Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:07:40 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện  (Đọc 53243 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #80 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2016, 10:21:38 pm »


TRUY DIỆT ĐỊCH CHẠY SANG LÀO
Đại tá TRẦN NGỌC KHUÊ
Nguyên Đại đội trưởng Đại đội 19,
Tiểu đoàn 265, Trung đoàn 57, Đại đoàn 304

Lần họp kỷ niệm 54 năm Điện Biên Phủ vừa rồi, điểm lại anh em đồng đội cũ đã thấy vắng đi nhiều. Nửa thế kỷ đã qua. Những kỷ niệm một thời máu lửa, những tình cảm sâu đậm, tình đồng chí, đồng đội còn đọng lại khá nhiều trên các trang sách, báo, phim, ảnh, nhưng một số lớn sẽ mai một cùng với sự ra đi của thế hệ chúng tôi. Cuộc sống không dừng mà tiếp tục phát triển. Ôn lại những kỷ niệm chiến đấu cũ để sống tốt hơn nhưng không ngồi đó mà gặm nhấm. Lẽ đời vốn vậy là phải vậy. Nhưng nếu còn có chút băn khoăn, dù nhỏ, về một sự kiện nào đó chưa được ghi chép đầy đủ thì chúng tôi phải có trách nhiệm kể lại. Đó là trận truy kích cuối cùng đêm mùng 7 tháng 5 năm 1954 kéo dài đến trưa ngày mùng 8 tháng 5 năm ấy. Một cuộc đuổi bắt kẻ địch đang hốt hoảng trốn chạy, chẳng có gì ác liệt, nhưng có thể là một cứ liệu cần thiết bổ sung cho cuốn lịch sử quân đội ta nói chung, của Trung đoàn 57 chúng tôi nói riêng, khép lại thật đẹp 196 ngày đêm mưa rừng cơm vắt... (nếu tính từ ngày xuất phát ở Thanh Hóa).

Sau này về hưu, rảnh rồi, có dịp đọc lại Hồi ức “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tôi thấy nổi lên một vấn đề: Đó là nỗi lo của Bộ chỉ huy chiến dịch khi ra lệnh cho các đơn vị: “...Bao vây thật chặt, không để cho Đờ-cát hoặc bất cứ một tên địch nào chạy thoát”1. Nỗi lo này có từ khi tình báo của ta phát hiện chủ trương của Na-va muốn rút chạy về Thượng Lào với các cuộc hành quân Condor và Albatros. Rồi cả sau khi Mường Thanh đã đầu hàng, ta bắt sống tướng Đờ-cát cùng toàn thể Bộ chỉ huy Pháp ở Điện Biên Phủ, nỗi lo đó của đồng chí Tư lệnh Chiến dịch vẫn còn! “Với tôi trận đánh chưa kết thúc. Quân địch ở Hồng Cúm lúc này do Hà Nội trực tiếp chỉ huy. Nếu chúng chạy thoát một số sang Thượng Lào thì chiến thắng của ta sẽ không trọn vẹn.. ”.2

Từ nhận định trên đã có “Lệnh cho đơn vị phụ trách Hồng Cúm áp sát gọi hàng, tiêu diệt nếu ngoan cố, đồng thời chuẩn bị các đơn vị truy kích”. Đó là chuyện của cấp trên, còn các đơn vị chiến đấu chúng tôi, thì đã sẵn sàng chờ tín hiệu lên đường...

18 giờ, lệnh truy kích của Bộ Chỉ huy chiến dịch ban ra, ngoài Trung đoàn 57 hình như còn có Trung đoàn một bộ phận của Đại đoàn bạn. Riêng Tiểu đoàn 265 do vị trí chiến đấu còn nằm trên hướng địch rút chạy nên được giao nhiệm vụ đầu tiên: “Nhanh chóng vượt lên trước địch, chặn chúng lại, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ”.

Toàn đơn vị xuất phát, để lại đằng sau tiếng rít ‘Vui tươi” của lựu pháo ta từ Pu Hồng Mèo cấp tập mãnh liệt vào trung tâm Hồng Cúm cùng với tiếng gọi nhau tìm giặc của các đơn vị bạn trên cánh đồng rộng lớn với hàng trăm ánh đuốc rực cả một góc trời.

Đại đội 19 chạy đầu tiên. Đến một ngã ba con đường chia thành hai hướng trung đoàn trưởng Nguyễn Cận đã chờ sẵn ở đó. Trong tranh tối tranh sáng anh đã nhìn thấy tôi:

“C19 hả? Chạy theo đường này. Thời gian rất gấp. Trang bị thêm cho các cậu một bộ đàm để liên lạc thẳng với Trung đoàn. Ban chỉ huy tiểu đoàn có anh Cầm và anh Lâm Phúc đi với đại đội. Lên đường luôn chúc thắng lợi”.
________________________________________
1, 2. Đại tướng Võ Nguxên Giáp – Tổng tập Hồi ký. Nxb QĐND, H.2006, tr. 1092-1094.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #81 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2016, 10:22:39 pm »


Cuộc hành quân truy kích với hai ngày lương khô, chân đất, vũ khí đạn dược đầy đủ và trên thắt lưng có cuộn băng cá nhân và một cuộn dây trói tù binh (Vật bất ly thân, nhiều bận dở khóc dở cười vì thiếu nó)...

... 5 tiếng đồng hồ sau, trinh sát phát hiện dấu vết của địch, những ba lô đầy ắp đồ hộp, bánh mì bỏ vương vãi... rồi những người phu khuân vác lợi dụng đêm tối trốn ở lại với ta. Họ cho biết địch đang chạy phía trước, uể oải vì đuối sức ... “Đúng đường rồi, bám được địch rồi” tin loan rất nhanh, mọi người mừng đến quên cả mình cũng đang mệt và đói. Lại tiếp tục chạy.

Con đường dần dần đi vào khu rừng rậm lá. Đến bên bờ một con suối rộng thì không còn nhận ra đường nữa! Trời tối đến mức không nhìn ra bạn chiến đấu đang đi ở phía trước nữa. Đang phân vân thì thêm hai người phu khuân vác nữa từ dưới suối chui lên: Bọn Tây đang nằm cả ra đất, ngay bên kia suối, không chịu đi nữa, chúng em lẻn ra và quay về với các anh... Lúc bấy giờ là 2 giờ sáng.

Sau khi xin ý kiến tiểu đoàn, chúng tôi cho bộ đội tạm nghỉ, ăn qua loa để lấy lại sức sau 7 tiếng đồng hồ vừa đi vừa chạy, đồng thời chờ trời hửng sáng.

Tờ mờ đất, toàn đơn vị đã sẵn sàng chờ lệnh, ai cũng có một nỗi lo chung “Không chặn bắt được giặc”. (Chỉ huy một đơn vị mà ý chí quyết thắng trăm người như một, quả thật là hạnh phúc).

5 giờ sáng trinh sát đã nhận ra con đường! Nó không mất hút mà đi ngầm qua suối. Toàn đại đội triển khai chiến đấu, dàn đội hình hàng ngang vượt suối. Tiếng kêu gọi đầu hàng vang sau khi mười quả đạn cối bắn thị uy vừa chấm dứt.

Bước lên bờ, một tên địch cao lớn chạy tới, hai tay vẫy lia lịa một mảnh vải trắng: “Ông đại úy chết, sợ súng cối lắm; không có chỉ huy, xin hàng”...

Ồ! Đông quá! Chúng ngồi túm tụm lại một chỗ, dễ có đến cả trăm tên! Mặt mũi bơ phờ, mắt nhìn dáo dác, súng đạn, khí tài, lương thực chất đầy ở một góc xa. Trên trời chiếc C47 vẫn lượn vòng khá rộng. Qua bộ đàm của ta, nghe thấy chúng đang gọi nhau: “Tănggô, Tănggô, có nghe tôi không? Có nghe tôi không?”. Tiếng gọi đều đều tuyệt vọng...

Thẩm vấn nhanh bọn tù binh: Đơn vị trốn chạy này là tiểu đoàn Lê dương số 3 (3/3REI), đếm được 71 tên, hầu hết thuộc Đại đội 10 và Đại đội 11. Riêng đại đội 12 đang chạy ở phía trước.

Tổ chức xong bộ phận ở lại canh giữ tù binh, thu dọn chiến lợi phẩm, chúng tôi chạy tiếp. Thành quả bước đầu động viên những đôi chân tay chạy hút theo mục tiêu phía trước. Được một đoạn đường lại chia hai ngả, phải chia lực lượng tỏa ra hai hướng. Khoảng 10 giờ sáng phát hiện địch đang ngồi nghỉ trên mỏm đồi cạnh đường, tiếng gọi hàng của ta lại vang lên. Chúng hốt hoảng nổ súng. Bắn nhau khoảng 5 phút, một mũi vu hồi của ta đã áp sát, bắt chúng hạ vũ khí. Tên ngoan cố bị tước khẩu súng ngắn sau cùng là một tên Trung úy. Theo lời hắn khai “Chúng thuộc đại đội 12 của tiểu đoàn 13 Lê dương, vì quá mệt mỏi nên đội hình rất lộn xộn. Chỉ dồn lại được 36 tên, một số nữa không rõ đi theo hướng nào.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #82 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2016, 10:23:22 pm »


Lúc này đã gần trưa, chúng tôi dừng lại, phái tổ trinh sát đi tiếp một đoạn nữa, cố tìm dấu vết của địch. 12 giờ, trinh sát quay về báo cáo: đường còn xa nhưng đã lâu lắm không có vết chân người. Cảm thấy yên tâm hơn, chúng tôi tổng hợp tình hình báo cáo về Trung đoàn xin chỉ thị mới.

“Tổng số tù binh bắt được, đợt 6 giờ sáng là 71 tên, đợt 10 giờ sáng là 31 tên; tổng cộng 107 tên, 5 máy bộ đàm và toàn bộ vũ khí cá nhân. Phiên hiệu bọn này đều thuộc D3/3REI. Địch chết một đại úy, hai lính bị thương. Bên ta có đồng chí Cầm - Chính trị viên tiểu đoàn bị thương nhẹ.

Đầu dây đằng kia, Chính ủy Quách Sỹ Kha cười thỏa mái: Tốt lắm! Các cậu đã gặp đúng Tiểu đoàn Lê dương số 3. Theo tên đại úy La Lăng - Chỉ huy trưởng Phân khu Hồng Cúm ra hàng đêm qua, Tiểu đoàn Lê dương này quân số khoảng 150 tên ra đi hồi 17 giờ 30 phút. Số còn lại các tiểu đoàn 2BTA + 3BTA cùng lực lượng pháo binh, xe tăng. Sau trận pháo kích dữ dội của ta, chúng chui sâu vào các công sự và đã ra hàng hồi 23 giờ đêm. Số lạc sang phía Tây Trang đã bị đại đội 18 bắt và báo về hồi 10 giờ sáng nay. Đại đội 19 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Bình bầu khen thưởng sau. Dự kiến sẽ cử đại đội C19 đi hội quân toàn Mặt trận tổ chức nay mai mừng đại thắng. Bây giờ phải đảm bảo tốt việc áp giải tù binh và đưa đại đội trở về. Sẽ có bộ phận tiếp nhận tù binh ngay tại vị trí chiến đấu của đại đội.

Tôi thở phào một cái, lòng lâng lâng nhẹ nhõm. Đang giữa trưa mà rừng Lào vẫn mát lạnh! Sau bữa cơm chiều thịnh soạn với cá tươi đánh được ở suối và đồ hộp chiến lợi phẩm, quân ta hân hoan vì hoàn thành tốt nhiệm vụ, tù binh thì yên tâm với số phận của mình. Một bữa cơm thật ngon lành và thoải mái.

16 giờ ngày mùng 8 tháng 5 năm 1954, chúng tôi lên đường về Điện Biên Phủ. 18 giờ, thêm một tên địch trong rừng chui ra! Chính trị viên phó Tiểu đoàn Lâm Phúc quay sang tôi “Cậu có nhớ chuyện Lương Sơn Bạc không? Thủy Hử có 108 vị anh hùng còn giờ đây cũng lại “108 vị” tù binh! Một sự trùng hợp oái ăm.”

1 giờ sáng ngày mùng 9 tháng 5 năm 1954, sau khi bàn giao xong tù binh, đại đội trở về hầm chiến đấu cũ của mình. Một giấc ngủ say sau gần 25 tiếng đồng hồ vừa truy, vừa nghỉ, vừa ăn, vừa kích. Chỉ có ý chí chiến đấu được tôi luyện, nỗi mừng vui của chiến thắng quá vĩ đại đã thổi sức mạnh và sự dẻo dai vào đôi chân những người lính.

Có một chuyện lý thú xin kể thêm:

Trên đường đuổi giặc tôi vấp vào đuôi quả đạn cối 120 ly làm bật ngón móng chân cái. Trên bãi đất rộng cạnh suối, nơi tập kết của ta và tù binh, trong khi ngồi chờ cơm chiều, đề phòng nhiễm trùng, tôi mở ra băng lại. Một y tá tù binh nhanh nhẹn chạy tới, túi cứu thương đầy thuốc men. Anh ta là người Ý quê ở Milano, buồn vợ ngoại tình, lang thang sang Pháp chơi, thấy chiêu mộ lính Lê dương là xung phong luôn. Băng xong, anh ta đứng dậy chép miệng: “Nếu được trở về nước tôi sẽ quay về huấn luyện thể dục của mình...”. Nghe tâm tư của họ, tôi bàn với anh Lâm Phúc: Có lẽ cần giải thích thêm về chính sách tù binh để họ yên tâm.

Được lời, với các khẩu lệnh đội ngũ của Pháp đã nghe quen quen trong giờ tập thể dục hồi còn là học sinh thời nô lệ, tôi tập hợp tất cả tù binh lại. Lần đầu, (chắc cũng chẳng có lần thứ 2) tôi đã nói trước hàng quân mũi lõ, mắt xanh, tóc râu rậm rạp đứng im phăng phắc chỉnh tề, nghe giải thích về chính sách khoan hồng của quân đội ta. Mặt họ giãn ra, niềm u uất cũng tan biến và sau đó trong 8 tiếng đồng hồ hành quân ban đêm trở về Điện Biên, không một ai bỏ trốn.

Giờ đây, mỗi lần đến ngày 7 tháng 5, nhớ về những khẩu lệnh dõng dạc để chấn chỉnh đội ngũ cho lũ tù binh được tập hợp lại trong buổi chiều vàng trên biên giới Lào - Việt hôm ấy, tôi lại thấy vui vui, lẫn đôi chút tự hào về tư thế của một chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, đứng trước kẻ thù đã cởi giáp quy hàng để nói lên truyền thống nhân đạo của ta đối với tù, hàng binh đã có từ hàng ngàn năm trước rồi đến lần này, và chắc chắn chưa phải là lần cuối.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #83 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2016, 10:23:57 pm »


Ngày địch ném bom bản Long Nhai

Năm 2004, với sự ưu ái của Công ty Mai Linh và Việt Nam Airline đối với cựu chiến binh Điện Biên Phủ, chúng tôi được trở về thăm lại chiến trường xưa. Trên bia căm thù đặt ở vị trí bản Long Nhai cũ thấy có ghi ngày ném bom là ngày 25 tháng 4 năm 1954.

Thực ra chúng tôi không còn nhớ chính xác vì còn bộn bề biết bao công việc trong những ngày cuối cùng ở Điện Biên, về sau đọc “Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử” của Võ Đại tướng (Hữu Mai thể hiện) có một chi tiết về Đại đội 19 bắt gọn một tiểu đội lính Lê dương nhảy dù đêm 19 tháng 4 để bổ sung quân cho Hồng Cúm. Chi tiết này liên quan đến trận ném bom vào bản Long Nhai buổi chiều hôm đó. Cụ thể thế này:

Khoảng 14 giờ ngày 19 tháng 4, một máy bay ném bom 4 động cơ (từ công sự chúng tôi nhìn lên thấy rất rõ, về sau đọc các tài liệu địch mới biết đó là Privateer). Tiếng máy bay nghe rất nặng và bay chậm theo chiều Nam - Bắc hướng đường 41. Thông báo cho toàn đại đội đề phòng, chúng tôi tiếp tục quan sát. Quá Mường Thanh một đoạn, máy bay bay vòng lại, hạ độ cao trên không phận Hồng Cúm và bắt đầu thả bom. Những chùm bom đen trũi, rít như xé vải, rơi ngay sau lưng chúng tôi, trúng cả vào bản Long Nhai cách công sự chúng tôi không đầy 50 mét. Khói bụi dầy đặc trùm cả một góc trời. Kiểm tra đơn vị không ai việc gì. Sau khi để người ở lại trực chiến, toàn đơn vị đem bông băng cá nhân lao vào bản.

Một cảnh tượng thê lương chưa từng có! Hàng trăm xác chết không toàn thây, những người bị thương rên la thảm thiết, súc vật chăn nuôi cùng chịu số phận.

Hậu quả giải quyết rất vất vả kéo dài từ chiều đến sáng hôm sau với sự tham gia của nhiều đơn vị và cán bộ địa phương, dưới pháo sáng và đại bác cầm canh của địch!

Khoảng 24 giờ đêm, giữa những đống lửa chưa tàn hết từ các nhà sàn bị cháy lúc chiều, một máy bay địch sà xuống thả một tiểu đội ĐKZ 10 tên. Chúng nhầm tưởng lửa tín hiệu từ căn cứ của chúng ở mặt đất; toàn tiểu đội lọt cả vào chiến hào trung đội đồng chí Học, bị tóm gọn, trói kỹ và dẫn đi. Chúng tôi đã đến bản Long Nhai này để trinh sát tình hình chuẩn bị cho việc chọn địa điểm triển khai đào công sự bao vây Hồng Cúm từ ngày 15 tháng 3 (hồi ấy bản vẫn nằm trong sự kìm kẹp của địch. Dân số không chỉ của bản Long Nhai mà của 9 bản ven rừng được dồn về khống chế và làm phu phen tạp dịch cho chúng). Số thương vong vì thế rất cao lại vào buổi chiều khi dân đi sơ tán vào rừng trở về hơi sớm. Không đủ bông băng, phải xé những chiếc dù trắng ra băng tạm. Hai ngày sau vào bản vẫn thấy những cẳng chân, cẳng tay người bị lũ lợn đói gặm nham nhở! Từ đó đến 27 tháng 4, khi chúng tôi chuyển đi thay phiên cho đơn vị bạn chuẩn bị vào đợt 3, không còn đợt bom nào nữa. Dân bản chuyển đi vì các trận đã đến quá gần.

Ngày 19 tháng 4 hoặc ngày 25 tháng 4, không cách nhau là mấy nhưng về mặt sử liệu thì cần sự chính xác.

Chúng tôi xin phát hiện một cứ liệu nhỏ này với các nhà viết sử quân đội ta và cơ quan bảo tàng Điện Biên Phủ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #84 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2016, 06:52:31 pm »


CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN VỚI DUYÊN HOA SƠN CƯỚC
Đại tá MINH CAO

Ngày mới giải phóng Thủ đô, không ngờ bọn tôi lại có dịp gặp lại nhau ngay giữa Hà Thành hoa lệ. Chàng Trần Dần, Nguyễn Đình Thi không quên chọc tôi: “Thế nào, xừ cán bộ ga lăng đã có hoa tặng ai và được ai tặng chưa đấy”. Biết bạn đùa một chút cho vui, tôi đành cười xòa và cảm thấy các chàng râu rậm này lại sớm bắt chước giọng điệu các nàng văn công khi cùng mấy chàng nhà văn cử xuống thâm nhập Tiểu đoàn chủ công chúng tôi, mỗi lúc bắt gặp anh chỉ huy trẻ tuổi dáng thư sinh là tỏ lời hóm hỉnh “chào cán bộ ạ” (cốt để né tránh gọi tên chỉ huy).

Nghiễm nhiên câu hỏi bâng quơ của các bạn cũng gợi lên ký ức đáng nhớ quãng thời gian cùng nhau quên mọi chuyện đời, dồn tâm lực góp phần tiêu diệt quân thù trên nẻo núi rừng Tây Bắc xa xôi.

Thực tình, bọn tôi may mắn được tham gia hầu hết các chiến dịch trên chiến trường chính Bắc Bộ nhưng kỳ này bỗng nhiên lại bị hút hồn bởi cảnh sắc ở vùng lòng chảo Điện Biên này.

Thật kỳ lạ, trên suốt những nẻo đường chúng tôi cất bước, trèo đèo, lội suối, vượt qua những hố bom, những vạt đồi bị cháy xém bởi bom na-pan, cho đến những chân lán chúng tôi ở, những hầm hào đã và đang tiếp tục xây dựng..., đây đó nảy sinh tự bao giờ, một giống cây hoa chen lẫn cỏ cây, như muốn bám lấy hơi người, bung ra những chùm hoa tuyệt đẹp. Màu sắc tím đỏ như biểu tượng của niềm tin, của chiến thắng, hình thù lại na ná giống như một thứ “hoa nghệ” dưới xuôi ta. Ấn tượng đến với chúng tôi thật gần gũi, đồng cảm với tên gọi mà anh em chiến sĩ đặt cho những đóa hoa vùng sơn cước này là “hoa nghệ” (Sau này, qua tiếp xúc với nhân dân địa phương mới biết tên chính thức, của thứ hoa này là Hoa Pàng)

Từng đồng cảm giá trị của sự lắng đọng thiên phú ấy, đến nỗi thời gian cũng được tính bằng sự nảy nở sớm muộn của hoa từ khi sương phủ đến lúc sương tan, từ ngày này qua ngày khác. Một thực thể rất đáng chú ý: chỉ vài ngày sau, trên địa hình đổi dạng do bị cày xới bởi bom đạn, tưởng chừng những vạt cây hoa bị vùi lấp, ngủ yên, nào ngờ hoa đã trỗi dậy với một sức mạnh khác thường, ngạo nghễ bên bờ hố bom, đến nỗi những trận mưa gió chuyển mùa cũng không làm chúng ngả nghiêng.

Niềm tin và hy vọng như chứa chất trong thân hoa, lan tỏa trên những cánh hoa. Thật ấn tượng.

Không hiểu do chất men còn rơi rớt lại hồi đi học hay vì các cuộc chỉnh huấn, chỉnh quân đã nhen lên trong chúng tôi một niềm lạc quan cách mạng làm cho bạn tôi khó quên và dễ nhớ nét sống một thuở trên Điện Biên hồi ấy.

Có lẽ không riêng chúng tôi - với phong cách sống tự nhiên nhen nhóm giữa con người cầm bút và cầm súng - thường thả hồn chiêm ngưỡng cảnh rừng, cảnh hoa, mà hầu như cả đội ngũ đang trong cảnh: “Đầu nung lửa sắt, máu trộn bùn non...” (thơ Tố Hữu) vẫn không thoát khỏi cách nhìn hoa đầy cảm xúc. Thiên nhiên đã phú cho Tây Bắc một rừng hoa này!

Với những điều ước lệ chợt nảy nở và nghiễm nhiên như được trao tặng món quà đúng sở thích, lúc tạm chia tay nhau trên chiến hào, Nguyễn Đình Thi không chút e dè trao đổi nguyện sẽ ấp ủ hoa trong thơ, còn Trần Dần tỏ ước ao sẽ mang hoa theo “Người người lớp lớp” trong thiên tiểu thuyết sắp đóng góp với đời.

Tình cảm “Bút súng” thân tình như thế đó. Một dấu ấn cũng khá lãng mạn, không “tạch - tạch - sè”1 chút nào.

Riêng tôi, chưa hề có cảm giác là người từng được tặng hoa bao giờ, nhưng vốn vẫn thích hoa, không muốn hoa bị vùi dập. Tuy không có biệt tài bay bổng sáng tác để tự tình với hoa như các chàng Văn nhưng vẫn muốn tạo nên nguồn vui có thể, từ hoa đem lại niềm lạc quan yêu đời trong hoạt động giao lưu văn hóa. Hồi ấy, tôi từng được các chàng Văn phán xét là một chính trị viên khá lạc quan trong cuộc sống, lại mang một chút tính cách lãng mạn - tôi không ngần ngại phác thảo một ý tưởng có thể gởi gắm một chút tình với hoa, có thể nhờ hoa nhập cuộc, bổ sung cho công tác chính trị mà mình đang đảm trách.
_____________________________________
1. Cách nói thay cho cụm từ “Tiểu tư sản” ngày ấy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #85 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2016, 06:53:27 pm »


Thường khi xuống thăm đơn vị, tôi cùng anh em chiến sĩ, trên đường đi thường hay thích ngắt những bông Hoa Pàng để cài lên miệng giao thông hào, trao tận tay cho những cán bộ chiến sĩ được khen là gan dạ, nhất là qua những đợt suốt ngày đêm phải dốc sức thay đổi địa hình, chuyển sinh hoạt xuống lòng đất hoặc tạo thành những trận địa xuất phát xung phong, chia cắt bao vây quân địch. Ý nguyện của tôi những mong hoa thay lời động viên, tạo nên nguồn vui mới, lấn át nhọc nhằn. Cách thư giãn đầy chủ định của tôi đã lây lan tới đồng đội.

Mới đầu, cán bộ và chiến sĩ trong đơn vị thấy là lạ, nhưng dần già cũng thấy quen quen. Nhiều cán bộ làm theo. Bản thân tôi từ trước đến nay, chưa từng được tặng hoa bao giờ, nhưng trong cuộc chiến sinh tử này Hoa Pàng đã đôi lúc trở thành biểu tượng sáng giá làm phần thưởng cho các cá nhân và tổ ba ba.

Niềm lạc quan mới nhen nhóm trong đơn vị.

Lác đác, bên trong hầm hào nhiều lúc cũng có hoa tạo cảnh. Anh em chiến sĩ khi đi làm trận địa, gặp thấy hoa không nỡ lấp vùi mà nhiều khi còn bứng cả cụm đắp lên miệng chiến hào, những mong cho hoa tiếp tục được tắm sương. Nhiều lần bắt gặp thấy anh em tụm lại, tỏ ra thích thú khi có những bông hoa đọng đầy giọt sương trên cánh, óng ánh bảy màu.

Thật thú vị Hoa Pàng đã chứng kiến cảnh sống và chiến đấu của các chiến sĩ Điện Biên chúng tôi. Bóng dáng của Hoa Pàng xuất hiện, nhiều lúc làm dịu đi nỗi nhớ bâng quơ, và trở thành nguồn cảm hứng tạo khoảnh khắc lãng mạn tới bất ngờ, luôn đem niềm vui đến cho nhau, và ngẫu nhiên tạo nên một nếp sống mới, luôn bồi dưỡng niềm tự hào để an tâm “vào trận”.

Mỗi lần ký ức Điện Biên Phủ hiện về, tôi vẫn luôn cảm thấy như Hoa Pàng giờ đây cũng biết nói, biết hành động.

Hóa ra hoa đã theo mình vào cuộc và mình đã gửi gấm chút tình với hoa...

*
*   *

Bẵng đi bốn chục năm sau, không gian và thời gian không gần nhưng vẫn không xa tầm với tình cảm trong cuộc đời của người “chiến sĩ Điện Biên” chúng tôi.

Tại buổi chiêu đãi hoành tráng trên con tàu lênh đênh lướt đi lướt lại trên bến Nhà Rồng, đội ngũ chiến sĩ Điện Biên quần tụ tại Thành phố Hồ Chí Minh có dịp gặp lại nhau, cùng nhau thắp sáng niềm tin, tận hưởng giây phút từng tôn tạo giá trị nhân văn trong khói lửa Điện Biên Phủ oai hùng. Đương nhiên chúng tôi không bỏ lỡ dịp cùng ca vang bài: “Giải phóng Điện Biên... bộ đội ta tiến quân trở về giữa mùa hoa nở…”.

Để buổi giao lưu càng vui vẻ và cởi mở hơn, hầu hết những con người đã đi vào ngưỡng cửa thất thập cổ lai hy vẫn cứ muốn xung phong ngâm thơ, ca hát.

Bỗng dưng, một chân dung dễ mến, với cái chất phóng khoáng Nam Bộ, Nguyễn Trí Việt đã tiến lên sân khấu, hai tay bưng cao một chậu cây “Hoa Nghệ” và cứ xoay đi xoay lại như có ý thách đố anh em, coi đó là “Hoa gì? là ở đâu tới”.

“Chà! Đúng là Hoa Pàng”, “chỉ thấy có nhiều ở Điện Biên!”.

Như một phần tất yếu của cuộc sống tưởng chừng được bén rễ rất sâu trong đời sống tinh thần của người chiến sĩ Điện Biên, mỗi người trong chúng tôi đều nhớ lại và vô cùng thích thú, vì có lúc đã bị “mê hoặc” bởi loại hoa rừng này. Hoa không hương nhưng lại có một dáng vẻ rất kiêu hùng, luôn phô diễn sự cứng rắn hiên ngang, không hề khuất phục trước đạn bom. Tất cả chúng tôi, mỗi người mỗi vẻ đều rất hoan nghênh sự có mặt của “Hoa”. Không đợi tiếng dứt “hoan hô”, Trí Việt cởi mở giải bày: “Nhân một chuyến trở về chiến trường xưa cùng đoàn quay phim của Thành phố Hồ Chí Minh, tôi vô cùng sung sướng thấy Điện Biên Phủ đã thay đổi rất nhiều nhưng ven suối, ven rừng, ven đồi vẫn hiện diện rất nhiều Hoa Pàng, loại hoa đã cùng chúng tôi đi vào chiến trận, nên tôi không quên đào bứng một cây hoa mang vào Nam với ý tưởng vừa bổ sung cho vườn cảnh thành phố để bà con chiêm ngưỡng, vừa qua sự có mặt của hoa để minh chứng rằng trong chiến dịch lịch sử vĩ đại Điện Biên Phủ cũng có mặt của con em Nam Bộ mà tôi và hai anh em nữa hiện còn sống và đã về đây bên loài hoa biểu trưng của chiến thắng, trong gian khổ vẫn vui với niềm vui không kém phần lãng mạn”.

Đang sôi nổi phát âm một mạch, giọng Trí Việt tự nhiên trầm xuống với một ước vọng đặc biệt: “Khi trở lại Bến Tre quê tôi, tôi sẽ trồng lên mộ mẹ tôi loại hoa đã cùng tôi vượt qua chặng đường trên 2.000km và khấn thưa với vong linh mẹ tôi là “Con đã về đây... Mẹ ơi!... Hoa Pàng này sẽ luôn bên mẹ...”.

Chúng tôi hết sức xúc động và cảm thấy như được nạp thêm năng lượng, thích ứng với dáng vẻ của hoa.

Riêng tôi không thể không ôm chầm lấy Trí Việt - nguyên là Chính trị viên đại đội của Tiểu đoàn Phủ Thông để phơi bày chút thế giới nội tâm và cũng hơi chút lãng mạn nơi mình, từng cùng nhau trải qua những tháng ngày ác liệt và gian khổ, khó khăn trong chiến đấu, nhưng vẫn chưa bao giờ hổ thẹn trước Hoa Pàng cứng cỏi.

Hoa trong mình và có mình trong hoa như thế đó!
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #86 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2016, 06:55:46 pm »


BẢO VỆ SỞ CHỈ HUY CHIẾN DỊCH
Đại tá ĐỖ HẢl
Nguyên Phó Lữ đoàn trưởng CT Lữ đoàn 144
Đại đội trưởng Đại đội 245 bảo vệ Bộ Chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ

Thấm thoát đã hơn 50 năm trôi qua, “Tổng hành dinh” trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã được xếp vào di tích lịch sử quốc gia, con đường hầm vào phòng họp đã được tái tạo lại cho du khách tham quan. Trong lòng tôi 50 năm qua vẫn nhớ mãi những bàn tay chai sần, bỏng rộp của đồng đội và những chiếc xẻng hình trăng khuyết...

Năm 1973, Chủ tịch CuBa Phiđen Cátxtơrô (Fidel Castro) sang thăm Việt Nam, giữa lúc đất nước còn chiến tranh. Chủ tịch đã đến thăm Bảo tàng Quân đội. Tại đây, ông chăm chú xem sa bàn chiến dịch Điện Biên Phủ cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông bỗng hỏi:

- Thưa Đại tướng, lúc đó Đại tướng ở chỗ nào?

Đại tướng Võ Nguyên Giáp lấy chiếc gậy dài chỉ vào một vị trí cách cánh đồng Mường Thanh chừng 15km và nói:

- Lúc đó Sở chỉ huy chiến dịch ở đây.

Chủ tịch Phiđen nói vui:

- Chiến thắng là công chung của mọi người, nhưng vai trò cá nhân cũng hết sức quan trọng, nhất là vai trò Sở chỉ huy chiến dịch. Thế mà ở đây thiếu Sở chỉ huy trên sa bàn.

Ý kiến của Chủ tịch Phiđen đã được Tổng cục Chính trị tiếp thu. Trung tướng Phạm Ngọc Mậu chỉ thị cho bảo tàng và tôi lên ngay Điện Biên Phủ tìm lại vị trí Sở Chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, để bổ sung vào sa bàn.

Chúng tôi đi theo con đường Tuần Giáo lên Điện Biên Phủ, qua các chỉ huy sở trước đó, đến cây số 62 rẽ vào Mường Phăng, cây cối um tùm khiến tôi không nhận ra được Sở chỉ huy năm xưa.

Khi hỏi dân bản thì đồng bào cười và nói:

- Ở đây ai cũng biết hầm Đại tướng, dân bản còn truyền câu ca rằng: “Ai muốn lấy vợ Mường Phăng thì phải biết hầm Đại tướng...”.

Chúng tôi mừng quá, quên cả đường xa mệt nhọc, vội phăm phăm theo dân bản vượt đèo lội suối đi chừng 2 km để tìm hầm. Đến chân một dãy núi cao, lau sậy um tùm, dân bản vạch ra một miệng hầm và nói: “Đây là hầm Đại tướng, hàng năm thường có một toán bộ đội đến đây vào ngày 7 tháng 5 để thăm viếng”. Đứng trước cảnh rừng núi ngút ngàn, trong lòng tôi trào dâng bao kỷ niệm của gần 20 năm trước ở nơi này. Tôi kêu lên:

- Bà con nhầm rồi, đây là hầm tướng Trung Quốc Vi Quốc Thanh, cố vấn cho ta hồi đó, còn hầm Đại tướng Võ Nguyên Giáp phía bên quả núi nhỏ kia. Cho tôi một số anh em để cùng tôi bới cửa hầm.

Chỉ một loáng, anh em công binh đã tìm được miệng hầm theo hướng tay tôi chỉ. Tôi bảo các chiến sĩ:

- Các đồng chí chịu khó chui vào trong, cách 20 mét sẽ có phòng họp và một chiếc đèn bão năm xưa ở đó.

Các chiến sĩ bò vào trong. Thời gian đã làm đất đá lấp đi phần nào đường hầm. Khi các chiẽn sĩ chui ra cầm chiếc đèn bão đã rỉ vì năm tháng, tôi không cầm được nước mắt nhớ tới đồng đội tôi ngày ấy...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #87 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2016, 06:56:14 pm »


... Tôi sinh năm 1926, quê ở Thanh Trì, Hà Nội. Tôi tham gia chiến khu Đông Triều đánh Nhật, đánh phỉ, đánh Pháp từ tháng 4 năm 1945. Năm 1947, giặc Pháp nhảy dù đánh lên Việt Bắc. Để bảo vệ ATK (An toàn khu), từ năm đó tôi trở thành người lính cảnh vệ của Bộ Tổng tham mưu, trải qua từ binh nhất, tiểu đội trưởng, trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng và cuối cùng là phó lữ đoàn trưởng về chính trị.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi chỉ huy 120 chiến sĩ Đại đội 245, Tiểu đoàn 144 (sau này là Lữ đoàn), Trung đoàn 246 có nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy chiến dịch. Chúng tôi hành quân bộ từ Thái Nguyên lên Tuần Giáo vào Điện Biên. Trên người chúng tôi lỉnh kỉnh trăm thứ: gạo cuốn ruột tượng quanh người, sau lưng ba lô quần áo, trên cổ cuốn chiếu, chăn và mỗi người kèm theo cuốc hoặc xẻng, trên đầu đội mũ nan tự đan. Càng đến gần mặt trận, đường càng khó đi, nhiều đoạn đường hẹp, dốc cao, uốn khúc theo sườn núi, đặc biệt là qua các đèo cao, với hàng chục kilômét đường nằm chênh vênh bên vực thẳm: đèo Lũng Lô dài 9km, đèo Cò Nòi dài 17km và dài nhất là đèo Pha Đin 32km. Máy bay Pháp hàng ngày lùng sục và ném bom chặn những con đường khả nghi. Có những lúc công binh không cho chúng tôi đi qua những quả bom nổ chậm nằm chình ình trên đường, họ bảo:

- Bom nổ, các anh chết ai chịu trách nhiệm?

Chúng tôi trả lời:

- Thế chúng tôi không hoàn thành nhiệm vụ thì ai chịu trách nhiệm đây?

Có những lúc vượt qua bom được vài chục mét thì bom phát nổ, chỉ một vài người bị thương nhẹ, thật hú hồn. Cái chết rình rập quanh chúng tôi bằng nhiều cách. Địch quần đảo trên đầu, chúng còn thả biệt kích, chúng tôi đã bắt được 2 tên ở Mộc Châu. Qua rừng sâu, hổ rình mồi, trong đêm tối, chúng tôi phải thu gọn đội hình hành quân để đề phòng. Sốt rét ác tính đe dọa tính mạng hàng ngày, thuốc ký ninh thiếu, nhiều khi phải hòa một viên thuốc cho ba bốn người uống, đã có đồng chí vì sốt rét ác tính mà ra đi mãi mãi... Nhưng tất cả không ngăn được bàn chân người chiến sĩ cảnh vệ, lực lượng trung thành của Đảng. Đại đội chúng tôi đa phần là chiến sĩ bần cố nông, người dân tộc, trình độ học vấn có hạn, nhưng họ một lòng theo cách mạng.

Ròng rã nhiều tháng trời, qua nhiều chặng, chúng tôi đã đến cây số 62, lối vào bản Mường Phăng, nơi đặt Sở chỉ huy chiến dịch. Địa điểm này chỉ cách cánh đồng Mường Thanh, cứ điểm trung tâm của địch khoảng 15km đường chim bay, do đó công tác bảo vệ phải hết sức nghiêm ngặt. Vừa hành quân đến nơi, chúng tôi đã xắn tay áo đào hơn 1 km đường giao thông hào để sẵn sàng đánh biệt kích nhảy dù. Lúc này phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh” của chiến dịch đã được chuyển thành “đánh chắc, thắng chắc”. Tư tưởng bộ đội có phần chưa thông, nhưng Bộ Chỉ huy đã kịp thời tổ chức chỉnh huấn. Do thay đổi cách đánh, pháo ta kéo vào rồi lại kéo ra. Các chiến sĩ công binh dồn đi mở đường cho pháo ta vào trận địa, vì vậy việc đào hầm cho Bộ Chỉ huy chiến dịch do đại đội cảnh vệ chúng tôi đảm nhiệm. Lúc đó tôi có được học hành hơn anh em một chút nên cũng có một số kiến thức áp dụng trong việc đào hầm vào núi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #88 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2016, 06:56:49 pm »


Thêm nữa tôi phát huy dân chủ, bàn bạc cùng anh em. Thật may trong đại đội có đồng chí Định Văn Điền, trước đây là thợ mỏ, nên đã đóng góp nhiều kinh nghiệm đào hầm than. Không có ni-vô (để xác định mặt phẳng nằm ngang), chúng tôi phải lấy ông nước cất cho giọt dầu vào, để trong ống nứa để lấy thăng bằng. Không có thước, chúng tôi phải lấy dây rừng nối nhau lại để khoanh tròn đo núi tìm đường kính. Chúng tôi chia làm hai bên đào để làm hầm thông qua núi. Cứ 5 mét một, chúng tôi lại chống cây rừng và kê đòn tay đỡ trần hầm. Bằng cuốc xẻng, trí thông minh và lòng quyết tâm, chúng tôi đào thủng quả núi, chỉ có điều khi gặp nhau người trên, kẻ dưới. Thế là chúng tôi khoét ra thành một hầm rộng làm nơi hội họp của Bộ Chỉ huy chiến dịch. Chúng tôi chia nhau làm liên tục ba ca một ngày. Lúc đó chúng tôi mới càng thấm thía câu “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Bàn tay chúng tôi phồng rộp, rồi đóng thành chai sần, chiếc xẻng ngày đầu sáng loáng to như chiếc quạt nan mà đến ngày xong công trình thì mòn vẹt đi như mảnh trăng khuyết. Tôi, chính trị viên Nguyễn Bảo, Đại đội phó Tường thay nhau động viên anh em hăng hái làm việc. Sau 28 ngày đêm vất vả, chiếc hầm cho Sở Chỉ huy hoàn tất. Một đường hầm dùng cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi vào phòng họp tương đối bằng phẳng, còn một đường khác dành cho Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái vào phòng họp phải có bậc thang đi xuống. Đường đi rộng chừng 0,9 mét, cao 1,7 mét. Phòng họp rộng chừng hơn chục mét vuông, được kê hai hàng ghế với một chiếc bàn để trải bản đồ và rất mát vì nhờ hai đường hầm thông gió. Trong hầm để sẵn chiếc đèn bão để Bộ Chỉ huy dùng khi hội họp. Đồng chí Hoàng Văn Thái đến xem hầm, rất hài lòng:

- Hầm đào khéo quá, thế này thì bom đạn chẳng làm gì được. Có bị sập một cửa hầm vẫn có thể thoát ra cửa hậu. Có cậu nào là kỹ sư không?

Tôi báo cáo:

- Báo cáo thủ trưởng, chỉ có em mới học hết certifica (tiểu học) thôi ạ! Còn anh em đa phần bắt đầu học chữ.

Tổng tham mưu trưởng khen ngợi và giao nhiệm vụ cho chúng tôi đào tiếp hầm cho tướng Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc sang giúp ta đánh giặc. Chúng tôi lại hăm hở vào công việc. Vì hầm tướng Vi Quốc Thanh trong dãy núi lớn hơn, cho nên chúng tôi chỉ đào vào sâu 20 mét, sau đó khoét một lỗ hổng lên sườn núi vừa để thông hơi, vừa để sẵn một chiếc thang để phòng khi sập hầm thì có thể trèo thoát qua đường đó. Sau đó chúng tôi còn đào thêm hầm cho đồng chí Lê Liêm - Chủ nhiệm Chính trị mặt trận ở ven suối. Càng về sau kinh nghiệm càng nhiều nên việc đào không còn vất vả như ban đầu.

Hàng ngày, chúng tôi chia nhau ra canh gác xung quanh Sở Chỉ huy, lùng sục biệt kích, thám báo, ngụy trang đường và phối hợp giúp đỡ Ban 4, cơ quan hậu cần Sở Chỉ huy để vận chuyển lương thực, thực phẩm vào. Mỗi vọng gác có một chiếc mõ, khi có máy bay địch ở xa, thì gõ 3 tiếng để ai có đun nấu gì thì khẩn trương dập lửa. Nếu máy bay vào gần thì mõ gõ liên hồi, lúc đó tất cả Bộ Chỉ huy phải xuống hầm làm việc. Thật kỳ lạ, mặt trận cách chúng tôi hơn 15km, nhưng suốt chiến dịch ở đây hoàn toàn yên ắng. Kẻ thù không phát hiện được Sở Chỉ huy chiến dịch, vì hàng ngày chúng tôi đi ngụy trang Sở Chỉ huy, trồng các cây vào khu trống, trồng cỏ trên các lối mòn, cây nào bị héo thì phải thay ngay. Chúng tôi ra suối bắt cá cải thiện, hoặc cử anh em vào bản Mường Phăng làm dân vận, có khi chỉ một bánh thuốc lào đổi được cả con lợn. Anh em còn vét vũng ở suối để tích nước ăn. Buổi tối thỉnh thoảng được xem phim. Chỉ có một lần, một chiếc máy bay Pháp bay ngang qua, thả một “quả bom to” xuống. Cả Sở Chỉ huy báo động, mọi người xuống hầm hết. Chờ mãi không thấy tiếng nổ, tôi bò ra gần xem là loại bom gì thì đọc được hàng chữ tiếng Pháp trên thân “quả bom”: thùng dầu phụ. Lúc đó tôi mới thở phào, rồi gọi anh em ra khênh thùng dầu phụ về cưa ra làm máng đựng nước. Nhiều anh còn dùng mảnh thùng làm lược kỷ niệm...

Sau đợt đi công tác năm 1973, Bảo tàng Quân đội đã đắp thêm Sở Chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ trên sa bàn.

ĐOÀN HOÀI TRUNG ghi
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #89 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2016, 07:04:22 pm »


CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
HOÀNG XUÂN TÙY
Nguyên Thứ trưởng Bộ Đại học và THCN
Nguyên Trưởng ban Tuyên huấn Mặt trận Điện Biên Phủ

Có thể chia hoạt động công tác chính trị trong chiến dịch Điện Biên Phủ ra ba thời kỳ rõ rệt:

1. Từ tháng 11-1953 (các đơn vị chủ lực lần lượt nhận mệnh lệnh hành quân đi chiến đấu) đến ngày 13-3-1954 (bắt đầu trận đánh mở màn chiến dịch).

Thời kỳ này, công tác chính trị có mấy nét nổi bật sau đây:

1. Đông Xuân 1953-1954, cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân xâm lược Pháp bước sang năm thứ tám. Dù đã suy yếu nhưng được đế quốc Mỹ tăng cường viện trợ, thực dân Pháp vẫn tìm mọi cách phản công quyết liệt, hòng giành lại quyền chủ động, thể hiện rõ trong kế hoạch Na-va. Trước tình hình đó, quân dân ta không hề nao núng, hoàn toàn tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng. Chuẩn bị cho chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, quân đội ta đã qua một mùa rèn cán chỉnh quân, nâng cao giác ngộ dân tộc và giác ngộ giai cấp, sẵn sàng lên đường ra trận, với quyết tâm cao để giành thắng lợi. Hậu phương lại đang đẩy mạnh cuộc vận động giảm tô và cải cách ruộng đất, đem lại luồng sinh khí mới cho cán bộ, chiến sĩ ngoài mặt trận mà số đông là nông dân. Đó là thuận lợi cơ bản làm tiền đề cho thành công của công tác chính trị trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

Bên cạnh đó, cán bộ và chiến sĩ cũng có những tư tưởng lệch lạc cần phải uốn nắn ngay từ đầu. Khuynh hướng đầu tiên cần khắc phục là tư tưởng ngại chiến đấu ở rừng núi, thích về đồng bằng đông dân trù phú, cuộc sống đỡ gian khổ lại gần quê hương, gia đình. Nhiệm vụ của công tác chính trị lúc này là giáo dục sâu rộng làm cho cán bộ và chiến sĩ thấu suốt phương châm “tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”, xác định cho mọi người tinh thần “đâu có giặc là ta cứ đi”.

2. Trước khi trận đánh dự kiến bắt đầu, đã xảy ra một sự kiện vô cùng quan trọng. Đó là việc thay đổi đột ngột phương châm và cách đánh của chiến dịch chỉ khoảng 6 tiếng đồng hồ trước giờ nổ súng. Ngày 26 tháng 1 năm 1954, khi các đơn vị bộ binh, công binh, pháo binh, cao xạ đã vào vị trí chiến đấu, thì nhận được lệnh hoãn cuộc tiến công, kéo pháo ra, lui quân về vị trí tập kết. Riêng Đại đoàn 308 phải hành quân cấp tốc sang Thượng Lào để phối hợp với bộ đội bạn đánh địch dọc tuyến sông Nậm Hu (có khi viết là Nậm U), uy hiếp thủ đô Luang Prabang.

Mặc dù không ít cán bộ, chiến sĩ còn băn khoăn, thắc mắc, cho là ta đã mất thế bất ngờ và trở thành bị động... Nhưng mệnh lệnh đó đã được chấp hành một cách triệt để, với một tinh thần kỷ luật tuyệt vời! Trên cơ sở tư tưởng đã được chuẩn bị tốt khi bước vào chiến dịch, công tác chính trị đã được triển khai sâu rộng đến từng cán bộ, chiến sĩ để mọi người hiểu rõ vì sao ta hoãn cuộc tiến công. Ta vẫn giữ quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, nhưng phải chuyển qua phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. Phải có thêm thời gian để chuẩn bị đầy đủ hơn nhằm quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chủ tịch: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh". Chiến dịch có thể kéo dài suốt mùa mưa, gian khổ ác liệt còn nhiều, nhưng chúng ta quyết tâm đánh thắng.

3. Một vấn đề mới đặt ra trong công tác chính trị lúc bấy giờ là phải giáo dục tinh thần đoàn kết, hợp đồng chặt chẽ giữa các binh chủng, vì đây là lần đầu các đơn vị bộ binh được sự yểm trợ của lựu pháo 105 ly và pháo cao xạ; phải đoàn kết với các đơn vị công binh đang đóng vai trò rất quan trọng trong công tác chuẩn bị chiến dịch. Không chỉ đoàn kết giữa các đơn vị bộ đội mà còn đoàn kết bộ đội với thanh niên xung phong và dân công, đặc biệt với thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến.

Trong quá trình chuẩn bị chiến dịch theo phương châm mới, nhiều khẩu hiệu động viên chính trị đã được nêu ra, gắn liền với nhiệm vụ của từng đơn vị:

- Chuẩn bị tốt là đã giành thắng lợi được một nửa!

- Đem sức lao động ra để làm đường kéo pháo, xây dựng các trận địa tấn công, đổ mồ hôi hôm nay để ngày mai tiết kiệm xương máu cho đồng đội!

- Bảo đảm đường sá thông suốt là đảm bảo thắng lợi!

- Xây dựng công sự dày thêm một tấc là tạo thêm điều kiện để chiến thắng quân địch!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM