Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #50 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 02:27:41 pm » |
|
Thoát Hoan lại đuổi theo quân Trần ráo riết hơn nữa. Lúc này, Chiêu Minh vương Quang Khải đã ra bắc gặp vua Trần. Hưng Đạo vương Quốc Tuấn thì từ sau khi thấy cánh quân ngược sông Hồng chưa thể tiến được, cũng đã rút quân từ vạn Kiếp về chỗ vua Trần1. Bấy giờ, Toa Đô đã chiếm được Nghệ An, Thanh Hóa, đang đem hết lực lượng tiến ra bắc, phối hợp với cánh quân Thoát Hoan, định ép triều đình Trần vào giữa để bắt gọn. Trong tình thế vô cùng nguy hiểm đó vua Trần và Trần Quốc Tuấn quyết định rút về các lộ phía đông giáp bờ biển (vùng Hải Phòng, Quảng Ninh ngày nay), là vùng mà sức kiểm soát của kẻ thù chưa vươn tới được chờ cho cánh quân của Toa Đô ra hết phía bắc, sẽ quay vòng vào Thanh Hóa là vùng địch đã đi qua. Và như vậy lúc đó quân ta sẽ thoát khỏi cái thế bị kẹp giữa hai gọng kìm, chỉ còn phải chống cự ở một phía. Đó là một kế hoạch rút lui thần kỳ, vô cùng sáng suốt.
Vua Trần từ Thiên Trường, ra cửa Giao Hải (cửa sông Hồng ở huyện Xuân Thủy, Nam Định) đi theo biển, ngược lên phía bắc rồi quay vào Tam Trĩ nguyên (sông Ba Chẽ, ở huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh2. Quân giặc đuổi đến cửa Giao Hải thì bị mất hút không biết vua Trần đi đâu3. Sở dĩ bọn chúng đuổi không kịp vì vua Trần và triều đình đã rút lui bằng thuyền nhỏ4. Đến Tam Trĩ, vua Trần sai đem thuyền ngự đi không ra cửa Ngọc Sơn (Vạn Ninh, Móng Cái) để đánh lừa giặc5. Nhưng rồi bọn tướng lĩnh Nguyên cũng phát hiện được và lại đem quân đuổi theo.
Lúc đó, Toa Đô cũng đã dẫn quân từ Thanh Hóa ra đến Trường Yên (Ninh Bình). Cánh quân này đóng lâu ở Chiêm Thành, khổ sở đói khát vì ít lương thực, nay càng thiếu thốn. Tang-gu-tai và Lưu Khuê báo cáo tình hình đó với Thoát Hoan(6). Bấy giờ Thoát Hoan đang đóng quân ở Thiên Trường. Hắn biết rằng vua Trần đã ra phía Hải Đông (nay là Quảng Ninh), không cần đánh ép hai mặt nữa, mặt khác hắn cũng chưa muốn tập trung quân vì vấn đề cung cấp lương thực rất khó khăn. Chính vì thế, Thoát Hoan đã ra lệnh cho Toa Đô đóng quân lại ở Trường Yên để kiếm lương ăn7. Từ Nghệ An, Thanh Hóa ra đến Trường Yên, Toa Đô đã bắt được một số quan lại của ta và một số người Tống lánh nạn8. Một bộ phận cánh quân Toa Đô do Giảo Kỳ và Tang-gu-tai chỉ huy tiến ra phối hợp với quân Thoát Hoan, còn Toa Đô vẫn ở lại Trường Yên9. Thoát Hoan sai Lý Hằng, Ô Mã Nhi cùng Giảo Kỳ và Tang-gu-tai đuổi theo vua Trần ở ngoài biển. Ngày Giáp Tuất, 2 tháng 3 âm lịch (7/4/1285), hai vua Trần liền bỏ thuyền, đi bộ, về Thủy Chú, lấy thuyền ra sông Nam Triệu (tức sông Bạch Đằng), rồi lại ra cửa Đại Bàng (cửa Văn Úc), theo đường biển đi thẳng vào Thanh Hóa10. Mãi đến ngày Nhâm Ngọ, 10 tháng 3 (15/4/1285), thủy quân của Giảo Kỳ, Tang-gu-tai mới đến “vây” ở Tam Trĩ11. Quân của Lý Hằng cũng đuổi theo vua Trần ở biển nhưng không gặp12. sau đó quân Nguyên bắt được một số thuyền bỏ lại, biết là vua Trần đã lên bộ. Chúng liền đuổi ba ngày ba đêm trên đường bộ13, nhưng lúc đó quân ta đã xuống thuyền rút lui vào Thanh Hoá14.
Đại quân rút khỏi miền Bắc. Đó là cơ hội cho một số tông thất quan lại hèn nhát đầu hàng giặc. Khi quân Nguyên đuổi theo vua Trần đến cửa Giao Hải thì Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn cùng với bố hắn là Vũ Đạo hầu, em hắn là Minh Thành hầu, con trai hắn là Minh Trí hầu và con rể là Trương Hoài hầu hàng Nguyên15. Một số quan nhà Tống lưu vong ở Đại Việt bây giờ cũng hàng Nguyên như tham chính họ Tăng, Tô Bảo Chương (con thiếu bảo họ Tô), Trần Đinh Tôn (con Trần Trọng Huy) 16. Văn chiêu hầu Trần Văn Lộng, viên tướng giữ sông Tam Đái trước kia, cũng đã hàng giặc. Đến ngày 15 tháng 3 âm lịch (21/4/1285), Chiêu Quốc vương Trần ích Tắc cùng con là Nghĩa Quốc hầu và bọn Phạm Cự Địa, Lê Diễn, Trịnh Long đem gia đình ra hàng17.
----------------- 1. Toàn thư q. 5, t. 47a chép lúc vua Trần từ Thiên Trường ra Tam Trĩ có Quốc Tuấn đi hộ tống.
2. Toàn thư q. 5, t. 47a. An Nam chí lược đã in nhầm chữ Tam Trĩ ra Tam Thì. Bài bia Lý Hằng do Diêu Toại soạn (Trug thư tả thừa Lý công gia miếu bi trong Mục am tập q. 12, bản Vũ Anh điện tụ trân, t. 8b) chép rằng : “Vua nước đó bèn đem cả nước đi ra biển” (cử quốc hàng hải). Điều đó chứng tỏ rằng vua. Trần đã rút đi với một lực lượng rất lớn, nghĩa là cùng triều đình.và đại quân.
3. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 7b; Kinh thế đại điển tự lục, Nguyên văn loại q. 41, bản đã dẫn, t. 564.
4. Toàn thư q. 5, t. 47a.
5. Như trên.
6. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. 7b.
7. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. 7b. Nguyên sử q. 129 Toa Đô truyện lại chép: “Thoát Hoan sai Toa Đô đóng đồn ở Thiên Trường để kiếm ăn, cách đại doanh hơn 200 dặm”. Có lẽ Toa Đô đóng quân giữa Trường Yên (Ninh Bình) và Thiên Trường (Nam Định).
8. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 7b: “lại bắt được ở Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa, Trường Yên rể cửa Trần thượng thư nhà vong Tống, phụng ngự họ Lương, Triệu Mạnh Tín, lang tướng họ Diệp của Giao Chỉ”.
9. Con trai Toa Đô là đô nguyên soái Bách Gia Nô đã theo cha đánh Đại Việt nhưng sau đó lại rút về nước cùng Thoát Hoan (xem Nguyên sử q. 129, Bách Gia Nô truyện t. 9a). Như vậy có lẽ Bách Gia Nô đã ra phối hợp với Thoát Hoan cùng lúc với cánh quân Ô Mã Nhi, Giảo Kỳ.
10. Toàn thư q. 5, t. 47b. Toàn thư chép rằng ngày Giáp Tuất là ngày 1 tháng 3, như vậy là nhầm. Ngày mồng 1 tháng 3 âm lịch năm Ất Dậu là ngày Quý Dậu (6/4/1285), còn ngày giáp tuất là ngày 2 tháng 3 (7/4/1285). Cương mục q. 7 có chú thích: “Cửa biển Đại Bàng nay ở xã Đại Bàng huyện Nghi Dương tỉnh Hải Dương”. Huyện Nghi Dương là huyện Kiến Thụy, Hải Phòng ngày nay. Gần cửa Văn Úc, trước đây còn có các tên Tiểu Bàng, Bàng Động. Vậy cửa Đại Bàng là cửa Văn Úc.
11. An Nam chí lược q. 4. An Nam chí lược chép rằng ngày 9 tháng 3 (âm lịch) là ngày Nhâm Ngọ, thực ra, ngày 10 tháng 3 mới là ngày Nhâm Ngọ (15/4/l285), còn ngày 9 tháng 3 là ngày Tân Ty (14/4/1285).
12. Nguyên sử q. 13 Bản kỷ t. 9b: “Trần Nhật Huyên chạy ra cửa biển, Trấn Nam vương sai Lý Hằng đuổi theo”, Nguyên sử q. 129 Lý Hằng truyện chép: “Hằng đuổi ở biển, đánh bại, bắt được 200 thuyền, suýt bắt được thế tử “ (t. 11a). Việc suýt bắt được thế tử ở đây cũng là do Nguyên sử bịa đặt, giống như An Nam chí lược nói Giảo Kỳ và Tang-gu-tai suýt bắt được thế tử ở Tam Trĩ, tuy vua Trần đã đi khỏi Tam Trĩ từ 8 ngày trước. Bia Lý Hằng do Diêu Toại soạn (Mục am tập, q. 12, 8b) chép là Hằng bắt được 300 thuyền. Số thuyền mà Hằng bắt được là thuyền vua Trần bỏ lại.
13. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện chép: “Nhật Huyên (tức Thánh Tông - T.G) đến cửa biển An Bang, bỏ thuyền chèo, giáp trượng, chạy trốn vào rừng núi. Quan quân (chỉ quân Nguyên - T. G) chọn cái tốt để đi, còn thừa đều đốt hết. Rồi lại đuổi ba ngày ba đêm trên bộ” (t. 8a).
14. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 8a “Bắt được tù binh, nói rằng thượng hoàng thế tử chỉ còn bốn chiếc thuyền, Hưng Đạo vương và con ông ba chiếc, thái sư (chỉ Quang Khải - T.G) 80 chiếc chạy vào phủ Thanh Hóa. Toa Đô cũng báo Nhật Huyên, thái sư chạy vào Thanh Hóa”.
15. Nguyên sử q.209 An Nam truyện, t. 7b. Kinh thế đại điển tự lục (bản đã dẫn, t. 564) chép Trương Hoài hầu là Chương Hoài hầu. An Nam chí lược q. 4 chép là Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn hàng Nguyên sau trận ở sông Đại Hoàng 10-3-1285. Trần Tú Hoãn, có người đọc là Trần Tú Viên.
16. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 7b An Nam chí lược q. 10 chép là Trần Văn Tôn. Tham chính họ Tăng có lẽ là Tăng Uyên Tử, thiếu bảo họ Tô có lẽ là Tô Lưu Nghĩa trong An Nam chí lược (q. 10 An Nam chí lược chép rằng con Tô Lưu Nghĩa là Tô Cảnh Do đầu hàng quân Nguyên.
17. Theo Toàn thư q. 5, t. 47b và An Nam chí lược q. 4, q. 13. An Nam chí lược q. 4 chép ích Tắc hàng vào ngày 15 tức ngày mậu tý. Chỗ này nhầm, ngày 15 là ngày đinh hợi. Ngày mậu tý là ngày 16. Toàn thư q. 5 cho biết Ích Tắc “có lòng ngầm muốn tranh vị đích, đã từng viết thư riêng nhờ khách buôn ở Vân Đồn xin quân Nguyên xuống Nam. Đến nay, quân Nguyên vào cướp liền theo chúng, mong được Nguyên phong cho làm An Nam quốc vương… (t. 47b-48a).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #51 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 02:36:07 pm » |
|
Khi bọn tướng Nguyên đuổi theo vua Trần không kịp, Thoát Hoan cho rút quân về đóng ở Thăng Long và các địa điểm dọc sông Hồng. Lý Hằng đề nghị đóng thành ở Thiên Trường, tích trữ lương thực, chờ giao chiến với quân Trần, nhưng các tướng khác bàn là không nên, cuối cùng, chúng rút khỏi Thiên Trường1. Có lẽ Hằng đã thấy rõ vị trí xung yếu của Thiên Trường - nơi mà trước kia vua Trần đã lấy làm căn cứ, có thể đóng quân ở đấy để ngăn chặn cuộc phản công của quân Trần từ Thanh Hóa ra, nhưng bọn tướng tá khác lại sợ đóng quân phân tán nhiều nơi, dễ bị tập kích.
Trong cánh quân kéo từ Chiêm Thành ra, có một bộ phận do Giảo Kỳ và Tang-gu-tai chỉ huy đi theo Thoát Hoan. Một số Việt gian hàng giặc ở mặt trận Thanh - Nghệ cũng đã ra Bắc. Còn Toa Đô bấy giờ đang đóng ở Trường Yên (Ninh Bình). Khi nghe báo là vua Trần và các tướng đã vào Thanh Hóa, Thoát Hoan liền ra lệnh cho Toa Đô từ Trường Yên lại quay lại tấn công vào Thanh Hóa. Để giúp Toa Đô tập kích quân Trần ở Thanh Hóa, Ô Mã Nhi được lệnh đem một nghìn ba trăm quân và sáu mươi chiến thuyền vào phối hợp với Toa Đô2. Như vậy là trong khoảng nửa cuối tháng 3 âm lịch, Toa Đô lại một lần nữa đánh Thanh Hóa, nơi mà cánh quân của y đã vượt qua, có điều lần này thì tấn công từ phía bắc vào. Nhưng cánh quân mệt mỏi của Toa Đô, chưa kịp nghỉ ở Trường Yên, đã không thể nào tiến mạnh và tất nhiên không thể tìm ra chỗ ở của vua Trần. Quân ta rút vào Thanh Hóa là để củng cố lực lượng, đợi thời cơ phản công địch.
Quân giặc đang gặp khó khăn về lương thực vì đường tiếp tế từ Trung Quốc đến thì xa còn nhân dân thì phản kháng khắp nơi, làm vườn không nhà trống hoặc chiến đấu quyết liệt không để chúng tự do cướp bóc. Trong lúc đó, mùa hè đến, giáng lên đầu chúng những tai họa mới. Quân giặc ốm đau rất nhiều vì “gặp lúc nắng mưa, bệnh dịch hoành hành” 3. Nhưng không phải chỉ có thế, mùa mưa nhiệt đới còn làm cho giặc khốn khổ vì nước lụt dâng to, ngập ướt doanh trại4.
Chính vào lúc đó, phong trào đánh giặc của nhân dân đang nổi lên mạnh mẽ. Nhân tình thế khó khăn của kẻ thù, nhân dân khắp nơi tăng cường hoạt động chống giặc. Tiêu biểu nhất là việc nhân dân miền núi Lạng Sơn phối hợp với cánh quân địa phương của triều đình đánh tan đoàn hộ tống bọn Việt gian sang kinh đô Nguyên.
Tháng 4 âm lịch (tháng 5-1285), Thoát Hoan sai Mang-lai Xi-ban (Manglai Siban) 5 đưa bọn Việt gian Chương Hiến hầu Trần Kiện, Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn và em hắn là Minh Thành hầu, con của Chiêu Quốc vương Trần ích Tắc là Nghĩa Quốc hầu cùng với gia thuộc chúng về Trung Quốc6. Khi bọn chúng đi qua Lạng Sơn, đội dân binh người Tày do Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh chỉ huy, phối hợp với cánh quân Trần ở địa phương đã tập kích bọn chúng ở trại Ma Lục vùng Chi Lăng7. Bọn Việt gian và đoàn quân hộ tống của Mang-lai Xi-ban bị vây đánh cả ngày lẫn đêm, chúng thoát khỏi chỗ phục kích này lại gặp chỗ phục kích khác8. Nguyễn Địa Lô là gia nô của Trần Quốc Tuấn đã bắn chết Trần Kiện ngay trên mình ngựa. Thuộc hạ của Kiện là Lê Trắc vác xác hắn trên ngựa chạy đến Khâu Ôn (Ôn Châu, Lạng Sơn) mới chôn9. Trần Tú Hoãn thoát được sang biên giới, Nghĩa Quốc hầu chạy trốn trở lại vào doanh trại quân Nguyên10. Các Xe lương thực, hành lý của chúng đều lọt vào tay quân dân ta11. Bọn tùy tùng cũng bị giết chết gần một nửa12.
Cuộc chiến đấu mãnh liệt của quân dân khắp các địa phương, đặc biệt là chiến thắng ở trại Ma Lục đã tạo điều kiện để mở đầu một giai đoạn mới của cuộc kháng chiến: giai đoạn phản công thắng lợi.
------------------ 1. Xem bài bia Lý Hằng do Diêu Toại (1238-1314) soạn (“Trung thư tả thừa Lý công gia miếu bi” trong Mục am tập q. 12, bản Vũ Anh điện tụ trân, t. 8b) và Nguyên sử tân biên của Ngày Nguyên q. 29, t. 37a.
2. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện chép: “Toa Đô cũng báo Nhật Huyên, thải sư (chỉ Quang Khải - T.G) chạy vào Thanh Hóa.ô Mã Nhi Bạt ĐÔ đem 1.300 quân và 60 chiến thuyền giúp Toa Đô tập kích quân của thái sư, (8a). An Nam chí lược q. 4 cũng chép vào tháng 3 “Toa Đô lại vào Thanh Hóa để chiếu dụ những người lai phụ. Như vậy là trong tháng 3 âm lịch, Toa Đô lại vào Thanh Hóa lần nữa. Những người nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Nguyên trước đây đã không chú ý đến sự kiện này. Nguyên sử q. 13 Thế tổ bản kỷ chép rằng Thoát Hoan đã “sai bọn Toa Đô trở lại Ô Lý, An Nam đem quân đuổi theo. Toa Đô tử chiến” (t.9b). Tuy Bản kỷ chép việc này vào tháng 5 âm lịch vì Toa Đô chết vào tháng 5, nhưng việc sai vào Ô Lý chắc hẳn là chỉ việc Toa Đô đem quân trở lại vào Thanh Hóa từ tháng 3 âm lịch. Ở đây Bản kỷ cũng đã chép những việc từ tháng 2, tháng 3 âm lịch vào tháng 5 âm lịch như việc Lý Hằng đuổi theo vua Trần ở biển… do đó chúng. ta không thể coi những việc Bản kỷ chép vào tháng 5 hoàn toàn là thuộc tháng 5.
3. Nguyên sử q. 13 Thế tổ bản kỷ, t. 9b.
4. Nguyên sử q. 129 Lý Hằng truyện; “Trung thư tả thừa Lý công gia miếu bi” trong Mục am tập q. 12, bản đã dẫn, t. 8b.
5. Nguyên sử An Nam truyện và An Nam chí lược phiên âm là Minh Lý Tích Ban.
6. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện và An Nam chí lược q. 13, q. 19 Tự sự.
7. Chúng tôi cho rằng Nguyễn Thế Lộc tức quản quân Nguyễn Lộc, người đã chỉ huy cánh quân hoạt động ở vùng Thất Nguyên (Tràng Định), Vĩnh Bình (Cao Lộc, Lạng Sơn) trước đây (xem phần trên). Dựa vào chỗ Toàn thư (q. 5, t. 46b) nói rằng Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh là thố hào Lạng Giang, chúng tôi đoán định họ là người dân tộc Tày, cũng như đội quân của họ. Nhưng phối hợp với cánh quân đó có thể có một bộ phận quân triều đình đã ở lại vùng này. Toàn thư đã chép trong trận phục kích ở đây có gia nô của Hưng Đạo vương là Nguyễn Địa Lô. An Nam chí lược q. 19 Tự sự nói là bọn Trần Kiện bị quân Trần đánh. Nguyên sử q. 209, 8a cũng nói là bọn nay bị Hưng Đạo vương đánh giết.
Toàn thư chép trận tập kích này vào tháng hai âm lịch (8/3 – 5/4/ 1285) sau khi chép việc Trần Kiện hàng giặc. Nhưng An Nam chí lược trong nhiều chỗ (q. 13, q. 19) đều chép là tháng tư (6/5 – 4/6/1285). Lê Trắc đã chép đúng vì chính y là người qua trận tập kích này. Điều này cũng phù hợp với Nguyên sử. Toàn thư chép là trận tập kích xảy ra ở trại Ma Lục. An Nam chí lược chép là bọn Trần Kiện bị đánh ở Chỉ Lăng (q. 13), có chỗ lại chép rõ là ở trại Chi Lăng (Tự sự). Do đó chúng tôi cho rằng trại Ma Lục là ở Chi Lăng.
8. An Nam chí lược q. 13.
9. Toàn thư q. 5, t. 46b; An Nam chí lược q. 19 Tự sự.
10. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 8a.
11. An Nam chí lược q. 13.
12. An Nam chí lược q. 19 Tự sự.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #52 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 02:45:58 pm » |
|
Vào lúc quân thù đang gặp nhiều khó khăn vì lương thực, khí hậu và vô cùng hoang mang hoảng sợ trước sự tập kích mãnh liệt của quân dân các địa phương thì từ căn cứ Thanh Hóa, vua Trần và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn thấy rằng thời cơ phản công đã đến. Bấy giờ Toa Đô cũng đang đóng ở Thanh Hóa. Tháng 4 năm Ất Dậu (6/5 – 4/6/1285), Hưng Đạo vương cùng với Chiêu Minh vương Quang Khải, Chiêu Văn vương Nhật Duật và các tướng lĩnh khác đem binh thuyền vượt qua vùng chiếm đóng của Toa Đô, tiến ra Bắc 1. Trước đây, khi lực lượng chưa đủ mạnh, quân ta đã rút về Thanh Hóa để tránh sự tấn công từ hai mặt của kẻ thù, thì đến nay, Trần Quốc Tuấn lại chủ trương đánh ra Bắc cắt đôi lực lượng kẻ thù, không để cho Toa Đô và Thoát Hoan phối hợp với nhau. Mục tiêu tấn công trước tiên của Trần Quốc Tuấn là các cứ điểm của giặc đóng dọc khúc sông Hồng chảy qua vùng Hưng Yên ngày nay. Chiếm được phòng tuyến này, quân Trần có thể thực hiện được việc cắt đứt con đường nối Toa Đô và Thoát Hoan, đồng thời có thể tiến lên đánh chiếm Thăng Long. Một bộ phận quân Nguyên đóng ở các đồn dọc sông Hồng này là cánh quân từ Chiêm Thành kéo ra do Giảo Kỳ và Tang-gu-tai chỉ huy trước đây đã tiến ra phối hợp với Thoát Hoan 2. Cánh quân từ Chiêm Thành kéo ra này, sau khi vượt qua vùng Thanh - Nghệ, lại tiếp tục tham gia cuộc truy kích vua Trần vào giữa tháng 3 âm lịch, bây giờ đã vô cùng mệt mỏi. Đối với cánh quân từ Chiêm Thành kéo ra, vua Trần đã có nhận xét: “Quân giặc nhiều năm đi xa, quân nhu chở đi vạn dặm tất rất mệt nhọc. Lấy nhàn đối mệt, trước hết làm mất khí thế của chúng thì nhất định phá được” 3. Trong tháng 4 năm Ất Dậu (6/5 – 4/6/1285), Hưng Đạo vương đã đem quân tấn công vào đồn A Lỗ. Đồn này nằm gần chỗ sông Hồng nối với sông Luộc ngày nay, có lẽ đây là cứ điểm đầu tiên trên phòng tuyến của quân Nguyên trên sông Hồng. Viên tướng Nguyên giữ đồn này là vạn hộ Lưu Thế Anh đã phải rút chạy 4. Cũng trong tháng 4 âm lịch, một loạt các đồn trại khác của giặc trên sông Hồng bị quân ta tấn công. Chiêu Thành vương (không rõ tên), Hoài Văn hầu Quốc Toản và tướng quân Nguyễn Khoái được lệnh đem quân đón đánh quân Nguyên ở bến Tây Kết 5. Chiêu văn vương Trần Nhật Duật và các tướng khác đã đánh tan giặc ở cửa Hàm Tử 6. Cũng như những ngày chiến đấu ở mặt trận Tuyên Quang, trong quân Nhật Duật giờ đây vẫn có nhiều binh sĩ Tống. Họ là những người Trung Quốc không chịu sống dưới ách áp bức của bọn thống trị ngoại tộc, đã sang Đại Việt, cùng với quân dân Việt kề vai chiến đấu chung kẻ thù chung. Trong số đó có Triệu Trung đã trở thành gia tướng của Nhật Duật. Trong trận Hàm Tử, Triệu Trung và những người cùng tổ quốc với ông đã mặc áo Tống, cầm cung tên, chiến đấu dưới quân kỳ của Nhật Duật, đóng góp một phần không nhỏ vào chiến thắng này [b7[/b][/sup]. ----------------- 1. Quân Trần rút vào Thanh Hóa vào đầu tháng 3 âm lịch, sau đó Toa Đô được lệnh của Thoát Hoan đem quân từ Trường Yên (Ninh Bình) vào Thanh Hóa cũng trong tháng 3 âm lịch (xem trước). Vào tháng 4 âm lịch thì quân ta đã đánh vào nhiều nơi ở miền Bắc (A Lỗ, Tây Kết, Hàm Tử…). Mãi đến ngày 7 tháng 5 âm lịch (17/6/1285) mới nghe tin Toa Đô từ Thanh Hóa ra (xem sau). Như vậy rõ ràng là quân ta đã vượt qua vùng Toa Đô đóng để ra Bắc từ tháng 4 âm lịch, hẳn là đi đường biển.
2. Chúng tôi đoán định như vậy là vì sau này khi Thoát Hoan rút khỏi Thăng Long, Giảo Kỳ (theo An Nam chí lược) và Tang-gu-tai (theo Nguyên sử An Nam truyện) đều rút sau.
3. Toàn thư q. 5, t. 48a chép: “Nguyên soái Toa Đô đem 50 vạn quân từ Vân Nam qua Lão Qua đến thẳng Chiêm Thành cùng người Nguyên hội ở châu Ô, Lý rồi cướp Hoan ái, tiến đóng ở Tây Kết, hẹn 3 năm san bằng nước ta. Vua bàn với quần thần rằng: “Quân giặc nhiều năm đi xa… nhất định phá được”. Tiếp đó Toàn thư chép đến việc tháng 4 âm lịch, vua Trần sai các tướng đánh Tây Kết và Hàm Tử. Ngoài điểm sai lầm là Toàn thư đã chép Toa Đô đem quân từ Vân Nam đến Chiêm Thành theo đường Lào (xem.chương VI), ở đây Toàn thư đã có những lầm lẫn khác. Trong tháng 3 âm lịch, Toa Đô còn đóng ở Thanh Hóa, mãi đến đầu tháng 5 âm lịch mới tiến ra Bắc Bộ, không phải là trước tháng 4 đã “tiến đóng ở Tây Kết” như Toàn thư chép. Do chỗ lầm lẫn này của Toàn thư mà nhiều người đã nghĩ rằng các trận Tây Kết (lần thứ nhất) và Hàm Tử vào tháng 4 âm lịch là đánh vào cánh quân Toa Đô, hoặc hơn nữa, cho là đánh vào cánh quân Toa Đô, đang tiến. Thực ra, bấy giờ quân Toa Đô chưa tiến ra, còn các trận trong tháng 4 âm lịch là đánh vào các đồn trại mà Thoát Hoan đã bố trí dọc sông Hồng, trong đó có một bộ phận quân Nguyên từ Chiêm Thành kéo ra từ trước do Tang-gu-tai và Giảo Kỳ chỉ huy.
4. Kinh thế đại điển tự lục (Nguyên văn loại q. 41, bản đã dẫn t. 564). An Nam chí (nguyên) chép rằng sông Hải Triều phân lưu từ sông A Lỗ (bản đã dẫn, t. 47). Sông Hải Triều là sông Luộc (xem chú thích ở phần trước). Vậy sông A Lỗ là đoạn sông Hồng chảy qua chỗ nối với sông Luộc. Do đó, chúng tôi xác định đồn A Lỗ mà Kinh thế đại điển tự lục chép là ở gần chỗ này.
5. Toàn thư q. 5, t. 48a - b. Toàn thư chép là “Tây Kết bộ đầu”. Bộ đầu có nghĩa là bến (như Đông Bộ Đầu là bến Đông). Gần đây, ở huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên còn có tên xã cũ là Đông Kết. Có lẽ Tây Kết là ở phía tây ở Đông Kết và nằm giáp sông Hồng. Và như vậy, Tây Kết là ở gần bãi Thiên Mạc (Mạn Trù châu).
6. Toàn thư q. 5, t. 48b. Cửa Hàm Tử (Hàm Tử quan) ở xã Hàm Tử bên sông Hồng, nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
7. Toàn thư q. 5, t. 48b: “Quan quân cùng quân Nguyên giao chiến ở cửa Hàm Tử. Chư quân đều ở đó. Chỉ có quân của Chiêu Văn vương Nhật Duật có quân Tống, mặc áo Tống, cầm cung tên để đánh… Ngày trước, lúc Tống mất nước, người Tống theo về ta, Nhật Duật thu nạp họ, có Triệu Trung làm gia tướng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #53 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 02:57:54 pm » |
|
Sau chiến thắng Hàm Tử, Chiêu Minh vương Quang Khải, Hoài Văn hầu Quốc Toản cùng các tướng khác đem quân vào đánh Chương Dương1 và Thăng Long. Phối hợp với quân chủ lực của triều đình còn có các đạo dân binh ở các lộ do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp và em là Nguyễn Truyền chỉ huy2. Quân ta đã tiến đánh Thăng Long từ các mặt bộ và thủy. Trong khi tấn công vào thành, tướng Trần là Trung Thành vương đã đánh tan quân giặc do thiên hộ Mã Vinh chỉ huy ở Giang Khẩu (vùng phố Hàng Buồm, Hà Nội hiện nay3). Sau đó quân ta vây chật lấy thành Thăng Long và tấn công rất dữ dội. Tài liệu thời Nguyên chép rằng: “… Thủy lục đến đánh vào đại doanh, vây thành mấy vòng, tuy chết nhiều nhưng quân tăng thêm càng trở nên đông, quan quân (chỉ quân Nguyên - T.G) sớm tối đánh rất khốn đơn, thiếu thốn, khí giới đều hết…”4. Trong tình hình đó, Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a đã họp bọn tướng lĩnh để bàn bạc. Bọn chúng cũng phải nhận rằng: “Người Giao (chỉ quân ta - T.G) chống đánh quan quân (chỉ quân Nguyên - T.G), tuy mấy lần thua tan (!), nhưng quân tăng càng đông; quan quân mỏi mệt, tử thương cũng nhiều, quân mã Mông Cổ không thể nào thi thố được tài năng…”5. Trước sức tấn công mãnh liệt của quân ta, Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a đã phải tháo chạy khỏi Thăng Long, vượt qua sông Hồng, đóng quân lại ở phía bắc sông6. Như vậy là vào khoảng cuối tháng tư âm lịch, sau một thời gian ngắn phản công mạnh mẽ - nói như tài liệu kẻ thù, “tháng tư, quân Giao nổi lên rất lớn” 7, quân ta đã khôi phục được kinh đô Thăng Long8.
Vào đầu tháng 5 âm lịch, hai vua Trần cũng kéo quân từ Thanh Hóa ra. Ngày 3 tháng 5 (7/6/1285), vua Trần đánh tan quân Nguyên ở Trường Yên (Ninh Bình), chém được đầu giặc vô số9. Có lẽ đấy là một bộ phận cánh quân của Toa Đô đã đóng lại ở đây khi y tiến quân từ Trường Yên vào Thanh Hóa.
Hai ngày sau, ngày Đinh Sửu, 5 tháng 5 (9/6/1285), cánh quân của Giảo Kỳ xâm nhập vào Thăng Long. Có lẽ y vừa bị đánh bại ở phòng tuyến sông Hồng, và bây giờ đang cố tìm đường chạy về Thăng Long, mong gặp hoàng tử Trấn Nam vương của y ở đây. Nhưng Giảo Kỳ không ngờ là Thoát Hoan đã rút chạy khỏi kinh thành. Gặp sức chiến đấu của quân dân bảo vệ Thăng Long, Giảo Kỳ vội vã rút quân qua sông Hồng. Ở đây, quân Giảo Kỳ đã gặp quân Thoát Hoan10.
Bấy giờ, đồn trại của Thoát Hoan ở phía bắc sông Hồng, chắc là ở vùng Gia Lâm, đang bị quân Trần tấn công liên tiếp Khi cánh quân của Giảo Kỳ đã đến, Thoát Hoan liền cho rút quân. Đó là ngày 6 tháng 5 năm Ất Dậu (10/6/1285) 11. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và Hưng Ninh vương Trần Tung đã đem hơn hai vạn quân đón đánh, kịch chiến với tướng giặc là Lưu Thế Anh12. Quân Thoát Hoan thua chạy đến sông Như Nguyệt (tức sông Cầu), lại gặp phải đội quân của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản đổ ra đánh. Đội quân của viên dũng tướng trẻ tuổi dưới lá cờ sáu chữ đã tiến vào khôi phục kinh đô Thăng Long nay lại xuất hiện ở đây, đánh cho quân thù tan tác. Nhưng trong chiến thắng vẻ vang đó, bên dòng sông Như Nguyệt, người thiếu niên anh dũng Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản đã hy sinh13.
Bị thua ở sông Như Nguyệt, bọn Thoát Hoan hốt hoảng tháo chạy nhưng đến sông Sách (tức sông Thương chảy qua vùng Vạn Kiếp), chúng lại lọt vào trận địa phục kích của Trần Quốc Tuấn. Quân giặc bắc cầu phao sang sông. Cánh quân của viên tả thừa Tang-gu-tai chưa sang kịp thì quân mai phục của ta từ trong rừng đã đổ ra, đánh vào sườn quân giặc. Bọn chúng xô nhau giẫm đứt cả cầu phao, ngã xuống sông chết đuối rất nhiều14.
Sau khi bị phục kích ở sông Sách. Thoát Hoan phải cho Lý Hằng đi bảo vệ phía sau. Cả đoàn bại quân chạy thục mạng về phía châu Tư Minh. Quân ta đã sẵn sàng đón chúng ở các cửa ải biên giới. Đến Vĩnh Bình, quân Thoát Hoan đã gặp quân phục kích của Hưng Vũ vương Hiến, con trai Trần Quốc Tuấn. Bọn tướng giặc phải giấu Thoát Hoan vào trong ống đồng để chạy trốn. Lý Hằng bị trúng tên độc ở đầu gối bên trái. Một tên lính liều mạng cõng Hằng chạy về đến Tư Minh thì thuốc độc ngấm ra, Hằng chết.
---------------- 1. Chương Dương, theo Cương mục (q. 7, t. 41b) là tên bến, nay ở huyện Thường Tín, Hà Tây, còn tên xã Chương Dương, cạnh sông Hồng.
2. Về trận Chương Dương và Thăng Long, Toàn thư q. 5, t. 49a chỉ chép vẻn vẹn có một câu, mà lại không phải là nói trực tiếp: “Ngày 10 (tháng 5 năm Ất Dậu) (14/6/1285) có người từ chỗ giặc trơn về đến trại vua tâu rằng thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn hầu Quốc Toản và Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp với em là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh bại giặc ở các nơi như Kinh thành, Chương Dương. Quân giặc tan vỡ lớn”. Cương mục q. 7, t. 40a cũng chỉ chép lại Toàn thư và ở lời cẩn án, có ghi: “Trận đánh thắng được giặc ở Chương Dương, thu phục được kinh thành, là chiến công to nhất lúc bấy giờ. Sử cũ chép việc này không được rõ ràng” (q 7, t. 41a). Không có một tài liệu chắc chắn nào để xác minh cho việc mô tả các trận đánh này trong một số tác phẩm nghiên cứu gần đây như nói rằng chiến thuyền giặc là do A Thích chỉ huy, Quang Khải chia 3 nghìn quân cho Quốc Toản đi mai phục rồi cùng Phạm Ngũ Lão đánh úp Chương Dương, chờ quân Thoát Hoan cứu viện thì Ngũ Lão vào chiếm Thăng Long… (Chu Thiên: Chống quân Nguyên 1957, tr. 31), hoặc “Trần Quốc Toản và Phạm Ngũ Lão đã đột kích bất ngờ vào trại giặc”, “Thoát Hoan cho đội dự bị từ Thăng Long ra phản xung phong vào quân của Trần Quốc Toản - Phạm Ngủ Lão, nhưng chủ lực của Trần Quang Khải đã phục kích sẵn ở gần Thăng Long”… (Phạm Ngọc Phụng, Tìm hiểu chiến lược chiến thuật thời Trần- Lê, 1963, tr. 33). Các sử liệu cũng không cho chúng ta biết sự có mặt của Phạm Ngũ Lão trong các trận đánh này.
3. Kinh thế đại điển tự lục (Nguyên văn loại q. 41, bản đã dẫn, t. 564) chép: “Hưng Đạo vương đánh vạn hộ Lưu Thế Anh ở đồn A Lỗ. Trung Thành vương đánh thiên hộ Mã Vinh ở Giang Khẩu”. Yamamoto cho rằng đồn A Lỗ ở sông A Lỗ (tuy ông không xác định được sông A Lỗ ở đâu) và cho rằng Giang Khẩu có lẽ là cửa sông A Lỗ (Sách đã dẫn. t. 187). Chúng tôi cho rằng các sự kiện mà Kinh thế đại điển tự lục chép không phải là xảy ra ở các địa điểm gần nhau vì sau đó đã chép đến việc bao vây thành Thăng Long. Chúng tôi cho rằng ở đây Tự lục chỉ chép một trận ở đầu phòng tuyến sông Hồng (sông A Lỗ là sông Hồng chỗ nối với sông Luộc) và một trận cuối, bỏ qua các trận Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương… Giang Khẩu là tên một phường ở Thăng Long, về sau đổi ra Hà Khẩu, tức vùng phố Hàng Buồm, phố Chợ Gạo Hà Nội hiện nay.
4. Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t. 564.
5. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. a. Nguyên sử kỷ sự bản mạt (bản Thương vụ ấn thư quán, t. 21) chép khác chút ít: “Thoát Hoan họp các tướng bàn: “Người Giao cự địch quan quân, tuy mấy lần thua tan, nhưng quân tăng càng thịnh, quan quân bị bệnh dịch, tử thương cũng đông, rốt cuộc không thể đến được Chiêm Thành”. Bèn mưu dẫn quân về”.
6. Theo Toàn thư q. 5, t. 49a, Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t. 564, Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. 8a. Theo Toàn thư q. 5, t. 49a, Kinh thế đại điển tự lục, bản đã dẫn, t. 564, Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. 8a.
7. Kinh thế đại điển tự tục, bản đã dẫn, t. 564.
8. Toàn thư không chép rõ thời gian quân ta chiếm lại Thăng Long, chỉ chép ngày 10 tháng 5 (14/6/1285), vua Trần (bấy giờ đang ở Trường Yên) được tin báo là quân ta thắng ở kinh thành (q. 5, t. 49a). An Nam chí lược q 4 Chinh thảo vận hướng chép: “Mùa hè, tháng 4, An Nam thừa cơ đánh lấy lại La Thành (chỉ thành Thăng Long - T.G)”. Khi Giảo Kỳ vào Thăng Long ngày 5 tháng 5 (9-6-1285) thì Thoát Hoan đã rút rồi.
9. Toàn thư q. 5, t. 48b.
10. Về sự kiện này, An Nam chí lược q. 4 chép không rõ lắm, có thể dịch là: “Tháng 5, ngày 5 là ngày Đinh Sửu, Giảo Kỳ và vạn hộ (?) phục quân bắn nỏ trong cung, đánh tan (nguyên văn: phục nỗ binh kỳ cung kích tán), đến sông Lô (tức sông Hồng - Tại hội với Trấn Nam vương”. Có lẽ trong cánh quân của Giảo Kỳ có tướng Tang-gu-tai vì Tang-gu-tai luôn luôn đi với Giảo Kỳ từ sau khi tách khỏi quân Toa Đô từ Chiêm Thành ra.
11. An Nam chí lược q. 4 sau khi chép việc Giảo Kỳ gặp Thoát Hoan ngày 5 tháng 5 (9-6-1285) đã chép: “Ngày hôm sau rút quân về”. Như vậy là Thoát Hoan rút quân ngày 6-5 (10-6-1285). Toàn thư q. 5, t. 49 chép quân Hưng Đạo vương đánh Thoát Hoan, giết Lý Hằng vào cùng ngày với trận Tây Kết giết Toa Đô tức ngày 20-5 âm lịch (24-6-1285). Theo nhiều tài liệu thì khi Thoát Hoan đã rút về, Toa Đô mới tiến ra. Dựa vào An Nam chí lược, chúng tôi cho rằng trận đánh đuổi Thoát Hoan giết Lý Hằng phải trước trận Tây Kết giết Toa Đô.
12. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 8a. An Nam truyện chỉ chép là Hưng Ninh vương, không chép rõ tên. An Nam chí lược q. 4, ở một chỗ khác, cho biết Hưng Ninh vương là Trần Tung.
13. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. 8a chép: “Quan quân (chỉ quân Nguyên - T.G) lại đến sông Như Nguyệt, Nhật Huyên (Thánh Tông - T. G) sai Hoài Văn hầu đến đánh. Kinh thế đại điển tự lục chép rõ hơn: “Đến sông Như Nguyệt, Nhật Huyên sai Hoài Văn hầu đến đuổi. Giết chết được (Hoài Văn hầu)” (Nguyên văn loại q. 41, bản đã dẫn, t. 564). Về cái chết của Trần Quốc Toản, sử ta không chép rõ. Toàn thư khi chép truyện Quốc Toản ở hội nghị Bình Than (1282) có nói: “Đến lúc (Quốc Toản) chết, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước vương (q. 5, t. 43a). Toàn thư không chép rõ Quốc Toản chết bao giờ nhưng từ sau năm 1285, không thấy chỗ nào nhắc đến viên tướng thiếu niên ấy nữa. Như vậy đúng là Quốc Toản đã hy sinh trong cuộc kháng chiến lần thứ hai và theo Kinh thế đại điển tự lục là trong trận sông Như Nguyệt (sông Cầu).
14. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 8a. “Đi đến sông Sách, buộc cầu phao sang sông, quân tả thừa Tang-gu-tai chưa kịp sang mà trong rừng phục quân đổ ra, quan quân (chỉ quân Nguyên - T.G) chết đuối nhiều”. Kinh thế đại điển tự lục cũng chép: “Đến sông Sách, phục quân đổ ra, quan quân giẫm đứt cầu phao, nhiều người chết đuối (bản đã dẫn, t. 564). An Nam chí lược q. 4 tại chép: “Quân An Nam kéo đến sông Nam Sách, hữu thừa Lý Hằng đi sau đánh lui, chém được nghĩa dũng của Hưng Đạo vương là Trần Thiệu”. Như vậy, sông Sách trong Nguyên sử Kinh thế đại điển tự lục là sông Nam Sách trong An Nam chí lược. Cương mục Tiền biên q. 5 có chú thích: “Sông Nam Sách ở phủ Nam Sách tỉnh Hải Dương ngày nay”. Tất nhiên sông Nam Sách không phải là sông Kinh Thầy hay sông Thái Bình chảy qua huyện Nam Sách (Hải Hưng) ngày nay vì quân Nguyên đã qua sông Cầu để chạy về phía bắc, thì không thể qua các con sông này ở phía nam được. Phủ Nam Sách thời Lê Nguyễn cũng như phủ lộ Nam Sách thời Trần, châu Nam Sách thời Minh là gồm cả đất huyện Chí Linh ngày nay. Sau khi qua sông Cầu, quân Nguyên đến sông Nam Sách, như vậy là quân Nguyên đã đến sông Thương vùng Vạn Kiếp (Vạn Yên, Chí Linh). Toàn thư chép: “Hưng Đạo vương lại cùng Thoát Hoan, Lý Hằng đánh nhau Ở Vạn Kiếp, đánh bại chúng. Chúng chết đuối nhiều (q 5, t. 49b). Chúng tôi căn cứ vào vị trí của sông Sách, cũng như so sánh với các tài liệu dẫn trên mà cho rằng trận sông Sách cũng là trận Vạn Kiếp.
15. Về trận này Toàn thư chép như sau: “Lý Hằng dẫn quân hộ vệ Thoát Hoan về Tư Minh. Quân ta dùng tên độc bắn trúng đầu gối bên tả của Lý Hằng. Y chết. Tỳ tướng Lý Quán thu tàn quân 5 vạn, lấy đồ đồng giấu Thoát Hoan vào trong chạy trốn về Tư Minh. Hưng Vũ vương đuổi theo dùng tên độc bắn trúng, Lý Quán chết. Quân Nguyên tan vỡ lớ” (q. 5, t. 49b). Nguyên sử q. 13 Thế tổ bản kỷ, t. 9b chép: “Hằng đi sau chống cự để bảo vệ Trấn Nam vương. Bị tên thuốc trúng đầu gối bên tả. Đến Tư Minh thuốc độc ngấm ra mà chết”.
Nguyên sử q. 129 Lý Hằng truyện cũng chép: “Quân man đuổi đánh bại hậu quân. (Trấn Nam) vương liền đổi lệnh sai Hằng đi sau, vừa đánh vừa đi. Tên độc xuyên vào đầu gối Hằng. Một tên quân cõng Hằng chạy đến Tư Châu. Thuốc độc ngấm ra rồi chết. Lúc đó 50 tuổi”.
Bài bia Lý Hằng do Diêu Toại soạn (xem Mục am tập q. 12, bản đã dẫn t 8b) chép: "Giặc đóng cửa Vĩnh Bình, dùng tên có thuốc độc bắn ông bị thương xuyên qua đầu gối. Cướp được cửa quan, ra khỏi cõi. Vì thuốc độc ngấm ra, chết ở châu Tư Minh”. Nguyên sử và các tài liệu không nói đến Lý Quán. Các tướng Nguyên sang xâm lược không có tên nào là Lý Quán. Các tài liệu trên đều nói Lý Hằng bị trúng tên độc về đến Tư Minh thì mới bị chết. Toàn thư thì nói Lý Hằng trúng tên độc chết. Lý Quán đưa Thoá Hoan về Tư Minh, lại trúng tên độc chết. Toàn thư q. 5, t. 51b có chép lại lời Trần Quốc Tuấn nói đến “cái thất bại của Hằng, Quán” (xem chương VII). Như vậy có thể có nhân vật Lý Quán, Yamamoto (trong An Nam sử nghiên cứu) lại cho rằng câu của Trần Quốc Tuấn nói đến Hằng, Hoan (tức Thoát Hoan) chứ không phải Hằng, Quán. Đó là vì chữ Hoan gần giống chữ Quán.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #54 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 03:15:58 pm » |
|
Trong khi cánh quân của Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a liều chết mở một con đường máu để trốn chạy về phía biên giới đông bắc thì một cánh quân Nguyên khác cũng tìm đường tẩu thoát về Vân Nam. Hẳn đây là cánh quân của Na-xi-rut Đin (Nasir ud-Dìn) đã từng giáp chiến với quân Chiêu Văn vương Nhật Duật ở trại Thu Vật (huyện Yên Bình, Yên Bái) bên sông Chảy lúc tấn công vào Đại Việt. Giờ đây, cùng chịu một số phận thất bại như các cánh quân khác, cánh quân này lại bỏ chạy theo con đường mà chúng đã tiến vào. Có lẽ chúng sẽ chạy thoát vì bấy giờ, toàn bộ quân chủ lực của triều đình Trần đang được tung vào việc truy kích, tập kích cánh quân lớn của Thoát Hoan và chuẩn bị đón đánh cánh quân của Toa Đô. Nhưng điều may mắn đó không đến với chúng. Khi bọn giặc đi qua huyện Phù Ninh (nay là huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ), chúng đã vấp phải sức chiến đấu ngoan cường và mưu trí của nhân dân dân tộc thiểu số1. Phụ đạo tử huyện Phù Ninh là Hà Đặc cùng với nhân dân đóng ở trên núi chuẩn bị tập kích giặc. Quân Nguyên tiến đến đóng ở động Cự Đà2. Hà Đặc đã lấy tre đan thành những hình người to lớn cho mặc áo, đợi chiều tối thì dẫn ra dẫn vào. Trên các cây lớn, Hà Đặc đã dùi lỗ rồi cắm vào đấy những mũi tên lớn. Bọn giặc vô cùng khiếp sợ trước đội quân người khổng lồ có sức khỏe như thần, bắn được những mũi tên lớn xuyên cây đó. Chúng không dám tiến đánh Hà Đặc. Trong tình hình đó, Hà Đặc cùng với nhân dân đã xuất kích, đánh tan quân giặc. Bọn giặc tìm đường chạy trốn. Hà Đặc đuổi đến A Lạp, bắc cầu phao qua sông3. Say sưa trong cuộc truy kích kẻ thù, người anh hùng miền núi đó đã tử trận. Em Hà Đặc là Hà Chương bị giặc bắt, nhân lúc giặc sơ hở, đã tìm cách trốn thoát. Cũng trí dũng như người anh của mình, lúc trốn khỏi trại giặc, Hà Chương đã tìm cách lấy trộm được y phục và cờ xí của kẻ thù. Hà Chương lại cùng với những dân quân của mình cải trang thành quân Nguyên bằng những y phục và cờ xí đã lấy được tiến vào doanh trại của giặc. Bọn giặc tưởng là quân của chúng nên đã bị quân Hà Chương tập kích bất ngờ. Trở tay không kịp, giặc thua chạy tan tác4.
Trong khi ở phía bắc, quân chủ lực của Trần Quốc Tuấn cùng với dân binh các lộ miền xuôi và miền núi đang liên tiếp chiến thắng, đuổi bọn xâm lược ra khỏi biên giới thì ở phía nam, sau chiến thắng ở Trường Yên, hai vua Trần cũng đang tiến quân ra. Bấy giờ Toa Đô đóng quân ở Thanh Hóa, không biết Thoát Hoan đã đại bại, nên muốn tiến ra Thăng Long, phối hợp với Thoát Hoan5. Ngày 7 tháng 5 âm lịch (11/6/1285), vua Trần được tin Toa Đô kéo quân từ Thanh Hóa ra6. Ngày 15 tháng 5 (19/6/1285), hai vua về đến Long Hưng (Thái Bình), bái yết các lăng mộ tổ tiên nhà Trần. Ngày 17 tháng 5 (21/6/1285), Toa Đô và Ô Mã Nhi đã theo đường biển vào sông Hồng, tiến lên sông Thiên Mạc (khúc sông Hồng ở huyện Khoái Châu, Hưng Yên) 7. Ba ngày sau, ngày 20 tháng 5 (24/6/1285) vua Trần tiến quân đánh Toa Đô. Đến Đại Mang Bộ, tướng Nguyên là tổng quản Trương Hiển ra hàng8. Hôm đó, quân ta tiếp tục tiến đến Tây Kết, đánh tan quân giặc, giết và làm bị thương được rất nhiều, Toa Đô bị chém đầu9, Ô Mã Nhi và vạn hộ Lưu Khuê đi thuyền nhẹ trốn ra biển10. Tiểu Lý đi thuyền phía sau thấy cơ không thoát được, tự đâm cổ, vua Trần cho người cứu sống11.
Như vậy là qua hai tháng phản công, sau những chiến thắng liên tiếp: Tây Kết lần - thứ nhất, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long, Vạn Kiếp, Tây Kết lần thứ hai… quân dân Đại Việt đã quét sạch kẻ thù ra khỏi bờ cõi. Cuộc kháng chiến đã kết thúc thắng lợi. Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, ngày 6 tháng 6 năm Ất Dậu, niên hiệu Thiệu Bảo thứ 7 (9/7/1285), hai vua Trần cùng triều đình, tướng tá và quân dân đã trở về Thăng Long. Cảnh hoang tàn đổ nát của kinh thành không làm mờ được khí thế của dân tộc vừa chiến thắng. Niềm tự hào với những chiến công oanh liệt dạt dào trong bài thơ khải hoàn của thượng tướng Trần Quang Khải:
“Đoạt sáo Chương Dương độ, Cầm hồ Hàm Tử quan. Thái bình tu trí lực Vạn cổ cự giang san” 12.
(Bến Chương Dương cướp giáo, Cửa Hàm Tử bắt thù. Thái bình nên gắng sức, Non nước cũ muôn thu).
--------------- 1. Toàn thư chép: “Ngày 17 (tháng 5) (21/6/1285), Toa Đô và Ô Mã Nhi từ biển trở lại phạm vào sông Thiên Mạc, muốn hội quân ở kinh sư để chi viện lẫn nhau. Du binh đến huyện Phù Ninh” (q. 5, t. 49a). Như vậy, theo Toàn thư, thì quân Nguyên đến huyện Phù Ninh chỉ là du binh (quân tuần tiễu) của cánh quân Toa Đô. Cương mục (q. 7, t. 41b) đã nghi ngờ điều này: “Toa Đô từ đường biển tiến quân ra đánh vào sông Thiên Mạc, thế mà quân tuần tiễu lại đến huyện Phù Ninh, xa cách nhau hàng ba bốn ngày đường, tất nhiên không có lẽ như thế. Việc này ngờ là Sử cũ chép lầm, sẽ nghiên cứu sau”. Chúng tôi cho rằng lời nhận xét của Cương mục là đúng. Theo chúng tôi, cánh quân đến Phù Ninh chắc chắn là cánh quân tìm đường về Vân Nam. Phù Ninh nằm trên con đường tiến quân từ Vân Nam đến Thăng Long của quân Nguyên trong cuộc chiến tranh lần thứ nhất và lần thứ hai mà chúng tôi đã xác định ở trên kia. Trần Nhật Duật, trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, từ Thu Vật (Yên Bình, Yên Bái) rút về Bạch Hạc (Việt Trì) tất phải đi qua Phù Ninh. Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, quân Nguyên cũng tiến theo đường này (xem chương VII).
2. Có lẽ thuộc xã Tử Đà huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ hiện nay. Theo thần tích thì Hà Đặc là người ở xã Tử Đà.
3. Chưa xác định được A Lạp Ở đâu, con sông ở Phù Ninh nói ở đây chắc là sông Lô ngày nay.
4. Xem Toàn thư q. 5, t. 49a- b.
5. An Nam chí lược q. 4 chép: “Khi ấy Toa Đô nghe biết đại quân đã về, mới từ Thanh Hóa đem quân về, ở dọc đường ngày đêm đánh nhau với quân An Nam”. Như vậy là An Nam chí lược cho rằng Toa Đô biết tin Thoát Hoan về nhưng Nguyên sử q. 129 Toa Đô truyện lại chép: “Thoát Hoan dẫn quân về, Toa Đô không biết”. Nguyên sử kỷ sự bản mạt (q. 5, bản đã dẫn, t. 22) cũng chép như thế. Chúng tôi cho rằng Nguyên sử đã chép đúng vì nếu Toa Đô biết tin Thoát Hoan đã rút về thì nhất định sẽ kéo về theo đường biển hoặc trở lại Chiêm Thành chứ không dám mạo hiểm tiến ra Thăng Long.
6. Toàn thư q. 5, t. 48b.
7. Toàn thư q. 5, t. 49a.
8. Toàn thư q. 5 t. 49b. Cương mục q. 7, t. 41b chú rằng Đại Mang là tên bến. Hiện nay chưa xác định được ở đâu. An Nam chí lược q. 4 chép “Đến Bái Khanh, tướng Toa Đô là Lễ Cước Trương làm phản, đem quân kia (chỉ quân Trần - T.G) đánh nhau với ta (chỉ quân Nguyên - T.G)”. Lễ Cước Trương chắc là chỉ Trương Hiển chép Ở Toàn thư. Có lẽ Lễ Cước là in nhầm từ những chữ nào đó nhưng chúng tôi chưa đoán ra. Chữ Bái Khanh có lẽ là Bái Hướng. Bái Hương có thể là Đại Mang.
9. Toàn thư q. 5, t. 49, An Nam chí lược chép: “Toa Đô phóng ngựa rơi xuống nước chết”. Nguyên sử q. 129 Toa Đô truyện và Nguyên sử kỷ sự bản mạt (q. 5, bản đã dẫn, t. 22) chép rằng Toa Đô chết ở sông Càn Mãn. Đại Nam nhất thông chí (Bắc Ninh, Sơn Xuyên) chép rằng sông Càn Mãn tức sông Thị Cầu (sông Cầu). Như vậy là trái với Toàn thư. Nguyên sử - Toa Đô truyện chép rằng: “Thoát Hoan dẫn quân về, Toa Đô không biết, Giao Chỉ sai người nói cho biết. (Toa Đô) không tin, đến đại doanh thì không còn ai. Giao Chỉ ngăn ở sông Càn Mãn, Toa Đô tử chiến”. Phải chăng Toa Đô đã đến được đại doanh Thoát Hoan (Thăng Long hoặc Gia Lâm) khi Thoát Hoan đã rút sau đó, về đến sông Cầu, Toa Đô mới bị giết chết?
Đinh Khiêm không rõ dựa vào tài liệu nào, đã chép trong Nguyên sử ngoại di truyện địa lý khảo chứng (Triết Giang đồ thư quán tùng thư I, t. 7a như sau: “(Toa Đô, Ô Mã Nhỉ) tiến đến Hảo Mễ, huyện Dạ Nô (?), bị người An Nam phục binh đánh lui. Lại đánh, người An Nam lại thắng. Toa Đô, Ô Mã Nhi còn đánh không ngừng, cuối cùng thất bại ở đất Khố Tú, Tha Dạ, Khai Dạ. Toa Đô bị thương không chạy được, bèn bị giết… Hảo Mễ, Dạ Nô, Khổ Tú, Khai Dạ… đều là thổ âm An Nam, nay không biết ở đâu”.
10. An Nam chí lược q. 4, Toàn thư q. 5, t. 49 chép: “Nửa đêm, Ô Mã Nhi trốn qua cửa sông Thanh Hóa (?), hai vua đuổi theo không kịp, bắt được dư đảng hơn 5 vạn người rồi về, Ô Mã Nhi đi một chiếc thuyền nhỏ vượt biển thoát được”.
11. An Nam chí lược q. 4.
12. Toàn thư q. 5, t. 50 a-b. Có bản Hoàng Việt thi tuyển chép là “Thái bình đương trí lực" hoặc “Thái bình tu nỗ lực” và "Vạn cổ thử giang san” (Non nước ấy muôn thu).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #55 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 03:30:41 pm » |
|
CHƯƠNG VII CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ BA “… Bỗng nhiên xuất hiện những đội quân (Giao Chỉ) từ biển, từ rừng, từ núi, đánh tan quân Tu Gan (Thoát Hoan) đang cướp bóc…”.Fazl Allah Rašid ud-Dīn (1247-1318) (Nhà sử học Ba Tư)
Trong khi quân dân Đại Việt hân hoan mừng chiến 1 thắng thì tên chúa Nguyên nổi giận. Thoát Hoan, con trai hắn thoát chết trở về với đám tàn quân, nhưng những viên đại tướng như Lý Hằng, Toa Đô đã bỏ mạng… Thế là công phu bao nhiêu năm chuẩn bị cho hàng chục vạn quân xuất chinh tan ra mây khói. Căm tức vì thất bại nặng nề, nóng lòng vì cần một căn cứ cho cuộc xâm lược phương Nam, Hốt Tất Liệt gấp rút mở một cuộc chiến tranh mới đánh vào Đại Việt để báo thù. Ngày 9 tháng 7 năm 1285, vua Trần trở về Thăng Long thì ngày 21 tháng 8 năm 1285 (20 -7 âm lịch), khu mật viện nhà Nguyên đã đề nghị cử Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a làm tiết chế đi đánh Đại Việt 1. Vì đạo quân Thoát Hoan đã “đánh lâu sức mệt”, Hốt Tất Liệt chuẩn y lời tâu của khu mật viện xin bổ sung quân cho Thoát Hoan. Số quân bổ sung gồm một nghìn quân Mông Cổ lấy của bọn A-gu-ruc-tn (Auruči) 2, bốn nghìn quân Hán (chỉ quân bắc Trung Quốc) và quân tân phụ (chỉ quân nam Trung Quốc) lấy ở ba hành viện Giang Hoài, Giang Tây, Kinh Hồ, “chọn các tướng giỏi chỉ huy” 3. Khu mật viện cũng xin tập trung quân ở Đàm Châu (huyện Trường Sa, Hồ Nam) vào tháng 10 âm lịch (29/10 - 27/11/1285), đặt dưới quyền chỉ huy của Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a 4. Bấy giờ, Tang-gu-tai 5, viên tướng đi đón Toa Đô ở Chiêm Thành trong cuộc chiến tranh vừa qua, lại được Hốt Tất Liệt cử làm tả thừa hành tỉnh Kinh Hồ. Tang-gu-tai đề nghị cho bọn lính đánh Đại Việt trở về được nghỉ ngơi 6. Ngày Canh Dần, 21 tháng 9 âm lịch (20-10-1285) Hốt Tất Liệt đã ra lệnh cho tất cả quân đánh Đại Việt về nhà nghỉ chỉ trừ 100 quân Mông Cổ và 400 quân Hán ở lại làm túc vệ cho Thoát Hoan 7. Tên vua Nguyên muốn cho bọn lính này phục hồi được tinh thần và sức lực sau cuộc thất trận lớn vừa qua, để có thể “phấn khởi” hơn trong lần xuất chinh tới. Việc cho quân lính nghỉ cũng chứng tỏ rằng Hất Tất Liệt tuy nôn nóng báo thù nhưng không thể không chuẩn bị chu đáo cho cuộc chiến tranh mới. Hốt Tất Liệt một mặt chuẩn bị chiến tranh, một mặt vẫn sai sứ sang Đại Việt, hòng dò xét tình hình và mưu toan làm triều đình Trần mất cảnh giác, không chú ý đến âm mưu xâm lược của Nguyên. Ngày Kỷ Hợi, mồng 1 tháng 10 âm lịch (29/10/1285), Kha-xa Kha-y-a (Qasar-Qaya), viên đa-ru-ga-tn ở Đại Việt trước đây lại được cử đi sứ 8. Đến năm sau, 1286, mọi việc chuẩn bị xâm lược Đại Việt được xúc tiến mạnh mẽ hơn. Tuy bị thua đau trên các hòn đảo Nhật Bản, Hốt Tất Liệt vẫn ra lệnh đình chỉ cuộc tấn công báo thù vào đất Nhật để dồn lực lượng cho cuộc chiến tranh ở Đại Việt. Hốt Tất Liệt nói: “Nhật Bản chưa từng xâm lấn ta, nay Giao Chỉ (chỉ Đại Việt-TG) xâm phạm biên giới nên gác việc Nhật Bản, chuyên việc Giao Chỉ” 9. Đây chỉ là cái lý do giả tạo của tên Hốt Tất Liệt xảo quyệt. Hắn đình chỉ cuộc chiến tranh xâm lược Nhật Bản - cuộc chiến tranh phục thù mà hắn đã chuẩn bị bao nhiêu năm nay - đâu có phải chỉ vì Nhật Bản chưa từng xâm lấn. Hai lần thất bại đau đớn ở Nhật Bản không cho phép hắn suy nghĩ đơn giản như vậy 10. Mặt khác, hắn xúc tiến cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt cũng không phải vì: “Giao Chỉ xâm phạm biên giới”. Đó chỉ là một điều vu khống mà thôi. Phải nói cái đã khiến cho Hốt Tất Liệt đành gác việc trả thù những thất bại nhục nhã ở biển Ghenkai, ở đảo Taka, chính là Chương Dương, Hàm Tử, Thăng Long, Tây Kết…, là những chiến thắng oanh liệt của quân dân ta năm 1285. ----------- 1. Nguyên sử q. 13 Bản kỷ t. 10a-10b.
2. Nguyên sử phiên âm là Áo Lỗ Xích, đời Thanh đổi phiên âm là Ngạc La Tề (xem Tục tư trị thông giám).
3. Nguyên sử q. 13 Bản kỷ t. 10b.
4. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 8a.
5. Tức Đường Ngột Đải, Đường Ngột Đái, Đường Cổ Đái trong Nguyên sử - An Nam chí lược. Xem chú thích ở chương VI.
6. Nguyên sử q. 13 Bản kỷ t. 10b.
7. Nguyên sử q. 13 Bản kỷ t. 11b.
8. Nguyên sử - An Nam truyện và Thế ltổ bản kỷ phiên âm là Hợp Tản Nhi Hải Nha. Kha-xa Kha-y-a được Hốt Tất Liệt cử làm phó Đa-ru-ga-tri (daruači, Đạt Lỗ Hoa Xích) ử Đại Việt năm 1273 và đến 1275 thì làm Đa-ru-ga-tri. Xem chương IV.
9. Nguyên sử q. 208 Nhật Bản truyện t. 13b.
10. Từ năm 1268, Hốt Tất Liệt đã nhiều lần sai sứ sang Nhật Bản cưỡng bức đặt quan hệ ngoại giao nhưng Shikken là Hōjō Tokimune đã cự tuyệt. Năm 1274, Hết Tất Liệt phái một hạm đội 900 chiến thuyền và 3 vạn 3 nghìn quân, đánh chiếm các đảo Tsushima, Iki, rồi vào vịnh Hakozaki, tiến đến đảo Kyushu, tỉnh Chikuzen, gần eo Shimonoseki. Nhưng sức chiến đấu của người Nhật và gió bão ở đây đã buộc quân Nguyên phải rút. Năm 1281, Hất Tất Liệt lại sai hơn 15 vạn quân đánh Nhật Bản. Khi quân Nguyên đã tiến đến Kyushu trong vịnh Hakozaki và các đảo Taka Hirato, tỉnh Hizen thì bị trận bão lớn ngày 16 tháng 8 năm 1281 làm đắm hết các chiến thuyền. Sau đó, quân Nguyên lại bị người Nhật đánh tan tác, quân Nguyên bị bắt và bị giết gần hết. Theo Nguyên sử Nhật Bản truyện thì mười vạn quân còn lại sau trận bão đã bị người Nhật bắt và giết chỉ có 3 người sống sót. Năm 1283, Hết Tất Liệt sai A-ta-khai (Ataqai, A Tháp Hải) và một số tướng khác chuẩn bị đánh Nhật Bản, nhưng đến năm 1286 thì bãi bỏ lệnh ấy.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #56 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 03:41:39 pm » |
|
Ngày Tân Mão, 24 tháng giêng năm Bính Tuất (18/2/1286) Hốt Tất Liệt ra lệnh cho bọn A-ric Kha-y-a bàn kế hoạch đánh Đại Việt1. Ngày Giáp Thìn, 7 tháng 2 âm lịch (3/3/1286), Hốt Tất Liệt duyệt danh sách các tướng tá đánh Đại Việt mà điều động thêm quân. A-ric Kha-y-a vẫn được cử làm An Nam hành trung thư tỉnh tả thừa tướng. A-gu-ruc-tri (Auruči, Áo Lỗ Xích) làm bình chương chính sự, Ô Mã Nhi (‘Omar), Y-gơ-mi-sơ (Yimïš), A-ric Khu-xun (Arixq-Qusun), Phàn Tiếp làm tham tri chính sự2. Hốt Tất Liệt còn sai sứ đến Vân Nam, ra lệnh cho Vân Nam vương E-xen Tê-mua (Äsän TämÜr) 3 điều một hoặc hai, ba nghìn quân Kha-ra-iang (Qarǰang, tức quân người dân tộc Ô Man) cho A-ric Kha-y-a đem đi đánh Đại Việt4. Ngày Mậu Ngọ, 21 tháng 2 (17/3/1286), Hốt Tất Liệt lại ra lệnh điều động 6 vạn quân của ba hành tỉnh Giang Chiết, Hồ Quảng, Giang Tây5. Trong 6 vạn quân đó, quân của hành tỉnh Hồ Quảng là 28.700 người. Tất cả số quân chuẩn bị đánh Đại Việt này được lệnh tập trung ở Tĩnh Giang (Quế Lâm, Quảng Tây) vào tháng 7 âm lịch (23/7 – 20/8/1286) 6.
Rút kinh nghiệm cuộc chiến tranh năm 1285, lần này Hốt Tất Liệt chú ý nhiều hơn đến thủy quân. Từ ngày Đinh Ty, 20 tháng 2 (16/3/1286), hắn đã ra lệnh cho hành tỉnh Hồ Quảng đóng 300 thuyền biển để dùng trong việc đánh Đại Việt hẹn đến tháng 8 âm lịch (21/8 – 19/9/1286) tập trung ở châu Khâm (Khâm Huyện, Quảng Đông) và châu Liêm (Hợp Phố, Quảng Đông) 7.
Hốt Tất Liệt vẫn chú trọng cánh quân Vân Nam. Ngày Canh Tý, 4 tháng 4 âm lịch (28-4-1286), hắn hạ lệnh cho quân Mông Cổ ở Vân Nam đi đánh Đại Việt được miễn nộp tô đồn điền8 và đến ngày Nhâm Tý, 16 tháng 4 (10/5/1286), viên bình chương tỉnh Vân Nam là Na-xi-rut Đin (Nasir ud-Dīn, Nạp Thốc Lạt Đinh, tên tướng đã đem quân vào Đại Việt trong cuộc chiến tranh năm 1285, lại được lệnh chia 1 nghìn quân Kha-ra-jang và Mông Cổ, chọn tướng giỏi chỉ huy, chuẩn bị tiến vào Đại Việt phối hợp với Thoát Hoan9.
Bấy giờ, tên tướng A-ric Kha-y-a ốm nặng và đến ngày 25 tháng 5 âm lịch (18/6/1286) thì chết10. Viên bình chương chính sự A-gu-ruc-tri đã làm nhiệm vụ chỉ huy đạo quân đánh Đại Việt thay A-ric Kha-y-a. Từ ngày 17/3/1286, A-gu-ruc-tri đã xin vào gặp Hốt Tất Liệt để bàn việc đánh Đại Việt11. Đến tháng 4 âm lịch (25/4 – 24/5/1286, Hốt Tất Liệt lại gọi A-gu-ruc-tri từ Hồ Quảng về Đại Đô để giao nhiệm vụ phụ tá Thoát Hoan trong cuộc xâm lược Đại Việt sắp tới. Hốt Tất Liệt đã khuyến khích A-gu-ruc-li: “Ngày trước bọn Mu-kha-li (Muqali) 12 tận lực với vương thất, tiếng thơm đến nay vẫn bất hủ. Khanh cố gắng lên, há lại không vẻ vang như người xưa hay sao!”. Để khích lệ A-gu-ruc-tri, Hết Tất Liệt còn cho con trai hắn là Tô Gan Bu Kha (Tơan Buqa) được tập chức vạn hộ13. Với những biện pháp đó tên vua Mông Cổ muốn cho A-gu-ruc-tri có thể thực hiện được một cách tích cực cái nhiệm vụ của A-ric Kha-y-a trước đây, về danh nghĩa là phụ tá hoàng tử Trấn Nam vương Thoát Hoan nhưng thực tế là nắm mọi kế hoạch xâm lược cụ thể.
Song song với việc chuẩn bị ráo riết về quân sự, Hốt Tất Liệt còn sắp đặt một loạt những mưu mô xảo trá. Hắn đã xúc tiến việc thành lập một triều đình bù nhìn gồm những tên Việt gian đầu hàng trong cuộc chiến tranh năm 1285 để đưa vào Đại Việt Từ tháng 2 âm lịch (15/2 – 25/3/1286), Trần Ích Tắc đã được phong làm An Nam quốc vương, nhận phù ấn, Trần Tú Hoãn được phong làm Phụ nghĩa công14. Tất cả bọn Việt gian đã hàng Nguyên đều được phong những chức tước khác nhau15, chẳng hạn con trưởng ích Tắc và Bá Ý được làm an phủ sứ lộ Đà Giang, em họ Tú Hoãn là Lại Ích Khuy được làm an phủ sứ lộ Nam Sách giang, Trần Văn Lộng được làm tuyên phủ sứ lộ Quy Hóa giang…16. Như vậy là tuy chưa tiến vào Đại Việt bọn thống trị Nguyên Mông đã sắp đặt quan chức cho cả các phủ lộ! Để chuẩn bị cho việc tiến quân xâm lược và đưa cái triều đình bù nhìn ấy về nước, Hốt Tất Liệt đã gửi một tờ “chiều” cho nhân dân Đại Việt “kể tội” Trần Thánh Tông đã giết Trần Di Ái, không nhận Đa-ru-ga-tri Buy-y-an Tê-mua (Buyan Tämür), vin vào đó đòi lấy Ích Tắc thay thế17.
--------------- 1. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 1b.
2. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ, t. 1b. Y-gơ-mi-sơ (Yimïš), Nguyên sử phiên âm là Diệc Hắc Mê Thất (ở đây, Bản kỷ chép nhầm thành Diệc Lý Mê Thất, do lầm chữ hắc ra chữ lý), là viên tướng người Ui-gua (Uigur), chỉ huy đạo quân đóng lại ở Chiêm Thành khi Toa Đô tiến ra Đại Việt. Sau khi Toa Đô chết, y được lệnh rút quân từ Chiêm Thành về Trung Quốc. A-ríc Khu-xun (Ariq-Qusun) là A Lý Quỹ Thuận trong Nguyên sử.
3. E-xen Tê-mua (Äsän TämÜr), Nguyên sử phiên âm là Dã Tiên Thiết Mộc Nhi, tức là con của Vân Nam vương Hu-ghe-tri (Hügäĉi, Hốt Kha Xích).
4. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ. t. 1b. Ở đây, Bản kỷ phiên âm Qarajang là Hợp Lạt Chương. Xem chú thích về Qaraǰang ở chương I.
5. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 2a.
6. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 4a.
7. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 2a.
8. Triều Nguyên lập rất nhiều đồn điền cho quân đội sản xuất. Lính đồn điền phải đóng tô cho nhà nước. Vân Nam là tỉnh có nhiều đồn điền quân đội thời Nguyên.
9. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 2a. Ở đây Bản kỷ tại phiên âm Qaraǰang là A Lạt Chương.
10. Xem Hồ Quảng hành tỉnh tả thừa tướng thần đạo bi của Diêu Toại trong Nguyên văn loại, bản đã dẫn, t. 855.
11. Nguyên sử Bản kỷ t. 2a.
12. Mu-kha-li (Muqali), Nguyên sử phiên âm là Mộc Hoa Lê, là viên tướng thân tín của Trin-ghít Khan (Thành Cát Tư Hãn) đã đánh chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc.
13. Nguyên sử q. 131 Áo Lỗ Xích truyện t. 7a. Toan Buqa Nguyên sử phiên âm là Thoát Hoan Bất Hoa.
14. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 8b. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ, t. 2a chép việc này vào ngày Mậu Ngọ, tháng 2 (17/3/1286). An Nam chí lược q 13 Nội phụ hầu vương cũng chép ích Tắc được phong An Nam quốc vương vào tháng 2 năm Bính Tuất (1286) nhưng lại chép Trần Tú Hoãn được phong Phụ nghĩa công vào tháng 9 năm Chí Nguyên 22 (30/9 – 29/10/ 1285) khác với Nguyên sử. An Nam chí lược q. 4 Chinh thảo vận hướng lại chép cả hai tên này được phong vào tháng 3 năm Bính Tuất (1286), có lẽ là đã chép lầm tháng 2 ra tháng 3 âm lịch.
15. An Nam chí lược q. 4 Chinh thảo vận hướng.
16. An Nam chí lược q. 13 Nội phụ hầu vương.
17. Nguyên sử - An Nam truyện và Thế Tổ bản kỷ đều chép là Hốt Tất Liệt “xuống chiếu” vào tháng 2 âm lịch, nhưng xét đoạn tóm tắt tờ chiếu trong An Nam truyện (t. 8b) thì đúng là tờ chiếu tháng 4 năm Chí Nguyên 23) 25/4 – 24/5/1286) của vua Nguyên chép trong An Nam chí lược q. 2 Đại Nguyên chiếu chế. Tờ chiếu đó như sau: “Trước vì (vua) nước các ngươi đã xưng thần theo phục, hằng năm dâng đồ cống mà không thân hành vào chầu, nhân chú y là Trần Di Ái sang chầu, ta ủy cho trông coi công việc nước An Nam. Di Ái thì lại bị giết hại. Đa-ru-ga-tri là Bu-y-an Tê-mua (Buyan Tämür, Bột Nhan Thiếp Mộc Nhi) vâng mệnh sang thì lại không nhận. Còn quân ta đi đánh Chiêm Thành, phải giúp đỡ lương thực thì lại không cung cấp gì. Vì thế mà Trấn Nam vương Thoát Hoan, hành tỉnh bình chương sự là A-ric Kha-y-a phải đem quân sang đánh. Trong lúc giao binh, hai bên đều giết hại lẫn nhau. Nay cận thần của nước các ngươi là bọn Trần ích Tắc, Trần Tú Hoãn lo nước nhà bị sụp đổ tiêu diệt, tai họa đến kẻ vô tội, thường khuyên bảo y vào chầu, rốt cục vẫn không thấy nghe theo. Bọn ấy bèn tự lại quy phục. Ta thương bọn ấy có lòng trung hiếu, đặc cách phong Trần Ích Tắc làm An Nam quốc vương, Trần Tú Hoãn làm Phụ nghĩa công để phụng tự họ Trần. Lại sai Trấn Nam vương Thoát Hoan, bình chương sự A-gu-ruc-tri (Áo Lỗ Xích) đem quân sang bình định nước các ngươi. Những tội lỗi trước đây chỉ ở mình y (chỉ vua Trần - T.G), quan dân không dính dáng gì. Khi chiếu thư tới nơi, các ngươi nên lại trở về đồng ruộng yên ổn làm ăn. Vậy xuống chiếu hiểu bảo. Lời trên đây là để hiểu dụ quan lại bách tính nước An Nam”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #57 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 03:51:29 pm » |
|
Trong lúc đẩy mạnh việc tập trung quân và lập bộ máy nguy quyền bù nhìn, Hốt Tất Liệt vẫn giữ mối quan hệ ngoại giao với Đại Việt. Những tên sứ Nguyên đến Đại Việt có nhiệm vụ đe dọa uy hiếp vương triều Trần, đồng thời do thám tình hình Đại Việt sau cuộc chiến tranh năm 1285. Tháng 2 năm Bính Tuất (25/2 – 25/3/1286), Kha-xa Kha-y-a đến Đại Việt1. Ngày Tân Hợi, 16 tháng 6 âm lịch (8/7/1286), Hốt Tất Liệt lại sai Ra-ma-đan (Ramadān) đi sứ Đại Việt2. Trong khi đó hắn ra lệnh bắt giữ các sứ thần của ta đến triều đình Nguyên như Nguyễn Nghĩa Toàn, Nguyễn Đức Vinh…3.
Tất cả những hành động trên đây của bọn gây chiến Nguyên Mông làm cho người ta tưởng rằng cuộc chiến tranh sắp bùng nổ. Nhưng tình hình Trung Quốc bấy giờ đã khiến Hất Tất Liệt không thực hiện ngay được tham vọng cửa hắn. Dưới ách áp bức bóc lột của bọn thống trị Mông Cổ, nhân dân Trung Quốc, đặc biệt là ở miền Nam, đã hoàn toàn kiệt quệ vì phải cung ứng cho những cuộc chiến tranh xâm lược liên miên do bọn thống trị ngoại tộc gây ra. Cảnh nghèo đói xác xơ diễn ra khắp vùng nông thôn phía nam Trường Giang. Hàng trăm cuộc khởi nghĩa đã nổ ra ở đồng bằng cũng như miền núi. Tình hình đó trước hết làm cho bọn quan lại Giang Nam lo lắng. Tháng 6 âm lịch (23/6 – 22/7/1286), tuyên úy ty Hồ Nam đã đề nghị hoãn binh:
“Luôn năm đánh Nhật Bản và dùng binh ở Chiêm Thành, trăm họ mệt vì vận chuyển, phú dịch nặng nề. Quân sĩ mắc phải chướng lệ chết rất nhiều. Dân chúng kêu than, tứ dân bỏ nghiệp. Người nghèo phải bỏ con để cầu sống, kẻ giàu phải bán sản nghiệp để ứng dịch. Nỗi khổ như bị treo ngược, mỗi ngày một tăng. Nay lại có việc đánh Giao Chỉ, điều động đến trăm vạn người, tiêu phí đến nghìn vàng, đó chẳng phải là việc để thương quân dân. Vả lại trong lúc cử động, lợi hại không phải chỉ là một. Lại thêm nữa Giao Chỉ vẫn thường sai sứ dâng biểu xưng phiên thần, nếu theo lời xin để phục hồi sức dân thì là kế hay nhất. Nếu không được thì nên nới phú thuế cho trăm họ, chứa lương thực, sắm giáp binh, đợi đến năm sau thiên thời lợi hơn một chút rồi hãy cất quân cũng chưa muộn” 14.
Viên quan ở hành tỉnh Hồ Quảng là Xen-ghê (Tuyến Kha, Sänäg) đồng ý với lời đề nghị đó, đã sai người về kinh đô tâu với Hốt Tất Liệt. Y còn nói thêm: “Tỉnh tôi trấn giữ hơn 70 sở, luôn năm chinh đến, quân sĩ tinh nhuệ đều mệt nhọc ở ngoài, kẻ còn lại đều già yếu, mỗi thành ấp nhiều không quá hai trăm quân, trộm nghĩ rằng sợ kẻ gian dò xét được tình hình đó. Năm ngoái bình chương A-ric Kha-y-a xuất chinh, thu 3 vạn thạch lương, dân còn kêu khổ, nay lại thu gấp bội số đó, quan không có tích trữ, còn mua ở trong dân, trăm họ sẽ khốn khổ khôn xiết. Nên theo lời của tuyên úy ty xin hoãn quân đánh phương Nam” 5. Điều lo lắng của Xen-ghê là ở chỗ nếu đem quân xuống Đại Việt thì sự phòng thủ địa phương sẽ rất yếu ớt, không chống cự được sức tấn công của nhân dân Trung Quốc khởi nghĩa mà y gọi là “kẻ gian”.
Ngay ở triều đình Nguyên cũng có những ý kiến phản đối việc xuất chinh Đại Việt. Viên Lễ bộ thượng thư Lưu Tuyên cũng lo ngại về điều mà Xen-ghê đã nói và tỏ ra không tin tưởng ở kết quả của cuộc chiến tranh đó. Lưu Tuyên đã tâu với Hốt Tất Liệt:
“Luôn năm đánh Nhật Bản, trăm họ sầu oán, quan phủ nhiễu nhương. Mùa xuân năm nay bãi binh, quân dân Giang Chiết reo mừng như sấm. An Nam là nước nhỏ, thần phục đã bao năm, tuế cống chưa từng sai hạn. Vì tướng ở biên sinh sự hưng binh, nên kẻ kia trốn tránh ra hải đảo, khiến cất đại quân đi mà không được công trạng gì, tướng sĩ lại bị thương tổn. Nay lại hạ lệnh đi đánh nữa, ai nghe thấy cũng lo sợ. Từ xưa dấy quân, tất phải theo thiên thời. Ở vùng trung nguyên đất bằng còn phải tránh giữa mùa hạ. Giao Quảng là đất viêm chướng, khí độc hại người còn hơn là binh đao. Nay định tháng 7 họp các đạo quân ở Tĩnh Giang đến An Nam tất nhiều người mắc bệnh chết, lúc cần cấp gặp giặc biết lấy gì ứng phó. Ở Giao Chỉ lại không có lương, đường thủy khó đi, không có xe ngựa, trâu bò chuyên chở thì không thể tránh được vận chuyển đường bộ. Một người phu gánh 5 đấu gạo, đi về ăn hết một nửa, còn quan quân được một nửa. Nếu có 10 vạn thạch lương, dùng 40 vạn người cũng chỉ có thể có lương cho quân 1, 2 tháng. Chuyên chở, đóng thuyền, phục dịch việc quân phải dùng đến 5, 60 vạn người. Quảng Tây, Hồ Nam điều động nhiều lần, dân ly tán nhiều, lệnh cho cung dịch cũng không thể làm được. Huống chi Hồ Quảng rất gần khe động, trộm cướp thường nhiều, vạn nhất kẻ gian dò được, chờ đại quân một khi đi khỏi, thừa lúc bỏ không mà gây biến. Tuy có quân mã lưu lại nhưng là người già yếu mệt nhọc, khó bề ứng biến. Sao không cùng người hiểu biết sự thể trong quan quân bên kia (chỉ Đại Việt - T.G) mà bàn bạc phương lược vạn toàn. Nếu không thì sẽ giẫm vào vết xe cũ” 6.
Những “trộm cướp” mà Lưu Tuyên nhắc tới chính là những cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam Trung Quốc. Trong tình trạng nhân dân Trung Quốc nghèo đói và nổi dậy như vậy, những lời can ngăn của bọn quan lại cấp dưới đã làm tên vua Mông Cổ Hốt Tất Liệt phải bất đắc dĩ hoãn cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt. Khi nghe khu mật viện đem những lời của hành tỉnh Hồ Quảng tâu lên, hắn ra lệnh ngừng việc tập trung quân và cho quân sĩ trở về các doanh. Bọn Việt gian Trần Ích Tắc lại lủi thủi trở về châu Ngạc (Hồ Bắc7).
---------------- 1. Toàn thư q. 5, t. 52b.
2. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 4a. Ở đây Bản kỷ chép tên sứ Nguyên là Diệc Mã Lạt Đan. Phải chép là Diệc Lạt Mã Đan mới đúng ( trong Nguyên sử có đến ba người tên là Diệc Lạt Mã Đan. Xem Tam sử đồng danh lục của Uông Huy Tô). Diệc Lạt Mã Đan là phiên âm tên Iramadan. Iramadan là cách gọi Mông Cổ tên Ramadān của người Hồi giáo. Người Mông Cổ thường thêm âm i vào trước một số tên nước ngoài. Như vậy, viên sứ này cũng là một người Hồi giáo.
3. Trong bức thư của Trần Thánh Tông gửi Hốt Tất Liệt, 1288, có đoạn: “Sau lúc đại quân rút về (chỉ 1285-T.G)… vi thần đã đọc sai bọn thông thị đại phu Nguyễn Nghĩa Toàn, hiệp trung đại phu Nguyễn Đức Vinh, hữu vũ đại phu Đoàn Hải Khung, trung đại phu Nguyễn Văn Ngạn kính dâng các đồ phương vật… Ngờ đâu đều không được về (chép trong Thiên Nam hành ký của Từ Minh Thiện, bản Thuyết phu t. 10). An Nam chí lược q. 14 Trần Thị Khiển sứ chép là năm Bính Tuất 1286), Nguyễn Nghĩa Toàn, Nguyễn Đức Vinh vào cống và Nguyễn Nghĩa Toàn bị giữ lại. Còn Nguyễn Văn Ngạn thì đến năm Đinh Hợi (1287) mới vào cống và cũng bị giữ lại (xem An Nam chí lược q. 14, Nguyên sử q. 14 bản kỷ, t. 10b.
4. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 8b.
5. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t. 8b. Nguyên sử q. 14 Bại kỷ t. 4a chép: “Ngày Quý Sửu (tháng 6 Chí Nguyên 243) (10-7-1286) Xen-ghê (Tuyến Kha) ở hành tỉnh Hồ Quảng nói : “Nay dùng binh ở Giao Chỉ, chia quân của bản tỉnh 28.700 người, hẹn tháng 7 đều hội ở Tình Giang, nay đã phát quân tinh nhuệ ra đi, còn lại hơn 17.800 người đều là quân ốm yếu đồn điền, không thể dùng được”.
6. Nguyên sử q. 168 Lưu Tuyên truyện, t. 8a.
7. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 8b. An Nam truyện chép rằng tháng 5 năm Chí Nguyên 23 (25/5 – 23/6/1286), quân Nguyên có tiến vào Đại Việt và vua Trần phải rút khỏi kinh thành.
Nguyên sử q. 151 Cao Náo Nhi (Naur) truyện cũng chép: “Năm đó (Chí Nguyên 23, 1286-T.G) mùa hạ, lại đem quân đuổi đánh thế tử Giao Chỉ ở chỗ ba cửa biển giao nhau, đánh nhau với quân địch (quân Trần-T.G), trúng tên độc chết” (t. 2b).Chúng tôi cho rằng những tài liệu trên đây của Nguyên sử là nhầm. Đọc những lời khuyên can ở trên, chúng ta cũng thấy nhà Nguyên chỉ mới tập trung quân chứ chưa tiến vào. Tháng 6 năm Chí Nguyên 23, tuyên úy ty Hồ Nam còn nói là đợi năm sau hãy cất quân. Xen-ghê và Lưu Tuyên đều nói là tháng 7 năm Chí Nguyên 23 mới hội quân ở Tĩnh Giang. Do đó, chúng tôi cho rằng không có cuộc tiến quân vào Đại Việt vào tháng 5 năm Chí Nguyên 23. An Nam chí lược và Toàn thư cũng không nói gì đến việc đó.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #58 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 04:01:43 pm » |
|
Cuộc viễn chinh xâm lược ngừng lại nhưng Hốt Tất Liệt vẫn không từ bỏ âm mưu của mình. Tháng 7-1286, hắn ra lệnh hoãn binh nhưng đến cuối năm thì mưu đồ gây chiến lại sôi sục trong đầu óc hắn. Việc cấp bơn nghìn ngựa cho Thoát Hoan vào tháng 11 năm 1286 có thể coi là sự kiện đánh dấu cho mưu đồ đó1. Ngày Kỷ Ty tháng 11 âm lịch (23/11/1286), Hốt Tất Liệt lại cử A-ba-tri; Abači) làm hữu thừa của “Chinh Giao Chỉ hành tỉnh”, tức là cái cơ quan được lập nên để chuẩn bị đánh Đại Việt2.
Đến năm sau, năm Đinh Hợi, 1287, Hốt Tất Liệt lại đẩy mạnh hơn nữa hoạt động chuẩn bị xâm lược Đại Việt. Hắn đã quên hẳn những lời can ngăn của Xen-ghê và Lưu Tuyên, và chừng như tự cho rằng hắn đã thực hiện cái kế của tuyên úy ty Hồ Nam, cố gắng “đợi đến năm sau thiên thời lợi hơn một chút rồi hãy cất quân”.
Tháng giêng năm đó (15/1 – 13/2/1287), Hốt Tất Liệt đã gấp rút điều động quân và tổ chức việc xâm lược. Cơ quan phụ trách việc xâm lược Đại Việt được gọi là “Chinh Giao Chỉ hành thượng thư tỉnh”. A-gu-ruc-tri vẫn được cử làm bình chương chính sự3. Ngoài viên hữu thừa A-ba-tri đã cử từ năm trước, Hốt Tất Liệt còn lấy Trình Bằng Phi làm hữu thừa và A-li (‘Ai, A Lý) làm tả thừa4, Ô Mã Nhi (‘Omar) và Phàn Tiếp làm tham tri chính sự5… phần lớn các tướng là những tên đã đi xâm lược Đại Việt năm 1284-1285. Tất cả các tướng tá đều đặt dưới quyền tổng chỉ huy của Thoát Hoan.
Trong số quân Hốt Tất Liệt điều động lần này6 có 1.000 quân tân phụ (quân miền Nam của Nam Tống cũ) do A-ba-tri chỉ huy, 70.000 quân Mông Cổ và quân Hán (người Trung Quốc miền Bắc) của ba tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ Quảng7, 6.000 quân Vân Nam (có lẽ quân Kha-ra-jang, người Ô Man tức người Di) do viên tướng người Tang-gut (Tây Hạ) là A-ruc (Aruq, Ái Lỗ) chỉ huy8. Ngoài ra, còn có 15.000 quân người Lê ở đảo Hải Nam9. Đấy là chưa kể số động binh (quân miền núi, chỉ người Choang) ở Quảng Tây do viên tướng người Kíp Trắc (Kipčak, Trung Á) là Sic-tua (Šiktur, Tích Đô Nhi) chỉ huy10. Càng mang nhiều quân thì việc tiếp tế lương thực lại càng nặng nề. Không thể huy động mấy chục vạn phu gánh gạo theo quân nên nhà Nguyên lần này phải tải lương bằng đường biển. Trương Văn Hổ, con một tên cướp biển đã đầu hàng Hốt Tất Liệt, được giữ chức Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ11 cùng với Phí Củng Thìn, Đào Đại Minh phụ trách 70 thuyền vận tải chở 17 vạn thạch lương12. Để hộ tống thuyền lương đồng thời cũng là để mở một mũi tấn công bằng đường thủy vào một phía của quân Việt, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Trương Ngọc, Lưu Khuê… được lệnh đem 500 chiến thuyền từ Khâm Châu tiến vào Đại Việt13. Huy động 500 thuyền đánh Đại Việt là một cố gắng mới đáng chú ý trong kế hoạch xâm lược của Hốt Tất Liệt. Rút kinh nghiệm hai lần chiến tranh trước, hắn thấy được rằng tiến quân vào một xứ sông ngòi chằng chịt mà không có thuyền thì kỵ binh thật khó xoay xở và không thể nào chống nổi đội thủy quân thiện chiến Đại Việt Năm ngoái, Hốt Tất Liệt đã ra lệnh cho Hồ Quảng đóng 300 thuyền, nhưng đến nay hắn đã cho tăng thêm 200 thuyền nữa. Nhưng có lẽ Hốt Tất Liệt vẫn chưa bằng lòng với số quân thuyền đã chuẩn bị. Đến tháng 9 âm lịch (9/10/ - 6/11/1287), an phủ sứ Quỳnh Châu (Hải Nam) Trần Trọng Đạt tổng quản Nam Ninh Tạ Hữu Khuê, tổng quản Diên Lan Bồ Tý Thành đem số thuyền riêng là 120 chiếc và hơn 1.700 quân người Lê giúp đạo quân đánh Đại Việt thì Hốt Tất Liệt liền ban hổ phù cho Trọng Đạt, kim phù cho Hữu Khuê và Tý Thành14.
Tên vua Nguyên đã chuẩn bị khá chu đáo cho cuộc chiến tranh xâm lược nhưng hắn vẫn e ngại trước sức mạnh của Đại Việt. Hắn đã biết Đại Việt là “nước bé nhỏ thế mà sai thân vương đem quân tiến sâu vào, chưa từng thấy báo công. Toa Đô bại bị địch giết, tự lưu lại điều xấu hổ nhục nhã” như lời Lưu Tuyên nói15. Chính vì thế mà trước khi đạo quân xâm lược xuất phát, ngày Kỷ Tỵ tháng 8 âm lịch (19/9/1287), Hốt Tất Liệt đã chỉ thị cho Thoát Hoan và bọn A-gu-ruc-tri “không được cho Giao Chỉ là nước nhỏ mà khinh thường” 16.
---------------- 1. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 5b chép việc này vào ngày Ất Mão tháng 10 (9-11-1286).
2. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 6a Abatri (Abači), Nguyên sử phiên âm là A. Bát Xích; Abači, tiếng Mông Cổ có nghĩa là “người đi săn”.
3. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. ga; q. 14 Bản kỷ t. 7a. “Chinh Giao Chỉ hành thượng thư tỉnh” năm 1287 tức là “Chinh Giao Chỉ hành tỉnh” năm 1286 (xem trước). Thực ra, việc xâm lược các nước Đại Việt, Chiêm Thành là nhiệm vụ trực tiếp của hành tỉnh Hồ Quảng. “Hồ Quảng hành trung thư tỉnh” (gọi tắt là Hồ Quảng hành tỉnh) cũng có tên là “Kinh Hồ hành tỉnh" hay “Kinh Hồ - Chiêm Thành hành tỉnh” (phụ trách đánh Chiêm Thành) (xem Nguyên sử q. 122 Hổ Đô Thiết Mộc Lộc truyện) hoặc “An Nam hành trung thư tỉnh” (phụ trách đánh Đại Việt). “Chinh Giao Chỉ hành tỉnh” hay “Chinh Giao Chỉ hành thượng thư tỉnh” thực chất cũng là Hồ Quảng hành tỉnh mà thôi. Bấy giờ, 1287, “Hồ Quảng hành trung thư tỉnh” cũng đổi ra “Hồ Quảng hành thượng thư tỉnh” (xem Nguyên sử q. 129 Lai A Bát Xích truyện).
4. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ, t. 7a chép việc này vào ngày Bính Tuất, tháng giêng (8-2-1287). Trình Bằng Phi là viên tướng Tống đã đầu hàng quân Mông Cổ năm 1274.
5. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9a; q. 14 Bản kỷ t. 7a. Phàn Tiếp là viên tướng đã theo A-ric Kha-y-a đánh Đại Việt năm 1284-1285, nhưng bấy giờ y chưa giữ chức tham tri chính sự (gọi tắt là tham chính) mà chỉ là thiêm tỉnh (xem Nguyên sử q. 166 Phàn Tiếp truyện, t. 10a). Trong lần chiến tranh này, còn có viên tướng đã tham gia cuộc xâm lược Chiêm Thành trước đây là Khu-tu-khu (Quttuqu, Hốt Đô Hổ). Xem Nguyên sử q. 123 Thiệu Cổ Nhi truyện t. 3b.
6. An Nam chí lược q. 4 chép là 10 vạn quân. Toàn thư chép là năm Bính Tuất (1286), vua Nguyên điều 50 vạn quân để đánh ta (q. 5, t. 52a). Năm 1287 khi quân Nguyên tiến vào, thì lại chép riêng khi chúng hội quân ở Vạn Kiếp số quân là 30 vạn (q. 5, t. 52b). Tổng số các loại quân chép ở Nguyên sử An Nam truyện là 92.000 chưa kể động binh.
7. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9a. Bản kỷ chép số quân tân phụ điều động vào ngày Đinh Hợi tháng giêng (9-2-1287) còn các số quân khác điều động ngày Tân Mão (13/2/1287) (q. 14, t. 7a).
8. Nguyên sử, q. 209 An Nam truyện t. 9a; q. 122 Ái Lỗ truyện t. 8b.
9. Nguyên sử, q. 209 An Nam truyện t. 9a.
10. Nguyên sử An Nam truyện và Bản kỷ không nói đến động binh nhưng An Nam chí lược lại chép rõ 10 vạn quân là gồm “quân Mông Cổ và quân Hán của bốn tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ Quảng, Vân Nam, Động binh Quảng Tây, Lê Binh Hải Nam” (q. 4 Chinh thảo vận hướng). Nguyên sử q. 133 Tích Đô Nhi truyện chép rằng tháng 7 năm Chí Nguyên 24 (1287), Sic-tua (Šiktur, Nguyên sử phiên âm là Tích Đô Nhi) đã suất lĩnh động quân theo Thoát Hoan đánh Giao Chỉ. Bấy giờ y đang giữ chức Đa-ru-ga-tri phủ vạn hộ Hữu Giang (Quảng Tây) (t.9b).
11. An Nam chí lược q. 4 chép nhầm là Lý Văn Hổ. Tân Nguyên sử q. 182 Trương Huyên truyện, t. 3a chép: “Năm 24 (1287), sai con (Chu) Thanh là Tế, con (Trương) Huyên là Văn Hổ, đều làm thiên hộ, chở 17 vạn thạch lương đánh Giao Chỉ”. Văn Hổ truyện (Thương Huyên truyện phụ) t. 5a chép: “Năm 24 (1287) (Văn Hổ) theo Trấn Nam vương đánh An Nam, trao chức Giao Chỉ hải thuyền vạn hộ”. Chu Thanh và Trương Huyên đều là cướp biển đầu hàng Hốt Tất Liệt.
12. An Nam chí lược q. 4 chép là 70 thuyền vận tải. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t.9a và q. 14 Bản kỷ, t. 7a chép là 17 vạn thạch lương. Toàn thư chép là 70 vạn thạch lương (q. 5, t. 51b).
13. Theo Nguyên sử An Nam truyện và An Nam chí lược q. 4.
14. Theo Nguyên sử q. 14 Bản kỷ, t. 10a chép việc này vào ngày kỷ hợi, tháng 9 (19-10-1287).
15. Nguyên sử. q. 168 Lưu Tuyên truyện t.8a-8b.
16. Nguyên sử, q. 14 Bản kỷ t. 10a.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #59 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 05:04:59 pm » |
|
Trong lúc Hốt Tất Liệt và bọn phong kiến Nguyên Mông ráo riết chuẩn bị gây chiến tranh ăn cướp như vậy, thì nước Việt bé nhỏ mà kẻ thù khiếp sợ cũng đang từng giờ từng phút chuẩn bị chiến đấu. Sau chiến thắng oanh liệt năm 1285 quét sạch bóng thù trên đất nước, nhà Trần vẫn giữ đường lối ngoại giao mềm dẻo như trước. Vua Trần lại cử các sứ bộ mang cống vật sang triều đình Nguyên. Tháng giêng năm Bính Tuất, niên hiệu Trùng Hưng thứ 2 (26/1 – 24/2/1286), vua Trần tha bọn tù binh Nguyên vừa bị bắt về nước1. Vương triều Trần hết sức nhân nhượng, muốn cho nhà Nguyên đỡ mất thể diện, mong tránh được cuộc chiến tranh báo thù. Nhưng dã tâm của kẻ địch càng ngày càng lộ rõ. Các sứ thần của ta đều bị Hốt Tất Liệt bắt giữ2. Trước thái độ khiêu khích của thẻ thù, toàn quân toàn dân Đại Việt đã hết sức cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu. Khi được tin vua Nguyên lại chuẩn bị xâm lược thì việc tập dượt của quân đội ngày càng được đẩy mạnh. Tháng 6 năm Trùng Hưng thứ 2 (13/6 – 22/7/1286), Trần Nhân Tông ra lệnh cho tất cả vương hầu tông thất mộ thêm binh lính, chấn chỉnh lực lượng. Chiến thuyền, khí giới được gấp rút chế tạo, tu sửa; Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn lại được cử làm tướng chỉ huy chung, đôn đốc việc chuẩn bị của triều đình là vương hầu. Đến tháng 10 âm lịch năm đó (19/10 – 16/11/1286), một cuộc diễn tập lớn được tổ chức3. Tất cả các nơi hiểm yếu đều đã có quân đóng giữ. Biết tin kẻ thù chuẩn bị binh thuyền, nhà Trần đã tăng cường việc phòng thủ đường biển. Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư được phong làm phó tướng, đóng quân ở Vân Đồn (Hải Vân, cù lao Lợn lòi), phụ trách việc quân sự miền ven biển. Năm 1286 khi nghe tin vua Nguyên điều động quân sang xâm lược, Trần Nhân Tông đã hỏi Hưng Đạo vương: “Năm nay thế giặc ra sao?”. Hưng Đạo đã trả lời: “… Quân kia nếu lại đến thì quân sĩ của ta đã quen đánh trận, quân của chúng thì sợ đi xa, lại còn bị cái thất bại của Hằng, Quán đe dọa, không có chí chiến đấu. Theo như thần thấy, phá được chúng là tất nhiên” 4. Câu nói đầy tin tưởng đó của vị tướng tổng chỉ huy cũng phản ánh được tình hình chuẩn bị kháng chiến. Với tinh thần “Sát Thát”, quyết tâm tiêu diệt địch, quân sĩ ta đã ra sức rèn luyện để có một kỹ thuật chiến đấu cao. Đầu năm 1287, khi quan chấp chính xin tuyển thêm quân, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã nói: “Quân quý ở chỗ tinh nhuệ, không quý ở chỗ nhiều, như Bồ Kiên có trăm vạn quân cũng chẳng làm được gì5. Chính dựa vào tinh thần chiến đấu, sự rèn luyện của quân dân và kế hoạch chống giặc của mình mà khi kẻ thù xâm phạm Tổ quốc, Trần Quốc Tuấn đã quả quyết nói với nhà vua rằng: “Năm nay đánh giặc dễ” 6.
Tin chắc ở thắng lợi cuối cùng, nhân dân Đại Việt sẵn sàng chiến đấu trong cuộc chiến tranh mới. Đã đến lúc Hốt Tất Liệt liều lĩnh thực hiện kế hoạch xâm lược của hắn. Lần tấn công này cũng như lần chiến tranh trước, Hốt Tất Liệt đã cho một mũi quân tiến từ Vân Nam xuống và một mũi quân tiến vào biên giới Lạng Sơn, nhưng khác với lần trước, hắn còn cho một mũi thủy quân vượt biển, tiến vào theo đường sông Bạch Đằng.
Ngày 3 tháng 9 năm Đinh Hợi (11/10/1287), quân Nguyên dưới quyền chỉ huy của Thoát Hoan là A-gu-ruc-tri xuất phát từ Ngạc Châu (Hồ Bắc) 7. Ngày Ất Dậu 28 tháng 10 (4/12/1287) đến huyện Lai Tân (Quảng Tây), Thoát Hoan cho tách quân thủy bộ8. Thoát Hoan đi với đoàn bộ binh. Trần Ích Tắc cũng được Thoát Hoan đem về theo9. A-ba-tri với một nghìn quân tiếp tục dẫn đường đưa Thoát Hoan đến châu Tư Minh10. Ngày Kỷ Hợi 13 tháng 11 (18/12/1287) đến Tư Minh, Thoát Hoan dừng lại chấn chỉnh đội ngũ. Hắn sai viên vạn hộ Hạ Chỉ cùng với 2.500 quân ở lại giữ xe cộ quân nhu11. Một số tướng tá và bọn Việt gian Lê Trắc cũng ở lại để vào sau12. Ngày Bính Ngọ 20 tháng 11 (25/12/1287), Thoát Hoan tiến quân đến con sông ở biên giới. Quân ta tiến lên đánh rồi rút ngay13. Ngày Canh Tuất 24 tháng 11 (29/12/1287), Thoát Hoan đến Lộc Châu (Lộc Bình, Lạng Sơn), chia quân làm hai cánh14 tiến xuống theo hai con đường phía tây và phía đông như trong cuộc chiến tranh vừa qua. Trình Bằng Phi và Bôn-kha-đa (Bolqadar) đem một vạn quân Hán tiến theo con đường phía tây từ Vĩnh Bình đến Chi Lăng, tức theo con đường quốc lộ số 1 ngày nay. Trong cuộc chiến tranh trước, năm 1285, Bôn-kha-đa cũng đã tiến quân theo con đường này15. Thoát Hoan chỉ huy số quân còn lại đi theo con đường phía đông tức con đường từ Lộc Bình (Lạng Sơn) đi Sơn Động (Hà Bắc) ngày nay16. Năm 1285, chính Thoát Hoan đã tiến theo con đường này cùng với A-ric Kha-y-a. Bây giờ, viên bình chương A-gu-ruc-tri dẫn một vạn quân đi cùng Thoát Hoan. A-ba-tri đem một vạn quân đi tiên phong17.
Cánh quân phía tây của Trình Bằng Phi và Bôn-kha-đa tiến qua các cửa quan Chi Lăng, Hãm Sa, Từ Trúc, đánh nhau với quân ta tất cả 17 trận18. Ngày 24 tháng 11 (29/12/1287), quân Nguyên tiến đánh cửa Lãnh Kinh. Hưng Đức hầu Quán chỉ huy cấm quân dùng tên độc bắn. Quân giặc chết rất nhiều, phải lui về đóng ở cửa Vũ Cao19. Cánh quân của Thoát Hoan và A-gu-ruc-tri sau khi tiến qua các cửa quan trên con đường phía đông như Nữ Nhi, Khả Lỵ…, ngày Giáp Dần 28 tháng 11 (2/l/1288) đã đến Vạn Kiếp20. Đi 4 ngày từ Lộc Châu đến Vạn Kiếp, rõ ràng cánh quân này đã tiến khá nhanh. Có lẽ đã nắm chắc được đây là con đường tiến quân của cánh quân mạnh nhất do Thoát Hoan và A-gu-ruc-tri trực tiếp chỉ huy nên Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn chỉ cho tướng sĩ đánh kìm chân giặc ở một số cửa ải rồi rút lui nhanh để bảo toàn lực lượng tránh va chạm lớn với địch21.
Cánh quân Vân Nam do viên hữu thừa A-ruc (Aruq) chỉ huy đã ra đi trước ngày đạo quân Thoát Hoan đến Tư Minh, từ Trung Khánh (Côn Minh, Vân Nam) qua vùng các dân tộc Lô Lô (tức người Di), Bạch Y (tức người Thái) để vào biên giới Đại Việt22. Ngày Nhâm Thìn, 6 tháng 11 (11/12/1287) A-ruc cùng với chư vương A-tai (Atai) và Mang-khu-đai (Mangqudai) đã tiến đến Bạch Hạc, đánh nhau với 4 vạn quân của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật ở cửa quan Mộc Ngột (Việt Trì). Trong trận này, quân ta bị mất một số thuyền, tướng Trần là Lê Thạch và Hà Anh bị giặc bắt23. Quân A-ruc tiếp tục tiến. Ngày 14 tháng 11 (19-12-1287) chúng đánh vào cửa quan Phú Lương24.
--------------- 1. Toàn thư q. 5, t. 50b. Trần đại vương bình Nguyên thực lực chép rằng nhà Trần đã khắc chữ lên mặt 5 vạn hàng binh rồi cho về, răn rằng kẻ nào lại sang, nếu bắt được thì chém (Toàn thư q. 5, t. 49b chép là sau khi chém Toa Đô, ta bắt được hơn 5 vạn tù binh).
2. Xem thư vua Trần trong Thiên Nam hành ký đã dẫn ở trên. Sau khi sứ bộ Nguyễn Nghĩa Toàn, Nguyễn Đức Vinh bị giữ năm 1286, 27/10/1287 sứ ta là trung đại phu Nguyễn Văn Ngạn, thông thị đại phu Lê Trọng Khiêm sang cống phương vật (Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 10b) An Nam truyện chép là trung đại phu Nguyễn Văn Thông, chắc là chép nhầm hai người làm một. An Nam chí lược q. 14 chép là Nguyễn Văn Ngạn, Bạch Xá đi cống và Văn Ngạn bị giữ lại vài năm mới được thả về.
3. Toàn thư q. 5, t. 51a-51b.
4. Toàn thư q. 5, t. 51a-51b.Xem chú thích về Lý Quán ở chương VI.
5. Toàn thư q. 5, t. 52a. Ở đây, Trần Quốc Tuấn muốn nhắc đến trận sông Phì trong lịch sử Trung Quốc. Năm 383, Bồ Kiên, vua Tiền Tần (một nước do tộc Đê lập nên ở Bắc Trung Quốc) đã kéo gần một trăm vạn quân đánh Đông Tấn (Hán tộc). Tướng Tấn là Tạ Thạch, Tạ Huyền đã đánh tan tác quân Tiền Tần ở sông Phì. Bồ Kiên phải bỏ trốn về Lạc Dương, thu thập tàn quân, chỉ còn mười mấy vạn.
6. Toàn thư q. 5, t. 52a.
7. An Nam chí lược q. 4 Chinh thảo vận hướng và q. 19 Tự sự.
8. An Nam chí lược q. 4.
9. An Nam chí lược q. 13.
10. Nguyên sử q. 129 Lai A Bát Xích truyện, t. 2a chép: “Tháng 9 (Chí Nguyên 24), đem một nghìn trung vệ thân quân dẫn đường cho hoàng tử Thoát Hoan đến châu Tư Minh”.
11. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 11b; Nguyên sử q. 166 Hạ Chỉ truyện t. 7a; Nguyên sử q. 209 An Nam chí lược t. 9a.
12. An Nam chí lược q. 19 Tự sự.
13. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 11b chép: ngày Bính Ngọ Trấn Nam vương đến Giới hà. Giao Chỉ phát quân chống giữ. Quân tiền phong đánh phá được”. Sau đó Thoát Hoan tiến đến Mộc Cháu. Giới hà có thể hiểu là sông biên giới, có lẽ là chỉ sông Kỳ Cùng.
14. An Nam chí lược q. 4 An Nam chí lược chép ngày Canh Tuất là ngày 23 tháng 11. Ngày Canh Tuất là ngày 24 mới đúng. Ngày 23 là ngày Kỷ Dậu.
15. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 9a chép là Trình Bằng Phi và Bôn Kha Đa (Bolqadar, Bột La Hợp Đáp Nhi) “theo Vĩnh Bình đường phía tây”. An Nam chí lược q. 4 chép: “Hữu thừa Trình Bằng Phi (bản in sót chữ Phi - T. G), tham chính Bột (bản đã in lầm chữ Bột thành chữ Sách- T.G) -la - (hợp) - đáp - nhi theo ải Chi Lăng. Như vậy là cánh quân này tiến theo đường Vĩnh Bình đến Chi Lăng, tức theo quốc lộ số 1 hiện nay. Xem chương VI.
16. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. ga chép A-gu-ruc-tri và Thoát Hoan “tiến theo ải Nữ Nhi đường phía đông”. An Nam chí lược q. 4 chép: “Đại quân của vương (chỉ Thoát Hoan - T.G) theo ải Khả Lỵ” Ái Khả Ly và ải Nữ Nhi đều nằm trên con đường vòng từ Lộc Bình đi Sơn Động ngày nay. Xem chương VI.
17. An Nam chí lược q. 4; Nguyên sử q. 209 An Nam truyện, t.9a.
18. Nguyên sử q. 209 An Nam truyện chép: “Trình Bằng Phi và Bôn-kha-đa qua ba cửa quan Lão Thử, Hãm Sa, Từ Trúc”. Cửa Lão Thử tức cửa Chi Lăng (An Nam chí lược q. 4). Cửa quan Từ Trúc có lẽ là cửa quan Thích Trúc mà Trần Phu, sứ Nguyên năm 1292, đã chép đến. Trong Cương Trung thi tập q. 2 Giao Châu ccảo, Trần Phu chép rằng: “Từ cửa quan Lão Thử đi về phía tây có các ngọn núi nhô lên đẹp đẽ… gồm 30 dặm đến Thích Trúc quan (cửa tre gai), dưới có quân đóng giữ, trên cửa quan hai núi giao nhau, chỉ thông được đường ngựa đi, tre lớn chu vi hai thước, trên có gai nhọn. Đó là nơi trấn hiểm của nước ấy”. Như vậy cửa quan này ở tây nam Chi Lăng, có lẽ ở trong đất huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn) ngày nay. Cửa Hãm Sa hẳn là ở giữa Chi Lăng và Từ Trúc.
19. Toàn thư q. 5, t. 52a.
20. Nguyên sử q. 14 Bản kỷ t. 11b.
21. Nguyên sử q. 129 Lai A Bát Xích truyện, t. 2a chép A-ba-tri “tuyển quân tinh nhuệ, đánh nhau với giặc (chỉ quân Đại Việt - T.G) ở cửa Nữ Nhi, chém đầu kể hàng vạn, quân còn lại bỏ cửa quan chạy”. Đấy chỉ là sự khoa trương của Nguyên sử vì lần này Quốc Tuấn đã rút được kinh nghiệm trong kế hoạch phòng thủ tác chiến.
22. Nguyên sử q. 122 Ái Lỗ truyện (Tích Lý Kiềm Bộ truyện phụ) t. 8b chép: “Năm (Chí Nguyên 24) (1287)… Trấn Nam vương đánh Giao Chỉ, chiếu cho A-ruc (Á Lỗ, Aruq) đem 6 nghìn quân đi theo, từ La La đến Giao Chỉ. Nguyên sử q. 15 Bản kỷ chép: “Hữu thừa tỉnh Vân Nam là A-ruc (Ái Lỗ) tâu rằng từ lúc xuất phát ở Trung Khánh qua La La, Bạch Y vào Giao Chỉ, đi về đánh 38 trận. La La là phiên âm tên tộc Lô Lô. Bạch Y tức người Thái.
23. An Nam chí lược q. 4 chép: “Hữu thừa Ái Lỗ (Arup) cũng từ Vân Nam tiến quân đến Tam Đại Giang, đánh nhau với em (vua) là Trần Duật, bắt được tướng Hà Anh, Lê Thạch”. Nguyên sử q. 149 Mang Cổ Đái truyện (Da Luật Thốc Hoa truyện phụ) chép rằng Mang-khu-đai (Mang Cổ Đái, Mangqudai) “theo chư vương A-tai (A Thai, Atai) đánh Giao Chỉ, đến sông Bạch Hạc, đánh nhau với Chiêu Văn vương của Giao Chỉ, cướp được 87 chiến hạm”. Nguyên sử q 14 Bản kỷ t. 11a chép: “Ngày Nhâm Thìn (tháng 11, Chí Nguyên 24) (11-12-1287), quân của hữu thừa tỉnh Vân Nam là A-ruc (Ái Lỗ) đến cửa Mộc Ngột đất Giao Chỉ. Tướng Giao Chỉ là Chiêu Văn vương đem 4 vạn người ra giữ. A-rúc phá được, bắt được tướng Lê Thạch, Hà Anh. Nguyên sử q. 122 Ái lỗ truyện t 8b cũng chép là A-ruc đánh nhau với Chiêu Văn vương ở cửa Mộc Ngột, bắt được Lê Thạch và Hà Anh. Như vậy, cánh quân của A Tai, Mang-khu-đai cũng là cánh quân của a-ruc, và tất cả các tài liệu trên cho ta biết cuộc chiến đấu của Trần Nhật Duật xảy ra ở Bạch Hạc. Tam Đại Giang trong An Nam chí lược là chỉ chỗ hợp lưu sông Thao, sông Lô và sông Đà, tức cũng là Bạch Hạc. Vậy cửa Mộc Ngột cũng ở vùng này. Toàn thư có chép rằng trước khi đánh thành Đa Bang của nhà Hồ, “quân Minh cướp bờ sông Mộc Hoàn ở Việt Trì”, “tập kích quân Hồ ở châu Mộc Hoàn rồi sau đó mới sang sông. Đồng Khánh địa dư chí (tỉnh Sơn Tây) có ghi tổng Mộc Hoàn xã Mộc Hoàn hay (Mộc Phàm) ở chỗ hợp lưu sông Hồng và sông Lô. Có lẽ Mộc Ngột là chép lầm từ Mộc Hoàn hay Mộc Phàm. Dựa vào Toàn thư, chúng tôi cho là ở Việt Trì.
24. Toàn thư q. 5, t. 52a. Toàn thư lầm chư vương A Thai (A Tai) ra là thái tử.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|