đời. Có dòng họ mới sang ta một đời đó là hạng vạn người chạy sang tránh đại loạn cách mạng văn hóa những năm 1966-1970. Họ sang ta với nhiều lí do và mục đích khác nhau. Nhưng một số người Hoa đã xử bạc bội đối với người Việt Nam và đất nước Việt Nam đã từng đùm bọc nuôi dưỡng họ những khi họ gặp hoạn nạn. Họ thường là sống theo thời tuỳ lúc. Nên những người Hoa ở đây có hai đẳng cấp chi phối đời sống tinh thần và thái độ chính trị của họ. Đó là những người làm nghề phù thuỷ, thầy thuốc, nghề cúng bái và những người đứng đầu dòng họ. Mỗi dòng họ đều có gia phả được giữ kín truyền từ đời nọ sang đời kia qui định trật tự đặt tên cho từng đời người. Do đó mà họ dễ nhận ra dây mơ rễ má với nhau dù xa nhau hàng mấy đời rồi. Hộci đó là một lời nguyền. Bởi thế mà họ cấu kết với nhau, che dấu cho nhau mọi việc. Cái nguy hiểm nhất là họ sống trên tuyến biên phòng, trên các trục đường giao thông trọng yếu, trên thị trấn và hàng ngày họ có liên lạc bí mật qua bên kia biên giới. Từ trước tới nay không một vụ thổ phỉ, bạo lực nào, không một vụ lộn xộn về chính trị nào để gây rối chống chính quyền ở đây lại không có bàn tay của người Hoa làm nòng cốt. Những tên cầm đầu thường là bọn phản cách mạng, bọn thổ phỉ cũ có sự chỉ đạo của chính quyền Trung Quốc. Họ đã cuốn gói về. Nhưng quanh đây số còn lại khôn gít, đấy là chưa kể những tên đã cải dạng, đổi nghề nhập vào các dân tộc khác. Đó là điều khó. Vụ án có tạp hồ sơ tuyệt mang số 1A này cũng đến từ phía đó…
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #4 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2015, 09:02:03 am »

Bộ xương dưới mồ tố cáo

Trần Sinh ghi thêm dòng chữ đó vào tập hồ sơ (tập hồ sơ thật) dòng chữ: “Ngôi mộ Mẩy Dền bên suối Na Hờ?”. Anh gạch dưới và đánh dấu hỏi. Phải tìm cho ra ngôi mộ ấy. Đó là vấn đề đầu tiên vạch ra.
Trần Sinh dẫn đội trinh sát lần ngược lên phía ngọn suối. Cùng đi với họ có cô dân quân Ly Xeo Mỷ người H’mông ở bản Dìn Chin và mẹ Thào Phủ. Mẹ Thào Phủ, các chiến sĩ biên phòng thân mật gọi là mẹ mẹ Thào. Mẹ là một trong những người nhiều tuổi ở bản Dìn Chin này, Mẹ đã mòn tay cầm dao phát rừng bằng như gấu áo để làm ra hột lúa, hột ngô, nuôi con nuôi cháu và đã bao lần mẹ ngồi cầm nắm đất trên nương nắm chặt nắm đất trong bản. Mẹ đã xiết chặt đến nỗi đất chảy ra theo các ngón tay. Đất đỏ lựng, mẹ tưởng như máu thịt mình chảy theo. Ừ đất đó đã nuôi sống người H’mông. Những lúc ấy, mẹ cứ lẩm nhẩm trong miệng quê hương người H’mông là đây, ở núi Hoàng Liên này, ở đây là đất nước Việt Nam. Cũng đã có lần, mẹ nghe nói ở phía ngọn suối, trong đoạn rừng dẻ vắng có một ngôi mộ vô chủ nhưng rồi mùa lúa qua, mùa ngô lại, năm tháng cứ cuốn đi như mât sớm bay lên, mầy chiều về lũng, mẹ và nhiều người H’mông ở đây đều lãng quên đi. Vừa đi, mẹ Thào vừa kể cho Trần Sinh, cho Xeo Mỷ, cho các chiến sũ biên phòng nghe những câu chuyện mà tổ tiên người H’mông kể lại. Giọng của người nhiều tuổi từng chứng kiến nhiều điều đau đớn trên đỉnh núi mù sương này. Bản H’mông của mẹ tên là Dìn Chin, nghĩa là bản Vàng Bạc. Bởi dòng Na Hờ chảy qua bản từ xưa nước suối đã trôi những hạt vàng hạt bạc cứ lấp lánh bên bờ suối. Bà con người H’mông đã ra suối nhặt lấy về đúc vòng tay vòng cổ. Bởi thế bản H’mông của mẹ mang cái tên đó. Còn người H’mông bao đời đã mang nặng mối thù với người Hoa độc ác . Theo mẹ kể, từ xa xưa cách đay khoảng 5.000 năm người H’mông đã có nước Cam Miêu ở vùng Hồ Nam, Hồ Bắc, Quế Châu, Quảng Đông. Thủ đô ở Quế Dương. Ngày đó các nước lân cận gọi người H’mông là Miêu dân. (Chữ Miêu là bộc thảo đặt trên chữ điền) có nghĩa là người biết làm ruộng sớm. Ngày đó người Hán gọi người H’mông là Miêu sư, có nghĩa là ông thầy thuốc giỏi, là con chá của Thần Nông, ông tổ nghề trồng lúa và làm thuốc. Thế rồi các cua người Hán như vua Thuấn, vua Vũ kéo quân sang xâm chiếm cướp đất đai, đồng hoá người H’mông và người Hán, ai không chịu thì đuổi đi. Người H’mông phải phiêu bạt lên miền núi cao. Trời không ba ngày sáng, đất không ba bãi bằng, sống du canh du cư lang thang trên các đỉnh núi. Từ đó người Hán gọi người H’mông là Miêu tủ. (Chữ Miêu có bộ khuyển thành súc vật, có nghĩa là Mèo). Chúng khinh miệt người H’mông, coi người H’mông như con mèo, con mèo có đôi chân trèo núi dẻo, đôi mắt tinh và giọng nói líu ríu. Người Hán tham lam độc ác coi người H’mông là giống người bẩn thỉu. Thế là người H’mông mất đất nước phải chạy về phương nam. Người H’mông mang nặng thù với người Hán. Các ông già người H’mông khi biết mình sắp về với tổ tiên, câu cuối cùng dặn con cháu là: “Đừng bao giờ kết bạn với người Hán độc ác”. Giờ đây mỗi bước đi trên đường rừng trông thấy cục phân trâu ngựa người H’mông đều nguyền rủa nó coi đó là giặc Hán. Mẹ Thào còn kể rằng, người H’mông có tục làm ma khô cho người chết nghĩa là người chết đã chôn lâu rồi nhưng hàng năm con cháu vẫn làm ma nên gọi là ma khô. Chính cái tục đó để nhắc nhở người H’mông nhớ đến nỗi đau khổ của ông cha trên đường tránh giặc Hán thuở nào. Ngày ấy có người chết đói, chết khát cả dòng họ phải mang xác chạy. Khi đến Việt Nam tìm được đất ở mát mẻ, trên trời có chim to, dưới suối có cá nhiều, ngon thịt, trồng ngô to bắp, trồng ớt sai quả, được những người anh em: người Tày, người Dao, người Kinh đùm bọc yêu thương, người H’mông coi đó là quê hương thì con cháu mới tổ chức làm ma. Lúc còn sống người H’mông nguyền rủa giặc Hán cướp nước, phải tránh giặc Hán và rồi đến khi chết, người H’mông cũng phải trừ đuổi giặc Hán mới yên. Trong các đám ma của người H’mông, con cháu coi trọng nhất là nghi lễ trừ đuổi ma giặc Hán. Thầy cúng phải dẫn đầu đám trai tráng trong bản cầm súng, cầm dao, đánh trống thổi tù và chạy quanh nhà ngày bảy lần, đêm bẩy lần để trừ đuổi ma giặc Hán về quấy phá. Và khi khâm liệm người chết, đẹp nhất để tỏ lòng thương tiếc, thì ông thầy cúng phải lấy kéo cắt nát quần áo đi rồi ghé tai người chết mà dặn “Nếu ma giặc Hán đến thì nói quần áo tôi rách nát rồi không còn gì đáng cướp nữa”. Đến khi chôn xong, con cháu để liễn cơm trên mồ cho cha mẹ thì cũng đập nát liễn cơm đi để ma giặc Hán khỏi cướp mất. Người H’mông nặng hận thù với người Hán tham lam độc ác thế đó… Kể đến những câu chuyện ấy nét mặt già nua của mẹ Thảo sắt đanh lại. Mẹ lặng lẽ, lưng còng, xuống, lầm lũi đi. Rồi bỗng dưng mẹ rơm rớm khóc, mẹ kéo vạt lên chấm hai giọt nước mắt lăn trên gò má. Mẹ nói: ”Không biết nấm mộ này của ai, có phải của một người H’mông khốn khổ không. Có ai trừ đuổi ma giặc Hán đi cho không”. Bất giác, mẹ Thào nhìn Xeo Mỷ. Xeo Mỷ từ nãy tới giờ vừa đi vừa lắng nghe mẹ Thào kể, Xeo Mỷ thấy buồn. Xeo Mỷ cũng muốn khóc. Bởi cô chạnh lòng nhớ đến người bố. Bố Mỷ là ông Ly Xeo Tả. Ông là một đội viên dân quân trong đội quân của người anh hùng H’mông ở vùng núi này. Trong một buổi ông đi lên ngọn suối Na Hờ để tìm củ bạch truật, huyền sâm, dương qui về làm thuốc đau xương cho vợ và ông không trở về nữa. Ông bị mất tích. Lúc ấy là năm 1967. Ở bản Dìn Chin này có người bảo rằng ông đã bị hổ vồ rồi tha đi. Có người lại bảo bị một lũ thổ phỉ bắt trả thù vì ngày trước ông đã diệt chúng. Mỗi người nói một phách. Cả bản H’mông bổ vào rừng, đi tìm, vợ ông và Xeo Mỷ đi tìm. Hai mẹ con đi suốt ngày suốt tháng. Mặt trăng lên nhìn mặt trăng mà đi, mặt trời mọc nhìn mặt trời mà đi. Nhưng vẫn không ai thấy tăm tích ông. Sau đó trên con đường mòn đầu suối Na Hờ, con đường mà ngày ấy có nhiều người Trung Quốc bồng bế con cái chạy sang Xín Cái để tránh loạn đại cách mạng văn hóa, người ta nhìn thấy có một ngôi mộ. Ngôi mộ đó có nhiều hòn đá to xếp lên để đánh dấu. Ly Xeo Mỷ mất bố từ đó. Và người mẹ của cô thì tháng 2 năm ngoái, lúc giặc Trung Quốc tràn sang, chúng sục vào bản Dìn Chin này, chúng sục vào từng nàh cướp lúa, cướp ngô, bắt ngựa, chúng quẳng lựu đạn xuống các hầm trú ẩn. Mẹ cô chết trong hầm với bẩy người H’mông nữa.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #5 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2015, 09:03:22 am »

Đặng như lời mẹ Thào kể và theo con đường mẹ dẫn đi, Trần Sinh và các chiến sĩ đã tìm thấy ngôi mộ. Ngôi mộ được xếp chặn nhiều hòn đá to xung quanh. Trần Sinh nhìn kỹ, anh biết từ lâu ngôi mộ không có người thăm viếng. Nhưng nó được người chôn cất lúc đầu rất chu đáo. Họ đã xếp nhiều hòn đá to lên nên mưa gió trong cánh rừng hoang này không xói mòn đi. Nó mới còn giữ được như thế này đây. Đúng điều bí mật mới tìm ra! Mai Ngà đã nói đúng có nấm mồ ở đầu suối Na Hờ! Nhưng nấm mồ đó có phải là mồ của Mẩy Dền đối tượng trong bản hồ sơ tuyệt mật hay không? Và thậm chí cái gì ở dưới lòng đất đá này? Trần Sinh thầm nghĩ như vậy. Rồi anh hạ một quyết định táo bạo: các chiến sĩ trinh sát khai quật ngay nấm mộ.


Lát sau trong cái hố đất nông, một bộ xương người đã được mọi lên. Thoạt nhìn, mọi người đã thấy ngay rằng người chết không được chôn trong áo quan vì không có mảnh gỗ mục để lại. Người chết không phải được chôn cất tử tế mà chỉ vất xuống nằm còng queo trong một cái hố rất nông. Điều thứ hai, người này đã bị hành hạ rất dã man trước khi chết. Dấu vết và bằng cứ chứng minh rõ ràng: xương ống bị gẫy, ba xương sương bị gẫy, xương ống chân phải bị gẫy và xương hàm dưới bị vỡ… Bên cạnh những khúc xương, các chiến sĩ trinh sát đã nhặt được một lưỡi dao quắm và một lưỡi kiếm (kiểu Trung Quốc) đã gỉ chỉ còn lõi sắt. Chứng tỏ những hung khí này đã được các thủ phạm dùng để gây tội ác với người chết. Đồn trường Trần Sinh cùng với các chiến sĩ nhặt lấy xương chậu, xương sọ, xương vai, xương hông cân đô chu đáo, làm việc tại chỗ để xác minh ngay bộ xương đó là của đàn ông hay đàn bà. Đối chiếu với tài liệu khoa học về đặc điểm xương của người Việt Nam, chứng tỏ bộ xương này là của một người đàn ông cao lớn, vai rộng. Đặc biệt hình thái của sọ và khung xương chậu là hai điều chứng minh không thể nhầm lẫn người chết đó là đàn ông hay đàn bà. Ở đây chính xác là một chiếc sọ hình trứng: sọ của người đàn fông Việt Nam. Còn sọ của đàn bà Việt Nam thường có hình năm góc (do u trán và hai u đỉnh phát triển hơn nam). Về các mặt khác mà xét thêm sọ đàn ông Việt Nam to và thô hơn sọ đàn bà. Các mấu lồi và chỗ bám của cơ thường to. U trên góc mũi và gờ trên ổ mắt của sọ đàn ông lồi hơn sọ đàn bà, trán vát hơn và xương hàm dưới to hơn. Về mặt kích thước, nói chung sọ của đàn ông đều lớn hơn sọ của đàn bà về cả bốn điểm: dài sọ, ngang sọ, rộng mặt và cao mặt. Chứng tỏ trăm phần trăm đây là sọ của một người đàn ông. Xét về khung xương chậu, khoa học đã chứng minh rằng: khu chậu của phụ nữ bề ngang rộng và thấp hơn của đàn ông, góc dưới mu và góc trên của lỗ mẻ hông lớn của đàn bà to hơn của đàn ông. Xương chậu của đàn bà nhẵn ngụi, thanh mảnh hơn của đàn ông rất nhiều. Tất cả sự khác nhau của chậu hông đàn bà đối với đàn ông là ở chỗ các đường eo trên, eo dưới to và dễ dãn rộng để tiện cho việc làm chức năng sinh đẻ… Cũng như quan sát hình dáng và đo kích thước xương sọ, đồn trưởng Trần Sinh đã tự tay đo kỹ càng khung xương chậu để so sánh, đối chiếu với tiêu chuẩn khung xương chậu trung bình của người phụ nữ Việt Nam, đã được một kết luận: tất cả đều có số liệu lớn hơn nhiều so với con số trung bình của khung xương chậu phụ nữ. Trần Sinh cùng các chiến sĩ trinh sát đo lại tất cả một lần nữa. Anh chụp ảnh cẩn thận. Bởi anh biết kết luận cuộc khai quẩ này sẽ ảnh hưởng đến quyết định truy tìm một tên gián điệp đang ẩn nấp. Số liệu hai lần đo khớp nhau và chính xác hoàn toàn. Thế là cái ẩn số của bài toán đã được tìm ra. Trần Sinh ghi vào biên bản những số liệu và kết luận của anh: “Đây là mộ của một người đàn ông cao lớn chứ không phải của phụ nữ. Chắc chắn trăm phần trăm không phải của Mẩy Dền. Và người đàn ông này đã bị hành hạ dã man trước khi chết. Khi bị giết xong, người đàn ông này bị vứt xác xuống một cái hố nông rồi vùi đất đá lên”. Theo anh, những người giết và những người chôn này như để phục vụ cho một âm mưu đánh lừa, đánh tráo người nên đã làm dấu chu đáo để cho mọi người biết có một nấm mộ, rồi tung tin là mộ của Mẩy Dền. Chính Mai Ngà đã nói lên điều đó.


Trần Sinh đứng lặng trước nấm mộ đã được đắp lại. Anh suy nghĩ đến một điều vừa thoáng qua trong tính toán của anh: Chúng có thể giết chết một người phụ nữ để chôn xuống đây lắm chứ. Tại sao chúng lại giết một người đàn ông để đánh tráo xác một người phụ nữ. Điều đó có thể nói là ngu ngốc và lộ liễu nhưng vì sao chúng phải làm? Và người đàn ông đó là ai? Có liên quan gì, có đố kị gì với bọn chúng hay chỉ là chuyện tình cờ. Bây giờ rõ ràng điều thắng lợi phụ thuộc hoàn toàn vào hướng tìm tòi, mà hướng tìm tòi đã mở ra từ đây…


Kết luận ấy làm cho mẹ Thào cảm động và làm cho Xeo Mỷ khóc oà lên. Mỷ níu lấy tay áo Trần Sinh như muốn hỏi anh mộ của ai, có phải là của người bố cô không? Có cách gì nữa để biết được đó là ai không? Xeo Mỷ nhớ tới ngày hai mẹ con cô miệng đắng như cắn phải quả đào non trái vụ dắt díu nhau đi khắp chân trời vàng, chân trời xanh gọi tìm, dò hỏi tăm tích của người bố. Giờ đây có nấm mộ này, của ai? Có phải của người bố xấu số của cô không? Cô nghĩ nếu như có một phần xương thịt nào trong cơ thể của cô phải cắt ra để so sánh với đống xương này mà nhận đuợc đó là người thân thì Mỷ cũng sẽ làm ngay. Mỷ vùng với các chiến sĩ biên phòng đã chôn cất tử tế lại nấm mồ cho người đã khuất.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #6 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2015, 09:05:17 am »

Sau buổi xáp mặt với đồn trưởng Trần Sinh, Mai Ngà tuy có chột dạ nhưng bề ngoài vẫn tỏ ra bình thường. Nó biết rõ cái nghề của nó thường sa lưới trong những việc hết sức vặt vãnh. Nên nó bắt đầu cân nhắc kĩ hơn mọi chi tiết trong cuộc sống hàng ngày để mong tránh khỏi thất bại. Nó cứ đinh ninh rằng dù sao thất bại sẽ không đến từ phía Trần Sinh. Vì Mai Ngà vẫn tin vào cái quan hệ tốt đẹp của gia đình, của anh Giáo với đồn biên phòng, với vị đồn trưởng này từ lâu. Mai Ngà còn tin vào nghề đóng kịch của mình đã thành công trong 13 năm trời nay. Giờ đây nếu không tỉnh táo có khi tự mình sẽ làm lộ đầu mối, có khi tự mình dẫn mình vào bẫy của Trần Sinh. Biết đâu, Trần Sinh đã bầy kế bủa vây rồi “rung rừng”. Nên đối với ai, trước một việc gì, Mai Ngà cũng giữ thái độ lặng lẽ, kín đáo với nụ cường gượng gạo. Tuy vậy cũng có lúc cái cảm giác lạ lùng đã xâm chiếm lòng mụ, cảm giac về sự bất lực và cay đắng. Đêm đêm đôi khu mụ tỉnh dậy, mụ nằm im, mắt nhằm nghiền, tai dỏng lên để nghe không gian yên tĩnh, mục có cảm giác như ở ngay bên giường mụ, ở ngay trong phòng ngủ tối mù của mụ có một cặp mắt lạnh lùng nào đó dõi theo, dòm ngó. Mụ thầm nghĩ phải chăng Hoàng Giáo hiện về báo oán mụ… Hôm ấy Trần Sinh có nói đến chuyện Hoàng Giáo chết vì uống rượu say rồi cảm gió thật hay ai đã giết anh vì chuyện gì. Trước những việc khó nghĩ với xung quanh, với cả chồng là Giáo ngày còn sống, mụ vẫn thu được một cách hay nhất để xử xự là cứ câm như hến. Nên hôm đó nghe Trần Sinh nói đến cái chết của Hoàng Giáo đang bị nghi ngờ, mụ vẫn ngồi im rồi nở nụ cười gượng gạo. Mụ không nhắc đến việc đó để nó lặng lẽ qua đi. Những đối với mụ, mụ quên làm sao được. Những lúc mụ trở về sống thật với con người của mụ. Mụ đã từng chịu đựng sự tồn tại của Hoàng Giáo bên mình như một cái gì không cần có nhưng không thể tránh được. Ngày Giáo chết, mụ đã từng nghĩ rằng một tên công an chết là đã trừ được một tai họa cho mình. Nhưng Giáo đã có những năm chung chạ với mình, có giây phút âu yếm mình. Quả thực, mình cũng có những lúc thoả thuê, vui thích bên Giáo. Giáo là một thằng Mèo khỏe, sức lực của hắn làm cho mình thích thú. Giáo chiều mình, yêu mình thật. Nhưng tội nghiệp Giáo không thể hiểu nổi mình, không thể biết hết việc mình làm. Mình sống với Giáo là để làm cái việc của mình mà tổ quốc Trung Hoa giao cho. Còn hai đứa con ư là con của Phầy, chồng mình đang ở bên ấy. Những ngày mình sang bên ấy gặp anh. Nhưng cũng có thể có ít nhiều giòng máu của Giáo chăng. Có lúc mình ngắm nhìn kĩ thì hai đứa con đó cũng có những nét như hao hao, phảng phất giống Giáo về hình thái. Nếu không cũng nhang nhác giống về tính tình. Ôi, con của Phầy hay con của Giáo nhưng đó cũng đều là những giọt máu của tổ quốc Trung Hoa gieo cấy ở đây. Chính bọn chúng sẽ làm việc cho tổ quốc mai sau. Bởi những nơi nào có giọt máu của người Trung Hoa ươm cấy, nơi đó sẽ là đất đai của tổ quốc Trung Hoa. Mà các con ạ-mụ thầm thì như nói với các con-Cũng may các con là giọt máu của Đại Hán, mẹ khẳng định như thế, vì mẹ là người đại Hán! Mình phải giết con người từng chung chạ với mình, đã có những năm tháng ân ái với mình, quả tình cũng có chút thương cảm thằng Mèo tội nghiệp ấy. Nhưng mình phải giết nó là vì nghĩa lớn đối với tổ quốc. Mình phải làm như thế, nhất định phải làm như thế. Giết nó bằng cách nào? Mình đã từng đắn đo, tìm chọn. Nên để cho nó chết trong giấc ngủ. Mình đã từng ngắm nhìn thằng Mèo này ngủ. Nết ngủ của nó ngoan. Và cũng nên để mình nhìn thấy nó chết cũng như lúc nó đang ngủ ngon. Hoặc giả mượng tay của ai giết nó để mình đừng phải chứng kiến cái chết của nó. Nhưng dù sao thì nó cũng phải chết để bịt đầu mối lại. Vì nó không chết thì có thể mình phải chết. Nếu không việc lớn của tổ quốc sẽ bị bại lộ. Bởi thằng Mèo này đã bắt được cái thư mình viết báo cáo về bên kia. Và có thể nó đã đánh hơi ra cái hộp thư bí liên lạc của mình. Mình đã báo cáo việc này về bên ấy. Mao đồng chí đã chỉ thị cho mình là phải thanh toán ngay. Mai Ngà nhìn đến chai rượu củ gấu tàu để dưới gầm giường. Uống một chén, chỉ một chén thôi lúc đã say nó sẽ chết êm thắm trong giấc ngủ. Hoàng Giáo chết. Những điều anh vừa biết, anh vừa hiểu ra chưa kịp nói với ai đã theo vào lòng đất núi…
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #7 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2015, 09:11:20 am »

Lạt giẻo buộc chặt


Trời tối. Sương lạnh bay như mưa bụi. Trần Sinh bước vào nhà Mai Ngà. Cánh cửa gỗ khép lại. Anh tro chiếc áo mưa ướt sương vài cái đinh ở cột. Anh tươi cười:

-Chào chị Ngà!

-Vâng, chú vào bếp ngồi cho ấm.

Phong tục ở đây khách vào nhà dù lạ dù quen đều ngồi quây quần quanh bếp lửa. Bếp lửa ấm như bàn tiếp khách quanh năm và bên bếp là phòng tiếp khách. Chủ nhà thì có chiếc ghế riêng. Ghế to nhất, cao hơn cả để ở phía trong bếp để chủ ngồi quay ra. Còn khách thì ngồi trên những chiếc ghế mây nhỏ, trên những khúc gỗ cưa bằng đá bầy sẵn quanh bếp. Bếp nhà Mai Ngà rộng hết cả một gian trong. Vì mụ buôn bán lắm khách tới lui. Và nữa, ngày Hoàng Giáo còn sống anh có nhiều khách các xã lên, khách trên huyện, trên tỉnh về, khách các cơ quan xung quanh đến, khách là nhà văn, nhà báo từ xuôi lên làm iệc phỏng vấn viết bài… Tất cả khách đều ngồi quanh bếp lửa. Họ họp bàn việc công, hay huyện phiếm cũng ở cả bên bếp lửa.


Mai Ngà kéo ghế cho Trần Sinh ngồi rồi tất tả chạy đi.

-Chú ra chơi, cũng như ngày anh Giáo sống ấy mà, phải có cái “nâng lên đặt uống” chứ. Tục người H’mông đã vây, tục người Nùng cũng vậy thôi. Nhà tôi chồng là H’mông vợ là Nùng thì lại càng phải thế chứ chú. (Nâng lên đặt xuống là có rượu, có thức nhắm. Uống một ngụm đặt xuống để gắp thức nhắm, rồi lại uống nên mới có cái từ ấy).

-Thôi, thôi chị Ngà ạ, tôi không ham.

-Ấy, nhập gia tuỳ tục. Người Kinh thường nói thế mà-Mụ cười, ánh lửa hắt lên làm đỏ hồng đôi má. Mụ kéo chiếc mâm đan bằng tre có bốn chân như cái chõng con ra để bên bếp lửa rồi xách lọ rượu cầm hai cái chén a. Mụ chọn miếng thịt ngon nhất trong xâu thịt treo ở gác bếp rồi cắt một miếng. Mụ thái nhỏ xào với hành với hạt thảo quả thơm ngào ngạt. Mụ xúc ra đĩa rồi rót đầy hai chén rượu.

-Rượu ngon đây. Mời chú Sinh phải mời rượu ngọn chứ. Chị có dám mời rượu thân, rượu gốc đâu (rượu ngọn nấu bằng nếp ngon hơn, rượu thân nấu bằng ngô, rượu gốc nấu bằng sắn). Trần Sinh ngồi hơ hai bàn tay lên ngọn lửa cho đỡ lạnh. Anh nhìn Mai Ngà. Đã bao lần anh đã đến đây, dã ngồi bên bếp lửa này, đã uống chén rượu với Hoàng Giáo, ăn cơm chung mâm với Mai Ngà. Nhưng lần này đôi mắt anh nhìn Mai Ngà sâu lắm. Một cái nhìn đắn đo và suy nghĩ. Nhưng anh có không để lộ điều ấy ra. Anh thầm nghĩ: “Bởi cái ngọt nhạt này, bởi cái mềm mỏng này, bởi chén rượu ngọn này mà Hoàng Giáo đã chết vì bàn tay của mụ. Mười ba năm nay mụ đã lẩn trong màn sương lạnh nên đã che mắt Hoàng Giáo, che mắt chúng ta. Hoàng Giáo đã nuôi một con cáo, không, phải nói cho đúng hơn là anh đã nuôi một con hổ cái. Chính con hổ cái đã tha được Hoàng Giáo về hang nó. Và con hổ đó đã ăn thịt mất vợ con của Hoàng Giáo. “Ghê tởm biết chừng nào…”. Giờ đây con hổ cái đó đang đứng đây, đang nói cười đon đả trước mặt anh. Trông bên ngoài mụ dịu hiền như một con thỏ non… Nghĩ đến đó, Trần Sinh nhớ lại những chuyện mẹ Thào kể, bà con H’mông kể mà anh vừa bổ sung vào bản hồ sơ tuyệt mật ấy…


… Ngày ấy nhà Hoàng Giáo không phải ở đây. Hoàng Giáo ở tận trên bản Quan Thần Sán (bản có tên à núi Song Mây). Từ trên ấy đi xuống đây gần hết ngày đường. Hoàng Giáo chỉ về đây khi hội họp và đi chợ phiên vào ngày chủ nhật. Vì thế Hoàng Giáo mới quen biết Mai Ngà. Bởi anh hay vào hàng Mai Ngà. Và mỗi lần vào đều có cái “nâng lên đặt xuống” bên bếp lửa ấm cũng như thế này đây. Ngày đó, Mai Ngà mới ở Trung Quốc về. Mụ đến công an. Mụ nói với Hoàng Giáo, mụ là người Nùng Việt Nam theo bố mẹ trở về cố hương. Giọng mụ vừa thảm hại vừa dễ thương: “Người Trung Quốc còn phải chạy sang tránh đại loạn cách mạng văn hóa nữa là người Việt Nam. Mình phải về đất nước mình thôi chứ. Cành gẫy phải ấp vào cây, lá vàng phải rụng bề cội chứ anh. Về bên nước mình, gặp bà con mình, em cứ vui như được ăn quả đào chín mọng thôi…”. Hoàng Giáo là trưởng công an vùng Xín Cái. Anh là người H’mông, anh vỗn hay thương người và dễ tính, sống quen nếp sống giản dị, nên anh tin ngay lời Mai Ngà. Anh cho mụ nhập vào dân vùng Xín Cái. Mai Ngà có vốn, mụ mở ngay hàng ăn ở đầu chợ Xín Cái. Mụ dựng nhà cột kê, gỗ lói, lát sân bằng gỗ dâu gỗ dù đen như sừng trâu. Mụ bán phở, bán bánh dầy, bán rượu trong các phiên chợ. Mụ làm phở có nghề nên ngon. Mụ làm bánh dầy bằng nếp cái mịn, dẻo có ít bột thảo quả nên khi nướng thơm lừng. Rượu mụ cất bằng nếp, trong mon có ít rễ ngón, có quế. Rượu của mụ rất ngon, tăm cứ sủi đứng lên, uống êm, say khi nào không biết. Rượu mụ ngon nhất nhì vùng Xín Cái, Bắc Hà này. Mụ lại khéo ồm, khéo miệng nên quyến rũ được gần hết các anh chàng ở những bản xa về chợ. Ngày họp chợ là ngày họ hàng, làng bản, bạn bè gặp nhau tìm nhau. Là ngày họ bàn đến chuyện nhà, chuyện bản, chuyện làm ăn, chuyện cơ quan, chuyện đất nước. Có khi cơ quan họp thường hẹn nhau từ các bản xa về phiên chợ để vừa ăn chợ vừa họp cho tiện đường. Vào chợ khi đã ăn bát thắng cố đầy thịt của người H’mông ở Xín Hồ Xán, Hoa Xu Pan, ăn cây mía to như cây tre rừng của chị Thù Lao, nếm quả đu đủ to bằng chiếc ấm tích của người Nùng ở Hố Mù Chải, ăn xôi nếp của mẹ Nùng bản mế, ăn mận hậu, ăn quả lê thơm đủ năm mùi của Xín Cái, ít ai vắng mặt ở hàng phở Mai Ngà. Hàng của mụ trở thành trụ sở hẹn hò nhau, gặp gỡ nhau. Rồi thì rượu vào lời ra. Trăm chuyện ở vùng biên giới này đều không lọt qua tai mụ. Và không ít anh ngồi đó bên bát rượu cho đến tôi ngày mới ngật ngà, ngật ngưỡng nắm đuôi ngựa đi về.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #8 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2015, 09:14:34 am »

Hoàng Giáo cũng say men rượu của mụ từ ngày đó, say nụ cười lung lạc và con mắt đưa tình của mụ từ đó.

Rồi đến một phiên chợ cuối năm. Hoàng Giáo đưa vợ và con gái xuống sắm tết. Hoàng Giáo đeo lù cở đi bộ. Anh nhường con ngựa đẹp nhất cho vợ và con gái cưỡi cầm dù hoa. Đoạn nào dốc, anh nắm lấy đuôi ngựa mà đi. Anh đưa vợ và con vào ăn phở ở hàng Mai Ngà. Mụ làm ra vẻ thân tình, mụ mời vợ chồng và con gái của Hoàng Giáo vào vừa ăn, vừa sưởi ấm bên bếp lửa. Mụ làm ba bát phở thật ngon, thật béo, thật nhiều thịt cho ba người. Ăn xong, Hoàng Giáo đỡ vợ con ngồi trên lưng ngựa đi về bản Quan Thần Sán. Còn anh vẫn cầm đuôi ngựa đi theo. Về nhà, đem ấy vợ và con gái của Hoàng Giáo lăn đùng ra chết. Trước lúc chết cả hai đều vật vã đòi uống nước đến căng bụng. Dân bản Quan Thần Sán đoán vợ con của Hoàng Giáo đã ăn phải thuốc diệt chuột. Nhưng ăn ở đâu, ăn của người nào bán? Chợ Xín Cái này đông nghìn nghịt có đến trăm hàng bán thức ăn, ai mà biết được. Còn ăn phở của Mai Ngà u? Ca ba người vào ăn trong nhà, sao Hoàng Giáo không bị. Thế là chỉ thiệt người bị chết.


Hoàng Giáo buồn. Anh đi lang thang. Anh ít về bản. Thực ra anhkhông muốn về cũng có lí do. Vì mỗi lần anh về lại phải nhìn thấy căn nhà vắng tanh, thấy cái bếp lạnh lẽo. Thấy cái chảo đổ cơm bỏ không, thấy cái giường và tấm da hổ nơi vợ chồng anh trải nằm mốc trắng. Mở miệng nước mắt rơi, chứa nói nước mắt trào. Đêm nằm cuộn như con ốc nước mắt tràn đầy hai má, anh tưởng đầu mình gối lên đá nhọn. Anh nghĩ mưa chín cơn còn có lúc lạnh, nỗi buồn này có khi nào nguôi. Những đêm trăng xế núi, sương phủ trắng ngọn mai anh mang súng đi săn bắn thú rừng. Anh nhớ đến vợ anh, cô gái H’mông đẹp như trăng mười rằm, từng sống với nhau, quấn quít bên nhau như nắm xôi nhuyễn chặt. Giờ đây như vịt giở phai, như trâu giở bữa. Vịt giở phai, vịt chết, trâu giở bữa, trâu lồng. Rồi lúc đó là nửa đêm sướng trắng núi, anh cũng tìm đường xuống hàng Mai Ngà uống rượu… Mai Ngà chiều chuộng. Hễ thấy anh xuống là có ngay cái “nâng lên đặt xuống”. Mụ rót rượu ngon cho anh, mụ cào thịt nóng cho anh nhắm. Câu chuyện giữa Mai Ngà với anh cứu dần dần chặt như trúc đan nóng đôi, như tre cài nóng mốt khó gỡ. Có lần, Mai Ngà kể xa xôi cho Hoàng Giáo nghe một câu chuyện của người H’mông. Xưa có hai vợ chồng, chồng lười, vợ siêng năng nên họ hay cãi nhau rồi bỏ nhau. Họ chia đôi gia súc chăn nuôi. Vợ để gà, lợn, trâu… nuôi ở nhà. Chồng lười nên mang vào rừng thả. Khi muốn ăn thì anh lại mang cung tên vào rừng săn bắn đưa về. Súc vật của chồng thành thú hoang. Do đo đàn ông H’mông thường giỏi săn bắn. Đàn bà H’mông chăn nuôi ở nhà và khéo tay làm thức ăn ngon… Mai Ngà rót thêm rượu cho Hoàng Giáo rồi ỏn nẻ: “ước gì em thành con công con gà lôi, con nai tơ hoang trong rừng để thuộc về anh mãi mãi. Ước gì anh là hạt sương để tan mát dịu trọng lòng bàn tay em…”. Những câu nói đó như xoắn bện giữa lòng Hoàng Giáo. Rồi Hoàng Giáo ở hẳn lại với Mai Ngà. Mười hai năm, hai người có với nhau hai đứa con!


Trần Sinh nhìn hai tay Mai Ngà đảo thịt như múa trên chảo. Thỉnh thoảng mụ lại đảo mắt về phía anh. Sinh thầm nghĩ. Trong con người mụ, một người đàn bà đại Hán xảo quyệt không biết cái gì nhiều hơn: tính người hay tính thú dữ. Không, ở mụ nhất định tính thú đã thắng tính người từ lâu rồi. Và giờ đây mình đang phải gần với con thú dữ ít ra là một thời gian nữa mà phải giữ thái độ thân tình…

Trần Sinh nhìn chén rượu Mai Ngà rót, tăm đang sủi đứng lên. Trong gian nhà mùi rượu cay nồng quyện với mùi thịt xào nóng, thơm lừng.

-Rượu ngọn, mời chú. Tôi rất quí chú, coi các chú như ngườ nhà, như ngày nào anh Giáo còn sống.

-Vâng! Thú thật tôi trước có bị đau gan nên cái thứ này phải kiêng chị ạ. Đồng chí bác sĩ khuyên tôi như vậy. Hôm nay vui với chị, tôi xin chị nửa chén thôi-Trần Sinh cầm chén rượu rót sang chén cua Mai Ngà. Anh chỉ để vừa một ngụm nhỏ.

-Chị Mai Ngà ạ, tôi báo với chị một tin vui. Chúng tôi đã tìm thấy ngôi mộ vô chủ trên đầu suối Na Hờ. Theo bà con người H’mông các bản gần đó nói, chúng tôi xác nhận nấm mộ đó đúng là của Mẩy Dền, người mang số hiệu bí mật 1.10.49 trong tập hồ sơ hôm nọ. Thế là chuyện đó chúng ta đã làm sáng tỏ. Trong việc này chúng tôi xin cảm ơn chị. Nếu như chị không cho biết Mẩy Dền đã chết và có nấm mộ ở đó thi rất khó khăn cho việc xác minh. Chúng tôi đã báo cáo lên cấp trên rằng chị đã có công lớn giúp chúng tôi việc này. Các đồng chí lãnh đạo gửi lời cảm ơn chị và mong chị tiếp tục giúp đỡ anh em húng tôi trong công tác giữ vững an ninh vùng biên giới.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #9 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2015, 09:22:00 am »

Mai Ngà cười. Đôi má ửng hồng nhưng ánh mắt nhìn Trần Sinh với vẻ điềm tĩnh, dò hỏi.

-Ôi, lại còn điều ấy nữa, ơn với huệ gì-Mai Ngà nguýt Trần Sinh-Giúp các chú là trách nhiệm của một người dân yêu nước. Thực ra chuyện đó tôi cũng chỉ nhớ mang máng vậy thôi nào ngờ lại được việc. Mai Ngà cười bình thản rồi nói tiếp:

-Vùng Xín Cái ta dạo này tuy xảy ra nhiều chuyện rắc rối thật nhưng theo tôi nghĩ, chú Sinh ạ đó cũng chỉ là chuyện thù hằn lẫn nhau, tình ái, ghen tuông nhau vặt thôi mà…

Trần Sinh đặt chén rượu xuống. Anh thoáng nghĩ: Mụ ta đang tung hoả mù đây. Anh cười:

-Không hẳn là thế chị Mai Ngà ạ. Hôm qua bọn Trung Quốc lại sang phục kích trên rẫy bắt cóc xã đội trưởng Xín Chải, và chúng bắn vào bà con Sà Chái đang đi xuống chợk làm bốn năm người chết. Còn truyền đơn phản động ở chợ Xín Cái, ở các bản đều có, không biết từ đâu tuồn vào. Rồi trên dòng Na Hờ chúng còn thả từng thùng truyền đơn, hàng “tâm lí” bà con đã nhặt về. Chắc chị cũng đã được nghe nhiều chuyện bịa đặt nhảm nhí như câu chuyện: Từ xưa người H’mông, người Nùng, người Giao ở đây như cái kiềng, nồi nào bắc lên cũng được. Miễn là có củi, có lửa là nấu được. Ý nó muốn nói rằng chế độ nào người dân ở đây cũng được, miễn là có muối, có thuốc, có vải đẹp… là dân theo. Đấy, chị xem những chuyện ấy đấu có phải là thù hằn, ghen tuông vặt vãnh. Tệ hơn nữa, hôm thì chúng tung tin để bà con H’mông ăn Tết xong rồi sẽ đánh; gặt xong thu lúa ngô xong rồi sẽ đánh; dân nên ăn tết trước đi, trong dịp tết sẽ đánh, cuối tuần trăng như dạo mười bẩy tháng hai năm ngoái quân Trung Quốc sẽ lại tràn sang. Hôm thì lại có tin đúng ngày họp chợ sẽ đánh: năm ngày nữa sẽ đánh… Những tin đồn đó làm cho bà con lo lắng, bỏ nương bỏ rẫy không làm. Chị xem những chuyện đó hoàn toàn không phải là chuyện thù hằn vặt vãnh…

Mai Ngà ngồi tròn mắt nghe, ra điều ngạc nhiên, xa lạ. Mụ kêu lên:

-À, ra thế! Bây giờ nghe chú nói tôi mới biết đấy. Đàn bà chúng tôi không sâu sắc, nhạy bén về những điều thế sự ấy như đàn ông các chú. Chú uống rượu nữa đi. À, chú vừa nói là không uống được rượu. Tôi cứ quen như hồi anh Giáo còn sống. Mỗi lần ngồi bên bếp lửa uống rượu thế này, tôi lại càng thương, càng nhớ anh Giáo. Nói xong, mụ buông tiếng thở dài làm ra vẻ xúc động, nuối tiếc.

-Chị Ngà ạ, chúng tôi lại nhờ chị một việc nữa đây.

-Việc gì chú cứ nói

-Chị có điều kiện mà không ai khác ngoài chị làm được là chị gặp gỡ nhiều người nên thu lượm được lắm nguồn tin mới, chị giúp chúng tôi xác minh và tìm ra những kẻ phao tin đồn nhảm. Biết đâu từ những nguồn tin ấy, chúng tôi sẽ tìm ra đầu mối các vụ âm mưu phản loạn.

Mai Ngà cười:

-Các chú tin chị quá đấy. Chị không làm nổi việc tày trời ấy đâu. Nhưng mà chị cũng giúp với khả năng của chị.

Mai Ngà tiễn Trần Sinh ra cửa. Mụ cài chặt then rồi vào bên bếp lửa. Mụ bắt đầu viết báo cáo vào một tờ giấy mỏng:

“1.10.49 gửi đồn trưởng Mao Tả! Trong tuần qua bộ đội biên phòng Việt Nam đã tìm ra đầu mối của 1.10.49. Chúng đã tìm đến ngôi mộ của “Mẩy Dền” chôn cách đây 13 năm. Đó là điều ta phải đề phòng và phải tính đến khả năng bí mật của ngôi mộ bị chúng phát hiện ra. Xin cho chỉ thị mới. Còn tình hình đang rất thuận lợi, yêu cầu đồng chí cho thêm truyền đơn, tôi đang chờ đợi “Đại kế hoạch”, chờ đợi “sao bắc đẩu” như đồng chí đã báo tuần trước. Tôi đang chấp hành chỉ thị phát triển thêm cơ sở để làm chỗ đứng chân vững cho “Đại kế hoạch” Việt Nam sắp triển khai đợt di chuyển dân H’mông về sau để lập phòng tuyến bảo vệ biên giới. Yêu cầu đồng chí có biện pháp phá ngay, phá triệt để nhằm giữ cơ sở của ta đã cài cắm, nếu không sẽ bị bóc mất!
                        1.10.49”


Viết xong Mai Ngà đọc lại rồi gấp vào trong gấu áo. Mụ sửa lại cái lù cở để sáng mai lên nương hái ớt…
Từ ngày người Hoa ở Xín Cái kéo nhau về nước hết. Mai Ngà mua thêm mặt hàng là những cây thuốc, mua thêm mộc nhĩ nấm hương, tắc kè… các thứ bà con trên các bản H’mông, bản Dao đưa xuống bán. Mai Ngà mua cả vỏ quế, mua rễ hồi, mua hà thủ ô, và mua cả củ bích hợp. Củ bích hợp là loại thuốc khó tìm. Nó ở trong các kẽ đá trên sườn núi cao ở các đỉnh Hoàng Liên. Cây bích hợp có hoa mầu trắng, các cánh hoa có đường kẻ tím ở giữa. Hoa có nhuỵ vàng tỏa hương thơm nhẹ. Người đi tìm củ bích hợp cứ hít thở ngửi trong làn gió núi để xem hướng nào có mùi hoa là đi về hướng ấy; hoặc nhìn theo con ong mật mà tìm đường đến. Củ bích hợp to như củ hành tây gồm nhiêu cành trắng muốt trong suốt như phèn xếp ôm lấy nhau. Nó là một thứ thuốc chữa bỏng, lở loét rất chóng lành và mau lên da non, Mai Ngà mua những thứ thuốc khó tìm đó, mụ mua cả vỏ quế lâu năm, mua cả rễ cây hồi lâu năm. Bà con sợ chiến sự xảy ra, hàng ngày cứ nơm nớp lo Trung Quốc đánh sang không đi là nương, bỏ rẫy cỏ ngải lên xanh, bỏ nương cỏ xẹ mọc tốt, đua nhau đi tìm củ bích hợp trên vách núi đá cao, đi tìm vỏ quế trong rừng sâu và đào rễ hồi để bán cho Mai Ngà. Bán được lấy tiền ngay lại được mua ngay những thứ hàng Mai Ngà bán cho như pin, đá lửa, chỉ thuê, được ăn phở và uống rượu, được nhận tiền mới cứng nên bà con các dân tộc rất thích. Một lẽ nữa là bà con có tiền bọc sẵn trong túi phòng có chiến sự thì dễ chạy hơn là chuyển lúa chuyển ngô. Bà con các bản bỏ cả làm ăn, tay mai, tay cuốc, cơm đùm, cơm gói đi moi rễ cây hồi, làm cho cánh rừng hồi héo khô. Nơi nào, chỗ nào vùng núi xa mấy, bà con cũng sục vào tìm cây hồi, tìm củ bích hợp, nên xông vào cả các trận địa pháo, trận địa phòng ngự, đi qua các chỗ đóng quân, các kho tàng của bộ đội. Khi về bán hàng, Mai Ngà lại hỏi căn, hỏi vặn cây này, củ này đào ở miền rừng nào, ở đó có gặp bộ đội, có gặp ai không, có thấy gì không…  Vùng rừng phía đông đã biết nhiều tin rồi, người bán đã nói nhiều điều bí mật rồi, thì Mai Ngà lại bảo họ củ ấy rễ cây ấy mùa này ở mạn núi phía tây nhiều và ở đó còn lạnh hơn có sương ẩm suốt đêm nên quí hơn, giá đắt hơn. Bà con lại nhào về phía đó. Rồi khi về bán, Mai Ngà lại hỏ họ ở đó có thấy điều gì, có bộ đội không, có hầm hào không. Miền nào, chỗ nào cần nắm chắc lại, cẩn thẩm tra thêm Mai Ngà lại bảo với bà con ở đó có nhiều cây này, nhiều củ này. Và loại đó ở chỗ ấy mùa này quí lắm… Thế là Mai Ngà chỉ ở Xín Cái mà đã nắm chắc hết tình hình trong vùng. Nơi nào có cơ quan, nơi nào có bộ đội, có trận địa, có kho tàng hậu cứu… Mai Ngà đều biết.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM