Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:23:45 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhiệm vụ đặc biệt  (Đọc 54087 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #10 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2016, 08:55:38 pm »

       
LỚP HỌC ĐẶC CÔNG
NHIỆM VỤ ĐẶC BIỆT

I
       
        Tháng 4 năm 1952, đội Danh dự nay đổi tên là Cảm tử chúng tôi đang hoạt động ở vùng hậu địch Vạn Ninh thì được lệnh gọi về Đá Bàn nhận nhiệm vụ mới.

        Về đến nơi chưa kịp báo cáo, anh Nguyễn Đường, tỉnh đội trưởng (nay là Thiếu tướng, ủy viên ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương) đã chủ động đến gặp chúng tôi. Ngay từ phút đầu anh vồn vã tay bắt mặt mừng xem chúng tôi như những người thân đi xa lâu ngày mới gặp. Số là anh Đường quê ở Quảng Ngãi, sau khi tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở quê nhà trong cao trào Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, anh được giao nhiệm vụ chỉ huy đội Cảm tử 2 của tỉnh Quảng Ngãi vào chi viện cho mặt trận Khánh Hòa. Trên đường hành quân Nam tiến, đội Cảm tử 2 đã tham gia đánh Nhật ở Quy Nhơn, Tuy Hòa; tới Khánh Hòa, tham gia đánh Nhật ở đèo Phượng Hoàng, sau đó tăng cường cho mặt trận Ninh Hòa đang bị quân Pháp uy hiếp từ nhiều phía. Ở đây đội Cảm tử 2 đã đánh địch trên vùng Bắc Khánh, góp phần kìm chế không cho địch đánh chiếm đèo Cả. Phương thức hoạt động của Đội Cảm tử hồi đó thường chủ yếu dùng mưu để áp sát địch diệt địch bằng lựu đạn và vũ khí tự tạo (bộc phá). Có lẽ vì thế mà ngay từ đầu anh đã rất cảm tình với đội Danh dự của tỉnh Khánh Hòa.

        Thời gian giữ chức chỉ huy trưởng tỉnh đội, anh đã cùng tập thể lãnh đạo tỉnh quan tâm đến việc chỉ đạo xây dựng và tác chiến của Đội Cảm tử chúng tôi. Ngoài mối quan hệ trên dưới, tình cảm giữa chúng tôi và anh có cái gì gắn bó của tình “đồng nghiệp”

        Gặp lần này, tôi thấy anh phấn chấn khác thường. Không cần phải vào lán, anh đứng ngoài trời nói luôn:

        - Tư Cụ à! - Anh vẫn nắm chặt tay tôi, hai mắt nhìn thẳng vào hai mắt tôi vừa có cái gì rất tin ở nơi tôi, vừa lại như đắn đo, thăm dò, rồi anh thấp giọng - ngoài Khu có điện vào, báo cho Khánh Hòa ta được cử người đi học.

        - Học gì vậy anh? - Tôi hỏi lại.

        Anh không trả lời ngay, mà đưa tay lấy từ túi áo ngực ra bức điện của Bộ tư lệnh Liên khu V gửi vào, rồi đọc nhanh, nhấn mạnh đoạn cuối: “Cần chọn những người chiến đấu gan dạ, sức khỏe tốt, thành phần cơ bản, lập trường vững”

        Anh gấp cẩn thận bức điện bỏ vào túi, rồi nói với giọng thân tình:

        - Tôi đã thống nhất với anh Bảy Hữu là cử Tư Cụ đi học lóp này - ngừng một lát rồi anh lại tiếp - Tư Cụ sẽ chọn thêm hai người nữa theo tiêu chuẩn như Khu đã điện, do Tư Cụ phụ trách dẫn ra ngoài đó học.

        Tôi xúc động không nói được câu nào. Trên tin cậy, giao cho tôi tuyển chọn người và chỉ huy đoàn học sinh Khánh Hòa lên đường đi học mãi tận Liên khu. Tuy chưa biết nội dung cụ thể nhưng ngay lúc ấy tôi đã thấy đây là dịp trên chắp cánh cho minh bay cao, bay xa.

        Đoàn học sinh tỉnh Khánh Hòa gồm mười hai anh em1, được tuyển chọn lên đường đi học với tinh thần phấn khởi, tự hào. Một số anh em, gia đình tuy ở gần cũng không tranh thủ về thăm, mà ở lại giữ sức khỏe, tập trung chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho một lần đi xa đầu tiên trong cuộc đời chiến đấu. Tất cả đều hăm hở chờ ngày lên đường. Mặc dầu không được trên cấp tiền, cấp gạo, nhưng chẳng ai trong chúng tôi băn khoăn để ý tới.

        Các anh lãnh đạo rất hiểu cái khó khăn đó, nhưng vì hoàn cảnh quá gấp nên không có cách nào khắc phục được. Hôm lên đường, đồng chí tính đội trưởng đến bắt tay từng người, cảm động nói:

        - Đáng ra phải có ít gạo tiền cho anh em đi đường nhưng gạo thì hết, tiền vận chuyển từ ngoài Bắc đưa vào đang mắc kẹt ở ngoài Khu, vì địch đang có đợt đánh phá hành lang của ra rất dữ!

        Phút im lặng trôi nhanh, anh xúc động đưa tay vẫy chào:

        - Các anh em phải tự lo liệu lấy để đi đến nơi...

        Là người trong cuộc, chúng tôi thông cảm rất nhanh với khó khăn chung và khó khăn của Khánh Hòa lúc ấy là như thế nào rồi. Địch mở rộng càn quét đánh phá ngăn chặn, phong tỏa vùng giáp ranh, toàn bộ lực lượng ta phải rút sâu về căn cứ, không liên hệ được với đồng bằng nên việc tiếp tế lương thực, thuốc men tạm thời gián đoạn, đời sống bộ đội, cán bộ gặp khó khăn. Lương thực dự trữ có hạn đã hết. Tất cả phải đào củ rừng, rau rừng sống cầm hơi.

-------------
1. Tư Cụ. Phạm Đức Ý, Nguyễn Ba, Ngỏ Tư, Nguyễn Sách, Phạm Đăng Rơi, Lẽ Sâm, Phạm sở, Nguyễn Hòa Hiệp, Lê Sơn Hổ, Nguyễn Xuân Kỳ, Đổ Đức Rùa,
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #11 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2016, 09:00:05 pm »

        Không tiền, không gạo, nhưng chúng tôi vẫn thanh thản lên đường. Vừa đi vừa đào củ mài và kiếm nấm rừng để sống. Cực nhọc mà lạc quan, tự động viên nhau để tới đích. Những kinh nghiệm kiếm sống đã tỏ ra lạc hậu trước cảnh thiên nhiên rừng núi Trường Sơn mỗi nơi mỗi khác, phong phú và đa dạng... Sang ngày thứ tư một sự cố hiểm nghèo đã đến! Hơn chín mươi phần trăm quân sô của đoàn học sinh đã bị ngộ độc vì một bữa nấm rất ngon mới ăn. Tất cả đều say, người nào người nấy mồ hôi vã ra như tắm, tim đập nhanh và mạnh tưởng như muốn phá vỡ lồng ngực bung ra, hai mắt lờ đờ. Riêng tôi không bị say không phải vì có sức đề kháng đặc biệt mà do là cán bộ chỉ huy, như các ngày thường, khi có món nấm bao giờ cũng nhường anh em ăn, vì tìm nấm không phải dễ, vả lại tìm được cũng do công sức của anh em. Bữa nay cũng vậy, để anh em ăn thoải mái rồi nêu còn thừa, tôi mới ăn, hết thì mình vui vẻ nhịn.

        Nhìn thấy anh em nằm lịm, tôi phát hoảng, không biết làm cách gì để cứu chữa ở giữa chốn rừng xanh không dấu chân người này.

        Giữa lúc tưởng chừng như bất lực, tôi bỗng sực nhớ bài thuốc dân gian qua một bà cụ già người dân tộc truyền cho: dùng phân người đốt thành than rồi hòa với nước cho uống.

        Tôi làm theo kinh nghiệm của cụ già kể, anh em tỉnh dần. Khi anh em khỏi hẳn, tôi thuật lại tình hình như vừa kể. Mọi người nghe xong cười ồ sảng khoái và tặng tôi danh hiệu: thầy lang chánh hiệu.

        Phải mất gần một tuần lễ chúng tôi mới tới được địa phận tính Phú Yên. Tinh thần anh em vẫn giữ vững, không ai tỏ ra nao núng bàn chùn. Nhưng tinh thần dù cao đến đâu vẫn có giới hạn, nếu sức khỏe cứ giảm sút thì cũng không đi tới đích được. Càng những ngày sau, dấu hiệu thể lực giảm càng thấy rõ, chuyện trò, tán vui ít, tốc độ hành quân tụt, chặng đường đi trong ngày cứ ngắn dần.

        Đêm đầu tiên nằm ở địa phận tỉnh Phú yên, tôi cứ trằn trọc, mặc dầu đây là phần đất tự do của Liên khu V, hết cảnh giặc giã rồi. Không phải nhớ quê hương, nhớ gia đình, cũng không hoàn toàn do cái đói cơm trong dạ dày cào xé mà lo trách nhiệm phải hoàn thành như đã hứa với cấp trên trước lúc lên đường: Khắc phục khó khăn đi tới đích học tập... Sớm hôm sau tôi dậy sớm, đồng thời đánh thức anh em cùng dậy. Không phải là để chuẩn bị hành quân tiếp mà là họp bàn một vấn đề tôi chợt nghĩ trong đêm qua.

        Cuộc họp diễn ra ở thượng nguồn khe cạn gần vạt rẫy cách đường số 7 không xa lắm. Thoạt đầu anh em tưởng bàn kế hoạch đề phòng máy bay địch oanh tạc, nên ai nấy dểu nghiêm túc theo dõi cử chỉ hành động của tôi.

        Nhìn gương mặt xanh xạm, thân hình gầy yếu của những người đồng ngũ ngồi trước mặt, tôi xúc động và chậm rãi trình bày ý định của mình: Đoạn đường tới đích ta mới đi được một phần ba. Để có thể đủ sức khỏe đi tiếp đoạn đường còn lại, chúng ta cần phải có gạo, có tiền...

        Tôi chưa nói hết thì có tiếng hỏi cắt ngang như thách thức:

        - Kiếm đâu ra gạo, tiền ở giữa chốn rừng hoang này?

        Tôi trả lời liền không chút chần chừ, vì việc này tôi đã nghĩ kỹ suốt đêm qua:

        - Hái ớt - đưa mắt nhìn một lượt như dò tìm người đồng tình, tôi tự tin nói tiếp - Hái ớt mang xuống chợ bán...

        Thế là một cuộc tranh luận diễn ra rất sôi nổi, vang cả khe cạn Số đông lúc đầu không tán thành vì nghĩ bộ đội ai lại làm vậy một phần vì không quen, xấu hổ, khi ra chợ nhỡ gặp người quen nhất là phụ nữ, biết ăn nói làm sao!

        Một vài ý kiến đồng tình, cho là làm như vậy cũng không phạm kỷ luật gì ảnh hưởng đến phẩm chất người quân nhân. Mà hái ớt mọc hoang ở những bìa rừng đem chợ bán chứ có làm điều gì phi pháp đâu mà lo.

        Sau khi tất cả nhất trí, chúng tôi bàn cách thực hiện: Sẽ đan sọt lót lá kín xung quanh, ớt để giữa, như gánh gạo. Ra đến cửa rừng, chờ tối mới gánh tiếp xuống chợ bán (hồi ấy các chợ ở vùng tự do Khu V đều họp về tối đề phòng máy bay địch bắn phá).

        Hái ớt, đan sọt gánh ra chợ thì ai cũng vui vẻ nhận, chỉ còn việc bán thì số thanh niên trẻ vẫn tỏ vẻ ngại. Tôi liền giải đáp:

        - Xuống đến chợ Tuy Hòa, các anh em cứ để đấy, ai có người quen thăm người quen, nếu không có thì đi chơi chợ, để tôi và chú Ba1 lo biệc bán.

        Bệnh sĩ diện được giải tỏa, mọi người đều thông suốt. Những quả ớt mình nhỏ, vỏ đỏ, nhấm một tí ở đầu lưỡi đã cay ran cả người, gây cảm giác nóng ra toàn thân, đã được chúng tôi thu hái đóng thành mười hai gánh, gọn đẹp như những gánh gạo của các cổ dân công hỏa tuyến đưa lương thực tiếp tế cho bộ đội chiến đấu.

----------------
1. Là chú ruột tôi, cũng là một thành viên trong đoàn học sinh của tỉnh Khánh Hòa ra học lớp đặc công do Khu V mở.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #12 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2016, 09:03:11 pm »

        Đúng vào lúc chợ Tuy Hòa đông người mua bán thì chúng tôi cũng vừa tới. Mười hai gánh ớt được đặt ở ngay giữa chợ, do tôi và chú Ba đứng bán. Người qua lại rất đông, nhìn chúng tôi bằng con mắt tò mò, ngạc nhiên, nhưng không ai hỏi mưa. Mới mười phứt trôi qua mà tôi thấy lâu quá chừng, người cứ thấy bồn chồn, bối rối. Mắt tôi cứ dán vào người qua lại, theo dõi xem có ai hỏi mua không, còn đầu óc tôi thì nghĩ mông lung đủ chuyện phiền toái sẽ xảy ra nếu ớt bị ế! Chú Ba tôi thì ngược lại, dáng điệu vẫn vô tư, lạc quan, mời chào rất niềm nở.

        Một người đàn bà đứng tuổi cúi xuống xem mặt ớt, rồi hỏi chú Ba tôi:

        - Bác bán ớt hả?   

        - Dạ phải.

        Tôi thở phào nhẹ nhõm. Chú Ba đon đã mời chào:

        - Bác mua nhiều hay ít - chú cúi xuống bốc một nắm ớt hai tay nâng niu mời khách - ớt tôi đều quả, rất cay.

        - Nếu được giá, tôi mua tất.

        Thế là chú Ba dẫn người đàn bà đi xem hàng và ngã giá bán. Tôi như mở cờ trong bụng, thế là có tiền rồi, chuyến đi của chúng tôi tới đích có thêm thuận lợi.

        Mười hai gánh ớt bán được 1.200 đồng (tiền tín phiếu được phát hành dùng trong vùng tự do Khu V thời đó).

        Ớt bán được, anh em ai nấy đều phấn khởi. Có tiền chi tiêu dọc đường. Từ chỗ kiếm sống bằng đào củ mài, hái nấm rừng, nay có tiền đong gạo, mua thức ăn, chúng tôi đều cảm thấy lại sức phấn chấn đi tiếp chặng đường còn lại.

        Từ Phú Yên, phải mất tròn một tuần lễ nữa chúng tôi mới tới Quảng Ngãi, thì khóa huấn luyện thứ nhất vừa kết thúc, học sinh tốt nghiệp lớp này ai nấy đều phấn khởi, tin tưởng, chuẩn bị đi thực tâp để kiểm nghiệm những điều mình đã học.

        Khóa huấn luyện thứ hai được mở ngay. Các anh trong ban phụ trách gặp tôi nói: Mọi thứ đã chuẩn bị xong, chỉ chờ đoàn Khánh Hòa ra là bắt đầu; tình hình rất khẩn trương vì các chiến trường đang đòi hỏi.

        Trường học dặt tại huyện Tư Nghĩa, cạnh thị xã Quảng Ngãi. Học sinh lớp này gồm có đoàn tỉnh Khánh Hòa và đoàn Khu V do anh Châu Khải Địch phụ trách. Huấn luyện viên là ba anh Nguyễn Hữu Liêm, Trần Thắng Nê và Nguyễn Văn Đôi từ Nam Bộ cử ra. Thực chất của lóp học là nghe kinh nghiệm đánh đồn bót, tháp canh của chiến trường Đông Nam Bộ do ba anh truyền đạt. Những kinh nghiệm đã được các đồng chí Nam Bộ tuyển chọn, biên soạn và đánh máy bằng giấy pơ-luya trắng mang tên Kinh nghiệm chiến đấu đặc công, có hình vẽ minh họa các loại hàng rào, tháp canh - đồn bốt địch và các loại vũ khí tự tạo dùng để đánh dồn. Tập tài liệu này do anh Nguyễn Hữu Liêm mang theo dùng để huấn luyện Đặc công ở Bình Thuận, Khu V và sau đó mang ra báo cáo nộp Cục Quân báo, Bộ Tổng Tham mưu.

        Thời gian học tất cả là mười lăm ngày. Phần lý thuyết rất ngắn gọn, chủ yếu dành cho thực hành kỹ thuật tiềm nhập vào đồn bót địch trong điều kiện có rào kẽm gai, có bãi chông mìn, có đèn pha, pháo sáng kiểm soát, có lính địch canh phòng cẩn thận; kỹ thuật đóng gói và sử đụng thủ pháo, bộc phá, lựu đạn ném đúng lỗ châu mai v.v...

        Cũng chẳng có trường lớp hẳn hoi. Tất cả đều học tại thao trường. Ở đó được đựng mô hình đồn bót địch giống như trên thực tế, rồi vừa giảng lý thuyết, giáo viên vừa tự mình thực hành các động tác mẫu, sau đó từng người lần lượt luyện tập dưới sự chỉ dẫn uốn nắn của giáo viên, cho đến khi nào thành thạo mới thôi.

        Mọi thứ đều thiếu thốn, ăn đói, ở nhờ nhà dân, nhưng ai nấy đều yên tâm, phấn khởi học tập. Thực ra thì tất cả chúng tôi trước khi về đây đều ít nhiều đã đánh địch theo kiểu này nhưng còn thô sơ, bản năng, chỉ qua thực tế khó khăn mà nảy sinh sáng kiến khắc phục. Ví như trận diệt đồn Tân Kiều được xem như đánh theo lối đánh đặc công, chỉ khác là chưa thành bài bản hẳn hoi. Về đây học, các kinh nghiệm được đúc kết làm cho vấn đề mà mình đã thực hành có lý lẽ hệ thống, đồng thời nó cũng soi sáng những vấn đề mình đang bí hoặc chưa nghĩ ra, chính vì thế mà chúng tôi rất ham học, không nghĩ gì đến khó khăn, vất vả cả.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #13 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2016, 09:05:40 pm »

       
II

        Thời gian đi thật nhanh, lớp học kết thúc trong lúc mọi người đều muốn học thêm, học nữa để có nhiều vốn liếng về hoạt động. Cả học viên khóa Một và khóa Hai chúng tôi được lệnh hành quân ra Quảng Nam thực tập (lúc này địch mới chỉ chiếm đóng một phần của tỉnh Quảng Nam, từ huyện Điện Bàn trở ra)

        Hướng dẫn đoàn học sinh đi thực tập là ba đồng chí giáo viên đặc công.

        Tháng 9 năm 1952 đoàn học sinh thực tập ra tới Quảng Nam, được Phòng quân báo Bộ tư lệnh Liên khu V cung cấp tình hình các đồn bót địch (có cả sơ đồ, bản đồ chỉ dẫn cụ thể) đóng ở hai huyện Điện Bàn, Hòa Vang và một phần huyện Duy Xuyên, Đại Lộc. Phòng tham mưu Bộ tự lệnh Liên khu V trao đổi với đoàn về hướng hoạt động, còn thực tập chiến đấu ở đâu, sử dụng lực lượng và biện pháp thực hành chiến đấu như thế nào thì do Ban giáo viên của trường chịu trách nhiệm. Ban giáo viên đồng thời là ban chỉ huy thực tập - chiến đấu suốt quá trình các đoàn học sinh có mặt ở tỉnh Quảng Nam.

        Kế hoạch thực tập - chiến đấu được chia làm ba đợt. Đợt một, đánh bót Trường Giảng, Gò ông Tự nằm trên tỉnh lộ 100 từ Vĩnh Điện đi Ái Nghĩa (Đại Lộc). Đây là hai bót thuộc loại cứng bảo vệ vành ngoài phía nam của căn cứ Đà Nẵng. Anh Nguyễn Hữu Liêm, trưởng ban giáo viên trực tiếp hướng dẫn, chỉ huy đoàn học sinh Khánh Hòa chúng tôi thực tập đánh đồn Trường Giảng. Nội đồn có bốn lô cốt xây dựng bằng gạch, xi măng, bao quanh là tường thành, rào kẽm gai và rào tre dăng thành nhiều lóp. Là trận thực tập đầu tiên, để gây ấn tượng mạnh mẽ đối với học viên, nên anh Liêm cho chuẩn bị thật chu đáo; anh trực tiếp dẫn chúng tôi đi trinh sát thật tỉ mỉ cụ thể, qua trinh sát rèn luyện luôn kỹ thuật bò, trườn và ngụy trang. Trên cơ sở đó, anh cùng chúng tôi trở về bàn kế hoạch đánh sát với thực tế. Trận chiến đấu đã thu được thắng lợi giòn giã, mặc dù ở một sô vị trí địch chống trả quyết liệt, nhưng toàn bộ đồn bót bị ta tiêu diệt gọn, 50 tên địch trong đồn đã bị diệt và bắt sống.

        Kết thúc đợt một, đoàn học sinh thực tập - chiến đấu đã san bằng đồn Cầu Đen, Gò ông Tự, Trường Giảng, Núi Chiêng.

        Trường Giảng bị san bằng gây sôi động cả một vùng. Địch ờ toàn tỉnh Quảng Nam được lệnh báo động, chúng bắt đầu sống trong tâm trạng hoang mang, kể cả bọn đóng sâu trong Đà Nẵng cũng nơm nớp lo âu mỗi khi đêm về. Còn nhân dân thì sung sướng, càng tăng thêm niềm tin vào kháng chiến, phong trào có thêm chỗ dựa phát triển càng mạnh, bọn ác ôn xuống thế, nhiều tên tìm cách trốn tránh về các đồn bót vùng sâu.

        Đợt hai, địa bàn thực tập là vùng sâu, nơi tiếp giáp giữa hai huyện Hòa Vang và bắc huyện Điện Bàn, nhằm gây thối động mạnh vào trung tâm thành phố Đà Nẵng. Đoàn học sinh tỉnh Khánh Hòa được giao nhiệm vụ diệt đồn Dương Hỏa thuộc xã Hòa Tiến, Hòa Vang, cách Đà Nẵng mười cây số về phía tây- nam. Sang đợt hoạt động này, tỉnh đội Quảng Nam có cử một số trinh sát viên của tỉnh này đi cùng với đoàn để học tập ngay trong thực tế.

        Vẫn là trưởng ban giáo viên Nguyễn Hữu Liêm chỉ huy chúng tôi thực tập - chiến đấu đánh đồn này. Anh Liêm, tôi và một trinh sát viên tỉnh đội Quảng Nam gửi sang học tập làm nhiệm vụ trinh sát trước.

        Đêm tối trời, chúng tôi vượt qua một hệ thống dày đặc đồn bót địch một cách tương đối thuận lợi vì có đồng chí trinh sát cùng đi quê ở vùng Điện Bàn dẫn đường. Vào đến cơ sở tập kết cách đồn địch khoảng một cây số thì dừng lại để chuẩn bị. Ba chúng tôi vào một nhà cơ sở, có hầm bí mật đặt ngay trong buồng. Chủ nhà là hai vợ chồng trạc 45 tuổi, rất vồn vã, xởi lởi nhưng cũng rất trầm tĩnh, chín chắn và cảnh giác. Ở một địa điểm sâu trong vùng địch hậu, nhìn ra bốn hướng đâu cũng có địch: đằng sau là cứ điểm Bồ Bồ với trận địa pháo đã được căn sẵn, động đâu là đạn bay tới ngay tức thì, trước mặt là căn cứ Đà Nẵng, bên phải là cầu Đỏ với hệ thống đồn bót khá vững. Vậy mà chúng tôi vẫn sống rất thoải mái, bởi được sự đùm bọc, che chở của thế trận chiến tranh nhân dân.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #14 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2016, 09:09:02 pm »

        Cả ngày hôm đó, ba chúng tôi thay nhau giả danh đi làm đồng để nghiên cứu hướng tiềm nhập đêm nay. Tôi hoàn toàn nhất trí với anh Liêm là chọn hướng bên phải cổng đồn. Ở đây phải qua một vạt ruộng lầy và khi vào mép đồn là có dốc, sát ngay nơi địch thường sơ hở, chủ quan. Một ngày nằm chờ thật dài. Rồi thời gian hành động đã đến. Khoảng chín giờ tối, chúng tôi tạm biệt hai vợ chồng gia đình cơ sở để đi làm nhiệm vụ. Cả ba đều quần ngắn, áo cộc tay và đầu cắt trọc, dáng điệu như ba vị sư hành hương về phía Ngũ Hành Sơn1, cũng lầm lũi, trầm tư, trên đường đi tới đích. Anh Liêm nói vui: ‘Tụi mình là sư phá giới. Sư gì mà ăn bánh tráng cuốn với cá nục chấm mắm nêm không biết chán”. Chả là biết chúng tôi đêm nay đi làm nhiệm vụ, chủ nhà đã sửa soạn bữa chiêu đãi khách bằng món ăn quen thuộc của Quảng Nam. Suốt bữa liên hoan, chủ nhà cứ thanh minh rằng dây chỉ là cây nhà lá vườn, rằng món cá nục do cô em vợ từ cửa Đại, Hội An, khi sáng lên chơi mang cho, cá ở đây rẻ lắm, chẳng đáng là bao. Còn chúng tôi chỉ biết cám ơn mỗi khi anh thanh minh và tự nhủ: Phải làm sao cho xứng đáng với lòng tin yêu và đùm bọc của nhân dân.

        Khoảng 19 giờ chúng tôi vào vị trí triển khai. Đêm yên tĩnh, nhưng gió đông - bắc từ hướng biển thổi vào mạnh dần, gây lạnh. Đội hình triển khai trinh sát khi tiềm nhập: anh Liêm chỉ huy đi trước, đồng chí trinh sát viên Quảng Nam đi giữa và sau cùng là tôi. Anh Liêm bò vừa làm động tác mẫu cho đồng chí trinh sát của tỉnh đội Quảng Nam làm theo. Chúng tôi trườn rất nhẹ, trên mặt ruộng nước, theo đúng kỹ thuật đã học, không gây ra một tiếng động nào. Vào đến mép đồn, dưới chân dốc, ngồi nghỉ để lấy lại sức. Gió từ biển thổi vào càng mạnh vậy mà chẳng ai thấy rét. Định hướng xong, chúng tôi bắt đầu giai đoạn hai - trườn thấp, cắt rào, gỡ mìn. Tất cả đều trôi chảy, lợi dụng lúc địch đổi gác, ba chúng tôi càng trườn nhanh. Cậu trinh sát của tỉnh đội Quảng Nam phấn khởi vì vào tới nội đồn mà địch không hay biết, quay sang ghé sát vào tai tôi:

        - Ăn rồi, anh Tư!

        Tôi khẽ đập vào vai cậu hai đập - ký hiệu nhắc nhở im lặng, cần thận, không chủ quan.

        Làm xong nhiệm vụ, theo hiệu lệnh của anh Liêm chúng tôi quay ra. Vừa trườn bò vừa lấp lối để nguyên như cũ, sáng ra địch khó phát hiện. Công việc trinh sát như vậy là đã hoàn tất, tôi đang tự nhủ: một Trường Giảng thứ hai sẽ diễn ra trong đêm mai, thì một tiếng nổ xé trời xảy ra ở mép rào phía ngoài. Liền đó súng trong đồn bắn ra như đổ đạn vào hướng chúng tôi. Đêm tối không ai nhìn thấy ai cả, vả lại mọi người đang tìm cách lợi dụng địa hình để tránh đạn địch. Thế là tổ trinh sát chúng tôi lạc nhau, mất hướng, tôi đành cứ luẩn quẩn quanh đó; trời sáng dần, đồn địch đã hiện lên lờ mờ với lá cờ ba sắc treo ủ rũ như nhà có đám.

        Tình thế thật nguy hiểm. Anh Hai Liêm ở đâu, cậu trinh sát cùng đi có việc gì không, chuyện gì đã xảy ra đêm qua? Tôi tự hỏi mình mà không sao trả lời được. Lúc này cần phải tự mình bảo toàn mình đã, không để cho địch phát hiện do sơ hở của mình gây nên. Đó là điều anh Hai Liêm căn dặn khi chúng tôi nghe giảng ở lóp.

        Ra khỏi đồn nhưng đứng dậy bây giờ thì lính gác trong đồn sẽ phát hiện và vây bắt. Chỉ còn cách là nằm lại đây, tìm cách giấu mình, chờ đêm tối hãy hay. Tôi trườn nhanh xuống con lạch gần đó, ngâm mình dưới nước, mặt che kín, chỉ hở mũi để thở. Trời sáng rõ, mặt trời cao dần, thỉnh thoảng tôi khẽ nghển đầu đưa mắt quan sát và nghe ngóng động tĩnh. Mặt trời lên đến đỉnh đầu, rọi thẳng vào mặt, gây chói khó chịu, lúc lúc lại phải nhắm mắt để chống chói. Nhưng vẫn không thấy có sự biến gì. Chỉ thấy không còn tiếng thúc trâu của bà con đi làm đồng nữa. Trưa rồi, lúc này là giờ nghỉ. Tuy yên tâm nhưng vẫn lo, không biết tình hình sẽ ra sao!

        Khoảng xế chiều thoáng thấy có bóng người, tôi vội phủ kín mặt và nằm im. Một lúc lâu, khoảng mười phút tôi lại ngẩng đầu đưa mắt nhìn, vẫn thấy có người. Lần này nhìn kỹ thì đó là một phụ nữ tay xách giỏ đi qua đi lại, không phải bắt cá mà đi tìm một cái gì. Hay là người của ta? - Tôi tự hỏi như thế nhưng lại tự nhủ: phải cảnh giác, biết đâu là địch giả dạng để săn lùng bắt ta! Người phụ nữ trạc 30 tuổi cứ đi lại quanh chỗ tôi nằm. Tôi ngẩng đầu quan sát kỹ hơn, thấy dáng vẻ bồn chồn tìm kiếm chứ không phải là nhòm ngó săn lùng.

---------------
1. Còn gọi là Non Nước. Một trong những thắng cảnh của Quảng Nam, nằm về phía đong - nam thành phố Đà Nắng. Ở đây có chùa và có sư trông coi việc cúng lễ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #15 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2016, 09:11:13 pm »

        Tôi đứng dậy, sửa sang lại người và hắng ho như gọi chị.

        Thấy có tiếng người, chị quay lại, nét đăm chiêu lo lắng biến mất trên khuôn mặt rám nắng, nhưng rồi chị lại rụt rè cảnh giác, vờ nhìn xuống vạt ruộng tiếp tục tìm cá.

        Đoán đúng là người minh, nhưng tôi vẫn thăm dò:

        - Chị đi đâu mà gần tối chưa về, không sợ địch à?

        Và chị cũng vậy. Nhìn tôi, chị biết là không phải địch nhưng vẫn dò thử:

        - Anh ở gần đây chắc biết vụ động đồn hôm qua?

        - Có, tôi có biết, nghe đâu có hai anh bộ đội Việt Minh hình như...

        Chị đến gần tôi, hết dò thử mà hỏi thẳng:

        - Còn anh, có phải cùng...

        - Dạ, phải, tôi đi cùng với hai anh ấy.

        Chị thở phào, với khuôn mặt thương cảm và trách nhiệm, chị như thanh minh:

        - Thế mà tôi cứ đi tìm hoài suốt buổi, hết cả hồn vía!

        Nói xong, chị đưa vội cho tôi nắm cơm đựng trong giỏ và dặn:

        - Anh cứ ngồi đây, nhung vẫn phải giấu mình cho kín, sẩm tối sẽ có người đến đón đưa lên núi.

        Đêm hôm đổ khi về lại trên núi, tôi mới hiểu được tường tận cái sự việc không may xảy ra đêm qua. Số là khi trở ra, cậu trinh sát - một học viên mới của chúng tôi lần đầu đi tiềm nhập, chưa có kinh nghiệm, khi vào thì cẩn thận nhưng khi ra có phần chủ quan, đã đạp phải mìn và hy sinh ngay khi mìn nổ. Anh Hai Liêm bị thương vì mảnh mìn. Anh cố lết ra nhưng vết thương quá nặng, máu ra nhiều, cũng hy sinh tại chỗ. Sáng hôm sau, bọn địch trong đồn kéo ra, nhìn thấy xác anh vẫn nằm trong tư thế đầu hướng về phía đồn địch, khẩu súng Lucke vẫn đeo bên hông (khẩu súng lục này do Bộ chỉ huy Liên khu Bảy - Đông Nam Bộ tặng anh trước lúc lên đường ra đây làm nhiệm vụ). Đoán đây là một chỉ huy của bộ đội Việt Minh, tên đồn trưởng cúi đầu mặc niệm và cho gọi dân quanh đó mang thi hài anh chôn cất. Nhân dân thương xót khi được tin anh hy sinh, dựa vào cái thế “hợp pháp” của tên đồn trưởng, đã thành lập một ban tang lễ. Mọi việc diễn ra nhanh gọn, tang lễ được thực hiện trong không khí trang nghiêm mà tình cảm, đông đúc nhưng lặng lẽ, tỏ lòng thương tiếc, kính phục một chiến sĩ đặc công hết lòng vì dân, không sợ hy sinh trong cuộc đụng độ với quân thù.

        Anh Liêm, người thầy đầu tiên của tôi không còn nữa! Chính anh đã mang lại trong tôi một kỷ niệm sâu sắc, thức tình trong tôi một nhận thức thế nào là phong cách hoạt động của chiến sĩ đặc công. Sự thành đạt hôm nay của tồi đều có phần công sức của anh.

        Anh ngã xuống như một chiến sĩ vô danh? - Không, anh không phải là chiến sĩ vô danh. Chúng tôi - những người học trò của anh, những người đồng đội, đồng chí của anh sẽ mãi mải không quên anh. Binh chủng Đặc công đã ghi tên anh vào trang sử vàng của mình - một trong sô những người có cồng đầu tiên xây dựng nền móng của binh chủng.

        Đau thương và mất mát - một thứ mất mát không sao bù đắp được của tình đồng chí, tình chiến đấu! Cả ngày hôm sau tôi và anh Nguyễn Văn Đôi sống trong tâm trạng buồn lắng kèm theo cả ân hận nữa. Anh Đôi thỉnh thoảng đưa tay lau nước mắt và giọng ngậm ngùi:

        "... Anh Liêm hy sinh! Cái tin đau nhói của tình đồng đội gắn bó với nhau từ chiến trường Đông Nam Bộ, qua Phan Thiết, Phú Yên ra đến đây... Sau này về trong ấy biết nói với người thân của ảnh như thế nào. Đêm qua tôi trằn trọc không sao ngủ được. Pháo ở trận địa núi Bồ Bồ bắn cầm canh, pháo sáng thỉnh thoảng lại vút lên từ đồn Dương Hỏa khiến tôi càng nhức nhối, căm thù. Tôi cứ nói thầm với mình trong đêm rằng - hứa trước vong linh anh Liêm: Anh Hai tha lỗi cho em, em sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để trả thù cho anh...”
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #16 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2016, 06:30:21 am »

       
III

        Vài ngày sau đó, chúng tôi chuyển sang đợt ba của giai đoạn thực tập - chiến đấu với tinh thần biến đau thương thành sức mạnh. Địa bàn thực tập đợt này tiến sâu hơn, nhằm vào một số đồn bót ở bắc - tây bắc Đà Nẵng thuộc huyện Hòa Vang. Đoàn học sinh Khánh Hòa được giao nhiệm vụ đánh đồn Dốc Nhứt (chân đèo Hải Vân).

        Dốc Nhứt là cứ điểm kiên cố, có hệ thống công sự boong-ke hoàn chỉnh1, địa thế hiểm trở, nằm chênh vênh kề mép đường đèo: phía tây là dãy ta-luy được vạt nhẵn gần như vuông góc với mặt đường; phía đông bờ vực sâu đến hơn hai mươi mét, dưới chân là vịnh Đà Nẵng suốt ngày đêm tung bọt nước. Lại có một hệ thống tháp canh bao quanh bảo vệ, tiếp cận đã khó, tiến công càng khó hơn. Nhất là sau khi một sô đồn bót vừa bị đoàn học sinh đặc công san bằng ở nam, bắc huyện Điện Bàn thì ở Dốc Nhứt địch càng tăng cường phòng thủ, canh gác cẩn mật suốt ngày đêm. Ở đây thường xuyên có một đại đội Com-măng-đô tăng cường làm nhiệm vụ khống chế gần như toàn bộ phần đường phía nam đèo Hải Vân; bảo vệ vành ngoài của căn cứ Đà Nẵng, trực tiếp là kho xăng Liên Chiểu.

        Nhưng chúng tôi vẫn quyết định chọn Dốc Nhứt làm mục tiêu số một của đợt ba thực tập - chiến đấu, vì từ cái mạnh bề ngoài như kể trên, có một cái yếu cần khai thác, đó là thằng địch ở đây rất chủ quan đến ngạo mạn. Ỷ vào địa thế và công sự, chúng thường ngày rêu rao thách đố Việt Minh nếu liều mạng mò vào đây thì chỉ có phơi xác (!). Sơ hở của địch bao giờ cũng là một điều kiện thuận lợi khách quan để ta lựa chọn làm mục tiêu tiến công. Nói cách khác tìm và phát hiện những sơ hở của địch, cần thiết còn tạo cho địch mắc bẫy sơ hở là một trong những nghệ thuật tác chiến của bộ đội Đặc công.

        Trận thực tập - chiến đấu này tôi được giao nhiệm vụ chỉ huy, vì anh Liêm không còn nữa, đồng chí Huỳnh Công Cước (nay là đại tá) là chỉ huy phó. Hận Dương Hỏa và nỗi đau mất anh Hai Liêm đã làm thành sức mạnh trong tất cả chúng tôi - những người được giao nhiệm vụ chiến đấu đợt này. Đây cũng là trận thí nghiệm đầu tiên đánh vào đồn có công sự boong-ke. Vì thế nên từ trinh sát nắm địch đến kế hoạch tiềm nhập tiến công đã được tiến hành một cách tỉ mỉ, nghiêm túc và có kiểm tra đôn đốc sát sao trong quá trình chuẩn bị. Một điều rất hệ trọng khác cũng luôn luôn được nhắc đến trong giai đoạn chuẩn bị là phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định giữ bí mật, gây cho địch càng chủ quan bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Triệt để giữ bí mật là tạo được yếu tố bất ngờ đến cùng với địch, giành được thế chủ động cũng đến cùng đối với ta. Thành công của bất cứ trận đánh nào của Đặc công không thể thiếu vắng nguyên nhân này.

        Điều tra nghiên cứu về địch - chúng tôi thường gọi tắt là điều nghiên - là khâu đầu tiên có ý nghĩa quyết định thành bại của trận đánh. Có được nhận thức này là sau thất bại ở Dương Hỏa. Chúng tôi quyết định tiến hành việc này trong hai đêm và người thực hiện là tôi và đồng chí Huỳnh Công Cước. Tức là chỉ huy trưởng và chỉ huy phó phải trực tiếp đi nghiên cứu, điều tra nắm địch, có như thế mới xây dựng được kế hoạch tiến công phù họp.

        Đêm thứ nhất, tiến hành trót lọt. Chúng tôi tìm được đường vận động, xác định được vị trí chuẩn bị và quan sát từ ngoài vào đồn, xác định lại các hướng, số lượng công sự, hầm, ụ súng. Công việc chưa gay cấn lắm nhưng rất vất vả, phải mất đúng một đêm. Thời gian cuốn hút nhiều vào việc xóa dấu vết, để ngày sau địch có mò sục sạo quanh đồn cũng không tìm thấy dấu vết khả nghi.

        Đêm thứ hai bắt đầu. Trăng thượng tuần mờ đục rất thuận lợi cho công việc điều nghiên, nhưng cũng là một đêm căng thẳng, phải vào đồn, sờ nắn đo đếm các thứ cần thiết, phục vụ cho xây dựng quyết tâm trận đánh đêm mai.

        Giờ tiềm nhập điều nghiên bắt đầu. Lúc ấy vào mười giờ. Không gian yên tĩnh, chỉ có nghe tiếng sóng biển đập ầm ầm vào bờ vịnh, cái âm thanh ấy giờ này quả có tác dụng đối với chúng tôi, nếu vì một sơ suất nào đó, gây nên tiếng động nhỏ thì đã có cái âm thanh của sóng biển kia đỡ đòn, xóa đi.

----------------
1. Công sự chiến đấu (hầm, ụ súng, lô cốt) xây bằng xi măng cốt thép rất dày, nửa chìm nửa nổi, có sức chịu đựng áp lực cao.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #17 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2016, 06:31:30 am »

        Tụt xuống mép đường đèo, chúng tôi vận động nhanh sang đường đến một mô đá to nằm lại nghe ngóng động tĩnh, quan sát địa thế và định hướng tiềm nhập. Phía trước mặt nhấp nhô những mô đá lan vào đến tận nội đồn. Thật là một thiên nhiên đẹp và cũng tạo thuận lợi cho chúng tôi làm nhiệm vụ đêm nay. Đang vân động thuận lợi thì bắt gặp phía trước mặt một vật bất động thoạt nhìn tưởng là đá nhưng dị dạng, chưa khẳng định là đá hay người. Tôi và Cước dừng lại, lùi vào một mô đá khác to, kín hơn, tiếp tục thay nhau quan sát. Để không bỏ sót dù chỉ một giây, để quan sát mười lăm phút. Cước theo dõi trước. Hết mười lăm phút, vật trước mắt vẫn gần như bất động. Đến lần tôi, chỉ chưa đầy ba phút sau khi thay phiên cho Cước, tình hình đã khác. Vật trước mặt động đậy, tôi theo dõi một cách hồi hộp, hai mắt như dán vào vật đó. Tôi đập vào vai Cước rồi chỉ về phía trước mặt. Cước nhin lên gật đầu: Người, đúng người rồi! Theo dõi tiếp, chúng tôi nhận ra đó là tên lính gác đang ngồi ngủ gật, mặt hướng ra phía biển. Tôi và Cước trao đổi bằng ký hiệu, cả hai thống nhất là lúc y đang mơ màng nửa tỉnh nửa mê, cứ tiếp tục tiến, lặng lẽ vượt phía sau y để vào sâu trong đồn địch. Vượt được cửa ải lính gác là coi như thắng lợi. Càng vào sâu, địch càng chủ quan, tất cả đều ngủ, nghe rõ cả tiếng ngáy từ trong nhà vọng ra. Chúng tôi lần lượt xem xét từng mục tiêu: Có hai lô cốt ngầm boong-ke quay về hướng bắc và tây bắc, một ở giữa có lỗ châu mai chĩa ra bốn hướng, trên nóc đặt đại liên. Hình như địch vẫn đang tiếp tục xây thêm thì phải, vi ở cạnh đường từ cổng chính vào còn nhiều vật ỉiệu sắt thép, xi mãng chất đống ngổn ngang. Tôi thầm nghĩ: Ta quyết định đánh lúc này là đúng thời cơ, để chúng xây xong thì vấn đề sẽ phức tạp hơn.

        Chúng tôi ra khỏi đồn vào khoảng mười hai giờ đêm. Trăng thượng tuần đã lặn, ánh sáng điện từ Đà Nẵng hắt lên vàng vọt và mờ ảo, sóng biển càng gầm to. Chúng tôi băng qua cánh rừng phía tây đèo Hải Vân để tới căn cứ thì cũng vừa sáng. Anh em ở nhà hồi hộp dõi theo, không thấy động tĩnh gì từ hướng chúng tôi đến, đã mừng trước bằng một việc nấu nồi chè chờ chúng tôi về “mở tiệc” khoản đãi. Vừa thấy bóng, tất cả đã ùa ra ôm ghì lấy chúng tôi. Sau hai đêm căng thẳng, sống những giây phút ớn lạnh, cô đơn khi đi làm nhiệm vụ ở nội đồn, càng thấy quí cái tình cảm của đồng đội, của tập thể, nỗi thấp thỏm lo lắng đến vui mừng khôn xiết như thế này; cái mệt trong chúng tôi biến đi đâu thật nhanh. Lúc trên đường về, chúng tôi dự định sẽ ngủ một hơi lấy sức, trưa dậy bàn kế hoạch hành động đêm nay còn kịp chán, vậy mà giờ đây thấy tỉnh táo đầu óc thanh thản như bình thường. Cũng chẳng nghỉ đến xả hơi nữa, chúng tôi bàn ngay vào việc. Hai mươi lăm con người đã tề tựu đầy đủ gồm đoàn học sinh tỉnh Khánh Hòa và tiểu đội trinh sát của tỉnh đội Quảng Nam cử sang bổ sung, vừa là học tập thực tế vừa tham gia chiến đấu luôn.

        Ngay đêm thứ nhất đi trinh sát trở về, tôi đã nêu vấn đề ngụy trang khi tiềm nhập vào nội đồn là rất quan trọng, cần phải khẩn trương chuẩn bị. Cả ngày hôm ấy, anh em ở nhà triển khai thực hiện khá tốt. Tất cả phân tán vào các nhà dân, có đồng chí đi xa mười cây số để xin cạo nhọ nồi với một lượng đủ để chà kín toàn thân. Ai cũng cắt tóc ngắn theo quy định. Chỉ cần nhìn mấy chục cái đầu trọc ngồi lố nhố phía trước mặt cũng đủ thấy tinh thần quyết tâm chiến đấu của anh em là thế nào rồi. Tất cả đều tỏ vẻ lạc quan, tin tưởng và sẵn sàng đợi lệnh. Điều đó đã khích lệ động viên tôi rất nhiều. Người chỉ huy trong giờ phút chuẩn bị bước vào một trận mà được sống trong không khí như thế này quả là hạnh phúc. Đúng là đồn địch mà chúng tôi có nhiệm vụ xóa sổ nó trong đêm nay tuy cứng nhưng tôi tin là nhất định thắng vì đã điều nghiên kỹ, vì tinh thần lạc quan, kiên quyết và sẵn sàng của anh em.

        Tôi bắt đầu trình bày kê hoạch trận đánh với anh em sau khi đã trao đổi thống nhất với anh Huỳnh Công Cước. Chứng tôi trao đổi và nhất trí nhanh chóng. Mọi chi tiết cụ thể đều được xác định. Hai mươi lăm người sẽ chia thành hai tổ. Tổ Một do tôi phụ trách theo hướng tây tiến vào; đây là hướng chính vừa có điều kiện tiềm nhập và khi vào được nội đồn là nhanh chóng đánh vào lô cốt mẹ, bắt khẩu đại liên đặt trên cao phải câm họng, tạo thuận lợi cho toàn đơn vị đánh các mục tiêu khác. Tổ Hai do anh Cước chỉ huy vào theo hướng đông. Vì đánh công sự xây bằng ximăng cốt thép nên vũ khí của chúng tôi chủ yếu là bộc phá gói sẵn với khối lượng từ hai đến ba cân.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #18 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2016, 06:32:40 am »

        Ngay chập choạng tối hôm đó, chúng tôi xuất phát. Toàn đơn vị theo đội hình hàng dọc, cắt rừng phía tây tiến vào vị trí tập kết cuối cùng. Tại đây toàn đơn vị kiểm tra lần cuối công tác chuẩn bị vũ khí như đóng gói bộc phá, dây cháy chậm, ngòi nổ; kiểm tra nhắc lại lần nữa ám, ký hiệu dùng trong trận đánh. Đến cách đồn hai cây số, toàn đơn vị dừng lại thực hiện ngụy trang. Bắt đầu từ đây mọi người cởi hết quần áo (có bộ phận đi theo cất giữ), chỉ mặc quần lót, nhọ nồi hòa nước bôi chà khắp người. Trăng lên cao, ừời sáng rõ, nhưng nhìn ai cũng chỉ thấy là một cái bóng đen. Gió từ biển thổi vào càng mạnh, cây rừng lao xao, mang lại cảm giác lạnh giá. Nhưng nghĩ đến nghĩa vụ, trách nhiệm của các chiến sĩ đặc công, đến ý nghĩa của trận đánh thử nghiệm, lại thấy cái lạnh đi qua thật nhanh, tất cả đã sẵn sàng tiến quân. Từ đấy, chúng tôi bước những bước thật nhẹ mà nhanh, hành động thật nhiều nhưng không nói, tất cả đều theo chỉ dẫn của ám hiệu với một ý thức thận trọng và nghiêm túc, không được để xảy ra bất cứ một sơ xuất nào, dù là nhỏ nhẹ.

        Mười một giờ. Súng từ phía đồn địch bắn ra như vãi đạn, nghe tưởng như chúng đã phát hiện được đối phương đang triển khai đội hình đánh chúng. Có gì để lộ khi đi trinh sát đêm qua, đêm nay địch đề phòng? Tôi hơi phân vân, nhưng cũng rất bình tĩnh, tự tin, đầu óc bắt đầu nghĩ ra bao nhiêu cách đối phó; nếu lộ thật thì kế hoạch phải thay đổi, chuyển tổ anh Cước sang hoạt động nghi binh kéo sự chú ý của địch ra hướng đông - đông nam; còn tổ của tôi tranh thủ tiềm nhập, vào đến nội đồn tách thành hai nhóm, đảm nhiệm cả những mục tiêu trước phân cho tổ anh Cước. Năm phút, rồi mười phút trôi qua, rất nặng nề, chậm chạp. Địch đã thôi bắn. Đêm yên tĩnh trở lại, tiếng sóng biển đập vào bờ vịnh Đà Nẵng cứ ầm ầm liên tục vì giờ này nước đang lên.

        Địch bắn cầm canh. Tôi chợt nghĩ như thế và trao đổi luôn với anh em: ta cứ tiếp cận, nếu vào đến mép rào quả thấy địch có triệu chứng đề phòng thì ta sẽ rút êm, xóa dấu vết, về lại khu vực trú quân bàn cách làm ăn khác. Nếu đồn địch vẫn yên tĩnh, thì cứ theo kế hoạch hoạch đã giao, khẩn trương cắt rào, gỡ mìn, trườn nhanh vào đánh phá các mục tiêu đã phân công.

        Mười hai giờ đúng, hai mươi lăm chiến sĩ mình trần, toàn thân đen mốc, đầu đội mũ cỏ đã vượt qua cánh cửa mở vào nội đồn, đến sát mục tiêu được phân công.

        Từ sát chân lô cốt mẹ, ba phát súng làm hiệu lệnh tiến công bay vút lên không trung. Không một tiếng người hò reo, không tiếng chân nguời vận động, vậy mà tiếng nổ của các loại bộc phá nghe đanh, liên hồi, cứ như tiếng pháo bắn cấp tập phá hoại các mục tiêu công sự. Địch không kịp trở tay, phần lớn chết trong lúc chúng đang ngủ bởi sức ép của các loại bộc phá. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, không một tên địch nào sòng sót, ta thu toàn bộ vũ khí Tôi vừa vác khẩu đại liên 12,7 ly hai nòng vừa chỉ huy anh em rút, cứ thế chúng tôi băng qua các cánh rừng cây cối rậm rạp, vượt qua các dốc một cách nhẹ nhõm. Khẩu súng chiến lợi phẩm mang về được đặt ở chính giữa khu vực trú quân, ai cũng đến nhìn sờ mó và khen súng còn mới, nước thép còn xanh. Nhiều người ghé vai vào vác thử để đọ sức khỏe với tôi. Nhưng chỉ mới đặt súng lên vai cũng thấy phải cố sức, không kể đến vừa vác vừa chạy từ đồn địch về đây đâu có gần!

        Cả ngày hôm đó toàn đơn vị ăn mừng thắng lợi. Tiếng là ăn mừng nhưng cũng chỉ có củ khoai, củ mì và bắp ngô, chỉ khác là ăn no hơn các bữa thường. Chiều đến chúng tôi được tin cơ sở của ta từ Đà Nẵng cho biết, ngay sáng hôm đó viện binh địch ở căn cứ Đà Nẵng dò dẫm kéo ra, vừa đi vừa bắn phá dọn đường. Khi kéo đến nơi, đứng trước cảnh chết chóc và đổ nát của một đồn binh được xếp vào loại kiên cố đáng tin cậy thì tất cả quan lính đều hoang mang, không hiểu Việt Minh đánh bằng cách gì mà khủng khiếp như thế này (?!)
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #19 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2016, 06:34:38 am »

     
IV

        Trở lại Khánh Hòa.

        Thời gian trôi đi thật nhanh. Tuổi trẻ năng động và ham nhận biết cái mới đã thực sự hút tâm trí mọi người. Bốn tháng học tập và thực tập - chiến đấu thật say sưa khiến chúng tôi quên hết mọi sự. Thời gian ngắn mà học được nhiều, kỹ năng chiến đấu và bản lĩnh chỉ huy đã được thử thách qua những ngày giáp mặt với quân thù ở một không gian mới, và đoàn học sinh Khánh Hòa chúng tôi vẫn còn nguyên vẹn. Tạm biệt xứ Quảng, chúng tôi lên đường trở lại quê hương trong thanh thản và lưu luyến.

        Thanh thản vì đã đi đến nơi, học tập đạt kết quả tốt, có một vốn liếng nhất định để làm ăn lớn.

        Lưu luyến vì người và cảnh đất Quảng tuy xa mà gần, lạ mà thân quen. Sự đùm bọc, che chở, giúp đỡ ân tình của nhân dân đất Quảng là nguyên nhân không thể thiếu để chúng tôi lập công. Bao nhiêu chuyện thể hiện tình cảm sâu đậm này đã để lại trong ký ức chúng tôi. Thời gian đoàn thực tập đóng quân ở vùng núi Ái Nghĩa (huyện Đại Lộc) thật là gian nan, vất vả, phần lo ăn hàng ngày, phần lo đối phó với những trận càn bất thần và ác liệt của địch nhằm triệt phá nguồn sống vốn đã thật ít ỏi của vùng bán sơn địa này. Nhưng ở đó chúng tôi vẫn hưởng được hơi ấm của tình dân, lòng dân vùng đồng bằng Gò Nổi - ven hạ lưu sông Thư Bồn, cứ định kỳ lên thăm và cho quà.

        Hình ảnh người phụ nữ đeo chiếc giỏ lần vào sát đồn địch để tìm cứu bằng được chúng tôi ở Dương Hỏa thật là sâu sắc. Làm sao lại không thương cảm và lưu luyến khi sắp phải xa mảnh đất có những người con như thế?

        Ngày trở về Khánh Hòa thật là một ngày vui - niềm vui của quê hương, bạn bè, người thân sau những tháng xa cách. Anh Nguyễn Xuân Hữu, bí thư tỉnh ủy, anh Phan Văn Đường, tỉnh đội trưởng gặp mặt chúng tôi, hỏi tình hình học, thăm sức khỏe từng người và hy vọng thời gian sắp tới sẽ đón nhận những thành tích của cách đánh đặc công mà chúng tôi vừa học được.

        Lý Ba, Sáu Nọ là hai thành viên xuất sắc của đội Cảm tử vi nhiệm vụ phải ở lại, được tin chúng tôi về, các anh cũng có mặt trong buổi đón. Hai anh lần lượt ôm ghì từng người trong đoàn; ôm thật lâu, ghì thật chặt, xa ít tháng mà nhớ muốn khóc.

        Các anh trong tỉnh ủy, tỉnh đội được tin đoàn học sinh Khánh Hòa ra Liên khu học tập đạt kết quả tốt, thực tập đánh tan năm đồn bót địch, khi được điện ngoài Khu báo ngày chúng tôi lên đường trở về thì lại càng ngóng trông từng ngày.

        Cả đoàn được tỉnh ủy đãi một bữa “tiệc” thật đã: Bắp ngô luộc và thịt lợn cũng luộc nốt, những miếng thịt luộc thái to để trên các đĩa bằng lá chuối rừng. Nhớ lại khi lên đường đi học, trong hành trang mang theo của chúng tôi không có lấy một đồng tiền, một hạt gạo. Hôm nay chúng tôi trở lại, trên “bàn tiệc” đã có thịt Cuộc sống tuy chưa nó đủ, sung túc nhưng đã đủ lương ăn. Chính ở cần cứ Đá Bàn này cơ quan lãnh đạo của tỉnh đã có đủ điều kiện để bám trụ chỉ đạo các lực lượng kháng chiến của tỉnh Khánh Hòa.

        Tôi không thể không nói đôi nét về quá trình xây dựng căn cứ Đá Bàn này.

        Như đã kể ở trên, tình hình Khánh Hòa trong những năm 1949-1950 là cực kỳ khó khăn. Có thể nói địch đã thành công một phần trong âm mưu chiếm đất giành dân. Lực lượng kháng chiến của ta rất dũng cảm, kiên cường nhưng cũng bị tiêu hao nhiều trong những trận chiến đấu chống địch vây quét. Vùng núi Hòn Hèo là căn cứ kháng chiến đầu não của tỉnh đến lúc này cũng hết vai trò. Tuy là một dãy núi cao hiểm trở, nhưng Hòn Hèo lại nằm lọt vào giữa vùng đồng bằng ven biển, bốn hướng đều có địch. Việc đi lại ra vào nơi đây rất khó khăn, thường xuyên đổ máu vì vướng phải vành đai bao vây phong tỏa dày đặc của kẻ thù. Cuối năm 1950, một đoàn cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh do anh Nguyễn Xuân Hữu, bí thư tỉnh ủy dẫn đầu từ Đá Bàn về căn cứ Hòn Hèo để họp hội nghị tỉnh ủy. Khi đoàn hành quân qua rìa căn cứ Lạc Ninh đã bị địch phục kích. Đồng chí Nguyễn Sắc Kim, chính ủy trung đoàn 803 được Khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu V phái vào đây tăng cường cho Khánh Hòa đã trúng đạn địch hy sinh ngay hôm đó - ngày 20 tháng 1 năm 1951, trước Tết âm lịch một vài ngày. Phải mở lên hướng tây - đến Đá Bàn lập căn cứ mới. Đây là quyết định của tập thể tỉnh ủy, trong đó không thể không nhắc đến công sức góp phần của anh Nguyễn Xuân Hữu, lúc ấy là bí thư. Sự cần thiết vừa cơ bản vừa cấp bách này là phải xây dựng căn cứ địa và hành lang phía tây, tạo thế chiến lược chỉ đạo vững chắc, lâu dài cho tỉnh và huyện, xã. về lý như vậy là thông suốt, nhưng về tình thi biết bao xao xuyến, vấn vương và cả tiếc nuối nữa, nếu như phải xa căn cứ Hòn Hèo. Không ít người đã nêu câu hỏi:

        - Không lẽ chúng ta bỏ mặc đồng bào Hòn Hèo mà đi sao?
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM