Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:53:29 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Re: Những chuyện không thể quên - Cười ra nước mắt (Phần 4)  (Đọc 97910 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
sauchinbaymot
Thành viên
*
Bài viết: 628


Nhớ Rừng!


« Trả lời #220 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2013, 07:21:59 pm »

Gọi Hạc 18

Sau thời kỳ Tổ Tam Tam thủa tân binh, rồi lớpDự khóa bay ở Bạch Mai, đến khi về Xê Hai Mươi, đã nghĩ thế là hết thời may mắn, hết thời 2 đứa được sống gần nhau, cùng tiểu đội, cùng ăn một mâm cơm lính. Đã trưởng thành nên theo con đường binh nghiệp, nhúc nhích từ chức Tiểu đội trưởng, sẽ ngày một xa nhau thêm. Thế rồi lại có may mắn nửa năm Binh địa-Ba Vì-Bảy Hai, lại được tụt xuống lĩnh trơn, lại được cùng nhà, có khi còn cùng giường. Vào chiến trường, lại mỗi đứa một trung đội, đứa miền Tây, đứa miền Đông, đứa Ái Tử, đứa Tích Tường Như Lệ, đứa thoát chết nhờ trời, đứa thoát chết nhờ đất, tưng tửng sống để rồi về Trà Liên lại tình cờ có dịp trở lại thời “thơ ấu”, sống bên nhau, cùng một mái nhà.

Đấy là mùa hè Bảy Ba. Ban Hai quyết định mở lớp học nghiệp vụ Binh địa tại Xê 20. Bốn giáo viên là Tân, Nhuần của c20 – e 18, Minh và mình, với học viên là 24 trinh sát của 3 trung đoàn gửi về và 12 trinh sát Xê 20 sư đoàn. Lớp Binh địa khai giảng 5/6/73 và bế mạc 30/8/73. Hai đứa mình tạm thời giao tiểu đội lại cho A phó để biệt phái sang lớp Binh địa. Lớp Binh địa nằm ở cuối làng Trà, sinh hoạt chung với Xê 20, coi như trung đội thứ tư. Minh và mình chuyển về ở nhà ông bà già, rất già, Cha Cò – Mụ Miến, nhà ngay bên đường làng. Cả Minh, cả mình đều đã kế rất nhiều về những tháng ngày lớp Binh địa Bảy Ba, về những kỷ niệm ngọt ngào, về tình cảm khi 2 đứa  sống cùng Cha Cò, Mụ Miến, về vụ lớp Binh địa gây nổ “bom nguyên tử” ở Ái Tử. Những năm trước, hai đứa nhắc lại với nhau chuyện thời ấy, thấy vui vui lẫn nao nao buồn. Bây giờ một mình nhớ lại, buồn đứt ruột.
 
http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,20523.40.html
http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,17873.70.html

Nghĩ lại thấy, hồi đó chúng tôi cũng hăng. Bác 6971 và tôi thay nhau lên lớp lý thuyết, bắt đầu từ ống nhòm, địa bàn, rồi bản đồ. Tôi còn nhớ, tôi phải lên lớp về bản đồ. Nói thực, dùng thì được chứ phải lên lớp bài bản lại là chuyện khác. Rất may chúng tôi được sư đoàn cho mượn tài liệu “Binh yếu địa chí”, sách in hẳn hoi và khá dầy. Chúng tôi đã được học ở d74, đã sử dụng bản đồ khá nhiều, nhưng phải dạy, phải đọc lại, mới thấm, từ cách chia mảnh bản đồ, cách ký hiệu mảnh trên bản đồ, lưới tọa độ, độ lệch của hướng bắc bản đồ so với hướng bắc của địa bàn. Thế mà F48 là gì bây giờ lại quên sạch sẽ rồi.

      Hai thằng 6971 và tôi bắt mình phải cố gắng đã đành lại còn “hành” anh em ra phết. Có 4 tiểu đội của lớp binh địa, cũng bày đặt trực ban, luân phiên các tiểu đội trưởng. Hàng ngày trung đội tập hợp thì trực ban phải điều hành trung đội. Sau khi tập hợp xong, các tiểu đội báo cáo quân số cho trực ban. Trực ban hô anh em “Nghiêm” rồi báo cáo “ Báo cáo đồng chí giáo viên, trung đội có mặt đầy đủ. Xin mời đồng chí làm việc !” Sau mỗi buổi lên lớp, trực ban lại hô anh em “nghiêm” và báo cáo giáo viên cho nghỉ. – Oai quá !  Lúc đó tôi thấy chuyện đó cũng bình thường nhưng có vẻ như không phải là hai thằng tôi tự nghĩ ra cái kiểu như ở trường sỹ quan “luộc quân” như thế mà phải do đại trưởng Ngơi dạy dỗ rồi.

     Thế nhưng hai thằng cũng bắt mọi người phải làm mỗi người một cái giá vẽ cơ động. Trông học viên binh địa đi vẽ trên thực địa cứ như là những sinh viên trường ĐH Mỹ Thuật. Cũng có kế hoạch giảng dạy,chia lịch học tập lý thuyết, thực hành, cũng vẽ dã ngoại, căn cứ địch này nọ, cũng tập sử dụng bản đồ ban ngày, ban đêm, bắt chước như hồi chúng tôi học ở d74. Bài vẽ phải nộp cho giáo viên, bốn thằng giáo viên chia nhau mà chấm.


Năm Lẻ Tám, mình trở về thăm lại Làng Trà sau gần bốn chục năm. Về Hà Nội, mình kể với Minh: "Người làng Trà vẫn nhớ "Đơn vị Hai mươi" bọn mình lắm. Bọn mình cũng đáng trách. Vẫn biết trong lòng bọn mình làm sao quên được làng Trà, nhưng ... Cha Cò, Mụ Miến cũng đi rồi. Mình muốn ra mộ thắp hương nhưng Cha Cò Mụ Miến đã yên nghỉ mãi trong Sài Gòn. Thì ra, ngày bọn mình ở nhà ấy thì các con Cha Cò Mụ Miến đúng là đang ở bên kia chiến tuyến. Hòa bình, các anh chị ấy đón 2 cụ vào Sài Gòn. Căn nhà, mảnh vườn để lại cho người cháu họ. Mình đành thay mặt cho 2 đứa, thắp hương tại nhà". Rồi năm sau, hai đứa cùng về làng Trà.
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười Hai, 2013, 08:21:05 pm gửi bởi sauchinbaymot » Logged

Nhật ký Viết lại
sauchinbaymot
Thành viên
*
Bài viết: 628


Nhớ Rừng!


« Trả lời #221 vào lúc: 13 Tháng Mười Hai, 2013, 10:54:55 pm »

Gọi Hạc  (19)

Khoảng lặng ở làng Trà kéo dài trên dưới một năm, năm Bảy Ba. Cuộc sống thanh bình, đắm thắm ngọt ngào tình quân dân sau hè Bảy Hai máu lửa, nhưng cũng là một mùa hè nắng như thiêu đốt và mưa lũ như Hồng Thủy của xứ Quảng Trị, đủ để bọn mình nhớ mãi.

Nhưng đời lính chiến, những khoảng lặng chỉ là may mắn hy hữu. Cuối năm chiến trường bắt đầu rục rịch một cái gì đó. Để chuẩn bị cho những bước đi mới, nhiệm vụ của đại đội trinh sát sư đoàn là triển khai luồn sâu vào sau lưng địch. Nhóm luồn sâu đầu tiên có C trưởng Ngơi, B trưởng HBảo, mình và một số chiến sỹ, bổ sung cả 01 trinh sát của e95. Đáng tiếc, toán trinh sát luồn sâu đầu tiên của Xê 20 mang bí danh A74 đã bị “xóa sổ” sáng ngày 8.1.1974 trên đèo Ba Lòng.

Số bị thương nặng, trong đó có HBảo được đưa ra Bắc. Mình phải nằm viện 43 ở Cam Lộ mất mấy tháng, ngán ngẩm, buồn tẻ. Khi xuất viện, đơn vị đã rời làng Trà, chuyển về Nại Cửu, cách chiến tuyến chừng 2 cây số. Để đảm bảo bí mật cao hơn, đơn vị lại ở rừng, lại nằm hầm, không ở trong dân nữa.

Mới về được ít ngày thì mình nhận lệnh ra Bắc, về trường Đại học kỹ thuật quân sự. Đêm cuối cùng hai đứa đi bên nhau, chậm rãi, quanh quanh những khu rừng xúp lúp Nại Cửu. Đến bây giờ vẫn còn nhớ cảm giác tối ấy. Buồn âm u.Bảo ra Bắc rồi, vết thương nặng, đã ổn định nhưng chắc sẽ giã từ đời lính. Mình ra học đại học quân sự, chắc cả đời sẽ là lính. Minh ở lại, mơ hồ ở phía tương lai.

Thế là 3 đứa phi công hụt ngày nào mới về Xê 20, giờ mỗi người mỗi ngả sau những nếm trải đầy may mắn. Không có cuộc chia tay nào nhiều ẩn số hơn cuộc chia tay của những người lính nơi chiến trường. Cả hai đứa đều lảng tránh không nói về những gì bấp bênh ở phía trước đang chờ người ở lại.    
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Mười Hai, 2013, 11:00:31 pm gửi bởi sauchinbaymot » Logged

Nhật ký Viết lại
tralientay
Thành viên
*
Bài viết: 301


« Trả lời #222 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2013, 08:27:23 am »

---
Không có cuộc chia tay nào nhiều ẩn số hơn cuộc chia tay của những người lính nơi chiến trường. Cả hai đứa đều lảng tránh không nói về những gì bấp bênh ở phía trước đang chờ người ở lại.   
---

Đúng quá.
Đây là ảnh "mấy thằng" c20 gặp lại nhau ở Hưng Yên, 30.4.2010.
Logged
tralientay
Thành viên
*
Bài viết: 301


« Trả lời #223 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2013, 08:30:13 am »

Chén rượu ngày gặp lại.

Hôm ấy ở Hưng Yên về theo đường 5, Lê Minh đèo mình.
Hắn phóng rất nhanh, ngồi sau cũng run.

Tới Hà Nội, ba đứa còn ra Hồ Tây đường Thanh Niên uống nước.
Mới có 3 năm trước.
Logged
sauchinbaymot
Thành viên
*
Bài viết: 628


Nhớ Rừng!


« Trả lời #224 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2013, 10:44:14 pm »

Gọi Hạc (20)

Bắt đầu từ tháng Tư năm Bảy Tư, mình không được dí dủm, rúc rích, chia ngọt sẻ bùi bên nhau nữa. Khoảng giữa năm Bảy Tư, mình còn may mắn nhận được 02 lá thư của Minh, gửi từ Cùa ra Vĩnh Phúc. Đấy cũng là lần đầu tiên trong đời mình được rưng rưng nhìn dòng chữ đầu thư: “Tài thân yêu!”, gửi từ nơi cận kề sống chết về.

Sau rồi mất tin, hun hút, thăm thẳm, căng thẳng, hồi hộp, thót tim. Ta dồn địch chạy dài từ Thạch Hãn tới mãi Sài Gòn, dinh Độc lập. Nhưng 325 ở đâu? Xê 20 ở đâu? Bạn tôi ở đâu? Có đi được đến cùng cuộc chiến?

Sau toán trinh sát luồn sâu A74 thất bại, Xê 20 cũng bị choáng ít lâu, rồi đơn vị rút kinh nghiệm, giữa năm Bảy Tư lại tiếp tục tổ chức các đợt luồn sâu tiếp theo. Toán thám báo thứ 2 luồn sâu vào trinh sát cao điểm 367, sát đường biên. Đêm đầu tiên vào an toàn, đêm sau bị phục kích, ta mất một trung đội trưởng và một chiến sỹ. Hôm sau, địch bêu đầu lính trinh sát ta trên cọc và mở loa ra rả cảnh cáo “Việt cộng lấn chiếm, Việt Công lấn chiếm!”. Mình biết tin này qua thư Minh gửi ra. Đau đớn quá!

Toán luồn sâu thứ 3 gồm Minh và C viên, đổi hướng đi cùng du kích, vào sâu sau lưng địch, xuống tận sát đường Một. Sau này Minh kể lại chuyến luồn sâu với mục đích binh địa này trên Quân Sử, mình mới biết.
Cùng đi chuyến ấy với Minh có anh Chánh, huyện đội phó Hải Lăng và du kích Vượt dẫn đường. Thật thú vị, Minh viết: “Những người thạo đường thì không thạo bản đồ, tôi thạo bản đồ thì lại chả biết đâu vào với đâu”. Rôi Minh kể về anh Chánh:

 “Thì ra anh không phải là huyện uỷ viên như tôi tưởng mà là trung uý, huyện đội phó huyện đội Hải Lăng, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ta hãy cứ tạm gọi anh là Chánh, cho nó có gì đó là Mỹ Chánh quê miềng.
   Anh Chánh người nhỏ bé, gày guộc. Phải nói là rất gày. Anh có nước da đen mái, tóc rất thưa, cắt 3 phân, gần như không có râu. Đôi má hóp của anh có đến ngoặc tam ngoặc tứ, nhất là mỗi khi cười. Mới tầm 40 mươi nhưng trông anh rất già (không biết có phải lúc đó mới có 21, 22 tuổi nên nhìn anh tôi thấy rất già). Trông anh như người đau bao tử lâu năm, rõ là sốt rét chuyên nghiệp rồi. Chỉ có đôi mắt trũng sâu là tinh anh. Giá như bây giờ, mọi người sẽ tưởng anh là con nghiện bố chấy.
   Cả ngày hôm đó, chúng tôi nghỉ ngơi trong động và tôi được nghe anh kể rất nhiều chuyện, nhiều nhất là chuyện đánh nhau. Một du kích và bộ đội nhanh như sóc. Khi chúng tôi hỏi chuyện vợ con thì anh chỉ im lặng. Mãi rồi anh mới cười, anh cười rất thoải mái, đuôi mắt xoè ra những nếp nhăn như dẻ quạt. Trong tiếng cười hồn hậu anh buông ra chậm rãi:
-   Cả một đời vì nước vì non !
Rồi lại cười. Chắc chắn những đồng đội của anh sẽ không thể quên được: "Cả một đời vì nước vì non !" Cậu du kích xã Hải Phú còn trêu anh với một cô y tá nào đó ở huyện, thì anh vẫn cười và lại lặp lại đúng câu đó.
   Tôi tả kỹ anh như vậy, hy vọng sẽ có ai đó nhận chân dung và cho tôi được biết lại tên anh, cho tôi biết thêm về hoạt động và cuộc sống của anh sau này.  Bức chạm về một người nông dân, huyện đội phó, anh hùng nhỏ thó đó khắc vào tâm khảm tôi, đã bao nhiêu năm, vẫn chẳng mờ đi một nét nào”.


Chơi với nhau lâu, đọc những dòng viết chân thành và đậm chất nhân văn về anh Chánh, dù có không nói ai viết mình cũng nhận ra Minh. Trong chuyến công tác binh địa ngắn ngủi ấy, Minh được ngồi sâu trong Hải Lăng để vẽ cảnh đồ có cả nhà thờ La Vang, ngã ba Long Hưng, nhưng là nhìn ngược từ phía đich sang phía ta. Còn được nghe cả tiếng loa của ta phát từ đầu cầu Quảng Trị vọng vào. Những phút giây và cảm giác đích thực của một trinh sát binh địa. Sướng thế! Mình cũng nghiền ngẫm mãi khoảng suy tư trầm tĩnh rất Tích Tường Như Lệ:
  
"Chúng tôi ngồi trên đỉnh đồi hóng gió và quan sát. Thật là một cảm giác kỳ lạ. Có thể ngồi thảnh thơi hóng gió ở rất sâu trong lòng địch. Mà tại sao mình lại ở chỗ này nhỉ? Xa cách với mọi thứ thân quen, xa cách mọi người. Sao mình ở một nơi chẳng ai hay biết có mình. Giá như mình có chuyện thì sẽ chẳng còn lại dấu vết gì!

   Tôi không cảm thấy buồn mà chỉ nghĩ về cái logic của chiến tranh. Không còn gì là bình thường. Kể cũng lạ ! Tôi không thấy ngán, cũng không sợ chết mà thấy có vẻ như mình đang đùa chơi với sự sống và cái chết. Mà, sao vẫn cảm thấy thanh thản lạ. Phải chăng đó là logic cho ta sức sống. Tuổi trẻ của chúng tôi  đi vào chiến tranh có phải đều như vậy? Sự gian khổ hay ác liệt không tước đi hết mọi thứ trong mỗi người lính. Những giây phút tĩnh lặng vẫn trả lại cho họ tất cả. Thật không vậy? Không! Có một thứ không bao giờ được trả lại. Đó là những người thân thiết đã nằm lại đâu đó trong dòng chảy thác lũ của cuộc chiến. Đó là sự day dứt mà những người lính không bao giờ thoát khỏi. Đã bao năm rồi. Vẫn vậy!"


* Kèm bản đồ đường đi của chuyến luồn sâu Hải Lăng do Minh vẽ
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Mười Hai, 2013, 10:55:20 pm gửi bởi sauchinbaymot » Logged

Nhật ký Viết lại
nguyentrongluan
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1246


« Trả lời #225 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2013, 12:36:29 am »


Rời khỏi chiến tranh , đọc nhiều người viết về chiến trường nhiều truyện nói về chiến trường thế mà chỉ đọc Minh mình thấy nể phục thế . Giản đơn không hề có súng đạn , xúc tích đến cô keo sự vật lại mà vẫn xúc động . Xúc động rất tự nhiên Lê Minh ạ
Logged
sauchinbaymot
Thành viên
*
Bài viết: 628


Nhớ Rừng!


« Trả lời #226 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2013, 10:09:53 pm »

Gọi Hạc (21)

Có thể nói “Luồn sâu” là một trong số những nhiệm vụ nặng nề, nguy hiểm nhất đối với lính trinh sát. Lại càng nặng nề, khó khăn khi người lính trinh sát sinh ra ở miền Bắc xa xôi phải đi trinh sát luồn sâu vào một vùng sau lưng địch ở miền Trung, đất Quảng Trị, nơi cảnh quan, địa hình, con người, màu da, giọng nói đều khác lạ. Khó gấp bội so với việc luồn sâu của một anh du kích từ cứ về chính làng mình. Nhưng may thay, lần trinh sát binh địa luồn sâu của Minh xuống Hải Phú – Hải Lăng đã an toàn, yên ổn, hoàn thành nhiệm vụ, nắm được địa hình, bố phòng, vẽ cả cảnh đồ toàn tuyến nhìn từ sau lưng địch sang phía ta. Thậm chí thế hệ trẻ bây giờ đọc lại có khi còn cảm thấy chuyến luồn sâu Hải Phú đượm chất phiêu lưu nhưng thi vị và lãng mạn.  

Sau những ngày luồn sâu căng thẳng, về lại Xê 20, những tưởng sẽ là những  ngày hồi sức, chia sẻ với đồng đội, nhưng Minh lại nhận hung tin. Tiểu đội của Minh, A2 thân yêu của Minh đã tan tác khi Minh đi vắng.

“Khi tôi luồn sâu xuống xã Hải Phú, Hải Lăng về đến Xê Hai Mươi ở sông Ái Tử thì giật mình vì đại đội tôi vắng hoe. Một nửa đại đội đã bị chuyển đi đơn vị khác. Nghe nói sắp nhận lính mới bổ sung về. Về đến nhà riêng của tiểu đội còn buồn hơn vì tiểu đội tôi bây giờ chỉ có mỗi mình Vương Lâm. Nó là a phó a1 chuyển sang khi tôi đi vắng. Anh em cũ trong tiểu đội tôi bị chuyển đi hết. Lâm nói:

- Tiểu đội 2 của ông bị chuyển đi hết. Đại đội biên chế lại. Bây giờ tôi về tiểu đội 2. Tiểu đội bây giờ chỉ có hai thằng ông mới tôi thôi.
- Chúng nó bị chuyển đi đâu thế ?
- Thằng Cam sang c26, thằng Thìn sang vận tải, thằng Sự đi bộ binh 101. Nhiều nhất là về 101, còn đi đâu nữa thì tôi không biết.
- Lúc nãy tôi ở trên đại đội thấy mấy ông mới quá.
- Ừ !  Ông Nhạ ở trinh sát 101 về làm đại trưởng, ông Thanh mới học ở ngoài Bắc vào làm chính trị viên, ông Triêm cũng mới ở trường ra về làm đại phó. Còn mỗi ông Ánh là cũ thôi.
- Không biết lão nào mà ngu thế ? Sắp đánh nhau đến nơi lại đi thay quân. Thế này thì làm ăn đ'. . . gì !
- Cả xê, thằng nào cũng chán.
- Ngu thật đấy ! Đểu thật đấy. Sống với nhau từ bảy hai đến giờ thế mà lại đẩy bọn nó đi. Chả có tình nghĩa chó gì . . .!
- Thì ở trên người ta biết đâu.
- Đ' . . . phải đâu. Ở trên thì biết thằng nào với thằng nào. Cái này là do thằng ở đại mình nó đưa danh sách lên chứ. Tôi nghĩ ra rồi, trước khi nó đi khỏi đại mình để phát triển lên đoàn lên điếc, thì nó cũng đẩy hết những đứa nó không ưa đi chứ sao. Quá đểu ! Không thể chấp nhận được.
- Là tôi nói ở trên cho nó qua chuyện chứ tôi cũng nghĩ như ông đấy.

Tôi cảm thấy bực dọc, buồn bã và bất lực. Tôi nhớ chúng nó quá. Giá mà chúng nó chuyển ra bắc để đi học thì đã mừng, đằng này lại chuyển đi đơn vị khác, lại cũng là chỉ trong sư đoàn chứ có phải vì nhiệm vụ gì đâu. Cứ cho là lão máu lạnh đi, thì cũng phải biết, chúng nó toàn là những thằng dày dạn bom đạn từ năm 72, hai năm nay huấn luyện rất nhiều về nghiệp vụ. . . mà sao lại đẩy đi. Quá ngu. . .! Đại đểu . . .!”.


Với lý do “nâng cao chất lượng lính trinh sát”, Xê 20 bị thay máu nhiều lần. Với đại đội, trung đội cũng có xao xuyến, có bâng khuâng nhưng sự xáo trộn không đến nỗi nào. Còn tiểu đội, cũng như những người lính tăng trên cùng xe, thực sự là một gia đình, một tổ ấm. Ai đã từng là tiểu đội trưởng trong chiến đấu và chỉ là tiểu đội trưởng mới có thể hiểu tình cảm đến phát khùng của Minh lúc ấy. Mình cũng từng đắng cay, vật vã vì cấp trên xé nát A8, nhưng không đến nỗi xóa trắng trơn như A2 http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,17873.100.html.
 
Trong số những chiến sỹ A2 chuyển đi, chuyện về Sự là vết thương bầm máu trong tim Minh cho mãi đến bây giờ.
  
“- Thằng Sự đồng hương Ân Thi với tôi chuyển về bộ binh. Hôm vác đạn ở 560 bị pháo bắn chết rồi. Đơn vị mới thì ai biết nó là thằng nào. . . Chẳng biết nó nằm ở đâu ?
-   Ừ ! Tôi đang đắp sa bàn thì được tin nó chết. Đau quá ! Nó ở tiểu đội tôi mà ! Nó chuyển đi thì tôi đang ở Hòn Vượn. Hôm ở 560, tôi nhận được thư tay của nó không biết nhờ ai chuyển. Thư của nó đây này !
Tôi móc bức thư từ trong túi ngực đưa cho Luân. Bức thư được viết trên giấy xé ra từ vở ô ly (thủng bụng), bốn mặt dày đặc chữ. Thằng Dũng soi đèn. Hai thằng lặng lẽ đọc thư rồi gấp lại đưa cho tôi.
-   Ông khóc à ! Đúng không ? Tôi thấy nhiều đoạn bị nhòe nước mắt ? – Luân hỏi.
-   Tôi chẳng được chia tay nó khi nó chuyển đi bộ binh. Lúc đang ùng oàng ở động Truồi lại nhận được thư nó. Hai hôm sau thì nó chết. . . Tôi lục hết đồ của tôi, chẳng có cái gì của nó cả. Mãi mới nhớ ra là tôi có cái khăn mùi xoa của nó. Nó có hai cái, nó bảo tôi cầm một cái. Còn cái bút của nó đây nữa. Cái khăn và cái bút thì tôi vẫn nhét trong túi ngực. Bút đây này! khăn đây này!
-   Thằng Sự nó lùn nhưng ở xê mình, chơi bóng chuyền, có nó đứng giữa sân phòng ngự là vững nhất.

Sự ở tiểu đội tôi, kém tôi một tuổi, cực kỳ ít nói, người thấp đậm, mặt bầu bĩnh. Nó có nét cười rất tươi, dễ gần, dễ mến. Tôi và nó có rất nhiều kỷ niệm. Lá thư nó gửi cho tôi là lá thư duy nhất giữa hai đứa. Lá thư và chiếc khăn tôi để trong ba lô khi hành quân bằng ô tô. Đụng nhau với địch trên đường từ Xuân Lộc về Bà Rịa. Xe cháy, mất sạch rồi. Chiếc bút của nó tôi cài ở túi áo nên bây giờ vẫn còn. Đó là một chiếc bút “Trường Sơn” màu ghi, nắp bút vặn vào thân bút bằng ren.
-   Không ngờ thằng Sự nó viết thư tình cảm thế. Mà các ông quý nhau thật. Nó đi rồi, lại chết, chắc ông buồn lắm. – Dũng nói.
-   Mà nó gọi ông bằng anh xưng em là sao thế ? – Luân hỏi.
-   Ừ ! Lúc nào tôi với nó cũng ông ông, tôi tôi thôi. Nó chỉ kém tôi có mấy tháng. Đây là lần đầu tiên nó gọi như thế đấy . . . Và là lần cuối . . . Các ông thấy có đau không?”.


Nhắc lại câu chuyện mới đây thôi về Minh với bức ảnh truyền thần của liệt sỹ Sự để biết không dễ gì nguôi ngoai chuyện xưa
  
“Liệt sỹ Sự để lại trên đời này duy nhất một bức ảnh, nhưng là ảnh chung trong bức ảnh gần 100 người của Xê 20 ở làng Trà Liên Tây năm 1973. Người trong cuộc thì nhìn bức ảnh mờ tịt cũng nhận ra nhau ngay, không thể nhầm, nhưng người dưng thì nom ảnh thấy lờ mờ, ai cũng như ai.

TTNL tận tụy, kỳ công tìm cho được hàng truyền thần có mác có mỏ ở phố Hàng Đường, HN, rồi phải năn nỉ, nói khó họ mới nhận làm. Hôm đến nhận ảnh để mang về Hưng Yên, TTNL thấy thất vọng vì bức ảnh chẳng được giống lắm. Giống làm sao được. Mình là đồng đội sống chết với nhau, hình ảnh đã ăn sâu trong ký ức, chẳng cần ảnh cũng vẽ lại được nếu có chút năng khiếu hội họa chứ trách gì ông họa sỹ người dưng, vô hồn với bức ảnh đen trắng đã 37 năm, độ phân giải chắc chỉ vài trăm picxel.

Khi nghe TTNL nói về người trong ảnh (liệt sỹ Sự), bà vợ ông họa sỹ tỏ ra cảm động về tấm lòng của những người đồng đội đối với nhau. Bà ngập ngừng, xúc động: "Các bác đúng là ... các bác", rồi gọi ông chồng ra sửa lại đôi nét theo yêu cầu của TTNL. Một chút ở gò má, một chút ở khóe miệng, ở lông mày.

Nom cũng khá hơn. Thôi thế cũng được rồi. TTNL hỏi tiền công để trả. Người vợ ông họa sỹ truyền thần nói: "Thôi người ta thì nhà em vẫn lấy 800 (ngàn) một ảnh, chứ của bác thì ..." Bà ấy dừng một chút như để cân nhắc trước khi chốt.

“Trường hợp của các bác thì đúng ra là nhà em không lấy tiền các bác, nhưng thôi chúng em xin các bác 500 ngàn gọi là tiền giấy, tiền chì” - Tôi trả lời như vậy khi TTNL hóm hỉnh hỏi tôi: “Thế T đoán là bà ấy chốt bao nhiêu?”

Sau câu trả lời ngây thơ của tôi, TTNL buông một câu: “Chín trăm”. Tôi cười, không phải cười phá lên mà cũng không phải cười gượng. Ngẫm thấy cũng phải: Cái ảnh thường, có ảnh gốc rõ ràng, có khi lại kèm thêm cả nguyên mẫu comple caravat sống sờ sờ ngồi bên mà còn 800 thì ảnh người đã khuất 37 năm về trước phải vô giá mới phải. Dù sao thì từ nay đã có ảnh liệt sỹ Lê Xuân Sự bên cạnh ảnh anh trai Lê Xuân Công trên bàn thờ gia đình."


Nhớ, hai đứa mình vẫn thường nói với nhau: Nợ với người đã khuất dù rất mơ hồ, đôi khi là do người còn sống tự ấp vào mình, cũng không ai bắt nợ,  mà sẽ chẳng bao giờ trả hết được.    
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Hai, 2013, 10:06:26 am gửi bởi sauchinbaymot » Logged

Nhật ký Viết lại
sauchinbaymot
Thành viên
*
Bài viết: 628


Nhớ Rừng!


« Trả lời #227 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2013, 09:50:54 pm »

Đã định bụng sẽ nhắc lại chuyện về chuyến đi ấn tượng của 2 đứa về Hưng Yên năm nào vào một lần Gọi Hạc về sau, theo trình tự thời gian. Nhưng viết đến chuyện tan vỡ A2 vì "thay máu", chuyện liệt sỹ Sự, lại nhớ tới A8 của 6971, và hình ảnh của chuyến đi Hưng Yên ập về, dưng dưng. Ấy là năm 2011, "cánh" Hưng Yên "mời 2 anh TTNL và 6971 về với bọn Hưng Yên chúng em vui ngày 30/4". Đoạn "Hưng yên ký sự" dưới đây mình viết ngay sau chuyến đi.

"Với tôi, lần này về Hưng Yên nhận được thêm thông tin về Loan và Nguyệt. Loan là lính A8 của tôi, còn Nguyệt là thông tin trinh sát, cùng bị thương với tôi ở thung lũng Ba Lòng năm 1974. Hóa ra cả 2 đều là dân Hưng Yên. Thế thì tôi còn nợ đất nhãn lồng này rất nhiều.

Đến hồi chia tay thì bỗng rộ lên: “Các anh rẽ sang nhà em tý, 2 bác rẽ sang thăm nhà em tý, ngay đây mà, mấy khi”. Cũng nể, nhưng biết nhận lời ai. Cuối cùng TTNL và tôi quyết định nhận lời Tiến. Tiến năn nỉ: "Về em đi, anh TTNL hứa với em lâu lắm rồi đấy. Gần đây thôi, khoảng 2 km. Nhân thể anh 6971 về thăm Loan. Nhà nó cách nhà em đúng nửa cây số.” Nghe thấy hợp lý, TTNL muốn về nhà Tiến từ lâu rồi, còn tôi thì chuyện gặp lại Loan chỉ là trong mơ.

Chúng tôi rời nhà Tuế, theo Tiến dẫn về nhà Loan. Đi vòng vòng 2-3km, qua mấy cánh đồng mới thấy Tiến bảo: Hết địa phận xã thằng Tuế. Lại cua cua, lượn lượn thêm 3 xã rõ dài nữa mới qua quê Tiến, rồi mấy quãng đê dài, những rặng nhãn trạt hoa và vài cánh đồng ướp mùi lúa non mới đến đầu xã của Loan. Không phải là "đúng nửa cây số" mà là nửa chục cây số, đi qua địa phận 3 huyện: Văn Giang – Yên Mỹ - Khoái Châu. Hoặc ở quê ước lượng cây số không chính xác, kiểu mấy con dao quăng, hoặc vì lòng hiếu khách mà nói xa thành gần. Được.

Đến trước một ngôi nhà không có cổng, Tiến bảo: “Nhà nó đây”, rồi cua ngoặt xe vào sân, con chó xoắn xuýt vẫy đuôi chứ không sủa. Tôi xuống xe từ ngoài ngõ. Hồi hộp. Thằng Loan ngày xưa má hồng, ngực trắng và căng chẳng ai bảo là ngực con trai, bây giờ ra sao đây?

Có sốt ruột đến cồn cào muốn biết gặp lại Loan hôm nay ra sao thì cũng xin kiên nhẫn theo tôi ngược lên gần 40 năm về trước, khi tôi 20 còn Út Loan 19.

Đấy là cuối Bảy Hai, Xê 20 được bổ sung quân, nhưng không phải lính mới mà là các cựu binh ưu tú, chọn lọc từ các đơn vị trong sư đoàn. Sở dĩ phải bổ sung quân một phần để bù đắp những chiến sỹ trinh sát đã hy sinh qua mùa hè Bảy Hai ác liệt, một phần vì chủ trương thay máu của lãnh đạo đơn vị. Quảng Trị Bảy Hai cướp mất của chúng tôi A Độ, bạn Triệu và em Hiếu. Đợt ấy, A8 của tôi được bổ sung 4 người: Lâm “họa sỹ”, Bảo “con”, Út “Loan” và Chỉ. Chuyện về mỗi người ấy đều đáng vài trăm trang. Phần này xin hãy chỉ nói về Út Loan.

Út không phải là con út như ngoài Bắc hiểu mà Út theo tiếng Quảng Trị, là em gái, cô gái. Tên thì là Loan, da thì trắng nõn trắng nà, mắt bồ câu, ngực phây phây, nây nẩy, chẳng Út thì là gì. Nhưng riêng cách nói ngang phè của Loan thì không thể Út mà phải là Eng, Eng xịn. (Eng tiếng QT là anh).

Tôi không nhớ trước đó Loan đã ở đơn vị nào, nhưng chắc chắn phải là một tấm gương sáng mới được chọn lên Xê 20. Về với tiểu đội tôi vào cuối Bảy Hai, Út Loan lăn lộn với bọn tôi Cao Hy, rồi đài quan sát 108, rồi lưới quét Trà Liên Tây, … cho đến cuối Bảy Ba, với lủng củng bao nhiêu chuyện trắc trở, vui buồn nhưng là một phần không thể thiếu trong ký ức của tôi về thủa ấy.

Xin được bắt đầu câu chuyện Út Loan bằng đoạn nhật Ký của A trưởng:

“22.6.1973: Loan đi khỏi A của tôi. Đến một nơi khác. Nơi ấy không có tôi, không có những người như ở đây.
Tôi tránh không chia tay với Loan, bởi cái lẽ rất giản dị: Tôi rất thương Loan.

Ừ thì bướng đấy, lấc cấc đấy, ngang ngạnh và bồng bột đấy, nhưng chỉ làm tôi thương Loan chứ không ghét. Thương vì Loan nghèo, nghèo về vốn sống, về sự hiểu biết và từng trải. Vốn sống nhỏ nhoi của Loan không đủ cho Loan “xài”. Bao nhiêu mũi nhọn chĩa về Loan. Nhiều lần tôi cố đỡ bớt cho Loan, nhưng không làm sao khác được. Tôi cố đẩy Loan lên cho kịp với tầm chung, nhưng Loan lại nỗ lực quay ngược lại. Ngẫu lực bắt Loan quay tròn và văng vào một cối xay khác. Ở đấy có những gì đợi chờ Loan?

Tôi buộc lòng phải để người ta đẩy Loan đi. Buộc lòng phải dứt đi một đồng đội mà ta coi như em trai. Ta bất lương. Ta tàn nhẫn.
Ghi vội khi Loan đang ngủ. Khi nào ngủ con người lại càng lương thiện hơn, tội nghiệp hơn. Khi nào tỉnh dậy thì đi nhé. Hãy đi vào nơi mới ấy bằng một thằng Loan mới – Trà Liên Tây."


Nhật ký thì là thật rồi, thật 100%, nhưng cô đọng quá. Chỉ mấy dòng cảm xúc bút chì bồng bột của cậu a trưởng 21 tuổi về một cậu lính trẻ hơn 1 tuổi, bồng bột hơn mình một chút thì chưa đủ để hình dung sự thể trọn vẹn thế nào mà Loan phải ra đi. Xin được dựng lại câu chuyện theo hồi ức.

Hè Bảy Ba, ở làng Trà, có một lần chính trị viên tổ chức cho cả đơn vị đi xem phim “Anh Trỗi”, dựng theo tác phẩm “Sống Như Anh”. Xem song, mấy tối sau các trung đội, tiểu đội thảo luận và viết “thu hoạch” về tấm gương yêu nước quên mình của anh Trỗi. Trong phim có cảnh sáng sớm sau đêm bị bắt vì đặt mìn trên cầu Công Lý, cảnh sát giải anh Trỗi về khám nhà. Khi mới nhìn thấy người vợ trẻ đang đứng rửa mặt ở sân, anh Trỗi chủ động nói to: “Quyên, anh bị bắt!”. Thế mà một cậu lính trinh sát lếu láo nào đó của Xê 20 xuyên tạc giọng Nam bộ thành: “Guyên, ăn dẩm phải cức”. Câu nói xuyên tạc lan rất nhanh trong Xê kèm theo những trận cười no nê, và lọt đến tai chính trị viên. Ông bắt đầu khoanh vùng để tìm ra thủ phạm.
Loan không bị dính vào vụ “dẩm phải cức” ấy nhưng cũng bị khoanh vào vùng nghi vấn. Cộng cộng mấy nghi án, dù tôi hết sức bênh vực thì cuối cùng Loan cũng nằm vào diện phải thay máu, nói theo ngôn ngữ hồi ấy là “xuống bộ binh”.

Đầu 6/73, tôi nhận quyết định tạm trao tiểu đội lại cho Lạp, a phó, để chuyển sang làm “hiệu trưởng” lớp binh địa. TTNL cũng vậy. Hai đứa chuyển về cuối làng, ở nhà Cha Cò Mụ Miến. Tối 21/6/73, thấy các thủ trưởng đơn vị gọi tôi lên. Tôi được thông báo cho biết, sáng hôm sau sẽ có lệnh điều chuyển Loan đi nhận nhiệm vụ mới ở đơn vị khác và yêu cầu tôi không được để cho Loan biết trước. Tôi ngỡ ngàng. Không rõ điều gì đã xẩy ra trong 2-3 tuần qua, kể từ khi tôi rời A sang lớp Binh địa. Mặc dù tôi thanh minh rồi phản đối nhưng đã là quân lệnh thì chỉ có việc tuân theo. Thế là Út Loan của tôi phải “xuống bộ binh” rồi.

Tối ấy tôi không ngủ ờ nhà Cha Cò mà về A8 ngủ. Một buổi tối vui hờ với anh em trong dằn vặt, dối trá. Theo kế hoạch, sáng 22/6 tôi phải vượt sông Thạch Hãn sang Bích La, Đại Hào chuẩn bị địa hình cho lớp binh địa. Tôi dậy rất sớm, lặng lẽ đứng nhìn Loan đang ngủ say, rồi quay về nhà cha Cò, quơ bút chì viết vội mấy dòng nhật ký trên, xong lấy bản đồ, địa bàn, cho vào túi mìn Claymo, bơi qua sông Thạch Hãn.  

Đọc lại nhật ký tôi mới giật mình: Hóa ra ngày 22/6 tôi qhi nhật ký đến 2 lần với 2 cái mốc đáng nhớ: Chia tay Loan về bộ binh và lần đầu tiên nhìn thấy Thủy tề rất gần.

Sau khi khảo sát địa hình, tôi lại bơi ngược về Trà Liên, nhưng  ở quãng sông vắng mãi cuối làng. Đây là quãng sông lạ, tôi chưa tắm hay bơi bao giờ. Khi sang đến gần bờ phía Trà Liên Tây, tôi bị lọt vào vùng sông dày đặc rong. Càng bơi rong càng dày, quấn cứng lấy chân. Đuối sức và tuyệt vọng tôi lần lượt dìm ướt rồi bỏ buông cả dép, cả quần áo, mũ cối, cố trườn ngửa lên mặt sông đầy rong, ngoặc quai túi mìn claymo qua vai, để chiếc túi trong có bản đồ, la bàn lên bụng, rã rời vẫy vẫy chân tay, đờ đẫn thở. Tôi nằm buông xuôi tuyệt vọng như vậy không rõ bao lâu thì chợt thấy đầu kịch vào bãi cát như có một phép màu. Sống rồi. Trưa về, tôi buông mấy dòng sặc mùi ông cụ non vào nhật ký:

“22.6: Hãy coi chừng. Mày chưa phải là Cái rốn của vũ trụ đâu. Có vô vàn những thế lực khác sẵn sàng nhận chìm mày như trưa nay. – Thạch Hãn Giang.”

Sau lần chết hụt buổi trưa, buổi tối tôi lại về A8 ở đầu làng, vừa để hỏi hạn, san sẻ và thanh minh với anh em chuyện Loan “xuống bộ binh”, vừa để kể về vụ suýt chết đuối ở bãi rong phía cuối làng. Đấy là tối thứ Sáu, tối cuối tuần. Nhưng lạ thay, chưa vào đến nhà tôi đã nghe tiếng Út Loan, đúng là tiếng nó. Mấy đứa đang quật Tiến lên, thắng thua, hò hét inh ỏi.
 
Tôi soi kỹ trong nhật ký và lục lọi trong ký ức nhưng không thấy thông tin nào về việc vì sao lần ấy Loan không phải “xuống bộ binh", chỉ tìm thấy một đoạn nhật ký viết sau đó gần 1 tháng, không có tên Loan trong đoạn này, nhưng có gì đó gần gần với vụ việc của Loan:
 
“20.7 Nếu như hắn không làm vừa ý anh một lần đầu trong nhiệm vụ thì đừng vì thế mà “bỏ két” hắn ta. Bỏ vào “két”, hắn ta sẽ mốc lên, gỉ ra rồi rữa mất. Mà chắc gì anh đã tìm thấy một “hắn” khác như ý hơn. Phải làm tận bờ, sát góc. Được mới thôi. Hỏng, làm nữa, làm lại, làm đến được thì thôi. Được là được việc và được cả người. Đừng bỏ rơi hắn. Chọn người là dễ đi đến “kiêu binh”. Phải rèn người mới phải. - Trà Liên”.

Sở dỹ ở đại đội trinh sát sư đoàn có câu chuyện cảm động về liệt sỹ Sự ở A2 của Tichtuongnhule, cũng như câu chuyện éo le về Út Loan ở A8 của tôi là vì tính đặc thù của đơn vị trinh sát. Thực ra Xê 20 cũng là bộ binh thôi, nhưng nghiệp vụ trinh sát có những yêu cầu nhất định. Do vậy mới có chuyện tuyển chọn lính mới về, thải lính cũ đi, chứ đơn vị bộ binh chiến đấu thì đâu có như vậy được, đã cùng đơn vị rồi thì đi với nhau đến cùng chứ. A trưởng với lính thì như ruột thịt, ngoan hư gì cũng tựa vào nhau mà sống, mà chiến, chẳng nỡ đuổi đứa con hư sang hàng xóm mà cũng chẳng hớn hở đón đứa con ngoan nhà khác về nhà mình nuôi. Trung đội trưởng xa hơn, chính trị viên đại đội thì còn xa nữa, chuyển đi, nhận về mà ít băn khoăn, dằn vặt. Trái ý thì điều chuyển, đỡ bận tâm, lấy đứa mới về, dẫu gì cùng dễ bảo, ít nhất là giai đoạn đầu. Có phải chỉ huy nào cũng được học sách dụng binh của Tôn tử đâu.

Tôi níu Loan lại với A8, với Xê 20 được tới cuối năm, vui buồn nham nhở một mùa hè Bảy Ba rát rạt nắng gió và mênh mang mưa lũ ở làng Trà, những đêm lấm lem bì bõm kéo lưới quét ở Hói Bái, những ngày bập bềnh lũ quét Thạch Hãn vớt củi, đêm mưa dò dẫm trên đồng làng bắt ếch chằm, chọc bắt lũ chuột chạy lũ trên ngọn tre, lên sân bay Ái tử dỡ ghi đường băng về ghép giường, đủ đói no, sướng khổ. Để rồi việc gì phải đến, cũng sẽ đến – Loan vẫn bị “xuống bộ binh”. Tôi lại tìm thấy một đoạn ngắn trong nhật ký cuối năm với duy nhất một chữ Loan:

“11.12.73: Khuê thân mến! T vừa nhận được tin một chiến sỹ của tiểu đội T sắp phải xa T. T viết những dòng này trước khi viết thư gửi lại cho “con chim non” ấy. ... Dù chỉ là dính líu mà T vẫn thấy mình mắc tội. Lại “đẩy” em đi đâu? T cảm thấy rõ rệt một trách nhiệm vô hình gắn T với Loan. Phải là người nâng đỡ, che chở cho Loan mới phải. Bây giờ T cảm thấy mình luôn là nạn nhân của sự hối hận, mặc dù công bằng mà nói, T cũng đã nhân đạo rất nhiều và từ lâu rồi.”.

Không nhớ lần ấy chỉ huy đơn vị đã vin cớ gì để chuyển em "xuống bộ binh". Và không biết em đã “văng” vào cái cối xay nào, rồi em ra sao ở đấy, có bị nghiền nát không, có may mắn trở về sau chiến tranh không? Chữ Loan duy nhất trong đoạn nhật ký trên cũng là chữ Loan cuối cùng trong tất cả bộ sưu tập nhật ký của tôi. Cứ thế bẵng đi cho đến chiều 23/4/2011.
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Mười Hai, 2013, 08:49:11 am gửi bởi sauchinbaymot » Logged

Nhật ký Viết lại
sauchinbaymot
Thành viên
*
Bài viết: 628


Nhớ Rừng!


« Trả lời #228 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2013, 09:53:24 pm »

(Tiếp theo)
TTNL và tôi đứng chờ ngoài ngõ. Tiến vào nhà, chỉ nửa phút sau quay ra. Cùng đi với Tiến là một người đàn ông. Tôi là người chủ động nên dù người ra cùng Tiến có khác với tưởng tượng bao nhiêu chăng nữa thì cũng biết chắc chắn đấy là nó, là Út Loan. Loan là người bị động, cậu đứng ngừng giây lát ngay đầu hè, ngây người nhìn 2 chúng tôi. Tôi không biết Loan nghĩ gì, cảm xúc ra sao, có nhận ra tôi không. Có thể Loan nhận ra tôi vì thấy 1 trong trong 2 người khách Hà Nội đứng lau nước mắt.

Loan thay đổi quá nhiều, đã thành một lão nông thực thụ, nhưng nét mặt và ánh mắt, giọng nói nhát gừng, thũng thẵng thì vẫn là Út Loan xưa.

Dồn trong tôi biết bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu thắc mắc, tò mò về Loan kể từ khi tôi viết thư gửi lại cho em để chạy trốn buổi chia tay đầy oan khúc cuối Bảy Ba. Thực tình, bây giờ ngồi chỉnh tề đối diện Loan trong ngôi nhà tuềnh toàng ở xóm quê xứ Khoái, tôi thấy ngường ngượng khi nghĩ ngày xưa mình đã thản nhiên coi mình là anh, coi người đàn ông giờ đã luống tuổi, điềm đạm này là em, là “con chim nhỏ”, để kẻ cả bao che, nâng đỡ, dìu dắt. Cứ bạ đâu hỏi đấy, rồi hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

Loan chậm rãi kể, lúc xưng em, lúc xưng tôi: “Lấn ấy ở Trà Liên là em bị oan. Cả đơn vị đi giã ngoại, em với mấy đứa được cắt cử ở lại coi doanh trại. Mỗi tiểu đội cử một người ở lại, người tiểu đội nào coi đồ đạc nhà cửa cho tiểu đội ấy. Cơm chiều, 3 thằng gác nhà của 3 tiểu đội B3 rủ nhau ăn chung một nhà, tán phét cho đỡ buồn. Khi về nhà thì thấy khẩu AK-báng gấp không cánh mà bay. Thời ấy dù ở nhà dân nhưng sơ sài, tin nhau, chẳng nhà nào có khóa cổng, khóa cửa. Mất vũ khí thì toi, hoáng lên đi tìm. Chưa kịp định thần tìm ở đâu, nghi cho ai, báo cho ai thì thấy T ở C-bộ báo tất cả anh em còn ở nhà lên C-bộ tập trung. Thế là vỡ ra thành chuyện to: Thằng Loan A8 để mất súng AK”.

Kể đến đây thì tôi lơ mơ nhớ ra rồi. Đúng là hồi ấy Loan bị quy tội vô kỷ luật, để mất vũ khí. Tôi cũng bị hành lây. Nhưng thực ra là khi 3 đứa Loan đang ăn cơm tối rồi nhi nha chuyện gẫu thì đúng lúc y tá T thay mặt đại đội đi kiểm tra tình hình mấy đứa ở các a. Đến A8 không thấy ai ở nhà. T liền lặng lẽ xách khẩu AK báng gấp của Loan về C-bộ, cất đi, chắc là nửa đùa, nửa thật, cốt để cảnh cáo, nhắc nhở. Rồi chuyện đùa thành thật, bé xé thành to, nhất là với Loan, người đã từ lâu nằm trong danh sách dự bị, nhấp nhểnh “xuống bộ binh” mấy lần rồi. Lần này thì chính trị viên có lý do chính đáng. Loan chẳng biết cãi vào đâu. Tôi thì đắng cay liên đới, vì nhiều lần đã cố bao che cho Loan. Trong lòng cũng hối hận vì lần ấy đã cắt cử Loan ở nhà.

Loan chậm rãi: “Ừ thì tôi bị đi. Nhưng lão T cũng bị đại trưởng Ngơi trị cho một trận về tội gây hoang mang, đơn vị đang giã ngoại phải rút kế hoạch về sớm vì tưởng là mất súng thật”. Tôi hỏi: “Bây giờ còn thù lão T không?” . Vẫn thủng thẳng: “Lão ấy chế-ết rồi, thù gì”. Cả tôi và TTNL phì cười: “Mày bậy nào, tháng trước T mới ở Vũng Tàu ra, cả bọn còn ngồi nhậu ba ba ở bán đảo Linh Đàm, gần nhà Thắng quản”. Loan tưng tửng nói sang chuyện khác, chẳng cãi một lời, chẳng hỏi thăm một lời. Thế đấy. Tôi chợt nghĩ vớ vẩn: liệu năm nay, năm sau, ... có một lần nào đó Xê 20 gặp mặt nhau mà Loan gặp y tá T thì sẽ ra sao?
-Thế rồi làm sao nữa?
- Về vệ binh sư đoàn.
-Tưởng xuống bộ binh? Về vệ binh chẳng hóa sướng hơn, chắc gáo hơn ở trinh sát à?
– Sướng khổ gì đâu, vệ binh chưa được tháng lại bị tai bay vạ gió, lại bị cú oan, số tôi nó chó thế, hết oan này đến oan khác, oan hơn.

Tôi thấy cũng khó hiểu, sao lính “Trinh sát” lại thải xuống “Vệ binh”, vì vệ binh là lực lượng cũng được lựa chọn kỹ càng, sống sát cùng các chỉ huy sư đoàn với nhiệm vụ bảo vệ bộ tư lệnh sư đoàn. Nhưng thôi để lần sau hỏi Loan hay lúc nào đó hỏi Trung, vốn là liên lạc của Xê 20, sau  lên làm liên lạc cho sư trưởng Minh Tâm rồi chuyển sang “điếu đóm” cho ông Cao Văn Khánh, chắc sành về vệ binh.

Loan kể tiếp: Về C23 (Vệ binh) chưa ấm chỗ thì lại xảy ra sự cố. Lần ấy chính ủy Trang phàn nàn bên vệ binh làm sao mà mấy ngày gần đây trưa nào dưới bến sông cũng ùm ùm, lính vệ binh bơi, tắm, đùa nghịch, mất trật tự, nước sông thì vẩn đục, có khi trôi nổi cả nhiều thứ bẩn thỉu. Chẳng là vì doanh trại của C23 nằm cách không xa với hầm chính ủy, cùng ở bờ sông (Lai Phước), nhưng vệ binh ở phía đầu nguồn, chính ủy ở phía dưới. Thế là vệ binh phải tức tốc họp lên, họp xuống. Chẳng ai tự giác nhận, chẳng thể tìm ra nguyên nhân. Thôi đúng rồi, trước kia có sao đâu. Chính ủy bảo mới gần đây, mà mới gần đây thì chỉ có thay đổi duy nhất là mấy cậu trinh sát mới chuyển về vệ binh. Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba trinh sát, đích thị rồi.
Tôi hỏi: Oan nhỉ! Lần này thì xuông bộ binh hẳn chứ?
– Đâu. Vệ binh trả về trinh sát.

Loan về lại trinh sát thật, nhưng không phải Xê 20 sư đoàn mà là trinh sát trung đoàn. Loan về với trinh sát e95. C20 của e95 thì rất gần gũi với Xê 20 sư đoàn.

TTNL hỏi: Thế là về chỗ “Bọ Hiền” à? Thế có biết Hổ, có biết Chinh không? – “Vâng, bọ Hiền, Chinh, Hổ. Hổ mới chết”. Thế là lại có nhiều chuyện về nghiệp trinh sát để chia sẻ. Loan nhoài người đẩy cánh cửa kính lùa của chiếc tủ chè, lấy ra tấm ảnh khổ lớn, ép plastic, đặt trang trọng giữa tủ: “Gặp mặt trinh sát 95 đây, năm ngoái”. Khi tôi phụ trách lớp binh địa ở Trà Liên năm 1973, có tới 8 học viên từ trinh sát 95. Tôi cố nhìn kỹ nhưng chẳng nhận ra ai, kể cả Loan. TTNL xem rồi cười: “Lão nào già khụ nhất đứng đây?”. Tôi đón lại tấm ảnh xem. Ừ, người già nhất, hom hem nhất đứng ở phía trái, hàng sau, nhìn kỹ thì nhận ra ngay là Út Loan.

Tôi lăn tăn, giá mà có bức ảnh vẫn gồm những người này nhưng chụp vào 37-38 năm trước thì chắc chắn người trắng nhất, trẻ nhất phải là Út Loan. Chuyện kể buồn buồn của Loan chiều chủ nhật 24/4/2011 về cuộc sống sau quân ngũ cứ gỡ dần những băn khoăn, thắc mắc của tôi, vì sao Loan lại già đi nhanh hơn mọi người.

Tôi không biết bắt tử vi, nên không biết sao gì năm nào chiếu Loan mà em khổ sở, long đong, oan trái nhiều thế. Nhưng rồi về đến trinh sát 95 thì Loan như đã gặp sao hộ mệnh. Bằng chứng là Loan rất hồ hởi, tự hào kể về những tháng ngày chinh chiến với C20-E95 cho đến khi im tiếng súng. Thế là qua bao nhiêu trắc trở thì phần lớn cuộc đời quân ngũ của em cũng là gắn với nghiệp trinh sát.

Loan cũng như tôi, may mắn trở về sau chiến tranh, dù không lành lặn. Chiến tranh tưởng chỉ như một giấc mơ đôi ba năm, tỉnh dậy là đời thường, sân vườn, mùa màng, con cái. Tưởng như thế cho đến khi đứa con thứ 3 của Loan ra đời, năm Chín Mốt. Cháu bị di chứng chất độc da cam từ bố. Thương con, nhọc nhằn, lặn lội, vất vả lắm. Quá tải. Vợ Loan lâm bệnh, ra đi. Loan trụ được đã là giỏi, làm sao mà không già trước tuổi được.

Hỏi về cuộc sống, về sức khỏe của Loan, em lấy ra cho bọn tôi xem bộ hồ sơ giám định di chứng chất độc da cam. Khám mãi, cả chục năm vẫn không được. Con bị nhiễm chứ bố không. Gần đây mới  có chủ trương lưu tâm đúng mức khi giám định những trường hợp cựu chiến binh có con đã là nạn nhân chất độc da cam. Hồ sơ ghi dày đặc bệnh. Tưởng như nhìn người cũng biết, cần gì khám. Em bị mất 73% sức khỏe. Chắc đợt tới sẽ được hưởng chế độ, đâu đó gần 2tr/tháng. Cũng đã Năm mươi tám tuổi rồi.Thôi muộn cũng hơn không.

Loan đi bước nữa và đã có cậu con trai đến tuổi đi học. Dù sao câu chuyện cũng có hậu.

Chia tay Loan, tôi nắm tay đứa lớn dị tật. Bé nằm trên giường, cười cười nhưng như vô tri, vô giác. Thương lắm. Tôi vội đưa mấy đồng cho vợ Loan nhờ mua quà cho cháu. Muốn nói mấy lời chia sẻ mà giọng cứ lạc đi. Chúng tôi đứng chụp chung một bức ảnh trước nhà Loan. Nhà đang có vợ chồng Loan và bé trai 20 tuổi với 3 khách là 6, để chụp tự động mà chỉ có 5 người vào ảnh!

*Kèm ảnh Tiến, TTNL, vợ chồng Loan và 6971
Logged

Nhật ký Viết lại
thaiminhhung
Thành viên
*
Bài viết: 760


CHÀO NHÉ MÁI TRƯỜNG ƠI !


« Trả lời #229 vào lúc: 20 Tháng Mười Hai, 2013, 10:24:03 am »

   Bác 6971 ơi ! Chuyện hay và hấp dẫn quá. Đúng là chỉ có những người lính trong chiến đấu sống chết có nhau, mới có được những tình cảm và những ký ức thật như vậy. Đang hóng chuyện tiếp của bác  Shocked
Logged

Bừng bừng cháy, lửa nhiệt tình đầy niềm tin mơ ước bao la
Ta về đây vui ca vang, bài ca đi dựng xây nước nhà....
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM