Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:11:17 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhiệm vụ đặc biệt  (Đọc 54095 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #90 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2016, 10:08:53 pm »

        Công tác chuẩn bị cho giờ xuất phát tiếp cận cân cứ cũng được song song chuẩn bị. Phải thật chú ý tránh rơi vãi trong khi vận động. Bài học đã phải trả giá khác nhau về sự chuẩn bị chưa thật tỉ mỉ, chưa để ý đến các khâu, các việc tuy nhỏ rất nhỏ nhưng gây hậu quả lớn, như thắt bao lựu đạn chưa chắc chắn, dây gây nổ chưa gọn, còn lòng thòng để vướng gây thành tiếng nổ, vừa xảy thương vong không cần thiết, vừa như “lạy ông tôi ở bụi này”, dẫn tới bao diễn biến không lường kéo theo, dẫn tới trận tiến công Phước Vĩnh không thành. Vì vậy tất cả mọi khâu đều được các cấp quan tâm kiểm tra chu đáo.

        Ngày 20 tháng 6 đã đến. Nằm ở địa điểm ém quân cách Bù Na chưa đầy hai cây số, chúng tôi cứ thấp thỏm, bồn chồn, chốc chốc lại so đọ đồng hồ, hết theo động tỉnh nơi căn cứ Bù Na, lại nhìn hướng thị xã Phước Long - một phố thị mang đậm cảnh sắc vùng biên với nhà cửa thấp bé lưa thưa trên các vạt đồi bốn bề đều là sông suối. Xa nữa về phía đông - nam là dãy núi Bà Rá hùng vĩ, cây cối rậm rạp, trên đỉnh dãy núi là nơi đặt trạm truyền tin ra đa của Mỹ với những dàn ăng ten to, cao vút. Bất giác tôi lại nghĩ về trận đánh đêm nay. Kế hoạch như vậy thật đã ổn chưa, còn cần gì phải bổ sung? Bởi Bù Na đâu phải là một căn cứ tiền đồn riêng lè, biệt lập mà nó nằm trong hệ thống phòng thủ từ xa theo thế liên hoàn, có tiểu khu Phước Long hỗ trợ, có trạm truyền tin ra đa Bà Rá báo về Sài Gòn những tin tức, những yêu cầu cần chi viện; và cũng rất nhanh, không quân Mỹ từ sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất ập tới cứu nguy. Để đến cơ sự như vậy thì trận đánh không còn nằm trong khái niệm tác chiến đặc công nữa. Tôi cho đơn vị kiểm tra các động tác đóng gói, buộc chằng, nhắc phải giữ nghiêm kỷ luật giấu mình - ém mình.

        Sự căng thẳng cũng tính từng phút từng giờ. Chúng tôi đã tính đến các tình huống: địch biết do ngẫu nhiên, tình cờ, cũng có thể do mạng lưới biệt kích, thám báo phát hiện ra nơi chúng tôi ém quân. Tất nhiên là chúng tôi tìm cách dập tắt như dập tắt đám cháy không cho lan rộng. Sẽ quây lại bắt gọn, làm êm chờ trời tối hãy hay.

        Mặt trời lặn, hoàng hôn lan nhanh ở nơi chiến trường rừng núi. Thế là an toàn rồi. Thắng lợi đang trong tầm tay rồi! Thành công của ém quân là thắng lợi đã giành được phân nửa. Tất cả thấy nhẹ nhõm như vừa trút được một gánh nặng vô hình. Khỏi lo sự cố bất trắc. Đèn trong căn cứ Bù Na bật sáng càng là một định hướng rất tốt, để một vài giờ nữa là chúng tôi sáp vô, không lạc đích.

        Theo kế hoạch, tôi dẫn hai đội đi vào hướng chủ yếu. Vượt qua con suối, chúng tôi đã đến một doi đất cao mà bằng. Qua hàng rào, chủng tôi nhìn rõ sở chỉ huy chiến đoàn, điện sáng hơn các nhà xung quanh. Từ đây vào đó rất gần, chỉ còn độ 500 mét. Căn cứ yên ắng không động tĩnh. Đúng như các đồng chí trinh sát báo cáo: địch ở đây ngủ nhiều và ngủ say. Có lẽ địch vẫn rất yên tâm về sự việc sư đoàn 5 của ta phải bỏ cuộc, gây ra ngộ nhận về sức mạnh bất khả xâm phạm của vũ khí - hỏa lực Mỹ.

        Kế hoạch ấn định đúng 12 giờ đêm nay sẽ nổ súng nhưng chỉ mới 11 giờ các mũi đã vô hết hàng rào cuối cùng. Nếu nằm chờ một tiếng nửa mới khởi sự thì rất không có lợi, tránh sao khỏi sơ suất nào đó có thể xảy ra. Và như vậy ta sẽ roi vào thế bất lợi.

        Cuối cùng, tính toán đi lại, cân nhắc đầy đủ, tôi quyết định cho nổ súng trước giờ G quy định là một giờ.

        Một phát đạn K.54 được bắn lên hạ lệnh tiến công.

        Sở chỉ huy và khu thông tin của căn cứ là mục tiêu đánh trước đã hoàn thành. Mối liên hệ với chi khu Phước Long, với trạm truyền tin Bà Rá đã bị cắt đứt, khiến chúng tôi bớt phân tán trong lo toan điều khiển trận đánh, chỉ tập trung vào các vấn đề tại chỗ. Không có lửa cháy và không có tiếng hô hối thúc xung phong, tất cả diễn ra êm ngọt, người nào việc ấy, mũi nào hướng ấy tự mình giải quyết. Khi quân địch tỉnh dậy thì đã thấy các chiến sĩ của tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 7 thuộc lữ đoàn 429 đặc công Đông Nam Bộ đứng kề bên. Chúng chẳng còn làm gì được nữa ngoài sự chấp nhận thất bại và giơ tay xin hàng.

        Bù Na, căn cứ chiến đoàn hỗn họp Mỹ - ngụy đã bị đánh phá với một tương quan không cân xứng về số lượng. Chúng tôi chỉ có 95 cán bộ, chiến sĩ, chọi lại với hơn 1.300 quân địch có công sự hầm hào, có vật cản bảo vệ.

        Hận Phước Vĩnh đẫ được rửa. Chúng tôi điện báo cáo kết quả về Bộ tư lệnh Miền ngay trong đêm.

        Hai hôm sau, tại một cánh rừng trên trục đường số 13, chúng tôi nhận được điện khen của Bộ tư lệnh Miền, với tấm Huân chương Quân công hạng ba.

        Tất nhiên là không có kẹo, có trà để liên hoan đón nhận phần thưởng, vì chiến tranh ở vào thời điểm này cực kỳ ác liệt Nhưng chúng tôi vẫn vui, cái vui từ đáy lòng mình, nó còn được tiếp sức, bắt nguồn từ bài học mà chúng tôi rút ra - có tư tưởng tiến công thì sẽ tìm ra và lợi dụng được sơ hở của kẻ địch, sẽ có cách đánh hiệu qua. Từ Phước Vĩnh chuyển sang Bù Na, chúng tôi đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của Miền đề ra trong đợt cao điểm hè 1969.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #91 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2016, 10:13:06 pm »

       
VƯỢT KINH VĨNH TẾ
       
I

        Vào giữa nãm 1969, khái niệm “Việt Nam hóa chiến tranh” được Ních-xơn nhắc đến trong lần gọi Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống của cái gọi là chính phủ “Việt Nam Cộng hòa” đến Mít-uây (một hòn đảo nằm giữa Thái Bình Dương) nhận lệnh tiếp tục chiến tranh theo cung cách mới; và chỉ năm tháng sau đó - tháng 11 năm 1969, “Việt Nam hóa chiến tranh: chính thức trở thành một đường lối, một chính sách gọi là “thức thời” nhằm cứu hơn nửa triệu quân Mỹ đang bị sa lầy trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam.

        Như vậy là “Việt Nam hóa chiến tranh” của Nich-xơn được thay thế cho “Phi Mỹ hóa chiến tranh” của Giôn-xôn. Hai khái niệm khác nhau về hình thức diễn tả nhưng thống nhất với nhau về mục đích - Mỹ sẽ làm hết sức mình để đưa quân đội ngụy Sài Gòn từ 61 vạn năm 1969 lên gần một triệu vào năm 1970-1971, sao cho về lục quân phải đạt hàng thứ hai (về quân số) trong số các nước ở châu Á, có như vậy quân ngụy Sài Gòn mới đủ mạnh để thay quân Mỹ làm công cụ tiếp tục thực hiện chiến tranh xâm lược thực dân theo kiểu mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Bởi Mỹ đi mà vẫn ở lại.

        Khi mà biện pháp tiến hành chiến tranh thay đổi thì kéo theo hàng loạt vấn đề khác như tổ chức quân đội, tổ chức chiến trường phân vùng trách nhiệm hành quân cùng tính chất của cuộc hành quân đó, v.v... cũng thay đổi. Sự căng thẳng nóng bỏng ở mỗi chiến trường cũng có những nét khác nhau. Tùy theo địa lý, dân cư và điều kiện kinh tế của mỗi chiến trường cần thiết đến đâu cho chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” mà Mỹ sẽ có những nỗ lực khác nhau về số lần các cuộc hành quân và tính chất của chúng. Có thể ở nơi đây, chiến trường này, Mỹ vẫn coi trọng cả hai gọng kìm “quét giữ” và “bình định”, ở nơi khác, chiến trường khác, địch lại tập trung hướng sự nỗ lực vào cuộc hành quân “bình định”.

        Đồng bằng sông Cửu Long mà địch gọi là “Vùng 4 chiến thuật”1  từ đầu Xuân 1969 bỗng trở nên sôi động khác thường và mang những nét riêng. Ở đây địch cho là vùng trọng điểm của kế hoạch bình định, nên chúng dồn mọi nỗ lực tối đa để thực hiện âm mưu này. Đầu tháng 1 năm 1969, địch mở cuộc hành quân “Quyết thắng” vào vùng sâu trên một diện rộng từ Rạch Giá qua Vị Thanh đến Sóc Trăng để xiết chặt hơn nữa ách kìm kẹp của chúng ở vùng này. Sang tháng 2 và 3, nhịp độ các cuộc hành quân đầy tội ác đó lại tăng lên với những biện pháp tàn bạo hơn. Mỹ đã tập trung hầu hết các lữ đoàn thuộc sư đoàn 9 Mỹ, các sư đoàn 7, 9, 21 ngụy mở các cuộc hành quân với các thủ đoạn dã man chưa từng thấy. Riêng ở vùng Cô Tô thuộc huyện Tri Tôn (An Giang) địch huy động hơn mười ngàn quân lính do một trung tướng Mỹ chỉ huy đánh vào một khu vực có không gian hẹp. Tại đây địch cho phun chất độc hóa học, cho 50 lần chiếc máy bay B.52 thả 6.000 tấn bom nhằm tàn phá xóm làng, hủy diệt sự sống để thực hiện âm mưu bình định - gom dân. Nhưng tội ác điển hình mang tính răn đe ấy vẫn không khuất phục nổi tinh thần đấu tranh của nhân dân.

        Bình định và chống bình định là mặt trận đấu tranh cực kỳ quyết liệt đang diễn ra ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Địch tiến hành bình định bằng tất cả các thủ đoạn dã man và tàn bạo, thì nhân dân ta cũng chống lại các âm mưu mang ý nghĩa chiến lược với đầy kỳ vọng này của 3 địch bằng tất cả sức mạnh, với ý chí, lòng tin và trí tuệ thông minh của mình.

----------------
1. Toàn chiến trường miền Nam, Mỹ chia thành 4 vùng chiến thuật:
        - Vùng 1 chiến thuật: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngăi.
        - Vùng 2 chiến thuật: Toàn bộ các tỉnh vùng Tây Nguyên và các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa.
        - Vùng 3 chiến thuật: Toàn bộ các tỉnh Đông Nam Bộ và hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận.
        - Vùng 4 chiến thuật: Các tỉnh thuộc vùng châu thổ sông cửu Long
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #92 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2016, 10:19:21 pm »

        Tuy nhiên nếu so sánh tương quan đơn thuần về quân sự, thì ta còn có hạn chế nhất định, nên về hình thái chung ở vùng đồng bằng Nam Bộ lúc này địch vẫn còn khống chế được nhân dân; bộ máy kìm kẹp của địch vẫn còn dùng các thủ đoạn phát xít để khai thác các thế mạnh về kho người, kho của ở đây để ném vào cuộc chiến tranh xâm lược của chúng...

        Tôi được biết tình hình trên đây là do các đồng chí trong Cục tác chiến Miền trao đổi lại trước khi gặp Bộ tư lệnh Miền nhận nhiệm vụ mới.

        Cuối tháng 12 năm 1969, ỏ mặt trận đường số 13 trở về tôi thấy vui vì lực lượng đặc công Đông Nam Bộ đã kiên cường bám trụ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Bộ tư lệnh Miền giao cho - đánh thẳng vào các căn cứ lớn của quân đội Mỹ. Riêng tôi vẫn còn vương vấn về cái hận Phước Vĩnh. Nhưng sau khi Bộ tư lệnh Miền gọi lên giao nhiệm vụ thì mọi ưu tư đã tan biến, tôi thực sự phấn khởi với nhiệm vụ mới được giao; tham gia vào mặt trận đấu tranh chống âm mưu bình định của địch đang diễn ra ác liệt ở đồng bằng sông Cửu Long. Bộ đội chủ lực Miền, kể cả đặc công, được tăng cường cho mặt trận này. Như vậy là lực lượng luồn sâu vào chiến trường Tây Nam Bộ1  lần này có sư đoàn 1 và bốn tiểu đoàn đặc công trực thuộc Miền. Anh Ba Trân, tư lệnh sư đoàn kiêm tư lệnh chung, chỉ huy cả hai lực lượng bộ binh và đặc công. Đây là lần đầu tiên ta tổ chức đơn vị hợp thanh bộ binh - đặc công cùng làm một nhiệm vụ chung là thông qua hoạt động quân sự cụ thể của mình mà hỗ trợ trực tiếp cho phong trào đấu tranh mở vùng mở mảng của nhân dân đang được bắt đầu theo chủ trương chung của Trung ương cục và Quân ủy Miền.

        Và đây cũng là lần đầu một lực lượng lớn bộ đội chủ lực Miền tiến sâu vào một chiến trường mà địa hình ở đây không thuận cho cơ động lực lượng, cho tác chiến tập trung, nên các anh trong Bộ tư lệnh Miền rất quan tâm chỉ đạo chúng tôi trong quá trình chuẩn bị. Trước khi đoàn quân lên đường, đồng chí Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Miền đến thăm hỏi, vừa để động viên tiễn đưa vừa căn dặn thêm trước khi chúng tôi về dưới đó.

        Anh nói: Chiến trường đồng bằng Nam Bộ giữ một vị trí quan trọng trong suốt quá trình cuộc chiến tranh, vì ta và địch đều dựa vào nơi kho người kho của này để xây dựng và phát triển lực lượng. Là vùng đồng bằng có nhiều sông rạch - những tuyến vật cản tự nhiên lợi hại, nên địch có ý kiến biến noi đây thành căn cứ chiến lược co cụm cuối cùng nếu tình thế bất lợi, để chờ thời cơ phản công lại ta. Từ cuối năm 1969 đầu năm 1970, địch xem đồng bằng Nam Bộ như chiến trường chính, tướng tá Mỹ ở Sài Gòn đều khẳng định kết quả thu được ở vùng đồng bằng châu thổ phì nhiêu này “sẽ là cái thước đo sát đứng” và “có ý nghĩa quyết định” chiều hướng phát triển toàn bộ công cuộc “Việt Nam hóa chiến tranh”. Cũng chính vì lẽ đó mà những ngày gần đây, theo tin tức mới nhận được, tướng A-bram, tư lệnh quân Mỹ ở Sài Gòn đã ném thêm sư đoàn lính thủy đánh bộ (lực lượng dự bị chiến lược của quân ngụy Sài Gòn) vào vùng nầy để cùng ba sư đoàn chủ lực ngụy đã đứng chân sẵn ở đây2 làm nhiệm vụ xung kích yểm trợ bình định. Ngoài ra Mỹ đang xúc tiến thành lập sư đoàn không quân ngụy đứng chân tại sân bay Trà Nóc (Cần Thơ) để tập dượt dần việc cơ động yểm trợ hành quân và tham gia các phi vụ đánh phá. Đồng thời Mỹ đã tăng cường thêm hơn 200 tàu xuồng chiến đấu cho hải quân ngụy để làm nhiệm vụ càn quét, tuần phòng trên các kênh rạch...

---------------
1. Tây Nam Bộ, Đồng bằng Nam Bộ, Đồng bằng Cửu Long là những cái tên khác nhau dùng để chỉ các tỉnh thuộc vùng châu thổ sông Cửu Long.

2. Đổng bằng Nam Bộ, địch bố trí 3 sư đoàn chủ lực mạnh:
        - Sư đoàn 7: Đảm trách các tỉnh Mỹ Tho, Bến Tre, Gò Công, Sa Đéc, Trà Vinh, Vĩnh Long.
        - Sư đoàn 9: Đảm trách khu vực tỉnh Rạch Giá.
        - Sư đoàn 21: Đảm trách khu vực Rạch Giá đến Cà Mau.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #93 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2016, 01:53:06 pm »

        Rõ ràng trên mặt trận bình định và chống bình định ở Tây Nam Bộ đang đòi hỏi chúng tôi khẩn trương lên đường, để có mặt ở noi đó càng sớm càng tốt. Nhưng lại không vì thế mà đại khái qua loa trong chuẩn bị. Bài học cụ thể, tỉ mỉ mà chúng tòi phải trả giá trong đợt hoạt động xuân hè năm 1969, trong các trận đánh căn cứ Mỹ ở Đồng Dù, Phước Vĩnh vẫn đang còn rất nóng hổi. Hơn nữa, đây là chuyến đi xa, luồn sâu vào một chiến trường mới lạ, với hình dáng địa hình cực kỳ phức tạp càng khiến chúng tôi phải thận trọng và Bộ tư lệnh Miền cũng nhắc như thế. Bởi chúng tồi đến đấy không chỉ để giấu quân lót ổ, ém sẵn, chờ thời cơ, mà là phải chủ động tổ chức đánh địch theo mục tiêu chỉ định chứ không được tự do lựa chọn; đồng thời phải trụ bám đối mặt với các trận phản kích của địch, phân tán xé lẻ lực lượng địch, vô hiệu hóa lực lượng kìm kẹp của địch để hỗ trợ có hiệu quả cho nhân dân mở vùng mở mảng, phá thế kìm kẹp của địch, tạo ra nhiều căn cứ “lõm”, nhiều vùng làm chủ liên hoàn, góp phần làm phá sản chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” ở nơi mà địch đặt nhiều hy vọng nhất.

        Đúng đây là dịp tốt để thực hiện phương thức thứ tư của tác chiến đặc công - Hiệp đồng chặt chẽ với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích trong các chiến dịch giải phóng nông thôn... mà các anh ở Bộ tư lệnh binh chủng đã kịp thời tổng kết sau đợt Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Bây giờ chỉ còn lo sao tìm ra các biện pháp có hiệu quả trong thực hiện.

        Nơi mà đơn vị họp thành bộ binh - đặc công đến làm nhiệm vụ là một vùng thôn ấp thuộc hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn (tây nam Châu Đốc - An Giang). Nhìn lên bản đồ quân sự và qua tình hình địch do Cục tác chiến Miền cung cấp, chúng tôi nhận ra ngay đây là một vùng sâu trong hệ thống phòng thủ hướng tây bắc của “vùng 4 chiến thuật”, có cấu trúc địa hình phức tạp với hệt thống kênh rạch chằng chịt, có sình lầy xen kẽ nên địch rất chủ quan, chưa bao giờ chúng nghĩ “Việt cộng” (chỉ các lực lượng vũ trang giải phóng) có khả năng tiến công nơi đây. Ngoài hai chi khu quân sự Tịnh Biên, Tri Tôn và hai căn cứ quân sự Vĩnh Trung, Ba Soài, đồn bót địch ở đây không nhiều, nhưng có giá trị khống chế và kìm kẹp một tứ giác rộng: Châu Đốc - Hà Tiên - Rạch Giá - Long Xuyên, nhất là vùng đông dân tây đường 10 - Châu Đốc - Long Xuyên. Nhưng ở đây cũng có khu Bảy Núi, với nhiều hang sâu hiểm trở, ta có thể dựa vào đó làm nơi bám đánh địch và tổ chức tiến công địch. Sự chọn điểm tiến công sáng suốt này của Bộ tư lệnh Miền đã tạo một thuận lợi rất cơ bản để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên làm sao tiếp cận được tới đó và khi đến nơi rồi, việc tổ chức ăn ở thế nào để tồn tại mà lo đánh giặc mới là điều mà giờ đây chúng tôi đang thực sự quan tâm.
-   
        Sau khi ở cơ quan Bộ tham mưu Miền về, tôi và anh Ba Trân tranh thủ trao đổi những việc chung phải làm, phân công nhau về quán triệt nhiệm vụ cụ thể cho mỗi đơn vị mà mình trực tiếp phụ trách.

        Bốn tiểu đoàn đặc công tham gia cuộc hành quân lật cánh sang mặt trận Tây Nam Bộ đã về đủ tại địa điểm tập trung:

        Đó là tiểu đoàn 3 do anh Lan làm tiểu đoàn trưởng, anh Kế chính trị viên; tiểu đoàn 4 do anh Tư Doanh làn tiểu đoàn trưởng, anh Ngân chính trị viên; tiểu đoàn 5 do anh Hoàn làm tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 7 do anh Mười Thọ làm tiểu đoàn trưởng.

        Hầu hết cán bộ, chiến sĩ của bốn tiểu đoàn đã cùng tôi qua các mặt trận chiến đấu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, qua đợt hoạt động xuân-hè năm 1969 và qua những giờ
phút đối mặt đầy căng thẳng với lính Mỹ ở căn cứ Đồng Dù, Dầu Tiếng, Phước Vĩnh, Tếch-ních và Bù Na, v.v... vậy mà trên gương mặt của anh em lúc này đây vẫn phơi phới lạc quan và hăm hơ lên đường.

        Đã hiểu nhau, thương nhau và hết mình vì nhau qua những ngày chiến đấu gian khổ, giờ đây trước lức lên đường bước vào một thử thách mới lại thương nhau thật nhiều. Nói ít mà hiểu nhiều, động viên cũng rất cần nhưng ai nấy đều thấy được trách nhiệm tự thân, tự thấy nhiệm vụ, tự thấy việc cần làm mà chủ động làm, với ý thức chuẩn bị thật tốt cho một chuyến lên đường đi xa, vào vùng sâu phía sau trận tuyến phòng ngự của địch.

        Khi nghe tôi phổ biến địa danh phải đến, hướng tiến công phải thắng thì anh em càng mừng rỡ, càng phấn khởi, càng tin tưởng. Một nơi hiểm yếu nhưng địch lại có nhiều sơ hở, đó là thuận lợi và cùng là nguyên tắc chọn lựa của chúng ta trong khi tổ chức tiến công.

        Dẫu rằng biết sẽ có nhiều khó khăn trên con đường hoàn thành nhiệm vụ, nhưng chúng tôi đã tin phần thắng ngay trước khi lên đường. Có được ưu điểm này vì chúng tôi đã có thực tế qua hai mùa khô đánh giặc trên Đất Miền Đông. Giờ đây khi nhiệm vụ đã chuyển về Tây Nam Bộ, chúng tồi lại càng tin khi được Bộ tư lệnh Miền chọn hướng tiến công trước cho chúng tôi một hướng tiến công lý tưởng, nếu chúng tôi sáp vô được, tổ chức nổ súng và chỉ huy chiến đấu tốt thì tác dụng của trận đánh sẽ vượt ra ngoài không gian mà chuyển rung đến toàn bộ hệ thống phòng thủ của chúng, làm đảo lộn ý đồ thực hiện kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” ở vùng đất cực Nam của Tổ quốc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #94 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2016, 01:57:26 pm »

     
II

        Hướng điểm tiến công đã rõ. Nhung làm thế nào để hoàn thành được nhiệm vụ trong khi chúng tôi đang còn cách xa mục tiêu cỡ lối trên dưới 200 cây số, mà thời gian dành cho việc chuẩn bị không còn nhiều nữa. Lúc này đã là cuối tháng 1 năm 1970.

        Từ căn cứ của Bộ tư lệnh Miền ở Đông Nam Bộ nối với căn cứ Đồng Tháp Mười thấu tận miệt rừng u Minh, phải đi theo ba hướng: Hướng thứ nhất, men theo dọc biên qua Bảy Núi (An Giang) xuống Hà Tiên quẹo trái sang Rạch Giá rồi vào u Minh; hướng thứ hai từ Mỹ Tho qua Bến Tre, Trà Vinh rồi xuống Cà Mau; hướng thứ ba, theo đường thủy sông Tiền và sông Hậu.

        Với đội hình gần hai sư đoàn, không có hướng nào khác là phải đi theo hướng thứ nhất - dựa vào đường hành lang của Trung ương cục, tuy địch có theo dõi nhưng vẫn nhanh và an toàn. Một ngày sau khi họp bàn biện pháp tổ chức hành quân với anh Ba Trân, chỉ huy chung, chúng tôi cho đội hình men theo dọc biên chọc thẳng xuống khu vực Bay Xăm Ba trên đất bạn, nhưng yêu cầu tuyệt đối giữ bí mật đích cuối cùng phải đến, một mặt tung tin nghi binh, đánh lạc hướng theo dõi của địch. Những ngày hành quân như thế này nói chung là thoải mái, có nhiều giờ chuyện trò, nói cười hết cỡ.

        Từ Bay Xăm Ba muốn tập kết vào khu vực Bảy Núi (An Giang) phải qua kênh Vĩnh Tế. Đây mới là giai đoạn gay cấn cho đoàn quân luồn sâu.

        Vĩnh Tế - như bạn đọc đã biết, đó là con kênh nhân tạo dài hơn 100 cây số, rộng 50 mét, sâu 9 mét, được xem như đường biên phân cách Việt Nam và Campuchia. Kênh Vĩnh Tế là một thắng cảnh nhân tạo, chảy hiền hòa mang lượng nước phù sa bồi tưới cho ruộng vườn và cây trái của nhân dân hai nước quanh năm tốt tươi, đâm chồi. Nó hiển hòa ngay từ lúc khởi nguyên đào nó. Nhưng Pháp trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai rồi tiếp Mỹ đã biến kênh Vĩnh Tế thành tuyến phòng thủ dữ dằn với hệ thống đồn bót tháp canh xen lẫn vật cản ngăn chặn sự xâm nhập từ phía bên kia.

        Hai bờ kênh, nhất là bờ thuộc địa phận Việt Nam, đoạn mà chúng tôi bắt buộc phải qua lại là sình lầy, cỏ lác, gây trở ngại cho vận động và chính thương vong khi vượt kênh cũng từ đặc điểm này. Vượt đã khó nhưng vượt sang trụ lại tại đó chờ đêm tối đi tiếp càng khó hơn. Phải chống chọi đủ mọi thứ. Muỗi, đỉa nhiều và to con hơn con muỗi và đỉa mà ta thường thấy. Cũng là đối tượng của mình nhưng không đáng gờm, chỉ bận tâm chút xíu lúc ban đầu mới tới, sau quen dần, mất ít máu là cùng. Trụ lại dưới bom đạn địch, trong sự rình ngó của kẻ thù mới là điều phải bận tâm. Cả khu sình lầy này được địch khảo sát tỉ mỉ, đâu là đường ta có thể qua, đâu là gờ đất, là lùm cỏ mà ta có thể trụ lại, trú ẩn khi trời sáng. Tất cả đều được đo tính cho pháo bầy, cho bom tọa độ, cho việc tuần tiễu thường xuyên từ sáng tinh mơ cho dến tối sẩm của máy bay lên thẳng vũ trang; chúng bay ngang, bay dọc, bay cao nhìn xuống, bay thấp rẽ cỏ theo kiểu ‘Vạch lá tìm sâu” để xăm lùng, phát hiện “Việt cộng” chuẩn bị vượt kênh, hay từ bờ bắc mới sang để chờ về khu Bảy Núi. Tiếng ầm ì nghe nhức óc ấy không bao giờ ngớt, có lúc cao điểm nó liên hồi 24/24.

        Đêm về cũng không an toàn, vì pháo bắn cầm canh, vì pháo sáng bắn rọi, nhìn thấy cả chuột chạy, đỉa lội trên đồng.

        Thật gần, thật ngon, chỉ đạn súng trường với trình độ xạ kích vừa phải cũng dễ dàng hạ tại chỗ một trực thăng bay thấp. Đúng là dễ ợt! Nhưng như thế là tự mình bộc lộ lực lượng, chỉ thấy trước mắt mà quên nhiệm vụ chính của chuyến luồn sâu. Khi đã lộ thì địch nhanh chóng khép chặt vòng vây, cất vó ta tức thì. Ở vùng tráng địa này để địch dồn vào tình thế ấy thì khó bề xoay xở, chỉ còn cách đối mặt với kẻ thù, kiên quyết đánh trả chúng mà thoát vây. Nhưng như vậy thì việc lớn lỡ dở! Nghĩ như thế nên chúng tôi cắn răng chịu đựng, giấu mình thật kín nơi sình lầy, cỏ lác, mặc cho muỗi, đỉa hút máu. Phải ráng chịu. Nếu chẳng may có ai hy sinh hay bị thương cũng âm thầm mà chôn cất, mà cứu chữa, nén đau thương lại, bảo đảm cho đội hình chiến đấu sáp vô tới đích an toàn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #95 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2016, 01:59:27 pm »

        Nhưng thật là khó! Đi lẻ dễ xóa dấu vết, đi đông như thế này thì giấu, xóa sao xuể? cỏ sẽ đổ gãy, sình lầy hằn rõ bởi nhiều bàn chân giẫm đạp, máy bay địch dễ dàng phát hiện ra, cứ thế lần theo vết cỏ hằn, cỏ đổ gãy ấy mà tìm đến tận cùng. Nếu chưa thấy thì máy bay hạ thấp độ cao, thẳng đứng như diều hâu rình mồi, cánh quạt quay nhanh, bụi cỏ lác nào cũng phải gãy, phải đổ, phải tẻ tách thân cây phoi trơ bụi gốc là thấy liền có ai ẩn trứ. Thế là lại có thương vong, mất mát và hy sinh.

        Mặc dầu chúng tôi chọn điểm vượt cách xa khu trọng điểm phòng thủ tới 20 cây số về phía tây - nam nhưng khi thực hành vượt kênh vẫn không tránh khỏi vất vả gian nan, phải mất cả tháng trởi mới qua hết bờ nam kênh với một giá đắt phải trả.

        Tôi và bộ phận chỉ huy vượt kênh vào đêm thứ nhất của đợt đầu nhưng không thành. Vì quãng vượt có hai lô cốt đen ngòm cách nhau chừng 200 mét, các lỗ châu mai như hai mắt cú vọ tát cả đều hướng ra nơi kênh. Chốc chốc lại đại liên từ các hốc lỗ châu mai đó phụt lửa, nhả đạn đan chéo nhau lướt là là trên mặt kênh. Thỉnh thoảng ca nô địch đi tuần liên tục, rọi đèn vào bờ, buộc chúng tôi phải quay về vị trí tập kết. Chưa vượt được kênh thì lại nhận được tin khẩn, tôi đau nhói ở nơi con tim - hai phần ba quân số tiểu đoàn 3 bị thương vong trong đợt vượt kênh này; chính trị viên tiểu đoàn 5 bị trọng thương, lạc đường nên sa vào tay địch, bị chúng đánh đập dã man. Nỗi buồn thương dâng đầy trong tôi nhưng cứ phải nén chịu, kiềm chế, bởi mềm yếu lúc này là không có lợi. Tôi tự nhủ mình như vậy nhưng đầu óc không lúc nào rứt ra được những suy nghĩ mông lung. Nghĩ về những đồng đội mình đã nằm xuống nơi đây, nghĩ về ai đó đã đặt thêm lên cho con kênh này là “Kênh Vĩnh Biệt”. Lại càng nghĩ đến sự gắn quyện thần kỳ về sức mạnh của chiến tranh nhân dân. Nhờ có dân, chúng tôi dưa được hàng trung đoàn luồn sâu xuống huyện Cần Giuộc để hình thành mũi tiến công lợi hại đánh vào Sài Gòn từ hướng tây-nam; không có dân sao chúng tôi đánh sập được cầu Bến Lức, trụ lại bên này cầu chữ Y cả tháng trời trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968; nhân dân cũng đã giúp chủng tôi đánh thắng Mỹ ở Trảng Lớn, Đồng Dù, ở Tểch-nich và trên sông Lòng Tàu v.v... Giờ đây địch có thêm viện binh đang điên cuồng phản kích, đánh phá các trận địa của chiến tranh nhân dân ở cơ sở hạ tầng, thì nhân dân lại rất cần có những cú “đấm” của bộ đội chủ lực để hỗ trợ mình đấu tranh hồi phục lại lực lượng, lập lại thế trận liên hoàn đánh địch ở các địa phương. Do ý thức được cái mối quan hệ gắn quyện sinh tử ấy mà trung đoàn 320 (hầu hết cán bộ, chiến sĩ quê ở ngoài Bắc) đã vui vẻ từ Tây Ninh lật cánh xuống Long An từ tháng 12 năm 1968 đế cùng bà con cô bác, cùng lực lượng vũ trang địa phương tổ chức lại lực lượng, sắp xếp lại thế trận chiến tranh nhân dân địa phương chống trả quyết liệt với bọn xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai. Giờ đây đến lượt chúng tôi cũng có nghĩa vụ đáp lại yêu cầu của cuộc chiến đấu, dù phải hy sinh nữa cũng vui vẻ chấp nhận, bởi đây là lý trí, là tình cảm, là trách nhiệm và lương tâm. Điều tâm đắc đã trở thành một tiềm thức bền vững hôm nay bắt nguồn từ kỷ niệm sâu sắc về những ngày lượt kênh Vĩnh Tê năm xưa. Sau này khi được học tập đường lối quân sự của Đảng, tôi đã tiếp thu nhanh kiến thức về chiến tranh nhân dân địa phương và chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực đều giữ vị trí chiến lược quan trọng chiến tranh... Những ngày luồn sâu bám trụ ở khu vực Bảy Núi (An Giang) để hỗ trợ đồng bào mở vùng mở mảng đã là những sự kiện khó quên trong tôi mỗi khi tiếp nhận những vấn đề về khoa học và nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam.

        Mặt trời lặn, những hàng cây thốt nốt mờ dần trong hoàng hôn đến nhanh, chúng tôi lại tiếp tục công việc vượt kênh. Phần lo cho đơn vị, phần chuẩn bị cho bản thân gắng làm sao không để cho cái mất mát đã qua tái diễn trong đêm nay. Đầu óc lại căng lên, tâm trạng lại xáo trộn, việc lại nhiều ra. Nhưng thật là một hạnh phúc lớn, một nguồn động viên không nhỏ đối với tôi trong những giờ phút căng thẳng này, ấy là có Dũng - Nguyễn Hữu Dũng ở bên. Dũng là liên lạc của bộ phận chỉ huy, nhưng cũng là một “chính trị viên” của tôi, ít ra là những ngày tháng vượt kênh. Mới 17 tuổi đời mà đã có cái già dặn trong suy nghĩ, năng nổ, tháo vát trong hành động của quê hương Đồng khởi. Thoát ly gia đình lên Miền, Dũng công tác ở một cơ quan dân sự, nhưng Dũng lại thích được trực tiếp chiến đấu, bằng một quyết định của tự mình: Bỏ cơ quan tìm đến đặc công xin được giao nhiệm vụ.

        Cơ quan Dũng báo sang là Dũng vô kỷ luật, tự ý bỏ việc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #96 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2016, 02:02:22 pm »

        Về hiện tượng hàng ngày Dũng không chứng tỏ là mình xấu, trái lại công tác tích cực, sống có kỷ luật. Thấy có cái gì khó hiểu trong con người Dũng, tôi gọi lên thân mật trao đổi, tìm hiểu thực hư. Khi gợi ý về việc làm sai trái của Dũng thì Dũng lý sự một cách rất lễ độ:

        - Dạ thưa chú, đào ngũ về phía sau mới là xấu chứ, còn cháu xin ra phía trước, mong được các chú cho đi chiến đấu thì có gì xấu.

        Cái lý của Dũng chẳng cùn chút nào. Ở chiến trường nóng bỏng như thế này mà có được lòng quả cảm và những suy nghĩ như Dũng là đáng khích lệ chứ. Nghĩ như thế, một mặt tôi quyết định nhận Dũng vào làm liên lạc, một mặt viết thư sang cơ quan nơi Dũng công tác, trình bày những điều chúng tôi hiểu biết về Dũng, mong cơ quan thông cảm cho thiếu sót của Dũng và vui vẻ để Dũng được gia nhập vào đội ngũ đặc công, đang chuẩn bị lên đường đi chiến đấu.

        Sau khi tìm hiểu được biết ba của Dũng là trung đoàn trưởng bị cầm tù ngoài Côn Đảo, má Dũng là quân y sĩ (chị tập kết ngoài Bắc học tiếp lên bác sĩ, đã trở lại chiến trường từ năm 1966). Biết thêm Dũng xuất thân từ một gia đình cách mạng, tôi càng muốn Dũng làm liên lạc cho bộ phận chỉ huy. Khi được ướm hỏi, Dũng không phải suy nghĩ gì lâu mà trả lời ngay: Bất cứ việc gì chú giao cháu cũng nhận liền - rồi đắn đo như ra điều kiện - nếu có chiến đấu chú cho cháu đi theo nghen.

        Dũng còn trẻ nhưng rất đảm đang, chiến đấu hăng mà nội trợ cũng giỏi. Trong ba lô của Dũng có đủ mọi gia vị. ít phút dừng nghỉ trong hành quân là Dũng thoắt cái đã vào rừng kiếm rau rất thạo và nhanh, chẳng khác nào người đã sinh sống ở rừng từ lâu.

        Trong cuộc hành quân vượt kênh Vĩnh Tế này, Dũng càng tỏ ra hăng hái và tháo vát vì nguyện vọng đi chiến đấu được thực hiện. Mỗi lần vượt kênh đều có tin thương vong báo về sở chỉ huy nhưng Dũng không hề nao núng mà trái lại, lúc nào cũng bồn chồn đợi mong chóng đến lượt mình. Đến khi được lệnh vượt kênh thì Dũng phấn khởi hẳn lên, như người chờ tàu đợi xe quá lâu, nay đến lượt thì mừng quýnh lên, tất bật chuẩn bị kẻo chậm là lỡ chuyến. Sáng nay Dũng dậy thật sớm hết nấu nước cho vào bi đông, lại lo sắp xếp thứ tự hành lý để đóng gói bọc nilông thành phao bơi; Dũng còn tranh thủ quét nhà quét sân, giúp chủ nhà nấu cả cơm sáng. Ngôn ngữ tuy bất đồng nhưng cử chỉ chan hòa nhã nhặn, việc làm chu đáo của Dũng đã là một thứ ngôn ngữ truyền cảm mạnh mẽ đến nhân dân nơi nước bạn Cam-pu- chia. Lúc chúng tôi tạm biệt phum sóc đi ra hướng bờ kênh để đợi giờ vượt sang đất Việt Nam, đồng bào kéo đến rất đông để tiễn đưa, vừa lưu luyến, kèm theo cả lo lắng. Phải trở lại, điều ấy với chúng tôi thật buồn, nhưng với đồng bào thì lại vui, lại được trông thấy mặt nhau, được sống đoàn tụ bên nhau.

        Dũng chuẩn bị chu đáo cho mình và càng chu đáo cho người chỉ huy mà Dũng có trách nhiệm phục vụ. Những giờ phút như thế này, có Dũng ở bên tôi thấy mình thanh thản thêm lên, chỉ còn lo một việc điều hành sao cho suôn sẻ, lo tính vượt kênh sao cho an toàn... Trăng non đã lặn, trời tối sẫm, bộ phận chỉ huy nhẹ chúng tôi xuất phát lẹ làng ra phía bờ kênh. Không gian yên ắng, bỗng Dũng như chậm lại, chờ tôi lên ngang, đột nhiên hỏi:

        - Chú Tư bơi ngon không?

        - Chú bơi rất ngon! - Tôi trả lời - Hồi nhỏ lúc học ở trường làng, chú đã tham gia thi bơi, về nhất được cấp bằng khen mà.

        - Thiệt hả chú?

        - Thiệt chứ, nói dóc làm gì.

        Dũng thở phào như đã giải đáp được nỗi băn khoăn của mình. Không nói ra nhưng qua thái độ, tôi đoán biết Dang đã rất có trách nhiệm đối với chỉ huy. Dũng đã chuẩn bị sẵn sàng nếu như quả thật tôi không biết bơi thì Dũng sẽ xuất ngay ra kế hoạch khắc phục.

        Thế là kế hoạch vượt sông đêm nay - đêm thứ hai cũng không thực hiện được, vì kẻ địch sau khi bắt được đồng chí chính trị viên tiểu đoàn 5, phát hiện có “Việt cộng” vượt kênh nên đã tích cực đề phòng. Chúng tôi ngồi chờ suốt từ 10 giờ đêm cho đến gần 2 giờ sáng mà mặt kênh không lúc nào ngói tiếng súng phong tỏa ở bờ kênh bên kia bắn sang. Ca nô tuần tiễu đêm nay cũng vậy. Cứ cái lên cái xuống, đèn sáng quét loang loáng trên mặt kênh, nước lúc nào cũng lao xao xô bờ nghe rất rõ.

        Đêm thứ ba, địch vẫn không tỏ ra giảm cường độ phong tỏa. Đã ba giờ sáng mà trên mặt kênh không có chỗ nào hở để vượt qua. Tôi quyết định - có phần hơi táo bạo - chờ đến bốn giờ sáng, đến giờ này địch chủ quan, hết đề phòng, đó là thời cơ vượt qua. Như vậy thời gian vận động qua nơi tráng địa khi sang tới bờ bên kia chỉ còn trên dưới một tiếng đồng hồ. Sẽ vất vả và nguy hiểm đấy, nhưng dù sao cùng còn hơn là quay trở lại, biết đêm thứ tư có qua nổi hay không, và như thế thì mọi kế hoạch tiếp sau phải đình hoãn, nhiệm vụ Bộ tư lệnh Miền giao không hoàn thành.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #97 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2016, 02:03:45 pm »

        Sự kiên nhẫn chờ đợi rõ ràng là không phí sức. Đúng như phán đoán của chúng tôi, vào lúc bốn giờ sáng, súng bắn phong tỏa của địch thưa dần và tắt hẳn. Thời cơ vượt đã đến! Chúng tôi lội xuống bờ kênh và bơi thật nhanh, càng nhanh càng tốt. Dù sao thì cũng không được chủ quan, chuyện sông nước ai mà lường định hết được. May, thật may, khi chúng tôi bơi sang tới bờ bên kia, chân vừa đạp tới đất thi hai chiếc ca nô từ thượng nguồn ào xuống, rất nhanh. Thật hú vía! Nếu lúc ấy chúng tôi còn loay hoay ở giữa kênh, chắc chắn sẽ roi vào một trong hai trường họp cực kỳ nguy hiểm: Hoặc bị địch phát hiện, chúng quây vòng bắt sống; hoặc bị chân vịt của ca nô cuốn vào và chém đứt thành từng mảnh. Tất cả đều xử trí đúng như kế hoạch đã lường định về tình huống này: Nằm ngửa, tiếp tục quan sát địch rồi tùy diễn biến cụ thể mà có những xử trí thích họp. Ca nô địch vẫn xuôi dòng nhưng tốc độ chậm lại, đèn pha bật sáng rà quét trên mặt kênh, một lúc sau không thấy gì chúng mới chịu cặp bờ, thả neo gần nơi có lô cốt. Mặt kênh yên tĩnh, nước chảy hiền hòa trở lại, chúng tôi đứng thẳng người quan sát và nghe ngóng động tĩnh, rồi vượt nhanh qua quãng giữa của hai lô cốt địch vào bờ, cách dăm bước tới sình lầy liền. Rất mệt nhưng vẫn phải đi tiếp vì trời sắp sáng. Vừa đi chúng tôi vừa xóa dấu vết, vuốt lại từng cây cỏ cho chúng đứng nguyên tự nhiên. Cách bờ khoảng 500 mét thì chúng tôi đành nằm lại, phần đồng cỏ lác cũng không còn nữa, chỉ có sình lầy rộng phẳng đến mút mắt, tận miệt Rạch Giá, Hà Tiên.

        Cái vất vả, cái mệt nhọc của đêm vượt kênh chưa tan thì cái căng thẳng của một ngày nằm dưới các lùm cây, cỏ lác, dưới sinh lầy lại đến. Nằm lại khi trời chưa sáng phải lo chống đỡ với muỗi, đỉa cứ theo hơi người mà xông tới. Nằm lại khi trời sáng rõ lại phải lo đối phó với đủ thứ: Trước hết là nắng chói chang rọi xuống mặt sình lầy có màu đất đen càng hấp thụ nhiệt và tỏa nhiệt ra xung quanh, cái nóng hầm hập kéo đến, con người như đang bị đưa vào lò hấp thật. Muỗi tiến công cả ban ngày, muỗi Cà Mau quanh năm đói ăn, được dịp bâu vào hút máu. Một đồng chí tức cảnh đã làm thơ:

                                Vượt kênh Vĩnh tế
                                Muỗi, đỉa như rươi
                                Ngửi thấy hơi người
                                Bu vào hút máu
                                Lúc đầu hơi cáu
                                Nghĩ lại, thấynguôi:
                                Giặc Mỹ tàn ác
                                Gấp năm, gấpmười.
                                Xá chỉ đỉa muỗi,
                                Thắng giặc thì thôi!
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #98 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2016, 02:06:35 pm »

       
III

        Thế là chúng tôi đã vượt qua được một “cửa ải” cực kỳ hiểm nghèo. Nhưng một thử thách mới lại đặt ra đối với mọi người là xốc lại đội hình, tiếp tục cuộc hành quân về nơi tập kết cuối cùng. Đúng là chặng đường còn lại không dài, chỉ trên dưới ba mươi cây số nhưng phải trải qua nhiều đồn bót và ấp chiến lược do địch khống chế, nếu tổ chức chỉ huy không tốt thì số thương vong sẽ tăng lên, ảnh hưởng không nhỏ đến nhiệm vụ của chuyến đi. Xin chân thành biết ơn sự giúp đỡ chở che của nhân dân trên dọc đường mà chúng tôi phải đi qua; xin mãi mãi không quên hình ảnh các đồng chí giao liên của huyện Tịnh Biên đã dũng cảm và mưu trí trong nhiệm vụ dẫn đường, nhờ đó mà chúng tôi đã vượt qua “cửa ải” thứ hai đến được khu Bảy Núi một cách an toàn và đầy đủ.

        Bảy Núi - cái địa danh thân quen ấy gồm rất nhiều núi nhưng có những hòn núi được mang những cái tên thật dân dã: Núi Dài, núi Sam, núi Bà Đợi, núi Dài Nhỏ, núi Túc Xoài, núi Cô Tô, v.v... nằm rải rác trên địa bàn hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn. Mỗi quả núi ở đây được xem như một căn cứ “lõm” của ta, kiên cường chống địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Một quần thể không liên hoàn, có hình thù to nhỏ khác nhau, lọt vào giữa một khu vực bốn bề đều có địch thì biết tập kết vào đâu để có thể vừa tiếp tục bám đánh địch vây quét, vừa làm “hậu cứ” dã chiến để tổ chức chiến đấu, đánh vào các mục tiêu mà Bộ tư lệnh Miền đã giao?

        Đó là câu hỏi được đặt ra trước lúc đội quân lên đường, nó cứ lẩn vào trong nếp nghĩ của chúng tôi suốt chặng đường hành quân càng trở lên khẩn trương khi chúng tôi cập bên này bờ kênh Vĩnh Tế thuộc phần đất bạn; đến khi vượt kênh, nằm chờ ở khu sình lầy Mét Lung, Vĩnh Gia thì câu hỏi đó trở thành bức xúc, cần phải trả lời tức thì. Dựa vào hình dáng trên bản đồ quân sự, dựa vào tình hình cụ thể địch ta do các đồng chí huyện ủy Tịnh Biên và Tri Tôn cho biết, chúng tôi quyết định đưa toàn bộ đội hình vào tập két tại núi vỏ Bo Hong - một quả núi vừa hùng vĩ, hiểm trở vừa bề thế nhất vùng, có độ cao 700 mét, rộng ước khoảng ba mươi lăm cầy sô vuông. Ở một vùng đồng bằng tráng địa như thế này mọc lên một quả núi đồ sộ như thế quả là quý hiếm cả về danh thắng và thế đứng quân sự. Có thể xem nơi đây như một điểm tựa tự nhiên lý tưởng, nếu ta tổ chức lực lượng bám trụ tốt, sẽ tạo nên thế vu hồi thường trực uy hiếp mạnh mẽ tuyến phòng thủ chiến lược phía sau của địch, gây mất ổn định cho công cuộc “Việt Nam hóa chiến tranh” của chúng. Hang hốc ở vỏ Bo Hong không rộng sâu, liền chắc như các hang động của núi đá vôi ngoài Bắc nhưng lại nhiều, do các gộp đá liên kết tạo thành, rất thuận tiện cho việc phân tán đội hình, tránh được sự sát thương lớn của địch bằng hỏa lực tập trung.

        Cũng phải mất gần mười ngày, chúng tôi mới thu quân xong. Vừa lúc đó cánh quân cuối cùng của sư đoàn 1 do anh Ba Trân chỉ huy vượt kênh Vĩnh Tế ở đoạn Tịnh Biên cũng tập kết về đầy đủ. Núi Vỏ Bo Hong bỗng trở nên “tấp nập”. Lòng núi mở rộng đón hơn hai ngàn người con thuộc đủ mọi miền của Tổ quốc. Và cũng từ đây - cái địa danh này trở thành “điểm nóng” của tình hình chiến sự ở hướng tây - bắc thuộc “vùng 4 chiến thuật” của địch. Núi Vỏ Bo Hong phải “gồng mình” lên để chịu dựng các trận mưa bom, bão đạn của địch nhằm hủy diệt mọi sự sống ở đây, cốt là để chúng tôi không còn tồn tại mà bám trụ được nữa.

        Thất bại trong âm mưu chặn ta vượt kênh, địch đổ dồn đòn thù vào việc diệt ta khi đặt chân đến vùng Bảy Núi. Chỉ sự hiện diện của một binh đoàn chủ lực “Việt cộng” ở đây đã là hiện tượng khiến địch không thể nào chấp nhận được, bởi như thế là chúng đã thua về mặt chiến tranh tâm lý. Hơn nữa địch đã biết nước cờ ta đi tiếp sau nên bằng mọi giá chúng phải nhổ, phải cản phá. Về ý nghĩa nào đó, địch đã và đang chủ động phá ý đồ hoạt động của ta trong cái thế chung bị động. Địch huy động sức mạnh, thực hiện mọi thủ đoạn để bao vây, tiêu diệt ta trước khi ta tiến công chúng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #99 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2016, 02:08:50 pm »

        Vì vậy đối với chúng tôi, một vấn đề đặt ra gay gắt trước mắt là lo sao bảo toàn được lực lượng, trước khi tính chuyện triển khai kế hoạch hoạt động tiếp sau. Vất vả gian nan, đói khát và cả hy sinh mất mát nữa đang là hiện thực đối với chúng tôi, tồn tại kề bên. Sau cuộc hành quân đường dài, sau những đêm căng thẳng vượt kênh và những ngày len lỏi qua các đồn bót địch được vế đây, đã để lại trên gương mặt mọi người những nét mệt mỏi, hốc hác, nhưng không mất đi cái kiên nghị vững vàng. Một cuộc hội ý chóp nhoáng với các cán bộ tiểu đoàn được triệu tập. Thành phần dự hội ý đã đến đủ, chưa bắt đầu thì tiếng bom nổ như sấm rền, nhưng không nghe thấy tiếng động cơ máy bay. Đích thị là B.52. Chúng tôi ngồi sâu vào ngách hang, tiếng bom vẫn nổ tiếp, nóc hang rung chuyển, đất đá nơi cửa hang bụi mù, tung tóe từng mảnh. Nhưng không còn ai nao núng bởi mỗi chúng tôi đã quen nếm chịu cái cảnh này quá nhiều, trong những ngày chiến đấu ở mặt trận Đông Nam Bộ. Tiếng nổ của bom vừa hết là chúng tôi vào việc ngay.

        Tôi tuyên bố lý do hội ý và tranh thủ trình bày những suy nghĩ của mình để anh em tham gia, làm cho kế hoạch hành động trước mắt hoàn hảo hơn. Qua tin tức địa phương cung cấp, qua thực tế mà chúng ta chứng kiến, chứng tỏ địch đang tìm mọi cách tiêu diệt chúng ta ngay trên vỏ Bo Hong. Chúng muốn nhổ chúng ta như nhổ những cây khi mới nảy mầm bén rễ, để lâu Sẽ nguy hiểm. Vì vậy chúng ta cũng phải từ đây - từ noi bám trụ này mà tổ chức đánh thắng địch. Chúng ta phải hoàn thành nhiệm vụ mà Bộ tư lệnh Miền đã đặt niềm tin ở chúng ta - những chiến sĩ đặc công có đầy đủ dũng cảm và mưu trí trong nhiệm vụ hỗ trợ nhân dân nổi dậy chống phá bình định, phá thế kìm kẹp để mở vùng, mở mảng, biến hậu phương địch thành tiền phương của ta không đâu trên dải đất miền Nam này là yên ổn với chúng cả.

        Sự chăm chú lắng nghe với những cặp mắt đổ dồn về phía tôi như tán thưởng, càng khích lệ tôi, khiến tôi đã nói thêm những ý sau đây, ngoài sự chuẩn bị - tôi nói tiếp như nhấn mạnh - Chúng ta quyết bám trụ tại đây, nhưng không thể tồn tại trong thụ động, trong thu mình ẩn giấu nơi hang sâu. Kẻ địch không cho ta làm như thế, hơn nữa lương tâm và trách nhiệm càng không cho phép ta nghĩ như thế. Vì vậy theo tôi, muốn chiến đấu thắng địch, hoàn thành nhiệm vụ trên giao thì trước hết ta phải xốc lại đội hình, tổ chức chiến đấu để tồn tại...

        Không khí cuộc hội ý bàn kế hoạch thực hiện nhiệm vụ diễn ra nghiêm túc với đầy đủ tinh thần trách nhiệm của những người dự họp. Tất cả các cán bộ tiểu đoàn có mặt hôm ấy đều tỏ thái độ nhất trí với cách đặt vấn đề của tôi, mà biểu hiện cụ thể là khi chuyển sang bàn biện pháp thực hiện thì ai nấy đều tỏ thái độ đóng góp. Các ý kiến nêu ra mang màu sắc kinh nghiệm từng trải của mỗi người, nhưng đều gặp nhau ở bàn tới chứ không bàn lùi. Ngồi nghe anh em phát biểu trong một cái hang chật hẹp vừa trải qua bom của máy bay B.52 giội xuống mà thấy thanh thản, lâng lâng. Đành rằng trọng trách của người chỉ huy lúc này là rất nặng, đòi hỏi tư duy phải nhạy bén, năng động và quyết đoàn, nhưng có được một tập thể mà mỗi người tự ý thức về công việc của mình đảm nhiệm, có bề dày thử thách trong tình huống gay cấn, thì chính họ sẽ ghé vai san gánh cho bớt được bao công việc bộn bề; ngay cả khi phải quyết đoán vẫn thấy rất yêm tâm vẫn tự tin mọi người sẵn sàng ủng hộ và nghiêm chỉnh thực hiện.

        Tôi chú ý theo dõi ý kiến của từng người, bởi trách nhiệm của người lãnh đạo và chỉ huy phải gạn chắt những điều tinh túy, tạo thành cái chung chứa hết được những dũng cảm và thông minh của cái riêng do mọi người đóng góp. Đợi khi ý kiến đã cạn, tôi tranh thủ tóm tắt những biện pháp chiến đấu mà mọi người đều nhất trí;

        1. Cần triệt để phân tán lực lượng nhưng không xé lẻ mà vẫn trên cơ sở các tổ chức chiến đấu sẵn có. Phân tán để tránh sát thương của hỏa lực địch chứ không để ẩn giấu. Phần tán vẫn hình thành đội hình chiến đấu, sẵn sàng đánh địch trên các hướng khi chúng dùng bộ binh tiến hành vây quét.

        2. Tổ chức thông tin đến tận tổ ba người để nắm và phản ánh mọi diễn biến trong ngày, trên cơ sở đó kịp thời có kế hoạch xử trí thích hợp.

        3. Mỗi tiểu đoàn và đại đội cần có một đến hai hang đá đầy đủ điều kiện an toàn làm trạm xá cứu chữa khi có thương binh.

        4. Tổ chức thống nhất việc tiếp nhận lương thực, thực phẩm của nhân dân mang đến, có noi an toàn và phân phối ngay xuống các đơn vị. Từng tiểu đội, trung đội lo việc nấu ăn hàng ngày, nhưng cán bộ đại đội phải đi kiểm tra đôn đốc, cô gắng bảo đảm cho chiến sĩ ăn chín, uống chín, thực hiện nấu về đêm, tránh để lộ lửa khói từ các hang phát ra.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM