Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #20 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2016, 03:45:07 pm » |
|
Bấy giờ Mông-ke đang tiến quân vào vùng Tứ Xuyên của Trung Quốc. Năm 1259, Mông-ke đem quân vây Hợp Châu (tức Hợp Xuyên, Tứ Xuyên). Tướng Tống là Vương Kiên đã đoàn kết quân dân, giữ vững tòa thành nhỏ trên núi Điếu Ngư, anh dũng chống cự với giặc trong suốt năm tháng ròng. Ngày 11 tháng tám năm 1259, Mông-ke trúng đạn chết1. Hàng vạn quân Mông Cổ đã thất bại nặng nề phải rút đi trước thành Điếu Ngư nhỏ như cái đấu này2.
Mông-ke chết, em Hốt Tất Liệt là A-ric Bu-ke (Arĩq-Bükä) 3 chiếm quốc đô Mông Cổ Kha Ra Khô Rum (Qa-raqorum) tranh ngôi hãn. Nghe tin đó, Hết Tất Liệt vội vàng ngừng cuộc tấn công Ngạc Châu, rút quân về Bắc. Năm 1260, Hốt Tất Liệt đã không triệu tập Khu Rin Tai (Quriltai, tức đại hội quý tộc), phá bỏ truyền thống cũ của chế độ tuyển cử Mông Cổ, tự xưng là đại hãn ở Khai Bình (sau đổi là Thượng Đô, ở phía đông nam Dolon-nor khu tự trị Nội Mông ngày nay) tiến hành cuộc chiến tranh chống A-ric Bu-ke.
Cuộc nội chiến đó đã khiến Hốt Tất Liệt phải tạm ngừng việc tấn công xâm lược Nam Tống và đối xử nhân nhượng hơn với Đại Việt.
Ngày mồng 5 tháng 1 năm 1261, Hốt Tất Liệt sai Mạnh Giáp và Lý Văn Tuấn mang chiếu thư sang Đại Việt4. Trong chiếu thư có đoạn: “… Mới rồi thú thần nước Đại Lý là an phủ Nê-ji-mut-Đin (Neĵm ud-Dìn) 5 chạy trạm dâng biểu nói cho ta biết nước ngươi thực lòng hướng phong mộ nghĩa. Lại nghĩ trước kia vào thời tiên triều, khanh đã từng thần phục, từ nơi xa cống dâng phương vật, cho nên nay ban chiếu chỉ, sai lễ bộ lang trung Mạnh Giáp sung chức An Nam tuyên dụ sứ và lễ bộ viên ngoại lang Lý Văn Tuấn sung chức phó sứ sang hiểu dụ cho quan liêu sĩ thứ nước ngươi biết rõ: phàm áo mũ, điển lễ phong tục, cứ theo chế độ cũ của nước mình, không phải thay đổi. Như nước Cao Ly mới rồi sai sứ sang xin, hiện đã xuống chiếu cho hết thảy y theo lệ ấy6. Ta đã cấm các biên tướng ở vùng tỉnh Vân Nam không được tự tiện đem quân xâm phạm bờ cõi nước ngươi, quấy rối nhân dân nước ngươi. Quan liêu sĩ thứ nước ngươi hãy cứ yên ổn làm ăn như cũ…”7.
Đấy là những lời lừa phỉnh giảo quyệt của Hốt Tất Liệt, vì bấy giờ, y đang dốc tất cả quân lực vào cuộc chiến tranh chống A-ric Bu-ke ở Mông Cổ, U-ry-ang-kha-đai cũng trở về Bắc tham gia cuộc nội chiến đó8, làm sao còn có thể “tự tiện đem quân xâm lược bờ cõi” “quấy rối nhân dân” được. Tất nhiên nhà Trần không bao giờ tin vào những điều dối trá đó mà vẫn lo tăng cường củng cố lực lượng quân sự của mình. Từ tháng 3 năm 1261, đinh tráng ở khắp các lộ được tuyển lựa để bổ sung vào quân ngũ. Ở các phủ, lộ, huyện cũng thành lập các phong đội, tức các đội quân địa phương9.
------------------ 1. Trùng Khánh chí chép Mông-ke trúng đạn chết còn Ra-sít ut-đỉn lại chép Mông-ke chết vì bệnh lỵ (Tập sử biên niên, bản dịch tiếng Nga, II, t 146).
2. 8 Tinh thần chiến đấu dũng cảm của Vương Kiên và các tướng Tống đã được Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn ca tụng và nêu cao trong bài Hịch tướng sĩ: “Vương Công Kiên là người thế nào? Tỳ tướng của ông là Nguyễn Văn Lập lại là người thế nào? Mà giữ thành Điếu Ngư nhỏ như cái đấu chống với quân Mông Kha đông đến hàng trăm vạn, khiến cho sinh linh Tống đến nay còn đội ơn sâu”.
3. Nguyên sử chép là A Lý Bất Kha. Thời Thanh Càn Long, đổi là Ngạch Loát Bố Cách.
4. Nguyên sử q.4 Thê Tổ bản kỷ t.6b chép: “Tháng 12, ngày Bính Thân, sai lễ bộ lang trung Mạnh Giáp, lễ bộ viên ngoại lang Lý Văn Tuấn sứ An Nam”. Ngày Bính Thân tháng 12 năm Trung Thống 1, tức ngày mồng 3 âm lịch. Tờ chiếu in trong An Nam chí lược (q.2) cũng đề ngày 3 tháng 12 năm Trung Thống 1 (5-1-1261). Toàn thư (q.5, t.26b) lại chép tháng 6 (29-6 - 28-7-1261), Mông Cổ sai Mạnh Giáp và Lý Văn Tuấn mang thư đến. Như vậy là Toàn thư chép ngày sứ đến.
5. Nguyên sử, An Nam truyện (1b) phiên âm là Nhiếp Chỉ Mạch Đinh. An Nam chí lược q.2. Đại Nguyên chiếu chế chép là Nhiếp Mạch Đinh. Cũng như Nur ud-Dīn, Neĵm ud-Dìn là một người Hồi giáo. Bấy giờ, Vân Nam là nơi tập trung nhiều tín đồ Hồi giáo người Tây Á (xem Tập sử biên niên của Ra-sit ut-Đin và du ký của Mác Cô Pô Lô). Bọn chúa Mông Cổ thường dùng họ làm quan lại ở Vân Nam. Qua lời tâu của Neĵm ud-Dìn, chúng tôi cho rằng triều đình Trần đã cố sức lôi kéo, mua chuộc những tên quan Hồi giáo ở Vân Nam. Điều này được chứng thực rõ ràng hơn trong những phần sau.
6. Triều Tiên (bấy giờ gọi là Cao Ly, Koryo) đặt quan hệ ngoại giao với Mông Cổ từ năm 1218. Năm 1224, sứ Mông Cổ bị giết, quan hệ ngoại giao bị cắt đứt. Năm 1231, Ô-gô-đây (Őgodai) sai tướng đánh Triều Tiên. Vua Triều Tiên là Cao Tông Triệt xin hàng. Mông Cổ đặt 72 viên Đa-ru-ga-tri ở Triều Tiên. Kỳ thực, Cao Tông chỉ hàng mặt ngoài, năm 1232 đã dời đô ra đảo Giang Hoa, gọi là Giang Đô, tiếp tục chông Mông Cổ. Quân Mông Cổ lại vượt sông Áp Lục, tấn công Triều Tiên, nhưng viên chỉ huy Sartaq (Tả Lễ Tháp) tử trận, phải rút. Từ năm 1246, năm nào Mông Cổ cũng đem quân xâm lược. Năm 1259, Cao Tông phải cho thái tử Điển làm con tin ở Mông Cổ. Năm đó Cao Tông chết, Điển về nước làm vua tức Nguyên Tông. Nguyên Tông lại dời đô từ Giang Đô về đô cũ Ở Khai Thành. Con trai y lại lấy công chúa Mông Cổ. Từ đó bọn vua chúa Triều Tiên hoàn toàn phản bội nhân dân, đầu hàng Mông Cổ. Ở đây, trong thư gửi vua Trần, Hất Tất Liệt nhắc đến chiếu thư gửi vua Cao Ly. Đó là thư gửi cho Nguyên Tông ngày 21 tháng 8 năm 1260. Có thể xem nguyên văn tờ chiếu này trong sử biên niên Triều Tiên như Cao Ly sử của Trịnh Lân Chỉ, q.25, Thế gia, bản in lại của Viện Khoa học Triều Tiên năm 1957, tập I, t.385.
7. Nguyên văn tờ chiếu thư này chép ở trong An Nam chí lược (q.2 Đại Nguyên Chiếu chế), Nguyên sử, An Nam truyện và Toàn thư (q.5, t.26b) đều có chép tóm tắt.
8. Ra-sit ut-Đin, Tập sử biên niên, bản đã dẫn, tập II.
9. Toàn thư q.5, t.26a-26b chép vào tháng 2 năm Thiệu Long 4 (3/3 – 31/3/1261).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #21 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2016, 04:31:07 pm » |
|
Nhưng mặt khác, triều đình Trần vẫn lợi dụng tờ chiếu của Hốt Tất Liệt để đấu tranh với Mông Cổ nhằm bảo vệ chủ quyền, quốc thể, vạch trần bộ mặt giả dối và âm mưu xâm lược của bọn chúng. Khi Mạnh Giáp và Lý Văn Tuấn trở về, Trần Thái Tông sai thông thị đại phu Trần Phụng Công, chư vệ ký ban Nguyễn Thám và viên ngoại lang Nguyễn Diễn sang thông hiếu xin ba năm cống một lần. Hốt Tất Liệt phong cho Trần Thái Tông là An Nam quốc vương1. Ngày 19 tháng 8 năm 1261, vua Mông Cổ sai Na-xi-rut-đin (Nāsir ud-Dĩn) và Mạnh Giáp đi sứ Đại Việt2. Như vậy là trên danh nghĩa từ đây Đại Việt đã thần phục Mông Cổ. Bọn phong kiến Mông Cổ càng muốn biến Đại Việt thành một thuộc quốc của chúng mà không cần dùng đến tên cứng và ngựa mạnh. Hốt Tất Liệt yêu sách vua Trần phải tăng cống phú và đặc biệt là đòi phải để cho Mông Cổ đặt chức đa-ru-ga-tri (daruači) 3 ở Đại Việt. Đa-ru-ga-tri là chức quan thống trị mà đế quốc Mông Cổ đặt ở các nước bị chiếm để kiểm soát mọi công việc của nước đó.
Tháng 10 năm 1262, Hốt Tất Liệt gửi chiếu thư cho vua Trần: “Khanh đã gửi đồ lễ xin làm bề tôi, vậy bắt đầu từ năm Trung Thống thứ 4 (1263), cứ ba năm cống một lần, hãy chọn nho sĩ, thầy thuốc, người giỏi âm dương bói toán, các loại thợ, mỗi thứ ba người, cùng dầu tô hợp, quang hương, vàng bạc, châu sa, trầm hương, đàn hương, sừng tê, đồi mồi, trân châu, ngà voi, vải trắng, chén sứ đem cả đến một lúc. Ta vẫn cử Nu-rut-đin (Nur ud-Din) làm Đa-ru-ga-tri, đeo hổ phù đi lại trong nước An Nam4.
Tháng 12 năm 1262, một sứ bộ mười người do Ma-hơ-mut (Mahmũd) tín đồ Hồi giáo cầm đầu lại đến Thăng Long hạch sách về lễ khánh hạ5.
Như vậy là bọn thống trị Mông Cổ càng ngày càng lấn tới. Chúng muốn vơ vét đồ cống phú nhiều hơn, đồng thời chúng tưởng rằng với một tên Đa-ru-ga-tri đeo hổ phù nghênh ngang hoành hành trên đất nước Đại Việt là có thể khuất phục được vương triều Trần, nô dịch được nhân dân ta.
Không, những mưu toan đó của Hốt Tất Liệt không thể nào làm nhà Trần và nhân dân Đại Việt khuất phục. Từ tháng 3 năm Nhâm Tuất (22/3 – 19/4/1262), vua Trần đã ra lệnh cho các lộ chế tạo vũ khí và chiến thuyền. Các đội quân thủy lục được lệnh tập trận ở bãi phù sa sông Bạch Hạc6. Năm 1263, Trần Thủ Độ lại đi tuần ở vùng Lạng Sơn7. Tất cả những việc đó nói lên rằng nhà Trần không hề xao lãng việc chuẩn bị lực lượng phòng thủ và chiến đấu của mình. Nhưng bên ngoài, nhà Trần đã đối phó với bọn phong kiến Mông Cổ hết sức khéo léo. Đứng trước những việc o ép sách nhiễu ngày càng tăng của chúng, nhà Trần tuy có nhân nhượng hơn ở một số điểm nhưng đồng thời lại kiên quyết không chịu nhượng bộ ở một số điểm khác. Về mặt cống phú, vua Trần vẫn sai sứ mang lễ vật nộp đều đặn ba năm một lần, có khi chưa đến kỳ nhưng gặp dịp “tạ ơn” hãn Mông Cổ gì đó thì vua Trần cũng cho đưa cống phẩm sang8. Nhưng còn việc chúa Mông Cổ đòi các loại người thì nhà Trần nhất định không chịu nộp và năm 1267, vua Thái Tông đã sai Dương An Dưỡng đem biểu sang xin miễn9. Mặt khác, vương triều Trần tạm để cho Mông Cổ đặt chức Đa-ru-ga-tri ở Đại Việt nhưng đồng thời đã tìm mọi cách ngăn trở khiến cho viên quan này không làm được nhiệm vụ của y, không thực hiện được âm mưu của bọn thống trị Mông Cổ. Trên thực tế, Nu-rut-đin (Nur ud-Dīn) tên Đa-ru-ga-tri đầu tiên này chỉ như một sứ giả của Mông Cổ. Nu-rut-Đin sang Đại Việt năm 1262 nhưng đến tháng 12 năm 1263 y đã về nước10. Mãi đến tháng 3 năm 1266, Nu-rut-Đin mới trở lại Đại Việt11. Như vậy là trong một thời gian dài, tên Đa-ru-ga-tri này không có mặt ở nước ta. Hẳn nhà Trần đã khống chế Nu-rut-đin bằng nhiều biện pháp làm cho y không thể “đi lại trong nước An Nam” 12, dò xét tình hình. Để giữ bí mật, vua Trần đã ra lệnh cấm nhân dân không được nói chuyện với những người Hồi Hột (Uigur) 13 đang ở trên đất nước ta vì trong số họ có thể có những tên gián điệp Mông Cổ hoặc vì họ dễ tiết lộ tình hình nước ta với bọn sứ thần hay Đa-ru-ga-tri Mông Cổ. Như vậy là những nguồn tin tức đến với Nu-rut-Đin đã bị cắt. Chính vì thế mà Hốt Tất Liệt đã giận dữ và đe dọa:
“… Lại ngay trong tờ tâu thường có câu “một nhà”. Ngay nghe Nu-rut-Đin (Nậu Lạt Đinh) nói ở đấy có lệnh cấm người Hồi Hột, không để cho giao đàm. Nếu quả như lời, thì cái nghĩa “một nhà” có lẽ nào như thế? Nghĩa vua tôi, thực như nghĩa cha con, có lẽ nào tôi, con mà lại trái vua, cha ư? Trẫm nếu không nói thì lại là đối đãi với ngươi không lấy thành thực. Ngươi nên nghĩ cho chín để toàn được thủy chung” 14.
Mặc cho tên vua Mông Cổ muốn nói gì thì nói, vương triều Trần vẫn giữ vững đường lối của mình. Chẳng những tìm cách ngăn trở Nu-rut-Đin dò xét tình hình, nhà Trần còn dùng tiền bạc của cải mua chuộc tên Đa-ru-ga-tri người Hồi giáo này như đã mua chuộc những viên quan Hồi giáo khác ở Vân Nam15 khiến cho Nu-rut-đin không thể chi phối được triều đình Trần. Chính vì thế mà nhà Trần đã yêu cầu vua Mông Cổ cho y làm Đa-ru-ga-tri dài hạn16. Nhưng trước sự bất lực của Nu-rut-đin, năm 1268, Hốt Tất Liệt đã cử một tên Mông Cổ khác là Khu-rung Kha-y-a (Qurung - Qaya) 17 sang thay vì sợ Nu-rut-đin “thông tình” với Đại Việt18.
------------------ 1. Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.26b; Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.2a.
2. Nguyên sử q.4 Thế- bản kỷ t.9a chép ngày Nhâm Ngọ tháng 7 năm Trung Thống 2 (19-8-1261) “Sai bọn Nạp Tốc Lạt Đinh và Mạnh Giáp đi sứ An Nam”. Có lẽ sứ bộ Mông Cổ này làm nhiệm vụ đưa sắc phong An Nam quốc vương của Hất Tất Liệt. Nạp Tốc Lạt Đinh (Nãsir ud-Dìn) này có lẽ là Nạp Tốc Lạt Đinh con của viên tỉnh thần Vân Nam Trại Điển Xích Thiêm Tư Đinh (Seïid Ajall Säms ud-Dìn) chép trong Nguyên sử q.125. Hai cha con đều là người Hồi giáo, vốn người ở Bu-kha-ra Trung Á (xem Ra-sit út-Đin Tập sử biên niên II). Về sau Nãsir ud-Dìn còn đem quân theo Thoát Hoan tiến vào Đai Việt.
3. Nguyên sử và các thư tịch khác phiên âm là Đạt Lỗ Hoa Xích, từ đời Thanh Càn Long đổi ra là Đạt Lỗ Cáp Tề.
4. Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.22a. Nguyên sử q.5 Thế Tổ - bản kỷ chép rằng tháng 9 năm Trung Thống thứ 3 “ngày Kỷ Vị (20-9-1262) Trần Quang Bính (tức Thái Tông - T.G.) nước An Nam sai sứ cống phương vật, ngày Nhâm Thân (3-10-1262) trao hổ phù cho An Nam quốc vương Trần Quang Bính và Đạt Lỗ Hoa Xích (Đa-ru-ga-tri) Nột Lạt Đinh (Nu-rut-đin)”. An Nam chí lược q.3 Đại Nguyên phụng sứ cũng chép: “Năm Trung Thống 3 (1262) sai Nậu Lạt Đinh (Nu-rut-Đin) làm Đa-ru-ga-tri ở An Nam”. Nu-rut-đin đã đi sứ Đại Việt năm 1258.
5. Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.27b, Toàn thư chép sứ Mông cổ là Mã Hợp Bộ, Mã Hợp bộ là phiên âm của Mahmũd, tên Hồi giáo.
6. 7 Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.27b-28a.
8. Tháng 2 năm 1263, vua Trần sai Điện tiền chỉ huy sứ Phạm Cự Địa và Trần Kiều sang cống voi (Toàn thư, q.5, t.28b; An Nam chí lược q.14). Tháng 12 năm 1263, viên ngoại lang Dương An Dưỡng, nội lệnh Võ Phúc Hoàn, thư xá Nguyễn Cầu và trung dực lang Phạm Cử lại được phái sang “tạ ơn” việc Hết Tất Liệt “ban” gấm cho Thánh Tông năm 1262, Nguyên sử An Nam truyện, (t.2a). “Tạ ơn” tất phải bằng lễ vật.
Năm 1265, vua Trần lại sai sứ đi cống. Thế tổ bản kỷ chép: “Ngày Quý Hợi tháng 7 [Chí Nguyên 2] (8-9-1265) quốc vương An Nam Trần Quang Bính sai sứ dâng biểu đến cống, ngày Giáp Tý (9-9-1265) xuống chiếu ban cho Quang Bính lịch năm Chí Nguyên 3” An Nam chí lược q.3 đại Nguyên phụng sứ. “Chí Nguyên 2 (1265), sai thị lang Nịnh Đoan Phủ, lang trung Trương Lập Đạo sang sứ An Nam tuyên dụ chỉ”.
Năm 1266, vua Trần lại sai sứ sang cống. An Nam chí lược chép: “Chí Nguyên 3, Bính Dần (1266), Trần Thái vương sai đại phu Dương An Dưỡng, Vũ Hoàn sang cống” Toàn thư chép: “Tháng 2 [Thiệu Long 9] (9-3 - 6-4-1266)… vua sai Dương An Dưỡng, Vũ Hoàn sang Nguyên báo sính (q 5, t.30a). Nhưng Nguyên sử - An Nam truyện lại chép tháng 12 [Chí Nguyên 3] (28-12-1266 - 26-l-1267) Dương An Dưỡng mới đến. Tờ chiếu của Hất Tất Liệt năm 1267 cũng có đoạn: “Khanh sai tiến cống không trái kỳ hạn ba năm” (An Nam chí lược q.23 Đại Nguyên chiếu chế). Tuy vậy, ta cũng cần thấy rằng không phải lúc nào nhà Trấn cũng cứ chịu răm rắp đúng hẹn là vào công. Năm 1268, là năm có hẹn cống, không thấy thư tịch chép đến việc sứ cống. Năm 1269, vì “An Nam vào cống không đúng hẹn” nên Mông Cổ đã cử Trương Đình Trân sang (Nguyên sử q.167 Trương Đình Trân truyện).
9. Nguyên sử q.209 An Nam truyện chép: “Tháng 12 năm [Chí Nguyên] thứ 3 (28-12-1266 - 26-1-1267). Quang Bính sai Dương An Dưỡng dâng ba đạo biểu. Đạo thứ nhất nói về tiến dâng phương vật. Đạo thứ hai xin miễn việc đòi tú tài và thợ. Đạo thứ ba xin cho Nu-rut-Đin (Nột Lạt Đinh) làm Đa-ru-ga-tri dài hạn” (t.2a).
10. Nguyên sử q.209 An Nam truyện: tháng 11 năm [Trung Thống] thứ 4 (2-12 - 31-12-1263), Nu-rut-Đin trở về...” (t.2a).
11. Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.30a: “Tháng 2 [Thiệu Long 9] (9-3 - 6-4-1266), Nguyên sai Nu-rut-Đin (Nậu Lạt Đinh) đến…”.
12. Lời chiếu của Hốt Tất Liệt năm 1262. Xem Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.2a.
13. Hồi Hột hay Hồi Hoạt tức dân tộc Ui-gua (Uigur) ở Tân Cương. Các thư tịch đời Nguyên còn phiên âm là Úy Ngô hay Úy Ngô Nhi. Nay gọi là người Duy Ngô Nhĩ.
14. Chiếu thứ năm Chí Nguyên 4 (1267). Xem An Nam chí lược q.2 đại Nguyên chiếu chế.
15. Việc Mông Cổ sợ Nu-rut-Đin thông đồng với Đại Việt và việc triều Trần xin Nu-rut-đin làm Đa-ru-ga-tri dài hạn cũng cho chúng ta biết nhà Trần đã mua chuộc Nu-rut-Đin. Trong tờ biểu của Thánh Tông gửi vua Mông Cổ năm 1275, có đoạn: “Đến như các Đa-ru-ga-tri của thiên triều sai sang khi trở về họ lại về không” (An Nam truyện). Đoạn này phản ánh sự nhũng nhiễu của những tên Đa-ru-ga-tri nhưng mặt khác qua đó ta cũng có thể thấy rằng có khi nhà Trấn đã lợi dụng tính chất đó của bọn này để mua chuộc chúng (chẳng hạn sau này “đút lót” cho tên sứ Lương Tằng…).
Ở trên, chúng tôi đã nói đến việc viên tỉnh thần Vân Nam người Hồi giáo Nê-ji-mut-Đin (Neĵm ud-Dìn) “nói tốt” cho Đại Việt. Về sau nhà Trần vẫn tiếp tục lôi kéo mua chuộc những viên tỉnh thần Hồi giáo Vân Nam khác, chẳng hạn như vua Trần đã kết làm anh em với viên binh chương trấn thủ Vân Nam là An-ian Sem-xut-đin (Seïid Aĵall Säms ud-Din ‘Omar, Nguyên sử phiên âm là Trại Điển Xích Thiêm Tư Đinh) người Hồi giáo quê ở thành Bu-kha-ra, bố của Na-xi-rut Đin (Nãsir ud-Din, Nạp Tốc Lạt Đinh) đã sang Đại Việt: Vua Trần đã đặt quan hệ thân thiện với Sem-xút-đin; khi y chết, vua Trần đã sai một sứ bộ 12 người đến tế khóc với bài văn tế rất bi thiết (Nguyên sử q.125. Trại Điển Xích Thiêm Tư Đinh truyện). Sở dĩ vương triều Trần phải làm như vậy là vì khi đế quốc Mông Cổ chưa chiếm được Nam Tống thì mọi quan hệ với Đại Việt đều thực hiện qua con đường Vân Nam.
16. Dương An Dưỡng sang Mông Cổ xin việc này năm 1267. Xem Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.2a.
17. An Nam chí lược chép là Hốt Long Hải Nha, Nguyền sử q.209 chép là Hết Lung Hải Nha. Từ thời Càn Long, đổi phiên âm là Hòa Lâm Cáp Nhã (xem Liêu Kim Nguyên sử ngữ giải q.23, t.12a. Cách phiên âm này sai vì các tác giả sách này đã cho rằng tên Mông Cổ là Qorin Qaya).
18. Đại Việt sử ký q.5 chép: “Lúc vua mới lên ngôi, sai Dương An Dưỡng dâng ba đạo biểu, một là định cống vật, hai là xin miễn các loại người, ba là xin cho Nộp Lạt Đinh làm Đạt Lỗ Hoa Xích dài hạn. Vua Nguyên bằng lòng, sau lại sợ Nột Lạt Đinh thông tình với ta, không biết được động tĩnh nên sau lại ra lệnh đổi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #22 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2016, 04:38:00 pm » |
|
Việc thay Nu-rut-Đin còn chứng tỏ rằng chính sách ngoại giao của Mông Cổ đối với Đại Việt đã thay đổi. Bấy giờ, tình hình nội bộ Mông Cổ đã tương đối ổn định. Năm 1264, A-ric Bu-ke (Aïq-bükä) đầu hàng Hốt Tất Liệt. Cùng năm đó, Hốt Tất Liệt dời đô về Yên Kinh, đô thành nổi tiếng mà người Mông Cổ gọi là Khan-ba-lic (Qanbalig, về sau đổi là Đại đô, tức Bắc Kinh ngày nay). Năm 1267, A-ju (Aĵu), con trai U-ry-ang-kha-đai (Uriyangqadai), viên bại tướng ở thành Thăng Long mười năm trước, nay lại chỉ huy bảy vạn quân, tấn công vào Tương Dương, mở đầu kế hoạch tiếp tục xâm lược Nam Tống của Hốt Tất Liệt. Đó cũng là lúc tên chúa Mông Cổ muốn tiến hơn một bước trong âm mưu nô dịch Đại Việt. Ngày 13 tháng 10 năm 1267 (ngày Mậu Thân (24), tháng 9, Chí Nguyên 4) Hốt Tất Liệt vừa mới chấp nhận ba đạo biểu của sứ thẩn Đại Việt Dương An Dưỡng thì hai ngày sau, ngày 15 tháng 10 (ngày Canh Tuất (26)), y đã ra một tờ chiếu khác, đòi Đại Việt phải thực hiện sáu việc:
1 Quân trưởng phải vào chầu.
2. Con em phải sang làm con tin.
3. Kê biên dân số.
4. Phải chịu quân dịch.
5. Phải nộp phú thuế.
6. Vẫn đặt chức Đa-ru-ga-tri để thống trị1.
Đây là giọng xảo quyệt của Hốt Tất Liệt trong tờ chiếu:
“Theo thánh chế của đức hoàng đế Thái Tổ (tức Čing-gis-qan, Thành Cát Tư Hãn - T.G.) thì phàm những nước quy phụ, quân trưởng phải thân vào chầu, con em phải làm con tin, lại phải kê dân số, chịu quân dịch, nộp thuế má, mà vẫn đặt quan Đa-ru-ga-tn (Đạt Lỗ Hoa Xích) để thống trị. Mấy việc ấy là để tỏ lòng thành thực thần phục. Khanh sai tiến cống không trái kỳ hạn ba năm, đủ tỏ lòng thành, cho nên ta lấy điển lệ của tổ tông ta đã định mà nhắc bảo, cũng là lấy lòng thành thực mà hiểu dụ. Vả lại quân trưởng sang chầu, con em làm con tin, lập sổ dân, định ngạch thuế, xuất quân giúp nhau, từ xưa cũng có, nào phải bây giờ mới đặt ra lệ ấy đâu?... Khanh làm được đủ các điều đó trẫm còn phải nói gì?” 2.
Nhưng vua Trần làm sao có thể thừa nhận sáu điều đó được vì nếu như thế thì Đại Việt sẽ trở thành một thuộc quốc chịu sự thống trị trực tiếp của Mông Cổ, không còn một chút chủ quyền nào. Chính vì thế mà trong hơn mười lăm năm trời, vương triều Trần đã tìm mọi cách để không thực hiện những điều đó.
Tháng 11 năm Chí Nguyên 4 (18/11 – 16/12/1267), Hốt Tất Liệt lại đòi nhà Trần phải đem nộp những thương nhân người Hồi Hột. Y mượn cớ là để biết tình hình Tây Vực3. Nhưng đấy chỉ là một sự dối trá, vì Tây Vực (vùng Trung và Tây Á) bấy giờ đã nằm trong bản đồ của đế quốc Mông Cổ và người Hồi Hột có phải chỉ có ở Đại Việt thôi đâu. Trong vùng kiểm soát của Mông Cổ, thương nhân Hồi Hột càng nhiều hơn. âm mưu của Hốt Tất Liệt chính là ở chỗ qua những lái buôn Hồi Hột này mà dò xét tình hình Đại Việt Chính vì thế mà y đã tức tối khi nghe tin vua Trần cấm nhân dân không được giao dịch với người Hồi Hột.
------------------ 1. Nguyên sử, An Nam truyện (2a) chép: “Tháng 9 năm [Chí Nguyên] thứ 4, sứ (chỉ Dương An Dưỡng - T.G.) về xuống chiếu trả lời bằng lòng (ba điều yêu cầu của vua Trần - T.G.)… chẳng bao lâu lại xuống chiếu dụ về sáu việc, Nguyên sử, Thế Tổ bản kỷ chép rõ về ngày tháng hơn: “Ngày Mậu Thân [tháng 9, Chí Nguyên 4] (13-lO-1267),… quốc vương An Nam Trần Quang Bính sai sứ đến cống, xuống chiếu trả lời. Ngày Canh Tuất (15-10-1267), lại xuống chiếu dụ nước An Nam, đòi quân trưởng đến chầu, con em vào làm con tin, biên dân số, xuất quân dịch, nạp phú thuế, đặt Đạt Lỗ Hoa Xích (Đa-ru-ga-tri) để thống trị”. An Nam chí lược q.3 Đại Nguyên chiếu chế có chép hai bài chiếu của Hất Tất Liệt năm Chí Nguyên 4 (1267). Một bài có đề tháng 7 Chí Nguyên 4. Chúng tôi cho phải là tháng 9 mới đúng. Căn cứ vào nội dung thì đây là tờ chiếu ngày 15 tháng 10 năm 1267. Còn bài chép sau, thì lại là tờ chiếu ngày 13 tháng 10 năm 1267.
2. An Nam chí lược q.2 Đại Nguyên chiếu chế. Tờ chiếu này đề tháng 7 Chí Nguyên 4. Nhưng căn cứ vào Nguyên sử bản kỷ, chúng tôi cho rằng đây là tờ chiếu ngày 15 tháng 10 năm 1267 (xem chú thích trên).
3. Nguyên sử q.202 An Nam truyện.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #23 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2016, 04:46:51 pm » |
|
Năm 1267, Hốt Tất Liệt lại phong cho con là Hu-ghê-tri (Hügäĉi) 1 làm Vân Nam vương, đem quân xuống đóng ở Vân Nam. Đội quân của Hu-ghê-tri có nhiệm vụ khống chế các dân tộc thiểu số vùng Vân Nam đồng thời làm áp lực quân sự đối với Đại Việt2.
Cảnh giác trước mọi âm mưu của kẻ thù, vương triều Trần đã ra sức tăng cường lực lượng vũ trang. Dọc biên giới, ven biển đều có lục quân thủy quân canh giữ. Luôn luôn báo về triều động tĩnh của quân Mông Cổ. Năm 1266, thủy quân lộ Đông Hải đi tuần biên giới được tin quân Mông Cổ chuẩn bị xâm lược3. vì thế, năm 1267, nhà Trần đã định lại quân ngũ, mỗi quân 30 đô, mỗi đô 80 người, chọn những người tôn thất giỏi vũ nghệ và binh pháp làm tướng4. Lực lượng vũ trang này cũng là một trong những chỗ dựa cho chính sách ngoại giao kiên quyết của triều đình Trần.
Năm 1268, Khu-rung Kha-y-a (Qurung - Qaya) được cử làm Đa-ru-ga-tri thay Nu-rut-Đin, Trương Đình Trân làm phó, sang Đại Việt, mang chiếu thư của Hốt Tất Liệt lần nữa đòi lái buôn Hồi Hột (Uigur) 5. Nhưng Trần Thái Tông đã không chịu. Trong thư gửi Hốt Tất Liệt tháng 12 năm 1269, Thái Tông nói: “Lái buôn Hồi Hột một người tên là I Ôn đã chết lâu ngày, một người tên Bà Bà vừa bị bệnh chết” 6. Không hẳn những người Hồi Hột đã chết ở Đại Việt, rõ ràng là vua Trần đã nhìn thấy âm mưu do thám của bọn thống trị Mông Cổ.
Cho đến đó, chẳng những vua Trần không chịu nộp các loại người (thợ, thầy thuốc…) mà ngay việc nộp cống vật cho Mông Cổ cũng cố ý trì hoãn, thoái thác. Trong bức thư năm 1269, Thái Tông đã xin hoãn việc cống voi: “Theo lời Khu-rung Kha-y-a, bệ hạ muốn đòi mấy con voi lớn. Loài thú ấy thân thể to lắm, bước đi rất chậm chạp, không như ngựa của thượng quốc. Xin tuân sắc chờ đợi đến năm tiến cống sau sẽ đem dâng” 7. Năm 1271, Mông Cổ lại nhắc việc đòi voi và đồ cống thì năm 1272, vua Trần đã trả lời: “… Sứ đến nói việc đòi voi, trước vì sợ trái chỉ nên không dám nói thẳng là theo hay không theo chứ thật ra vì tượng nô không chịu rời nhà, khó sai họ đi, còn việc đòi nho sĩ thầy thuốc và thợ thì khi bồi thần nước tôi là bọn Lê Trọng Đà8 vào bệ kiến, gần uy quang trong gang tấc cũng không nghe chiếu dụ gì đến việc ấy. Huống chi từ năm Trung Thống thứ 4 (1263) 9 đã được đội ơn tha cho, nay lại nhắc đến, xiết nỗi kinh ngạc…”10.
Về mặt nghi lễ ngoại giao đối với Mông Cổ, vua Trần đã hết sức khôn khéo đấu tranh để giữ được quốc thể. Không bao giờ Thái Tông chịu lạy chiếu thư của Hốt Tất Liệt. Khi Trương Đình Trân đến Thăng Long, Trần Thái Tông đã đứng nhận chiếu của vua Mông Cổ mà không lạy. Tên Hán gian đó còn căm tức vì vương triều Trần vẫn kết thân với nhà Tống nên hắn đã lên giọng dọa nạt: “… Nhà vua vẫn hòa mục với Tống, tưởng được cứu viện lúc gấp, nay trăm vạn quân đang vây kín ở Tương Dương, chim bay cũng không có lối, chỉ sớm tối là hạ thành, dồn quân qua sông, lật đổ kinh đô nước ấy dễ như bẻ cành khô, thế mà nhà vua còn dựa vào nơi bờ bể, cậy là môi với răng, tự tôn tự đại. Nếu tâu lên hoàng đế (vua Mông Cổ - T.G.), oai trời khẽ động, thì chẳng cần gọi đến quân Trung Quốc ở xa, mà mười vạn quân Vân Nam, hơn tháng là đến, sẽ biến vương miếu thành gò hoang, vương đình thành bãi cỏ, chẳng khó khăn gì…”11. Trương Đình Trân còn hống hách, đòi vua Trần phải tiếp đãi hắn theo lễ đối với tước vương. Thái Tông đã trả lời cứng cỏi: “Thánh Thiên tử thương tôi nhưng sứ giả đến nhiều người vô lễ. Ông là quan triều liệt12 còn tôi là vua, mà cũng ngang lễ với nhau, từ cổ có điều đó không?” 13. Thái Tông còn vặn Đình Trân: “Đã xưng là nước lớn sao lại còn đòi tê tượng” 14. Trước thái độ láo xược của Đình Trân, vua Trần đã sai vệ binh tuốt gươm trần đứng vây quanh để thị uy và sau đó, gần như là giam lỏng hắn15. Cái lễ vương nhân mà hắn muốn như thế đấy!
------------------ 1. Nguyên sử chép là Hốt Kha Xích.
2. Nguyên sử q.209 An Nam truyện chép: Tháng 11 Chí Nguyên 4 (18- 11 - 16-12-1267) “Chiếu phong hoàng tử làm Vân Nam vương, đi trấn các nước Đại Lý, Thiện Xiển (tức Côn Minh - T.G.), Giao Chỉ” (2b). Chiếu của vua Mông Cổ gửi vua Trần năm 1268 có đoạn: “Nay lại sai Vân Nam vương Hu-ghê-tri (Hốt Kha Xích) đem quân xuống phía Nam, khanh hãy tuân theo chiếu trước, nếu có bọn phản loạn không thần phục cướp bóc ở biên giới thì hay phát binh cùng đánh dẹp…”. (Nguyên sử, Thế Tổ bản kỷ).
3. Toàn thư, q.5, t.80b: “Tháng 2 [Thiệu Long 9] (9-3 - 6-4-1266) thủy quân lộ Đông Hải đi tuần biên giới đến Ô Lôi biết được kỳ hẹn sang xâm lược của Nguyên”.
4. Toàn thư, q.5, t.31a-31b.
5. Theo Nguyên sử,An Nam truyện (2b), tháng 9 Chí Nguyên 5 (8-10 - 5-11-1268) Khu-rung Kha-y-a (Hốt Long Hải Nha) và Trương Đình Trân sang Đại Việt. An Nam chí lược cũng chép “năm Chí Nguyên 5, sai Khu-rung Kha-y-a (Hất Long Hải Nha) đi sứ An Nam” (q.3). Nhưng Nguyên sử (q. 167) Trương Đình Trân truyện lại nói rằng Trương Đình Trân đến Đại Việt năm Chí Nguyên 6 (1269). Toàn thư chép: “Tháng 12 [Thiệu Long 12 (25-12-1269 - 22-1-1270), sứ nguyên là Lung Hải Nha (tức Hất Lung Hải Nha, Khu-rung Kha-y-a - T.G.) đến dụ các việc đã đòi, vua sai Lê Đà, Đinh Củng Viên sang Nguyên” (q.5, 32b). Có lẽ bọn Đa-ru-ga-tri Mông Cổ đi vào cuối 1268 và đến đầu 1269. Có thể Toàn thư đã chép nhầm tháng.
6. Nguyên sử q.209 An Nam truyện. Chúng tôi tìm được đúng tên của những người này. Chúng tôi ngờ rằng I-ôn là một tên Cảnh giáo (Nestorien, một ngành Cơ Đốc giáo). I-ôn có thể là Ion, tên thánh (Ion, Ioan, Jvan Jan, Jean, Johann…) Vào thế kỷ XIII, đã có nhiều người Uigur theo Cơ Đốc giáo.
7. Nguyên sử q.209 An Nam truyện t.2b.
8. Toàn thư (q.5, t.32b) chép tháng 12, Thiệu Long 12 (25-12-1269 - 22-1-1270) Lê Đà, Đinh Củng Viên sang Mông Cổ. An Nam chí lược q.14 Trần Thị Khiển sứ chép: “Chí Nguyên Canh Ngọ (1270), sai đại phu Lê Đà, Đinh Củng Viên đi cống”.
9. Có lẽ là năm Chí Nguyên thứ tư (1267) mới đúng vì đó là năm vua Mông Cổ chấp thuận ba đạo biểu của Dương An Dưỡng.
10. Nguyên sử q.209 An Nam truyện t.3a.
11. Bài bia mộ Trương Đình Trân (Nam kinh lộ tổng quản Trương Công mộ chí minh) do Diêu Toại (1238 - 1314) soạn. Xem Diêu Toại Mục am tập, Vũ Anh điện tụ trân bản, q.28, t.2b. Đoạn này có chép sơ lược trong Nguyên sử q.167 Trương Đình Trân truyện t.3b.
12. Trương Đình Trân làm triều liệt đại phu. Xem Nguyên sử q. 167, t.3b.
13. 14. Nguyên sử q.167 Trương Đình Trân truyện, t.3b-4a.
15. Mộ chí Trương Đình Trân (Diêu Toại soạn năm 1287) có đoạn:
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #24 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2016, 04:59:43 pm » |
|
Kiên quyết giữ gìn quốc thể, vị Hoàng đế Đại Việt còn biết lợi dụng điển lễ Mông Cổ và chiếu thư của Hốt Tất Liệt để đấu tranh với bọn phong kiến Mông Cổ. Năm 1271, trung thư tỉnh Mông Cổ gửi điệp cho vua Trần, dẫn nghĩa sách Xuân thu để trách việc nhận chiếu không lạy và tiếp sứ không theo lễ vương nhân1. Năm 1272, trong thư trả lời, Thái Tông đã nói: “Nước tôi thờ phụng Thiên triều đã được phong tước vương, há không phải là vương nhân hay sao? Sứ Thiên triều đến lại xưng là vương nhân, nếu đãi ngang lễ thì sợ nhục triều đình. Huống chi nước tôi trước đã nhận được chiếu bảo cứ theo tục cũ (chiếu chỉ Hốt Tất Liệt năm 1261 - T.G.). Phàm nhận chiếu cứ để yên nơi chính điện còn mình thì lui tránh ở nhà riêng, đó là điển lễ cũ của nước tôi…”2.
Từ năm 1271, Hốt Tất Liệt tiến thêm một bước trong việc củng cố địa vị thống trị của Mông Cổ ở Trung Quốc, đặt quốc hiệu là Nguyên. Nhân dịp đó, để thị uy, vua Nguyên đã cho sứ sang đòi vua Trần vào chầu. Thái Tông từ chối là có bệnh, không đi3.
Năm 1272, vừa muốn điều tra địa thế, vừa muốn kiếm cớ hạch sách, Hốt Tất Liệt sai U-ry-ang (Uriyang) 4 sang hỏi cột đồng Mã Viện. Vua Trần cũng cho viên ngoại lang Lê Kính Phu cùng hắn di tìm. Nhưng chắc hẳn nhà Trần đã mua chuộc hắn, Lê Kính Phu chỉ đưa hắn đi hỏi han qua loa ở một vài nơi và không đến những địa điểm quan trọng bí mật về quân sự… Sau đó, nhà Trần đã trả lời rằng cột đồng Mã Viện dựng lâu ngày nay đã mai một không còn dấu vết5. Năm đó, Đồng Tử Dã và Đỗ Mộc được lệnh sang sứ Nguyên6. vua Mông Cổ đã sai Y-ê-si-nê (Yäšinä) làm Đa-ru-ga-tri thay Khu-rung Kha-y-a. Lý Nguyên làm phó. Năm sau, 1273, Y-ê-si-nê chết, Lý Nguyên thay làm Đa-ru-ga-tri và Kha-xa Kha-y-a (Qasar - Qaya) làm phó7.
Năm 1273 là năm thành Tương Dương, sau sáu năm trời kiên trì chiến đấu, không được triều đình Nam Tống chi viện, đã thất thủ. Bọn xâm lược Mông Cổ dốc toàn binh lực, vượt sông Trường Giang, tiến sang một bước mới trong kế hoạch tiêu diệt Nam Tống. Năm 1274, Hốt Tất Liệt đã sai tướng đem binh thuyền đánh Nhật Bản. Trong tình hình đó, những tên Đa-ru-ga-tri Mông Cổ đến Đại Việt đã hoạt động ráo riết, hòng uy hiếp vương triều Trần, thực hiện âm mưu nô dịch của chúng.
Trung thư tỉnh nhà Nguyên lại qua thư trách cứ, vặn lý về việc không lạy chiếu: “… Trong khoảng trời đất có hàng muôn nước mà mỗi nước có một phong tục riêng, nếu bắt thay đổi ngay có điều không tiện, nên cho phép được dùng phong tục bản quốc, nhưng có lễ tục nào lại nhận chiếu của Thiên tử mà không lạy?...” 8.
Vương triều Trần đã đấu tranh để chống lại các yêu sách của vua Nguyên và đặc biệt là chống lại việc đặt Đa-ru-ga-tri một cách mạnh mẽ hơn trước.
Trong thư gửi vua Nguyên tháng 2 năm 1275, Thái Tông đã viết: “… Hơn mười năm nay, tuy ba năm cống một lần, nhưng sai phái sứ thần đi lại mệt mỏi, chưa hề được nghỉ ngơi lấy một ngày. Còn như Đa-ru-ga-tri (Đạt Lỗ Hoa Xích) Thiên triều sai đến đất nước chúng tôi sao có thể về không, phương chi những kẻ sai đến, động tí gì là cậy thế chèn ép nước nhỏ… Vả lại Đa-ru-ga-tri chỉ nên đặt ở các vùng man di ngoài biên giới, còn tôi đã được phong vương, làm phên giậu một phương mà còn đặt Đa-ru-ga-tri để giám sát, há không bị các nước chư hầu cười cho hay sao. Sợ giám sát mà nộp cống sao bằng trong lòng vui phục mà nộp cống!... Tất cả quan lại thiên triều sai đến, xin đổi làm dẫn tiến sứ để tránh được cái tệ Đa-ru-ga-tri…”9. Chẳng những đòi bỏ Đa-ru-ga-tri mà vương triều Trần còn đòi cứ một lần nộp cống ở trung nguyên, một lần nộp cống ở Thiện Xiển (Côn Minh ngày nay) 10.
Hốt Tất Liệt đã cự tuyệt những yêu cầu của vua Trần. Lúc này, bọn xâm lược Mông Cổ đang ồ ạt tấn công vào đất Tống. Năm 1275, mười ba vạn quân của tên thừa tướng hèn nhát nhà Tống là Giả Tự Dạo tan tác ở Vu Hồ chỉ trong một ngày. Ngạc Châu, Thường Châu, Kiến Khang (Nam Kinh) lần lượt bị tàn phá dưới vó ngựa Mông Cổ. Kinh đô Tống là Lâm An bị uy hiếp. Tống Thái hậu khóc mà xuống chiếu cần vương. Uy lực của Mông Cổ đã rất lớn trên đất Trung Quốc. Vì thế, tuy dốc tâm vào cuộc chiến tranh thôn tính Nam Tống, Hốt Tất Liệt vẫn không chịu nới lỏng miếng mồi Đại Việt. Vua Trần gửi thư vào tháng 2 năm 1275, thì tháng 3, Hốt Tất Liệt đã gửi chiếu thư yêu sách sáu việc cũ và cử Kha-xa Kha-y-a làm Đa-ru-ga-tri11. Y dùng những lời xảo trá hòng lừa bịp vua Trần.
“Theo chế độ tổ tông ta đã định, phàm nước nội phụ thì quân trưởng phải thân vào chầu, con em phải làm con tin, lại phải kê sổ hộ khẩu, thu nộp thuế má, điều động dân giúp việc binh, lại đặt chức Đa-ru-ga-tri để thống trị. Sáu việc đó năm trước đã dụ cho khanh biết rồi. Thế mà quy phụ đã hơn mười lăm năm, quân trưởng chưa hề thân đến triều cận, mấy việc kia vẫn chưa thi hành, tuy ba năm có cống một lần, nhưng đồ cống cũng đều vô bổ. Nghĩ rằng khanh lâu ngày, khắc tự tính biết, nên bỏ qua mà không hỏi đến, sao mà đến nay vẫn chưa giác ngộ. Cho nên ta lại sai Kha-xa Kha-y-a (Qasar - Qaya, Hợp Tán Nhi Hải Nha) sang dụ ngươi vào chầu. Nếu vì cớ gì không vào chầu được, có thể sai con em vào thay. Ngoài ra số hộ khẩu bản quốc, nếu chưa có sổ sách nhất định thì tuyển binh thu thuế bằng vào đâu mà châm chước, như thế, nếu số dân quả là ít mà lại lấy nhiều thì sức không chịu nổi. Nay làm sổ hộ khẩu nước ngươi là muốn lượng xem nhiều ít mà định số binh số thuế. Còn gọi là điều binh cũng không phải là quân lính đi xa nơi khác, chỉ là theo thú binh tỉnh Vân Nam mà cùng hiệp lực với nhau…”12.
Ngoài việc tăng cường sách nhiễu, bọn thống trị phong kiến triều Nguyên đã có những âm mưu mới về mặt quân sự. Tháng 11 năm Bảo Phù thứ 3 (19-11- 18-12-1275), tướng của nhà Trần ở biên giới phía Bắc báo về là Nguyên cho người đi tuần biên giới để dò xét địa thế13. Trước tình hình đó, Trần Thánh Tông đã cử Lê Khắc Phục và Lê Túy Kim sang cống và lại yêu cầu miễn sáu điều14. Mặt khác, đầu năm 1276, Thánh Tông cho Đào Thế Quang sang Long Châu vờ mua thuốc để điều tra tình hình Mông Cổ15.
--------------------- 1. Nguyên sử q.209 An Nam truyện, 2a. An Nam truyện chép Mông Cổ gửi điệp vào tháng 11, năm Chí Nguyên 7 (14-12-1270 - 12-1-1271). Thế tổ - bản kỷ chép: “Ngày Đinh Ty [tháng 11, Chí Nguyên 7] (4-l-1271) quốc vương A Nam Trần Quang Bính sai sứ đến cống, xuống chiếu trả lời”. Như vậy có lẽ Mông Cổ gửi điệp vào đầu năm 1271.
2. Nguyên sử q.209 An Nam truyện t.2a. An Nam truyện chép vua Trần trả lời vào tháng 12, năm Chí Nguyên 8 (3-l-1272 - 31-l-1272). Có một vài đoạn trong Nguyên sử như trong truyện Trương Đình Trân (1269), An Nam truyện (1278, Sài Thung đi sứ Đại Việt),… nói rằng vua Trần đã lạy chiếu Mông Cổ. Nhưng đó chỉ là sự bịa đặt nhằm đề cao vương quyền Mông Cổ và công lao, tài ba của những tên sứ đó thôi chứ trong thực tế, không bao giờ Trần Thái Tông chịu lạy chiếu. Truyện Trương Đình Trân chép việc vua Trần lạy chiếu trước những câu trả lời mạnh mẽ của Thái Tông và việc vua Trần sai vệ binh tuốt gươm thị uy, như vậy tỏ rằng điều đó không đúng vì đã có sự kiên quyết như thế thì trước đó, không thể có sự nhân nhượng. Hơn nữa, nếu vua Trần lạy chiếu năm 1269 thì sao năm 1271, Mông Cổ còn đưa thư trách về việc không lạy chiếu (An Nam truyện). Đến năm 1273, thư Mông Cổ còn có đoạn: “Mấy năm nay các sứ giả đi về đều nói những khi vương nhận chiếu của Thiên triều chỉ đứng chắp tay chứ không lạy, tiếp kiến sứ giả hoặc yến tiệc thì đều ngồi trên sứ giả…” (An Nam truyện. t.3a).
Nguyên sử - Thế tổ bản kỷ cũng chép: “Ngày Mậu Ngọ [tháng 1, Chí Nguyên lo] (24-1-1273), sứ đi An Nam về, nói Trần Quang Bính nhận chiếu không lạy, trung thư đưa thư trách hỏi, Quang Bính nói rằng đó là theo bản tục”.
Những tài liệu trên chứng tỏ rằng vua Trần đã không lạy chiếu Mông cổ không phải chỉ năm 1269.
3. Toàn thư bản kỷ q.5, t.33a; An Nam chí lược q.13 Trần thị thế gia.
4. Toàn thư chép là Ngột Lương.
5. Toàn thư, q.5, t.33b.
6. Toàn thư, q.5, t.33b, chép: “Sai Đồng Tử Đỗ, Dã Mộc đi Nguyên”. An Nam chí lược q.14 Trần Thị Khiển sứ chép: “Chí Nguyên Nhâm Thân (1272), sai đại phu Đồng Tử Dã Đỗ Mộc cống. Theo Nguyên sử, An Nam truyện (3b) thì năm 1274, vua Trần đã cho Đồng Tử Dã và Lê Văn Ẩn đến cống. Tuy chữ Dã ở An Nam truyện viết khác Toàn thư và An Nam chí lược nhưng rõ ràng là một người. Vì thế chúng tôi cho rằng An Nam chí lược chép đúng. Và Toàn thư đã chép ngược các tên, khác với ý kiến T.Yamamoto cho rằng An Nam chí lược chép ngược tên Đỗ Dã Mộc chép đúng trong Toàn thư (An Nam sử nghiên cứu I, t.82).
7. Nguyên sử An Nam truyện t.3a chép: “Năm [Chí Nguyên] thứ 9 (1272), lấy Diệp Thức Niết làm Đạt Lỗ Hoa Xích (Đu-ru-ga-tri) An Nam, Lý Nguyên làm phó. Tháng 1 năm thứ 10 (21-l - l8-2-1273), Diệp Thức Niết chết, sai Lý Nguyên thay Thức Niết, lấy Hợp Tán Nhi Hải Nha làm phó”. Diệp Thức Niết là phiên âm tên Y-ê-si-nê (Yäšinä), Hợp Tán Nhi Hải Nha, là phiên âm tên Kha-xa Kha-y-a (Qasar - Qaya). An Nam chí lược q.3 Đại Nguyên phụng sứ chép: “Năm Chí Nguyên thứ 7 (1270), sai Dã Thực Nạp làm Đạt Lỗ Hoa Xích (Đa-ru-ga-tri) An Nam, rồi chết ở nước đó”. Chúng tôi cho rằng An Nam chí lược đã chép lầm (hay in lầm) năm Chí Nguyên 9 ra Chí Nguyên 7 vì Dã Thực Nạp và Diệp Thức Niết chỉ là một người, cùng là viên Đa-ru-ga-tri chết ở Đại Việt. Chính âm của Dã Thực Nạp phải là* Yäšinä Y-a-si-na), rõ ràng là chuyển âm Yäšinä (Y-ê-si-nê), trong cổ âm Mông Cổ, dễ có sự biến âm giữa [a] và [ä].
8. Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.3a.
9. Nguyên sử q.209 An Nam chí lược t.3b. An Nam truyện chép rằng vua Trần gửi thư vào tháng 1 năm Chí Nguyên 12 (29-1-1275 - 26-2-1275).
10. Như trên
11. Nguyên sử q.209 An Nam truyện t.3b. Thế Tổ bản kỷ chép: “Ngày Nhâm Thìn, tháng 1. [Chí Nguyên 12] (17-2-1275) sứ giả nước An Nam về, sắc lấy các việc cũ làm sổ hộ khẩu, đặt Đa-ru-ga-tri, kiểm quân lập trạm, nạp tô để dụ… Ngày Canh Ngọ, tháng 2 (27-3-1275) chiếu cho An Nam quốc vương Trần Quang Bính, vẫn lấy sáu việc cũ để dụ, gọi vào chầu”. Toàn thư (q.5, t.34b) chép: “Mùa hạ, tháng 4 [Bảo Phù 4] (1276), Thế Tổ nhà Nguyên bình Giang Nam, sai Kha-xa Kha-y-a (Hợp Tán Nhi Hải Nha) đến dụ sáu việc điều dân, giúp quân. Vua đều không nghe”. Như vậy là Toàn thư đã chép lầm một năm.
12. An Nam chí lược q.2 Đại Nguyên chiếu chế. Chiếu năm Chí Nguyên 12 (1275).
13. Toàn thư q.5, t.34b.
14. Toàn thư q.5, t.34b. An Nam cho lược q.14 Trần Thị Khiển sứ. “Chí Nguyên Ất Hợi (1275), sai đại phu Lê Khắc Phục, Lê Văn Tuý đi cống”. Nguyên sử - An Nam truyện: “Tháng 2 năm [Chí Nguyên] thứ 13 (17-2-1276 - 16-3-1276). Quang Bính sai Lê Khắc Phục, Văn Túy vào cống… và xin miễn sáu việc”. Lê Túy Kim chắc là Lê Văn Túy. Sứ bộ đi vào cuối 1275 và đầu 1276 mới đến
15. Toàn thư q.5, t.34b.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #25 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2016, 05:11:35 pm » |
|
Năm 1277, Thượng hoàng Thái Tông mất, vua Trần sai trung thị đại phu Chu Trọng Ngạn, trung lượng đại phu Ngô Đức Thiệu sang báo với vua Nguyên1. Năm 1278, Thánh Tông nhường ngôi cho thái tử Khâm tức Nhân Tông2 nhưng đối với Mông Cổ, thì bấy giờ Thánh Tông mới lên ngôi. Hốt Tất Liệt lấy cớ vua mới không “xin mệnh” mà tự lập, ngày 20 tháng 8 năm 12783, sai lễ bộ thượng thư Sài Thung4 hội đồng quán sứ Kha-ra Tô-in (Qara-Toyin) 5, công bộ lang trung Lý Khắc Trung, công bộ viên ngoại lang Đổng Đoan sang trách hỏi. Lê Khắc Phục cùng đi về với sứ bộ này6.
Trước đây, con đường qua lại của sứ thần Đại Việt và Mông Cổ là con đường qua Thiện Xiển (Côn Minh, Vân Nam), nhưng đến nay, theo lệnh của vua Nguyên, bọn Sài Thung đã đi thẳng từ Giang Lăng (Hồ Bắc) qua Ung Châu (Quảng Tây) để vào nước ta7.Vua Trần đã kiên quyết phản đối việc đó. Tháng 11 nhuận âm lịch (Chí Nguyên 15, 16-12-1278 - 13-l-1279), Sài Thung đến trại Vĩnh Bình ở Ung Châu, Thánh Tông đưa thư nói: “Nay nghe quốc công đến biên giới tôi, biên dân không ai là không lo sợ, không biết sứ nước nào mà đến lối đó, xin đem quân về đường cũ mà đi” 8 [/sup]. Sài Thung không chịu, lại còn hách dịch, đòi phải lên biên giới đón hắn. Triều đình Trần đành phải nhân nhượng chút ít, cho ngự sử trung tán coi thẩm hình viện Đỗ Quốc Kế lên đón Thung. Tháng 1 năm 1279, Thái úy Trần Quang Khải ra bờ sông Hồng đưa Thung vào sứ quán ở Thăng Long9. Ngày 17 tháng 1 (ngày 4 tháng chạp âm lịch), Sài Thung đọc chiếu thư của Hốt Tất Liệt.
“… Trải bao nhiêu năm, lễ ý bạc dần, cho nên năm Chí Nguyên thứ 12 (1275) lại xuống chiếu đòi những việc thân vào chầu, giúp binh lính. Mới đây bọn Lê Khắc Phục đến, xem trong biểu chương, có điều không thực. Như nói nước ngươi quy phụ trước tiên, thì các nước bốn phương đến hàng phục trước nước ngươi có nhiều, sau ngươi thì có nhà Vong Tống… Thế thì điều ngươi nói không dối trá là gì? Lại nói Chiêm Thành [Chân Lạp], hai nước quấy rối, không thể giúp quân được thì những nước ấy ở gần nước ngươi không phải mới tự ngày nay. Đến như nói đường xa không vào chầu được thì sao bọn Lê Khắc Phục đến được? Hai điều ấy dối trá cũng đã rõ ràng!... Trước vì cha ngươi già yếu không thể đi xa, còn lượng tình được. Nay ngươi tuổi đang cường sĩ, vào chầu chịu mệnh, chính là phải thời. Huống hồ bờ cõi nước ngươi tiếp giáp với các châu Ung (Quảng Tây - T.G.), Khâm (Quảng Đông - T.G.) của ta thì sợ gì mà không sang được. Nếu ngươi không yên, cố ý kháng cự mệnh trẫm, thì ngươi cứ sửa đắp thành lũy, sắm sửa giáp binh, sẵn sàng mà đợi!...” 10.
Qua những lời ngạo mạn láo xược của Hốt Tất Liệt, chúng ta cũng thấy được cuộc đấu tranh của vua Trần chống các yêu sách của Mông Cổ trong suốt hai mươi năm trời. Trong hai mươi năm đó, bọn phong kiến Mông Cổ càng ngày càng lấn lướt, nhưng cho đến nay, Hốt Tất Liệt mới thực sự đe dọa đem quân sang đánh Đại Việt. Tình hình đã căng thẳng hơn nhưng vua Trần vẫn không khuất phục. Dù chiến tranh có xảy ra, dù phải đổ máu, vương triều Trần cũng không chịu bỏ mất chủ quyền.
Vua Trần đặt tiệc ở hành lang, Sài Thung không chịu đến, phải đặt tiệc ở điện Tập Hiền, hắn mới đến dự. Trong bữa tiệc, Thánh Tông11 đã nói với Thung: “Trước dụ sáu việc, đã được miễn xá. Còn việc thân hành vào chầu thì vì tôi sinh trưởng ở thâm cung, không biết cưỡi ngựa, không quen phong thổ, sợ chết dọc đường, con em thái úy trở xuống cũng đều như thế…”12. Như vậy là vua Trần vẫn từ chối việc sang chầu và không một ai đi làm con tin cả. Sài Thung bực tức bỏ về13. Vua Trần sai Trịnh Đình Toản14 và Đỗ Quốc Kế đem phương vật và hai con voi sang Nguyên, đưa biểu xin miễn việc vào chầu. Lời biểu cũng gần giống với lời vua Trần nói với Sài Thung trong bữa yến ở điện Tập Hiền:
“… Cô thần đương lúc có tang cha, kỳ niên cống lại đến, thần không dám vì sự lo phiền về việc tang tóc, nhân sứ trước là Lê Khắc Phục trái thời chưa đến, mà để chậm niên cống, tiếp sai trung thị đại phu Chu Trọng Ngạn, trung lượng đại phu Ngô Đức Thiệu làm hành nhân để đem biểu văn cùng phương vật đến dâng ở cửa khuyết… Kíp đến năm Chí Nguyên thứ 15 (1278), bọn Chu Trọng Ngạn chưa về, duy đoàn thiên sứ Sài thượng thư đem chiếu thư đưa lũ Lê Khắc Phục cùng về tiểu quốc. Thấy chiếu thư dụ thần vào chầu, thần kinh sợ vô cùng, mà sinh linh cả nước nghe thấy tin ấy đều nhao nhao kêu phải bơ vơ như chim mất tổ. Vì thần sinh trưởng ở đất Việt Thường, sức người yếu đuối, không quen thủy thổ, không dạn nắng mưa, tuy được xem biết văn hóa của thượng quốc, được dự làm tân khách ở vương đình, nhưng e đi đường có sự không may xảy ra, chỉ dãi phơi xương trắng để đóng lòng nhân của bệ hạ thương xót mà thôi, không ích chút nào cho thiên triều vậy…”15.
Năm 1279, Sài Thung về Đại Đô (Bắc Kinh) trước, bắt Trịnh Đình Toản đợi ở Ung Châu (Quảng Tây).
------------------ 1. Nguyên sử q.206 An Nam truyện t.3b-4a.
2. Toàn thư q.5, t.37b.
3. Nguyên sử - An Nam truyện chép tháng 8 năm Chí Nguyên thứ 15 (20-8 - 18-9-1278) sai bọn Sài Thung đi. Thế Tổ bản kỷ chép rõ: “Ngày Nhâm Tý mồng 1 tháng 8 (20-8-1278)… sai bọn lễ bộ thượng thư Sài Thung đi sứ nước An Nam”.
4. Nguyên sử An Nam truyện chép là Sài Thung, Toàn thư chép là Sài Xuân. Hai chữ này dễ lẫn với nhau. Chúng tôi tạm theo An Nam truyện.
5. Nguyên sử - An Nam truyện chép là Cáp Lạt Thoát Nhân, Cáp Lạt là Qara, nghĩa là đen, Thoát Nhân là Toyin, vốn là tiếng Mông Cổ, phiên âm lại từ tiếng đạo nhân của Trung Quốc, nhưng người Mông Cổ từ thời Ô-gô-đây dùng chữ thoát nhân (toyin) để chỉ nhà sư, còn dùng chữ tiên sinh (thường sinh) để chỉ đạo sĩ. Xem Thái Mỹ Bưu: Nguyên đại bạch thoại bi tập lục 1955, t.38.
6. Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t.4a.
7. An Nam truyện, t.4a chép: “Trước sứ giả đi lại chỉ theo lối Thiện Xiển, Lê Hóa. Vua ra lệnh cho Sài Thung đi từ Giang Lăng thẳng đến Ung Châu tới Giao Chỉ”. Thiện Xiển tức Côn Minh ngày nay. Lê Hóa, hay Lê Hoa, ở Mông Tự.
8. Nguyên sử q.209 An Nam truyện.
9. Nguyên sử 1.209, t.4a chép rằng Thái úy ra đón ở sống Phú Lương. Thái úy bấy giờ là Trần Quang Khải. Sông Phú Lương là sông Hồng.
10. An Nam chí lược q.2. Chiếu tháng 8 Chí Nguyên 15 (1278).
11. Bấy giờ Thánh Tông đã nhường ngôi cho Nhân Tông, tự mình làm thượng hoàng, nhưng mặt ngoài đối với nhà Nguyên, thì sau khi Thái Tông mất, Thánh Tông (mà thư tịch Nguyên gọi là Nhật Huyên) mới chính thức lên ngôi.
12. Nguyên sử q.209 An Nam truyện, 4a-4b.
13. Sài Thung nói: “Vua Tống chưa đến mười tuổi và cũng sinh trưởng ở thâm cung, thế sao cũng đến kinh sư được… Bốn người chúng tôi sang đây mời ngài vào chầu chứ không phải để lấy phương vật”. Thực ra, tháng 2 năm 1276, quân Nguyên đã chiếm Lâm An, bắt Tống Cung Đế Triệu Hiển về Đại Đô (Bắc Kinh) chứ không phải vua Tống tự đến.
14. Toàn thư q.5, t.38a. Nguyên sử, An Nam truyện chép là Trịnh Quốc Toản.
15. An Nam chí lược q.6. Biểu năm Chí Nguyên 15 (1278) Nguyên sử - An Nam truyện có chép tóm tắt.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #26 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2016, 05:19:44 pm » |
|
Bấy giờ, bọn xâm lược Mông Cổ đã hoàn thành việc thôn tính Nam Tống. Từ tháng 12 năm 1278, Văn Thiên Tường, người anh hùng của nhân dân Trung Quốc, đã bị bắt. Tháng 2 năm 1279, Nhai Sơn (trong biển phía nam Tân Hội, Quảng Đông), căn cứ cuối cùng của chính quyền Hán tộc bị tấn công. Lục Tú Phu ôm vua Tống Triệu Bính nhảy xuống biển tự tử. Trương Thế Kiệt đắm thuyền. Nhà Tống mất. Nhân dân Trung Quốc lâm vào cảnh “núi sông tan nát như tơ trước gió thổi” mà Văn Thiên Tường đã nói đến trong thơ của mình1. Đó cũng chính là lúc nhân dân Đại Việt đang đứng trước nguy cơ một cuộc chiến tranh mới.
Tháng 4 năm 1279, xu mật viện Nguyên xin Hốt Tất Liệt cho đem quân đánh Đại Việt2. Nhưng tên vua Mông Cổ còn cân nhắc lợi hại, chưa đồng ý. Y cho gọi sứ bộ Việt đến Đại Đô. Tháng 8 năm đó, y ra lệnh đóng chiến thuyền để chuẩn bị đánh Đại Việt3. Nhưng Hốt Tất Liệt vẫn còn muốn dùng uy lực khuất phục vương triều Trần bằng biện pháp ngoại giao. Tháng 12, y ra lệnh giữ Trịnh Đình Toản lại ở Đại Đô, sai Sài Thung và binh bộ thượng thư Lương Tằng đi cùng Đỗ Quốc Kế sang Đại Việt4. Lần này Hốt Tất Liệt đòi “nếu quả thật không tự vào ra mắt được thì lấy vàng thay thân, hai hạt châu thay mắt, thêm vào đó, lấy hiền sĩ, phương kỷ, con trai, con gái, thợ thuyền, mỗi loại hai người để thay cho sĩ nhân. Nếu không thì hãy tu sửa thành trì mà đợi xét xử” 5.
Trước yêu sách ngày càng ngang ngược của kẻ thù, quan hệ ngoại giao ngày càng căng thẳng, nguy cơ chiến tranh khó bề tránh khỏi, triều đình Trần đã chuẩn bị chiến đấu khẩn trương hơn. Nhưng để trì hoãn thời gian thêm ít nữa, năm 1281, Nhân Tông đã cho chú họ là Trần Di Ái thay mình cùng Lê Tuân, Lê Mục theo bọn Sài Thung sang Nguyên6.
Thấy việc đòi vua Trần vào chầu thất bại, Hốt Tất Liệt nắm ngay lấy cơ hội này để thực hiện dã tâm xâm lược của mình. Hốt Tất Liệt phong Trần Di ái làm An Nam quốc vương, Lê Mục làm hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm thượng thư7. Chiếu thư Của Hốt Tất Liệt gửi vua Trần có đoạn: “… Cho sứ sang vời thì người kiếm cớ không đi, nay lại kiếm lời cố ý trái mệnh, chỉ sai chú là Di Ái vào chầu. Ta cũng định cử ngay quân sang đánh. Vì ngươi nội phụ và cống hiến đã lâu năm rồi, có lẽ nào bắt chước kẻ vô tri, để hại uổng tính mệnh dân chúng. Ngươi đã cáo bệnh không vào chầu, nay cho ngươi được nghỉ mà thuốc thang điều dưỡng, ta đã lập chú ngươi là Di Ái thay ngươi làm vua nước An Nam, coi trị dân chúng của ngươi…”8.
Bên cạnh cái triều đình bù nhìn đó, vua Nguyên đã lắp luôn một bộ máy thống trị thực dân kèm theo. Ngày 27 tháng 11 năm 1281, đặt An Nam tuyên uý ty. Bu-y-an Tê-mua (Buyan Tämur) 9 được cử làm An Nam tuyên úy sứ đô nguyên soái, Sài Thung và Khu-ghe (Qugär) 10 làm phó11. Tháng 1 năm 1282, Hốt Tất Liệt sai một nghìn quân đi hộ tống đưa bọn này sang Đại Việt12.
----------------- 1. “Sơn hà phá toái phong phao nhứ”, trong bài Quá Linh - Đinh Dương. Đây là bài thơ Văn Thiên Tường đưa cho tên Hán gian Trương Hoằng Phạm, khi Hoàng Phạm muốn Thiên Tường dụ hàng Trương Thế Kiệt. Bài thơ có hai câu nổi tiếng. “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh” (Nhân sinh từ cổ ai không chết, lưu lại lòng son rọi sử xanh).
2. Nguyên sử An Nam truyện chép: “Tháng 3 năm [Chí Nguyên 16] (13-4 - 11-5-1279)… Xu mật viện tâu rằng Nhật Huyên không chịu vào chầu, chỉ sai sứ thần báo mệnh, đặt lời kiếm cớ, kéo dài ngày tháng, xảo nịnh tuy nhiều nhưng đều trái chỉ, nên tiến quân đến biên giới sai quan hỏi tội (t.4b).
3. Nguyên sử - Thế Tổ bản kỷ chép: “Ngày Nhâm Tuất tháng 7 [Chí Nguyên 16] (25-8-1279) tạo chiến thuyền đánh Nhật Bản và Giao Chiỉ”.
4. Nguyên sử q.209 An Nam truyện. Thế Tổ bản kỷ chép việc Nguyên sai sứ vào ngày Nhâm Tý tháng 11 năm Chí Nguyên 16 tức ngày 13 tháng 12 năm 1279. Nguyên sử q.178 Lương Tằng truyện chép năm Chí Nguyên 17 (1280) Tằng cùng với Sài Thung đến An Nam. Như vậy là bọn Sài Thung đã đi vào cuối năm 1279 và đến Đại Việt vào năm 1280. Trong năm Chí Nguyên 17, Thế Tổ bản kỷ còn chép mấy việc sau: “Ngày Bính Thân tháng 10 (21-11-1280)… sai sứ dụ Java và Giao Chỉ”, “Ngày Canh Tuất tháng 11 (5-12-1280) sai Kho-rơ-khô-xun (Qorqosun, Bản kỷ chép là Hòa Lễ Hoắc Tôn) chọn thải sứ nước Giao Chỉ, trừ những kẻ có thể lưu, còn lại thả cho về”, “Ngày Bính Thân tháng 12 (21-l-1281), nước An Nam sai cống voi”.
5. Nguyên sử q.209 An Nam truyện. 4b.
6. Toàn thư q.5, t.40b. Nguyên sử q.178 Lương Tằng Truyện.
7. Toàn thư q.5, t.40b, An Nam chí lược q.3; Nguyên sử - An Nam truyện và Thế Tổ bản kỷ.
8. An Nam chí lược q.2 Đại Nguyên chiếu chế. Chiếu năm Chí Nguyên 18 (1281).
9. Nguyên sử - An Nam truyện chép là Bốc Nhan Thiết Mộc Nhi. Nguyên sử Thế Tổ bản kỷ chép là Bột Nhan Thiết Mộc Nhi. An Nam chí lược q 3 chép là Bất Nhãn Thiếp Mộc Nhi. Tất cả những tên đó đều là phiên âm tên Mông Cổ Buya Tämur.
10. Nguyên sử - Thế tổ bản kỷ phiên âm là Hốt Kha Nhi.
11. Nguyên sử - Thế Tổ bản kỷ chép rằng ngày đinh vị tháng 10, Chí Nguyên 18 (27-11-1281) đặt An Nam tuyên úy ty, Bu-y-an Tê-mua (Bột Nhan Thiếp Mộc Nhi (Buyan Tämur) vốn là Đa-ru-ga-tri lộ Bắc Kinh làm tham tri chính sự An Nam tuyên úy sứ đô nguyên soái, đeo hổ phù, Sài Thung và Khu-ghe (Hốt Kha Nhi, Qugär) làm phó. An Nam truyện (4b) cũng chép là Bu-y-an Tê-mua (Bốc Nhan Thiếp Mộc Nhi) làm tham tri chính sự An Nam tuyên uý sứ đô nguyên soái. Nhưng An Nam chí lược (q.3) lại chép là Sài Thung làm An Nam tuyên úy ty đô nguyên soái, Lý Chấn làm phó còn Bu-y-an Tê-mua (An Nam chí lược chép là Bất Nhãn Thiết Mộc Nhi) lại làm Đa-ru-ga-tri (Đạt Lỗ Hoa Xích). Bài tự của Lý Khiêm tiễn Sài Thung trong An Nam chí lược q.17 chép là Lý Chấn Văn làm phó cho Sài Thung và Lý Phi Nhị giúp việc. An Nam truyện chép vua Nguyên còn đặt các quan liêu phụ tá giúp việc.
12. Nguyên sử - Thế Tổ bản kỷ chép: “Ngày Canh Tuất tháng 10 [Chí Nguyên 18] (30-11-1281), vì An Nam quốc vương Trần Di Ái vào An Nam, phát một nghìn quân tân phụ (tức quân người Nam Trung Quốc - T.G.) đi hộ tống”. Có lẽ đó mới chỉ là ngày lấy quân, chưa phải là ngày xuất phát, vì Bản kỷ còn chép: “Ngày Ất Dậu (Bản kỷ chép là Kỷ Dậu nhưng tháng này không có ngày Kỷ Dậu, chúng tôi cho là chép nhầm từ ngày Ất Dậu tức là ngày 23 âm lịch) tháng 11 (4-l-1282), ban tiền giấy (sao) cho quân tân phụ đi đánh An Nam”. An Nam chí lược q.7 có chép bài tự của Lý Khiêm tiễn Sài Thung đề tháng 11 năm Chí Nguyên 18 (13-12-1281 - 10-1-1282). Như vậy bọn Sài Thung xuất phát sớm nhất cũng vào đầu tháng 1 năm 1282, không phải là tháng 11 năm 1281.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #27 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2016, 05:26:50 pm » |
|
Khi những viên quan Mông Cổ và cái triều đình bù nhìn kia đến biên giới, Nhân Tông đã ngầm sai quân đón đánh khiến Trần Di Ái hoảng sợ phải trốn về nước. Mặt khác, Nhân Tông lại sai người lên đón bọn Sài Thung về Thăng Long1. Sài Thung đã cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh. Quân Thiên Trường ngăn hắn lại, hắn đã lấy roi ngựa đánh họ bị thương ở đầu rồi phóng ngựa đến tận điện Tập Hiền mới chịu xuống2. Trước thái độ hống hách của Sài Thung, triều đình Trần vẫn tỏ vẻ ân cần tiếp đãi hắn3. Sài Thung thất bại trở về. Cái âm mưu đặt An Nam tuyên uý ty và lập triều đình bù nhìn Trần Di Ái của Hốt Tất Liệt đã tan ra mây khói. Trong bài thơ tiễn Sài Thung, Thái úy Trần Quang Khải vẫn viết như sau:
“… Vi thẩm hà thời trùng đổ diện, Ân cần ác thủ tự thê lương”.
(Không biết đến bao giờ lại được gặp mặt, Ân cần nắm tay nhau kể chuyện hàn huyên4.
Vừa đánh tan một nghìn quân địch trên biên giới, lại vừa làm thơ xướng họa với sứ thần kẻ thù âu đó cũng là một nét đặc biệt trong cuộc đấu tranh ngoại giao của vương triều Trần. Nhưng sau vụ Trần Di Ái, quan hệ bang giao đến đây khó bề mà duy trì được nữa.
Cuối năm 1283, Triệu Chư theo lệnh của vua Nguyên, sang đòi nhà Trần phải giúp binh lương cho việc đánh Chiêm Thành. Lại một âm mưu mới của Hốt Tất Liệt! Vua Trần đã sai Nguyễn Đạo Học sang triều Nguyên và Phạm Chí Thanh, Đỗ Bảo Trực sang hành tỉnh Kinh Hồ đưa thư từ chối.
“… Về việc thêm quân thì Chiêm Thành thờ phụng nước tôi đã lâu, cha tôi chỉ lấy đức để che chở, đến tôi cũng nối chí cha tôi. Từ khi cha tôi quy thuộc Thiên triều đến nay đã ba mươi năm, gươm giáo không dùng đến nữa, quân lính cho về làm dân đinh, một lòng cống hiến Thiên triều, trong lòng không có mưu đồ gì khác, mong các hạ thương mà xét cho. Về việc giúp lương thì nước tôi ở ven biển, ngũ cốc trồng được không nhiều. Sau khi đại quân rút đi, trăm họ lưu vong, lại thêm lụt hạn, sớm no chiều đói, ăn không đủ. Tuy vậy lệnh của các hạ không dám trái, xin đợi mang nạp ở châu Vĩnh An trên địa giới châu Khâm…”5.
Chẳng những vua Trần đã cự tuyệt việc giúp quân lính và lương thực cho bọn xâm lược nhà Nguyên đánh Chiêm Thành mà trước đó đã đem quân và chiến thuyền ứng viện Chiêm Thành chống lại kẻ thù chung. Sau khi thất bại ở Chiêm Thành, Hốt Tất Liệt đã quyết định tấn công xâm lược Đại Việt.
Cuộc đấu tranh ngoại giao gay go và phức tạp của vương triều Trần trong hơn hai mươi lăm năm đến đây đã kết thúc. Hai mươi lăm năm, “sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn…”. Đã qua rồi thời kỳ phải nén mọi phẫn nộ, lấy nhạc thái thường để đãi yến ngụy sứ” 6, thời kỳ vừa phải rất kiên quyết đối phó với giặc lại vừa phải chọn lời mềm mỏng cho những bức thư ngoại giao hay những bài thơ thù tiếp. Không một ai, kể cả vị tướng kiêm nhà thơ Trần Quang Khải, muốn thấy lại bộ mặt đáng ghét của những tên sứ hống hách kiểu Sài Thung. Cả nước đã chuẩn bị chiến đấu, sẵn sàng đón tiếp kẻ thù bằng vũ khí.
------------------- 1. Một số tài liệu như An Nam chí lược (q.2, Chiếu 1291), Thiên Nam hành ký của Từ Minh Thiện, Tục Hoằng giản lục của Thiệu Viễn Bình chép rằng vua Nguyên trách vua Trần đã “giết chú, đuổi sứ”. Cương mục đời Nguyễn lại nói Sài Thung bị giết ở biên giới. Nhưng Toàn thư q.5, t.40b chép rõ chuyện Sài Thung (Xuân) vào Thăng Long và đến năm Thiệu Bảo 4 (1282) bọn Di Ái về, Di Ái liền bị đày làm khao giáp binh Thiên Trường, Lê Tuân làm tống binh (t.41b). An Nam chí lược q.3 Đại Nguyên phụng sứ chép: “Về đến địa giới Vĩnh Bình, người nước không nhận, Di Ái sợ đêm trốn về trước. Thế tử (chỉ vua Trần - T.G.) sai bồi thần đón Sài Công vào nước tuyên dụ chỉ”. Hơn nữa, trong các chiếu thư của vua Nguyên chép ở các tài liệu khác nhau cũng chỉ thấy trách là giết Di Ái, không nói giết Sài Thung. Trong thư gửi vua Nguyên trong Thiên Nam hành ký, vua Trần cũng nói: “Trước đây quốc thúc là Di Ái rõ ràng là trốn đi ở ngoài bờ cõi mà bị vu là đã giết càn”. Như vậy rõ ràng là Sài Thung có được đón vào Thăng Long, không phải bị giết. Còn Di Ái thì sợ hãi trốn về, nhưng lúc đó, thấy quân Trần đánh sau lại không thấy Di Ái thì nên nhà Nguyên tưởng là Di Ái bị giết và một số tài liệu đã căn cứ vào đó mà chép như vậy.
2. Toàn thư - Bản kỷ q.5, t.41a.
3. Toàn thư (q.5, t.41a) chép rằng vua sai Quang Khải đến sứ quán tiếp Thung, Thung cứ nằm không ra, Quang Khải vào tận trong phòng hắn cũng không dậy, đến khi Quốc Tuấn phải ăn mặc giả làm nhà sư đến hắn mới tiếp. Nhưng khi cùng ngồi uống nước trà thì quân hầu của hắn lại cầm mũi tên đứng sau lưng châm vào đầu Quốc Tuấn làm chảy máu.
4. An Nam chí lược q.16.
5. Nguyên sử q.209, An Nam truyện.
6. Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #28 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2016, 04:40:14 pm » |
|
CHƯƠNG V CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA NHÂN DÂN CHÀM “Vua Ciamba chống cự với Sugatu (Toa Đô] Trong các thị trấn và thành quách vững chắc. Ở đấy, ông không sợ gì cả…” Marco Polo (đến Chiêm Thành năm 1265) Năm 1278, khi bọn Sài Thung, Kha-ra Tô-in được lệnh của Hốt Tất Liệt đi thẳng từ Giang Lăng đến Ung Châu để tiến vào biên giới Đại Việt thì những tên sứ Mông Cổ khác cũng vượt biển đến Chiêm Thành. Cuộc sống hòa bình của nhân dân Chàm qua hơn năm mươi năm bắt đầu bị đe dọa. Từ năm 1220, sau khi thoát khỏi ách thống trị của Chân Lạp 1, nhân dân Chàm đã cần cù lao động xây dựng đất nước. Người nông dân Chàm lại cày cấy trên những cánh đồng bỏ hoang trong suốt thời kỳ chiến tranh. Đê đập được khôi phục và người ta đào thêm những kênh ngòi mới 2. Các thành trấn lại đông dân cư, các cung điện được xây dựng lại. Bàn tay và khối óc sáng tạo tuyệt vời của người Chàm được thể hiện trong việc dựng các đền tháp nổi tiếng như Yang Pu Nagara (Nha Trang), Crīcā-nabhadrecvara (Mỹ Sơn) 3. Nền văn hóa Chàm lại rực rỡ dưới triều đại Jaya Indravarman (VI) (khoảng 1252-1257), một ông vua “biết tất cả các khoa học và tinh thông triết học của nhiều trường phái khác nhau 4. Khi Jaya Simhavarman (tức Indravarman VI) lên ngôi, Chiêm Thành vẫn giữ mối quan hệ hữu hảo với Đại Việt 5. và đến nay, trước âm mưu xâm lược các miền đất phương Nam của đế quốc Mông Cổ, nhân dân Chàm và nhân dân Việt càng gần nhau hơn trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung. Vào những năm cuối cùng của cuộc chiến tranh xâm lược Nam Tống, Hốt Tất Liệt đã chú ý đến các nước phương Nam “ngoài biển”, trong số đó có Chiêm Thành. Bấy giờ, thuyền buôn của các nước đó thường đến buôn bán ở vùng bờ biển Đông Nam Trung Quốc. Để thu lấy mối lợi ngoại thương, năm 1277, Hốt Tất Liệt đã lập các thị bạc ty ở Tuyền Châu, Khánh Nguyên, Thượng Hải, Hãm Phố 6. Tháng 3 năm 1278, Hốt Tất Liệt lại cử bọn quan lại Mông Cổ Mông-gu-đai (Monggu-dai), Toa Đô (Xô-ghê-tu, Sögätü) 7 và tên kiều thương người A Rập là Bồ Thọ Canh coi hành trung thư tỉnh Phúc Châu 8. Ngoài việc trấn áp nhân dân Trung Quốc miền duyên hải, chúng còn có nhiệm vụ giao dịch với thương thuyền các nước ngoài. Trước đây, viên tuyên uý sứ Quảng Nam tây đạo là Mã Thành Vượng đã từng xin Hốt Tất Liệt 3 nghìn quân và 3 trăm ngựa để đánh Chiêm Thành 9. Bấy giờ, vì đang phải dồn lực lượng vào cuộc chiến tranh xâm lược Nam Tống, Hốt Tất Liệt chưa thể đồng ý đề nghị đó. Đến nay, khi vương triều Nam Tống rút lui về những căn cứ cuối cùng ở ven biển Quảng Đông, Hốt Tất Liệt đã thực sự muốn với tay đến các nước hải ngoại phương Nam. Ngày Tân Tỵ tháng 8 năm Mậu Dần (18-9-1278), tên vua Mông Cổ ra lệnh cho bọn Toa Đô và Bồ Thọ Canh tuyên bố với thương nhân các nước này rằng nếu thành thực “vào chầu” thì được đối đãi tử tế và được tự do buôn bán 10. Ngay năm đó, Toa Đô từ chức tham tri chính sự Phúc Châu được thăng làm tả thừa Tuyền Châu, nhận nhiệm vụ “chiêu dự” các nước phương Nam vì “miền Giang Nam đã bình định, sắp có việc ở hải ngoại” 11. Toa Đô đã sai sứ đến Chiêm Thành 12 và các nước khác. Sau khi tiêu diệt nhà Nam Tống, Hốt Tất Liệt càng tích cực hơn trong việc thực hiện âm mưu xâm lược các nước phương Nam. Tháng 6 âm lịch năm Kỷ Mão (8-1279), các nước Chiêm Thành và Mã Bát Nhi (Mäbar) sai sứ đến triều đình Nguyên 13. Đến tháng chạp năm đó (4/1 – 1/2/1280), Hốt Tất Liệt ra lệnh cho bọn quan khu mật hàn lâm viện bàn với Toa Đô về việc chiêu dụ các nước “ngoài biển” 14 và ngay sau đó, hắn lại cử Toa Đô cùng với binh bộ thị lang Giáo Hóa Đích 15, tổng quản Mạnh Khánh Nguyên, vạn hộ Tôn Thắng Phu đến Chiêm Thành, dụ vua Chiêm vào chầu 16. Bọn Toa Đô còn mang 10 bức thư của Hốt Tất Liệt đến các nước khác ở phương Nam. Cũng tháng chạp năm đó, Hốt Tất Liệt sai Dương Đình Bích đi chiêu dụ nước Câu Lam (Kūlam) 17. Bấy giờ, trực tiếp quyết định việc sai sứ đến các nước phương Nam, hắn đã cấm Toa Đô không được tự tiện sai sứ nếu không có lệnh của hắn 18. ---------------- 1. Theo Chư Phiên chí của Triệu Như Quát đời Tống thì Chiêm Thành bị Chân Lạc chiếm vào năm 1199 (bản in Nhật Bản năm 1914, t.5a). Theo một bi ký Chàm thì người Chân Lạp rút khỏi Chiêm Thành năm 1220 (xem E. Aymonier: Première étude sút les ỉnscriptions tchames, J. A. Janv-fév, 1891, p.51).
2. Bi ký Chàm ở Ninh thuận, xem e.Aymonier: đã dẫn, t52-53.
3. Theo bi ký Chàm ở Mỹ Sơn. Xem L.Finot: Inscription de Mỹ Sơn, BEFEO IV, P.976.
4. Như trên, P.954.
5. G.Maspéro: Le Royaume de Champa, 1928, P.173; G. Coedès: Les états hindouisés d’ Indochine et d’ Indonésie, 1948, p.322. Harideva lên ngôi lấy tên là Jaya Simhavarman (khoảng 1257) nhưng đến năm 1266, lại đổi tên là Indravarman. (G. Maspéro trong Le Royaume de Champa bản in năm 1914, gọi là Indravarman VI (t.233), trong bản in năm 1928, chữa lại là Indravarman V (t.174). Những thế thứ này là do G.Maspéro định ra vì tên các vua Chàm thường trùng nhau chứ không có thực trong lịch sử Chàm).
6. Nguyên sử q.9 4 Thực hóa chí.
7. Nguyên sử q.10 Bản kỷ t.2a chép sự kiện này vào ngày Ất Dậu tháng 3 năm Chí Nguyên 15 (26-3-1278). Cơ quan hành chính trung ương đời Nguyên được gọi là Trung thư tỉnh. Cơ quan địa phương dưới quyền trung thư tỉnh được gọi là Hành trung thư tỉnh hay gọi tắt là hành tỉnh. Nhiều khi người ta gọi hành tỉnh với ý nghĩa đơn vị hành chính (về sau trở thành tỉnh).
Mông-gu-đai, Nguyên sử - Bản ký phiên âm là Mông Cổ Đái.
Xô-ghê-tu (Sögätü), Nguyên sử phiên âm là Toa Đô, bia Arïq q-Qaya do Diêu Toại soạn năm 1300 phiên âm là Toa Đột (xem Hồ Quảng hành tỉnh tả thừa tướng thần đạo bi trong Nguyên văn loại q.59, bản Thương vụ 1958 t 856). Thời Thanh, đổi phiên âm là Sách đa (xem Nguyên sử ngữ giải). Vì tên Toa Đô đã được dùng quen trong thư tịch Việt Nam, nên trong sách này chúng tôi không phiên âm thành Xô-ghê-tu nữa mà vẫn giữ là Toa Đô như đã nói ở phần mở đầu.
8. Bồ Thọ Canh có tổ tiên là người A Rập ở Chiêm Thành, ông nội đến Quảng Đông và cha đến Tuyền Châu. Bồ Thọ Canh nắm mối lợi hải thương ở Tuyền Châu, đã thông mưu với quân Nguyên, tập kích Lục Tú Phu nhà Tống ở Tuyền Châu, sau đó giúp quân Nguyên, đuổi theo vua Tống.
9. Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4a.
10. Nguyên sử qui Bản kỷ, t.5b.
11. Nguyên sử q.129 Toa Đô truyện t.7b.
12. Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4a.
13. Nguyên sử q.10 Bản kỷ, t.11b. Bản kỷ, chép sự kiện này vào ngày Giáp Thìn tháng 6 năm Chí Nguyên 16 (7-8-1279). Nước Mäbar, nay là vùng Coromandel, ở bờ biển đông nam của bán đảo Ấn Độ.
14. Nguyên sử q.10 Bản kỷ, t.13b. Bản kỷ chép vào ngày Bính Thân tháng 12 năm Chí Nguyên 16 (26-1-1280)
15. Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện chép là Giáo Hóa Đích, Q.11 Bản kỷ, chép là Giáo Hóa, Kinh thế đại điển tự lục chép là Giáo Hóa Địch. Giáo Hóa hay Giáo Hóa Đích là một tên phổ biến đời Nguyên (theo Uông Huy Tổ trong Tam sử đồng danh lục q.24, 5-6 thì trong Nguyên sử có đến 14 tên Giáo Hóa và 12 tên Giáo Hóa Đích). Chúng tôi đồng ý với ý kiến Pelliot cho rằng đấy là tên của người Mông Cổ (hay Nữ Chân) đặt theo ý nghĩa của tiếng Trung Quốc (P.Pelliot: Mémoires sur les coutumes du Cambodge de T cheou Ta-kouan, Paris 1951).
16. Kinh thế đại điển tự lục chinh phạt trong Nguyên văn loại q.41 (bản đã dẫn, t.570) Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4a đều chép vào tháng 12 năm Chí Nguyên 16. Nguyên sử q.11 Bản kỷ, 5a lại chép sự kiện này vào ngày Đinh Mão tháng 11 năm Chí Nguyên 17 (22-12-1280).
17. Nguyên sử q.210 Mã Bát Nhi đăng quốc truyện t.9a. Nước Kūlam nay là Quilon, ở bờ biển tây nam bán đảo Ấn Độ.
18. Như trên.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Tám, 2016, 10:01:41 pm gửi bởi Giangtvx »
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #29 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2016, 03:15:31 pm » |
|
Trong số các nước “ngoài biển”, Hốt Tất Liệt đặc biệt chú ý đến Chiêm Thành. Điều đó cũng dễ hiểu vì từ rất sớm, ngay khi còn là đất quận Nhật Nam đời Hán, nơi đây đã là một trạm quan trọng trên con đường thông thương giữa Trung Quốc và các nước Nam Dương, Ấn Độ Dương. Đấy là chưa kể xứ sở nhiều voi và trầm hương này đã có một sức hấp dẫn mãnh liệt đối với tên chúa Mông Cổ. Ngoài sứ bộ Toa Đô, Hốt Tất Liệt còn sai nhiều sứ bộ khác đến Chiêm Thành1. Cũng như Đại Việt, Chiêm Thành đã dùng một chính sách đối ngoại mềm dẻo. Vua Chiêm đã nhiều lần sai sứ mang phương vật cống cho Hốt Tất Liệt2. Hốt Tất Liệt phong vua Chiêm làm Chiêm Thành quận vương, hàm vinh lộc đại phu và cho hổ phù3.
Nếu những chức tước đó không mua chuộc được vua Chiêm thì ngược lại việc triều cống của Chiêm Thành không làm thỏa mãn dã tâm của Hốt Tất Liệt. Vào cuối năm Tân Tỵ (1281), Hốt Tất Liệt không còn dừng lại ở hoạt động chiêu dụ nữa mà đẩy mạnh việc chuẩn bị xâm lược bằng quân sự.
Ngày Kỷ Dậu tháng 10 năm Tân Tỵ (29/11/1281) Hốt Tất Liệt ra lệnh lập hành trung thư tỉnh (hay hành tỉnh) Chiêm Thành. Toa Đô được cử làm hữu thừa, Lưu Thâm làm tả thừa và viêm binh bộ thị lang người Ui-gua (Uigur) là Y-gơ-mi-sơ (Yïgmïš) 4 làm tham tri chính sự5. Như vậy là bộ máy trực tiếp chỉ huy việc xâm lược Chiêm Thành đã được thành lập. Ngay ngày hôm sau, ngày Canh Tuất (30/11/1281), Hốt Tất Liệt ra lệnh điều động một trăm thuyền biển, một vạn quân và thủy thủ, chuẩn bị “đánh các nước phiên ở hải ngoại” vào tháng giêng âm lịch năm sau (10/2 – 10/3/1283) 6. Tên vua Mông Cổ lại buộc vua Chiêm Thành phải cấp lương thực cho đoàn quân này7. Ngày Kỷ Tỵ tháng 11 (19/12/1281), Mạnh Khánh Nguyên, Tôn Thắng Phu, những tên sứ đến Chiêm Thành trước đây, đều được cử làm tuyên úy sứ Quảng Châu kiêm điều độ việc xuất chinh8. Rõ ràng là Hốt Tất Liệt chẳng những muốn chiếm đóng Chiêm Thành mà còn muốn xâm lược tất cả các nước xa hơn ở Đông Nam Á và bán đảo Ấn Độ.
Nhưng kế hoạch đem quân đánh chiếm các nước phương Nam vào năm 1282 của Hốt Tất Liệt chưa thể thực hiện dược. Ngay một số quan lại Mông Cổ trong triều đình Nguyên cũng phản đối việc xuất binh này. Nguyên sử chép: “Triều đình bàn việc đem binh đánh các nước Xiêm (vùng trung lưu sông Mê Nam - T.G.), La Hộc (Lavo, Lopburi ở hạ lưu sông Mê Nam - T.G.), Mã Bát Nhi (Mäbar, ở bờ biển đông nam Ấn Độ - T.G.), Tô Mộc Đô Lạt (Sūmūtra, tức Sumatra). Ca-ru-na-đa-xi (Kārunūsī) tâu: “Các nước đó đều bé nhỏ, ví có chiếm được cũng chẳng ích gì, hưng binh tàn hại sinh mạng của dân, sao bằng sai sứ lấy điều họa phúc mà chiêu dụ, nếu các nước đó không phục tùng thì ta đánh cũng chưa muộn”. Vua nghe theo lời nói đó” 9.
Ca-ru-na-đa-xi can việc đánh các nước phương Nam và Hốt Tất Liệt đồng ý ngừng việc xuất chinh hoàn toàn không phải vì chúng sợ “tàn hại sinh mạng của dân”. Chính lực lượng quân sự của Hốt Tất Liệt bấy giờ chưa cho phép hắn tiến hành một cuộc xâm lược ra những vùng biển xa xăm trong cùng một lúc. Tuy thèm muốn gộp các nước này vào bản đồ của đế quốc Mông Cổ, hắn cũng đành phải thực hiện kế hoạch xâm lược dần đần từng bước. Bước đầu tiên trong kế hoạch đó là phải chiếm cho được Chiêm Thành. Chiêm Thành dưới mắt Hốt Tất Liệt là một căn cứ tốt có thể làm bàn đạp để tấn công các nước Nam Á và Đông Nam Á. Không đem quân đánh các nước phương Nam khác, Hốt Tất Liệt đã chú tâm vào việc xâm lược Chiêm Thành.
Thực ra, việc chuẩn bị xâm lược Chiêm Thành bằng quân sự không phải mới bắt đầu bằng việc lập hành tỉnh Chiêm Thành vào ngày Kỷ Dậu tháng 10 năm Tân Tỵ (29/11/1281). Từ ngày Tân Dậu tháng 7 năm đó (13/8/1281), Hốt Tất Liệt đã ban cho Toa Đô “đà bồng” một thứ thuốc ngăn chướng độc để dùng trong khi đi đánh Chiêm Thành10. Như vậy là việc chuẩn bị xâm lược Chiêm Thành được tiến hành từ sớm. Nhưng đến năm Nhâm Ngọ (Chí Nguyên 19, 1282), Hốt Tất Liệt ráo riết hơn trong việc thực hiện âm mưu của hắn. Ngày Mậu Tuất tháng 6 năm Nhâm Ngọ (16/7/1282), hắn ra lệnh điều 5 nghìn quân các tỉnh Hoài Triết, Phúc Kiến, Hồ Quảng, 100 hải thuyền và 250 chiến thuyền giao cho Toa Đô chỉ huy chuẩn bị đánh Chiêm Thành11. Đến ngày Giáp Tuất tháng 11 (19/02/1282), Hốt Tất Liệt theo lời đề nghị của trung thư tỉnh, ra lệnh sung tất cả những người tử tù (trừ tội “mưu phản” và “đại nghịch”) làm lính đánh Chiêm, Nhật và Miến12. Để chuẩn bị chu đáo cho việc xuất chinh Chiêm Thành, Hốt Tất Liệt còn sai Lý Hằng đến đảo Hải Nam tích trữ lương thực, bắt nhân dân người Lê tạo khí giới, đóng thuyền biển13. Gánh nặng của chiến tranh đã đè lên vai nhân dân miền Nam Trung Quốc mà các đội quân xâm lược Chiêm Thành lại còn là tai họa đối với họ. Bọn tướng chỉ huy đã thả lỏng cho quân lính. tha hồ cướp phá nhân dân. Một bi ký chép: “ Quân đánh Chiêm Thành, chúng cho là đi sâu vào đất chết, oán giận không phát ra được, tất cả các thành thị đi qua, chúng đều hoành hành cướp bóc. Cư dân ở ven biển, mười nhà thì đến chín nhà sạch không, lúa giống mất hết” 14. Tên vua Mông Cổ lại nhiều lần sai sứ đến Đại Việt đòi vua Trần cho mượn đường và cấp lương thực cho đội quân đánh Chiêm Thành. Tất nhiên là vua Trần đã cự tuyệt những yêu sách đó15. Đánh Chiêm Thành trước khi chiếm được Đại Việt là một điều khó khăn đối với Hốt Tất Liệt nhưng hắn đã quyết định như vậy có lẽ vì hắn thấy được sức mạnh của Đại Việt - từ năm 1258 - và cho rằng quân Nguyên có thể chiến thắng Chiêm Thành dễ dàng hơn. Có điều chắc chắn là việc đánh chiếm Chiêm Thành của Hốt Tất Liệt ngoài mục đích tạo nên một cái cầu để xâm lược các nước phương Nam, còn là để tạo thành một gọng kìm tấn công vào mặt Nam Đại Việt sau này.
----------------- 1. Nguyên sử q.210 Bản kỷ t.13a chép một lần “chiêu dụ” Chiêm Thành vào ngày Đinh Dậu tháng 12 năm Chí Nguyên 16 (27/1/1280) Nguyên sử q.11 Bản kỷ chép một lần “chiêu dự” vào ngày Nhâm Thân tháng 6 năm Chí Nguyên 17 (30/6/1280) (t.2b), một lần vào ngày Đinh Mão tháng 11 năm đó (22-12-1280) (t.5a).
2. Nguyên sử chép Chiêm Thành sai sứ cống một lần vào ngày Giáp Thìn tháng 6 năm Chí Nguyên 16 (7/8/1279) (q.10 Bản kỷ, t.11b), một lần vào tháng 2 năm Chí Nguyên 17 (3/3 – 31/3/1280) (q.210 Chiêm Thành truyện, t.4a), một lẩn vào ngày Mậu Dần tháng 8 năm đó (4/9/1280) (q.11 Bản kỷ t.3b), một lần vào ngày Tân Dậu tháng 7 năm Chí Nguyên 18 (13/8/1281) (q.11 Bản kỷ t.8a), một lần vào ngày Nhâm Thìn tháng 9 năm đó (12/11/1281) (q.II Bản kỷ t.9a).
3. Nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.4a chép sự kiện này vào năm Chí Nguyên 15 (1278), sau khi Toa Đô sai sứ đến Chiêm Thành; còn Bản kỷ thì lại chép việc này vào ngày Kỷ Dậu tháng 10 năm Chí Nguyên 18 (29/11/1281) (Nguyên sử q.11, t.9a).
4. Y-gơ-mi-sơ (Yïgmïš), Nguyên sử q.13 Bản kỷ t.13a phiên âm là Diệc Hắc Mê Thất. Nguyên sử q.131 có chép Diệc Hắc Mê Thất truyện. Nhưng Nguyên sử q.II Bản kỷ t.9a, khi chép những viên quan của hành tỉnh Chiêm Thành, thì lại chép là Dã Lý Mê Thất. Dã Lý Mê Thất cũng chỉ là Diệc Hắc Mê Thất mà thôi, do chỗ chép nhầm chữ hắc ra chữ lý. Tục tư trị thông giám đời Thanh đã sai lầm khi xem đấy là tên hai người khác nhau và đổi thành Ngạch Mật Thực và I Hách Mật Thực.
5. Theo Nguyên sử q.11 Bản kỷ t.9a.
6. Nguyên sử q.II Bản kỷ t.9a-9b.
7. Nguyên sử q.II Bản kỷ t.9a-9b.
8. Nguyên sử q.II Bản kỷ t.9b.
9. Nguyên sử q.134 Ca Lỗ Nạp Đáp Tư truyện, t.10b. Ca Lỗ Nạp Đáp Tư (có chỗ chép là Hợp Lỗ Nạp Đáp Tư) là phiên âm tên Kārunūsī, Ca-ru-na-đa-xi người Ui-gua (Uigur) tinh thông nhiều thứ tiếng ngoại quốc. Hốt Tất Liệt dùng y trong việc dịch kinh và giao dịch với sứ giả nước ngoài.
10. Nguyên sử q.11 Bản kỷ, t.8a.
11. Nguyên sử q.12 Bản kỷ, t.3b - 4a. Nguyên sử q.129 Toa Đô truyện, t 7b chép là 1 nghìn thuyền. Nguyên sử kỷ sự bản mạt (bản của Thương vụ ấn thư quán), t.2 1 chép là 5 nghìn quân, 1 trăm hải thuyền và 2 nghìn 500 chiến thuyền.
12. Nguyên sử q.12 Bản kỷ, t.6b.
13. Xem bài miếu bi Lý Hằng do Diêu Toại soạn trong Mục am tập (bản Vũ Anh điện) q.12, t.8b. Cũng xem Nguyên sử q.129 Lý Hằng truyện t.11a.
14. Dĩnh Châu vạn hộ để công thần đạo bi trong Mục am tập của Diêu Toại, bản Vũ Anh điện, t.3a.
15. Ngày Kỷ Tỵ tháng 11 năm Chí Nguyên 18 (1912-1281), Hốt Tốt Liệt đã đòi Đại Việt cấp lương cho quân hành tỉnh Chiêm Thành (Nguyên sử q.11 Bản kỷ, t.9b). Về năm Chí Nguyên 19 (l282), An Nam chí lược q.4 chép: “Năm Chí Nguyên, Nhâm Ngọ (1282) hữu thừa Toa Đô, tả thừa Lưu Thâm, tham chính A Lý (‘Ali - có lẽ là Y-gơ-mi-sơ mà An Nam chí lược chép nhầm - T.G.), dùng binh ở Chiêm Thành, triều đình sai sứ dụ An Nam cho mượn đường, giúp quân, cấp lương, thế tử (chỉ vua Trần - T.G.), không nghe”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|