Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:24:02 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện  (Đọc 53205 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #120 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:07:26 pm »


Có một lần khiến mọi người lo lắng. Số là có một chú bệnh binh bị rối loạn thần kinh ôm cháu leo tít lên cây cả khu bổ đi tìm. Nghe tiếng khóc mới thấy hai chú cháu đang vắt vẻo trên một cành cây cao, vừa ru dỗ cháu nín. Mọi người xôn xao, có chú định leo lên dùng sức mạnh gỡ lấy cháu, nhưng xem ra cách ấy không ổn, sau cùng dùng phương pháp động viên dụ chú bệnh binh tự bế cháu cùng xuống. Cách này mất gần 2 tiếng đồng hồ chờ đợi nhưng đạt hiệu quả an toàn.

Vào thời kỳ cuối, chiến dịch đã toàn thắng, thương bệnh binh đã dần về hết tuyến sau, Ti Ti trở nên rất quen thuộc với các chú, lúc đó đã thu gọn lại chỉ còn mươi lán khoảng vài chục người cuối cùng. Vợ chồng chúng tôi đã có thời gian nghỉ ngơi và chăm nom cháu, nhưng vì đã quá quen nếp sống tập thể, các chú ngày nào cũng xin đón cháu vào sáng sớm trước giờ làm việc. Vợ tôi đành nghe theo, nhưng có sáng kiến làm một bảng nhỏ cắt bằng bìa cứng đeo vào cổ, đề rằng: “Xin các bác, các chú không cho bé ăn nhiều quá để giữ vệ sinh cho cháu”. Lúc đầu cháu thấy hay hay, đến đâu cũng khoe, nhưng tiếc thay chẳng mấy chốc mà tấm bảng đó bị rơi rụng nhanh chóng, cháu bé lại bị các chú nhồi căng bụng. Một lần chúng tôi dự liên hoan quanh đống lửa hồng cùng thương bệnh binh, thấy con mình đứng giữa, nó đứng lên ngồi xuống, bắt các chú thương binh làm theo, không làm theo không được, có chú còn mang nạng sao làm theo, đành phải co duỗi cái chân lành, cháu mới chịu. Vợ tôi mắng nó, các chú còn bênh. Chúng tôi xin lỗi các chú, nói lời chân thành biết ơn. Một chú thương binh đầu còn quấn băng, là một cán bộ đại đội, tuổi trạc chúng tôi (25 - 26), đứng lên nói:

“Anh chị đừng lo, không phải cám ơn gì cả vì chính chúng tôi phải cám ơn anh chị nhiều mới đúng. Không ai ngờ anh chị mang cả cháu bé mới 2 tuổi ra sát hỏa tuyến chăm lo cho thương bệnh binh, mà chính cháu lại làm công tác tư tưởng rất diệu kỳ động viên chúng tôi. Không ai ngờ rằng trong đạn bom ác liệt, mang vết thương phải lui về bệnh viện chữa trị lại được nghe tiếng con trẻ, lại được bồng cháu bé Ti Ti, con của đồng chí quân y đang chữa trị cho mình. Cháu đã được chuyền tay hết lán này qua lán khác, chúng tôi đã cảm động vô cùng khi biết rằng cháu bé cũng đi chiến dịch cùng cha mẹ, một trường hợp thật quá hy hữu. Có lẽ trên thế giới này, cuộc đánh trận của chúng ta có một không hai. Cháu Ti Ti có mặt ở đây cũng là một trường hợp có một không hai. Cháu ngoan lắm, rất ít khóc mà lại thường khiến chúng tôi cười, quên đau đớn, quên mọi thiếu thốn gian khổ, lại còn buộc chúng tôi phải luyện tập nữa chứ! Tôi không biết làm thơ nhưng cũng xin võ vẽ mấy câu:

Đôi mắt đen lay láy
Cái miệng cười tươi tươi
Các chú yêu cháu lắm
Cháu bé Ti Ti ơi…”


Hai chúng tôi rơi nước mắt trước chân tình ấy, không rõ giờ này chú thương binh ấy ở đâu, làm gì, có tình cờ đọc những dòng này không? Hay là đã hy sinh ở một chiến trường nào đó trong một cuộc chiến tranh dài dằng dặc mà cả dân tộc, cả đất nước ta phải gánh chịu trong 30 năm trời? Chú có biết cháu Ti Ti ngày ấy nay đã là một bác sĩ tuổi ngoại ngũ tuần, Trưởng một “la bô” trong một Viện Y học tầm cỡ lớn của đất nước:

"... Kháng chiến trường kỳ hai lần bão táp
Ba mươi năm chưa bạc mái đầu xanh
Lẽo đẽo cùng tôi lên thác xuống ghềnh
Sâu đăm đắm những bóng hình không phai lạt...”


Chưa xả hơi được bao lâu, Phân viện chúng tôi lại gấp gáp thu dọn, chuyển về nhận nhiệm vụ mới, lúc đó vào đầu tháng 8 năm 1954, hành quân ra Sơn Tây, xuôi về Thái Bình, đến đầu bờ nam cầu Hàm Rồng dựng trại, đón nhận thương bệnh binh miền Nam tập kết ra, từ Sầm Sơn ngược dòng sông Mã lên. Lần này hòa bình rồi, hai mẹ con ở lại làm tiếp nhiệm vụ một thời gian rồi được ưu tiên bám xe bộ đội, tiện ghé qua Hà Nội thăm nhà vài ngày sau khi Hà Nội vừa được tiếp quản. Mình tôi hành quân bộ theo đơn vị...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #121 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:09:41 pm »


ĐỘI ĐIỀU TRỊ 6 Ở MẶT TRẬN ĐIỆN BIÊN
Trung tá BS NGÔ THỊ THÁI NGHIÊM
Thầy thuốc Ưu tú
Nguyên y tá Đội điều trị 6
Quân y tiền phương Điện Biên Phủ

Năm 1953, toàn quân “chỉnh quân chính trị” cuộc kháng chiến chống Pháp chuyển mạnh sang giai đoạn phản công trên toàn quốc để giành thắng lợi quyết định.

Lúc này tôi đang công tác ở xưởng quân dược XF21 đóng tại Núi Rùm - Tuyên Quang, được Cục Quân y điều về Quân y viện 108 đóng tại Yên Trạch - Phú Ngữ - Thái Nguyên để tham gia “chỉnh quân chính trị” và học lớp y tá, chuẩn bị lực lượng phục vụ chiến dịch.

Tháng 10 năm 1953, học xong lớp y tá, tôi được bổ sung vào Đội điều trị 6 thuộc Quân y tiền phương, do bác sĩ Phan Thanh Trà làm đội trưởng phục vụ cho một chiến dịch lớn. Với tuổi 21 háo hức được lên đường ra tiền tuyến, tôi rất phấn khởi hăng say về đơn vị mới cùng với 5 đồng chí y tá cùng lớp mới ra trường là: Thái Hằng, Mai Tâm, Dịp, Oanh, Sửu.

Hành quân bộ từ Phú Ngữ - Thái Nguyên sang Chí Chủ, Phú Thọ đến Đội điều trị 6, đơn vị cũng mới có quyết định thành lập ngày 12 tháng 11 năm 1953.

Tập kết ở đây chuẩn bị gấp rút, chúng tôi học tập chính trị, nội quy các chính sách đối với Thương bệnh binh - Dân công - Dân vận - Địch vận - Tù hàng binh - Kỷ luật chiến trường và hạ quyết tâm lúc xuất quân.

Rèn luyện hành quân mang vác 30 kg trở lên cho mỗi người đi đường dài, thao diễn kỹ thuật chuyên môn, triển khai một bệnh viện dã chiến trong điều kiện vật chất hết sức thiếu thốn khó khăn, phải khắc phục để hoàn thành nhiệm vụ đáp ứng cho như cầu của tiền tuyến để giành thắng lợi.

Cá nhân chuẩn bị quân tư trang được   5kg, còn dụng cụ chuyên môn tùy theo từng nhiệm vụ và lương thực thực phẩm cho đủ 30 kg mang vác hành quân đường dài 500 cây số. Đi kéo dài hàng tháng, vì mỗi đêm đi chỉ được 25 - 30km, ngày phải nghỉ để tránh máy bay địch oanh tạc.

Thời gian chuẩn bị hơn một tháng thì đơn vị tôi được lệnh hành quân lên Tây Bắc phục vụ chiến dịch Đông Xuân lấy tên là “chiến dịch Trần Đình”.

Đội điều trị 6 có 105 cán bộ, chiến sĩ, được lên đường sớm nhất, hành quân bộ, đêm đi ngày nghỉ.

Cuộc hành quân rất đông vui, nhất là các đêm trăng sáng, trùng trùng lớp lớp, người nối tiếp nhau ra tiền tuyến. Các đơn vị dân công hỏa tuyến, bộ đội các binh chủng gặp nhau hò hát ví von, chào hỏi hết sức thân thương, quên hết nhọc nhằn vất vả, hăng hái vượt lên tới đích.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #122 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:10:09 pm »


Đến Sơn La, đơn vị phải tách làm hai bộ phận. Một bộ phận ở lại Sơn La triển khai công tác thu dung thương bệnh binh. Còn một bộ phận tiếp tục vượt đèo Pha Đin lên Tuần Giáo vào cây số 31 triển khai đón thương bệnh binh ở hỏa tuyến về. Tôi rất may được chọn tiếp tục đi ra phía trước.

Vượt qua đèo Pha Đin, không khí chiến dịch rất khẩn trương nhộn nhịp, bom đạn rền vang suốt ngày đêm, máy bay địch bay rợp trời tìm mục tiêu oanh tạc, và bay nhiều lần để tiếp tế cho quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ.

Đến địa điểm mới chúng tôi khẩn trương xây dựng lán trại, chỉ sau 6 đến 10 tiếng đồng hồ là có thể thu dung được thương bệnh binh.

Tôi được phân công làm y tá điều trị, còn các đồng chí y tá khác cùng dân công tập trung lực lượng làm hộ lý chăm sóc thương bệnh binh, công tác này rất vất vả khó khăn. Một mình tôi phụ trách điều trị cho khu trọng thương khoảng 200 - 300 thương bệnh binh. Các lán trại nằm rải rác hai quả đồi dưới lùm cây ngõa.

Nhiệm vụ của đơn vị là: Đối với khinh thương thì điều trị tích cực để bổ sung quân số chiến đấu về các đơn vị tuyến trước. Đối với trung, trọng thương thì xử trí bước đầu, điều trị tạm ổn rồi đưa về tuyến sau.

Thường thương bệnh binh chuyển từ hỏa tuyến về có đêm hàng trăm đồng chí về ồ ạt sau các trận tiến công đợt 1, đợt 2. Chúng tôi phục vụ vô điều kiện không quản ngày đêm với tinh thần thương yêu đồng đội, thể hiện y đức của người lính quân y cách mạng.

Thương binh đủ các binh chủng, chủ yếu là ở các Đại đoàn chủ lực: 312, 308, 316 và một phần các binh chủng khác.

Chúng tôi phải chọn lọc, đăng ký, lấy quân số; nhiều lần phát hiện có 5 - 6 tên lính bảo hoàng do hai bên đánh giáp lá cà và do địch ném bom na-pan chúng bị bỏng, dân công chuyển thương về không biết ta hay địch.

Khi phát hiện là thương binh địch, chúng tôi xác định được ngay nhiệm vụ thực hiện chính sách tù hàng binh thể hiện lòng nhân đạo của nhân dân ta và y đức của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng tôi giáo dục phổ biến nội quy chăm sóc thuốc men hộ lý như đối với các thương binh của ta. Một điều quan trọng là chúng tôi phải cách ly để bảo vệ bí mật. Nếu không làm tốt, để thương binh ta phát hiện, sẵn lòng căm thù giặc, anh em có thể có những hành động vi phạm chính sách tù hàng binh. Mọi kỷ luật của mặt trận phải chấp hành thật nghiêm. Hai tên tù binh Pháp bị thương chuyển đến trạm của chúng tôi với vết thương ngực thấu phổi đã được xử lý, thân hình gầy gò, vẻ mặt buồn bã và sợ sệt. Qua việc làm và thái độ của chúng tôi, họ cũng đỡ lo lắng, luôn miệng nở nụ cười “merci beaucoup” - cám ơn nhiều.

Những người bị thương của địch chỉ qua trạm của chúng tôi nằm điều trị 5 - 7 ngày rồi chuyển tiếp về phía sau.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #123 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:10:30 pm »


Những ngày tháng phục vụ ở ngoài mặt trận thuốc men rất thiếu thốn. Đơn vị tôi phải khắc phục khó khăn trong điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn, phải tự chế nước cất pha dung dịch truyền đẳng trương, chỉ dám truyền dưới da, thiếu ête để rửa vết thương có dòi bọ. Chúng tôi đã lấy nước cất pha Quinacrin vào để pha thành dung dịch rửa vết thương rất tốt.

Đội điều trị 6 được đồng chí Cục trưởng Vũ Văn Cẩn phân công phụ trách tuyến 3 của Quân y chiến dịch. Đơn vị được chia làm 3 cơ sở điều trị tại cây số 31 Tuần Giáo, Nà Cạn và Cò Nòi.

Trong chiến dịch, Đội thu dung và điều trị khoảng hơn 10.000 thương bệnh binh. Có lần trong vài ngày, đơn vị tôi tràn ngập thương bệnh binh, cả 3 cơ sở thu dung khoảng 23.000 thương bệnh binh, từ những đơn vị đánh đồi A1, C1 gửi về, không còn lán trại cho thương bệnh binh nằm. Toàn đơn vị phải nhường lán trại cho thương bệnh binh, tích cực giải quyết chỗ ăn nghỉ cho họ, không để anh em bị đói, bị rét.

Nhờ có tinh thần phục vụ tốt, Đội điều trị 6 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ hạng Ba ngay tại mặt trận Điện Biên Phủ.

Sau ngày 7 tháng 5 năm 1954, quân ta giành thắng lợi hoàn toàn. Đơn vị chúng tôi tiếp tục đón thương bệnh binh điều trị và chuyển về hậu phương. Tôi là y tá điều trị thương binh vừa và nặng về tuyến sau với 100 thương binh kéo theo 1.000 dân công phục vụ. Một tổ 10 người thay nhau cáng bộ 1 thương binh về tới Yên Bái để gửi về các bệnh viện Quân y 4, Viện 6, Viện 9.

Hai tháng sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đơn vị tôi mới chính thức hoàn thành nhiệm vụ. Đơn vị rút về hậu phương nhận nhiệm vụ mới, phục vụ trao trả tù hàng binh ta và địch tại Hải Thôn - Sầm Sơn - Thanh Hóa. Chúng tôi được Bác Hồ khen, tặng quà mừng chiến thắng, được nhận kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên Phủ, tổ chức liên hoan thịt hộp do Trung Quốc viện trợ.

Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ để lại dấu ấn sâu sắc cùng những kỷ niệm đẹp thời tuổi trẻ, trong cuộc đời binh nghiệp của tôi rất nhiều kỷ niệm. Tôi đã phục vụ quân đội liên tục 41 năm. Đến năm 1990, tôi được nghỉ hưu với quân hàm Trung tá, bác sĩ, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Thầy thuốc Ưu tú.

Chồng tôi là bác sĩ quân y Nguyễn Văn Nghiễn cùng đơn vị, cũng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Anh đã hy sinh ngày 13 tháng 2 năm 1968 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tôi rất tự hào vì gia đình mình đã đóng góp một phần nhỏ vào công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

Hơn 50 năm về trước, trong những ngày đêm gian khổ “khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt” ở miền Tây Bắc xa xôi, tôi không dám nghĩ rằng mình còn sống đến hôm nay. Từ chiến thắng Điện Biên “chấn động địa cầu”, đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất và phát triển mạnh mẽ, phồn vinh như ngày hôm nay, đó là điều hạnh phúc vô cùng lớn lao.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #124 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:12:12 pm »


ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ KHÓA SINH VIÊN Y50
GS TSKH NGUYỄN MẠNH LIÊN
Nguyên Chủ nhiệm Quân y tiền phương Trung đoàn 77

Từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Giáo sư Hồ Đắc Di và Giáo sư Tôn Thất Tùng đã di chuyển trường Đại học Y Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc. Tại đây, nhiều khóa sinh viên đã tiếp tục học tập. Nhưng tới ngày 1 tháng 5 năm 1950, khóa Y15 hay còn gọi là khóa Y50, mới được tập trung, 40 sinh viên đã tốt ngiệp trung học chuyên khoa, về học năm thứ nhất để đào tạo cán bộ cho tương lai kết hợp với phục vụ kháng chiến. Cả lớp được học một chương trình đặc biệt về xử lý các vết thương chiến tranh, dự phòng điều trị sốt rét và các bệnh nội khoa thông thường.

Ngày 1 tháng 1 năm 1951, tất cả nhập ngũ thành sinh viên y, 10 người theo đội điều trị, 5 người “ra mặt trận” Hồng Quảng, đường số 18, số còn lại được phân công vào các bệnh viện và đội điều trị quân đội.

Với phương châm học kết hợp với hành, nhà trường gắn với chiến trường, đến tháng 10 năm 1952, cả lớp lên đường phục vụ chiến dịch Tây Bắc.

Khi chiến dịch Trần Đình (bí danh Điện Biên Phủ trong chiến dịch) bắt đầu mở, trung đoàn chúng tôi được lệnh hành quân lên Điện Biên Phủ. Trung đoàn trưởng Văn Giáo chỉ thị cho tôi làm nhiệm vụ Ban Quân y tiền phương của trung đcàn.

Chúng tôi vượt sông, tiến lên Sơn La, đi Lai Châu, trên những con đường rộng còn tươi màu đất mới. Trên đường rầm rập bộ đội, dân quân và xe ô tô kéo pháo. Một cảm xúc mãnh liệt đến với chúng tôi, vì từ nhiều năm nay ở Việt Bắc chỉ nhìn thấy những con đường cái lớn được cắt ngang bằng những con hào, để ngăn xe cơ giới của địch, mà nay chúng ta lại được làm chủ những con đường cái lớn thế này.

Nhưng khi tới ngã ba Cò Nòi, nơi gặp nhau của những trục đường từ hậu phương tới, và từ đó một con đường độc đạo dẫn đến Điện Biên Phủ, phải qua đèo Pha Đin cao hơn 1.000 mét và dài trên 30km thì đã thấy chiến tranh thật sự. Hàng ngày các loại máy bay của địch quần thảo tại đây: máy bay B-26, máy bay khu trục hải quân và cả những chiếc C.119 to đùng. Chúng thả xuống đoạn đường này hàng trăm quả bom các cỡ, bao gồm bom phá, bom nổ chậm và cả bom bươm bướm - một loại bom mẹ khi nổ sẽ tung ra nhiều quả bom con mắc vào cành cây và rải rác khắp nơi. Nhiều đoạn đường mới mở đã biến đi dưới hố bom, các đồi xung quanh chỉ còn màu đất đỏ. Công binh và dân quân phải sửa đường cho xe pháo. Nguy cơ rình rập khi đào bới bom nổ chậm và khi lấy sào gậy khua và cả ném đá để kích thích bom bươm bướm.

Trung đoàn 77 được lệnh tạm dừng tại đây, để cùng với công binh sửa đường. Tôi hướng dẫn lại cho quân y các tiểu đoàn về các bài huấn luyện cho bộ đội tự cứu và tập cứu trong các tình huống bị đá đè gãy chi, và nhất là bị sức ép khi bom nổ. Chiều đến, bộ đội ra mặt đường, tổ quân y trung đoàn với túi thuốc cấp cứu và bó nẹp trên vai, vừa đi vừa chạy dọc theo tuyến đường để cứu chữa cho thương binh tới sáng ngày sau. Cuối tháng 3, sau chiến thắng Him Lam, đồi Độc Lập và Bản Kéo, Trung đoàn được lệnh hành quân lên Điện Biên Phủ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #125 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:12:40 pm »


Trong những ngày chiến dịch, khoảng 20 sinh viên khóa 50 đã có mặt ở Điện Biên Phủ: sinh viên Nguyễn Quang Long ở đội điều trị 10 ở Đại đoàn công pháo 351, Phan Chúc Lâm và Tạ Long ở Đại đoàn 308, Đoàn Bá Thả ở Đại đoàn 312, Nguyễn Cảnh Cầu ở Đại đoàn 316, Phạm Từ Dương và Phạm Ngọc Phú ở đội điều trị 2, Phan Ngọc Ngoạn ở Trung đoàn 66 - Đại đoàn 304 (đồng chí Ngoạn được thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba vì tổ chức nhân viên quân y và thương bệnh binh chiến đấu thắng lợi ngăn chặn một mũi thăm dò của địch).

Cùng lúc này nhiều bạn sinh viên Y50 ở các chiến trường phối hợp như Lê Minh và Phi Văn Ngạc ở địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, Hà Văn Ngạc ở đội điều trị 7 Thượng Lào. Một tin vui với chúng tôi là ngày 3 tháng 4 năm 1954, Giáo sư Tôn Thất Tùng, bác sĩ Vũ Đình Tụng và bác sĩ Nguyễn Dương Quang đã có mặt ở Điện Biên Phủ. Thầy Tùng với tài phẫu thuật của mình đã giúp điều trị nhiều trường hợp khó khăn, nhất là các vết thương sọ não. Tại các đội điều trị, nơi thầy trò chúng tôi làm việc có các hầm mổ, tường rất phẳng, sàn lát bằng gỗ, được căng vải dù, mùi ête thơm dịu, phẫu thuật viên và y tá mặc áo blu trắng mổ xẻ dưới ánh sáng của các đèn mổ chạy bằng đynamô xe đạp. Thương bệnh binh được nằm trên các giường đất phẳng phiu trải vải dù, tại các ngách hầm sạch sẽ. Cảnh tượng đó rất tương phản với khu vực quân y của địch: Thương bệnh binh chật cứng như lèn, trong những căn hầm hôi thối đầy bùn nhão và ruồi bọ.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ là trường học lớn, đã rèn luyện chúng tôi tinh thần sáng tạo, ý chí quyết tâm, vượt qua mọi khó khăn học tập để phục vụ nhân dân, phục vụ quân đội, giải phóng Tổ quốc, giải phóng đồng bào.

Cho tới ngày nay, lớp tôi đã có 2 tiến sĩ khoa học, trên 10 phó tiến sĩ, 10 giáo sư, 5 phó giáo sư, 5 viện trưởng các chuyên ngành, chủ tịch Hội tim mạch, chủ tịch Hội thần kinh toàn quốc, nhiều chuyên viên đầu ngành y tế và quân y chủ nhiệm nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ, tác giả nhiều công trình nghiên cứu khoa học được công bố trên các tạp chí y học trong nước và Liên Xô (cũ), Đức, Ba Lan, Nhật Bản... Và cả tổ chức năng lượng nguyên tử thế giới.

Chúng tôi cùng trở thành những người thầy hướng dẫn tham gia vào nhiều hội đồng chấm luận án tiến sĩ và thạc sĩ cho nhiều lớp nghiên cứu sinh trong cả nước.

Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tôi được lệnh hộ tống một số thương bệnh binh bằng ô tô về Yên Bái. Con đường trở về yên tĩnh, ngày đi đêm nghỉ, khắp nơi vang tiếng hát ca và dạt dào niềm vui chiến thắng của nhân dân và quân đội.

Trong cuộc đời phục vụ quân đội, giảng dạy đại học nghiên cứu khoa học, tôi đã được thưởng nhiều huân chương, huy chương. Nhưng tôi vẫn thích nhất là chiếc Huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” xuân 1954, có quân kỳ “Quyết chiến Quyết thắng”. Hòa bình lập lại, tôi đã đeo chiếc Huy hiệu này trên áo quân phục trong lễ cưới của mình. Tôi cũng đã đeo chiếc Huy hiệu này trên áo quân phục trong suốt thời gian học tập ở Học viện Quân y Lêningrat, Liên Xô (cũ). Năm 1986, được sự đồng ý của Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô - tôi đã tặng một Huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” (do sứ quán cấp thêm) cho Viện Bảo tàng lịch sử Học viện Quân y Kirov Lêningrat (nay là St.Pétersbourg). Bạn tổ chức tiếp nhận rất long trọng và trưng bày Huy hiệu chiến thắng Điện Biên Phủ của chúng ta bên cạnh các Kỷ niệm chương chiến thắng của các học viên Liên Xô từng tham gia chiến tranh vệ quốc vĩ đại, giải phóng loài người khỏi thảm họa phát xít.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #126 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:14:58 pm »


NHỮNG NGÀY THÁNG KHÔNG QUÊN
Đại tá BS ĐỖ KIM DOANH
Nguyên Y tá trưởng Tiểu đoàn pháo cao xạ

Mình thể là thằng hèn

Đại đội phía trước báo về xin chi viện vì y tá cứu thương thương vong hết cả. Chính trị viên tiểu đoàn gặp mình nói “thôi cậu đành đi thế, còn ở tiểu đoàn sẽ tính”.

Thế là đến mình rồi, lần này đi chắc không có về. Suốt đêm trằn trọc không ngủ được, suy nghĩ mông lung, nào gia đình, người yêu, mình mới 21 tuổi chết uổng quá, nhưng đây là lệnh rồi, quyết không đi không được, lại là đảng viên, đã viết quyết tâm thư còn chưa ráo mực. Nhưng không, anh em khác cũng vậy thôi, mình không thể là thằng hèn. Chợp mắt lúc nào không biết, có tiếng gọi cửa hầm: anh Doanh ơi đi thôi. A, thằng Tư liên lạc gọi dẫn đường đi cho mình.

Trên đường ra trận

Đi theo men dãy đồi phía đông, cùng đi gặp đoàn quân ra trận. Hai bên đường họ đào đều tăm tắp những hố sẵn chôn tử sĩ. Tụi nó đào rất vui, tao sẽ nằm hố này gần đường, tao hố này đẹp sâu hơn. Chúng nó còn trẻ hơn mình, coi cái chết là tất nhiên, nhẹ như lông hồng làm mình cũng thấy tăng khí thế.

Đã tới đại đội

Gặp Đại đội trưởng, anh mừng ra mặt nói “May quá y tá trưởng ra giúp chúng tôi", rồi anh dẫn và hầm nói: Anh ngủ cùng tôi, anh có sao thì tiểu đoàn trị tôi đấy! Đây là đại đội, khi mới bước vào chiến dịch họ phối hợp cùng cao xạ 37 ly, còn họ ở trên đồi bắn máy bay khi bổ nhào tầm thấp, súng của họ là 12,7 ly nhiệm vụ án ngữ xe tăng địch qua cầu Mường Thanh ra phản kích ta. Trận địa của đại đội ở bên này sông Nậm Rốm, bên kia là chỉ huy sở Mường Thanh hàng ngày vẫn bắn nhau bằng đạn thẳng, súng cối, thương vong thường xảy ra. Mình đã đi thăm các “Bê” xem chỗ ăn ở,vệ sinh.

Nước ơi là nước

Tháng 5, trời lúc nắng lúc mưa lầy lội, nóng bức, trong hầm ngột ngạt, toàn phải ngủ hầm, đi lại theo giao thông hào.

Hàng đêm các B cử người ra sông lấy nước bằng xô xách nước. Còn tụi địch bên kia, chúng dùng xe bọc thép thả vòi xuống sông hút nước bằng máy.

Đêm nay hơn 10 anh em đi lấy nước, bị chúng phục kích bắn xối xả. Đại đội trưởng hốt hoảng nói: Mọi khi tầm này chúng có bắn sang đâu, thôi chết rồi, nó phục kích bắn anh em ra sông múc nước. Súng đã im hẳn chờ 3 - 5 phút không thấy ai về.

Đại đội trưởng nói: anh Doanh ra xem đứa nào bị thương thì băng bó, còn tôi sẽ cho người đưa anh em về. Như vậy bị chết và bị thương hết cả. Trời tối đen như mực, mình đi dò từng cậu. Cậu nào rên, cọ quậy thì bị thương còn sống, nghe tim không thấy đập là chết rồi. Cứ dò từ đầu đến chân tìm vết thương, lần mò mãi thì ra viên đạn bắn vào mạng mỡ, chỉ có cái lỗ bằng đầu ngón tay không chảy máu, đạn lọt vào bụng phá bên trong.

Khổ nhưng có lúc sướng

Đang nằm có tiếng bịch trên nắp hầm, ra xem thì ra máy bay thả dù rơi sang trận địa ta. Kéo xuống cậy nắp ra, toàn đồ hộp, lính ta được bữa no nê ngon quá, thuốc lá phì phèo thơm khói tỏa khắp hầm. Có lần thấy bịch trên nắp hầm, ra xem thì ra lính dù mặc quần áo rằn ri, hô giơ tay lên, tước vũ khí rồi báo đại đội. Đại đội trưởng lệnh trói lại, chỉ đường cho nó đi ngược giao thông hào về tuyến sau sẽ có người đón. Mình có người đâu mà áp giải.

Rợn tóc gáy

Mọi khi pháo của mình bắn vào Mường Thanh sẹt sẹt vài ba quả đầu rồi nổ bên kia sông. Chiều hôm nay ta bắn súng gì mà véo véo hàng loạt, hàng tràng, nghe rợn tóc gáy. Ngồi trao đổi với nhau, súng này mới có, nghĩ có lẽ là Kachiusa của Liên Xô mà ta vẫn xem phim. Sau này hỏi tụi ngụy nó nói, các ông bắn đạn nổ rất nóng, thằng dưới hầm cũng bị bỏng, vàng như nghệ chết ngay trong hầm.

Sướng quá cũng khóc

Suốt chiến dịch trên chiến trường không khi nào im tiếng súng, tiếng bom, tiếng gào thét của máy bay. Thế mà chiều nay 7 tháng 5 im ắng. Rồi lại có tiếng reo địch ra hàng rồi. Không ai bảo ai nhảy cả lên mặt đất, lên nóc hầm ôm nhau chẳng nói điều gì mà nước mắt cứ trào ra. Rồi lại gọi nhau chạy qua cầu Mường Thanh, qua cầu thấy khẩu đại liên 4 nòng của chúng đặt ngay đầu cầu. Đại đội trưởng cuống lên gào thét, quay lại hết, quay lại ngay, séo phải mìn thì chết cả lũ, lúc này lính có biết sợ là cái gì nữa đâu!

Chiến thắng trở về

Lệnh của trên rút nhanh ra khỏi chiến trường trở về. Còn mọi việc ở đây sẽ có người lo. Vẫn là đi chiều và đêm hành quân về, quân đi như hội. Bên này đường là ta, bên kia đường là tù binh. Quân ta ca hát cười nói phấn khởi thì tù binh lủi thủi, bị tụt giầy đi chân đất chúng nhăn nhó, quần áo rách tả tơi, thằng băng đầu, thằng băng chân. Thấy quân ta hút thuốc lá (thuốc lá chiến lợi phẩm) chúng chạy sang xin: "Donnez moi cigarette". Đang hút dở cho nó, nó truyền nhau rít lấy rít để. Đúng là quân bại trận.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #127 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:16:10 pm »


TÔI LÀM CÔNG TÁC QUÂN Y Ở ĐIỆN BIÊN
Bác sĩ PHẠM QUANG TUNG
Nguyên Đội phó Đội phẫu thuật tiền phương
Ban Quân y Đại đoàn 316

Năm 1953, tôi công tác tại Đội điều trị 7 do bác sĩ Hoàng Đình Cầu làm đội trưởng. Tháng 2 năm 1953 được đơn vị cử đi học lớp trung cấp quân y tại tỉnh Thái Nguyên. Lúc này đơn vị đang đóng quân tại Thanh Hóa. Đi bộ từ Thanh Hóa lên Thái Nguyên. Đến lớp, học viên vào rừng chặt cây, cắt cỏ tranh về làm lán ở.

Học đến tháng 12 năm 1953, trên lệnh cho cả lớp đi phục vụ chiến dịch. Đi bộ từ Thái Nguyên lên Điện Biên Phủ mất 25 ngày. Đêm đi ngày nghỉ, qua đèo Pha Đin dài 32 km mất một đêm. Đến Điện Biên Phủ, tôi được phân công về trạm phẫu thuật tiền phương trực thuộc Ban Quân y Đại đoàn 316. Trạm có nhiệm vụ cấp cứu phẫu thuật các thương binh của Đại đoàn 316 do bác sĩ Doãn làm đội trưởng, tôi làm đội phó. Ngoài ra, còn có 6 y tá, 3 nam 3 nữ và 8 hộ lý dân công. Toàn bộ trạm đều làm việc ở dưới hầm, mổ xẻ, ăn ngủ đều ở dưới hầm.

Mấy ngày đầu thương binh còn lẻ tẻ, càng về sau số lượng càng đông, có ngày trạm tiếp nhận tới 30 - 40 thương binh ở mặt trận cáng về trạm. Bước đầu là phân loại, thương binh có vết thương cần mổ cấp cứu thì vào phòng mổ ngay. Những thương binh khác cho nằm tại phòng đợi, mổ sau. Bác sĩ Doãn là mổ chính, tôi mổ phụ. Những vết thương nhẹ, chỉ cần cắt, lọc, khâu đơn giản thì tôi mổ chính, y tá phụ mổ.

Khi mổ dùng đèn măng-sông hoặc dùng đi-na-mô xe đạp, một người ngồi quay phát ra ánh sáng. Tôi với bác sĩ Doãn mổ suốt ngày đêm, có hôm tới 9 - 10 giờ tối mới được đi ăn cơm. Ở trạm 1, 2 ngày, những thương binh ổn định cho chuyển về tuyến sau để lấy chỗ tiếp nhận thương binh mới. Tất cả thương binh, nhân viên quân y đều ngủ dưới hầm. Phân công hai người một hầm, tôi và một nữ y tá tên Điền nằm cùng một hầm. Năm ấy tôi 26 tuổi, chị Điền 21 tuổi. Trong suốt chiến dịch đều ở như thế, không ai tỏ tình với ai. Có lẽ lúc bấy giờ tập trung hết vào nhiệm vụ, không ai nghĩ đến chuyện riêng tư.

Rất buồn và thương xót những thương binh vì vết thương quá nặng đã vĩnh viễn ra đi, phần lớn rất trẻ chỉ mới 20-21 tuổi. Tôi có trách nhiệm thu dọn quân tư trang và giấy tờ tùy thân của tử sĩ và gói ghém kỹ lưỡng để gửi về cho gia đình.

Khoảng 5 giờ 30 phút chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954, tin báo cho trạm chúng tôi biết địch đã đầu hàng, Điện Biên đã chiến thắng. Mọi người nhảy lên reo hò, kể cả những thương binh chân đi khập khiễng cũng leo lên mặt hầm reo hò.

Ngay trong đêm, chúng tôi kiểm tra toàn bộ thương binh, ai cần mổ xẻ thì làm ngay trong đêm và ngày hôm sau được lệnh chuyển toàn bộ thương binh về tuyến sau. Trạm phẫu chúng tôi được lệnh vào Mường Thanh nhận nhiệm vụ mới.

Vào Mường Thanh, sau khi ổn định chỗ và nơi làm việc, đầu tiên tôi đến hầm Đờcátxtơri. Tôi đi khắp các phòng lúc này mà không thấy ai quản lý hầm. Trong hầm còn nhiều thức ăn, đồ uống như phô-mai, bơ, cam tươi, cà phê nét, kẹo bánh. Tôi lấy một ít cam tươi và bánh kẹo về cho anh em ăn. Trong Mường Thanh đi chỗ nào cũng thấy quần áo, giầy, mũ sắt của bọn Pháp vứt dọc đường.

Tôi được giao nhiệm vụ đi các hầm đưa thương binh địch lên mặt đất. Tôi đi cùng một số dân công đem theo cáng thương xuống từng hầm thương binh địch nằm rải rác ở Mường Thanh. Sau khi đưa hết lên mặt đất, chúng tôi khám cho thương binh địch, hướng dẫn cho y tá băng bó vết thương, kê đơn thuốc.

Mỗi lần đến khám bệnh, kê đơn thuốc cho thương binh địch, tôi đều được họ cảm ơn (Merci). Tôi có gặp nữ y tá Pháp Đờ-ga-la, trao đổi tình hình thương binh Pháp với cô ta. Người nào vết thương ổn định, sức khỏe tốt khi trao trả họ đưa ra sân bay chuyển về Hà Nội.

Tôi làm nhiệm vụ ở trung tâm Mường Thanh đúng một tháng hai ngày, khi hoàn thành nhiệm vụ được lệnh trên đơn vị nào trả về đơn vị ấy. Tổng chỉ huy việc thu dọn chiến trường, đồng chí Cao Văn Khánh cho mỗi cán bộ được lấy một vật phẩm quân trang quân dụng của địch làm kỷ niệm. Kỷ niệm Điện Biên Phủ còn lại của tôi là tấm vải dù khoảng 3 mét vuông.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #128 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:17:14 pm »


CỨU CHỮA THƯƠNG BINH ĐỊCH MƯỜNG THANH
Đại tá ĐÀO NGỌC TÍN
Nguyên Y sĩ Đại đoàn 308

Ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi vào Trung tâm Mường Thanh để xem hầm chỉ huy của tướng Đờcátxtơri, và sau đó xem những tên sĩ quan và binh lính lũ lượt ra hàng, dưới sự áp giải của các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam hết sức nghiêm trang và hãnh diện.

Tôi đang đi quan sát, thì gặp đồng chí Trưởng phòng Quân y Đại đoàn 308 - Trần Lưu Khôi. Tôi chào đồng chí một cách rất vui vẻ như niềm vui chiến thắng đang đến, đồng chí Khôi giao ngay cho tôi nhiệm vụ ra sân bay Điện Biên lập trạm quân y để chăm sóc thương, tù, hàng binh địch (lúc đó tôi là y sĩ). Trước đó phải vào Trung tâm Mường Thanh để lấy thương binh địch từ các giao thông hào và hầm để đưa ra sân bay, có nhiều đơn vị cùng làm.

Khi đưa các thương binh địch ra sân bay, tôi thấy công binh của ta đã căng khoảng hơn 20 cái dù thả hàng rất to, mỗi cái có thể che được 30 đến 40 thương binh địch. Ngay sau đó trên có tăng cường cho tôi 2 đồng chí y tá nữ từ Đội điều trị 3 đến (Lý và Thu), chúng tôi bắt tay vào chăm sóc và thay băng cho thương binh địch. Thương binh địch sống trong các căn hầm lâu ngày, tăm tối nên các vết thương đều nhiễm trùng, hôi thối, nhất là dòi bọ nhiều nên rất đau đớn, nhiều vết thương mấy tháng không được thay băng. Chúng nằm trên cáng bằng bạt 2 tầng, có đứa vết thương gẫy xương chân, nước vàng chảy ra lưng từ bao lâu rồi. Do tình trạng vết thương nhiễm trùng, dòi bọ chui rúc đau đớn, không khí ô nhiễm nồng nặc, nên khi chúng tôi vào đưa chúng ra sân bay, tuy rất sợ song chúng lại rất vui mừng vì đã được sống, lúc đưa lên mặt đất. Rồi ra sân bay, chúng được hít thở không khí trong lành mát mẻ, được nhìn bầu trời bao la với những vì sao lấp lánh ban đêm hoặc những đám mây đen rình rập cơn mưa. Ban ngày với những ánh nắng mặt trời tỏa sáng, những cơn gió nhẹ nhàng làm quên đi tất cả những hãi hùng sau những ngày bị ta tiến công khủng khiếp.

Khi đưa chúng lên mặt đất, chúng còn được nhìn cánh đồng lúa mênh mông của Điện Biên, các bản làng ém mình vào các dãy núi xung quanh Điện Biên Phủ, với những rừng cây xanh biếc như ôm ấp lấy bản làng và đồng lúa mênh mông mà bao đời nay người dân vẫn sống thanh bình ở nơi đây, rồi quân viễn chinh Pháp nhảy dù xuống chiếm đóng và tàn phá, giết chóc.

Chúng tôi lần lượt thay băng, cắt lọc vết thương, lấy dòi bọ bớt ra rồi băng lại, sau mỗi lần thay băng xong cho một thương binh địch, tôi nhìn thấy trong họ ánh mắt vẻ cảm động và cảm ơn vì vết thương làm sạch hơn, bớt đau vì lấy bớt dòi bọ ra (mỗi vết thương nặng dòi bọ phải tính bằng kg). Bên cạnh việc chăm sóc vết thương, hậu cần của ta cho chúng những bữa ăn tươi, mỗi bữa ăn là một đĩa cháo to, trong đó có một miếng thịt trâu to bằng bàn tay, chúng ăn rất ngon lành và vui vẻ, vì những bữa ăn như thế chúng tôi gọi là ăn tươi, đem lại nguồn cảm hứng sâu sắc cho chúng mà trước đó chúng chỉ được ăn đồ hộp với sự căng thẳng của bom đạn và vết thương đau đớn.

Chúng tôi suy nghĩ mới một vài ngày trước, chúng còn là những tên giết người rất hung hãn, có nhiều nợ máu với nhân dân và quân đội ta - thế mà hôm nay chúng lại được ta chăm sóc vết thương, lo ăn uống rất chu đáo. Việc làm đó chỉ có thể xuất phát từ tấm lòng nhân đạo, từ chính sách đối với thương binh địch của Đảng và Quân đội ta. Chúng tôi nghĩ rằng mỗi tên thương binh đó khi trở về nước Pháp và các nước thuộc địa khác là những nhân chứng sống chứng tỏ: “Nhân dân Việt Nam rất dũng cảm kiên cường, nhưng lại có tấm lòng bao dung và nhân ái tuvệt vời, Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu rất dũng cảm và anh hùng, song lòng nhân đạo đã để lại dấu ấn cho họ, gia đình và đất nước họ không bao giờ phai nhạt”.

Hơn 1 tháng làm nhiệm vụ chăm sóc, cứu chữa cho thương binh địch, khi trao trả những người thương binh cuối cùng trong tổng số 886 người, chúng tôi hết sức vui mừng vì đã hoàn thành nhiệm vụ. Trong thời gian trao trả, địch không dám oanh kích Điện Biên Phủ. Ta có điều kiện thu chiến lợi phẩm an toàn, đại binh ta tiến về trung du và đồng bằng Bắc Bộ tiếp tục chiến đấu và uy hiếp lực lượng địch còn lại ở Hà Nội, Hải Phòng, v.v...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #129 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2016, 10:19:25 pm »


XỬ LÝ MÔI TRƯỜNG SAU CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
Đại tá Bác sĩ NGUYỄN GÁC
Nguyên phụ trách kho thuốc trung tuyến Cục Quân y tiền phương

Hôm nay, tôi xin kể một câu chuyện xảy ra cách đây gần 55 năm trong chiến dịch Điện Biên Phủ, một chiến dịch lẫy lừng với vô vàn khó khăn nhưng cũng biết bao nhiêu niềm vui sáng tạo của những người lính chiến mà lịch sử không bao giờ quên. Câu chuyện tôi kể là một trong biết bao kỳ tích mà hiện nay chưa ai nói hoặc chưa được phép nói tới. Vì không có gì là bí mật ảnh hưởng đến quốc gia nên tôi xin phép được mô tả tỉ mỉ.

Khi chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn, Ban Quân y tiền phương được thành lập để trực tiếp giải quyết nhanh chóng, kịp thời mọi nhu cầu phục vụ cho chiến dịch. Ban Quân y lúc đó thực chất là Cục Quân y thu nhỏ, bởi lẽ nó bao gồm hầu hết các cán bộ chủ chốt của Cục Quân y: Đại tá Cục trưởng Bác sĩ Vũ Văn Cẩn, Cục phó Dược sĩ Vũ Công Thuyết và các vị trưởng phòng chính như đồng chí Bác sĩ Từ Giấy (Phòng Vệ sinh phòng bệnh), Dược sĩ Đặng Hanh Khôi (Phòng Dược chính), Bác sĩ Tôn Thất Tùng (Chủ nhiệm Khối phẫu thuật), v.v... Cứu chữa thương bệnh là nhiệm vụ hàng đầu của Ban Quân y tiền phương.

Vào tháng thứ hai của chiến dịch, cuộc chiến rất ác liệt, quân ta đang chiến đấu với phương châm “Đánh chắc, tiến chắc”. Các đơn vị của quân đội ta đã bám sát vào tận đồn địch bằng các đường hầm. Quân địch và cả quân ta thương vong ngày càng nhiều. Trời mưa liên miên, toàn bộ quân địch phải chui vào đồn hoặc trú xuống hầm để tránh đạn pháo của ta. Nhưng tránh sao được khi các mũi tiến công của ta thay nhau tác chiến 24/24 làm cho quân địch gặp muôn vàn khó khăn. Việc giải quyết các thương bệnh binh không dễ dàng chút nào, cho cả ta và địch, nhất là ở khu Mường Thanh, Hồng Cúm. Địch đã xây những hầm ngầm kiên cố cho Bộ chỉ huy ở thung lũng Mường Thanh, nơi bằng phẳng, xung quanh là đồi núi. Chính vì vậy, khi quân đội ta, bằng cách đào hầm từ trên núi kéo xuống cắt đôi sân bay và khống chế khu vực giữa Mường Thanh và Hồng Cúm, coi như ta đã chiếm được sân bay Mường Thanh bởi máy bay địch không còn khả năng sử dụng sân bay nữa. Chúng chỉ còn cách thả đồ ăn thức uống, quân trang quân dụng trực tiếp xuống nơi đóng quân. Thực tế thì ta cũng được hưởng lợi từ kiểu tiếp tế của địch này. Việc giải quyết thương binh của địch ngày càng trở nên rất nặng nề, đến mức hỗn loạn. Các sĩ quan và lính quân y của địch làm việc trong hoàn cảnh vô cùng tồi tệ, thương bệnh binh nằm dưới hầm, chồng chất lên nhau (hầm 2-3 tầng), dưới nền hầm thì lầy lội, bùn nhão vì nước mưa không có lối thoát. Thương binh bị nhiễm trùng làm cho không khí bị xú uế đến cùng cực. Điều này Bộ chỉ huy của ta biết rất rõ, bởi ta cũng rất khó khăn. Nhưng ta khó khăn một thì địch còn có khó khăn gấp nhiều lần, nhất là thời gian này địch đang ở thế bị bao vây bốn phía, đồng thời các đợt tác chiến của quân ta tiếp tục, liên tục dội vào chúng. Chính vì vậy, Bộ chỉ huy của ta đã có những bước chuẩn bị cho chiến thắng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM