Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:48:08 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII  (Đọc 37134 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #70 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 08:22:40 pm »


        Thứ hai là Hốt Tất Liệt đòi vua Trần thả hết tù binh, đặc biệt là phải trao trả Ô Mã Nhi : “Si-rê-ghi là người tộc thuộc của ta, ngươi đã lấy lễ cho về, y là người có tội phải trích thú. Nếu ngươi lấy chuyện đó tô vẽ thêm thì hãy đem bọn quân quan Ô Mã Nhi Bạt Đô (‘Omarba’atur) trả về, như thế mới tỏ được lòng trung thuận. Ngày tiếp được chiếu thư này, bọn quân quản Ô Mã Nhi Bạt Đô phải cùng đến triều kiến. Bọn ấy nếu phải xử lý thế nào, trẫm sẽ phải khu xử hoàn bị. Ngươi phải cho đưa họ về tất cả” 1.

        Bọn sứ Nguyên được vua Trần tiếp đãi tử tế2. Nhà vua còn dùng vàng để mua chuộc chúng3. Nhưng cuối cùng, tất cả những yêu sách của Hốt Tất Liệt đều bị cự tuyệt. Vua Trần nhất định không sang chầu và Ô Mã Nhi thì không bao giờ trở về nữa. Tên tướng tàn ác ấy đã bị giết chết trước khi bọn sứ Nguyên đến Đại Việt.

        “Năm Kỷ Sửu (niên hiệu Trùng Hưng) thứ 5, mùa xuân, tháng hai (22/2 – 23/3/1289), nhà vua sai nội thư gia Hoàng Tá Thốn đưa bọn Ô Mã Nhi về nước. Dùng kế của Hưng Đạo vương, lấy người giỏi ở nước chở thuyền, đang đêm đục thuyền cho ngập nước, bọn Ô Mã Nhi chết đuối” 4.

        Phàn Tiếp cũng đã chết, vua Trần cho đốt xác rồi sai gia nhân hắn mang về nước.

        Bọn Lưu Đình Trực, Lý Tư Diễn thất bại trở về. Vua Trần sai các đại phu Đàm Minh, Chu Anh Chủng đi cùng với bọn sứ Nguyên sang Đại Đô (Bắc Kinh) 5. Trong thư gửi Hốt Tất Liệt, Trần Thánh Tông đã biện bạch về việc không sang chầu và về cái chết của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp:

        “… Vi thần ở nơi góc biển hẻo lánh, ốm đau lâu ngày, đường sá xa xôi, thủy thổ gian nan, tuy số mệnh do trời định nhưng cái chết vẫn là điều sợ nhất đối với con người… Năm ngoái nhân dân tiểu quốc đưa đến những quan quân còn sót lại vi thần tự xét hỏi, chỉ được ba người là đại vương Si-rê-ghi (Tích Lệ Cơ), tham chính Ô Mã Nhi và Phàn tham chính (chỉ Phàn Tiếp - T. G). Trăm họ đều căm giận vì vợ con bị giết chóc, nhà cửa bị đốt phá, nhiều người muốn làm điều trái nghĩa, nhưng vi thần hết lòng che chở, cấp dưỡng rất hậu, thê thiếp họ đều được ăn mặc đầy đủ. Trước khi về đã sắm đủ hành lý, đặc sai sứ thần là tông nghĩa lang Nguyễn Thịnh đi theo đại vương Si-rê-ghi cùng Tang-gu-tai (Đường Ngột Đải) 6 vào cửa khuyết. Trong khi đó, hai quan tham chính còn chậm lại sau vì đại quân vừa lui, ý sợ tham chính chưa nguôi lòng giận ắt sinh ra tai vạ nên đế chậm lại rồi mới sai đưa ra bên thuyền để lên đường. Ngờ đâu kẻ vi thần vô phúc, việc xảy ra trái với ý muốn, Phàn tham chính bỗng phát cơn sốt, vi thần đã dốc hết thuốc thang, thuê bộ hạ tìm thầy chạy chữa, nhưng cũng không khỏi, đến phải bỏ mạng. Vi thần đã hỏa táng, làm ma chay, rồi cấp ngựa cho thê thiếp ông ta để chở xương cốt, các thiên hộ Mai Thế Anh, Tiết Văn Chính7 đi hộ tống, cùng trở về nhà. Ngày Lưu thiên sứ (chỉ Lưu Đình Trực - T. G)  đế nói họ đã qua Ung Châu rồi. Hàng ngày đối đãi kính trọng hay không, hỏi thê thiếp ông ta cũng có thể biết được. Tham chính Ô Mã Nhi định ngày sẽ tiếp tục về sau. Vì đường ngang qua Vạn Kiếp8 nên ông ta xin tới gặp Hưng Đạo đế sắm sửa hành lý. Dọc đường đang đêm thuyền bị vấp để nước dột vào, tham chính mình to vóc lớn khó bề cứu vớt thành ra bị chết đuối. Những người phu của tiểu quốc cũng đều chết hết. Thê thiếp tiểu đồng của ông ta cũng suýt nữa chết, nhờ người nhỏ nhẹ mà cứu thoát được. Vi thần đã chôn cất ma chay ở bờ biển, thiên sử lang trung đã thấy tận mắt. Nếu có sự gì bất kính thì thê thiếp (tham chính) ở đó khó mà che giấu được. Vi thần đã sắm đủ lễ vật để đưa thê thiếp cùng với xá nhân, lang trung tiếp tục về nước. Số quân nhân ở chỗ vi thần cộng lại hơn tám nghìn người, trong đó hoặc cỏ kẻ là đầu mục cũng không được biết. Nay nhờ chiêu dụ, vi thần lại tìm kiếm, nếu thêm được bao nhiêu đầu mục, bao nhiêu quân nhân, đều cho theo thiên sứ về nước. Sau đây nên còn sót lại chưa về được hết thì vi thần sẽ cho về không dám lưu lại một người nào” 9.

        Tiếp sau Đàm Minh và Chu Anh Chủng, trong năm Kỷ Sửu (1289), vua Trần còn cử mấy sứ bộ nữa sang Nguyên10.

        Tất nhiên những lời biện bạch khôn khéo của vua Trần không thể nào làm tên chúa Nguyên thỏa mãn. Hốt Tất Liệt vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược Đại Việt. Tuy hắn đã ra lệnh cho quân lính đã đi đánh Đại Việt về nhà nghỉ một tháng11 và tháng 2 năm Kỷ Sửu (22/1 – 22/3/1289), bọn quan ở trung thư tỉnh đã đề nghị thu hồi phù ấn của Chinh Giao Chỉ hành tỉnh12 nhưng tất cả những sự việc đó tuyệt nhiên không nói lên rằng ý đồ xâm lược của Hốt Tất Liệt đã bị dập tắt. Từ ngày Ất Sửu 12 tháng 6 năm Mậu Tý (11/7/1288), Hốt Tất Liệt đã ra lệnh cho người Mông Cổ chỉ huy quân Hán tập duyệt thủy chiến13. Điều đó chứng tỏ tên vua Nguyên vẫn dòm ngó các nước phương Nam. Ngày Đinh Mão, 17 tháng 2 năm Kỷ Sửu (10/3/1289), viên quản quân vạn hộ Thành Đô là Lưu Đức Lộc xin đem 5 nghìn quân chiêu hàng các bộ lạc ở Tây Nam Trung Quốc rồi từ đó tiến quân đánh chiếm Đại Việt. Khu mật viện đề nghị lập nguyên soái phủ, lấy Lưu Đức Lộc làm đô nguyên soái và chia cho một vạn quân Tứ Xuyên. Hốt Tất Liệt đã nghe theo ý kiến đó14. Như vậy là hắn muốn chuẩn bị mở một con đường tấn công vào phía Tây Bắc của Đại Việt.

--------------
1.    Tờ chiếu của Hất Tất Liệt được chép lại trong An Nam chí lược q. 2, Đại Nguyên chiếu chế và trong Thiên Nam hành ký của Từ Minh Thiện. Bản chép trong Thiên Nam hành ký đầy đủ hơn nhưng có vài chỗ sót chữ.

2.   Thiên Nam hành ký, bản đã dẫn, t. 4b-5a, chép: “Ngày 28 tháng 2 năm Kỷ Sửu (Chí Nguyên) 26 (21/3/1289) đến cửa thành nước ấy. Em thế tử là thái sư ra đón… rồi đều lên ngựa về quán dịch. Ngày 29 (22/3/1289), thế tử và sứ giả gặp nhau. Sau quán dịch có nhà lầu, thế tử đi cửa sau vào trong nhà trước, mở cửa giữa mời sứ giả vào, chào hỏi chúc mừng nhà vua muôn phúc, sứ giả đi đường bình yên. Ngày mồng 1 tháng 3 (23/3/1289) đem đủ cờ xí, tán vàng, kèn trống đón chiếu thư vào vương thành. Đến cửa điện thì xuống ngựa rồi vào, đó là điện Tập Hiền… Làm lễ xong, đãi yến sứ giả hai ngày”.

3.   Xem Xuyết canh lục của Đào Tông Nghi, q. 4, mục Sứ Giao Chỉ.

4.   Toàn thư q. 5, t. 56a.

5.   Theo thư của vua Trần trong Thiên Nam hành ký, bản đã dẫn, t. 8a. An Nam chí lược q. 14 Trần thị khiển sứ lại chép: “Năm Chí Nguyên Kỷ Sửu (1289), thế tử (vua Trần-T.G) sai đại phu Đàm Chúng sang cống”. Có lẽ Đàm Chúng tức Đàm Minh trong Thiên Nam hành ký, hoặc An Nam chí lược đã chép lầm Đàm Minh và Chu Anh Chủng làm một.

6.   Căn cứ vào tài liệu này thì Tang-gu-tai có lẽ cũng là tù binh.

7.   Các thiên hộ này cũng là tù binh.

8.   Bản trong Thuyết phu và Cổ kim đồ thư tập thành in nhầm Vạn Kiếp thành Vạn Điền.

9.   Trong Thiên Nam hành ký, bản Thuyết phu, t. 5b-t.7b.

10.   Nguyên sử q. 15 Bản kỷ chép ngày mậu thìn tháng 4 năm Chí Nguyên 26 (10/5/1289), vua Trần sai Trần Khắc Dụng đến cống phương vật (t.10a) và đến ngày Đinh Hợi tháng 10 nhuận (25/11/1289), vua Trần lại sai sứ cống (t. 13a) nhưng lần này không chép rõ tên sứ.

11.   Hốt Tất Liệt đã ra lệnh này đến hai lần, một lần vào ngày Giáp Tuất tháng 4 năm Chí Nguyên 25 (21/5/1288), một lần vào ngày Bính Tuất tháng 7 cùng năm (1/8/1288). Xem Nguyên sử q. 15 Bản kỷ t. 3b-5a.

12.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 10a

13.   Nguyên sử q. 15 Bản kỷ t. 4b.

14.   Nguyên sử q. 15 Bản kỷ t. 9a.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #71 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 08:32:40 pm »


        Nhưng những cố gắng của Hốt Tất Liệt không có kết quả. Trong suốt hai năm Mậu Tý (Chí Nguyên 25, 1288) và Kỷ Sửu (Chí Nguyên 26, 1289), Hốt Tất Liệt vẫn không tổ chức được đạo quân xâm lược Đại Việt.

        Đó là vì tập đoàn các tông vương thuộc dòng họ Ô-gô-đây (Ögödäi) và dòng họ Tra-ga-tai (Čaatai) do Khai-đu (Qaidu) và Đu-oa (Duwa) cầm đầu chống lại Hốt Tất Liệt vẫn tiếp tục đánh phá ở phía bắc. Sau khi liên kết với tập đoàn tông vương Na-y-an (Nayan), thế lực của Khai-đu càng mạnh1. Năm Đinh Hợi (Chí Nguyên 24, 1287), Hốt Tất Liệt tự cầm quân đánh Na-y-an. Na-y-an bị bắt, Hốt Tất Liệt hạ lệnh cuốn Na-y-an vào trong hai tấm thảm lông rồi sai đánh chết2. Nhưng những chư vương thuộc nhóm Na-y-an như Kha-đan (Qadan) vẫn tiếp tục cùng với Khai-đu, Đu-oa tấn công trên tiếp vào vùng đất Hốt Tất Liệt kiểm soát trong suốt hai năm Mậu Tý (1288) và Kỷ Sửu (1289) 3. Đến ngày 1 tháng 7 năm Kỷ Sửu (19/7/1289), trước tình hình khẩn cấp của biên giới phía bắc, Hốt Tất Liệt lại phải tự đem quân chống cự với Khai-du4.

        Trong khi Hốt Tất Liệt phải dồn binh lực vào việc đối phó với tập đoàn các chư vương ở phía bắc, tất nhiên hắn không thể nào mở ngay được cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt. Hắn đành trả lại sứ bộ Nguyễn Nghĩa Toàn, sai bọn Lưu Đình Trực đi sứ nhưng cuối cùng vẫn không thu được kết quả gì.

        Năm Canh Dần, ngày 25 (3/7/1290), Thượng hoàng Thánh Tông chết. Tháng 8 năm đó (5/9 – 4/10/1290), Nhân Tông cử Ngô Đình Giới sang Nguyên báo tang5. Đến tháng 9 năm sau, năm Tân Mão (24 tháng 9 - 23 tháng 10-1291), vua Trần lại sai các đại phu Nghiêm Trọng Duy, Trần Tử Trường đi cống6. Hốt Tất Liệt muốn nhân cơ hội Thánh Tông chết đem quân đánh Đại Việt, nhưng viên thừa tướng Ôn-jây (Olǰäi) và viên bình chương Bi-gơ-mi-sơ (Bigmïš) đã can ngăn7. Bi-gơ-mi-sơ khuyên trước hết hãy sai sứ đến Đại Việt8. Hẳn Hốt Tất Liệt cũng không tin gì lắm vào lời bàn của Bi-gơ-mi-sơ vì bao nhiêu sứ giả sai đi đều không khuất phục được vua Trần. Nhưng do tình hình Trung Quốc vẫn không sáng sủa hơn đối với Hốt Tất Liệt, các cuộc khởi nghĩa vẫn kéo dài ở phương Nam và tập đoàn Khai-đu vẫn đánh phá ở phía Bắc nên tên vua Nguyên đành lại cử một sứ giả khác sang Đại Việt. Trương Lập Đạo - người đã đến Đại Việt năm 1267 và năm 1271, nay được cử làm lễ bộ thượng thư, đi sứ Đại Việt một lần nữa9. Đi cùng với Trương Lập Đạo là bộ binh lang trung Bu-y-an Tê-mua (Buyan Tämür), viên sứ Mông Cổ này cũng đã đến Đại Việt năm 128210. Hốt Tất Liệt chọn những tên sứ đã đến Đại Việt nhiều lần là mong chúng có kinh nghiệm trong việc giao thiệp với vương triều Trần.


Hốt Tất Liệt

-----------------
1.    Khai-đu (Qaidu, thư tịch Trung Quốc phiên âm là Hải Đô) chống nhau với Hốt Tất Liệt từ năm 1266. Khai-đu chiếm cứ vùng sông Emil và mở rộng phạm vi thế lực ra tận Đông Tua-ke-xtan và Nam Xi-bê-n. Na-y-an (Nayan, Nãi Nhan) chiếm cứ vùng Liêu Đông, trên đất Nữ Chân.

2.   Marco Polo sau khi chép về cái chết của Na-y-an, đã viết: “Người ta đã giết ông ta như vậy vì không muốn để dòng máu của hoàng tộc chảy trên mặt đất, phơi ra dưới vừng nhật và bầu trời” (!) Sách Marco Polo, chương LXXX).

3.   Xem Nguyên sử q. 15 Bản kỷ, Chí Nguyên 25 và 26; Nguyên sử kỷ sự bản mạt q. 2 Bắc biền chư vương chi loạn.

4.   Nguyên sử q. 15 Bản kỷ. t. 11b. Cho đến khi Hốt Tất Liệt chết, vẫn không tiêu diệt được thế lực Khai-đu. Mãi đến năm 1301, Khai-đu chết vì ốm.

5.   Toàn thư, q. 5, t. 59a.

6.   Nguyên sử q. 16 Bản kỷ t. 11b chép: “Ngày Tân Hợi (tháng 9 năm Chí Nguyên 28) (10-10-1291) vua An Nam Trần Nhật Huyên (phải chữa là Nhật Tôn- T.G) sai sứ dâng biểu cống phương vật và tạ tội không vào chầu”, An Nam chí lược q. 14, Trần thị khiển sứ chép: “Năm Chí Nguyên Tân Mão (1291), thế tử (chỉ vua Trần - T.G) sai đại phu Nghiêm Trọng Duy, Trần Tử Trường sang cống”. Bài biểu của vua Trần năm Chí Nguyên 29 (1292) chép trong An Nam chí lược q. 6 nói Nghiêm Trọng Duy và Trần Tử Trường đi sứ vào tháng 9 năm Chí Nguyên 27 (1290), phải chữa là Chí Nguyên 28 (1291) mới phù hợp với An Nam chí lược q. 14 và Bản kỷ. Nguyên sử q. 167 Trương Lập Đạo truyện t. 2a chép là Nghiêm Trọng La và Trần Tử Lương do chữ Duy và chữ La chữ Trường và chữ Lương gần giống nhau.

7.   Nguyên sử q. 167 Trương Lập Đạo truyện t. 2b. Theo Nguyên sử q. 16 Bản kỷ t. 11a thì ngày Kỷ Dậu tháng 7 Chí Nguyên 28 (9-8-1291), Hốt Tất Liệt gọi Trần ích Tắc về kinh đô. Có lẽ sự kiện này có dính dáng với âm mưu đem quân đánh Đại Việt năm 1291. Olǰäi, Nguyên sử phiên âm là Hoàn Trạch. Bigmïš Nguyên sử phiên âm là Bất Hất Mộc đời Càn Long đổi là Bác Quả Mật. Cương mục đời Nguyễn (q. 18, t. 16a) chép là Bác Quả Mật là dựa vào một bản Nguyên sử đã đổi theo cách phiên âm đời Thanh. Ở đây chúng tôi dựa vào Rasid ud Dīn để khôi phục tên người này (Tập sử biên niên, tập 2, bản dịch tiếng Nga, t. 179).

8.   Nguyên sử q. 130 Bất Hốt Mộc truyện. t. 5b.

9.   Nguyên sử q. 167 Trương Lập Đạo truyện, q. 16, Bản kỷ t. 12b.

10.   An Nam chí lược q. 3 Đại Nguyên Phụng sứ chép: “Năm Chí Nguyên 28 (1291), sai lễ bộ thượng thư Trương Lập Đạo, binh bộ lang trung Bất Nhãn Thiếp Mộc Nhi đưa Nghiêm Trọng Duy về nước”. Bất Nhãn Thiếp Mộc Nhi tức Bu-y-an Tê-mua (Buyan Tämür). Nguyên sử q. 17 Bản kỷ t. 5b chép tháng 6 năm Chí Nguyên 29 (16/6 – 15/7/1292), Trương Lập Đạo và lang trung Oai Đầu đi sứ về. Chúng tôi cho rằng là chép nhầm từ chữ Bất Nhan (do chữ Hán viết đọc từ trên xuống) tức Buyan (Tämür)
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #72 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 08:39:12 pm »


        Bọn Trương Lập Đạo lên đường vào tháng 12 năm Tân mão (22/12/1291 – 20/1/1292) và đến Đại Việt vào tháng 3 năm Nhâm Thìn (20/3 – 18/4/1292) 1 Sứ bộ Nghiêm Trọng Duy cũng trở về nước với Lập Đạo2. Cũng như Lưu Đình Trực và Lý Tư Diễn, Trương Lập Đạo lần này đến Đại Việt là với mục đích dụ vua Trần sang chầu, nhưng lần này, Hốt Tất Liệt không còn đòi vua Trần phải trả lại các tù binh như lần trước. Tên vua Mông Cổ đành bỏ qua việc đó vì hắn biết không thể yêu sách gì hơn khi Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đã chết. Ngay trong tờ chiếu gửi vua Trần lần này, Hốt Tất Liệt cũng phải thừa nhận sự thất bại của hắn: “… Cha ngươi giết chú, đuổi sứ của ta, để ta phải đem quân hỏi tội, sinh linh của ngươi chết chóc thực nhiều, mà quân lính của ta cũng tổn hại. Vì Trấn Nam vương Thoát Hoan ít tuổi, nghe nhầm tiến quân đường thủy, nên Toa Đô, Ô Mã Nhi rơi vào tay ngươi. Nhân thế ngươi được tạm yên đến nay…”. Hắn đe dọa “nước nào chống cự không phục thì nước ấy không khỏi bị diệt vong”, và hắn dụ dỗ, “nếu ngươi thân đến khuyết đình thì phù ấn tước vương ta cũng không tiếc”… 3. Khi đến Đại Việt, Trương Lập Đạo cũng phải bào chữa cho những thất bại của quân Nguyên, tuy bằng một cách khác: “Trước kia Trấn Nam vương phụng mệnh đi đánh, không phải là ngài có thể thắng được. Đó là do (Trấn Nam vương) không dùng người hướng đạo, đem quân vào sâu, không thấy một người nào, sinh nghi rồi trở về, nhưng chưa ra khỏi nơi hiểm trở thì bị mưa to gió lớn, cung tên đều hủy hoại, binh sĩ không đánh mà tự tan” 4. Sau khi giải thích sự thất bại của Thoát Hoan một cách buồn cười như vậy, Lập Đạo lại dọa dẫm vua Trần: “Ngài chỉ cậy có núi biển hiểm trở và lam chướng ác liệt mà thôi. Nhưng người Vân Nam và người Lĩnh Nam thì tập tục giống nhau và tài nghệ sức lực ngang nhau. Nay đem quân ở đấy ra dùng, lại lấy thêm quân tinh nhuệ ở miền Bắc, thì ngài chống được chăng? Ngài đánh thua chẳng qua lại trốn ra biển. Dân ma di ở hải đảo tất thừa cơ đến cướp bóc. Ngài thiếu ăn, chống không nổi tất phải khuất phục chúng. Làm bề tôi của chúng sao bằng làm bề tôi của thiên tử” 5. Quân dân Đại Việt đã từng đọ sức với tất cả các loại quân đội nhà Nguyên. Quân Hồ Quảng cũng như quân Vân Nam, quân Giang Tây cũng như quân Hải Nam, trước sau đều thất bại trước sức chiến đấu của Đại Việt. Chính vì thế, những lời đe dọa của Trương Lập Đạo không làm vương triều Trần mảy may khiếp sợ.

        Trong thư Trương Lập Đạo gửi vua Trần, để phô trương thanh thế của đế quốc Nguyên Mông, y đã viết: “Phía Bắc đến khỏi âm Sơn, vốn là nơi thánh triều dựng nghiệp, phía Nam ra quá Viêm Hải, hết thảy vua các nước xưng thần. Tù trưởng các vùng Hồi Hột, Tây Vực qua bãi Lưu Sa mà đến cống, quốc chúa các nước Cao Ly, Đông Di vượt biển Doanh Hải để vào chầu. Vua các rợ Khiết Đan, Tây Hạ, Nữ Chân, vì trái trời mà bị diệt nước, chúa các nước Côn Ngô, Thổ Phồn, Bạch Thất, bởi theo mệnh nên được kết hôn. Các vua Vân Nam, Kim Xỉ, Bồ Chân, gửi con trai làm con tin, các miền Đại Hạ, Trung Nguyên, Vong Tống, hết toàn bộ làm tôi mọi. Duy nước An Nam là nước bé nhỏ, ngoài mặt thì phục tùng, trong lòng chưa thay đổi…”6. Điều Trương Lập Đạo nói đã phản ánh một sự thật khác, đó là sự quật cường của Đại Việt, một nước bé nhỏ ngang nhiên đương đầu với một đế quốc rộng lớn đã nô dịch nhiều dân tộc. Mặc cho Hốt Tất Liệt và Trương Lập Đạo tìm hết cách dọa nạt và lừa bịp, vua Trần vẫn cự tuyệt việc sang chầu7. Tháng 6 nhuận năm Nhâm Thìn (16/7 – 13/8/1292), Trương Lập Đạo, Bu-y-an Tê-mua trở về. Vua Trần sai Nguyễn Đại Phạp và Hà Duy Nham sang sứ8.

        Khi đi qua Ngạc Châu, Nguyễn Đại Phạp gặp Trần Ích Tắc ở tỉnh đường hành tỉnh Hồ Quảng. Đại Phạp không thèm chào tên Việt gian ấy. Ích Tắc hỏi: “Ngươi có phải là thư nhi ở nhà Chiêu Đạo vương9 không?”. Nguyễn Đại Phạp trả lời: “Việc đời biến đổi, Đại Phạp vốn là thư nhi nhà Chiêu Đạo vương, nhưng nay là sứ giả cũng như Bình chương10, xưa là con vua, nay lại là kẻ hàng giặc” 11. Bị cái tát vào mặt, Ích Tắc xấu hổ, từ đấy không dám gặp mặt các sứ Đại Việt đến nữa.

---------------
1.    Toàn thư q. 5, t. 60a chép Trương Lập Đạo đến vào năm Tân mão (1291) nhưng theo Bài hành lục của Trướng thượng thư chép trong An Nam chí lược q. 3 thì ngày 18 tháng 3 năm Nhâm Thìn (6-4-1292) Trương Lập Đạo mới đến huyện Khâu Ôn (Ôn Châu, Lạng Sơn).

2.   An Nam chí lược q. 3.

3.   An Nam chí lược q. 2 Đại Nguyên chiếu chế.

4.   Nguyên sử q. 167 Trương Lập Đạo truyện t. 2b.

5.   Như trên.

6.   Thư Trương Lập Đạo gửi vua Trần, xem An Nam chí lược q. 5.

7.   Trong thư gửi Hốt Tất Liệt năm 1292, Nhân Tông lại lấy cái cớ mà trước đây Thánh Tông đã dùng để từ chối việc sang chầu: “Thần sinh trưởng ở miền xa, không quen thủy thổ, không dạn nóng rét. Các sứ thần của tiểu quốc đi lại thường chết đến 6, 7 phần. Nếu không tự liệu thì chỉ chết ớ đường, vô ích cho việc… Thần há lại không muốn mắt xem thấy văn hóa thượng quốc, thân thấm nhuần ân huệ thánh triều, mà vội trái mệnh để chịu vạ ư? Trên có trời và mặt trời làm chứng, thực là do thường tình tham sống sợ chết…”. An Nam chí lược q. 6 Biểu chương, biểu năm Chí Nguyên 29 (1292).

8.   Nguyên sử q. 17 Bản kỷ t. 5b. An Nam chí lược q. 3 Đại Nguyên phụng sứ q. 14 Trần thị khiển sứ. Nguyên sử q. 167 Trương Lập Đạo truyện t. 3a và An Nam chí lược q. 14 chép nhầm chữ Phạp ra chữ Chi

9.   Tức Trần Quang Xưởng, con thứ Thái Tông, anh cùng mẹ với Ích Tắc.

10.   Bấy giờ Ích Tắc được giữ chức Bình chương chính sự hờ ở hành tỉnh Hồ Quảng. Nguyên sử q. 17 Bản kỷ t. 4a chép: ngày Kỷ Dậu tháng 3 Chí Nguyên 29 (5-4-1292) “lấy An Nam quốc vương Trần Ích Tắc “dao thụ” Bình chương chính sự hành trung thư tỉnh các xứ Hồ Quảng, mang hổ phù, ở Ngạc Châu. “Dao thụ” là trao cho chức nhưng không thực sự cai trị vùng đó.

11.   Toàn thư q. 5, t. 61b.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #73 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 08:45:13 pm »


        Trương Lập Đạo đi sứ không có kết quả trở về thì ba tháng sau, tháng 9 năm Nhâm Thìn (12/10 – 12/11/1292) Hốt Tất Liệt lại sai viên lại bộ thượng thư Lương Tằng (Lương Tằng đã đến Đại Việt năm 1280) và lễ bộ lang trung Trần Phu đi sứ Đại Việt1. Tháng giêng năm Quý Ty (8/2 – 9/3/1293), bọn Lương Tằng và Trần Phu đến Thăng Long2. Trong chiếu thư, Hốt Tất Liệt trách Nhân Tông về việc không sang chầu: “Nếu bảo là mồ côi đang cư tang và sợ chết dọc đường mà không dám đến chầu thì trong loài hữu sinh, có loài nào an toàn trường cửu được chăng? Và trong thiên hạ lại có nơi nào bất tử chăng” 3.

        Trần Nhân Tông lấy cớ đang có tang, không chịu ra ngoài thành đón chiếu thư của Hốt Tất Liệt, chỉ sai Lê Khắc Phục ra dẫn bọn sứ Nguyên đi vào cửa bên của thành Thăng Long4. Bọn chúng không chịu, nằm ở nhà trạm, ba lần viết thư cho Nhân Tông. Tuy cuối cùng bọn Lương Tằng, Trần Phu được đi vào cửa Dương Minh, cửa giữa thành Thăng Long, nhưng Trần Nhân Tông vẫn cự tuyệt việc sang chầu5.

        Bọn Lương Tằng, Trần Phu tuy mặt ngoài tỏ vẻ hống hách nhưng kỳ thực rất run sợ trước uy lực của Đại Việt. Những câu thơ của Trần Phu sau khi đi sứ về đã toát lên nỗi sợ hãi đó:

                                            “… Kim qua ảnh lý đan tâm khổ
                                            Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh
                                            Dĩ hạnh quy lai thân kiện tại
                                            Mộng hồi do giác chướng hồn kinh”(6)

                                            (Trong bóng giáo mác, tấm lòng đau khổ,
                                            Nghe tiếng trống đồng mà bạc cả tóc.
                                            May được trở về thân mạnh khỏe
                                            Mỗi khi mộng đến chuyện cũ còn thấy hồn kinh sợ).


        Tháng 3 năm Quý Ty (8/4 – 7/5/1293), Lương Tằng và Trần Phu về nước, Trần Nhân Tông sai Đào Tử Kỳ và Lương Văn Tảo sang Nguyên.

-----------------
1.    Nguyên sử q. 209 An Nam truyện.t. 10a. Nguyên sử q. 17 Bản kỷ t. 6b chép việc này vào ngày Tân Dậu tháng 9 năm Chí Nguyên 29 (14/10/1292).

2.   Nguyên sử q. 178 Lương Tằng truyện t. 1b. 190 Trần Phu truyện t. 5a.

3.   Chiếu thư của Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên 29 (1292), chép trong An Nam chí lược q. 2 Đại Nguyên chiếu chế và chép tóm tắt trong Nguyên sử q 209 An Nam truyện t. 10a-b.

4.   Theo Nguyên sử q. 178 Lương Tằng truyện t. 1b thì thành Thăng Long bấy giờ có ba cửa, cửa giữa là Dương Minh, cửa bên trái là Nhật Tân, cửa bên phải là Vân Hội. Ban đầu, vua Trần cho bọn sứ vào cửa Nhật Tân, chúng không chịu, sau lại định cho chúng vào cửa Vân Hội, chúng cũng không chịu, cuối cùng phải cho chúng vào cửa Dương Minh. Về các cửa và các kiến trúc ở Thăng Long, Trương Lập Đạo đến Đại Việt năm 1292 có ghi: “… Đi qua cầu Ngoạn Nguyệt, lầu Trường Minh, đến cửa Chính Dương, Lập Đạo xuống ngựa, bưng chiếu đi vào cửa Minh Dương (chắc là Dương Minh- T.G). Các người tùy tùng thì do cửa Vân Hội đi vào, còn các liêu thuộc nước An Nam thì do cửa Nhật Tân đi vào. Đến dưới gác Minh Hà, ở đấy có trải thảm đốt hương. Thế tử cùng với bọn tiếm thái sư là quốc thúc Chiêu Minh vương, thái úy là quốc đệ Tá Thiên vương, thiếu bảo, ngự sử đại phu, hàn lâm, cả thảy 8 người lên điện Thọ Quang… Xong rồi ra gác Triều Thiên, xuống điện Tập Hiền, đặt yến…” (Bài hành lực của Trương thượng thư chép lại trong An Nam chí lược q. 3).

5.   Nguyên sử q. 178 Lương Tằng truyện t. 1b chép: “Thư đi lại 3 lần”. Nguyên sử q. 190 Trần Phu truyện t. 5a chép: “Thư đi lại 3 lần… đều là do Phu soạn”. Trần Phu, trong Trần Cương Trung thi tập có chép lại 4 bức thư của Lương Tằng, Trần Phu và 4 bức thư của vua Trần (Nguyên phụng sứ dữ An Nam quốc vãng phúc thư) gồm có: 1) Thư của bọn sứ Nguyên ngày 1 tháng giêng năm Chí Nguyên 30 (8/2/1293) đòi vua Trần ra đón tiếp. 2) Thư của Nhân Tông ngày 13 tháng 1 (20/2/1293) biện bạch về việc sai Lê Khắc Phục đón. 3) Thư của bọn sứ Nguyên ngày 20 tháng 2 (29/3/1293) đòi Nhân Tông sang chầu. 4) Thư của vua Trần ngày 21 tháng 2 (30/3/1293) từ chối yêu sách đó. 5) Thư của bọn sứ Nguyên ngày 21 tháng 2 (30/3/1293) đòi con trưởng của Nhân Tông sang chầu. 6) Thư của vua Trần ngày 25 tháng 2 (3/4/1293) từ chối việc để thái tử sang chầu. 7) Thư của bọn sứ Nguyên ngày 1 tháng 3 (8/4/1293) về việc không nhận lễ vật của vua Trần. Cool Thư của vua Trần ngày 2 tháng 3 (9/4/1293) yêu cầu chúng nhận lễ vật.

6.   Trích trong bài “Giao châu sứ hoàn cảm sụ” ở Trần Cương Trung thi tập q 2 Sứ Giao chỉ. Lê Quý Đôn có chép lại bài thơ này trong Kiến văn tiểu lục.

7.   An Nam chí lược q. 9.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #74 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 08:53:46 pm »


        Năm đó, Hốt Tất Liệt đã thất bại trong việc xâm lược Ja-va. Tháng 7 âm lịch (4/8 – 1/9/1293) đoàn binh thuyền của bọn bại tướng Y-gơ-mi-sơ (YïƔmïš), Cao Hưng, Sử Bật thất bại trở về1. Tên vua Nguyên càng muốn cấp tốc đánh chiếm Đại Việt. Tân Nguyên sử chép: “Năm Chí Nguyên 30 (1293)… Thế Tổ (Hốt Tất Liệt - T.G) triệu Lưu Quốc Kiệt2 vào bệ kiến và nói rằng: “Ja-va (Qua-oa) đã được lại mất, khanh hãy vì trẫm mà đi một chuyến”. Quốc Kiệt trả lời: “Ja-va là vật ở đầu ngón tay, An Nam là vật nằm trong bàn tay, thần xin vì bệ hạ mà chiếm lấy”. Vua nói: “Việc đó như ngứa trong tim, không phải gãi mà đến được. Lời Khanh nói thật hợp ý ta”. Vua bàn cất quân 10 vạn, Quốc Kiệt tâu rằng một vạn người cũng đủ dùng. Vua nói rằng một vạn người thì ít quá, lấy 5 vạn phiên binh giao cho. Quốc Kiệt xin một người cận thần làm giám. Vua hạ lệnh cho tự chọn. Bấy giờ thân vương I-ki-rê-đai (Ikirä-dai) 3 ở bên cạnh, Quốc Kiệt xin cho đi, vua bằng lòng” 4. Hồ Quảng An Nam hành tỉnh được thiết lập lại để phụ trách việc xâm lược5. Lưu Quốc Kiệt được giữ chức binh chương chính sự ở hành tỉnh này để chỉ huy đạo quân xâm lược. Chư vương I-ki-rê-đai được cử làm giám quân6. Bọn tướng tá dưới trướng Lưu Quốc Kiệt còn có Giang Tây hành khu mật viện phó sứ Trê-ri-man (Čäriman Triệt Lý Man) làm hữu thừa và Trần Nham, Triệu Tu Kỷ Vân Tòng Long, Trương Văn Hổ, Sầm Hùng. Con bài Trần Ích Tắc lại được dùng đến. Hốt Tất Liệt đã ra lệnh cho Quốc Kiệt đến Ngạc Châu bàn với Ích Tắc và đến tháng 8, Ích Tắc cùng đi theo đoàn quân xâm lược. Để chuẩn bị cho cuộc xâm lược, Hốt Tất Liệt đã cho tập trung đến 1.000 chiếc thuyền, mỗi chiếc chứa được 100 hộc. 56.570 quân, 35 vạn thạch lương thực, 2 vạn thạch thức ăn cho ngựa, 21 vạn cân muối, 70 vạn khí giới. Ngoài ra còn dự cấp bổng phụ cho quan quân và cấp cho quân lính, thủy thủ mỗi người 2 đĩnh tiền7. Hốt Tất Liệt còn sai Khu-tuc Tê-mua (Qutuq Tämür) đến Quảng Đông đôn đốc việc đóng 500 chiến thuyền để dùng vào việc đánh Đại Việt8. Để chuẩn bị chu đáo cho việc xâm lược, Hốt Tất Liệt còn ra lệnh cho dân ở vùng Hồ Tương đến lập đồn điền ở Quảng Tây nhưng Khác Kha Xun (Qarqasun) đã can việc ấy và đề nghị dùng người Nam Đan (Quảng Tây) đi khai đồn điền vì “đó là dân thổ trước, tiện lợi hơn, bên trong đủ để làm giàu đất bỏ không, bên ngoài đủ để chế ngự Giao Chỉ9.

        Bấy giờ, Hoàng Thánh Hứa10 là tri châu Thượng Tư (Thượng Lang, Cao Bằng ngày nay) đã tập hợp hàng vạn người tấn công vào Ung Châu. Hoàng Thánh Hứa liên kết với nhân dân miền núi Đại Việt, mỗi lần Hoàng Thánh Hứa thất bại lại lánh sang biên giới Đại Việt11. Vì thế Hốt Tất Liệt đã lấy cớ đánh Hoàng Thánh Hứa, sai Lưu Quốc Kiệt tiến quân đến Tĩnh Giang (Quế Lâm, Quảng Tây), đem thư gây sự với Đại Việt12. Sứ Đại Việt là Đào Tử Kỳ bị giữ lại ở Giang Lăng13. Quân Nguyên đóng ở Tĩnh Giang đợi đến mùa thu năm sau thì xuất phát. Đến mãi tháng 12 năm Quý Tỵ (29/12/1293 – 27/1/1294), bọn Quốc Kiệt vẫn còn tập trung quân: “Ngày Ất Vị (tháng 12) (11/1/1294), sai sứ đốc xuất hai châu Tư, Bá và Trấn Viễn, Hoàng Bình phát 8.000 quân Tống cũ theo đi đánh An Nam” 14.

        Nhưng đến ngày Quý Dậu tháng giêng năm Giáp Ngọ (18/2/1294) thì Hốt Tất Liệt chết. Tê-mua (Tämür) lên ngôi, tức Nguyên Thành Tông hạ lệnh bãi binh đánh Đại Việt. Đến đây, ý chí xâm lược của đế quốc Nguyên Mông đã hoàn toàn tan rã.

------------------
1.    Xem Nguyên sử q. 201 Qua Oa truyện, q. 162 Cao Hưng truyện q. 162 Sử Bật truyện q. 131 Diệc Hắc Mê Thất (Yïgmïš) truyện.

2.   Lưu Quốc Kiệt, An Nam chí lược chép là Lưu Nhị Bạt Đô. Nguyên sử q. 162 Lưu Quốc Kiệt truyện chép: “Quốc Kiệt” được ban hiệu Bá Đô. Quốc Kiệt đứng hàng thứ hai nên gọi là Lưu Nhị Bá Đô mà không gọi tên. Bá Đô, tiếng Trung Quốc là người dũng cảm “ (t. 10a). Bá Đô hay Bạt Đô là phiên âm tiếng Mông Cổ ba’atur (xem chú thích về Ô Mã Nhi Bạt Đô ở chương trước).

3.   An Nam chí lược phiên âm là Ích Cát Lý Đãi, Nguyên sử q. 17 Bản kỷ t. 11a phiên âm là Diệc Cát Lý (sót một chữ). Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 10b phiên âm là Diệc Lý Cát Đãi, (ở đây chép nhầm là chữ cát ra sau. Đời Thanh cũng theo chỗ nhầm đó mà đổi thành I Lặc Cát Đại. Việt sử thông giám cương mục cũng chép theo như vậy Nguyên sử q. 162 Lưu Quốc Kiệt truyện chép là Diệc Cát Liệt Thai. Tân nguyên sử q. 162 Lưu Quốc Kiệt truyện chép là Diệc Khất Lạt Thai. Tất cả những tên đó là phiên âm tên Mông Cổ I-ki-rê-đai (Ikirädai) có nghĩa là “người của bộ lạc Ikiras”.

4.   5. Tân Nguyên sử q. 162 Lưu Quốc Kiệt truyện, t. 9a.

6.   Theo Nguyên sử q. 17 Bản kỷ, t. 11a thì Hất Tất Liệt sai Lưu Quốc Kiệt và I-ki-rê-đai đánh Đại Việt ngày Kỷ Tỵ tháng 7 năm Chí Nguyên 30 (19/8/1293).

7.   Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t.10b.

8.   Nguyên sử q. 122 Hổ Đô Thiết Mộc Lộc truyện. Hổ Đô Thiết Mộc Lộc là phiên âm tên Qutuq Tämür.

9.   Nguyên sử q. 136 Cáp Lạt Cáp Tôn truyện, t. 1b và bài bia Cáp Lạt Cáp Tôn (Thừa tướng Thuận đức Trung hiến vương bi) của Lưu Mẫn Trung, Nguyên văn loại, bản đã dẫn, t. 313. Cáp Lạt Cáp Tôn là phiên âm tên Qarqasun.

10.   Nguyên sử q. 162 Lưu Quốc Kiệt truyện chép là Hoàng Thắng Hứa.

11.   Cuộc khởi nghĩa của Hoàng Thánh Hứa kéo dài đến 1323. Xem mục Chiêu bổ trong Kinh thế đại điển tự lục Nguyên văn loại, bản đã dẫn, t. 585-t. 586).

12.   Bức thư của Lưu Quốc Kiệt gửi vua Trần được chép trong An Nam chí lược.

13.   Theo Nguyên sử q. 209 An Nam truyện t. 10b, An Nam chí lược q. 14. Theo Nguyên sử q. 17 Bản kỷ thì đến ngày 1 tháng 10 (31-10-l293) Hốt Tất Liệt cấp áo rét cho Đào Tử Kỳ và đem an trí ở Kinh Nam.

14.   Nguyên sử q. 17, Bản kỷ t. 12a.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #75 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 09:01:55 pm »

       
CHƯƠNG IX

NGUYÊN NHÂN THĂNG LỢI VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ

“… Vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận,           
cả nước ra sức, nên bọn giặc phải chịu bị bắt…”
       
Trần Quốc Tuấn                             

        Bọ ngựa dám chống xe, liệu sẽ ra thế nào?”. Ô Mã Nhi Bạt Đô (‘Omar-ba’atur) đã hỏi Đỗ Khắc Chung như vậy ở bên bờ sông Hồng, trước Thăng Long năm 12851. Nhưng viên tướng Mông Cổ đó cũng như toàn bộ đoàn thuyền chiến của y không bao giờ trở về nữa sau trận Bạch Đằng. Đạo quân xâm lược Nguyên Mông đã thất bại thảm hại trong ba lần tấn công vào Đại Việt và một lần tấn công vào Chiêm Thành. Nhân dân Việt Nam đã cầm vũ khí đứng lên trả lời cho kẻ thù như thế đó.

        Vì sao “sức bọ ngựa Việt Nam lại có thể làm đổ được cỗ xe của đế quốc Mông Cổ đã từng hằn bánh chiến thắng lên khắp các miền Âu-Á? Sẽ sai lầm nếu nghĩ rằng sức mạnh của đội quân Mông Cổ, tính chất thiện chiến và kỹ năng bắn cung phi ngựa tuyệt vời của họ là nguyên nhân chủ yếu khiến cho nhiều quốc gia và dân tộc phải chịu ách thống trị của kẻ thù hung hãn hoặc không còn tên trên bản đồ thế giới. Tài năng quân sự của Trin-ghít Khan (Thành Cát Tư Hãn) và những người thừa kế y có góp phần vào các chiến thắng của người Mông Cổ, nhưng điều đó cũng không phải là quyết định. Phải tìm nguyên nhân chủ yếu sự bại vong của các quốc gia đó ở bên trong. Chính sự chia rẽ, phân tán suy nhược của giai cấp phong kiến thống trị ở các nước đó đã làm mất sức chiến đấu trước sự xâm lược của quân Mông Cổ. Lịch sử tất cả các nước bị đế quốc Mông Cổ chinh phục nói lên rất rõ điều đó.

        Vương quốc Khô-re-xmơ (Khorezm) ở Trung Á bị Trinn-ghít Khan tấn công năm 1219. Vua Khô-re-xmơ là Mu-ham-mét (‘Alā-al- Dīn Muhammed) đã bóc lột nhân dân rất tàn tệ và đã mở rộng đất đai của mình bằng cách luôn luôn gây các cuộc chiến tranh ăn cướp đẫm máu. Khi nghe tin Mông Cổ tấn công, Mu-ham-mét vô cùng khiếp sợ, theo y, “quân Mông Cổ đông đến nỗi chỉ ném roi ngựa cũng đủ để lấp hào thành”. Vì thế, quân Mông Cổ chưa đến, y đã bỏ thành chạy. Trước khi rời bỏ Khô-re-xmơ, y còn đem tất cả vương hầu các nước đã bị y chinh phục còn bị giam dìm chết ở sông A-mu Đa-ry-a. Nhân dân nguyền rủa y. Bọn thống trị các tiểu quốc cũng căm giận y, chúng đầu hàng Mông Cổ và đem quân đánh đuổi y. Cuối cùng Mu-ham-mét chết trên một hòn đảo nhỏ trong biển Lý Hải. Các thành thị văn minh ở Trung Á như Bu-kha-ra, Xa-mác-khan, lần lượt bị hủy diệt, tuy nhân dân ở đây đã chiến đấu rất anh dũng.

        Khi quân Mông Cổ từ Trung Á tiến đánh châu Âu, liên quân các công quốc Nga Xu-dơ-đan, Xmô-len, Ki-ép, Tréc-ni-gốp đã chặn giặc ở sông Kan-ka. Nhưng ngay trong giờ phút nguy cấp, các công vương đã bất hòa với nhau và chiến đấu đơn độc, cuối cùng đã thất bại bi thảm. Nước Nga cũng như các nước Đông Âu đã bị vó ngựa Mông Cổ giày xéo vì chế độ phong kiến phân tán bấy giờ đã làm cho giai cấp thống trị không thể nào đoàn kết được với nhau và huy động được nhân dân kháng chiến.

        Ở phương Đông, nước Kim cũng chịu chung một số phận. Bọn thống trị phong kiến khuynh loát lẫn nhau và nhân dân Trung Quốc liên tiếp nổi dậy chống ách thống trị ngoại tộc đã làm cho vương quốc Kim hoàn toàn suy yếu. Khi Mông Cổ tấn công, vua Kim đã phải bỏ Biện Kinh, chạy về Quy Đức. Khi Xu-bê-tai vây Biện Kinh, bọn tướng Kim giữ thành chém giết lẫn nhau rồi dâng thành cho địch. Ở Quy Đức, bọn tướng Kim cũng giết lẫn nhau, còn quân lính thì vô cùng căm giận bọn thống trị. Cuối cùng vua Kim phải chạy về Thái Châu rồi tự sát khi thành sắp vỡ.

        Nước Kim mất, quân Mông Cổ vượt Trường Giang đánh Tống. “Hốt Tất Liệt ở Trung Quốc không thu được kết quả (như Hu-lê-gu ở Ba-gơ-đát), y đã gặp sức chống cự mãnh liệt của người Tống ở Nam Trung Quốc” 2. Nhưng mặc dầu nhân dân Nam Tống đã anh dũng chống giặc, nhất là dưới sự chỉ huy của người anh hùng Văn Thiên Tường, tình thế vẫn không thể cứu vãn được. Triều đình Nam Tống đã hoàn toàn suy yếu. “Cái nạn cường hào kiêm tinh ruộng đất, đến nay là tột độ” 3. “Dân đều tan nhà phá sản, oán hận vào sâu xương tủy” 4. Quyền binh triều đình nằm trong tay bọn gian thần Giả Tự Đạo, Trần Nghi Trung, khiếp nhược trước kẻ thù, chỉ mong cầu hòa, không dám tổ chức nghĩa quân để giữ nước, vì sợ sức mạnh nông dân, hãm hại những người yêu nước, tước bỏ mọi khả năng vũ trang phòng ngự. Kết quả là nhà Tống mất.

        Sau khi lấy được Nam Tống, bọn xâm lược Mông Cổ ra sức xâm lược các nước xung quanh. Vua Triều Tiên là Cao Tông Triệt buổi đầu đã rời đô ra đảo Giang Hoa, chống lại kẻ thù. Nhưng khi con trai ông là Điển làm con tin ở triều đình Mông Cổ về nước thì tình hình đổi khác. Điển biến thành tay sai đắc lực cho kẻ thù. Y lại dời đô về Khai Thành và Triều Tiên thực sự trở thành một thuộc quốc của đế quốc Mông Cổ.

        Trên bán đảo Đông Dương, số phận của nước Miến cũng không khá hơn. Năm 1284, khi bị Mông Cổ tấn công, vua Miến là Narasīhapati đã bỏ thành chạy. Sau khi Narasīhapati chết, con trai là Sihasūra đã giết anh là Urzanū để đoạt ngôi. Tình trạng hỗn chiến, chém giết và khuynh loát lẫn nhau đó đã làm cho vương triều Pagan suy nhược. Năm 1287, quân Mông Cổ đánh chiếm được kinh đô Pagan, vương triều Pagan đổ.

        Như vậy là từ những miền xa xôi cho đến những nước gần Việt Nam, cái nguyên nhân quyết định sự thất bại trước quân xâm lược Mông Cổ quyết không phải là nguyên nhân bên ngoài, ở sức mạnh của người Mông Cổ, mà là nguyên nhân bên trong. Đó là sự chia rẽ trong hàng ngũ giai cấp thống trị phong kiến, không đoàn kết được nhân dân đứng lên bảo vệ đất nước.

------------------
1.    Toàn thư q. 5, t. 46a.

2.   Lưu trữ Mác và Ăngghen, t.V, bản tiếng Nga, t.229.

3.   Tống sử q.173 Thực hóa chí.

4.   Chu Mật (132-1208): Tề đông dã ngữ, bản Tảo diệp sơn phòng q. 17, t. 5b.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #76 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 09:06:23 pm »


        Tình hình Việt Nam thế kỷ XIII khác hẳn các nước trên. Chính quyền phong kiến Việt Nam bấy giờ là một chính quyền tập trung chứ không phải là phân tán như nhiều quốc gia châu Âu. Nó cũng không giống với chính quyền tập trung đang ngắc ngoải của Nam Tống. Sau khi chấm dứt được tình trạng hỗn chiến cát cứ cuối thời kỳ Lý, vương triều Trần đã xây dựng đươc một chính quyền tập trung mạnh mẽ. Đời sống của nhân dân được ổn định, mức sản xuất phát triển1. Vào lúc đó đế quốc Mông Cổ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, mâu thuẫn giữa giai cấp phong kiến Đại Việt và nông dân còn được hòa hoãn, chưa phải đã phát triển đến mức độ gay gắt. Đứng trước cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù, giai cấp phong kiến Đại Việt đã đoàn kết được toàn dân đứng dậy kháng chiến cứu nước. Bấy giờ, giai cấp phong kiến còn đóng vai trò lịch sử của nó. Từ khi xây dựng được nhà nước phong kiến tự chủ vào thế kỷ X, giai cấp phong kiến còn mang trong bản thân nó tinh thần dân tộc. Đó là ý thức xây dựng một nhà nước tự chủ độc lập. Tinh thần đó được đánh dấu trong chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938, trong chiến thắng của Lê Hoàn năm 981 và của Lý Thường Kiệt năm 1075. Đó là những trang sử sáng chói trong lịch sử dân tộc. Giai cấp phong kiến thế kỷ thứ XIII còn giữ được tinh thần đó qua những thế kỷ hùng tráng buổi đầu thời kỳ tự chủ. Trước nguy cơ đất nước rơi vào tay giặc ngoài, quý tộc phong kiến Trần đã quyết tâm kháng chiến đến cùng. Quyết tâm đó không thể chỉ giải thích một cách đơn giản bằng yêu cầu bảo vệ thái ấp điền trang và các quyền lợi vật chất khác. Quyết tâm đó còn nói lên tinh thần yêu nước nồng nàn của họ. Câu của Trần Thủ Độ nói với Thái Tông: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”, và câu của Trần Quốc Tuấn nói với Nhân Tông: “Trước chém đầu thần rồi sau hãy hàng”, biểu hiện khí phách anh hùng của quý tộc họ Trần. Chú bé Trần Quốc Toản phẫn nộ không được tham dự hội nghị quân sự Bình Than, đã tự mình lập đội quân cảm tử với lá cờ thêu sáu chữ vàng, luôn luôn xông lên phía trước làm quân thù khiếp sợ. Trần Bình Trọng bị giặc bắt, không chịu hàng, khảng khái thét vào mặt kẻ thù: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”, câu nói ấy còn ghi mãi trong những trang sử vẻ vang của dân tộc. Tinh thần yêu nước bất khuất của quý tộc Trần cũng phản ánh tinh thần của cả một dân tộc quyết đứng dậy bảo vệ đất nước, không chịu cúi đầu làm nô lệ cho bọn cướp nước. Có bộ phận quan liêu quý tộc đầu hàng giặc nhưng đó chỉ là một phân số nhỏ. Những tên hèn nhát đó đã bị lịch sử lên án, nhưng không phải vì thế mà chúng ta quên rằng đại bộ phận quý tộc Trần đã xứng đáng với Tổ quốc.

        Lúc Tổ quốc lâm nguy, tầng lớp quý tộc Trần đã đoàn kết thành một khối. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn không vì mối thù gia đình mà bỏ nghĩa cả. ông không theo di mệnh của cha2, cùng triều đình Trần và toàn thể quân dân một lòng một dạ chiến đấu vì đất nước. Hai người tướng tài Trần Quốc Tuấn và Trần Quang Khải vốn bất hòa với nhau nhưng trước sự tấn công xâm lược của giặc Mông Cổ, đã đoàn kết với nhau chung lo việc nước3.

        Nhưng không phải chỉ có thế. Tầng lớp quý tộc còn tập hợp được nhân dân quanh mình để đánh giặc, giữ nước. Đó là vì “người nông dân xưa coi việc bảo vệ nền độc lập của nước nhà là công việc của chính mình chứ không phải là công việc của giai cấp phong kiến” 4. Trong cuộc kháng chiến vĩ đại này, chính sức mạnh đoàn kết và tinh thần quyết chiến quyết thắng của toàn dân là yếu tố quyết định chiến thắng. Mặc dầu còn những mặt hạn chế do thời đại và giai cấp, không nghi ngờ gì nữa, cuộc chiến tranh vệ quốc thế kỷ XIII là một cuộc kháng chiến của toàn dân, một cuộc chiến tranh nhân dân, theo cách nói của Ăngghen, “một cuộc chiến tranh nhân dân để bảo tồn dân tộc”. “một cuộc chiến tranh pro aris et focis (bảo vệ quê cha đất tổ)” 5. Đó là một cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ quyền lợi thiêng liêng của dân tộc chống lại cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa của một kẻ thù tàn bạo hung hãn nhất trên thế giới đương thời. Sức mạnh chính nghĩa đó đã huy động được toàn dân tham gia kháng chiến, đã khơi được tinh thần anh dũng chống giặc của nhân dân. Những tiếng hô “quyết đánh” của các bô lão vang lên ở điện Diên Hồng vào mùa đông năm Giáp Thân (1285) là tiếng nói của cả dân tộc. Hội nghỉ lịch sử đó đã thể hiện quyết tâm sắt đá kháng chiến của toàn dân trước kẻ thù xâm lược. Đã gần bảy trăm năm trôi qua, nhưng mỗi khi giở lại những trang sử oanh liệt chồng ngoại xâm thế kỷ XIII, chúng ta còn nghe như âm vang tiếng hô quyết đánh ở điện Diên Hồng. Quyết chiến và quyết thắng, dầu kẻ thù có mạnh mẽ hung bạo đến dâu! Cuối cùng tên kẻ cướp khổng lồ đó đã ngã gục, chính là vì nó đã gặp một dân tộc đứng lên với tinh thần Diên Hồng, tinh thần quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ đất nước. Hội nghị Diên Hồng còn biểu hiện sự gắn liền yêu cầu độc lập dân tộc của nhân dân với yêu cầu tự đo dân chủ. “Lực lượng quyết định thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc bao giờ cũng là khối đoàn kết chặt chẽ của cả dân tộc mà nông dân là lực lượng lớn nhất, mạnh nhất. Trong khi đấu tranh cho độc lập dân tộc, nhân dân ta cũng biểu thị nguyện vọng dân chủ, ý thức làm chủ đất nước. Câu hỏi “hòa hay chiến” cùng tiếng trả lời “quyết chiến?” Ở hội nghị Diên Hồng ngày xưa chính là một trong những biểu hiện sơ khai của sự kết hợp giữa tinh thần cứu nước và ý thức dân chủ của nhân dân ta” 6.

---------------
1.    Xem chương I.

2.   Trần Thủ Độ buộc Thái Tông Trần Cảnh phải lấy vợ của Trần Liễu (Trần Liễu là cha Trần Quốc Tuấn). Trần Liễu trước lúc chết dặn Quốc Tuấn phải trả mối thù đó. Xem Toàn thư q. 6, t. 9b.

3.   Xem Toàn thư q. 6, t. 2a.

4.   Lê Duẩn: Thanh niên trong các lực lượng vũ trang hãy vươn lên hơn nữa phấn đấu cho lý tưởng cách mạng, đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Nxb Sự Thật, Hà Nội 1966, tr. 20.

5.   Chữ La Tinh trong nguyên văn câu của Ăngghen, nghĩa đen là “vì bàn thờ và bếp”. Xem Ăngnghen: Chiến tranh thực dân của nước Anh trong Tuyển tập luận văn quân sự của Ăngghen, I, in lần 2, Nxb Quân đội nhân dân, tr. 99.

6.   Lê Duẩn: Thanh niên… Sách đã dẫn tr.26.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #77 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 09:10:14 pm »


        Toàn dân đã tích cực tham gia kháng chiến. Ở đây, quân Mông Cổ không phải chỉ đọ sức với quân đội Trần mà là đương đầu với cả toàn thể nhân dân Đại Việt. Khi tiến vào đất chúng ta, quân địch đã thấy treo ở khắp nơi những tấm biển với dòng chữ: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh, nêu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng”. Với một lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân cả nước đã thực hiện mệnh lệnh kháng chiến của triều đình. Toàn dân đã tham gia vào việc cất giấu lương thực, làm vườn không nhà trống. Việc đó đã gây cho địch những khó khăn lớn. Trong mấy lần chiến tranh, quân giặc đều khốn đốn vì thiếu lương thực, không những thuyền lương bị quân đội Trần đánh tan mà còn là vì chúng không tài nào cướp được lương thực trong nhân dân. Trong khi đó, nhân dân lại tích cực giúp đỡ quân đội Trần mọi mặt. Chính sử không chép rõ, nhưng điều này được phản ánh qua truyền thuyết ở nhiều nơi. Chẳng hạn đền Vua Bà ở gần sông Bạch Đằng là đền thờ một người phụ nữ đã mang lương thực ủng hộ quân Trần và mách cho Hưng Đạo vương Quốc Tuấn ngày con nước của sông này. Có những truyền thuyết khác nói về sự tham gia của nhân dân trong việc đóng cọc ở sông Bạch Đằng. Thần tích làng Do Lễ (xã Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng) trân trọng ghi lại chiến công của người anh hùng Vũ Nguyên mà dân làng tôn thờ. Đó là một cố nông phải cày thuê cuốc mướn để nuôi mẹ già: Thế rồi một hôm, quân Trần lớp lớp kéo qua làng, Vũ Nguyên gặp Hưng Đạo vương bên bờ ruộng, giữa buổi cày và chàng rời bỏ ruộng đồng, từ tạ mẹ già, theo vương đi giết giặc, lập công lớn trong trận Bạch Đằng. Tất cả những truyền thuyết đã nói lên một điều có thật, đó là mối tình đoàn kết quân dân đời Trần và vai trò lớn lao của nhân dân trong cuộc kháng chiến. Chính toàn dân đã cầm vũ khí đánh giặc giữ làng giữ nước. Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi lại chiến công oanh liệt của một làng chiến đấu bên bờ sông Đáy, làng Cổ Sở. Năm 1258, người dân Cổ Sở đã đánh tan bọn giặc Mông Cổ khi chúng toan tiến vào cướp phá thôn xóm. Năm 1288, Cổ Sở lại anh dũng chống giặc và quân thù không thể nào xâm phạm được cái hương ấp bé nhỏ mà quật cường này1.

        Hoạt động chiến đấu của nhân dân khắp nơi đã làm địch khiếp sợ. Nhân dân đã tổ chức lại thành các đội dân binh - như sử cũ đã chép - chiến đấu ở các địa phương, phối hợp với các đơn vị triều đình. Những đội dân binh đó chẳng những đã chiến đấu ở các địa phương mà lúc thời cơ đến, đã phối hợp với quân chủ lực của triều đình trong cuộc phản công lớn như các đội dân binh do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền chỉ huy kéo về giải phóng Thăng Long năm 1285.

        Một biểu hiện tính nhân dân của cuộc đấu tranh chống xâm lược thế kỷ XIII là sự tham gia của tất cả các tầng lớp nhân dân vào cuộc chiến đấu một mất một còn này. Lực lượng chủ yếu tất nhiên là những người nông dân tự do của các làng xã hay là những người nông dân lệ thuộc trong các thái ấp. Đẳng cấp có địa vị thấp kém nhất trong xã hội bấy giờ là nô tì đã có những cống hiến lớn vào cuộc kháng chiến. Bên cạnh những đội quân dược tổ chức từ những người nông dân tự do, những đội quân của vương hầu mà lực lượng chủ yếu là nô tì cũng có một tác dụng quan trọng trong chiến tranh. Yết Kiêu, Dã Tượng2, Nguyễn Địa Lô là những gia nô của Trần Quốc Tuấn đã lập được nhiều chiến công. Nguyễn Địa Lô đã bắn chết tên Việt gian Trần Kiện ở Lạng Sơn. Yết Kiêu đã biểu hiện lòng can đảm và tính kỷ luật trong việc cắm thuyền đợi Quốc Tuấn ở Bãi Tân. Đánh giá công lao của nô tì, Quốc Tuấn đã nói: “Ôi, chim hồng hộc có thể bay cao được tất phải nhờ vào sáu trụ xương cánh, nếu không có thì cũng như chim thường thôi!”. Trần Nhân Tông cũng đã nói về các nô tì: “Ngày thường thì bao nhiêu người hầu hạ xung quanh, đến khi nước nhà gặp hoạn nạn thì chỉ thấy có bọn ấy thôi”.

        Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ, nhân dân các dân tộc thiểu số miền núi đã kề vai sát cánh với nhân dân dân tộc Việt, đánh cho quân thù thất điên bát đảo Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất năm 1258, quân Mông Cổ đã tan tác sau trận tập kích của người anh hùng vùng núi Hà Bổng ở trại Quy Hóa. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, hai anh em Hà Đặc và Hà Chương đã lập được những chiến công rực rỡ. Sau cuộc kháng chiến lần thứ ba, Hà Tất Năng được phong tước hầu vì đã có công lớn. Ở mặt Lạng Sơn, các tù trưởng vùng núi như Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Lĩnh đã cùng đội dân quân của mình, chiến đấu bên cạnh quân triều đình, làm quân thù nhiều phen hoảng sợ Nổi tiếng là trận đánh bọn Trần Kiện và tên tướng Mông Cổ Mang-lai Xi-ban vào năm 1285. Cuộc chiến tranh yêu nước thế kỷ XIII quả đã cho chúng ta một hình ảnh đẹp đẽ về khối đại đoàn kết các dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ đất nước.

        Sức mạnh đoàn kết toàn dân, nguồn gốc của thắng lợi còn được phản ánh qua tinh thần đoàn kết chiến đấu của quân đội. Trần Quốc Tuấn đã từng nói với các tướng sĩ: “Lúc trận mạc thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà thì cùng nhau vui cười” 3. Nhà quân sự thiên tài đó đã nhận thấy khối đoàn kết quân sĩ là một yếu tố để chiến thắng. ông đã nói với Trần Nhân Tông: “Làm thế nào thu hút được binh lính như cha con một nhà mới có thể dùng được”. Điều đó đã trở thành nguyên tắc xây dựng quân đội thời Trần. Những tướng tài dưới quyền chỉ huy của Trần Quốc Tuấn đã tuân theo nguyên tắc đó. Phạm Ngũ Lão từng đồng cam cộng khổ với quân sĩ và đội quân của ông được gọi là “phu tử chi binh”. Chính quân đội thời Trần, với tình gắn bó bền chặt giữa tướng lĩnh và quân sĩ như cha với con, với tinh thần yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc biểu lộ ở hai chữ “Sát Thát” thích trên cánh tay, đã trực tiếp góp phần vào chiến thắng của dân tộc.

---------------
1.    Toàn thư q. 2, t. 8b, Cổ Sở nay là xã Yên Sở huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Các cuộc chiến đấu của nhân dân Cổ Sở cũng được chép lại trong một bài bia do Nguyễn Tuấn Ngạn soạn năm 1671 ở xã Yên Sở.

2.    “Dã Tượng” nghĩa là “voi rừng”, “Yếu Kiêu” theo Nhĩ nhã (Thích súc) và Kinh Thi (Tần Phong) là chỉ một loài chó săn ngắn mõm. Những tên đó đặt cho người cũng cho ta biết địa vị thấp kém của tầng lớp nô tì.

3.   Hịch tướng sĩ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #78 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 09:14:37 pm »


        Con đường dẫn tới thắng lợi của cuộc kháng chiến đã được Trần Quốc Tuấn chỉ ra rất rõ ràng trong lời nói với vua Trần Nhân Tông ngày 24 tháng 6 năm Canh Tý (11/7/1300), lúc ông bệnh nặng sắp mất:

        “Ngày trước Triệu Vũ dựng nước, vua Hán đem quân sang đánh, bấy giờ tiểu dân làm chước thanh dã (phá hết hoa màu ở đồng nội) còn đại quân ra châu Liêm, châu Khâm, đánh Trường Sa, dùng đoản binh đánh tập hậu, đấy là một thời. Đời Đinh - Lê, dùng được người hiền tài, phương Nam đương mạnh, phương Bắc đương suy, trên dưới đồng tâm, lòng dân không ly tán, đắp thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống, đấy là một thời. Vua Lý dụng nghiệp, quân Tống xâm lấn địa giới, lúc ấy dùng Lý Thường Kiệt, đánh Khâm - Liêm, đến tận Mai Lĩnh, đấy là có thêm lực mạnh. Mới rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây, nhưng vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận, cả nước ra sức, nên bọn giặc phải chịu bị bắt, đó là do trời xui khiến.

        Đại khái quân giặc cậy vào trường trận, ta cậy vào đoản binh, lấy đoản mà chống trường là sự thường trong binh pháp. Nếu thấy quân giặc lướt trên như lửa như gió thì dễ chống lại thế giặc. Nếu chúng dùng cách chiếm cứ dần như tằm ăn dâu, không lấy của dân, không cầu chóng được thì mình phải dùng tướng giỏi, xét tình thế biến chuyển như người đánh cờ, tùy theo thời cơ mà chế biến, thu hút được binh sĩ như cha con một nhà, mới có thể dùng được. Vả lai, phải nới sức dân, làm kế rễ sân gốc vững, ấy là thượng sách giữ nước”
1.

        Lời nói đó đã tổng kết kinh nghiệm các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm trước thế kỷ XIII và cả cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông Cổ. Chẳng những Trần Quốc Tuấn đã nêu lên những nguyên nhân thắng lợi mà còn vạch ra những đường lối chiến lược, chiến thuật đúng đắn. Đường lối đó biểu hiện thiên tài quân sự của ông.

        Đồng chí Trường Chinh đã viết: “Ưu điểm trội nhất của cuộc kháng chiến đời nhà Trần là mưu cao mẹo giỏi” 2.  Ngay một số sử gia phong kiến Trung Quốc cũng phải khâm phục phép dùng binh của những người lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mông Cổ của quân dân ta thời Trần. Trương Phổ - một học giả đời Minh, khi bình luận sách Nguyên sử kỷ sự bản mạt của Trần Bang Chiêm đã viết:

        “Trấn Nam vương Thoát Hoan tiến binh, vua An Nam Trần Nhật Huyên (chỉ Thượng hoàng Thánh Tông - T.G) đem quân chống lại, quân Thoát Hoan tuy có ngựa mạnh, rong ruổi nhanh như chớp, đánh thành phá ấp, nhưng giữa đường quay giáo lui, quân lính tan nát trong chốn của quân kia, Toa Đô, Lý Hằng đồng thời tử chiến… Thoát Hoan xuất quân lần nữa, Nhật Huyên chạy đi để rồi đón lúc về, đánh lúc mệt, quân Nguyên lại thất bại. Đó là vì quân kia tránh cái thế hăng hái lúc ban mai, đánh cái khí tàn lụn lúc buổi chiều, giấu mình nơi biển khơi, phục quân chốn ải hiểm, quân Nguyên tuy hùng hổ kéo đến, chưa từng thắng được một trận. Có thể nói là Nhật Huyên có tài dùng binh vậy” 3.

        Tài dùng binh, theo cách nói của chúng ta ngày nay là nghệ thuật quân sự. Không nghi ngờ gì nữa, Trần Quốc Tuấn là những người lãnh đạo cuộc kháng chiến chống xâm lược thế kỷ thứ XIII đã có những đóng góp quý báu vào kho tàng nghệ. thuật quân sự phong phú và có truyền thống lâu đời của dân tộc ta.

        Cuộc chiến tranh chống xâm lược Nguyên Mông là một cuộc chiến tranh chính nghĩa và đồng thời là một cuộc chiến tranh tự vệ. Vì vậy, nó có những nét khác biệt với những cuộc chiến tranh giải phóng4. Bấy giờ, chúng ta có một chính quyền dân tộc độc lập: vương triều Trần. Chúng ta có một lực lượng vũ trang được tổ chức và huấn luyện khá chu đáo đó là “đội quân cha con”, “ba quân như hùm beo, khí thế muốn nuốt trâu”. Cả đất nước đã được chuẩn bị trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Nhưng kẻ thù của chúng ta, phải nói là rất mạnh, đó là một kẻ thù “hung bạo đã xâm lược phần lớn châu Á, châu Âu và đánh đâu thắng đó” 5. Không thể nào ngăn chặn, đánh tiêu diệt một kẻ thù như thế khi nó đang tiến vào biên giới. Một vùng đất đai sẽ tạm thời bị chiếm, hình thái chiến tranh cài răng lược, theo cách nói ngày nay, sẽ hình thành. Làm thế nào để cho tên cướp hung bạo đang “lướt đến như lửa như gió” kia cuối cùng hoàn toàn thất bại? Đó là tài dùng binh của Trần Hưng Đạo, đó là nghệ thuật chỉ đạo một cuộc chiến tranh tự vệ của một nước nhỏ yếu đánh thắng đội quân xâm lược của một nước lớn mạnh. Đó cũng là nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh vũ trang trong một cuộc chiến tranh tự vệ đánh lâu dài và dựa vào sức mình.

--------------
1.    Toàn thư q. 6, t. 8b-9b.

2.   Trường Chinh: Kháng chiến nhất định thắng lợi, in lần thứ 6, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1964, tr. 8.

3.   Nguyên sử kỷ sự bản mạt, bản Thương vụ ấn thư quán q. 5, t. 24.

4.   Khác với chiến tranh tự vệ, chiến tranh giải phóng tiến hành trong điều kiện đất nước đã bị chiếm đóng, quân xâm lược đã đặt được bộ máy thống trị từ trên xuống dưới, lực lượng vũ trang của địch đã đóng giữ hầu hết các vị trí chiến lược, chiến thuật trên đất nước ta. Chiến tranh giải phóng phải thực hiện bằng khởi nghĩa vũ trang. “Đương nhiên, sự phân biệt giữa chiến tranh tự vệ và chiến tranh giải phóng trong lịch sử dân tộc ta chỉ có ý nghĩa rất tương dối”. Về sự phân biệt này, xem Văn Tiến Dũng: Mấy vấn đề nghệ thuật quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1968, tr. 48-53.

5.   Lê Duẩn: Thanh niên… sách đã dẫn, tr. 19.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #79 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2016, 09:18:50 pm »


        Chúng ta có thể thấy rằng phương châm chiến lược được vận dụng trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông là đánh lâu dài. Năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Trong 1.000 năm lịch sử của nước ta gần đây có ba cuộc trường kỳ kháng chiến:

        - Đời Trần chống quân Nguyên,

        - Đời Lê chống quân Minh,

        - Và cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và bẹn can thiệp Mỹ ngày nay1. Đồng chí Trường Chinh cũng đã viết: “Đời nhà Trần, dân tộc ta kháng chiến trước sau ba lần trong ba mươi mốt năm mới thắng được quân Nguyên hung hãn” 2. Đánh lâu dài là chiến lược duy nhất chính xác trong một cuộc chiến tranh mà ban đầu lực lượng ta yếu, lực lượng địch mạnh. Chỉ với phương châm chiến lược đánh lâu dài mới dần dần tiêu hao được sinh lực của địch, bồi dưỡng được lực lượng của ta, tương quan lực lượng dần dần chuyển hóa theo phương hướng có lợi cho ta, và cuối cùng đánh bại được quân thù. Có thể có người thấy rằng ba lần kháng chiến của nhân dân Đại Việt chống xâm lược Nguyên Mông đều xảy ra trong một thời gian ngắn (cuộc kháng chiến lần thứ nhất năm 1258 chỉ kéo dài 12 ngày, lần thứ hai năm 1285 trong 5 tháng, lần thứ ba năm 1287-1288 trong ba tháng rưỡi) mà không nhìn nhận phương châm chiến lược đánh lâu dài của cuộc kháng chiến thế kỷ XIII. Điều đó không đúng, ba lần chiến tranh xảy ra trong thời gian ngắn là vì quân dân Đại Việt đã có thời cơ thuận lợi để phản công thắng lợi nhanh chóng, nhưng như vậy không có nghĩa phương châm chiến lược không phải đánh lâu dài. Nhìn vào các giai đoạn chiến lược của các cuộc chiến tranh, chúng ta có thể thấy rõ ràng những người lãnh đạo kháng chiến bấy giờ đã vận dụng đường lối chiến lược đánh lâu dài.

        “Quá trình đánh lâu dài của bất kỳ cuộc chiến tranh tự vệ nào của ta trước đây đều là một quá trình liên tục chiến đấu tiến công tiêu diệt địch. Do sự so sánh lực lượng giữa ta và địch trong từng cuộc chiến tranh có khác nhau, nên quá trình đánh lâu dài của từng cuộc chiến tranh tự vệ của ta đã hình thành các giai đoạn chiến lược khác nhau. Các cuộc kháng chiến đời nhà Trần chống quân Nguyên thường có giai đoạn rút lui chiến lược và giai đoạn phản công chiến lược” 3.

        Tiến hành những cuộc rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng, chờ địch dàn mỏng, phân tán lực lượng rồi đánh tỉa, khi sức địch tiêu hao, suy yếu thì chọn đúng thời cơ để phản công chiến lược, đấy là những đặc điểm chung trong ba lần kháng chiến của quân dân Đại Việt và cũng là những bước chỉ đạo chiến lược cụ thể của Trần Quốc Tuấn và những người lãnh đạo kháng chiến.

        Biết rút lui và rút lui chính xác là một nét nổi bật trong tài năng quân sự của Trần Quốc Tuấn và các tướng lĩnh thời Trần. Trong ba lần kháng chiến, vào thời kỳ đầu của chiến tranh, bao giờ quân Trần cũng tiến hành những cuộc rút lui lớn, bỏ lại sau lưng nhiều làng mạc, đất đai, và thậm chí cả thủ đô Thăng Long yêu quý. Sử cũ, nhất là sử của kẻ thù, thường mô tả những cuộc rút lui này như những cuộc thất trận. Nhưng kỳ thực, “điều đó thường xảy ra trong chiến tranh, khi mà một trong những bên tham chiến, muốn cứu nguy cho quân đội của mình và tránh cho quân khỏi bị một kẻ thù lực lượng mạnh hơn tấn công, nên đã rút lui một cách có kế hoạch, không giao chiến mà bỏ những thành phố và những vùng toàn vẹn, để có thì giờ tập hợp lại lực lượng của mình, nhằm chuẩn bị cho những trận đánh địch sắp tới” 4. Chính Trần Quốc Tuấn và các tướng lĩnh đã tiến hành cuộc rút lui như vậy. Cuộc rút lui chính là nằm trong toàn bộ kế hoạch của cách dùng binh thần diệu mà như Trương Phổ đã nói là “tránh cái thế hăng hái lúc ban mai, đánh cái khí tàn lụn lúc buổi chiều” của kẻ thù. Trong cuộc kháng chiến năm 1258, lúc đầu vua Trần đã đem lực lượng ra ngăn giặc nhưng sau đó đã rút lui khỏi Thăng Long. Ý định đem toàn bộ quân lực để chặn giặc thể hiện rõ trong việc tập trung quân ở Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến năm 1285. Nhưng khi bị kẻ thù bao vây và tấn công, thì Trần Quốc Tuấn đã kịp thời tiến hành một cuộc rút quân chiến lược. Việc lui quân để bảo tồn lực lượng trong cuộc kháng chiến lần thứ hai thật là tài tình. Trong cuộc chiến tranh này, kẻ thù tấn công vào Tổ quốc ta từ ba mặt - không phải là hai theo như một số tài liệu trước đây: Lạng Sơn, Tuyên Quang, Nghệ An(5). Từ Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn đã rút lui về Thăng Long rồi cùng triều đình rút khỏi kinh đô. Ở mặt Tuyên Quang, Trần Nhật Duật cũng đã mưu trí tránh khỏi vòng vây của giặc, vượt qua vùng giặc đóng (bấy giờ kẻ thù đã chiếm Thăng Long) về hội với đại quân. Về phía Nghệ An, ban đầu Trần Quốc Tuấn muốn chặn đứng cánh quân Toa Đô. Trong khi đó ở ngoài Bắc, Quốc Tuấn cũng đã củng cố lực lượng, kéo quân trở về Vạn Kiếp ở phía sau lưng địch, chuẩn bị phản công. Nhưng tình hình Nghệ An, Thanh Hóa xấu, Trần Quang Khải chưa vào kịp thì Trần Kiện đã đem một vạn quân hàng giặc, dẫn đường cho giặc tấn công quân ta. Chính vì thế, Trần Quang Khải đã phải rút lui và cánh quân Toa Đô tiến được ra Bắc(6). Do tình hình phía Nam, Trần Quốc Tuấn phải bỏ kế hoạch phản công của mình, rời khỏi Vạn Kiếp lần thứ hai trở về hội với đại quân của vua Trần ở Thiên Trường (Nam Định). Yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải tránh được thế bị kẹp giữa hai gọng kìm phía Nam và phía Bắc. Một kế hoạch tài tình đã được kịp thời thực hiện. Trần Quốc Tuấn và vua Trần đã cho rút quân theo ven biển các lộ phía đông đồng bằng Bắc Bộ là nơi thế lực của quân Nguyên chưa tràn đến rồi sau đó vượt biển vào Thanh Hóa. Lúc bấy giờ quân của Toa Đô đã tiến đến Trường Yên (Ninh Bình) tức là ở phía bắc đại quân ta. Như vậy là qua cuộc rút lui thần kỳ đó, chẳng những lực lượng ta được bảo toàn mà còn thoát khỏi thế bị kẹp giữa hai đạo quân giặc. Về sau,Toa Đô được lệnh của Thoát Hoan quay trở lại Thanh Hóa, nhưng đạo quân đó đã không còn sức mạnh để tiêu diệt quân ta. Và khi lực lượng ta đã mạnh, địch đã lâm vào thế lúng túng bị động thì Trần Quốc Tuấn lại cho quân vượt qua vùng đóng quân của Toa Đô, đánh ra Bắc, cắt đôi đường liên lạc hai đạo quân giặc và bắt đầu cuộc phản công thắng lợi.

        Trong cuộc chiến tranh lần thứ ba thì ngay từ đầu, phương châm lui quân để bảo toàn lực lượng đã được Trần Quốc Tuấn áp dụng vừng chắc. Đấy là do đã rút được kinh nghiệm ở các lần kháng chiến trước: Vì thế mà Trần Quốc Tuấn đã nói rất tin tưởng rằng: “Năm nay đánh giặc dễ”.

-----------------
1.    Hồ Chí Minh Tuyển tập, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1960, tr.346.

2.   Trường Chinh: Kháng chiến… Sách đã dẫn, tr.29.

3.   Văn Tiến Dũng: Mấy vấn đề nghệ thuật quân sự Việt Nam. Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1968, tr. 69.

4.   Xtalin: Chiến lược và sách lược chính tri của những người cộng sản Nga trong tập Trích luận văn quân sự. Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1964, tr. 145-146.

5.   Xem chương VI.

6.   Các tài liệu nghiên cửu trước đây đều cho rằng quân của Toa Đô bị chặn lại ở Thanh Hóa, nên phải đi đường thủy ra Bắc. Như vậy không đúng, chính chúng đã tiến được đến Trường Yên (Ninh Bình) và khi quân Trần từ Bắc rút về Thanh Hóa, Toa Đô mới lại từ Trường Yên quay vào Thanh Hóa (xem chương VI).
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM