Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:08:29 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Từ Đồng Quan đến Điện Biên  (Đọc 48085 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #20 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2016, 07:16:32 am »


        Sớm nhận rõ nuốn thúc đẩy phong trào thì phải gấp rút đào tạo cán bộ địa phương, từ tháng 5 dến tháng 6 năm 1946, đồng chí bí thư tỉnh ủy đã gấp rút mở những lớp huấn luyện ngắn ngày theo chương trình cộng sản sơ giải và chương trình Việt Minh. Một số học viên học tập lớp này đã trở thành cán bộ cốt cán của phong trào Sơn La như đồng chí Hoàng Nô sau này là bí thư tỉnh ủy, đồng chí Cầm Ngoan chủ tịch tỉnh. Song song với việc đào tạo cán bộ, đảng bộ tỉnh ủy đã chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương. Đồng chí Chu Văn Thịnh ở Mường Chanh đã có sáng kiến vận động nhân dân quyên góp trâu để mua súng. Nếu như ở đồng bằng co phong trào nhịn ăn một bữa lập hũ gạo cứu đói, phong trào may áo trấn thủ trong cuộc vận động mùa đông binh sĩ, có “Tuần lễ vàng” thì ở Sơn La, phong trào góp trâu mua súng từ Mường Chanh đã lan nhanh đi khắp các châu trong tỉnh. Riêng ở Mường Chanh, số trâu quyên được lên đến hàng trăm con, mua được 30 khẩu súng. Phong trào đã có tác dụng thức tỉnh tinh thần giữ bản, gữi mường, nâng cao lòng yêu nước của đồng bào các dân tộc Sơn La.

        Ít lâu sau, Trung ương lại cử lên Sơn La hai đồng chí tỉnh ủy viên và quyết định thành lập ban chấp hành tỉnh ủy Sơn La. Cũng trong thời gian này, sau khi đánh chiếm thị xã Sơn La và phần lớn các vùng trong tỉnh, địch xúc tiến lập chính quyền từ tỉnh xuống các châu. Ở tỉnh, Bạc Cầm Quý làm tỉnh trưởng, Cầm Ngọc Quang làm phó tỉnh trưởng, viên quan năm Pháp Ê-cu-lát làm cố vấn. Thực chất quyền hành tập trung vào tay viên cố vấn này. Bộ máy ở châu có tri châu, châu úy và ban tá. Số này là giai tầng thống trị cũ, nay theo Pháp trở lại đàn áp nhân dân với muối hận thù những người bị tước đoạt đặc quyền đặc lợi.

        Bọn ngụy quyền tay si dựa vào quân Pháp thẳng tay bắt phu, bắt lính, vơ vét, cướp đoạt không từ một thứ gì của nhân dân. Thực dân Pháp còn đặt ra chế độ cống nộp phụ nữ. chúng ra lệnh cho bọn phìa tạo phải bắt con gái các bản lên nộp cho chúng. Mỗi đợt hàng chục chị em bị quân Pháp thay nhau hãm hiếp, sau một tuần lễ mới được thả về. Người nào có nhan sắc, kể cả người có chồng cũng bị chúng bắt làm vợ. Trước những hành động dã man, tàn bạo của giặc, đồng bào đã công phẫn thốt lên: “Ở với bộ đội gần hai năm, dân mới góp có hai con trâu để mua súng. Tây mới cướp Mường La một tháng đã giết gần 100 con trâu”. Sự căm phẫn lúc này so với thái độ cam chịu lúc trước khác biết bao! Nhớ lại khi mới lên Sơn La, có đồng chí hỏi đồng bào thích ở với Tây hay thích bộ đội, có người trả lời: “Nhân dân chúng tôi như khúc gỗ tròn, lăn đi đâu cũng được, như cái kiềng bếp, đặt nồi lên cũng được, đặt chảo lên cũng vừa”. Nhưng ngày nay thì đồng bào lại nhận thức khác rồi.

        Trước tình hình nhân dân bị áp bức, bóc lột hết sức tàn nhẫn, có nơi phải ăn củ chuối, bột báng hàng tháng trời, sự căm phẫn của nhân dân đã lên đến cực độ, tỉnh ủy quyết định phải trở về với đồng bào. Anh Trần Quyết, bí thư tỉnh ủy cùng 10 cán bộ len lỏi trở lại Sơn La. Địa điềm các anh chọn là Mộc Hạ. Như nắng hạn gặp mưa rào, thấy cán bộ Cụ Hồ trở về nhân dân vô cùng mừng rỡ. Chỉ trong một thời gian ngắn, các anh đã bắt liên lạc với cơ sở cũ. Và chính ở Mộc Hạ, tôi đã gặp các anh trong cái đêm giao thừa đáng ghi nhớ ấy. Rồi chi bộ Mộc Hạ được thành lập. Phong trào kháng chiến ở Mộc Hạ khởi sắc hẳn lên.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #21 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2016, 07:20:02 am »


*

*       *

        Sau chuyến tôi qua tả ngạn sông Đà trở về, tình hình mặt trận Sơn La trở lại yên tĩnh. Quân địch lo củng cố những vùng chúng đã chiếm. Chúng rải quân xây đồn dọc theo đường số 41 từ thị xã Sơn la đến Yên Châu. Thời gian này, trung đoàn cũng lo củng cố lực lượng và rút kinh nghiệm những hoạt động tại chiến trường vừa qua, đồng thời tổ chức những trận đánh nhỏ, tiêu hao quân địch. Tiểu đoàn 90 nhiều lần tổ chức đánh địch ở Yên Châu, mỗi trận diệt được năm, bảy tên địch.

        Trận đánh đồn Bản Tủm trên đường số 41 gần Yên Châu do một đại đội thuộc tiểu đoàn 90 đảm nhiệm. Đại đội đã chiếm lĩnh trận địa và sắp xung phong thì đại đội trưởng nghe tiếng còi rúc liên hồi. Lại có tiếng súng ngắn vàt tiếng thét xung phong bằng tiếng Pháp “A-la-xô! A-la-xô!”. Đại đội trưởng tưởng lại bị quân địch đánh úp sau lưng liền cho bộ độ rời trận địa. Rút ra ngoài rồi không thấy quân địch mới vỡ nhẽ đó là hành động của tiểu đoàn trưởng S. Không thể để người chỉ huy như S trong bộ đội, đã nhiều lần vi phạm bản chất cách mạng của bộ đội. và với những hành động cá nhân ngỗ ngược đó có khi làm hại sinh mệnh của đơn vị, tôi quyết định cho thay, đưa S ra khỏi quân đội và đưa một tiểu đoàn trưởng khác ra tòa án binh vì những lỗi lầm không thể tha thứ của anh ta đối với đồng bào chiến sĩ.

        Từ ngày gặp anh Trần Quyết bí thư tỉnh ủy ở Mộc Hạ tôi vẫn nung nấu việc tổ chức đội vũ trang tuyên truyền hoạt động trong vùng sau lưng địch. Nhớ lại khi thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Bác Hồ đã chỉ thị phải coi trọng nhiệm vụ chính trị nặng hơn quân sự, các đội tuyên truyền xung phong hoạt động trong nội thành Hà Nội trước Tổng khởi nghĩa, từ những kinh nghiệm đó, tôi thấy việc tổ chức đội vũ trang tuyên truyền của trung đoàn là hết sức cần thiết trong lúc này. Chính đội vũ trang tuyên truyền là người đi sâu, đi sát tuyên truyền, giáo dục, phát động và tổ chức quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị trong nhân dân, tranh thủ lòng tin của nhân dân, dựa vào nhân dân tạo thế đứng hoạt động lâu dài và chuẩn bị bàn đạp cho bộ đội về hoạt động.

        Tôi bàn với các anh trong ban chỉ huy và được sự nhất trí từ trước của tỉnh ủy Sơn La, trung đoàn quyết định tổ chức đội vũ trang tuyên truyền của trung đoàn. Tháng 4 năm 1947, đội vũ trang tuyên truyền mang phiên hiệu 88 ra đời với 30 cán bộ, chiến sĩ gồm người Kinh, người các dân tộc được lựa kĩ trong các đơn vị. Đội được giao nhiệm vụ hoạt động ở vùng Vạn Yên, Tường Phong, Tường Phù, Quang Huy, Phiềng Ban. Đội phải dựa hẳn vào dân, vừa xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng, vừa chiến đấu tiêu hao địch, bảo vệ lực lượng, bảo vệ nhân dân. Đội vũ trang tuyên truyền 88 là đội dầu tiên hoạt động ở vùng sau lưng địch tỉnh Sơn La. Hoạt động của đội rất có hiệu quả. Và chinh từ những kinh nghiệm ban đầu của đội 88, sau đó không lâu đội vũ trang tuyên truyền của tỉnh, các đội xung phong Trung Dũng, xung phong Quyết Tiến được thành lập và bước vào hoạt động.

        Ngày 25 tháng 4 năm 1947, được tăng viện quân dù, chuẩn bị lực lượng từ Lào và bên hữu ngạn sông Mã, địch tổ chức tiến công cắt phía sau Tà Lãng, nơi trung đoàn bộ trú quân và nhảy dù xuống cao nguyên Mộc Châu. Trung đoàn rút qua Mộc Châu về Vạn Yên sang tây-nam địch chiếm Vạn Yên. Thế là toàn tỉnh Sơn La rơi vào tay địch.

        Trong khi trung đoàn rút đi, đội vũ trang tuyên truyền 88 vẫn bám trong nhân dân để hoạt động. Tuy địch đã chiếm Sơn La nhưng chúng chưa có thời gian củng cố. Đội 88 đã cùng cán bộ địa phương đi sâu xây dựng cơ sở chính trị cho nhân dân. Các vùng Phiềng Ban, Quang Huy, Vạn Yên đã có cơ sở vững chắc. Thấy phong trào của quần chúng phát động, anh Trần Quyết lên khu xin cho bộ đội về đánh địch.

        Đại đội đầu tiên trở về vùng sau lưng địch ở Sơn La do đồng chí Hoàng Cầm chỉ huy. Lúc đó ở Mộc Châu địch thường vận chuyển lương thực, vũ khí từ Mộc Châu sang Vạn Yên qua đường Mộc Hạ - Hướng Càn, Xồm Lồm. Thời gian này chúng biết bộ đội ta đã rút nên chủ quan không đề phòng. Ngày 28 tháng 7 năm 1947, Hoàng Cầm chia đại đội ra làm hai bộ phận: một bộ phận đánh kho Xồm Lồm. Mồt bộ phận đánh địch hành quân trên đường Hướng Càn. Do không đề phòng, khi ta nổ súng, địch hoàn toàn bị bất ngờ. Ta diệt lính khổ đỏ, lính ngụy, trong đó có tên chỉ huy người Pháp, thu nhiều vũ khí, lương thực. Ngay trông đêm đó, lực lượng vũ trang phối hợp với du kích, công an bắt sống một số tên phản động lợi hại như Sa Ngọc Châu, tri châu Mộc Châu và bọn phìa tạo ở Hướng Càn.

        Cùng một lúc, vừa tiêu diệt lực lượng địch, chỗ dựa của bọn ngụy quyền, vừa tiêu diệt bọn ngụy quyền đầu sỏ, tai mắt và tay chân của địch, thắng lợi Hướng Càn làm cho nhân dân vô cùng phấn khởi, địch rất hoang mang. Đáng tiếc là đánh xong, đơn vị lại rút sang sông trở về Đà Bắc nên không có lực lượng để khuếch trương thắng lợi. Trước tình hình đó, tỉnh ủy nhận định thế nào địch cũng càn quét nên tỉnh phải có lực lượng vũ trang của mình để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, bảo vệ cơ sở. Trung đội vũ trang tuyên truyền đầu tiên của tỉnh Sơn La được thành lập ở núi Pu Tên, Mộc Châu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #22 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2016, 07:22:21 am »


        Như vậy ở Sơn La đã có hai đội vũ trang tuyên truyền cùng hoạt động: đội 88 của đoàn và độ của tỉnh Sơn La. Tháng 9 năm 1947 trung đội vũ trang tuyên truyền của tỉnh vượt sông Đà Bắc để học tập, huấn luyện và nhận trang bị. Tôi đã tiếp xúc với trung đội vũ trang tuyên truyền tỉnh. Việc đội 88 vẫn bám trụ tốt ở Sơn La cùng với đại đội của Hoàng Cầm trở lại đánh địch trong hậu địch đã gợi lên sự chín muồi trong tôi về hình thức tổ chức lực lượng để trở lại Sơn La.

        Thu đông năm 1947, giặc Pháp mở cuộc tiến công đại quy mô lên Việt Bắc. Lúc này, hầu hết các cán bộ chủ chốt đã trở về các cơ sở cũ không những được khôi phục mà còn phát triển, có nơi cơ sở chính trị được xây dựng ngay trong hàng ngũ địch. Như ở Mường Tè có 15 đồng chí thì 10 người là đoàn viên thanh niên cứu quốc. Ngụy quyền của khu Mộc Hạ chỉ còn mình Sa Văn Ênh là theo Pháp Ênh vốn trước là quần chúng trung kiên của ta, sau theo Pháp trở thành tay sai của Lương Triệu Đường, phìa Mộc Châu. Để Ênh thì phong trào bị không chế, diệt Ênh thì lộ lực lượng quá sớm. Các đồng chí ta sau khi cân nhắc đã quyết định dùng đội vũ trang tuyên truyền đột nhập thuyết phục Ênh. Ênh nhận lời theo cách mạng vì gần như toàn bộ bộ hạ Ênh đều là người của ta. Thế là bộ máy ngụy quyền ở Mộc Hạ bị vô hiệu hóa.

        Trong khi địch tập trung quân tấn công lên Việt Bắc, ở Sơn La có nhiều sơ hở, chúng tôi thống nhất với tỉnh ủy tổ chức thêm một số đội vũ trang xung phong đi sâu vào hậu địch. Phối hợp với du kích địa phương phá chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng, trừng trị bọn Việt gian đầu sỏ, lôi kéo bọn lừng chừng, mạnh dạn đưa quần chúng ra đấu tranh từ thấp đến cao. Ngoài ra trung đoàn còn chủ trương lần lượt đưa các đội trở về Sơn La hoạt động và đánh địch giữ thế chiến trường, hỗ trợ cho các đội vũ trang tuyên truyền. Trong khi các đại đội phân tán đi hoạt động, cuối năm 1947 đầu năm 1948 lực lượng còn lại của trung đoàn được biên chế thành một tiểu đoàn mang phiên hiệu tiểu đoàn 108 để chiến đấu tập trung.

        Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ của chiến trường Sơn La mà chúng tôi tổ chức, các hình thành hoạt động và chiến đấu cho các đội vũ trang, các đại đội và tiểu đoàn chủ lực mà theo sự chỉ đạo của Bộ sau này gọi là đại đội độc lập và tiểu đoàn tập trung.

        Một vấn đề vừa mang tính bản chất vừa có ý nghĩa quyết định sự sống còn và hoạt động, chiến đấu của bộ đội, vừa mang tính cấp thiêt trước yêu cầu nhiệm vụ mà chúng tôi nhận thức được trong thời gian này là vai trò của nhân dân trong chiến tranh giải phóng. Chiến tranh nhân dân phải do toàn dân tham gia. Bộ đội không nắm được dân, không được nhân dân ủng hộ thì không thể hoạt động, chiến đấu thắng lợi, ngay cả sự tồn tại của mình khóng có thể bảo đảm nhất là trong tình hình đầy khó khăn của năm đầu kháng chiến.

        Muốn nắm được dân phải làm cho dân tin. Muốn làm cho dân tin thì phải thể hiện được bản chất của bộ đội cách mạng, bộ đội Cụ Hồ bằng hành động thực tế. Đồng thời phải gần gũi, giúp đỡ, từng bước làm cho nhân dân hiểu được bộ đội cách mạng là con em của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà hi sinh, chiến đấu. Nó hoàn toàn khác với quân Pháp là quân xâm lược chuyên dàn áp, bắn giết, cướp bóc nhân dân. Ta phải biết khơi dậy lòng yêu nước của đồng bào các dân tộc.

        Không phải từ đầu cuộc kháng chiến chúng tôi đã nhận thức được vấn đề cơ bản trên mà phải sau một năm chiến đấu, trải qua bao gian nan, thử thách, cả những thất bại cay đắng mới rõ được vấn đề. Nhận thức này là vô cùng sâu sắc, nó giúp tôi có một định hướng rõ ràng trong việc giáo dục, xây dựng đơn vị. đồng thời là cái nền, là chỗ dựa vững chắc cho các hình thức hoạt động và tác chiến của trung đoàn trong thời gian tới.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #23 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 06:04:57 am »


CHƯƠNG BỐN

HÀNH ĐỘNG THEO YÊU CẦU CỦA CUỘC SỐNG

        Rút về châu Thanh Sơn huyện Cẩm Khê, tây-nam Phú Thọ, trung đoàn được bổ sung một só cán bộ trẻ, khỏe, năng động. Phần lớn số cán bộ này đã hoạt động trước Cách mạng tháng Tám, là các đoàn viên thanh niên cứu quốc và đảng viên. Số cán bộ thoái hóa, biến chất đã bị thay thế.

        Trong số cán bộ mới bổ sung, tôi gặp lại Lê Thanh, tiểu đội trưởng tự vệ nay là tiểu đoàn trưởng. Về Cẩm Khê việc đầu tiên là tổ chức học tập lá thư của Bác Hồ gửi các đảng viên. Chúng tôi đọc thư Bác mà thưởng như Bác đã theo dõi từng bước đi, từng hành động, Bác hiểu rõ cả những suy nghĩ thầm kín của cán bộ, chiến sĩ. Trong muôn vàn khó khăn ban đầu của cuộc kháng chiến, Bác nhắc nhở trách nhiệm của người đảng viên trong quân đội. Bác thức tỉnh những đồng chí phạm sai lầm, cố vũ những đồng chí đang khao khát muốn cống hiến nhiều hơn, tốt hơn cho cách mạng. Trong thư gửi các đồng chí Bắc Bộ, Bác viết: “trong lúc toàn dân tộc đang ở ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn, mỗi một đồng chí và toàn cả Đoàn thể phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để đưa toàn dây quay về một hướng, nhằm vào một mục đích: đánh đuổi thực dân Pháp và làm cho nước thống nhất và độc lập”1. Bác phê phán tác phong quan liêu, hủ hóa, bệnh tự kiêu, bè phái của một số cán bộ, đơn vị. Qua học tập thư Bác, chúng tôi càng thấy trách nhiệm nặng nề của mình trước Đảng, trước quân đội và nhân dân.

        Tại Cẩm Khê, lần đầu tiên tôi gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng bộ Quốc phòng mà chúng tôi thường gọi thận mật là anh Văn. Anh Văn phổ biến cho chúng tôi nghị quyết của hội nghị chính trị ủy viên đầu tiên của quân đội ta do đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trung ương và đồng chí Văn Tiến Dũng, Cục trưởng Cục Chính trị chủ trì. Những nhân định của hội nghị về tình hình bộ đội lúc đó cũng đúng với tình hình trung đoàn Sơn La: “Tình hình quân sự đang diễn cái thế bộ đội ta có thể bị bao vây, tan rã hay tiêu diệt”. Những nghị quyết về xây dựng Đảng, về công tác chính trị, công tác tư tưởng đã chỉ ra phương hướng xây dựng đội quân kiểu mới - quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng trong quân đội lúc bấy giờ là: Đề phòng bị bao vây và tan rã; rèn luyện cho bộ đội thành một đội du kích, tổ chức thêm và chấn chỉnh dân quân và xác định nhiệm vụ các đảng viên trong quân đội là dùng trong trường hợp nào cũng phải nắm cho vững bộ đội, củng cố và mở rộng cơ sở Đảng, thi hành cho được nhiệm vụ quân sự.

        Về quân sự, chúng tôi học “Huấn lệnh về sự cần thiết phải chuyển sang du kích vận động chiến”. tư tưởng tác chiến theo kiểu trận địa chiến bị phê phán. Tinh thần chủ động tiến công bằng đánh lẻ, đánh úp, đánh mai phục, đành gần được đề cao. Tư tưởng tác chiến đã được xác định thì nội dung học tập càng rõ.

        Hồi đó, tuy chưa có tài liệu biên soạn thống nhất, nhưng căn cứ vào những chỉ thị của trên và qua kinh nghiệm của bản thân, chúng tôi huấn luyện cho bộ đội những cuộc sống và chiến đấu ở Sơn La đặt ra. Mục đích huấn luyện là để đánh kẻ thù, để giành lại dân, để trở lại Sơn La. Sơn La đối với chúng tôi như một mảnh đất của nơi chôn nhau cắt rốn.

        Chúng tôi tập hành quân với tộc độ cao có mang theo trang bị. chúng tôi còn tập hành quân dai sức, tập luồn rừng, tập hành quân đêm, tập bí mật rời vị trí. Về cá nhân chiến đấu, học bắn súng, ném lựu đạn, đâm lê, lợi dụng địa hình địa vật, xung phong.

        Về chính trị, trung đoàn tổ chức cho anh em học “Mười điều kháng chiến của Hồ Chủ tịch”, “Mười lời thề đanh dự”, “Mười điều kỉ luật dân vận”, “Mười lăm điều bí mật quân sự”.

        Từ đây, những yếu lĩnh quân sự của Pháp, Nhật, của quân Tưởng đều có sự chọn lọc để phù hợp với thực tế chiến đấu của trung đoàn trên địa hình rừng núi Tây Bắc. Những vấn đề chung quanh về chính trị như học “hai phe, bốn mâu thuẫn” đã được thay thế băng những bài học chính trị thiết thực. Học để hành động thiết thực, hành động có hiệu quả ở một vùng địch đã chiếm đóng, nhân dân chưa được phát động.

        Về văn hóa, chúng tôi đặt chỉ tiêu cuối năm 1947 cả trung đoàn phải thanh toán xong nạn mù chữ. Chủ trương này đã đáp ứng được nguyện vọng của xâu xa của số đông anh em xuất thân từ nông thôn, một số khá đông anh em là ngời dân tộc. hồi đó chưa có kinh phí văn hóa, giấy, bút, mực đều thiếu. Anh em đã dùng than thay phấn, dùng mẹt cánh cửa thay bảng, dùng lá chuối non, vỏ tre tươi thay giấy, dùng nhựa trám làm đèn để học.

---------------
        1. Hồ Chí Minh,Toàn tập, tập 4, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1984, tr. 291.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #24 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 06:07:16 am »


        Những bài học quân sự thiết thực, những bài học chính trị dễ hiểu, cụ thể có tính chất chỉ đạo hành động và sinh hoạt văn hóa đã làm thay đổi không khí của trung đoàn. Ban ngày các tổ chia nhau rèn luyện trên các thao trường nhỏ. Ban đêm học hát, học văn hóa, học bình báo, tập diễn kịch. Vở ca kịch “Nụ cười sơn cước” của Bùi Tuấn San tức Hoài Niệm đã ra đời trong bối cảnh ấy. Hồi đó nhạc cụ không có. Trung đoàn đóng quân ở gần rừng trúc. Anh em vào rừng cắt trúc làm sáo, bắt ếch lột da làm tang nhị, tước dây điện thoại làm dây đàn, trống đi mượn của dân. Bài hát được anh em ưa thích là bài Trở về Sơn La của đồng chí Như Long. Đêm đêm quanh đống lửa hồng anh em vỗ tay hát:

                              “Kìa Sơn La dân chúng đang ngóng chờ
                              Sơn La máu loang chảy dưới gót xâm lăng
                              Người tan tác, nương đồi hoang xơ xác
                              Về mau, đoàn quân Sơn La diệt thù
                              Rừng xanh vắt đã quen hơi   
                              Bao năm dãi dầu mưa nắng
                              Một ống nước với nắm cơm xôi
                              Chúng ta tiến bước cười vang”


        Mặc dù ăn vẫn còn chưa đủ, quần áo vẫn vá chằng vứa đụp, thuốc men vẫn thiếu, có những mái tóc rụng vì sốt rét chưa kịp mọc, nước da tái, nhưng không khí lạc quan, yêu cuộc sống, yêu nhân dân, yêu đơn vị đã như một liều thuốc hồi sinh tạo nên sức mạnh mới cho trung đoàn. Những anh em người Sơn La suốt đời chưa bao giờ đi xa. Khi mới về Phú Thọ trông thấy người đông cũng ngại, thấy anh hàng phở gánh rao hàng không hiểu họ bán cái gì nay đã nhanh chóng hòa mình vào tập thể. Anh em coi trung đoàn như chính gia đình mình. Và bản thân tôi, người chỉ huy anh em cũng được động viên trong không khí lạc quan, thân tình đầm ấm ấy.

        Trong việc xây dựng đơn vị, khó nhất là khâu cán bộ. Trông chờ trên bổ sung thì không đủ. Hơn nữa những trường đạo tạo chính quy cũng không thể nào đáp ứng của một trung đoàn đang chuẩn bị đi vào sau lưng địch để phát động chủ trương nhân dân. Chúng tôi tự tổ chức lấy trường quân chính của mình. Trường đóng ở vùng Thạch Kiệt gần Địch Quả. Nhiều đội trưởng đội vũ trang tuyên truyền đã được đào tạo ở đây. Thu đông năm 1947, khi địch tiến công ra tây-nam Phú Thọ, cán bộ và học viên trường quân chính đã đánh trận phục kích diệt địch, thu được súng. Đánh xong, anh em luồn rừng theo đường tắt đánh trận thứ hai. Nhân dân và các đoàn thể cứu quốc địa phương vùng Giáp Lại, Thạch Khoan, Thạch Kiệt rất thương. Thấy anh em ăn đói, bị sốt rét đi không vững mà vẫn đánh được giặc, bảo vệ nhân dân, bà con mang mía, sắn, chuối đến úy lạo. Hồi đó việc cung cấp, nuôi dưỡng bộ đội chủ yếu là dựa vào các đoàn thể và chính quyền địa phương, chúng tôi vừa huấn luyện vừa phải tăng gia để tự túc một phần lương thực, thực phẩm. Trung đoàn có một trại tăng gia ở Địch Quả. Trại do đồng chí Giang Văn Vít phụ trách. Trại cấy lúa, trống sắn nuôi gà, nuôi lợn, có cả máy khâu để vá quần áo cho anh em.. Trại đã góp phần nâng cao sức khỏe cho anh em thương binh, bệnh binh.

        Trong cuộc đời phục vụ quân đội của chúng tôi, những ngày ở Cẩm Khê là những ngày đầy kỉ niệm, không thể quên. Tại Cẩm Khê, chúng tôi đã học nhữngbài học vỡ lòng về bản chất quân đội cách mạng, về cách phát động chiến tranh nhân dân ở vùng địch tạm chiếm. Cũng ở đây, Đảng đã trang bị cho chúng tôi chiếc chìa khóa để mở cửa tiến vào Sơn La, một vấn đề có ý nghĩa chiến lược về quân sự để giành thắng lợi. Đó là phương thức hoạt động của các đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung. Có được chủ trương đúng đắn và sáng suốt này chính là do Bác Hồ, Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy đã nghiên cứu, đúc kết tình hình ta, địch trên các chiến trường toàn quốc, trong đó có chiến trường Sơn La, Tây Bắc đề ra.

        Mùa đông năm 1947, thực hiện chủ trương trên, đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương quyết định tăng thêm cán bộ cho những tổ vũ trang tuyên truyền còn trụ bám được ở vùng Mộc Hạ, Sơn La. Bộ trưởng đã viết quyết định bằng tay đề bạt đội trưởng Cầm Vĩnh Chi lên tiểu đoàn phó, làm đội phó vũ trang tuyên truyền Trung Dũng do đồng chí Lê Thanh làm đội trưởng đã vào Mộc Hạ từ trước.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #25 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 06:10:08 am »


        Đối với Sơn La, đội vũ trang tuyên truyền là bước mở đầu để chiếm lại hành quân quân địch. Nói là bước ở đầu vì chỉ cộng sản hình thức vũ trang tuyên truyền mới khôi phục lại ảnh hưởng chính trị đã mất, mới xây dựng lại cơ sở chính trị trong nhân dân để tiến tới phát động chiến tranh du kích ngay trong lòng địch. Gọi là đội vì quân số lúc đó khoảng trên dưới 20 người. Gọi là vũ trang vì đi xây dựng cơ sỏ chính trị trong lòng địch mà không có vũ trang thì không thể đứng vững được. Nếu mang binh lực lớn hơn dễ lộ, di chuyển khó khăn, việc tiếp tế cứu thương cũng rất khó. Đội vũ trang tuyên truyền được lựa chọn chặt chẽ, có vũ khí để tự vệ, lại được huấn luyện cả về chính trị và quân sự, vừa có khả năng tác chiến, vừa có khả năng xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng chính quyền cách mạng ở những vùng cơ sở trắng. Hoạt động của các đội vũ trang tuyên truyền đã dần dần làm giảm ảnh hướng của địch, nâng cao ảnh hướng của ta, gây cở sở chính trị để rồi phát động chiến tranh du kích trong vùng địch chiếm. Hoạt động của đội khác với đội tuyên truyền xung phong (thường hoạt động trong thời gian ngắn rồi lại rút ngay). Đội vũ trang tuyên truyền trụ bám, xây dựng cơ sở làm địa bàn cho các đại đội độc lập đứng chân rồi đi tiếp sang địa bàn khác, cho tới khi cả hậu phương của quân địch trở thành tiền tiền phương của ta. Là một trung đoàn tập trung nay phân tán một bộ phận đi làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở, phát động quần chúng cho nên trước khi lên đường đội phải nắm chắc chủ trương, kế hoạch của cấp ủy và chính quyền địa phương. Về mặt này các anh trong tỉnh ủy Sơn La đã liên hệ chặt chẽ với trung đoàn ủy. Trước khi đi, quyền hạn, nhiệm vụ của đội được quy định khá rõ. Đội chúng tôi nắm được kế hoạch công tác của cấp ủy.

        Khi vào sâu trong lòng địch, xa cấp trên, xa căn cứ, khi cơ sở chính trị còn yếu, liên lạc với cấp trên và đơn vị bạn có khó khăn nên chúng tôi chú trọng bồi dưỡng cho đội khả năng tự động công tác, tự túc về hậu cần kể cả đạn dược, thuốc men và lương thực.

        Đội trưởng, đội viên vũ trang được chọn lọc kĩ. Về chính trị phải là những đội viên tin cậy nhất. Hoạt động trong lòng địch chỉ cần một người dao động là cả đội gặp khó khăn. Mỗi chiến sĩ trong đội phải là một cán bộ thực sự có khả năng cả về quân sự và chính trị, có ý thức tổ chức kỉ luật cao. Đội viên phải biết tiếng của đồng bào các dân tộc. Trong đội nhất thiết phải có người địa phương, vừa thông thạo đường sá, vừa thuộc phong tục tập quán của người địa phương.

        Đội xung phong Quyết Tiến - đội vũ trang tuyên truyền lớn nhất của liên khu 10 do đồng chí Luân, ủy viên thường vụ tỉnh ủy Yên Bái làm đội trưởng, đồng chí Hồng Quân bí thư tỉnh ủy Hà Giang làm chính trị viên.

        Sau khi vượt sông Hồng, đội xung phong Quyết Tiến bắt đầu tiến vào vùng địch. Trước mặt anh em là đồn Ca Vịnh trấn giữ con đường duy nhất đi vào Tú Lệ. Toàn đội loanh quanh ở đó hàng tuần lễ mà chưa đi được. Bộ tư lệnh Liên khu 10 thấy vậy bèn viết thư giục, đồng thời phái đại đội Kim Sơn vào tập kích Ca Vịnh, tạo điều kiện cho anh em vượt vào bên trong. Đại đội Kim sơn đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Quân địch ở Ca Vịnh bỏ đồn rút chạy. Phấn khởi trước thắng lợi buổi đầu, toàn đội cứ theo đường cái tiến vào Gia Hội, rồi Tú Lệ đàng hoàng như một đơn vị chủ lực. Anh em quên mất đặc điểm hoạt động của mình, quên cả ý thức giữ bí mật. Bộ chỉ huy Liên khu nắm được tình hình ấy lại có thư nhắc nhở. Sau đó đội mới bớt chủ quan, bắt đầu chuyển từ hành quân ban ngày sang ban đêm. Nhưng đội tiến rất dễ dàng vì quân địch nghe đồn có “năm nghìn quân Việt Minh kéo vào” nên chúng đã cuốn gói bỏ chạy. Trong đội lại phát sinh tư tưởng chủ quan. Vào Tú Lệ không mất một viên đạn, lại thấy nhân dân nô nức kéo ra đón mừng, các đồng chí bèn tổ chức một cuộc liên hoan khá tưng bừng. Mọi công tác quần chúng gần như chưa làm gì được. Toàn đội chỉ mới thực hiện được một việc gì gọi là những những tên tay sai của địch cùng các phài tạo đến cảnh cáo, bắt phải cam đoan trung thành với cách mạng không được làm hại nhân dân.

        Sau một tuần lễ ở Tú Lệ, đội tiếp tục tiến vào vùng Kim Nọi. Trời bắt đầu mưa tầm tã ngày này qua ngày khác. Đèo trơn, suối lũ. Cuộc hành trình lúc đó mới bắt đầu vất vả. Suối lũ Tây Bắc quả là dữ. Đoàn quân không dài lắm, những người đi trước, khi lộ qua nước mới chỉ đến quá đầu gối, đến người cuối cùng nước đã ngập ngang cổ. Trong lúc toàn đội đang tiến thì giặc Pháp đã tập trung hàng mấy trăm quân, từ Lai Châu kéo về, từ Than Uyên kéo ra chuẩn bị càn quét mà đội không hề biết.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #26 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 06:12:18 am »


        Khi thới Cáp Na (chưa tới Kim Nọi) toàn đội đã sa vào một trận phục kích của địch. Mặc dầu tinh thần rất dũng cảm những lầm vào thế bị động, đội phải chia làm ba bộ phận để rút. Đồng chí Luân nắm một bộ phận lên rẻo cao của đồng bào Mèo. Đồng chí Châu Thành cùng một bộ phận rút về Bản Khì. Đồng chí Hồng Quân cùng hai tiểu đội lui trở ra Tú Lệ định liên lạc với đại đội Kim Sơn nhưng đại đội này đã lên vùng đồng bào Mèo từ trước. Nhận thấy đạn dược của toàn đội đã bị tiêu hao gần hết trong trận phục kích đánh địch vừa qua, Hồng Quân quyết định quay trở ra Nghĩa Lộ để bắt liên lạc với Quân khu xin tiếp tế. Trời vẫn mưa, suối lũ ngập tràn. Tới Ngòi Thia, Hồng Quân cùng anh em chặt chuối làm mảng để vượt qua. Trong khi ấy, ở bên kia sông, một toán địch đi tuần kéo tới.

        Hồng Quân kéo sào nhảy xuống chiếc bè đầu tiên cùng đồng chí Năng một đội viên trước kia là chính trị viên tiểu đoàn. Hai người vừa ra đên giữa dòng thì một băng đạn trung liên từ bụi cây bên bờ đối diện đột ngột nổ xé. Hồng Quân ôm ngực, ngã vật trên bè. Năng cũng không kịp nói một lời, buông cây sào ngã xuống… Và cứ thế chiếc bè liên tục băng băng trôi theo dòng nước lũ. Tất cả các đồng chí còn lại đành gạt nước mắt, quay lại Cáp Na, tìm bắt liên lạc với bộ phận đồng chí Châu Thành đang bám dân, cố thủ ở đó. Mưa vẫn sùi sụt. Bản Khì nằm lọt trong một vùng suối lũ bao quanh. Ta không ra được, địch cũng không vào được. Cho đến lúc này anh em trong đội mới bắt đầu thấm thía bài học chủ qua, mới bắt đầu thấy là cần phải bám lấy dân, tích cực giáo dục, tổ chức nhân dân mới có thể sống và hoạt động.

        Nhân dân Bản Khì vốn đã nghèo đói, nay bị mưa lũ giam chân, địch lại vây chặt bốn phía, không đi rừng tìm củ mài, củ sắn được nên càng đói khổ. Tuy nhiên, không có một ai quên bộ đội. Còn một mẩu sắn cũng chia đôi. Một tháng sau, trời hửng sáng, lũ rút. Nhân dân lại đeo dao lên núi kiếm ăn. Anh em vũ trang tuyên truyền cũng chuẩn bị lên đường định đi bắt liên lạc với bộ phận đồng chí Luân, nhưng một trận càn nữa lại ập tới. Trận càn này còn lớn hơn trận trước gấp bội. Hơn một nghìn quân từ Mường Cang đánh xuống, hai trăm quân từ Nghĩa Lộ đánh lên. Lần này địch không ồ ạt tấn công như trước mà chia thành từng mũi nhỏ lùng sục tất cả các ngọn nguồn, khe suối. Các cơ sở của đội mới xây dựng bị tan vỡ. Một số đồng chí hi sinh; một số dạt lên vùng đồng bào Mèo, một số bật trở lại bờ sông Hồng, mặc dầu đã vào sâu được khoảng hai trăm cây số.

        Đội xung phong Trung Dũng có 17 đồng chí, đại đa số anh em trong đội là người dân tộc Thái như Cầm Vĩnh Chi, Quàng Văn Anh tức Quang Trung, Lò Văn Xuân. Chỉ huy đi vào địch hậu là đồng chí Xích Vân, có nhiệm vụ đưa đội vượt sông Hồng trở lại Sơn La để bắt liên lạc với đồng chí Lê Thanh đội trưởng đã hoạt động từ trước ở Mộc Thượng, Mộc Hạ, vùng cơ sở của tỉnh ủy Sơn La.

        Sau mấy ngày dừng lại ở Mộc Thượng, Mộc Hạ, toàn đội Trung Dũng tiếp tục lên đường, do đồng chí Lê Lê Thanh làm đội trưởng. Tới bản A Má, một bản vẫn nằm trong vùng du kích, toàn đội dừng lại vì được tin địch sẽ về sục sạo khủng bố. Đội quyết định phải tìm mọi cách bảo vệ dân. Sau khi điều tra, biết bọn địch càn chính là do hướng dẫn của một người làng A Má làm châu đoàn ở Mộc Châu. Các đồng chí bèn tìm đến nhà người em ruột của tên châu đoàn. Anh này là một thanh niên tốt. Các đồng chí ta bèn nói với anh Lò Văn Tình cần phải theo dõi mọi hoạt động của tên kia và giúp bộ đội bắt nó. Anh Tình không những không ngần ngại, mà vui vẻ nhận lời ngay. Quả nhiên hôm sau tên châu đoàn đem lính về, anh Tình đã bày mưu đưa cán bộ ta vào nhà bắt sống. Tới khi tên châu đoàn bị ta trói chặt, Tình mới khóc: “Dầu sao nó cũng là anh em với tôi. Nay đã đưa cán bộ về bắt được nó rồi tôi chỉ xin đội tha chết cho nó, còn bắt nó tù bao nhiêu năm cũng được!”. Cảm động trước tinh thần cách mạng, lòng yêu nước đẹp đẽ của người thanh niên thật thà chất phác này, đội đã tha chết cho tên châu đoàn. Lò Văn Tình mừng lắm đề nghị được đi theo đội. Về sau, dần dần anh đã trưởng thành, trở nên một trong những người cán bộ trung kiên. Sau khi rời A Má, toàn đội đi sâu vào vùng địch hâu. Từ đây đội thay đổi cách hoạt động. Đội chia làm hai bộ phận. Một bộ phận táo bạo đi thật nhanh, thật sâu vào một cái đích đã định sẵn rồi dừng lại, xây dựng cơ sở. Trong khi đó bộ phận đi sau tiến dần, vừa tiến vừa xây dựng cơ sở hai bên đường để nối với cái đích mà đội đi trước đã xây dựng. Theo phương thức hoạt động bài bản, chắc chắn đó, đội Trung Dũng phấn đấu tiến tới cái đích mà Bác Hồ chỉ: Điện Biên Phủ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #27 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 06:05:53 pm »


        Đồng chí Lê Thanh chỉ huy bộ phận đi trước, đồng chí Xích Vân chỉ huy bộ phận đi sau. Để che mắt địch, anh em hóa trang giả làm binh lính địch về phép. Các đồng chí đã cố tìm được một bộ ka-ki giao cho đồng chí cao lớn nhất mặc giả làm “đội”, còn anh em ăn mặc như lính dõng. Sau ba ngày đầu thuận lợi, anh em yên trí đã che mắt được địch và cả nhân dân hai bên đường. Nhưng không ngờ đi tới đâu nhân dân cũng nhận ra ngay đây là Bộ đội Cụ Hồ. Vì dù ăn mặc theo kiểu địch nhưng qua cách nói năng cư xử, đồng bào nhận ra ngay bản chất tốt đẹp của quân đội cách mạng. thấy nhân dân đã nhận ra mình, các đồng chí lo lắng. Nhưng đi hết bản này đến bản khác toàn đội vẫn bình yên. Thậm chí có nơi tạo bản còn ra lệnh cho dân làng không được bép xép lộ bí mật của “các đồng chí”. Đội tới Mường Sài, một bản cách biên giới Việt - Lào không xa. Đây là cái đích đã được chọn để cho bộ phận đi trước cắm lại. Đồng chí Lê Thanh cho anh em vào rừng làm lán ở tạm, rồi cử một đồng chí trong đội trước đây vốn là chủ tịch Mường Sài tìm bắt liên lạc với gia đình. Một đồng chí trước làm thư kí ủy ban ở xã bên cũng được phái về làng để xây dựng cơ sở.

        Công việc trong những ngày đầu khá trót lọt. Đội dựa vào cơ sở mới được xây dựng lại, chia làm ba nhóm hoạt động trên một vệt dài mây bản liền nhau từ Chiềng Khương xuống Mường Sài. Trước tình hình đó, Lê Thanh cử người về đón Xích Vân. Nhưng chỉ mấy hôm sau có tin chẳng lành đưa về. hai đồng chí đi đón đồng chí Xích Vân bị địch phục kích bắn chết một. Địch đang tập trung kéo về Mường Sài càn quét. Khi đội vừa chuyển vào rừng thì địch càn đến. Địch bắt bở nhân dân, lùng rực, sục núi ráo tiết. Tất cả các đường dây liên lạc với cơ sở đều bị đứt. Cuộc càn phá dai dắng dồn đội vào thế bí. Đội Trung Dũng buộc phải rời Mường Sài sang một bản khác. Bản này toàn là người mắc bệnh hủi. Các đồng chí không quản bệnh tật vào từng nhà thăm hỏi đồng bào. Gặp bộ đội đồng bào vừa ngạc nhiên, vừa cảm động. Đội có thêm một cơ sở khá vững vàng nữa.

        Cuối năm, Liên khu 10 tổ chức hội nghị chuyên đề về vũ trang tuyên truyền trong vùng địch. Anh Văn Tiến Dũng thay mặt Bộ xuống dự hội nghị này. Những thiếu sót được chỉ ra chủ yếu là các đội thường nặng về tác chiến, coi nhẹ xây dựng cơ sở. Tổ chức một số đội còn nặng nề, cồng kềnh, chưa thích hợp với chiến trường Tây Bắc. Cán bộ và đội viên người địa phương còn quá ít. Ngoài ra tình độ công tác của các đội viên còn thấp. Anh em được huấn luyện chưa tốt. Tất cả chỉ có được một điều cơ bản là trung thành và tinh thần tận tụy. Những kinh nghiệm trên được đúc kết lại thành những nguyên tắc phổ biến cho các nơi học tập

*

*       *

        Đi liền với hoạt động của các đội vũ trang tuyên truyền là hoạt động của đại đội độc lập. Đại đội độc lập được rút ra từ các tiểu đoàn, trung đoàn tập trung. Đại đội độc lập có nhiệm vụ phát động chiến tranh nhân dân ở một khu vực nhất định. Khu vực đó rộng hay hẹp là tùy theo địa hình, mật độ dân số, vị trí chính trị, xã hội và tình hình địch ở khu vực đó.

        Về quân sự đại đội độc lập phải chịu trách nhiệm trước cấp ủy và chính quyền địa phương, cùng với dân quân du kích bảo vệ địa phương. Về chính trị, đại đội độc lập phải cung với các đoàn thể giáo dục nhân dân nhận rõ kẻ thù, có lòng tin vào khả năng của chiến tranh du kích, tiến tới tổ chức ra lực lượng vũ trang để tự vệ. Khi lực lượng vũ trang địa phương đã trưởng thành, dân quân đã tổ chức rộng khắp, du kích đã tác chiến có hiệu quả thì đại đội độc lập được tổ chức gọn nhẹ để di chuyển nhanh, phân tán nhanh và tập trung nhanh. Khi hoạt động ở vùng địch tạm chiếm, đại đội độc lập có nhiệm vụ đánh những trận tiêu diệt nhỏ, những đội tuần tiễu nhỏ, những đội vận tải tiếp tế của địch giữa các cứ điểm. hoạt động của các đại đội độc lập tạo điều kiện cho các đội du kích hoạt động trưởng thành, đồng thời tạo bàn đạp cho các trận đánh tiểu đoàn, trung đoàn tập trung. Về trang bị, hồi đó vũ khí rất thiếu. Về tư tưởng, phải chống quan niệm cho rằng trang bị của ta phải ngang hoặc hơn địch mới có hoạt động được. Sự thật dù ta có tập trung ưu tiên trang bị cho các đại đội độc lập thì hỏa lực của ta vẫn yếu hơn địch trên chiến trường. Mặt khác, phải đấu tranh chống khuynh hướng cho rằng trong vùng địch hậu rộng mênh mông mà tung các đại đội độc lập vào khác nào muối bỏ bể. Anh em không thấy nhiệm vụ của đại đội độc lập là xây dựng cơ sở để phát động chiến tranh nhân dân. Và chính sự tham gia của nhân dân sẽ quyết định sự thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường vùng sau lưng địch. Có đơn vị nặng về vũ trang ở biệt lập không được nhân dân che chở nên đã bị tổn thất nặng (Hoàng Su Phì). Ngược lại có đại đội khi cơ sở chính trị còn non đã vội vàng phát động đấu tranh nên khi địch càn quét đã không bảo vệ được cơ sở. Nhưng thực tế cuộc sống đã sàng lọc những biện pháp không thích hợp. Bên cạnh những đại đội độc lập còn những khuyết điểm ấu trĩ khó có thể tránh được trong bước ban đầu, chúng ta cũng có những đại đội đã sớm nắm vững chủ trương của Đảng như đại đội Kim Sơn.

        Đại đội Kim Sơn đã sớm giác ngộ được viên thống li người Mèo ở Trạm Tấu nên đã gây được nhiều cơ sở tốt ở vùng Bản Lìu, Bản Hát. Đại đội đã tổ chức được nhiều đội du kích đánh rất giỏi, tiêu biểu là đội du kích Cao Phạ. Đội du kích anh hùng này đã giữ vững căn cứ du kích trên núi Cao Phạ trong suốt tám năm kháng chiến chống Pháp. Đường liên lạc của địch từ Thàn Uyên đi Nghĩa Lộ thường xuyên bị cắt đứt. Đường từ Nghĩa Lộ đi Mù Cang Chải cũng bị uy hiếp. Có những gia đình cả hai anh em đều tham gia du kích và cùng chiến đấu hăng hái, bền bỉ, như hai anh em ông Giành Khố Kỉ. Trong lịch sử chiến đấu của đội có lần chín đội viên của đội bị địch bắt. Nhưng chín đôi viên ấy khi bị giải về Nghĩa Lộ đã lấy súng của địch trốn về đầy đủ. Không những thế, anh em còn mở cửa nhà giam cho một số đông nhân dân cùng trốn theo. Có lúc địch càn lớn, đại đội Kim Sơn hoạt động ở xa, toàn đội du kích Cao Phạ bị mất liên lạc với đảng bộ, bộ đội và chính quyền nhưng vẫn tuyệt đối trung thành, chiến đấu liên tục cho tới khi giải phóng hoàn toàn Tây Bắc.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #28 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 06:10:23 pm »


*

*       *

        Tiểu đoàn tập trung có nhiệm vụ đánh địch lấn chiếm ở vùng giáp ranh. Khi luồn sâu vào vùng sau lưng địch, địa bàn hoạt động của tiểu đoàn là những vùng mà đại đội độc lập và các đội vũ trang tuyên truyền đã xây dựng được căn cứ. Đối tượng tác chiến của tiểu đoàn là những cứ điểm nhỏ, những đội quân ứng chiến nhỏ. Một trong những tiểu đoàn tập trung tiêu biểu của Sơn La là tiểu đoàn 108 (sau đôi tên là tiểu đoàn 652).

        Từ những trận phục kích trên đường Đồn Vàng - Thu Cúc, tiểu đoàn đã tiến lên đánh nhiều trận vào thị trấn Thanh Thủy, đánh địch trong công sự kiên cố ở Suối Rút, Mỏ Hẽm, phục kích địch ở Yên Châu, Mộc Châu và đánh bại tiểu đoàn cơ động.

        Ngày mà trung đoàn 148 (danh hiệu mới của trung đoàn Sơn La) trở về đất cũ là ngày không thể quên được đối với chúng tôi. Lúc này anh Nguyễn Bàng làm trung đoàn trưởng. Nếu như trong những ngày đầu kháng chiến trung đoàn chỉ là sự tập hợp các tiểu đoàn bộ binh, đóng xa nhau, vũ khí thiếu, quân số, đa số bị sốt rét thì nay trung đoàn là một cơ thể thống nhất, dày dạn và mạnh hơn xưa.

        Trung đoàn trở lại Sơn La như trở về giữa những bà con thân thuộc. Những đội vũ trang tuyên truyền, những căn cứ du kích, những đại đội độc lập có đơn vị phần lớn là người địa phương. Tỉnh ủy, nhân dân Sơn La đã trưởng thành, ủy ban kháng chiến hành chính Sơn La và ban chỉ huy quân sự tỉnh, các huyện đội, xã đội đón trung đoàn như đón những đứa con đi xa trở về.

        Từ tập trung trung đoàn có tính chất hình thức rồi phân tán một số bộ phận đi làm nhiệm vụ theo yêu cầu của tình hình, nay tình thế đã chin muồi, trung đoàn lại tập trung, một sự tập trung đầy hiệu lực. Như những ngón tay nắm lại thành quả đấm trong lòng địch, trung đoàn thực sự trở thành nỗi khiếp sợ của kẻ thù và niềm tin của các dân tộc sơn La.

        Một phần thưởng đối với chúng tôi là cục diện chiến trường Tây Bắc đã thay đổi.

        Mùa xuân năm 1948, sau thất bại Việt Bắc, khi binh đoàn Com-muy-nan tơi tả rút lui trên sông Lô thì ở hướng nghi binh, binh đoàn Ta-bo cũng rút khỏi Đồn Vàng. Trên mặt trận Yên Bái, chủ lực ta đánh thắng ở Khánh Mộc. Đồng Bằng, đuổi địch từ bờ sông Thao vào Nghĩa Lộ. Như trên đã nói, lợi dụng thời cơ địch dẫn quân ra phía ngoài, phía trong bị sơ hở, theo chỉ thị của Tổng Quân ủy, từ tháng 12 năm 1947, các đội vũ trang tuyên truyền đã từ phía Phú Thọ tiến vào Mộc Châu, bắt liên lạc với tỉnh ủy Sơn La. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của tỉnh ủy, huyện Mộc Châu đã kiên trì trụ bám từ trước, được lực lượng vũ trang trợ lực đã lãnh đạo nhân dân vùng Mộc Hạ nổi lên phá tề, thành lập khu du kích. Tiếp đó các đại đội độc lập vào củng cố và mở rộng cơ sở vùng sau lưng địch, tiêu diệt và bức rút các đồn lẻ. Những đồn trên dưới một trung đội địch phải rút về tập trung thành các cứ điểm lớn. Đồng bào Sơn La sát cánh cùng bộ đội kháng chiến. Tính đến cuối mùa hè năm 1948, nghĩa là sau một năm Sơn La mất đất mất dân, chúng ta đã giải phóng được bảy phần mười huyện Mộc Châu, kiểm soát được 2.000 ki-lô-mét vuông, tiêu diệt và bức rút 40 đồn. Chính quyền Sơn - Lai (Sơn La, Lai Châu) được thành lập. Về quân sự, Sơn La đã có ban chỉ huy quân sự từ tỉnh, châu xuống tới xã. Quân địch trở nên lúng túng. Binh lính địch mất tinh thần. Lính dõng chỉ chờ ngày bị đánh là đào ngũ. Ảnh hướng chính trị cả cách mạng đã lan rộng ra khắp tỉnh và một phần ở Thượng Lào. Bộ mặt thật của kẻ thù dần lộ rõ. Nhân dân Sơn La ở vùng giải phóng rất phấn khởi, quyết tâm tham gia kháng chiến. Tình trạng tự ti, mặc cảm như trước đây đã giảm dần. Bôm mặt tinh thần của nhân dân đã thay đổi hẳn. Nhân dân trong vùng địch tam chiếm có nơi đã tự động nổi lên chống Pháp. Nhiều nơi nhân dân đã cử người đi đón cán bộ và bộ đội về để giải phóng quê hương. Cuối năm 1948 chúng ta đã lấy lại được trên 6.000 ki-lô-mét vuông, xây dựng được chính quyền trong bốn huyện. Những vị trí có ý nghĩa như Mộc Châu bị bao vây bốn mặt. Con đường tiếp tế duy nhất của địch là máy bay. Đường giao thông của địch từ Hòa Bình và Sơn La sang Thượng Lào bị gián đoạn. Điều cực kì quan trọng là chiến thuật cứ điểm nhỏ, đội ứng chiến nhỏ, một tổ chức của Pháp dùng để bình định ở Bắc Phi nay đã mất tác dụng ở Tây Bắc. Đội ứng chiến nhỏ đã bị tiêu diệt, cứ điểm nhỏ bị tiêu diệt hoặc bức rút. Có cứ điểm nhỏ do binh lính được giác ngộ đã nổi lên làm binh biến, giết bọn chỉ huy mang súng trở về với cách mạng. Mặc dù số quân chủ lực địch ở Sơn La còn đông gấp đôi ta, nhưng chúng ta vẫn nắm quyền chủ động. Bằng phương pháp vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung, tiến tới trung đoàn tập trung chúng tôi đã vừa tiêu diệt được địch, giành được dân vừa giải phóng được đất đai, càng đánh càng mạnh. Chỉ sau một năm, quyền chủ động đã về tay quân ta, nhược điểm của địch đã bộc lộ ngày càng rõ cả về chính trị và quân sự.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #29 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 06:13:14 pm »


        Về chính trị, khoảng đầu năm 1947, chúng còn lợi dựng non kém của nhân dân đưa ra chiêu bài “Xứ Thái tự trị”, nhưng cuối năm chúng phải dùng thủ đoạn bóc lột ngày một trắng trợn. Chúng bắt dân phải tập trung thóc lúa để chúng phát theo khẩu phần ăn hàng ngày. Từng bữa ăn, đồng bào phải lên đồn lãnh từng bơ gạo đổ vào nồi đã sẵn nước về nấu ăn. Chúng bắt dân nộp thuế ruộng, thuế nhà, thuế vơ chồng. Những hành động dã man ấy đã làm cho nhân dân căm ghét, chỉ chờ cơ hội là nổi lên chống lại. Như một mối lửa châm vào thùng thuốc súng, những đội vũ trang tuyên truyền đã nhen lên ngọn lửa đấu tranh của đồng bào các dân tộc Sơn La. Giặc Pháp từ chỗ lợi dụng được nhân dân, đem sức người, sức của Sơn La, Lai Châu để đánh chiếm Yên Bái, Lào Cai nay đã bị cô lập. Nhân dân các dân tộc ở Sơn La đã đứng hẳn về phía cách mạng.

        Đây là một thất bại căn bản của Pháp trên mặt trận Tây Bắc. Về hậu cần, do không nắm được dân, địch đã gặp khó khăn về vận tải, tiếp tế. Con đường duy nhất để tiếp tế là máy bay và sức người. Muốn tiếp tế bằng ô-tô, địch phải huy động một lực lượng rất lớn để giải tỏa giao thông. Ngay trong những cuộc hành quân đã được bảo vệ chu đáo, chúng cũng không được an toàn. Tiếp tế bằng máy bay thì máy bay chỉ có hạn không thể thỏa mãn được nhu cầu thường xuyên của các cứ điểm. Ở Mộc Châu do không đủ dù, Pháp phải dùng sọt đựng lương thực thực phẩm, cho máy bay bay thấp quăng xuống. Máy bay bay thấp lại dễ bị bắn rơi. Du kích ta ở trên cao có lần đã bằng một phát súng bắn hạ được máy bay vận tải địch.

        Cuối năm 1948, quân ta đập tan phòng tuyến sông Đà. Khu giải phóng từ Mộc Châu đã qua Mai Sơn, Yên Châu, Mường La vươn tới Thuận Châu. Nhân dân được phát động. Chính quyền cách mạng được thiết lập. Cuối năm đó, chấp hành chỉ thị của Bộ, theo phân công của Liên khu ủy 10, tôi đã theo con đường anh em ta mở sang miền Tây. Tôi và Hạnh, hai anh em lại trở về con đường mà hơn một năm trước, trung đoàn đã rút lui. Tại căn cứ của tỉnh ủy, tôi gặp lại anh Trần Quyết bí thư tỉnh ủy. Anh em gặp nhau tay bắt mặt mừng. Anh Quyết đang tổng kết phong trào cách mạng Sơn La. Làm việc xong các anh trong tỉnh ủy cho ăn cơm. Bữa cơm của tỉnh ủy hôm đó có ngô bung, có canh ốc nấu chua, lại thêm món thịt chuột rừng hun khí chấm với muối ót. Từ Mộc Châu, tôi đi theo hướng của đội xung phong Lào Bắc. Hồi đó theo thỏa thuận hai nước Việt - Lào, đội xung phong Lào Bắc được thành lập để phối hợp hành động giữa cách mạng hai nước. Trong đội có các đồng chí bạn Lào và quân tình nguyện Việt Nam. Trong số này có các đồng chí Lường Văn Cúc, Nguyễn Văn Tí. Chúng tôi đến Phùng Xạ, căn cứ du kích của các bạn Lào, được nhân dân đón chúng tôi như đón những người thân trong gia đình.

        Ngày nay mỗi khi nhớ lại những ngày đầu kháng chiến ở Sơn La, chúng tôi đều coi Sơn La là trường học đầu tiên trong cuộc đời phục vụ cách mạng, phục vụ quân đội của mình. Tại Sơn La chúng tôi đã bước đầu nếm trải thử thách nặng nề khi quân thù ồ ạt tiến công, đã được những bài học đầu tiên về phát động chiến tranh du kích và phát triển từ du kích chiến lên vận động chiến. Và cũng tại vùng rừng núi thân thương này, chúng tôi đã được nhân dân ủng hộ, tổ chức những chiến dịch tiến công Tây Bắc rồi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp ở Điện Biên Phủ.

        Tại Sơn La, cứ qua một năm chiến đấu, lòng tin vào sức mạnh của nhân dân trong chúng tôi lại càng sâu sắc. Chúng tội học cách phát động, cách tổ chức đồng bào các dân tộc ở một vùng rừng núi mà kẻ địch đã kìm kẹp, mệ hoặc lâu đời. Từ thực tế ở chiến trường Sơn La, cùng với các đồng chí trong cấp ủy đảng, chính quyền và dựa hẳn vào nhân dân, chúng tôi đã tìm được cách đánh thích hợp trong tình hình trang bị và so sánh lực lượng nghiêng hẳn về phía địch.

        Kế thừa những kinh nghiệm hoạt động bí mật của những người cộng sản tiền bối, những kinh nghiệm của các đội vũ trang cách mạng, nhất là đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, chúng tôi đã thực hiện có hiệu quả phương thức hoạt động vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung theo chỉ thị của Bộ. chính nhờ hoạt động kiên trì theo phương thức đó, đánh địch bằng cả chính trị, quân sự và binh vận, trung đoàn đã cùng nhân dân các dân tộc ở Tây Bắc thực hiện được tiêu diệt địch để giành quyền làm chủ và giành quyền làm chủ để tiêu diệt địch lớn hơn.

        Trong bước đi chập chững ban đầu để tìm tòi cách đánh, cách hoạt động, bí quyết giúp chúng tôi thành công là lòng tin không gì lay chuyển nổi vào sự lãnh đạo kháng chiến của Bác Hồ, Trung ương Đảng, tin tưởng vào sự tất thắng của cách mạng. Cùng với lòng tin là khát vọng nồng cháy của những người dân vừa thoát vòng nô lệ, chiến đấu cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM