Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:26:48 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện  (Đọc 53207 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #60 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2016, 09:39:25 pm »


HAI LẦN ĐÁNH CỨ ĐlỂM ĐỒI A1
Đại tá TRẦN THẾ ĐỀ
Nguyên Chính trị viên Đại đội 16,
Tiểu đoàn 249, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316

Đầu tháng giêng năm 1954, đại đội tôi (C16) và các đơn vị bạn cùng trong đội hình của Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 đã nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa, chờ lệnh tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Mỗi chúng tôi từ cán bộ đến chiến sĩ ai cũng mang trên mình một cái bánh chưng và ít cục lương khô đủ ăn trong một ngày rưỡi. Chiến sĩ Lê Văn Tỏ, dáng nhỏ bé, nặng độ 37 kg, có nước da ngăm đen, người Hải Dương chính cống, luôn có nụ cười tươi, nhanh nhảu thay mặt số anh em chạy đến hỏi tôi: “Thủ trưởng ơi! Đánh nhanh thắng nhanh liên tuc trong 3 ngày, vậy còn ngày rưỡi nữa lấy đâu để ăn?”. Nhìn chú lính nhỏ mến yêu, tôi đáp: “Thế cậu không nhớ trước giờ xuất phát, đại đội đã phổ biến chủ trương của trên là khi đánh vào trung tâm Mường Thanh sẽ lấy lương thực của địch để cung cấp cho ta, cậu quên rồi hả?”. Tôi vừa dứt lời thì có lệnh của trên: “Bí mật rút quân về vị trí tập kết, hoãn cuộc tiến công”. Toàn đại đội đang trong không khí hào hứng phấn khởi bỗng dưng lặng xuống ỉu xìu.

Trở về vị trí tập kết, tiểu đoàn trưởng 249 Vũ Hòe quán triệt chủ trương mới của Bộ Chỉ huy chiến dịch. Trước đây ta chủ trương “đánh nhanh, thắng nhanh”, nay do tình hình địch có nhiều thay đổi, chúng đã được củng cố và tăng cường về nhiều mặt, nên ta phải chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc” để bảo đảm tính chủ động và chắc thắng.

Đón chờ lệnh mới, trong những ngày giáp Tết, Điện Biên giá lạnh, lại đóng quân trên quả đồi rậm rạp, tôi bỗng nhớ gia đình, nhớ hậu phương da diết, đêm đó thao thức không sao ngủ được. Tôi sang hầm chiến sĩ, y tá cũng cùng tâm trạng. Hai anh em chúng tôi cùng cậu văn thư và liên lạc của đại đội bảo nhau làm thơ cho khuây khỏa. Trời rét căm căm, chúng tôi thèm thuốc không sao viết được, cả 4 người tìm khắp mọi nơi mới kiếm được một điếu thuốc lào, anh em chia nhau không đủ cho mỗi người một hơi. Đồng chí Hoan y tá, có biệt danh là Hoan lác (anh bị hiếng) giỏi viết báo làm thơ, thèm thuốc đến nỗi phải lấy lá rừng khô quấn lại châm lửa phì phèo mới ra được mấy câu thơ:

      “Ôm ấp trong tay chiếc điếu cày
      Thuốc lào cạn kiệt thế lá cây
      Khói là trước mặt ấm lòng lính
      Khoan khoái đợi chờ lệnh đánh Tây”.


Trong khó khăn thiếu thốn, chia sẻ nhau từng hơi thuốc mới thấy thấm thía câu nói: hạt muối cắn đôi, bát cơm xẻ nửa.

Bước vào nhiệm vụ làm đường kéo pháo, xây dựng trận địa tiến công, cả Trung đoàn 174 chúng tôi ai nấy đều hăng say lao vào trận đánh mới - đào hào xây dựng trận địa. Trên 60 ngày đêm liên tục, chiếc xẻng, chiếc cuốc trong tay chúng tôi cùng các chiến sĩ trung đoàn đã hoàn thành trên 15 km đường giao thông hào, gần 6.000 hầm hố và trận địa hỏa lực dưới bom đạn địch thường xuyên bắn phá, mưa dầm gió rét, ruồi vàng, muỗi, vắt tấn công, bệnh tật ốm đau. Một số đồng đội chúng tôi đã phải ra đi vì bom đạn, vì sốt rét. Để thực hiện phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, Trung đoàn 174 được đại đoàn phân công đánh A1 (trước đây chủ trương đánh nhanh thắng nhanh do trung đoàn 98 đảm nhận). Đại đoàn cân nhắc thấy Trung đoàn 174 có nhiều thành tích và kinh nghiệm đánh địch trong công sự vững chắc, là đơn vị đã từng chiến thắng với trận Đông Khê nổi tiếng ở chiến dịch Biên Giới năm 1950, tiêu diệt địch ở cứ điểm boong ke La-ri-ê thuộc tiểu khu Phù Lỗ huyện Kim Anh vào đầu tháng 12 năm 1951 với 6 lô cốt nhỏ bao bọc lô cốt mẹ do đại đội Âu Phi tăng cường chiếm đóng. A1 là cứ điểm mạnh nhất trong các cứ điểm trên các ngọn đồi phía đông của tập đoàn Điện Biên Phủ. A1 có công sự vững chắc được Pháp xây dựng từ trước năm 1940, năm 1945 Nhật xây sửa thêm, nay chúng cải tạo thành cao điểm phòng ngự kiên cố, có tiểu đoàn lính Marốc và Lê dương chốt giữ, xây dựng thành 3 tuyến có hỏa lực mạnh. Ngoài đồn có 3 lớp dây thép gai dày 100 mét xen giữa những bãi mìn để ngăn chặn quân ta đột phá. Chiếm được A1, ta có thể uy hiếp mạnh mẽ khu trung tâm, thắt chặt vòng vây, khống chế vùng trời, thu hẹp phạm vi tiếp tế của địch bằng máy bay thả dù. A1 còn là lợi thế để quân ta làm bàn đạp vượt qua cầu Mường Thanh, nhanh chóng tiến tới khu chỉ huy sở của tướng Đờcátxtơri.

Từ vị trí tập kết đến sát chân đồi A1 cách nhau vài cây số, đơn vị chúng tôi đã có con đường hào hoàn chỉnh, sâu lút đầu người, được ngụy trang kín đáo. Anh em trong đơn vị sẵn sàng chờ lệnh xông lên. Đây là thời gian chờ đợi náo nức hồi hộp. Niềm tin và hy vọng về chiến thắng Điện Biên bao phủ lên đơn vị chúng tôi. Trước giờ nổ súng, tôi gặp Chính trị viên đại đội Trần Đạm thuộc Tiểu đoàn 251 (cùng trung đoàn) là bạn thân, sinh ra và lớn lên ở Thành Nam, rất mê văn nghệ và bóng đá, đã cùng nhau vài giờ liền phơi nắng, đá bóng bên bờ sông Chu thuộc Thọ Xuân, Thanh Hóa (nơi đóng quân trước lúc lên Điện Biên). Anh có tài vẽ, mỗi tờ báo tường của đơn vị bao giờ cũng có một, hai bức tranh vui của anh. Chúng tôi gặp nhau tay bắt mặt mừng, thăm hỏi sức khỏe và trao đổi với nhau về tình hình đơn vị, công tác chuẩn bị chiến đấu của đơn vị mình. Trước lúc chia tay, hai anh em chúng tôi còn nói vui với nhau: Chiến thắng kỳ này sẽ trở lại Thọ Xuân, Thanh Hóa, nơi nhân dân đã từng nuôi dưỡng mình trước ngày ra trận để lấy vợ nhé! Chuyện đó không ngờ sau hơn 3 năm lại là sự thật. Đám cưới rất đơn giản: vài buồng cau, một cân thuốc lá sợi, ít bánh chè lam, vài cân kẹo lạc cùng nước chè xanh. Tốn kém cả thảy 6, 7 chục đồng lúc đó. Vậy mà vẫn đông như hội, vui như tết. Hiện nay hai anh em chúng tôi đang sinh sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Anh là một họa sĩ. Đầu năm 2002, anh đã tham gia triển lãm ở Hà Nội với những bức tranh khá nổi tiếng. Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu và Đại tướng Võ Nguyên Giáp khen và lấy làm tự hào về một chiến sĩ Điện Biên như anh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #61 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2016, 09:40:48 pm »


Ngày tiến công đã đến, giờ nổ súng đã cận kề. Đại đội tôi (C16) và đại đội 17 do đồng chí Hải Bằng là đại đội trưởng (nay là trung tướng) thuộc Tiểu đoàn 249, đơn vị chủ công của Trung đoàn 174 do đồng chí Lê Sơn tiểu đoàn phó trực tiếp chỉ huy đã sẵn sàng. Lê Sơn, người dân tộc Tày, quê ở tỉnh Lạng Sơn, nhanh nhảu, tháo vát, rất vui tính nói chuyện với anh em hay có điệu bộ lắc lắc cái đầu. Đồng chí có đặc điểm nổi bật là nhận bất cứ nhiệm vụ gì cấp trên giao cũng vui vẻ biểu lộ quyết tâm cao. Chả thế mà trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An (sau là Thượng tướng Tư lệnh Quân đoàn 2) thường nói: mỗi lần giao nhiệm vụ cho Lê Sơn là thấy thoải mái yên tâm tin tưởng.

18 giờ 30 phút ngày 30 tháng 3, lệnh tiến công bắt đầu. Ít phút sau, các chiến sĩ bộc phá của ta đã mở xong cửa. Trong đội hình đầu nhọn đuôi dài, đại đội chúng tôi nhanh chóng tiến lên. Do nổ súng sau các hướng khác nửa tiếng đồng hồ, yếu tố bí mật bất ngờ đã không còn nữa nên bị pháo địch bắn ngăn chặn. Đại đội 17 đi đầu đã nhanh chóng vượt qua lửa đạn đánh chiếm lô cốt đầu cầu chiếm các đoạn hào, quần nhau với địch trên đồi A1. Pháo địch tại Mường Thanh, Hồng Cúm chi viện cho A1 rất dữ dội, kéo dài liên tục, đại đội chúng tôi không tiến lên được, phơi mình trên mặt đất. Một trung đội trưởng và một số chiến sĩ của đơn vị tôi bị thương phải ở lại phía sau. Hơn 1 tiếng đồng hồ, lợi dụng lúc pháo địch vừa dứt tiếng, đại đội tôi nhanh chóng băng qua hàng rào dây kẽm gai tiến vào A1. Từ các ngách giao thông hào trong đồn địch, chúng tôi đánh thốc lên đỉnh đồi, mở hai đợt xung phong nhưng không thể tiến lên được. Địch ở trên cao bắn xả xuống quyết liệt, chiến sĩ này ngã xuống, chiến sĩ kia tiếp tục xông lên bám lấy từng đoạn hào để tiến lên.

Mờ sáng ngày 31 tháng 3, từ hướng Mường Thanh, địch dùng xe tăng cùng bộ binh phản kích. Các chiến sĩ đại đội 16, 17 anh dũng bám chắc trận địa, dùng tiểu liên, lựu đạn đánh trả. Ta và địch quần nhau hơn hai giờ quyết liệt, xác địch chồng chất lên nhau; phía ta lúc này sức tấn công đã giảm, số thương vong cũng nhiều. Đại đội 16 xốc lại còn hơn 1 trung đội, chúng tôi phải lùi về một đoạn hào chiếm được của địch để cố thủ. Đạn và lựu đạn của nhiều chiến sĩ đã hết, chưa tiếp ứng kịp. Đồng chí Hải Bằng, đại đội trưởng đại đội 17 lấy khẩu AK của chiến sĩ hy sinh trực tiếp đấu súng với địch như một chiến sĩ thực thụ. Tôi động viên số anh em y tá liên lạc văn thư đại đội đi kiếm súng đạn, lựu đạn của số chiến sĩ bị thương vong để tiếp tế cho lực lượng chiến đấu ở phía trước. Khoảng 16 giờ, chúng tôi nhận lệnh tổ chức phòng ngự tại chỗ. Đại đội 316 (có lúc gọi là 16) lui về vị trí tập kết để chấn chỉnh củng cố, bổ sung lực lượng. Bộ phận nhỏ của trung đoàn đảm nhiệm nhiệm vụ chốt chặt phần đồi A1 đã chiếm được.

Đêm 31 tháng 3, theo lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch, Trung đoàn 102 thuộc Đại đoàn 308 thay thế Trung đoàn 174 làm nhiệm vụ chủ yếu tiếp tục tiến công đồi A1. Cả đêm 31 tháng 3 đến ngày 1 tháng 4, Trung đoàn 102 vẫn không tiêu diệt được A1. Sáng ngày 1 tháng 4, địch chia làm hai hướng phản kích, ở cánh phải chúng bị Trung đoàn 102 chặn lại. Bên cánh trái, địch cho xe tăng mở đường đánh xuống trận địa của Trung đoàn 174. Các chiến sĩ của Trung đoàn 174 dùng tiểu liên, lựu đạn chia cắt bộ binh địch, yểm trợ cho hai chiến sĩ mang Bazôca ra bắn cháy xe tăng địch. Bị mất chỗ dựa, chúng hoảng hốt tháo chạy. Hơn 8 giờ, đại đội 16 do đồng chí Nhượng làm đại đội trưởng, tôi làm chính trị viên được lệnh tiến lên A1 lần thứ hai, tăng cường lực lượng chiến đấu cho trung đoàn. Chúng tôi tiến theo giao thông hào, một mạch vượt qua lửa đạn, nhanh chóng có mặt ở A1, chiếm lĩnh trận địa, chia làm 3 mũi cùng các đơn vị trong Trung đoàn 174 ngăn chặn địch từ trên đỉnh đồi đánh xuống. Địch đông, hỏa lực mạnh, lại có máy bay, pháo binh nhiều đợt bắn phá dữ dội và điên cuồng nhưng đều bị quân ta ngăn chặn. Cánh của đại đội 16 dạt sang phải, tôi gặp đồng chí chỉ huy của đơn vị bạn chưa từng quen biết, có nước da ngăm đen, người tầm thước, có vẻ từng trải. Tôi đoán ở nơi đầu sóng ngọn gió, quyết liệt thế này, cao lắm tiểu đoàn trưởng là cùng. Vừa thấy tôi, đồng chí ấy chỉ sang phải hô lớn: Đồng chí cho anh em giữ vững đoạn hào có ụ súng kia!

Cuộc chiến đấu giằng co giữa ta và địch cho đến chiều, cả hai bên đều không tiến thêm được chút nào.

Từ đêm 1 tháng 4 đến sáng 3 tháng 4, trên đồi A1 diễn ra nhiều đợt phản kích quyết liệt. Pháo binh, máy bay địch bắn phá dữ dội. Cán bộ, chiến sĩ hai Trung đoàn 102 và 174 sát cánh bên nhau chiến đấu vô cùng dũng cảm, tiêu diệt được nhiều địch. Từ ngày 4 tháng 4 mỗi bên giữ nửa đồi A1. Kết thúc đợt tiến công thứ 2, toàn mặt trận khẩn trương chuẩn bị đợt tiến công thứ 3 để kết liễu số phận tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Sau ngày giải phóng Điện Biên, tôi cứ băn khoăn về người chỉ huy gan dạ sâu sát cùng vào sinh ra tử với chiến sĩ ở thời điểm gay go quyết liệt ấy là ai, cấp bậc, chức vụ là gì? Với tôi, anh là một hình ảnh đẹp của người chỉ huy chiến đấu gan dạ mà tôi mong gặp lại để bày tỏ lòng khâm phục. Bốn năm sau, năm 1958, tình cờ chúng tôi gặp nhau ở Trường Sĩ quan Lục quân do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Hiệu trưởng, đồng chí Lê Quang Hòa làm Chính ủy. Lúc đó tôi mới biết người chỉ huy ra lệnh cho tôi trên đồi A1 là Trung đoàn trưởng Hùng Sinh, ngoài dự đoán của tôi lúc gặp anh trên đồi A1. Anh làm trưởng phòng huấn luyện, tôi là cán bộ tuyên huấn nhà trường, chúng tôi bỗng chốc trở nên thân thiết. Sau mỗi lần nói thời sự cho học viên xong, lúc ra về, tôi thường ghé thăm anh. Lần nào chúng tôi cũng nhắc đến kỷ niệm đồi A1 - Điện Biên. Nhiều lần anh vỗ vai tôi và nói: Cậu nên nhớ, không có phương châm “đánh chắc, tiến chắc” thì chúng mình làm gì còn sống đến ngày hôm nay! Lời nói của anh như khẳng định với tôi một vấn đề vô cùng quan trọng không bao giờ quên được.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #62 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2016, 09:42:35 pm »


ĐẠI ĐỘI TÔI TRONG 31 NGÀY ĐÊM GIỮ ĐỒI C1
Thiếu tướng ĐỖ VĂN PHÚC
Nguyên Tùy viên quân sự ĐSQ Việt Nam tại Cộng hòa Liên bang Nga
Đại đội trưởng Đại đội 56, Trung đoàn 98, Đại đoàn 316

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, với trận đánh mở màn tiêu diệt cứ điểm Him Lam, sau 4 ngày chiến đấu, quân ta đã kết thúc thắng lợi đợt 1.

Đợt tiến công thứ hai mới là đợt dài ngày, gay go, ác liệt nhất. Trong đợt tiến công này, Trung đoàn 98 thuộc Đại đoàn 316 trong đó có đại đội “bộ binh pháo” của chúng tôi, được giao nhiệm vụ đánh cứ điểm C1. Đồi C1 là cứ điểm trọng yếu cùng với A1 và C2 nằm gần nhau, địch tổ chức thành khu phòng ngự then chốt ở cửa ngõ phía đông khu trung tâm Mường Thanh.

Tham gia đánh cứ điểm này, đại đội “bộ binh pháo” tức là pháo nhỏ đi cùng bộ binh của chúng tôi có 1 trung đội với 3 khẩu pháo không giật ĐKZ 57 ly và 3 trung đội với 9 khẩu cối 81 ly. Với hỏa lực đó, 3 khẩu pháo không giật đã được điều đến phối thuộc với tiểu đoàn bộ binh chủ công. Còn 9 khẩu cối 81 ly được tổ chức thành trận địa hỏa lực bố trí trên hướng tiến công chủ yếu của trung đoàn, cách cứ điểm C1 khoảng 350 mét. Trận địa bố trí gần, phạm vi quan sát rộng, nên từ đây với thế mạnh của loại cối 81 ly đi sát bộ binh, chúng tôi có thể trực tiếp chi viện hỏa lực cho trung đoàn đánh C1, đánh C2 và khi cần, có thể hiệp đồng chi viện hỏa lực cho đơn vị bạn chiến đấu ở A1 và làm các nhiệm vụ chiến đấu khác.

17 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1954, đợt tiến công thứ hai của chiến dịch bắt đầu. Pháo binh ta bất thần bắn mạnh vào sở chỉ huy Đờcátxtơri, các cứ điểm A1, C1, D1 và đồi E, các trận địa pháo binh và quân cơ động của địch. Trên đồi C1, 30 trái đạn lựu pháo 105 ly của Mặt trận và hàng trăm quả đạn cối 81 ly của đại dội tôi cùng với cối 60 ly của tiểu đoàn bộ binh đã giáng đòn sấm sét đánh dập đầu quân địch, tạo điều kiện cho bộ binh của Trung đoàn 98 nhanh chóng mở cửa đột phá, xung phong tràn vào đánh địch, tiêu diệt và bắt sống 140 tên thuộc tiểu đoàn 1 lính Marốc, chiếm được cứ điểm này sớm hơn 45 phút so với thời gian mà trung đoàn trưởng Vũ Lăng đã hứa với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau khi hoàn toàn làm chủ C1, trung đoàn lệnh cho các đơn vị nhanh chóng củng cố lại lực lượng, cải tạo và đào mới công sự, chuẩn bị mọi mặt để phòng địch phản kích từ C2 vượt qua “yên ngựa” đánh chiếm lại C1.

Trong khi đó ở A1, cuộc chiến đấu giữa ta và địch vẫn đang diễn ra rất gay go ác liệt. Ngày 9 tháng 4 năm 1954, được lực lượng nhảy dù tăng cường, có pháo binh, xe tăng và máy bay yểm hộ, địch tiến hành phản kích lớn, từ C2 ngược qua “yên ngựa” đánh sang nhằm chiếm lại C1 để bảo vệ sườn bên trái của A1, khôi phục lại khu phòng ngự then chốt của chúng ở cửa ngõ phía đông khu trung tâm Mường Thanh. Do dự kiến trước được tình huống đó nên trung đoàn đã có phương án chủ động đánh trả địch ngay từ đầu rất quyết liệt. Riêng hỏa lực súng cối 81 ly của đại đội chúng tôi phải hoàn thành 2 nhiệm vụ: Một mặt phải bắn tập trung mãnh liệt vào khu “yên ngựa” phá vỡ đội hình phản kích của địch, cùng với hỏa lực các loại của pháo binh, bộ binh tạo thành một lá chắn lửa trước tiền duyên phòng ngự của ta, kết quả là đã diệt được nhiều sinh lực địch, bẻ gãy các đợt xung phong của chúng. Mặt khác phải sẵn sàng khi có lệnh hoặc yêu cầu của bộ binh, kịp thời di chuyển hỏa lực bắn vào cột cờ trên đỉnh đồi C1, chế áp tiêu diệt địch khi chúng đột nhập vào tung thâm phòng ngự của ta.

Nhiệm vụ thứ hai này là nan giải nhất đối với chúng tôi. Nan giải bởi phải làm sao cản diệt được địch mà không sát thương quân ta khi cả ta và địch đều rất gần nhau, khi ở đây ta đông người, địa hình hẹp, giao thông hào chật và nông, không cho phép chúng tôi đặt cả chân và bàn cối bắn theo bài bản.

Khó khăn thế, nhưng lại không thể thiếu hỏa lực pháo cối theo lệnh của trung đoàn, trong lúc tại trận địa cơ bản chưa khắc phục được trở ngại trên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #63 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2016, 09:43:49 pm »


Chính trong lúc đó, cách “bắn ôm nòng” của chúng tôi đã phát huy được tối đa tính ưu việt của hỏa lực cầu vồng diệt địch ở địa hình có nhiều “góc chết”. Bằng cách này, tôi đã cho 2 khẩu 81 ly lên C1 bỏ hết bàn và chân lại, để một pháo thủ vai đỡ và tay ôm lấy nòng và một pháo thủ khác bắn với góc gần 90 độ phóng đạn vào đội hình địch. Kết quả là đạn nổ đều ở cự ly rất gần, cách bộ binh ta chỉ khoảng trên dưới 100 mét. Ngay trong ngày đầu đánh địch phản kích và một vài ngày sau đó, cách bắn “ôm nòng” đánh địch trên đồi C1 rất có hiệu quả.

Bằng cách “ôm nòng” trên, sau hai ngày, khi trận địa cơ bản đã phát huy được hết thế mạnh, đại đội “bộ binh pháo” chúng tôi cùng với lựu pháo đã kịp thời chi viện rất có hiệu quả cho bộ binh tiêu diệt nhiều sinh lực địch và đánh bại nhiều cuộc phản kích của chúng vào cứ điểm C1 mà ta đã làm chủ.

Trong những ngày đầu đánh địch phản kích, cũng đã có lần địch vào được tung thâm phòng ngự của ta và chiếm lại được Cột cờ trên đỉnh đồi C1. Trong những trường hợp như vậy, nhiều trận đánh giáp lá cà xảy ra rất ác liệt. Ta và địch quần nhau, giành giật từng tấc đất, từng ụ súng, từng mét chiến hào. Có lúc bộ binh yêu cầu súng cối của chúng tôi bắn ngay vào Cột cờ, nơi đó địch bố trí một khẩu đại liên rất lợi hại, và Cột cờ cũng là cái mốc phân chia giới hạn: Địch chiếm một nửa đồi phía cao, ta chiếm một nửa đồi phía thấp, và cũng là vật chuẩn để chỉ thị mục tiêu cho hỏa lực pháo binh, súng cối. Đây là một yêu cầu cấp bách và rất khắt khe. Theo lệnh của trung đoàn, đại đội chúng tôi vừa phải bảo đảm chế áp tiêu diệt địch ở khu vực cột cờ, vừa phải bảo đảm an toàn tối đa cho bộ binh. Đại đội dùng 3 khẩu bắn tiếp tục vào “yên ngựa”, còn 6 khẩu 81 ly bắn tập trung đồng loạt, sau đó bắn từng khẩu một từ Cột cờ lên phía cao điểm để duy trì lúc nào cũng có tiếng nổ cối 81 chế áp và tiêu diệt địch. Sau loạt đạn đầu và những đợt bắn tiếp theo, nhờ có quan sát mắt hiệu chỉnh nên đại bộ phận đạn rơi trúng mục tiêu và bảo đảm an toàn cho bộ binh ta. Sở dĩ chúng tôi làm được như vậy là do ở cự ly gần 350 mét, sai số tản mát của súng cối nhỏ hơn so với lựu pháo. Vả lại, cột cờ là vật chuẩn đã qua nhiều lần bắn thử và bắn thật nên chúng tôi có phần tử rất chính xác và rất “tinh mắt” cả về cự ly và về hướng.

Trong thời gian chiến đấu, có lần trung đoàn trưởng Vũ Lăng xuống trận địa đại đội để động viên bộ đội và kiểm tra tình hình chiến đấu của đơn vị. Ngay sau khi đi kiểm tra từng khẩu đội, khi về đài quan sát, trung đoàn trưởng lệnh cho đại đội bắn thử một phát vào “yên ngựa”. Sau khẩu lệnh xạ kích của tôi chưa đầy một phút, từ trên C1 báo về đạn rơi đúng mục tiêu Y1 (yên ngựa 1) nhưng trên mặt “yên ngựa” chỉ thấy một ít khói mỏng bay là là mặt đất. Lúc này, trung đoàn trưởng có vẻ hơi khó chịu, không vui, nhưng đồng chí vẫn cố ghìm được cái tính “nóng như lửa” của mình. Đồng chí hỏi tôi: Sao? Đạn rơi chính xác không? Tôi đáp: Dạ, báo cáo anh, đạn đã rơi đúng mục tiêu, nhưng đây là mục tiêu “yên ngựa 1” nằm thấp ở sườn trái phía bắc “yên ngựa” mà địch thường lợi dụng để phản kích ta. Còn trên mặt “yên ngựa”, chúng tôi đánh số là Y2. Căn cứ vào đó, đại đội tính toán phần tử chính xác căn cứ vào kết quả nhiều lần bắn thật để khi địch phản kích hoặc bộ binh yêu cầu là bắn được ngay. Để kiểm tra báo cáo của tôi, trung đoàn trưởng lệnh cho bắn tiếp 2 quả vào Y2. Và cũng chỉ sau khoảng 40 giây, lần lượt 2 quả đạn cối đã nổ trên bề mặt “yên ngựa”. Một đám khói đen to cuốn theo bụi đất đã che lấp một phần nhỏ “yên ngựa”. Trung đoàn trưởng cười và rất vui, còn tôi thở phào nhẹ nhõm. Một cán bộ trung đội đứng gần đó đã xin phép trung đoàn trưởng đọc câu thơ do anh em đơn vị tự sáng tác:

“Súng cối cấu tạo nhẹ nhàng
Bắn nhanh, chính xác ngang hàng pháo binh”.

Trung đoàn trưởng lại cười, biểu dương khen ngợi và dặn dò động viên chúng tôi chuẩn bị mọi mặt để có thể phải đánh địch phản kích lâu dài giữ đồi C1. Trước khi về Sở chỉ huy trung đoàn, Trung đoàn trưởng nói: Từ nay trở đi, khi đánh địch phản kích, đại đội trưởng được quyền quyết định số lượng đạn cối vào “yên ngựa” và Cột cờ mà không phải chờ lệnh của Trung đoàn, dễ mất thời cơ hỏa lực. Nhưng phải hết sức tiết kiệm đạn và không được đụng đến cơ số đạn dự bị nếu không có lệnh của trung đoàn.

Việc tiết kiệm đạn pháo là rất nghiêm ngặt. Bộ chỉ huy Mặt trận quy định rất cụ thể. Đạn cối 81 ly của đại đội tôi đều do cấp trên cấp. Nhưng trong đợt tiến công này, có đến gần 30% số đạn là do chúng tôi hoặc đơn vị bạn đoạt được từ những chiếc dù của địch thả lạc vào trận địa ta. Có lẽ nắm chắc được vấn đề này nên trung đoàn trưởng mới “nới” tay như vậy.

Trong 31 ngày đêm, cuộc chiến đấu trên đồi C1 diễn ra rất gay go, ác liệt, liên tục không kể ngày đêm. Cho đến trước ngày 1 tháng 5 năm 1954, ta và địch vẫn chỉ dừng lại ở vị trí lấy cột cờ làm mốc: Địch chiếm một nửa đồi phía cao, ta chiếm một nửa đồi phía thấp. Số phận của C1, A1, C2 và toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ chỉ được định đoạt trong đợt tiến công thứ ba từ ngày 1 tháng 5 năm 1954 đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, khi lá cờ Quyết chiến Quyết thắng của Bác Hồ muôn vàn kính yêu trao cho Quân đội ta tung bay trên nóc hầm Đờcátxtơri, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #64 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2016, 09:47:38 pm »


TRẬN THỌC SÂU “GIÁP LÁ CÀ” Ở PHÍA ĐÔNG SÔNG NẬM RỐM
Đại tá MINH CAO

Trong trận Him Lam, Tiểu đoàn 11 Trung đoàn 141 đã anh dũng chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm cứ điểm 1, nhưng cũng để lại trên mình những vết thương rất nặng: hai phần ba lực lượng xung kích bị thương vong, nên trên chưa khen thưởng. Một tâm trạng nặng nề, ân hận với những thiếu sót, tiếc thương đồng chí, đồng đội, băn khoăn về sức chiến đấu của tiểu đoàn ám ảnh toàn đơn vị.

Chính ủy Trần Độ và Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn đều cho rằng: “Khi con hổ bị thương nặng, thường nó rất hung nếu bị đạn tiếp. Thời gian còn dài, còn phải liên tiếp chiến đấu đến thắng lợi, Tiểu đoàn 11 hãy sẵn sàng”.

Sau khi tổng kết trận đánh, cán bộ và chiến sĩ trong tiểu đoàn đã nhận thức sâu sắc ý nghĩa thắng lợi, thấy rõ nguyên nhân thương vong nhiều là do chủ quan, ngại gian khổ, thiếu tích cực đào hào chiến đấu, đồng thời cũng nhận rõ nhiệm vụ tiếp theo của đơn vị trong đợt 2 càng quyết liệt nặng nề. Từ đó mọi người vượt qua được mặc cảm, nâng cao tin tưởng và quyết tâm, xác định trách nhiệm sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ trong đợt 2 chiến dịch. Đi đôi với công tác tư tưởng, về tổ chức tiểu đoàn cũng được củng cố, bổ sung thêm và sắp xếp tổ chức lại. Đại đội 241 và 243 sáp nhập làm một do đồng chí Hà Văn Nọa làm Đại đội trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Hiệu làm Đại đội phó và đồng chí Bùi Thế Đại làm Chính trị viên... Toàn tiểu đoàn dấy lên một không khí lập công sôi nổi, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.

Sau chiến thắng Him Lam, Độc Lập, ta đã tiêu diệt được một bộ phận quan trọng sinh lực địch, nhưng ta mới hoàn thành một phần nhiệm vụ đánh chiếm ngoại vi. Trong hệ thống phòng ngự còn lại của địch ở khu trung tâm, các vị trí quan trọng nhất là các điểm cao phía đông.

Vẫn với phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, trong đợt 2 chiến dịch, Đại đoàn 312 có nhiệm vụ đánh chiếm đồi E, D1, D2, điểm cao 210 (có trận địa pháo) ở phía đông, không chế sân bay, triệt đường tiếp tế, tiếp viện, thắt chặt và thu hẹp khu vực chiếm đóng và vùng trời của địch.

Để chuẩn bị cho đợt 2, Tiểu đoàn được giao nhiệm vụ đào hào khép chặt vòng vây. Đây cũng là một cuộc chiến đấu không kém phần quyết liệt. Địch bố trí các hỏa điểm súng máy dọc sân bay, bắn sát mặt đất kết hợp với pháo cối tập trung vào những nơi nghi có ta đột nhập. Với quyết tâm phát huy thành tích và sửa chữa sai lầm (chủ quan ngại đào hào trước đây), toàn đơn vị đều hăng hái, phát huy sáng kiến, đào dũi từ bờ sông Nậm Rốm đến sát sân bay. Sau khi gặp mũi đào của đơn vị bạn, Tiểu đoàn được bàn giao lại, chuyển sang đào chiến hào tiến công đồi E.

Bước vào đợt 2 chiến dịch, Tiểu đoàn 11 được giao nhiệm vụ thọc sâu, làm rối loạn các vị trí bên trong khu Đông, đánh quân địch ra ứng cứu, tạo điều kiện cho các đơn vị bạn đánh chiếm các cao điểm E, D1, D2 và cao điểm 210.

Để thực hiện nhiệm vụ, Tiểu đoàn tổ chức trinh sát đường vào, phát hiện hệ thống hàng rào, vật cản dài tới 50 mét vắt ngang qua đường giữa đồi E và D1. Lực lượng trực tiếp chiến đấu luồn sâu chỉ có Đại đội 243, tổ chức thành 2 bộ phận. Bộ phận mở cửa được trang bị bộc phá ông, bộ phận thọc sâu được trang bị gọn nhẹ gồm tiểu liên, thủ pháo và 1 trung liên. Đại đội 245 làm lực lượng dự bị.

18 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1954, đợt tiến công thứ 2 vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bắt đầu. Lợi dụng thời cơ các đồi E, D bị tấn công đang còn chìm trong khói lửa, địch lúng túng đối phó, cả Ban chỉ huy Tiểu đoàn cùng với lực lượng nhỏ bé của mình, vượt khỏi giao thông hào đầy bùn nước, dưới tầm hỏa lực của địch, xốc thẳng vào khu Đông theo đường 41 giữa đồi E và D. Tiểu đoàn phó Lê Đình Huống trực tiếp chỉ huy đội bộc phá tận dụng thời cơ mở hàng rào dày đặc. Ban Chỉ huy tiểu đoàn cùng bộ phận xung kích băng qua cửa mở, xốc thẳng vào trong. Bấy giờ, địch mới phát hiện ra mũi tấn công nguy hiểm này, chúng lập tức tập trung pháo, cối, liên thanh 4 nòng bắn cấp tập vào khu cửa mở. Các chiến sĩ ta lúc đó đang trên mặt đất, thu dọn chướng ngại vật, bị pháo cấp tập bất ngờ nên phần lớn bị thương vong. Đồng chí Tiểu đoàn phó Lê Đình Huống hy sinh.

Lực lượng thọc sâu vào tới bên trong gặp tiểu đoàn dù 5 đang tiến ra, lập tức xông vào đội hình địch, dùng tiểu liên, lựu đạn đánh giáp lá cà. Địch bị bất ngờ, hốt hoảng bỏ chạy.

Mũi phản kích bị bẻ gãy. Thừa thắng, đoàn dũng sĩ của ta chia làm hai mũi. Một mũi do đại đội phó Nguyễn Văn Hiệu và chính trị viên Bùi Thế Đại tiến theo chân đồi D, gặp tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 cơ động đến đó. Không quản ngại địa hình bằng phẳng, các chiến sĩ ta dàn thành thế trận chặn địch, dựa vào vật cản sẵn có, tiếp tục đào thêm công sự, bố trí thành từng tổ chiến đấu. Trong khi đó, ba mũi của đại đội trưởng Nọa, các chiến sĩ vẫn tin ở hành động táo bạo và không kém phần mạo hiểm của mình. Tiểu đội đồng chí Tú liên tục bộc phá mở được một lối vào cứ điểm 210, người này ngã người khác lao lên. Tiểu đội đồng chí Ngọc cũng thừa cơ xốc tới lia tiểu liên vào một toán nấp sau ụ pháo, tạo điều kiện cho Tiểu đội phó Cư vòng lên bắt 8 tên, diệt 5 tên. Cùng lúc, trung đội 5 nhào lên đánh thẳng vào đại đội 2 của địch. Cả toán này tháo chạy, 7 tên nữa bị bắt. Nhiều tên mất cả phương hướng chạy quàng cả vào hàng ngũ của ta. Sau nhiều giờ chiến đấu, trận địa pháo địch ở căn cứ 210 bị ta chiếm đoạt, những ổ đề kháng cài lại, chặn bước tiến của ta cũng bị tiêu diệt hoàn toàn. Lúc này, mưa như trút nước, pháo sáng nhập nhòe, không đủ nhận rõ ta hay địch. Đại đội trưởng Nọa quyết định lấy tiếng súng bắn trả của địch làm mục tiêu tiếp tục công kích. Các chiến sĩ đồng loạt dùng lựu đạn, thủ pháo xông vào chiếm trận địa của tiểu đoàn dù Âu thứ nhất. Nhiều chiến sĩ ta da thịt bị cào rách, cứ thế giật ra mà tiến lên. Trên quãng đường dài hàng trăm mét, mặc dầu địch đông, hỏa lực nhiều nhưng chúng cũng không tiến ra được và chiếm được trận địa của 2 mũi của Đại đội 243 khi đó đã nhập làm một để sát cánh chiến đấu. Do một số bị thương đã thoát ra ngoài trong đêm, lực lượng còn lại quá mỏng. Chính trị viên Đại và Đại đội phó Hiệu hy sinh. Trong khi tiến đánh các lực lượng địch ngăn chặn trên đường, vừa truy đuổi toán quân dù ngụy số 6 rút chạy, đến khi thấy ánh nước bạc trước mặt mới hay đã tới bờ sông Nậm Rốm, vượt quá nhiệm vụ được trao cho đơn vị. Lập tức anh em rút ra, lúc đó đã gần sáng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #65 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2016, 09:47:59 pm »


Mờ sáng, địch dùng bộ binh có xe tăng yểm hộ ra phản kích. Mũi thọc sâu bây giờ trở thành lực lượng và bàn đạp trực tiếp uy hiếp vào trung tâm, khi đồi E và D của địch đã tan hoang. Chúng rất biết lực lượng thọc sâu của ta đã bị tiêu hao đáng kể. Có nhổ được cái gai trước mắt mới có thể nghĩ tới chuyện tiếp theo, giành lại các cao điểm đã mất.

Đại đội 243 lúc này còn gần 20 đồng chí, trong đó có một số thương binh chưa được đưa ra, vũ khí hỏng hóc, đạn dược gần hết, trung liên còn khoảng 10 băng, súng trường trung bình mỗi khẩu 20 viên, thủ pháo hết, lựu đạn còn mỗi người một quả... Toàn đại đội dựa vào chân đồi, vào công sự, tận dụng các vật cản sẵn có, chia thành từng tổ chiến đấu, lập thành một trận địa phòng ngự chặn địch. Các cuộc liên lạc với trên bằng chạy bộ và điện đàm cầm tay đều không thực hiện được. Lui quân vào thời điểm này rất không thuận. Lần nữa, một cuộc hội ý chớp nhoáng giữa 4 đảng viên còn lại lúc này hạ quyết tâm: chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Từng người buộc lại vết thương của mình thật chặt. Tổ trưởng Tú bị mất một cánh tay, được một chiến sĩ khác nhường cho một lưỡi lê. Liên lạc Dân không còn dùng máy vô tuyến điện được nữa đã dùng đôi bàn tay moi từng nắm đất gan gà pha cát sỏi để giúp đồng đội làm công sự. Chiến sĩ Hoàng lần đầu xuất trận, qua thử thách, giờ chững chạc và gan lì lên rất nhiều. Dưới làn mưa đạn trọng liên 4 nòng quét sát mặt đất, lại có sự yểm trợ của đại bác và máy bay oanh tạc xuất hiện khi bầu trời đã tan mây, cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, các tổ 3 người xoay lưng vào nhau, phối hợp chặt chẽ, yểm hộ nhau, hết đạn thì dùng lưỡi lê đánh giáp lá cà, quyết chiến ngay trong vòng vây khép kín của những toán địch ào ào xông tới. Đại đội trưởng Nọa bị một thằng Tây đen dí xuống bùn, tuy chỉ có một cánh tay không trồi lên được, nhưng anh vít đầu nó xuống, dùng miệng cắn vào yết hầu, máu nó phun đầy ra miệng anh. Anh chồm dậy lao vào vật nhau với tên khác. Báng súng của tân binh Hoàng liên tục bổ xuống hết đống thịt này đến đống thịt khác. Bỗng lưỡi lê của một tên giặc cao gấp đôi Hoàng đâm xuyên từ lưng sang ngực anh, Hoàng nảy người lên, vừa lúc nó rút lưỡi lê ra, anh vung báng súng lên quật ngay tên địch, rồi ngã xuống.

Địch bị thất bại nặng nề. Nhưng chúng cậy thế đông người tổ chức xung phong liền 3, 4 đợt. Mỗi đợt cách nhau chừng 30 phút, có đợt lính Âu và ngụy lẫn lộn, nhưng đều không hiệu quả. Trước các tổ 3 người xoay lưng vào nhau, lưỡi lê trên đầu súng chìa ra trước mặt, sẵn sàng dồn vào cùng một hướng khi địch xông tới, dùng sức 3 chọi 1 rất có hiệu quả.

Sự chờ mong sẽ có lực lượng tiếp viện hoặc có sự hoạt động nào đó của đơn vị bạn “đỡ đòn” cho bộ phận thọc sâu lúc này đã trở nên không tưởng. Tình hình thực tế ra sao, cấp chỉ huy từ tiểu đoàn trở lên vẫn không nắm được. Mãi sau này mới biết, trong đêm, Bộ chỉ huy Đại đoàn có trao nhiệm vụ cho 2 tiểu đoàn 115 và 54 nhanh chóng luồn qua khe hở tiến vào bên trong khu Đông. Nhưng hai tiểu đoàn trên gặp khó khăn, không mở được cửa qua các bãi rào dây thép gai dày đặc. Vì vậy không thực hiện được kế hoạch phối hợp với cánh quân Tiểu đoàn 11 Phủ Thông.

Dùng hỏa lực kết hợp xung lực không xong, địch chuyển sang dùng xe tăng để tiến công, từ xa bắn vào trận địa, rồi tiến lên dùng xích sắt xông vào đè bẹp các công sự với các chiến sĩ dũng cảm của chúng ta. Lúc này không còn gì để đánh lại xe tăng địch.

Ròng rã suốt một đêm và gần trọn nửa ngày sau, luôn luôn tái diễn một tấn bi kịch chỉ có 2 vai đóng: “Người và Thần chết”. Lời hứa với tiểu đoàn khi còn liên lạc được với nhau của đại đội trưởng Nọa: “Xin được ở lại chiến đấu”, nay chỉ còn lưu trong chốn hư không với một ấn tượng rất sâu sắc về một con người cương trực, dũng cảm ngay từ khi phát hiện ra những sai sót trong quá trình trinh sát, giúp trên kịp điều chỉnh lại, tránh được tổn thất và giành thắng lợi trong trận Him Lam mở màn chiến dịch.

Giây phút cuối cùng của trận đánh không sao ngờ được một “cụm cứ điểm” nhỏ hình thành ngay ven đường 41, với những trận giáp lá cà hết sức quyết liệt làm cho quân địch không tạo nổi thế bủa vây. Chúng phải dùng hình thức đê hèn nhất là cho xe tăng nghiền nát thương binh của ta.

Trận quyết chiến và huyết chiến chấm dứt. Lực lượng còn lại của đơn vị thọc sâu đã chiến đấu và hy sinh đến người cuối cùng.

Đại đội 245 dự bị của Tiểu đoàn được tăng cường tới thì trận đánh đã kết thúc. Xe tăng địch dàn ra đường 41 đề phòng ta tấn công vào. Tiểu đoàn và Đại đội 245 dựa vào chân đồi D, chuẩn bị sẵn sàng quyết chiến với quân địch nhưng chúng không dám tiến ra.

Tiểu đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ. Đơn vị thọc sâu của Tiểu đoàn đã nêu tấm gương vô cùng dũng cảm, kiên cường, đánh với trên 2 tiểu đoàn địch, truy kích địch sâu vào tung thâm, chiến đấu giáp lá cà và chống chọi với xe tăng địch đến người cuối cùng, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bạn tiêu diệt địch ở đồi E và D1, D2.

Với chiến công oanh liệt trong trận thọc sâu, cùng chiến công đánh cứ điểm 1 cụm cứ điểm Him Lam, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã tặng thưởng cho Tiểu đoàn 11 Phủ Thông Huân chương Quân công hạng Nhì.

Anh dũng kiên cường thay, vinh quang thay những đồng chí, đồng đội đã ngã xuống để làm nên chiến thắng này, tô đậm thêm truyền thống Tiểu đoàn Phủ Thông anh hùng!
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #66 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2016, 09:49:13 pm »

 
ĐÊM TRƯỚC CUỘC TỔNG CÔNG KÍCH VÀO MƯỜNG THANH
TRẦN MINH HỒNG

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi chiến đấu trong đội hình Đại đoàn 308. Sau khi tham gia cuộc tiến công thần tốc, bất ngờ sang Thượng Lào, cuối tháng 2 năm 1954, đơn vị tôi trở lại Điện Biên Phủ, ém quân ở cánh rừng phía tây cách Mường Thanh khoảng 5 km.

Trong đợt đầu chiến dịch, sau chiến thắng Him Lam và đồi Độc Lập, đại đội tôi tham gia bức hàng đồn Bản Kéo. Sang đợt 2, chúng tôi tham gia xây dựng trận địa tiến công và bao vây địch, lần lượt tiêu diệt các cứ điểm 106, 206; khống chế sân bay Mường Thanh, chi viện cho Tiểu đoàn Nguyễn Quốc Trị đánh địch phản kích. Từ trung tuần tháng 4, tham gia phong trào bắn tỉa, tranh đoạt dù tiếp tế với địch, xiết chặt vòng vây, dồn quân địch vào cảnh khốn cùng.

Trong những ngày đầu chiến dịch, đại đội tôi tham gia vây lấn, bức hàng đồn Bản Kéo. Sang đợt 2, cho đến đêm trước cuộc tổng công kích, đêm 30 tháng 4 năm 1954, Đại đội 399 đã được bổ sung đầy đủ quân số và vũ khí nhưng chỉ còn một phần ba là những gương mặt cũ có mặt từ đầu chiến dịch, còn lại là những người mới được bổ sung về đại đội qua nhiều đợt. Đợt gần nhất có 5 người vừa về đại đội ngày 26 tháng 4, số về trước đều trở thành lính cũ. Chiến trường này, anh em mới về đại đội chỉ qua năm bảy ngày đêm ra trận cùng đơn vị là trưởng thành.

Hôm ấy, như thường lệ, đại đội xuất quân lúc 5 giờ chiều. Nhiệm vụ vẫn như đêm hôm trước là đột nhập vào sâu các vị trí địch ở phân khu trung tâm Mường Thanh, cụ thể là giữa hai đồn 311A (Huyghette 5) và 311B (Huyghette 4), ngăn chặn mọi hành động di chuyển, ứng cứu, tiếp tế của địch cho các đồn ngoại vi và đoạt dù tiếp tế thu chiến lợi phẩm.

Từ chỗ trú quân ra đến bìa rừng dài hơn một cây số, trời vẫn còn sáng, chúng tôi tranh thủ đi nhanh theo đường hào trục, rẽ sang đường nhánh hào bộ binh tiến về phía trung tâm tập đoàn cứ điểm. Nhánh hào bộ binh hẹp hơn đường hào trục, có đoạn vượt qua địa hình trũng thấp, bùn đất còn nhão nhoét sau mưa. Trời tối dần, tốc độ tiến quân chậm lại, mất cả tiếng đồng hồ chúng tôi mới đi được hơn nửa đoạn đường. Đêm cuối tháng, những vệt đạn lửa nối đuôi nhau lao vun vút trong bầu trời tối đen. Chiến trường không lúc nào ngơi tiếng súng, hết vang lên tiếng tiểu liên lại một tràng đại liên, khẩu bốn nòng 12 ly 7 của địch chốc chốc bắn như vãi đạn, xen kẽ là những phát súng cối 60 ly, 82 ly...

Nghe tiếng rít của viên đạn cầu vồng đang lao tới, tôi chỉ kịp cúi thấp người thì nó đã nổ tung, lọt vào đường hào khúc cuối đội hình đại đội làm ba chiến sĩ ta thương vong. Đã có kinh nghiệm xử lý, chúng tôi chỉ mất mươi phút sơ cứu thương binh rồi đơn vị tiếp tục hành quân. Tôi phụ trách việc cáng đưa ba chiến sĩ thương vong đó về hậu cứ, bàn giao xong lại dẫn anh em tải thương đuổi theo đại đội.

Quá nửa đêm, chúng tôi tới khe suối cạn nơi tối qua đại đội tập kết chỉ cách hầm Đờcátxtơri hơn ba trăm thước. Đến đây, chúng tôi phải vượt lên cánh đồng, theo một đường dây dù trắng do anh em trinh sát rải ra để dẫn đường, đi tiếp mấy chục thước nữa tới chỗ đại đội đang hoạt động. Tại đường hào, tôi đã thấy 5 tên tù binh vừa bị ta bắt đang ngồi co ro. Trận đánh diễn ra trước đấy hơn một giờ đồng hồ, khi đại đội vừa chiếm lĩnh trận địa thì một trung đội địch lò dò đến. Bọn địch chuyển đồ tiếp tế từ đồn 311B theo đường hào dẫn sang đồn 311A, đến đây chúng bị đại đội tôi chặn đánh, thương vong gần một nửa, phải rút lui.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #67 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2016, 09:49:42 pm »


4 giờ sáng. Đại đội bắt đầu rút quân. Một tổ ba người do tiểu đội trưởng Đăng phụ trách được cử dẫn tù binh ra trước. Đến 4 giờ 30 phút, toàn đại đội ra đến nơi tập kết, số đồ tiếp tế của trung đội địch tháo chạy bỏ lại với một dù hàng toàn đạn đại bác 105 ly đủ làm cho mọi người oằn vai mà vẫn hào hứng. Nhưng không thấy tổ Đăng và 5 tên tù binh đâu cả. Đường về xa lại qua đồn địch nên đại đội phải rút quân. Tôi cùng một tổ ba người ở lại chờ đón tổ Đăng. Thời gian không còn nhiều, chúng tôi chia nhau ra tìm quanh vẫn không thấy. Tôi đang phân vân tìm cách xử trí thì thoang thoảng nghe trong gió như có tiếng người. Tiếng gọi nhỏ và yếu ớt nhưng khiến tôi vui mừng khôn xiết chạy vội đến. Và một hình ảnh bất ngờ hiện ra trước mắt tôi: một tù binh ngụy cõng chiến sĩ Bút trên lưng đang lò dò bước. Hỏi ra mới biết họ bị lạc vào bãi mìn. Chúng tôi tìm đến thì thấy một cảnh thương tâm: toàn bộ 4 người của ta và 5 tù binh đều bị thương vong nằm la liệt. Hóa ra đêm qua, khi rút về ta sơ suất quên không thu sợi dây dù dẫn đường, ban ngày địch phát hiện được, chúng chuyển đầu dây phía suối cạn sang bãi mìn làm cho tổ của Đăng bị lạc. Đã thế khi mìn nổ, bọn tù binh lại chạy tán loạn nên dẫn đến hậu quả bi thảm này.

Vất vả lắm chúng tôi mới chuyển được hết 4 đồng chí thương vong về tới chỗ tập kết rồi nhìn nhau không biết làm gì hơn. Không có cáng, cũng không thể tiếp tục cõng thương binh về đơn vị được. Trời mỗi lúc mồi sáng. Phương tiện thông tin liên lạc với đơn vị không có. Đến nước này tôi đành đi thám sát địa hình rồi dẫn từng chiến sĩ tới từng vị trí để chuẩn bị cho một ngày chiến đấu bảo vệ thương binh trong lòng địch. Vừa xong thì từ trong sương mù, chỗ đầu đường hào bộ binh nối ra suối cạn xuất hiện bộ phận cáng thương của đại đội trở lại đón, chúng tôi mừng quá sức tưởng tượng, như gặp được thiên thần hộ mệnh.

Trở về, chúng tôi đi theo đường hào bộ binh, được một đoạn, thấy chậm quá, tôi cho anh em leo lên trên cánh đồng cứ ven đường hào mà chạy. Chiến trường lúc này im tiếng súng. Sương mù đã lên cao. Chúng tôi phải khiêng cáng nên dù chạy cũng không thể nhanh được như ý muốn. Và một điều lạ nữa trong đêm nay lại xảy ra: bọn địch trong đồn 311A phía bên phải gần đó, sau một đêm chui dưới hầm hào căng thẳng đang leo lên mặt đất để tận hưởng không khí trong lành và không có tiếng súng của buổi sớm mai. Tôi thấy rõ chúng đứng lổn nhổn trên một nắp hầm ụ súng giơ tay chỉ trỏ chúng tôi, nhưng không có một tiếng súng nào vang lên cả.

Hơn 50 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nay nghĩ lại, tôi thấy mình nhớ một quên mười. Trong “một nhớ” đó, có đêm 30 tháng 4 năm 1954, một đêm hoạt động bình thường thậm chí có nhiều xúi quẩy của đại đội 399 song vẫn để lại những hình ảnh không thể phai mờ trong tâm trí tôi.

Đó là hình tượng chiến sĩ Bút (bị thương ở chân) cưỡi trên lưng một tên tù binh (bị đất cát văng vào mắt), chỉ đường cho nó đi tìm về đơn vị (anh em đùa gọi là “thằng mù cõng anh què”). Năm đó Bút mười bảy tuổi, quá trẻ để nghĩ ra cách thoát hiểm thông minh tuyệt vời đến thế!

Đó là kỷ niệm với tiểu đội trưởng Trần Đăng (em đồng chí Trần Trác, một chính ủy trung đoàn). Đầu chiến dịch, Đăng còn là một nhân viên văn phòng phụ trách quân lực của đại đội, năm lần bảy lượt anh xin được làm lính xung kích và đã tỏ rõ khả năng đầy triển vọng.

Trái lại, Hòa (một trong ba chiến sĩ thương vong hồi đầu đêm) đã ba mươi tuổi, thuộc lớp “già” (cả đại đội lúc đó chỉ có ba người đến tuổi này). Anh vốn nhát gan, ra trận lần đầu, Hòa sợ đến phát ốm, nằm lì trong hầm hậu cứ mấy ngày liền. Chiều 30 tháng 4, anh trang bị chỉnh tề đến gặp đại đội xin ra trận. Và quả đạn súng cối của địch lọt hào đã sát hại anh. Trong di vật của Hòa có lá thư viết sẵn gửi vợ ở huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội) kèm theo mảnh giấy với dòng chữ: “Nếu tôi có hy sinh vì Tổ quốc, hãy gửi thư này cho vợ tôi”.

Với việc quân địch ở đồn 311A đứng nhìn chúng tôi cáng thương chạy ngay trước mặt mà không bắn, theo tôi hoàn toàn không phải vì địch sợ ta bắn trả mà là do tâm trạng mong được sống yên bình đang nung nấu trong lòng họ. Họ đâu biết rằng ngay đêm ấy (1-5-1954), Trung đoàn 88 tấn công tiêu diệt đồn 311A và ba hôm sau, Trung đoàn 36 tiêu diệt đồn 311B. Ba ngày sau nữa, 17 giờ 30 phút ngày mùng 7 tháng 5 năm 1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ, toàn bộ những người còn sống sót trong bọn họ đều gặp nhau ở trại tù binh. Lá cờ đỏ sao vàng thêu hàng chữ “Quyết chiến Quyết thắng” tung bay trên nóc hầm Đờcátxtơri, đánh dấu sự đổi đời và mong muốn trở về với vợ con của những người lính Pháp đã đến lúc trở thành hiện thực.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #68 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2016, 09:51:41 pm »


DI VẬT THIÊNG LIÊNG CỦA LIỆT SĨ
LÊ DUY LƯU
Cựu chiến binh Đại đoàn 304

Tôi còn nhớ như in, trong một buổi chiều tà, bầu trời Điện Biên không một gợn mây, đơn vị tôi đang tập trung nhả đạn vào quân thù thì bỗng bị một quả đạn pháo của địch rơi trúng vào trận địa, một số anh em bị thương vong, trong đó có Đại đội trưởng Bùi Công Phùng, anh bị thương khá nặng. Phùng là một cán bộ chỉ huy rất dũng cảm, ngoan cường. Anh em trong đơn vị thường gọi anh là “Con chim đầu đàn”. Ba năm liền anh là chiến sĩ thi đua liên tục của đơn vị.

Anh và tôi cùng nhập ngũ tháng 4 năm 1947, cùng ở đơn vị bộ đội địa phương huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, do ông Lê Thúc Cương làm chính trị viên huyện đội. Tôi và Phùng được đề bạt là Tiểu đội trưởng cùng thời gian đó. Đầu năm 1950, hai chúng tôi được điều động sang bộ đội chủ lực Vệ Quốc đoàn (thuộc Đại đoàn 304).

Đầu năm 1953, sau khi cưới vợ được vài ngày, anh được lệnh ra mặt trận tham gia chiến dịch Thượng Lào. Mặc dù chưa được hưởng tuần trăng mật trọn vẹn, nhưng anh vẫn vui vẻ lên đường.

Chiến dịch kết thúc, anh được tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ hạng Nhì về thành tích chiến đấu. Đại đoàn 304 đã cùng các đơn vị bạn tiêu diệt một phần tư quân Pháp, ngụy trên toàn chiến trường Lào.

Thế mà đến giữa chiến dịch Điện Biên Phủ, khi đợt 2 đang diễn ra ác liệt thì anh ngã xuống! Anh đã hy sinh anh dũng, để lại niềm tiếc thương cho đơn vị và người vợ trẻ ở hậu phương đang mang trong người giọt máu của anh.

Trước khi trút hơi thở cuối cùng, anh chỉ nói với tôi bằng ánh mắt nhiều hơn bằng lời và vẫn còn kịp lấy trong người ra một cái túi vải nhỏ xíu khâu bằng tay, trao cho tôi xong thì anh vĩnh viễn ra đi... Tôi hiểu đây là “Di nguyện”, anh muốn tôi đưa kỷ vật này về cho người vợ của anh đang sống cô đơn nơi miền quê đồng chua nước mặn.

Sau khi đơn vị tổ chức chôn cất anh xong, một buổi chiều, khi ngồi một mình, tôi liền mở cái túi của anh ra xem, thấy bên trong có một chiếc nhẫn màu vàng khoảng 2 chỉ và 2 lọn tóc quấn vào nhau. Lúc bấy giờ tuy không có thời gian suy nghĩ nhiều, nhưng tôi hiểu đó là chuyện vàng đá, chuyện duyên tình, chuyện đời của anh chị mà tôi đã chứng kiến trong buổi lễ thành hôn.

Trời Điện Biên mây trắng vẫn bay, núi rừng Tây Bắc hoa ban vẫn nở, nhưng biết bao đồng chí, đồng đội của tôi và Đại đội trưởng Bùi Công Phùng đã vĩnh viễn yên nghỉ trên cánh đồng lòng chảo này!

Tôi đang mơ màng nhận ra mình còn nợ những người đã khuất quá nhiều, bỗng có một tia nắng xuyên qua kẽ lá chiếu vào mắt tôi chói lóa, rồi một bàn tav ai đó sờ nhẹ vào vai tôi, tôi ngoái cổ lại chỉ thấy một ánh mắt và một nụ cười. Tôi gọi lớn: Phùng! Thì ra đó chỉ là ảo ảnh. Tôi cố lắc mạnh, cái đầu đúng là đang nửa tỉnh, nửa mơ.

Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, hòa bình được lập lại, tôi được phép về thăm mẹ, nhân chuyến đi này tôi sẽ cố tìm bằng được người phụ nữ có tên là Hoa, mà ở quê thường gọi là Lượm. Không hiểu cái tên Lượm do đâu mà có, hay do mẹ chị nhặt được rồi đem về nuôi? Hoa có nét người mặn mà nhan sắc, tính tình hiền dịu dễ thương.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #69 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2016, 09:52:03 pm »


Từ làng tôi đến nhà Hoa cách chừng 5 cây số. Với chiếc xe đạp cọc cạch, tôi đi men theo con đường làng chẳng mấy chốc đến được nơi tôi định đến.

Lúc tôi dắt xe qua cổng làng. Thấy tôi mặc bộ quân phục đi qua, đám trẻ vui đùa liền dừng lại và chào tôi một cách rất lễ độ và dễ thương. Tôi đáp: Chào các cháu. Rồi tôi hỏi chúng, ở đây có cháu nào biết nhà cô Lượm ở đâu không? Một cháu nhanh nhẹn trả lời: ‘Thưa chú cháu biết ở làng này có một cô tên là Lượm ạ”.

- Vậy cháu có thể dẫn chú tới nhà cô Lượm không?

- Thưa chú được ạ. May cho chú quá!

- Vậy cháu ngồi lên xe chú cháu mình cùng đi.

Đi được một quãng thằng bé nói: “Nhà cô Lượm ở trước mặt chú nè”.

Tôi cám ơn cháu, thằng bé lại ù té chạy về phía bọn trẻ.

Nhìn căn nhà đơn sơ lạnh lẽo, cửa đóng then cài, tôi bâng khuâng thất vọng, có lẽ mẹ con Hoa đã chuyển đi nơi khác rồi chăng? Tôi liền ghé vào nhà một người hàng xóm bên cạnh để hỏi thăm.

Được biết mẹ con Hoa đang về thăm ngoại chập tối mới về. Tôi yên tâm chờ đợi.

Kìa mẹ con Hoa đã về đây rồi!

Chợt thấy tôi, Hoa òa lên khóc nức nở như một đứa trẻ, rồi dẫn tôi vào nhà. Tôi động viên an ủi Hoa, rồi trao kỷ vật của anh cho chị, cùng với tấm huân chương và số tiền do đơn vị phúng viếng.

Qua câu chuyện riêng tư, Hoa bộc lộ với tôi là chị sẽ không đi “bước nữa” mà quyết ở lại thờ chồng, nuôi con.

Nhìn lên di ảnh của Phùng tôi khấn bái:

Phùng ơi! Tôi đã làm tròn “di nguyện” của anh rồi, giọt máu của anh nay đã tròn một tuổi, thằng bé trông rất kháu khỉnh và dễ thương, nó giống hệt anh. Dưới suối vàng anh nhớ phù hộ cho mẹ con Hoa chân cứng đá mềm.

Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, tôi lại có dịp về thăm mẹ con Hoa. Nhưng đau xót thay, lần này không phải là dòng nước mắt của chị, mà là nước mắt của mẹ chị, bởi mẹ con Hoa đã bị máy bay Mỹ sát hại. Tôi ngậm ngùi thắp một nén hương và mặc niệm người quá cố.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM