Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:19:36 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện  (Đọc 53232 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #70 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2016, 09:54:50 pm »


TRONG HẦM PHÁO ĐIỆN BIÊN
Đại tá PHẠM THANH TÂM
Nguyên Giám đốc Xưởng Mỹ thuật Quân đội
Phóng viên Đại đoàn 351 tại Mặt trận Điện Biên Phủ

Sau trận đầu thắng lớn: diệt hai đồn Him Lam, Độc Lập, bức hàng đồn Bản Kéo... chiến dịch đã bước sang đợt 2. Quân ta tiếp tục xốc tới, giành giật với địch quyền làm chủ các ngọn đồi A, C, D, E... gần sông Nậm Rốm mà bên kia là khu trung tâm Mường Thanh.

Đúng là giành giật - bởi bộ binh của ta chiếm giữ một số mỏm đồi, địch lồng lộn cho phi, pháo với xe tăng cùng bộ binh... lao ra phản kích. Nhưng tình thế đã khác rồi. Bộ binh ta không còn phải điêu đứng trước sức mạnh áp đảo của hỏa lực địch như 7, 8 năm về trước.

Ngày 17 tháng 3 năm 1954, tôi đang ngồi trong một hầm pháo 105 ly. Tính theo đường chim bay, chúng tôi chỉ cách Mường Thanh 4 km. Đây là đại đội 804 của tiểu đoàn 2. Đại đội 806 cũng gần bên. Hầm công sự pháo của chúng tôi dàn ngang lưng chừng mấy quả đồi, có chỗ được mái lá rừng che phủ; cũng có hầm đặt ngay vách núi gần đường 41, nơi trống trải xơ xác, bất ngờ nhất, “ăn nhau” ở cái tài ngụy trang!

Đồng chí Rụ - chính trị viên đại đội phổ biến lệnh trên: liên tục chiến đấu, sẵn sàng cơ động vào trung tâm, nhưng chúng ta phải tạo nếp sinh hoạt bình thường từ cái ăn, ngủ cho tới chuyện tắm rửa cho mình và pháo...

Lần này chúng tôi biết địch ở ngay bờ sông Nậm Rốm mà lại rất thiếu nước. Chúng thiếu cả củi phải gỡ giao thông hào và hầm sụp để đun, phải thả cả dù và nước.

Ngay từ trận đầu Him Lam, địch đã thấy pháo ta bủa vây chúng từ những cao điểm xung quanh, hoàn toàn có khả năng chế áp mọi hoạt động của chúng. Điều bất ngờ lớn nhất không chỉ từ hậu phương xa xôi lên tới đây được bằng xe kéo những khẩu trọng pháo lặc lè... mà “Việt Minh” còn dùng sức người kéo pháo bí mật đi tắt được qua các dãy núi đồi trùng điệp với dốc ngược tới 65 độ cao!

Bảy giờ thì chúng tôi với mỗi khẩu pháo đã ở trong công sự kiên cố với nóc hầm dày trên 1 mét, như trong một ngôi nhà khang trang... chỉ có cái đầu nòng pháo ngó ra ngoài cửa sổ - lỗ châu mai - quay ngang, quay dọc... Trong lúc êm ả có thể đánh tú lơ khơ... Anh Tuyên kính (chính trị viên tiểu đoàn) vừa xuống đây, đang ngồi đánh cờ xúy với lính của mình. Lúc nào cũng thấy ở anh sự điềm tĩnh, giản dị, vì anh vốn là một nhà giáo.

Bỗng vang lên từ góc hầm bên phải, Khẩu đội trưởng tay cầm ống nghe điện thoại, miệng hô:

Chuẩn bị bắn bộ binh địch!

Ngòi nổ tức thì, liều 6!

Góc tà 269, hướng về nguyên điểm!

Biểu xích 303, một phát nạp đạn!

Tất cả lập tức về vị trí chiến đấu. Và tôi nhìn trên lá chắn: “Đã chiến thắng ở Hòa Bình ngày 22 tháng 3 năm 1952 thì nhất định phải thắng trận Trần Đình!” (Bí danh của Điện Biên Phủ).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #71 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2016, 09:56:27 pm »


Điện từ Trung đoàn báo xuống: 804 có khách... một lát sau, vị khách từ cơ quan Bộ Tổng chỉ huy giới thiệu xuống là Thép Mới - nhà báo nổi tiếng - chúng tôi mới đọc bài của anh trên báo Quân đội nhân dân mặt trận. Mấy cán bộ pháo binh rất khoái cái từ anh dùng: “Pháo ta bắn từng phát đĩnh đạc”. Mặc dù có vẻ từng trải đi đây đi đó, trông anh còn rất trẻ so với tuổi 30 của anh. Cuộc gặp gỡ này đã cho tôi học được đôi điều: về tính năng động hoạt bát, về cung cách tìm hiểu thực tế, moi tìm tài liệu của một phóng viên...

Vị khách này vừa đi xong, lại có mấy vị khách nữa ùa vào căn hầm pháo chật chội. Nhưng lần này có vẻ như một làn gió mát thoáng qua.. Tiếng nói cười rộn rã, khiến các chàng pháo thủ trẻ tuổi vừa rụt rè vừa cởi mở, cách tiếp đãi có đặc biệt hơn... Vì đây là một nhóm 5 cô gái trẻ cùng với các anh Minh Tiến, Trọng Lanh, Vinh, Viện... có mang theo nhị, sáo và cây đàn Banjo Alto của Văn công Đại đoàn 351. Còn mấy người nữa, phải chia nhau ra mấy hầm pháo để ở chung với pháo thủ một vài ngày và cũng có thể ở lâu hơn, tùy theo tình hình chiến đấu.

Thế là cái tuy-nen (hầm khoét ngầm kéo dài thêm vào lòng đất) chính giữa sau đuôi càng pháo phải dọn dẹp để có chỗ nằm cho 3 cô văn công. Còn nam giới thì phân tán tùy nghi trong ngách đường hầm hai bên cánh gà thông sang hầm pháo khác. Đêm ngày, các pháo thủ vẫn ngồi (kể cả ăn ngủ) bên càng pháo, bên máy ngắm và nòng máng. Góc chỉ huy khẩu đội thì bất khả xâm phạm với một máy điện thoại và cuốn sổ ghi lệnh, ghi phần tử xạ kích.

Như đôi trai gái hò hẹn đã lâu, đầy háo hức, văn công tới là phải biểu diễn ngay. Bấy giờ chưa có quân phục cho nữ, các cô văn công hành quân vẫn chỉ có quần thâm với áo trấn thủ dài tay. Chốc lát, từ trong tuy-nen bước ra một vài bước là sàn biểu diễn giữa hai càng pháo mở rộng... Ba cô Tý, Lương, Ngọc đã mang trên mình bộ quần áo tứ thân với bồ tượng xanh hoa lý, yếm đỏ, với dải lụa hoa hồng.

Theo tiếng hát điệu “Sắp qua cầu”

      “Ai xui là xui cây lúa chín a lúa nặng trĩu bông í, ì, i ...
      em mong anh về gặt hái lúa giúp em í, ì, i ...”


Các cô đang múa lượn, điệu múa dân gian, lượn tròn giữa hai càng pháo, ấn tượng màu hồng - bấy giờ vẫn còn tiết xuân Giáp Ngọ - như những cánh hoa đào - đôi tay cánh mềm với giải lụa hồng lướt qua, vuốt trên mái tóc các pháo thủ đang ngồi xem... Anh Viện - một nghệ nhân quê Thái Bình ở đơn vị mới tuyển về Văn công với tiếng nhị điêu luyện thật rộn ràng tôn thêm nét múa...!

Rồi tiếng sáo “Nhị lang sơn”, rồi hợp ca “Xẩm xoan” theo nhịp phách của cô Thúy; rồi Minh Tiến; Trọng Lanh, Phạm Vinh, Hữu Quỳnh cùng hát “Tổ quốc Mỹ Lệ...” Rồi ngâm thơ Tố Hữu “Sáng tháng 5”...

Không nhất thiết là một buổi biểu diễn liên tục. Cứ lúc rảnh, pháo thủ yêu cầu cá nhân ai là người đó hát ngay. Đang ca hát, có lệnh bắn là dân công dẹp vào trong, giúp bê đạn, cho pháo thủ lao vào giật nòng, giật cò. Mỗi phát, khói lại mù mịt hầm không ai nhìn rõ mặt ai. Chúng tôi cầm quạt hoặc mảnh vải vung lên quạt khắp cho khói tan nhanh.

Tiếng chuông điện thoại reo từ đài quan sát truyền tin qua khẩu đội trưởng: “1 xe Jeep nổ tung. Bọn địch phản kích phía sân bay bị pháo ta bắn lăn cù chiêng cả lũ, chạy tóe... Một ô tô Hồng thập tự không kịp khiêng xác lên đã bỏ chạy, vứt lại gói xác có lẽ là quan to ... Vì nó gói bằng cờ Pháp...”. Những cảnh tượng ấy thường cho lính ta những phút giây thư giãn thoải mái.

Kể ra thì cũng chẳng phải múa hát - cứ có mặt các cô văn công mang bóng dáng những người con gái quê hương ở chốn này là chiến sĩ ta đã thấy ấm lòng, thấy vui lắm rồi, “vui như Tết” ấy!

Chính trị viên Rụ như áy náy cầm điện thoại nói với đại đội trưởng đang quan sát trên đài cách hơn 2 km trên dốc cao: “Cậu có muốn về xem không?”. Cô Tý nhanh nhẩu: “Anh giới thiệu em hát...” và nói với Đại đội trưởng Kính: “Anh bận khỏi về, cứ nghe thôi anh ạ... em tên là Tý”., và cô hát liền. Nghe kể khi nghe hát qua điện thoại, anh Kính cứ “ờ ... ờ” như nghe báo cáo vậy. Ai mà trách anh đang mải theo dõi địch, tìm thời cơ bắn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #72 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2016, 09:56:52 pm »


Ấy thế mà trong hầm pháo nơi đèo heo hút gió này ngoài đường dây chỉ huy cũng còn lắm thông tin. Nào là Văn công Đại đoàn 312 đứng hát ở ngã ba chiến hào động viên bộ đội xuất kích đi qua. Trong đoàn có Phan Đình Giót, anh rất vui, cảm động và hứa sẽ có “quà” tặng văn công. Nhưng rồi anh không về nữa!... Nào là cây đàn Accordéon mà Thanh Phúc kéo là do chiến sĩ ta thu được ở đồn Him Lam mang về tặng văn công. Nào là chuyện Hoàng Văn Nô dũng sĩ đâm lê và tổ dao nhọn của Nguyễn Hữu Oanh, v.v...

Cán bộ, chiến sĩ các binh chủng ai đi công tác qua cũng đều ghé vào thăm hầm pháo, để xin điếu thuốc; để tò mò sờ mó khẩu pháo xem nó thế nào, mà sao uy lực của nó khiến quân thù khiếp sợ đến thế! Quân ta thì quen chịu đựng né tránh trước sự uy hiếp của pháo địch rồi! Chúng còn pháo 155 ly nổ to và mạnh hơn... Vậy mà chúng sợ pháo 105 ly, pháo 75 ly của ta...!

Đặc biệt lính bộ binh ghé qua đây rất khoái - vì giữa chiến trường ác liệt này lại có một nơi - hầm pháo, như mái ấm gia đình.

Khẩu đội 2 vừa ăn cơm xong thì nghe tiếng ríu rít của văn công lên đài quan sát trở về.

“Gớm, hôm nay chính mắt chúng em trông thấy đạn các anh bắn chúng nó đẹp quá!”

“Thế à ... trông thấy đạn cơ à?”. Cô Minh, cô Tý đáp lời giọng như tiếng chim: “Có chứ anh, thấy cả máy bay, cả bộ binh nó chạy cơ...!”. Mấy anh pháo thủ đùa trêu, vẻ tự nhiên trìu mến như đối với em gái ở nhà.

“Thế cơ à, thích quá nhỉ!... Từ thuở bé đến giờ đấy nhé!..” và họ cười vang, rộn rã. Đồng chí Độ (cán bộ trung đội) vốn ít nói cũng phải nhếch mép cười theo.

Rồi văn công phải đi biểu diễn ở đơn vị khác. Tôi cũng phải rời “mái nhà ấm cúng” này, ra với bộ binh.

Dăm hôm sau, tôi quay lại Đại đội 804. Ở chiến trường, dăm hôm cũng khá là lâu. Vì chiến đấu luôn luôn có biến cố, tình hình địch ta luôn chuyển biến.

Thật không thể ngờ: Cái “mái nhà ấm cúng” - hầm của khẩu đội đã bị một viên đạn pháo địch lọt vào nổ tung. Bị cả khẩu đội trong đó Tý, Lộc, Giao hy sinh. Càng pháo bị gẫy, Ngọ bị thương nặng ... Đại đội lập tức củng cố lại công sự từ nóc tới cột và lỗ châu mai miệng hầm. Các đồng chí cơ công Đại đoàn phái xuống đang sửa, thay càng pháo, bánh xe, máy ngắm. Một biên chế các pháo thủ mới đã được bổ sung đủ giữ nguyên phiên hiệu khẩu đội 2, có Hùng, khẩu đội trưởng mới và một trung đội phó ở Trung đoàn 675 sang duy trì sinh hoạt, mạn đàm tâm tư ... Tiểu đoàn phát động phong trào trả thù cho các đồng chí đã hy sinh. Tôi qua mấy trận địa, nơi nào cũng có các đồng chí hy sinh... nhưng ở đây tôi có điều kiện để khóc, khóc các đồng chí ở khẩu đội 2 đã cùng tôi có 3 ngày đêm chung sống dưới “mái nhà ấm cúng” này. Tôi đã khóc như từ thuở nhỏ chưa từng khóc!

Đêm đó, tôi lại ngủ trong hầm pháo, ngôi nhà cũ thân thương, với giấc ngủ nặng nề trằn trọc ...

Một giờ sáng: Lệnh chuẩn bị đi tức khắc! Vùng dậy trong mờ tối, tiếng khẩu đội trưởng: Phá cửa hầm cho pháo ra! Pháo thủ vác đạn ra trước, rồi tới cọc, vồ, bó trúc, chèn, hòm phụ tùng và các thứ lỉnh kỉnh khác cùng với ba lô. Khi pháo vừa ra, đã có tới hai chục chiến sĩ bộ binh, cao xạ tới giúp.

Mây, sương mù trắng xóa từ lưng chừng núi xuống cánh đồng. Pháo sáng vẫn lập lòe từng lúc rồi tắt ngấm. Bóng dáng người lính in lên nền trời Điện Biên...

... Hai, ba này. Hai, ba ... Tời kêu kìn kịt.

Pháo tiến sâu vào sát địch hơn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #73 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 08:15:41 am »


KỶ NIỆM VỀ NỬA ĐIẾU THUỐC LÁ
VŨ NGỌC LÂM
Nguyên Tiểu đội trưởng tiếp lương,
Tiểu đoàn 394, Trung đoàn pháo cao xạ 367

Hồi chiến dịch Điện Biên Phủ tôi đảm nhiệm chức vụ Tiểu đội trưởng tiểu đội tiếp lương của Tiểu đoàn 394, thuộc Trung đoàn pháo cao xạ 367.

Trong hoàn cảnh bom đạn địch ác liệt, lại thêm thời gian chiến dịch kéo dài, việc tiếp tế lương thực, thực phẩm từ hậu phương lên mặt trận gặp rất nhiều khó khăn. Thực phẩm rất khan hiếm.

Là bộ phận chuyên lo khâu ăn uống cho bộ đội, chúng tôi ngày đêm lo lắng làm sao hoàn thành được nhiệm vụ. Nghĩ đến anh em ngoài trận địa sống kham khổ, trong mưa bom bão đạn vẫn ngẩng cao đầu chiến đấu, bắn rơi nhiều máy bay địch, chúng tôi như được cổ vũ thêm quyết tâm làm tròn trách nhiệm nuôi quân của mình.

Cùng với bộ phận hậu cần của tiểu đoàn bộ và của các đại đội, anh em chúng tôi đã không quản gian lao vất vả, mặc cho nắng mưa, gió rét, chia nhau lên tận các bản làng xa để mua, đổi thực phẩm, hoặc len lỏi vào những cánh rừng sâu, tìm hái từng búp măng, từng bắp chuối, từng ngọn lá rau rừng. Bữa ăn của cán bộ, chiến sĩ ngoài Sở chỉ huy tiểu đoàn, cũng như của pháo thủ trên các trận địa, nhờ đó được cải thiện một đôi phần.

Nhiều lần, chính trị viên tiểu đoàn gọi điện xuống biểu dương, làm anh em chúng tôi rất phấn khởi.

Một hôm, tôi còn nhớ rõ, đó là ngày 17 tháng 4 năm 1954, vào khoảng 8 giờ tối, tiểu đội chúng tôi nhận được một gói kẹo và một bao thuốc lá, quà của hậu phương gửi tặng các chiến sĩ Điện Biên. Đang vui vẻ chia nhau từng chiếc kẹo, từng điếu thuốc, thì chúng tôi nhận được lệnh của tiểu đoàn: đồng chí Lâm (tức là tôi) và đồng chí Tiệp, tiểu đội phó, mang theo một tiểu liên, lên ngay Sở chỉ huy tiểu đoàn. Cuộc “liên hoan” do đó tạm dừng lại.

Tiểu đoàn trưởng Trịnh Duy Hậu thường ngày rất nghiêm, nhưng tối nay vừa nhìn thấy chúng tôi, anh đã tươi cười:

- Giao cho cánh tiếp lương các cậu một nhiệm vụ đặc biệt, xuống Đại đội 828 nhận một tù binh Pháp, đưa về chỗ trú quân canh giữ cẩn thận. Chờ khi nào có người của trạm tiếp nhận tù hàng binh đến thì bàn giao cho họ.

Hai chúng tôi liền lao nhanh xuống trận địa, áp giải người tù binh Pháp về chỗ trú quân của chúng tôi ở một góc rừng.

Lúc này, máy bay địch đến ném bom và thả dù. Bom với đạn pháo nổ ầm ầm, rung chuyển mặt đất. Trên trời từng loạt đạn pháo cao xạ của tiểu đoàn chúng tôi vút lên như pháo hoa. Người tù binh có vẻ sợ hãi, đôi vai rung lên. Chúng tôi nhường cho anh ta một căn hầm. Một chiến sĩ mang cơm và thịt trâu kho đến cho tù binh. Anh ta nói lời cám ơn rồi xúc ăn ngấu nghiến.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #74 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 08:17:12 am »


Đợt ném bom qua đi, không gian trở lại yên tĩnh. Cả tiểu đội chúng tôi lên miệng hầm, bắt đầu cuộc “liên hoan”, vui vẻ nhai kẹo và hút thuốc. Đêm nay lại đúng là đêm rằm tháng hai âm lịch, tuy không đèn nhưng nhờ trăng sáng nên chúng tôi vẫn nhìn rõ mặt nhau. Niềm vui hiện rõ trên khuôn mặt mỗi người.

Bất giác tôi nhìn sang người tù binh, bắt gặp ánh mắt của anh ta đang nhìn chằm chằm vào điếu thuốc trên miệng tôi. Anh ta nuốt nước bọt có vẻ thèm thuồng lắm. Đôi môi anh ta chúm lại một cách khổ sở. Tôi vội bẻ đôi điếu thuốc đang hút, đến đưa cho anh ta một nửa. Anh ta liền ngồi thẳng lên, đưa cả hai tay ra đón, ấp úng nói hai tiếng “méc-xi” (cảm ơn) rồi đưa lên miệng hút ngon lành. Nhìn anh ta rít thuốc và nhả khói, tôi có cảm giác như lâu lắm anh ta không được hút thuốc lá.

Anh Tiệp đùa vui, giới thiệu:

- C’est monsieur capitaine! (Đây là ngài quan ba!)1

Người tù binh liền khom người đứng lên:

- Merci capitaine! (Cảm ơn ngài quan ba!), rồi ngồi xuống, mắc liếc nhìn sang anh chiến sĩ đang cầm súng đứng gác.

Thấy thái đội của chúng tôi vui vẻ, cởi mở, anh ta có vẻ yên tâm, nét mặt không lo âu, tư lự như trước. Lát sau anh ta cởi chiếc đồng hồ đeo tay, chìa ra phía tôi. Tôi lắc đầu, xua tay:

- Non (Không!)

Tôi bảo một chiến sĩ lấy chăn cho anh ta đắp, ngủ. Còn anh em chúng tôi suốt đêm hôm đó và cả ngày hôm sau luân phiên nhau canh gác, không rời người tù binh một phút.

Thỉnh thoảng đi qua, tôi dừng lại, trò chuyện với anh ta đôi ba câu bằng tiếng Pháp, vốn liếng ngoại ngữ ít ỏi của tôi. Đến xế chiều, một cán bộ và một chiến sĩ của trạm tiếp nhận tù hàng binh do Mặt trận phái xuống, đến nhận anh ta, đưa về phía sau. Khi chia tay chúng tôi, anh ta nắm tay tôi thật chặt, đôi mắt anh nhìn thẳng vào mắt tôi, rưng rưng...

*
*   *

50 năm trôi qua, tưởng rằng nhiều chuyện đã đi vào quên lãng. Tình cờ mới đây, đến nhà một người bạn chiến đấu cũ, tôi đã đọc một tờ báo đã nhàu nát, tờ “Cựu Chiến Binh Việt Nam”, số tháng 5 năm 1992, có bài viết về một người lính Pháp, tên là Rôn-phơ Đô-len, gốc Đức, từng là tù binh ở Điện Biên Phủ, vừa qua trong chuyến du lịch Việt Nam, trở lại chiến trường xưa.

Rôn-phơ Đô-len kể cho phóng viên báo Cựu Chiến Binh nội dung vắn tắt:

“Giữa tháng 4 năm 1954 trong lúc những trận đánh giằng co đang diễn ra ác liệt trên những ngọn đồi phía đông: Eliane 2, Eliane 1 (tức đồi A1, C1), Rôn-phơ Đô-len, chỉ huy đội biệt kích Com-măng-đô (Commando), thuộc tiểu đoàn 3, trung đội 3 bộ binh Lê dương (3/3 REI), đóng tại Isabelle (Hồng Cúm), được lệnh “sục sạo ra phía tây để thăm dò lực lượng Việt Minh”.

Vừa ra khỏi căn cứ chưa đầy 1 km, toàn đội biệt kích chúng tôi rơi vào ổ phục kích của đối phương. Toàn đội Com-măng-đô bị tiêu diệt, riêng tôi may mắn thoát chết, chỉ bị thương nhẹ và bị bắt làm tù binh.

Trở lại Điện Biên Phủ lần này, tôi thăm lại Hồng Cúm, đã khác xưa quá nhiều, lên thăm đồi Eliane 2, qua cầu Mường Thanh, xem hầm tướng Đờcátxtơri được phục chế gần như nguyên vẹn. Tại Hồng Cúm, tôi đứng lặng hồi lâu, dành nhiều phút trầm tư về những kỷ niệm đã qua cách đây mấy chục năm...”.

Rôn-phơ Đô-len tâm sự:

“Bản thân tôi có rất nhiều thiện cảm với người dân Việt Nam và bộ đội Việt Minh. Họ có lòng yêu nước chân chính. Họ đi theo Cụ Hồ và kiên cường chiến đấu cho nền độc lập của Việt Nam. Họ đối xử nhân đạo với tù binh. Ngay lần đầu bị bắt, tôi gặp một sĩ quan trẻ Việt Minh, nói khá thạo tiếng Pháp, đã chia cho tôi nửa điếu thuốc lá ông đang hút. Đó là mẩu thuốc lá ngon nhất đời mà tôi nhớ mãi. Cho tới nay, tôi vẫn mong gặp lại vị sĩ quan trẻ Việt Minh đã chia cho tôi nửa điếu thuốc trong một buổi tối giữa tháng tư năm ấy”.

Đọc xong bài báo nói trên, lòng tôi bỗng xốn xang khó tả. Kỷ niệm xưa lại hiện về. Phải chăng, Rôn-phơ Đô-len chính là người tù binh mà chúng tôi đã canh giữ tại góc rừng năm xưa ở Điện Biên Phủ?
___________________________________
1. Capitaine: quan ba, tức đại úy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #75 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 08:21:18 am »


ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ TÌNH ĐOÀN KẾT ĐẶC BIỆT VIỆT - LÀO
Trung tướng Phó GS HOÀNG NGHĨA KHÁNH
Nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến,
Phái viên tác chiến Bộ chỉ huy chiến dịch

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi nguyên là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 400, Trung đoàn 9, Đại đoàn 304 nên được cử làm phái viên tác chiến của Bộ, xuống theo dõi tác chiến của Đại đoàn 304 chiến đấu ở khu vực Hồng Cúm, phía nam Mường Thanh.

Tôi còn được giao trực tiếp chỉ huy một đại đội trinh sát đặc biệt của Bộ với trang bị tiểu liên đầy đủ, có thêm 1 khẩu cối 60 ly, 3 khẩu trung liên và một đài thông tin liên lạc trực tiếp với Bộ.

Sau chiến dịch giải phóng Tây Bắc cuối năm 1952, tôi cũng đã trực tiếp chỉ huy đại đội trinh sát này sang chuẩn bị chiến trường Sầm Nưa (Thượng Lào). Đại đội bố trí bám sát địch ở khu vực sân bay Noọng Khang và thị xã Sầm Nưa, để tiến hành chiến dịch giải phóng Sầm Nưa, Thượng Lào năm 1953.

Lần này, chúng tôi cũng bố trí trinh sát bám sát địch xung quanh sân bay Hồng Cúm và cụm cứ điểm Hồng Cúm.

Khi phương châm chiến dịch thay đổi, từ “đánh nhanh, thắng nhanh”, sang “đánh chắc, tiến chắc”, Đại đoàn 308 được lệnh cơ động sang Thượng Lào; đại đội trinh sát chúng tôi cũng được lệnh đi cùng đại đoàn sang nắm tình hình địch và nghiên cứu bố trí lực lượng ngụy quân Lào dọc sông Nậm U, Mường Ngòi, Nậm Bạc (đông bắc Luang Prabang).

Khi Đại đoàn 308 bí mật rút về chuẩn bị xây dựng trận địa ở phía tây Mường Thanh, đội trinh sát cùng rút về vị trí cũ bố trí bám địch xung quanh cụm cứ điểm Hồng Cúm.

Là phái viên tác chiến của Bộ, tôi theo dõi tác chiến của Đại đoàn 304 (thiếu Trung đoàn 66 tác chiến ở Trung Lào), do đồng chí Chính ủy Lê Chưởng và đồng chí Tham mưu trưởng Đại đoàn Nam Long chỉ huy. Cứ mỗi buổi tối, tôi cùng Ban chỉ huy Trung đoàn 57 (do đồng chí Nguyễn Cận - Trung đoàn trưởng, đồng chí Hoàng Đan - Trung đoàn phó), đi đôn đốc kiểm tra việc xây dựng trận địa tấn công ở phía đông; và sang Trung đoàn 9 (đồng chí Trần Thanh Từ làm Trung đoàn trưởng) xây dựng trận địa tấn công bao vây phía tây cụm cứ điểm Hồng Cúm.1

Đặc biệt, có những ngày đêm, chúng tôi đi theo giao thông hào lớn chia cắt khu vực Hồng Cúm và nam Mường Thanh để kiểm tra việc đào giao thông hào có đúng với kích thước bề cao và rộng theo quy định không, cách 5-6 mét phải đào một hầm ếch ở chân giao thông hào để tránh bom và đạn pháo cối của địch. Còn đại đội trinh sát của Bộ thì bố trí bám địch cả đêm lẫn ngày ở xung quanh cụm cứ điểm Hồng Cúm.

Ban đêm, đại đội trinh sát thỉnh thoảng bắn một vài quả cối, một vài loạt trung liên để thu hút sự chú ý và hỏa lực của địch về phía mình, nghi binh cho bộ đội đào giao thông hào và xây dựng trận địa bao vây tiếp cận địch.
____________________________________
1. Sư đoàn 304 ký sự, tập 1. Nxb QĐND, H. 1980.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #76 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 08:22:57 am »


Đồng chí Chính ủy Lê Chưởng còn giao cho tôi lựa chọn các chiến sĩ của đại đội trinh sát Đại đoàn 304 và của Bộ, tổ chức các tổ “dũng sĩ” ban ngày bám sát hàng rào cứ điểm, bắn tỉa quân địch, thu dù máy bay địch thả rơi ra ngoài hàng rào, gồm các thùng đồ hộp, đủ các loại thực phẩm, về “tiếp tế” một phần cho quân ta.

Khi cụm quân địch ở Mường Thanh sắp thất thủ và chuẩn bị rút chạy, quân Pháp tổ chức và điều động một binh đoàn cơ động quân ngụy Lào gọi là GML (Groupement Mobile Laos), có những tên chỉ huy người Pháp vượt sông Mường Khoa sang đèo Tây Trang để tiếp ứng và đón quân địch ở Điện Biên Phủ rút về Thượng Lào. Được lệnh Bộ, đại đội trinh sát chúng tôi đưa bộ phận lớn lên chốt ở đèo Tây Trang. Đến khi quân địch ở Hồng Cúm rút chạy, hai Trung đoàn 57 và 9 của Đại đoàn 304 truy kích tiêu diệt quân địch ở Hồng Cúm, binh đoàn cơ động ngụy Lào (GML) bị chặn ở đèo Tây Trang cũng rút chạy về Lào. Đại đội trinh sát được lệnh Bộ truy kích quân GML vượt sông ở Mường Khoa, qua một dãy núi đến một con suối, gặp một bộ phận của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 148 do đồng chí Hoàng Lê chỉ huy.1

Truy kích địch qua đèo Calăngtap thì chúng tôi được lệnh quay trở lại Điện Biên Phủ gặp đồng chí Trần Lương - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Cao Văn Khánh - Phó Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308, được Tổng Quân ủy giao ở lại giải quyết chiến trường và trao trả thương binh để Pháp chở trực thăng về Viêng Chăn. Vào hầm chỉ huy cũ của tướng Đờcátxtơri, tôi nhận lệnh cùng đại đội trinh sát, được tăng cường thêm đồng chí Thận (Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn trinh sát của Bộ) làm phó, chúng tôi sang lại Thượng Lào chuẩn bị chiến trường để giải phóng Luang Prabang - Thượng Lào. Để phát huy thắng lợi Điện Biên Phủ, ta và bạn dự định sẽ mở chiến dịch giải phóng Luang Prabang - Thượng Lào để nối liền hai vùng giải phóng Bắc Lào của bạn với vùng Điện Biên Phủ, Lai Châu của ta. Đồng thời, để phát huy thắng lợi sau chiến dịch giải phóng Tây Bắc năm 1953, ta và bạn đã thống nhất mở chiến dịch Sầm Nưa để nối liền hai vùng giải phóng Luang Prabang - Thượng Lào của bạn với vùng Mộc Châu, Sơn La, Tây Bắc của ta.

*
*   *

Đại đội trinh sát nhận nhiệm vụ mới!

Sau khi được trang bị đầy đủ lương thực (chủ yếu là muối), mỗi chiến sĩ mang nặng “bao tượng gạo”, và nhiều đồ hộp chiến lợi phẩm, trở lại vượt đèo Tây Trang, Mường May, Mường Khoa tiến về hướng Luang Prabang. Khi hành quân đường bộ vượt qua nhiều đèo, nhiều suối; khi hành quân đường sông Nậm U theo các thuyền do dân Lào chở, chúng tôi tiến về Mường Ngòi, Nậm Bạc, vừa hành quân vừa tác chiến với những tốp tàn quân hoặc toán biệt kích lẻ tẻ dọc đường. Nhân dân Lào ở các bản dọc sông Nậm U rất tốt, có truyền thống cách mạng (là quê hương của Chủ tịch Xu-pha-nu-vông, một lãnh tụ Pathét Lào), cho nên khi bộ đội hành quân qua các bản thì được dân đón tiếp vui vẻ, có nơi cho thêm gạo nếp, rau và chuối, nhiệt tình cho bộ đội mượn thuyền và lái thuyền chở bộ đội qua sông. Cũng nhờ nhân dân vùng này rất tốt với bộ đội Việt Nam, nên trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi Đại đoàn 308 được lệnh cơ động gấp sang Thượng Lào không có chuẩn bị trước về hậu cần đã được nhân dân Lào tiếp tế một phần, nên Đại đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ.
___________________________________
1. Đồng chí Hoàng Lê - sau là Thiếu tướng Phó Giám đốc Học viện Lục quân Đà Lạt.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #77 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 08:23:21 am »


Đến Mường Ngòi, Nậm Bạc, đại đội trinh sát không cơ động tiếp theo dọc sông Nậm U nữa, để giữ bí mật. Được sự giúp đỡ của cán bộ tình nguyện Việt Nam sang xây dựng cơ sở ở Lào, chúng tôi quay sang hướng đông, hành quân dọc sông Nậm Xeng, Nậm Suông, qua các bản Xốp Vi, Xốp Chiệc, Phon Xay. Trên đường hành quân, qua các bản có nhiều địch thì vòng tránh; gặp những toán nhỏ thì đánh để mở đường.

Đại đội trinh sát vượt qua các bản người Lào Lum (sống hai bên bờ sông) có nhiều ruộng bậc thang trồng lúa, có thuyền về các thị trấn, thị xã buôn bán, nên đời sống sung túc hơn, văn minh hơn. Các cô gái Lào trắng trẻo với các váy lụa đen, áo màu may kiểu “vai bồng”, với giải cúc bằng bạc trắng, hiểu biết nhiều về bộ đội Việt Nam nên niềm nở và ủng hộ gạo, nếp, gà, rau. Dân bản cho bộ đội ngủ trong các nhà sàn bằng gỗ. Hành quân tiếp leo lên vùng lưng chừng núi, là các bản người Lào Thênh, ít suối, đất khô cằn, nhà sàn nhỏ bằng tre nứa, ban đêm bộ đội phải căng nilông trải lá ngủ trên các đồi con, ngoài rừng. Dân hiểu biết ít về bộ đội Việt Nam, đời sống nhân dân khó khăn hơn, nên bộ đội phải san sẻ một vài lon muối cho dân nghèo.

Hành quân tiếp lên đỉnh các dãy núi đá, là các bản Mèo. Người Mèo (Lào Sủng) ở đây “tự hào là đàn anh” vì ở cao trên “đầu mọi người”.

Họ sống trong các nhà “trệt” (không có sàn) thưa thớt xa nhau, xen kẽ nhiều nương trồng cây thuốc phiện, đời sống khá hơn người Lào Thênh. Trong nhà có nhiều lợn, gà, ít cây cối. Đại đội leo lên một bản người Mèo trên đỉnh Luang Prabang. Bản này tương đối lớn, nhưng không có một ai tại nhà. Hình như nghe bóng dáng bộ đội Việt Nam tới, họ trốn vào các hang đá xa nhà.

Ở đỉnh núi này rất tốt cho việc tiếp cận thị xã Luang Prabang, lại có nhiều hang, hốc đá và các lùm cây, tiện cho việc quan sát và che giấu. Bộ đội phải “hạ ba lô dừng lại ngoài bản, chúng tôi liền cho mở đài thông tin, bắt sóng phát thanh có nhạc Lào (tuy không biết là nhạc gì, bài hát gì...). Tiếng nhạc vọng vào núi đá vang lên trong không khí vắng vẻ. Nghe cũng vui tai, nên sau một lát thấy lẻ tẻ một vài em bé người Mèo, đeo vòng bạc to ở cổ, lò mò tới xem. Lúc đầu còn đứng xa, thấy bộ đội Việt Nam vui vẻ vẫy tay, các cháu dần dần lại gần nghe đài và nhạc. Được anh em chiến sĩ cho mỗi em một ít kẹo chiến lợi phẩm và một mảnh vải dù lụa đỏ đeo vào cổ (trẻ con người Mèo rất thích khăn quàng đỏ) nên các em mạnh dạn hơn, vui hơn và dần dần về đông hơn.

Tiếp sau các em nhỏ là các cô gái Mèo quần áo cũng tươm tất hơn các cô “Lào Thênh”, ở trên núi cao khí hậu lạnh nên hai má đỏ hồng, cổ đeo vòng bạc lớn, cả cổ tay, chân đều đeo vòng bạc nhỏ. Lúc đầu còn bẽn lèn nấp sau các tảng đá lớn hoặc góc nhà. Nhưng sau thấy bộ đội Việt Nam hiền từ vui vẻ bế các em nhỏ vào lòng vừa vỗ tay vừa hát theo tiếng nhạc, các cô gái Mèo cũng từ từ tiến lại gần. Các chiến sĩ cũng tặng mỗi cô một mảnh vải dù lụa đỏ. Thấy cô này được tặng cô khác cũng mạnh dạn tiến lên tủm tỉm cười để nhận quà! Thế là bộ đội đã gây cảm tình được với hai “thành phần đại diện” đầu tiên của bản Mèo. Tiếp đến các “bà mế” cũng về bản, trên lưng vai gùi bẹ ngô hoặc bó củi khô, thấy bộ đội vui vẻ với các em nhỏ và cô gái người Mèo, lúc đầu còn bỡ ngỡ, nhưng rồi cũng lại ghé ngồi xem, móm mém ăn bánh lương khô của bộ đội tặng.

“Thành phần thứ tư” trở về, tay cầm dao rựa là các chàng thanh niên Mèo, hơi khó tính, nghe tiếng nhạc và thấy dân Mèo ngồi gần bộ đội Việt Nam, cũng ghé vào xem. Mặt lạnh như tiền, không biết có phải vì “ghen” với cô gái Mèo ngồi gần bộ đội Việt Nam không, lúc đầu còn đứng xa nhưng sau họ cũng tiến vào dần, xen lẫn với những người tới trước để nghe nhạc và các bài hát.

Các già làng, trưởng bản, những người đàn ông, chiều đến cũng về bản, nhưng không ra nghe nhạc. Chúng tôi phái cán bộ trung, tiểu đội vào trong bản tiếp xúc đưa thuốc lá, bánh lương khô, bánh quy chiến lợi phẩm mời các cụ và trò chuyện. Lúc đầu, thái độ họ dửng dưng, nhưng nét mặt dần dần dịu lại và cuối cùng cũng nhã nhặn đồng ý cho bộ đội vào nhà nghỉ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #78 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 08:24:58 am »


Thế là đại đội trinh sát đã gây được cảm tình bước đầu của đủ “các thành phần”. Tình quân dân giữa bộ đội Việt Nam và nhân dân Lào nói chung và người Mèo ở đây nói riêng trở nên đầm ấm! Ôm các em nhỏ vào lòng, tôi cảm hứng chợt nghĩ ra mấy dòng thơ của người chưa hề biết làm thơ bao giờ:

      “Chú từ Việt Nam vượt suối, băng đèo
      Đến đây gặp cháu dân Mèo Mường Luông.
      Chú với cháu không cùng dòng máu
      Chưa hề gặp nhau, không cùng thứ tiếng
      Gặp nhau sao quyến luyến lạ thường!
      Phải chăng có một tình thương
      Thương cùng cảnh ngộ chống phường thực dân,
      Chú Pa thét, chú Việt Nam
      Diệt thù giải phóng bản làng yên vui
      Cho các cháu tung tăng múa nhảy
      Cho lúa xanh phủ đầy nương rẫy
      Việt - Lào sát cánh, nắm tay đời đời!”


Lúc đầu chúng tôi vào bản Mèo, không gặp dân nên nghĩ cách làm như thế để kéo dân về, vì nếu không có dân thì không thể đứng chân ở vùng này, một địa điểm rất thuận lợi để điều tra nắm địch, chuẩn bị chiến trường.

“Tiến hành chiến dịch phải có dân mới giành thắng lợi. Đi trinh sát chuẩn bị chiến trường ở đâu cũng phải dựa vào dân mới thành công!”.

Lúc đó, chúng tôi làm như vậy, không nghĩ là mình làm “công tác dân vận”. Sau này, khi đọc và tham gia ý kiến vào bản thảo “Đường lên cơ quan Tổng hành dinh” của tôi, đồng chí Thiếu tướng Đoàn Huyên, nguyên Cục trưởng Cục Khoa học Quân sự, nhận xét: “Tôi đọc quyển hồi ký của anh, ở đoạn này rất cảm động! Vì tôi cũng đã có thời gian hoạt động ở Hạ Lào, hiểu một phần về phong tục tập quán và tình cảm của các bộ tộc Lào đối với quân tình nguyện Việt Nam. Mình thấy việc làm của các ông lúc đó rất hay! Làm công tác dân vận phải rất linh hoạt, phù hợp tâm tình, hoàn cảnh, bằng hành động thiết thực không phải bằng lời nói suông!”.

Anh em được vác ba lô vào nghỉ trong các nhà dân, nơi 4-5 người, nhà đông nhất được 10-15 người.

Đêm đến, tuy là mùa hạ nhưng ở trên đỉnh núi cao, ban ngày nóng bức, ban đêm sương tỏa xuống giá lạnh, nếu không được vào nghỉ trong nhà, mà phải nằm ngoài các tảng núi đá, thì chắc không thể ngủ được, mà lại có người phát ốm.

Tối đó, chúng tôi đốt lửa trại, mở đài phát thanh nhạc Lào, các cháu bé, các cô gái và các chàng trai người Mèo thổi khèn, chiến sĩ Việt Nam và thanh niên nam nữ Mèo tay cầm tay nhảy “lăm vông”, đi vòng quanh đống lửa trại, các bà mế thì ngồi ngoài xem.

Lửa trại tàn dần, sương mù xuống càng dày đặc. Gió lạnh thổi về, mọi người vui vẻ trở vào bản. Các cháu tuy lạnh nhưng vẫn còn luyến tiếc, chần chừ chưa muốn về nhà.

Đêm đó, Ban chỉ huy đại đội chúng tôi ở trong nhà một “già làng”. Ông già nằm trên một tấm phản gỗ đặt sát đất, hút thuốc phiện bằng một tẩu dài, hơ thuốc trên ngọn đèn dầu lạc.

Ở góc nhà, một anh thanh niên da ngăm đen trần truồng (có thể người Lào Thênh) đạp một chày giã ngô, một người đàn bà chỉ mặc chiếc váy, ngực và lưng trần (cũng có thể là người Lào Thênh) bàn tay đảo ngô trong cối. Thấy cảnh chướng mắt, đồng chí Nam - Chính trị viên đại đội cứ băn khoăn lưỡng lự mãi. Anh lấy ra một chiếc quần đùi và một áo sơ mi cộc tay vải kaki của lính Pháp ở Điện Biên Phủ (anh em trinh sát vẫn mang theo lót vai vác đạn) mang lại mặc cho chàng “nô bộc” trần truồng đó, anh ta giọng ngọng trầm trồ cười. Ông “già làng” ngoảnh cổ lại, thản nhiên nhìn cảnh đó, rồi lại tiếp tục hút thuốc phiện, không có phản ứng gì, không tỏ ra bất bình, tự ái.

Ngày hôm sau, chủ nhà quẳng cho “nô bộc” đó mấy cái áo quần rách của người Mèo, nhưng anh ta không chịu thay quần áo mà cứ mặc bộ quần áo đồng chí Nam cho tối hôm trước.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #79 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2016, 08:26:03 am »


Những ngày sau, Đại đội trinh sát ở trong các nhà bản Mèo được dân Mèo cho thịt lợn, rau cải Mèo và các bông bắp vàng, quả su su (trồng trên đỉnh núi cao giá lạnh nên quả rất to) anh em bộ đội cho dân muối. Tin đồn lan truyền, dân Mèo các bản khác và các dân “Lào Thênh” ở dưới cũng lũ lượt mang ngô, rau, thịt lợn lên đổi lấy muối (là món hàng chiến lược của bộ đội mang theo).

Có địa bàn đứng chân, trên dãy núi bản Mèo, nhìn xuống thị xã Luang Prabang rất rõ. Chúng tôi đặt “cứ trinh sát” ở đó, xuống lưng chừng núi đặt “đài quan sát”, tìm được một vị trí có hang, đã dự định đặt “chỉ huy quan sát” của chiến dịch ở đó rất tốt, quan sát rất rõ các ngôi nhà và từng người đi lại trong thị xã. Ban đêm các toán trinh sát đột nhập thị xã, vẽ sơ đồ bố trí của địch. Chúng tôi báo cáo qua điện đài về Bộ Tổng tham mưu là công tác nắm tình hình địch đã cơ bản xong và gặp nhiều thuận lợi, đề nghị Bộ cử đoàn cán bộ các đơn vị sẽ tham gia chiến dịch, sang nghiên cứu chiến trường.

Bất ngờ một buổi sáng, tôi nhận được điện của đồng chí Trần Văn Quang - Cục trưởng Cục Tác chiến: “Ta không mở chiến dịch giải phóng Luang Prabang Thượng Lào nữa, vì hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ đã được ký kết, lệnh cho đại đội trinh sát trở về Bộ và Khánh cũng về Cục để tham gia vào đoàn “tiền trạm” cán bộ Bộ Tổng tham mưu đi trước về chuẩn bị tiếp quản Thủ đô Hà Nội...”1.

Tôi họp Ban chỉ huy đại đội trinh sát phổ biến quyết định này. Mọi người sững sờ vừa mừng vừa tiếc! Mừng vì hòa bình sắp lập lại ở Đông Dương, miền Bắc Việt Nam được giải phóng. Nhưng rất tiếc là công tác chuẩn bị chiến trường đã được hoàn thành tốt đẹp. Nếu ta và bạn Lào tiếp tục mở chiến dịch này, thì nhất định sẽ giành thắng lợi. Một vùng giải phóng rất rộng lớn của đất nước Lào, từ đường số 7, bản Ban, Cánh Đồng Chum ra Xalaphukhum, đường 13, trở lên Sầm Nưa, Luang Prabang và cả Bắc Lào sẽ được giải phóng, liên hoàn với đất của ta, từ vùng tự do Thanh Hóa, Hòa Bình, Liên khu 3, nối liền với vùng giải phóng Tây Bắc và căn cứ địa Việt Bắc của Việt Nam.

Ban chỉ huy đại đội rút các tổ trinh sát hành quân trở về Việt Nam. Chia tay rời bản Mèo với sự lưu luyến của dân Mường Luông, nhất là các cháu bé. Các cô gái Mèo cứ đứng vẫy tay nhìn mãi, đại đội trinh sát đi xa dần theo đường hành quân cũ, xuống các bản người “Lào Lum” ở bờ sông Nậm Suông. Qua các bản làng người Lào, chúng tôi phổ biến Hiệp định ngừng bắn đã được ký kết, hòa bình được trở lại trên đất Lào và hình như cán bộ Pathét Lào cùng các cán bộ tình nguyện Việt Nam xây dựng cơ sở cũng đã phổ biến tin này, nên đến đâu cũng được dân Lào đón tiếp nồng hậu, ủng hộ nhiều gạo nếp, gà lợn, mà không yêu cầu bộ đội Việt Nam cho “muối” như khi hành quân lên đỉnh núi Luang Prabang. Tuy nhiên, anh em vẫn phát hết số muối còn lại cho dân nghèo ở các bản đi qua.

Trên đường về Việt Nam dừng chân nghỉ tại một bản người Lào trên sông Nậm Suông, thì một việc đau buồn xảy ra với đại đội! Đồng chí Thận - Tiểu đoàn phó tiểu đoàn trinh sát của Bộ, được tăng cường đi theo đại đội trinh sát, lúc lau súng tiểu liên của mình, vô ý bị “cướp cò” đạn xuyên qua cổ lên đầu chết tại chỗ. Cả đại đội và chúng tôi vô cùng thương tiếc một cán bộ dũng cảm, một đảng viên trung kiên, một người bạn chân tình, một đồng đội được tất cả anh em trong đại đội mến phục, đã đột ngột ra đi!

Thật đau đớn và tiếc thay! Đồng chí đã ngã xuống sau 9 năm chiến đấu gian khổ, trước ngày ngừng tiếng súng trên Tổ quốc Việt Nam thân yêu!

Đại đội trinh sát của chúng tôi và toàn thể dân Lào trong bản đã tổ chức truy điệu đồng chí trong niềm thương tiếc vô hạn! Sau lễ truy điệu, đồng chí Nam - Chính trị viên, đồng chí Lộc - Đại đội trưởng, 4 chiến sĩ và tôi cùng trưởng bản người Lào xuống một con thuyền độc mộc, bơi ngược dòng sông Nậm Suông. Trên bờ sông, anh em đại đội trinh sát và nhân dân Lào của bản rưng rưng nước mắt nhìn theo con thuyền độc mộc chở thi hài đồng chí Thận lên mai táng trên bờ tả ngạn sông Nậm Suông, gần chỗ mấy cán bộ Pathét Lào đã hy sinh trước đây.

Đến nay, hơn 50 năm đã trôi qua! Chúng tôi không ai có điều kiện trở lại vùng đất xa xôi hẻo lánh này của nước bạn để viếng mộ người đồng chí thân yêu. Nhưng chắc chắn “người xưa cảnh cũ” nay đã thay đổi nhiều, mà nếu được trở lại nơi đây thì thời gian, bão táp, mưa lũ đã xóa mất dấu vết nấm mồ trước đây đắp bằng đất, một cán bộ quân tình nguyện Việt Nam dũng cảm, một đảng viên trung thành của Đảng, một chiến sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả của mình trên đất bạn.

Đồng chí Thận cũng như nhiều cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện khác của Việt Nam đã gửi thân mình mãi mãi trên đất bạn Lào, vun đắp thêm tình hữu nghị, tình đoàn kết đặc biệt Việt - Lào mãi mãi thắm tươi, đời đời bền vững.
_________________________________
1. Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Pháp, Nxb QĐND, H.1992, tr. 752-759.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM