Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:42:58 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Từ Đồng Quan đến Điện Biên  (Đọc 48087 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #30 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2016, 06:20:07 pm »


CHƯƠNG NĂM

NHỮNG CUỘC TẬP DƯỢT

        Đến tháng 9 năm 1949, Liên khu 10 đã tập trung được 27 đại đội độc lập trở về xây dựng các trung đoàn chủ lực. Phòng tuyến sông Đà của quân Pháp bị đập tan. Trên sông Hồng, sông Chảy, địch chỉ còn những vị trí cô lập. Ở vùng này địch cũng không còn cái hùng hổ ban đầu. Theo chỉ thị của Trung ương, Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch sông Thao. Tôi được trên chỉ định là Tư lệnh chiến dịch. Anh Cao Văn Khánh làm Phó tư lệnh. Nhanh nhẹn trong bộ quân phục xi-ta màu xám pha tía, với cặp mắt thông minh, nụ cười chân tình, cởi mở, ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên tôi đã có cảm tình với người cán bộ quân sự trí thức này. Cho tới khi về Bộ Tổng tham mưu, cùng nhau chiến đấu trong một số chiến dịch, cảm giác ban đầu đã không lừa dối tôi. Hồ đó, các văn nghệ sĩ có phong trào đi thực tế, đi vào công nông binh. Tôi đã gặp các nhà văn Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Trần Đăng, nhà thơ Tố Hữu cùng đi chiến dịch.

        Đối với tôi đây là chiến dịch đánh lớn đầu tiên. Gọi là chiến dịch, đánh tập trung, nhưng thực ra chỉ có hai tiểu đoàn bộ binh và một đại đội pháo. Chúng tôi phân công nhau, tôi chỉ huy chung và đi với hỏa lực, anh Cao Văn Khánh đi với tiểu đoàn đánh Đại Bục. Mục đích của chiến dịch là đập tan phòng tuyến sông Thao và tập dượt cho các tiểu đoàn chủ lực của Bộ đánh cứ điểm đồng thời góp phần phá âm mưu chính trị của địch trong việc đưa Bảo Đại về làm “quốc trưởng”.

        Tiểu đoàn bộ binh 54 có pháo binh phối hợp được giao nhiệm vụ tiêu diệt đồn Đại Bục. Tiểu đoàn 11 tiêu diệt đồn Đại Phác. Chỉ huy tiểu đoàn 54 là đồng chí Vũ Lăng. Tiểu đoàn 11 do đồng chí Vũ Yên chỉ huy. Vũ Yên với tôi là người quen biết cũ.

        Hồi đó một trận đánh có pháo yểm hộ, lại sử dụng tới hai tiểu đoàn chủ lực đã được xem là một trận đánh lớn. Pháo có khẩu mang từ Hà Nội lên, có khẩu lấy được của địch. Phần lớn không đủ máy ngắm, phải ngắm trực tiếp qua nòng. Phương tiện vận chuyển không có, chúng tôi phải tháo pháo ra thành từng bộ phận rồi xếp vào xe quệt do anh em vào rừng lấy gỗ tự đẽo lấy. Anh em mua một con trâu mộng chuyên kéo gỗ giá 500 đồng để kéo pháo. Có lúc đường trơn, dốc cao, con trâu gì cả bốn chân, cong đuôi kéo vẫn không nhuc nhích. Anh em lấy dây song buộc vào hai càng xe kéo phụ với trâu. Chiến dịch này chúng tôi được các anh trong tỉnh ủy Yên Bái điều động cho một số dân công. Do hành quân ban đêm nên có lúc chị em dân công đi lạc vào giữa hai sợi dây kéo pháo mà không biết. Anh em ta cứ mặc cho chị em đi. Tới khi xe đổ dốc, trâu thở phì phò sau lưng, chị em dân công giật mình. Anh em mới phá lên cười. Chị em dân công cũng đỏ mặt cười giòn. Những tiếng cươi trẻ trung vang cả một vùng rừng.

        Đồn Đại Bục có khoảng một trung đội cả Pháp lẫn ngụy đóng giữ. Cổng đồn treo một tấm biển đề “Biệt thự Hoa Hồng”. Các chiến sĩ nói với nhau: “Được! Để rồi xem đây là biệt thự nghỉ mát của chúng mày hay là hỏa ngục”. Cái “Biệt thự Hoa Hồng” này hình tam giác. Ba góc của tam giác là ba lô cốt bằng gỗ và đất. Mỗi cạnh của tam giác là một bức tường bằng đất nện. Phía ngoài bằng gỗ súc ken dày. Mặt tường có lỗ châu mai. Tường bao quanh đồn cũng là tường nhà của lính ở. Giữa đồn có một lô cốt ba tầng cao tới 7-8 mét. Trên lô cốt có một đại liên để khống chế hướng tiến công chủ yếu của quân ta. Quanh đồn có ba lớp rào tre đực vót nhọn cao hai mét.

        Theo kế hoạch, pháo sẽ yểm hộ cho Đại Bục đánh trước, Đại Phác sẽ nổ súng sau. Công binh sẽ mở cửa, bộ binh chia làm hai mũi tiến công trên hai hướng vào hai khu.

        Hồi đó chưa có thuốc nổ nên công binh phải mở cửa bằng dao, mã tấu, câu liêm và chăn tẩm xăng. Đặc biệt trận này, lần đầu tiên ta dúng súng phóng bom do kĩ sư Trần Đại Nghĩa thiết kế, công binh xưởng sản xuất. Bộ binh chủ yếu trang bị bằng mác xung kích… Tiểu liên có rất ít, chỉ những đồng chí có tinh thần chiến đấu cao, bắn giỏi mới được giữ tiểu liên. Một chiếc mũ nan, bộ quần áo nua túm ống, hai quả lựu đạn trong rọ tre, một lưỡi mác là hình ảnh của anh chiến sĩ bộ binh thời đó.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #31 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2016, 07:37:53 am »


        Buổi sáng ngày 19 tháng 5, tiểu đoàn 54 đã chiếm lĩnh xong trận địa. 12 giờ, địch cho một bộ phận sục sạo vào quả đồi có vị trí chỉ huy của tiểu đoàn… Vũ Lăng ra lệnh cho một bộ phận nhỏ đánh địch. Vị trí chỉ huy, trận địa hỏa lực tiểu đoàn vẫn giữ nguyên vị trí cũ. Quyết tâm gan góc này đã giữ được bí mật đến giờ nổ súng. Thấy vậy tôi ra lệnh pháo bắn. Lúc đó là 16 giờ 30. Phát đạn đầu tiên trúng đồn khu A. Trận địa cối lấy điểm chạm của pháo làm chuẩn đã phát hỏa tiếp theo. Tất cả các ổ súng trong đồn bị tê liệt. Một lát sau khẩu đại liên trên nóc lô cốt ba tầng điên cuồng nhả đạn. Công binh dùng mã tấu, câu liêm vẫn không phá được hàng rào. Sau phải dùng chăn trấn thủ tẩm xăng đốt hàng rào. Xung kích xách mác ào lên đạp đổ hàng rào đang cháy xông vào đồn. Tiểu đoàn trưởng ra lệnh nổ súng xung phong. Đây là cái trống đình mượn của dân mà anh đã công phu đưa lên trận địa từ đêm hôm trước. Thấy sự kháng cự của địch yếu ớt, tiểu đoàn trưởng tung thêm đội hai vào. Đại đội trưởng cho ba-dô-ka bắn vào lô cốt ba tầng. Hỏa điểm địch bị dập tắt. Xung kích bám theo cây tre ghép vào đường lô cốt leo lên. Đến tầng hai, anh em dùng lựu đạn thả vào trong lô cốt. Lối đánh gần dũng mãnh này làm cho quân địch khiếp đảm. Hỏa điểm bị dập tắt hoàn toàn. Xung kích kiệu nhau vượt rào, vượt tường nhảy vào đồn… Tên đồn trưởng bị bắt sống.

        Tiểu đoàn 54 đã tiêu diệt Đại Bục trong 30 phút. Trận đánh kết thúc,tiểu đoàn trưởng Vũ Lăng cùng các văn nghệ sĩ và cả tiểu đoàn vào đồn chụp một “pô” ảnh kỉ niệm trong đồn Đại Bục còn đang nghi ngút khói.

        Bên Đại Phác, tiểu đoàn trưởng Vũ Yên đã cho anh em bí mật chiếm lĩnh trận địa từ đêm hôm trước. Với kinh nghiệm Phủ Thông, anh em đã bí mật gỡ được 20 mét hàng rào.

        Đại Phác là sở chỉ huy tiểu khu của đch, tuy quân số có đông hơn nhưng rào chông, công sự cũng tương tự như Đại Bục. Hỏa lực của địch tuy mạnh nhưng tiểu đoàn đã có kinh nghiệm dùng hỏa lực của bản thân bịt từng lỗ châu mai. Trước tình hình đó, Vũ Yên hạ quyết tâm cứ nổ súng tiến công Đại Phác không cần chờ pháo phối hợp như kế hoạch đã định. Vũ Yên dẫn các đội trưởng ra sát đồn, phân công từng hỏa điểm, từng lỗ châu mai cho từng đơn vị. Trong khi đó các chi đội bàn cách thực hiện quan trọng mới: tiêu diệt Đại Phác bằng lực lượng bản thân tiểu đoàn. Mười phút sau khi Đại Bục tiến công, Đại Phác nổ súng. Nghe tiếng pháo nổ bên Đại Phác, biết Vũ Yên là một người táo bạo nhưng tôi vẫn băn khoăn. Liệu tiểu đoàn có giải quyết nhanh gọn được Đại Phác không? Không có pháo, tiểu đoàn sẽ khắc phục các hỏa điểm bằng cách nào? Không có điện thoại, vô tuyến điện lại càng không có, Đại Bục lúc đó cũng chưa giải quyết xong. Không thể rời vị trí chỉ huy trong lúc này được, tôi đành cử một phái viên đốc chiến đến chỗ Vũ Yên. Khi phái viên tới thì xung kích đã vào đồn. Thì ra sau khi dùng hỏa lực của bản thân tiểu đoàn bịt các lỗ châu mai, anh em đã dùng thang ván vượt rào vào đồn. Thang ván không đủ anh em đã công kênh nhau nhảy vào đồn. Tên quan hai chỉ huy đồn bị đâm chết tại chỗ. Các chiến sĩ chia thành các tổ nhỏ, đánh chíếm từng lô cốt. Ở khu B địch chống trả quyết liệt. Quân ta vẫn không phá được hàng rào. Tiểu đoàn trướng cho đổi hướng xung phong phối hợp với các mũi ở khu A đánh sang. Không kết quả. Các chiến sĩ lợi dụng trời tối, được ba-dô-ca bắn tập trung phối hợp, đã dùng vai khiêng chiếc cự mã quẳng sang một bên. Cửa vào khu B đã mở. Xung kích ào lên kết thúc trận đánh.

        Tiếp sau trận Đại Bục, Đại Phác, ngày 24 tháng 5, tiểu đoàn 54 tiến công vị trí Dóm nhưng không thành công. Từ ngày 3 đến 5 tháng 6, sau khi dùng địch vận không kết quả, bộ đội ta tiến công hai vị trí Phát và Phục Linh, nhưng cũng không diệt được hai vị trí này.

        Bị đòn đau ở Đại Bục, Đại Phác và bị bao vây uy hiếp nhiều nơi, Bộ chỉ huy pháp vội vã điều quân từ Lào Cai, Phong Thổ đến tăng cường cho các vị trí Dóm, Bảo Hà, Phát, Phục Linh, Than Uyên.

        Đợt hai “chiến dịch sông Thao” mở đường bằng trận đánh công kiên kéo dài 40 giờ từ ngày 24 đến ngày 26 tháng 6 của các tiểu đoàn 11, 54 và 79 do pháo binh, công binh phối hợp. Quân ta đã tiêu diệt cứ điểm chỉ huy phân khu Phố Ràng cùng các vị trí Khe Phìa, Ngòi Mác, Thôn Mã nằm bên tả ngạn sông Thao. Phân khu phố Ràng bị diệt, phòng tuyến sông Thao bị phá vỡ trên một quãng dài 30 ki-lô-mét từ Bảo Hà đến Bắc Cuông. Hai phân khu Đại phác, Gốc Lu bị uy hiếp. Đường liên lạc của địch giữa Bảo Hà với Lao Cai, giữa Bảo Hà với Nghĩa Lộ bị cắt đứt. Hoảng sợ trước nguy cơ bị bao vây tiêu diệt, địch tăng viên một tiểu đoàn cho Lao Cai, đóng thêm vị trí Phố Lu, tăng quân cho vị trí Phát, Bảo hà, đồng thời rút bỏ vị Phục Linh và Làng Nhược.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #32 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2016, 07:45:40 am »


        Ngày 16 tháng 7, hai tiểu đoàn 54 và 79, các đội pháo binh 301 và 307 tiến công đồn Dóm, làm chủ vị trí này sau hai giờ chiến đấu. Vị trí Dóm bị diệt kéo theo sự rút chạy của một loạt vị trí khác: Phát, Đông Bồ, Ca Vịnh, Sài Lương. Phòng tuyến sông Thao của địch bị vỡ thêm một mảng lớn từ Ba Khe đến Bảo hà, dài 70 ki-lô-mét.

        “Chiến dịch sông Thao” (từ ngày 19 tháng 5 đến ngày 18 tháng 7 năm 1949) kết thúc thắng lợi. Kết quả, ta đã tiêu diệt chín vị trí, bức rút địch bỏ 16 vị trí khác. Tuyến phòng thủ sông Thao, hành lang che chở hậu phương địch ở Tây Bắc bị phá từng mảng lớn. cơ sở chính trị, vũ trang của ta trong vùng địch tạm chiếm được mở rộng gồm 82 bản làng với 20.000 dân trên địa bàn rộng 6.000 ki-lô-mét vuông. Qua chiến dịch này, bộ đội chủ lực tiến bộ vượt bậc về chiến thuật diệt cứ điểm. Lần đầu tiên trong một chiến dịch, ta tiêu diệt hoàn toàn một tiểu khu của địch gồm nhiềum vị trí lớn, nhỏ, có công sự phòng ngự tương đối vững chắc.

        Chiến dịch sông Thao kết thúc. Anh em chúng tôi được tỉnh ủy Yên Bái chiêu đãi một bữa chè đường và món sắn luộc trong các chảo đường. Anh Trịnh Xuân Tiến tổ chức mít tinh mời tôi lên nói chuyện. Tôi xúc động nhìn đồng chí, đồng đội, đồng bào. Mọi người nước da còn tái xám vì sốt rét chưa hồi phục. Tôi bùi ngùi nhớ tới những đồng chí đã thầm lặng ngã xuống trong lòng địch vi bom đạn, vì sốt rét ác tính và cả vì đói ăn. Tất cả sự hi sinh cao quý, những tìm tòi, những sáng tạo về cách đánh đã tạo nên cục diện mở đầu tốt đẹp hôm nay.

        Tôi giới thiệu anh Cao Văn Khánh, giới thiệu các anh em văn nghệ sĩ tuy chưa được tập luyện như bộ đội những vẫn đi cùng xung kích tham gia chiến dịch. Tôi nói về mục đích của chiến dịch và báo cáo với đồng bào những kết quả chúng tôi đã thực hiện được. Chiến dịch sông Thao, một chiến dịch quy mô tuy nhỏ nhưng không có trận nào thất bại. Đó là bước phát triển tất yếu cho quân đội ta được tập dượt cơ động, tập đánh cứ điểm tương đối kiên cố bằng sử dụng lực lượng tập trung. Tôi nói những suy nghĩ của mình về con đường tiến lên của quân đội ta, của chủ lực ta, về sự cần thiết phải đẩy mạnh tác chiến du kích để tạo điều kiện cho chủ lực tuyên truyền đánh lớn ở những chiến trường quyết định.

        Đồng bào vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Anh Tiến thân thiết bắt tay tôi. Bất giác tôi thấy lành lạnh ở vế đùi. Chao ôi! Cái quần ka-ki cũ của tôi rách tự lúc nào. Thế nào tôi buông hai tay theo tư thế đứng nghiêm, cúi chào đồng bào.

        Ngày hôm sau tôi được lệnh lên Bộ họp. Chúng tôi đi xe đạp sang Thái Nguyên. Tại Đại Từ, một thị trấn khá sầm uất lúc đó thì chuyển sang đi ngựa để theo giao liên của Bộ vào khu an toàn - biệt danh của cơ quan Bộ. Ngựa chúng tôi phải đi nước kiệu men theo những hố phá đường ngang dọc. Đường đi càng hẹp. Khi tới chợ Chu, theo con đường ngựa thồ, qua nhiều khúc suối cắt ngang trong vắt. Rừng ngày một rậm. Xa xa là ngọn núi Hồng xanh ngắt. Dưới chân núi là cơ quan Bộ Tổng tư lệnh. Đi một thôi đường rừng thì đến một thung lũng nhỏ. Đây đó những cánh đồng lúa đang chín vàng. Những bản nhỏ rải rác trên những ngọn đồi thấp. Nhà nào cũng có vườn cây. Những đàn trâu mập mạp. những đàn vịt bầu nhởn nhơ trên mặt ao. Những chú lợn con trông như những quả dưa hấu biết chạy, tung tăng dưới những cây cau, cây bưởi. Bản nào cũng có những trạm gác máy bay. Thấp thoáng đã thấy những đường dây điện thoại, những trạm gác bí mật đầu các đường mòn.

        Từ không khí khẩn trương ở cơ quan chỉ huy chiến đấu trở về, chúng tôi cảm thấy khoan khoái, nhẹ nhõm trong không khí thanh bình, tin cậy của cơ quan chỉ dạo chiến lược. Cơ quan Bộ đặt ngay trong bản. Nơi làm việc là những ngôi nhà nứa xinh xắn gần bản. Những căn nhà mái nứa, vách nứa, bàn ghế cũng bằng nứa, những vật liệu rát dễ kiếm tại chỗ.

        Sáng hôm sau, chúng tôi báo cáo kết quả chiến dịch trước cơ quan Bộ. Nghe chúng tôi báo cáo có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thiếu tưởng Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái. Ngồi bên cạnh hai anh là một người da ngăm ngăm, cặp mắt sáng, thông minh, sâu thẳm, mái tóc đen nhánh trẻ trung. Anh Văn giới thiệu đó là anh Nguyễn Chí Thanh mới ở Đoàn thanh niên sang làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thay anh Văn Tiến Dũng xuống Khu 3, một chiến trường nóng bỏng nhất ở Bắc Bộ lúc đó. Tôi báo cáo vắn tắt diễn biến và kết quả chiến dịch, cả những khuyết điểm về chỉ huy của chúng tôi. Các anh trong Quân ủy rất chú ý những vấn đề về phản ứng của địch, cách phòng ngự, sự chống đỡ của chúng, những vấn đề về chỉ huy. Anh Văn rất chú ý đến tốc độ tiến công nhanh của tiểu đoàn 54 trong trận Đại Bục và cách tổ chức hỏa lực bản thân để kiềm chế hỏa lực địch của tiểu đoàn 11 trong trận Đại Phác. Tôi hiểu các anh muốn “nhân” những kinh nghiệm của hai trận đánh ra phạm vi toàn quốc để nhanh chóng đưa chủ lực ta tiến lên đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #33 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2016, 07:48:55 am »


        Sáng hôm sau tôi được các anh gọi lên giao nhiệm vụ mới. Tôi được bổ nhiệm là trung đoàn trưởng kiêm chính ủy trung đoàn 209 tức trung đoàn Sông Lô, chủ lực của Khu 10 nay thuộc Bộ. Cùng tham mưu gia cuộc họp hôm ấy có các anh Hoàng Sâm, tư lệnh Liên khu 3, anh Lê Chưởng mới ở Trị - Thiên ra. Anh nguyễn Chí Thanh, Phó bí thư Quân ủy chủ trì cuộc họp.

        Theo quyết định của Trung ương, Bộ quyết định mở chiến dịch mở thông đường từ Việt Bắc xuống Khu 3, vào Khu 4, đồng thời thu hút lực lượng địch đang tập trung càn quét vúng đồng bằng Bắc Bộ. Vùng mở chiến dịch được xác định là từ Hồi Xuân, Mai Hạ đến bắc Thanh Hóa. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm có trung đoàn 9 của Quân khu 4, trung đoàn 66 của Quân khu 3 và trung đoàn 209.

        Đây là các trung đoàn chủ lực cơ động của các quân khu, sau này sẽ là nòng cốt của các đại đoàn 320, 304, 32 và lực lượng cơ động chiến lược trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Chiến dịch mang mật danh Lê Lợi. Do phạm vị chiến dịch rộng, liên lạc lại khó khăn nên anh thanh phân công anh Hoàng Sâm làm tư lệnh trưởng phụ trách chỉ huy tác chiến từ Hồi Xuân lên Mai Hạ, tôi là phó tư lệnh đánh từ Chợ Bờ về suốt Rút. Hình thức tác chiến phải linh hoạt. Khi phân tán đánh du kích buộc địch phải căng lực lượng ra đối phó trên một phạm vi rộng, khi tập trung chủ lực mạnh đánh cứ điểm để diệt quân tiếp viện.

        Hồi đó đường từ Việt Bắc xuống Khu 3 bị địch phong tỏa rất gắt gao. Đường đi phải qua hai cứ điểm địch trên đường số 6, đoạn Dốc Bụt, lại phải đi qua một cánh đồng hoang lầy thụt. Biệt kích địch do tên Tây lùn chỉ huy thường mặc giả làm dân buôn, cũng áo nâu, nón lá, kẹp tiểu liên trong áo tơi đi phục.

        Trung đoàn 66 có pháo phối hợp đã nổ súng tiêu diệt đồn Đồng Bến, vị trí có một đại đội địch. Chiền ngày 25 tháng 11 trung đoàn 209 cùng một lúc tiến công Suốt Rút và Mỏ Hẽm nhằm nhử viên binh địch ra tiêu diệt. Cả hai trận đều không thành công. Đồn Suối Rút có bốn lô cốt và một hầm ngầm. Xung quanh tường là những hàng rào tre đan chéo cánh sẻ. Binh lực địch có khoảng một trung đội. Lực lượng tiến công của ta có tiểu đoàn 130, một quả đạn 94 li của công binh và hai khẩu súng phóng bom do quân giới ta tự chế tạo bằng ống tuýp xe lửa và hai bệ máy hỏng. Máy ngắm lại sơ sài. Liều thuốc phóng không đúng quy cách. Tất nhiên với súng ấy, đạn ấy thì sau khi hỏa lực bắn chuẩn bị, lô cốt địch vẫn còn nguyên vẹn và cửa mở vẫn chưa mở được. Các chiến sĩ dùng hỏa lực bản thân hiềm chế hỏa lực địch rồi dùng kéo cắt và câu liêm giật đổ hàng rào. Tốc độ tiến công bị chậm lại. Địch dùng hỏa lực bắn ra ác liệt.

        Ở sở chỉ huy, tôi rất sốt ruột vì không nắm được tình hình. Máy điện thoại liên lạc với trung đoàn lúc được lúc mất. Tôi lấy một tiểu đội cảnh vệ ra thẳng Mỏ Hẽm. Đang đi thấy một bóng đen đang lẩn. Đồng chí cảnh vệ bắn một phát súng chỉ thiên hô dừng lại. Thì ra là địch. Tên địch khai chúng phải rút vì đạn hết, lương ăn không còn. Biết địch bị bức rút nhưng sống chết chúng cũng không hể bỏ suối Rút, tôi ra lệnh cho anh Bàng trung đoàn phó tiếp tục bám Suối Rút. Nếu địch lên thì bao vây chặt, đồng thời tăng thêm lực lượng đánh viện ở Bưởi. Anh Bàng cho tiểu đoàn 156 tiếp tục bao vây Suối Rút, tiểu đoàn 166 bao vây Mỏ Hẽm và tiểu đoàn 145 đánh viện. Về tư tưởng phải xác định đánh viện là chính. Đồng thời tôi cũng cho người về báo cáo với anh Thanh cho phép tôi trực tiếp đi cùng anh em. Vì tình hình chỉ huy trong đánh vận động diễn biến rất nhanh, không đi sát, để bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch.

        Đúng như dự kiến của ta, địch cho một đại đội từ Hòa Bình theo đường sông lên tiếp viện. Hai trung đội địch vừa đổ bộ lên bãi cát trúng trận địa phục kích của ta bố trí bí mật trong bãi lau. Quân ta bất ngờ nổ súng đồng loạt. Toàn bộ quân địch bị diệt gọn. Không có viện binh, bọn địch ở Suối Rút, Mỏ Hẽm phải bỏ đồn tháo chạy. bọn này bị tiểu đoàn 166 bắt sống. Phần lớn tù binh là bọn lê dương da trắng mới ở Pháp sang. Sau trận này, tôi thấy nếu ta vừa đánh Tu Vũ vừa đánh viện trên đường số 6 và ven sông Đà thì không những không đủ lực lượng tiêu diệt Tu Vũ, mà lực lượng đánh viện lại quá mỏng. Trong tay không có lực lượng dự bị để tung ra khi có thời cơ đánh viện. Ra lệnh xong tôi nghĩ đến nhiệm vụ đánh Tu Vũ đã có trong kế hoạch của Bộ, nhưng tôi cho rằng khi trên giao nhiệm vụ đánh Tu Vũ cũng nhằm mục đích đập tan tuyến ngăn chặn của địch từ Việt Bắc xuống Khu 3, vào Khu 4. Nếu nhiệm vụ đó hoàn thành thì việc rút không đánh Tu Vũ để tập trung lực lượng đánh quân tiếp viện trên sông và trên đường số 6 cũng là một cách hoàn thành nhiệm vụ. Tôi điện báo cáo lên Bộ và xin chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #34 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2016, 07:52:05 am »


        Địch ở Suối Rút, Mỏ Hẽm buộc phải rút men theo hai quả núi cao hiểm trở đúng ý định của ta. Hai trung đội địch lọt vào trận địa phục kích. Một trung đội bị diệt gọn, một trung đội chạy thoát đóng bè định vượt sông. Qua sát thấy, tôi trực tiếp tổ chức đại đội dự bị 363 nhanh chóng vận động ra. Đại đội này đã tiêu diệt trung đội địch trong 20 phút.

        Chiến dịch Lê Lợi kết thúc thắng lợi. Bức tường địch ngăn chặn giữa Việt Bắc và Khu 3 bị đập tan. Toàn huyện Mai châu được giải phóng. Âm mưu lập “Xứ Mường tự trị” của địch bị phá sản. Chiều hôm đó tôi nhận được bức điện của Bộ biểu dương chủ trương bỏ không đánh Tu Vũ, khen ngợi đã chấp hành mệnh lệnh có sáng tạo. Sáng hôm sau, thăm anh em thương binh xong tôi đi gặp bọn tù binh. Bọn chúng phần lớn là lê dương da trắng. Tôi tìm trong bọn tù binh xem có thằng tây lùn không nhưng không thấy. Hỏi về tội ác của chúng trên đường số 6 thì tên nào cũng đổ tại làm theo mệnh lệnh. Một số tên có vẻ có học thức. Đồng bào đòi xử tội những tên lê dương. Tôi nghĩ đã xử chúng thì phải lập tòa án đàng hoàng. Tội ác phải được xử theo pháp luật. Tôi bàn với anh Lê Linh chủ nhiệm chính trị trung đoàn. Các anh trong ban chính trị trung đoàn. Các anh trong ban chính trị chọn một ngôi nhà sàn lớn ven sông Đà để thiết lập tòa án. Bên kia sông là Diềm, căn cứ để lập “Xứ Mường tự trị” của bọn Pháp.

        Tòa án được tài chính có chánh án, thẩm phán, thư kí. Bọn tù binh bị đưa ra xử rất sợ. Vốn ;quen với nếp sống của pháp luật tư sản, chúng hiểu rằng không thể hi vọng vào sự khoan hồng của một toàn án quân sự xét xử trong chiến tranh. Từng tên được gọi ra khai trước tòa về họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, nghề nghiệp, ngày sang Việt Nam, đã đánh bao nhiêu trận, giết bao nhiêu người, đốt bao nhiều nhà, hãm hiếp bao nhiêu phụ nữ? Những tên bị hỏi cung mặt xám như chàm đổ. Có tên sợ quá đứng không vững. có tên xin tha tội chết vì sắp đến hạn về nước. Tới khi tuyên án thì tất cả vì sửng sốt vì không có tên nào bị xử bắn. Trên cương vị chánh án toàn án quân sự, tôi kết tội bọn phản động trong giới cầm quyền Pháp là tội phạm chính trong cuộc chiến tranh ăn cướp này. Tất cả bọn tù binh đều bàng hoàng, xúc động vì sự khoan hồng mà chúng không thể hình dung nổi.

        Dường như những gì thuộc trong phạm trù văn minh, đạo đức, những giá trị tinh thần đối với bọn chuyên đốt nhà, hiếp dâm này đều là không thể hiểu được. Từ bàng hoảng chuyển sang mừng rỡ, có tên xin vào bộ đội ta để lập công chuộc tội.

        Từ chiến dịch sông Thao đến chiến dịch sống Đà chủ lực ta đã có bước trưởng thành rõ rệt. trong điều kiện bốn bề bị địch bao vây, trang bị thiếu thốn, chính quyền vừa giành được đã bước vào cuộc chiến tranh đánh một kẻ thù được trang bị mạnh hơn, huấn luyện tốt hơn, Đảng ta đã vận dụng nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lê-nin về chiến tranh và quân đội vào thực tiễn Việt Nam. Trong những ngày đầu ta đã kiên quyết kiên trì dùng đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập đi đôi với tiểu đoàn tập trung để phát động và tổ chức nhân dân nhất tề đứng dậy đánh quân thù. Khi cơ sở chính trị trong nhân dân được khôi phục củng cố vững chắc, khi lực lượng vũ trang đã trưởng thành có thể đảm đương được nhiệm vụ đánh giặc, bảo vệ địa phương, theo chủ trương của Bộ, ta kiên quyết tập trung các đại đội độc lập và tiểu đoàn tập trung hoạt động phân tán ở các địa phương về xây dựng bộ đội chủ lực. Xây dựng bộ đội chủ lực được coi là công tác trọng tâm của quân đội ta lúc bấy giờ. Xây dựng bộ đội chủ lực, chúng tôi đã quán triệt tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ bảy là khi tập trung chủ lực không được coi nhẹ lực lượng vũ trang địa phương và phải xây dựng cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích càng lớn mạnh.

        Trên địa bàn hoạt động của mình, chúng tôi đã thực hiện Nghị quyết Trung ương tương đối tốt. Khi các đại đội độc lập và tiểu đoàn tập trung rút đi, lực lượng vũ trang địa phương ở cơ sở đã đảm nhiệm được nhiệm vụ tác chiến, tiếp tục phát động chiến tranh du kích ở địa phương. Để cả ba lực lượng cùng trưởng thành lớn mạnh, cái cốt lõi của sự thành công vẫn là vai trò của đồng bào các dân tộc, cơ sở chính trị phải mạnh, phát động được toàn dân tham gia kháng chiến. Đó chính là nét độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

        Với những thành công đó, chúng tôi đã tham gia hai chiến dịch đầu tiên của quân đội ta. Qua mỗi chiến dịch tuy lực lượng chỉ có vài tiểu đoàn, trung đoàn nhưng quá trình diễn biến chiến dịch là quá trình rèn luyện, thử thách đối với người chỉ huy. “Quân lệnh như sơn”, người chỉ huy phải nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh của trên nhưng không cứng đờ và phải có sáng tạo. Tôi quyết định rút, không đánh Tu Vũ để tập trung đánh viện vẫn hoàn thành nhiệm vụ của chiến dịch, được bộ biểu dương là trường hợp ấy. Qua thử thách trong thực tiễn chiến đấu, chiến dịch, được Đảng giáo dục, cấp trên chỉ bảo, tôi thấy mình từng bước trưởng thành theo sự trưởng thành chung của quân đội.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #35 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:35:39 am »

         
CHƯƠNG SÁU

TỰ VƯỢT MÌNH

        Tiếp sau chiến dịch Lê Lợi, đầu năm 1950, Bộ quyết định mở chiến dịch Lê Hồng Phong. Trung đoàn 165 chủ lực Liên khu 10 và trung đoàn 102 chủ lực Bộ đã tiêu diệt và bức rút nhiều đồn địch, quét sạch những cứ điểm còn sót lại trên phòng tuyến sông Thao, giải phóng một khu vực rộng lớn hàng trăm ki-lô-mét vuông cùng hàng vạn dân. Trung đoàn 102 diệt cứ điểm Phố Lu có hai đại đội địch. Đây là cứ điểm lớn đầu tiên mà chúng ta học đánh tập trung trung đoàn. Tháng 5 năm 1950, trung đoàn 174 lại bất ngờ tiến công tiêu diệt gọm cứ điểm Đông Khê có trên hai đại đội địch trong công sự kiên cố. Năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp tuy còn nhiều khó khăn nhưng đang trên đà phát triển thuận lợi.

        Tháng 1 năm 1950 toàn quân ta sung sướng chào đón một sự kiện lịch sử quan trọng: hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng. Về nhiệm vụ quân sự cần kíp, hội nghị nêu rõ: “Một mặt chiến đấu đết sinh lực địch, một mặt gấp rút bồi dưỡng và xây dựng quân đội nhân dân, xây dựng bộ đội chủ lực hợp với khả năng và tình thế mới”. Báo cáo quân sự của Trung ương nhấn mạnh: “Xây dựng một quân đội nhân dân ngày càng tinh nhuệ, ngày càng chính quy hóa, trung thành với lợi ích của nhân dân và lợi ích cách mạng”.

        Chúng tôi coi những nghị quyết của Đảng như những cột mốc trên chặng đường mình đi. Nghị quyết của Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống. Hàng nghìn cán bộ cao cấp, trung cấp, sơ cấp của đảng được điều vào tăng cường cho quân đội. Bộ Tổng tư lệnh nhanh chóng được kiện toàn để trở thành cơ quan chỉ huy các quân khu, các binh đoàn chủ lực. Bộ Tổng tư lệnh có ba bộ phận: Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị và Tổng cục Hậu cần. Ở dưới đơn vị lần đầu tiên chủ lực ta được thống nhất biên chế, thống nhất trang bị. Đây là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng để huấn luyện, đến kĩ thuật, chiến thuật và chỉ huy chiến đấu. Trang bị của bộ binh ta từ chỗ mác búp đa, dao tông tiến lên có súng trường rồi tiểu liên nhiều loại, nhiều kiểu. Nay được trang bị súng trường 7,9 mi-li-mét, lại có súng cối 82, pháo 75. Và không phải có vài khẩu mà là cả một trung đoàn pháo. Về kĩ thuật, môn thuốc nổ và công sự được nâng lên thành những kĩ thuật lớn bắt buộc phải học. Về hậu cần, đáng kể là có một đại đội ô-tô 60 chiếc.

        Trước đây, khi tiến công cứ điểm, thuốc nổ chỉ dùng ở quy nmô nhỏ và thường là để phá cầu. Nay thuốc nổ được dùng rộng rãi. Từ gói thuốc nổ đánh bộ binh địch ở gần (thủ pháo) đến bộc phá ống phá hàng rào, bộc phá khối phá lô cốt, đánh hầm ngầm. Cách dùng thuốc nổ một cách phổ biến vào với trang bị vũ khí được tăng cường đã dấn đến sự thay đổi về chiến thuật và biên chế.Trong đội hình chiến đấu của các đại đội bộ binh có trang bị bộc phá, tiểu đội bộc phá. Tốc độ mở cửa nhanh hơn. Hiệu quả chiến đấu của bộ binh trong đánh gần được nâng lên rõ rệt.

        Trang bị vũ khí được tăng cường của bộ binh đặt ra cho người chỉ huy những vấn đề mới. Trước đây khi chỉ có vài khẩu tiểu liên, một ít súng trường, còn toàn là mác xung kích, người đại đội trưởng có thể xách súng xông lên chiến đấu như một chiến binh. Nhưng khi đại đội được trang bị tiểu liên, súng trường, trung liên, khi đó có pháo 75 và cối 82 yểm hộ từ lúc đột phá cho đến khi đánh tung thâm, người chỉ huy phải tính toán đền hiệp đồng giữa xung lực và hỏa lực, thời cơ xung phong sau khi hỏa lực đã làm tê liệt hỏa lực địch, khi bộc phá đã mở thông cửa mở và pháo 75 đã chuyển sang mục tiêu khác. Những phương tiện, trang bị một mặt giúp cho người chỉ huy có thêm sức mạnh nhưng mặt khác, cũng đòi hỏi người chỉ huy phỉ có một trình độ thích ứng mới có thể chỉ huy chiến đấu thắng lợi.

        Đầu năm 1950, giữa lúc công tác đang bề bộn, cấp trên điều anh Trần Độ, trưởng phòng tuyên truyền về làm chính ủy trung đoàn Sông Lô. Tôi rất mừng.

        Mùa hè năm 1950, các đơn vị tổ chức huấn luyện quân sự và chính trị. Về quân sự, chúng tôi tổng kết rút kinh nghiệm những trận đánh thành công và thất bại từ trận Phủ Thông đến trận đánh mới nhất là Phố Lu. Những kinh nghiệm của từng trận đánh trên từng chiến thuật được đúc kết thành nguyên tắc như chiến thuật đánh gần, đánh điểm diệt viện, tập trung binh hỏa lực, chiến đấu hiệp đồng.

        Về chính trị, chúng tôi học tình hình và nhiệm vụ mới, những vấn đề cơ bản của một quân đội kiểu mới như vai trò Đảng lãnh đạo quân đội, bản chất quân đội nhân dân, vai trò công tác đảng - công tác chính trị. Chi bộ Đảng được củng cố vững mạnh. Trong lúc đơn vị tiến hành cuộc chỉnh huấn thì chúng tôi, những cán bộ quân sự đi chuẩn bị chiến trường.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #36 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:37:55 am »


        Tháng 10 năm 1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời. Biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam trở thành biên giới hữu nghị. Tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng quyết định mởi chiến dịch vùng biên giới phía Bắc.

        Ở biên giới phía bắc địch chia thành hai khu: “Khu độc lập” Tây Bắc và “liên khu biên giới” ở Đông Bắc. Ở Tây Bắc địch có sáu tiểu đoàn. Đồng Bắc có 11 tiểu đoàn và chín đại đội, trong đó có bốn tiểu đoàn Âu Phi làm lực lượng cơ động. Ở Đông Bắc được sự giúp đỡ của Mĩ, Pháp đã củng cố vùng này thành một phòng tuyến mạnh. Lực lượng được tăng cường, công sự được cải tiến. Các cứ điểm nhỏ được xây dựng thành cụm cứ điểm tương đối vững chắc có lực lượng từ hai đại đội đến một hai tiểu đoàn.

        Tháng 7 năm 1950, sau khi cân nhắc hướng mở chiến dịch, Trung ương chọn Đông Bắc là hướng chính, Tây Bắc là hướng nghi binh. Chiến dịch mang mật danh Lê Hồng Phong 2. Ở Tây Bắc, sau khi đánh xông Phố Lu chúng ta vẫn để lại một bộ phận chủ lực làm như chuẩn bị tiến công Lào Cai. Đánh vào Đông Bắc chúng ta có điều kiện tiêu diệt sinh lực địch lớn hơn, sẽ giải phóng một vùng đất đai quan trọng. Những điều kiện để bảo đảm chắc thắng là địch bị bất ngờ, đường sá chúng ta có thể dựa vào mạng lưới giao thông của địch để triển khai binh hỏa lực. Địch tuy mạnh ở từng mục tiêu nhưng nhìn chung trên toàn tuyến chúng dễ bị chia cắt.

        Ngày 25 tháng 7 năm 1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định thành lập Đảng ủy mặt trận do đồng chí Võ Nguyên Giáp, Ủy viên thường vụ Trung ương Đảng làm bí thư, trực tiếp lãnh đạo các lực lượng quân, dân, chính thực hiện mục đích chiến dịch. Bộ chỉ huy chiến dịch do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp phụ trách. Đồng chí Tổng tư lệnh là Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy.

        Trong lúc “ở nhà” bộ đội làm công tác chuẩn bị, những cán bộ quân sự chúng tôi phấn khởi lên đường đi chuẩn bị chiến trường. Lúc đầu chúng ta dự định đánh Cao Bằng nhưng sau khi đi trinh sát thực địa, thấy Cao Bằng là nơi địch mạnh nhất trên tuyến phòng thủ, lại là nơi đông dân cư nên chúng ta chọn Đông Khê làm trận mở màn chiến dịch. Đánh Đông Khê chung ta vừa tránh được chỗ cứng lại vừa cắt đứt được tuyến phòng thủ của địch, buộc địch phải đưa quân viện lên để ta đánh viện. Đánh Đông Khê vừa buộc địch phải rút khỏi Cao Bằng, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho ta tập trung tiêu diệt địch ở ngoài công sự. Trung đoàn 209 và trung đoàn 174, hai trung đoàn mạnh trực thuộc Bộ có nhiệm vụ tiêu diệt đông Khê. Đại đoàn 308 được dành riêng để tiêu diệt quan viện từ Thất Khê lên hoặc từ Cao Bằng về. Chỉ riêng việc lựa chọn hướng chiến dịch và sử dụng lực lượng, chúng tôi đã học tập được nhiều điều mới mẻ. Tại cuộc họp để nhận mệnh lệnh, tôi đã được gặp những đồng chí bấy lâu nghe tiếng nhưng chưa thấy mặt, những trung đoàn trưởng và chính ủy các trung đoàn chủ lực trực thuộc Bộ. Các đồng chí Chu Huy Mân, Đặng Văn Việt ở trung đoàn Cao Bắc Lạng, Vương Thừa Vũ đại đoàn trưởng đại đoàn 308, các đồng chí pháo binh, công binh, thông tin và các đồng chí chủ trì các cục của Bộ Tổng tham mưu.

        Chúng tôi đã ít nhiều quen biết nhau từ những ngày đầu đất nước bước vào cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp xâm lược Pháp. Đứng trước tấm bản đồ toàn tuyến phòng thủ của địch trên biên giới phía bắc và cứ điểm Đông Khê, chúng tôi thấy trách nhiệm của mình trước yêu cầu mới của giai đoạn chiến lược mới. Từ đồng chí Tổng tư lệnh đến chúng tôi, những người chỉ huy ở cấp chiến thuật và các chiến sĩ, tất cả đang vượt qua trình độ của mình để vươn tới trình độ mới. Nếu như trận Phố Lu vừa tiêu diệt một cứ điểm hai đại đội địch phải mất sáu ngày đã là một kì công thì trong những trận đánh sắp tới, chúng ta phải tiến công tiêu diệt từng binh đoàn lớn của địch trong một thời gian tương đối ngắn hơn và một không gian lớn hơn rất nhiều. Những kinh nghiệm của Phủ Thông, Đại Bục, Đại Phác, Phố Lu chỉ cách đây vài tháng còn giữ nguyên giá trị thì ngày nay đứng trước nhiệm vụ mới, trước những mục tiêu tiến công mới không còn hoàn toàn phù hợp. Phải phát huy những kinh nghiệm cũ đồng thời phải vươn tới những kinh nghiệm mới về chiến dịch, chiến thuật, về tổ chức và chỉ huy chiến đấu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #37 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:38:29 am »


        Và thật là một niềm vui và vinh dự lớn: Bác Hồ đến thăm chúng tôi! Tin Bác Hồ đi chiến dịch chúng tôi ít nhiêu cũng biết. Ai cũng tưởng Bác đã ở tuổi 60, vừa tuổi cao, địa hình hiểm trở Bác sẽ ở địa điểm nào đó thật an toàn. Cho nên khi được thông báo Bác đến, chúng tôi vui mừng đến sững sờ. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh - Bác Hồ, người mà ngay đến tên gội cũng làm kẻ thù khiếp sợ và nhân dân thì rất mực tin yêu. Người giản dị làm sao, trong sáng làm sao! Sự giản dị của Bác khiến ta thấy thật dễ gần gũi, như con với cha. Bác với quân phục màu xanh lá cây như mọi chiến sĩ khác. Sự trong sáng của Bác thể hiện trên đôi mắt tinh anh, trên gương mặt thanh tú, hơi gầy, có chòm râu thưa và nụ cười cởi mở. Khi giao nhiệm vụ, Bác lại là một thống soái có quyết tâm rất cao và sự lạc quan của một người chỉ huy hiểu rõ kẻ thù và nắm chắc phần thắng trong tay. Sức truyền cảm của những lời Bác nói sao mà mạnh mẽ: “Chiến dịch Cao Bắc Lạng rất quan trọng. Các chú chỉ được đánh thắng mà không được đánh thua. Phái có quyết tâm rất cao, có tinh thần dũng cảm một trăm phần trăm”.

        Từ nhiệm vụ được giao, với lời Bác trong tim, chúng tôi đi trinh sát thực địa đồn Đông Khê.

        Mệnh lệnh số 1 của Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ định anh Hoàng Văn Thái làm chỉ huy trưởng và tôi làm chỉ huy phó trận tiến công cụm cứ điểm Đông Khê. Các trung đoàn bộ binh 174, 209, 36, các tiểu đoàn 11, 426 và lực lượng pháo binh có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở Đông Khê. Chuẩn bị chiến trường để tiêu diệt một cụm cứ điểm mạnh, tiếp đó lại đánh viện quy mô lớn không thể làm như trước đây. Chúng tôi phải quan sát toàn bộ cụm cứ điểm để hiểu rõ ý đồ phòng ngự của địch. Những chỗ mạnh của địch ta cần khống chế. Những chỗ yếu ta có thể lợi dụng. Hướng tiến công của ta, điểm đột phá ở hàng rào, mở cửa, giữa bộ binh và pháo binh, vị trí xuất phát tiến công, vị trí xuất phát xung phong đều phải được nghiên cứu xác định kĩ lưỡng. Hàng ngày chúng tôi leo lên núi Nà Rịa cách Đông Khê 800 mét để quan sát, ban đêm bò vào sát hàng rào để xây dựng kế hoạch tác chiến và tổ chức hiệp đồng tại thực địa. Các cán bộ tiểu đoàn Hoàng Cầm, Tuấn Khanh, Thăng Bình… rất xông xáo trong khi đi trinh sát. Nhiều lần chúng tôi đã vào cách địch chỉ vài trăm mét, có thể nhìn rõ những khuôn mặt đỏ au của bọn lính lê dương. Một hôm sau khI đi trinh sát xong, chúng tôi vào khu rừng lê ở dưới chân núi Nà Rịa. Đang mùa lê chín. Mùi thơm ngọt ngào, thanh khiết của rừng lê làm dịu hẳn thần kinh đang căng thẳng. Anh em đang trèo hái lê thò có tiếng súng tiểu liên nổ dồn dập, có tiếng Tây xì xồ. Tôi ra lệnh cấm không được nổ súng. Tiếng giày đinh giẫm lên cành cây rào rào. Như vậy là địch vẫn chưa phát hiện được ta. Tôi ra lệnh cho đoàn cán bộ cắt rừng về, anh em trinh sát đi sau bảo vệ. Đoàn cán bộ rút an toàn. Tối hôm đó anh em lại tiếp cận những khu vực mà ban ngày đã quan sát được. Kế hoạch tác chiến lần đầu được hình thành từ tổ ba người đến tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, rồi trung đoàn. Quyết tâm chiến đấu của Ban chỉ huy Đông Khê được quán triệt tới từng người. Nhưng kế hoạch đã không tính đầy đủ đến sự hiệp đồng với pháo binh, những tình huống trong tung thâm. Khi nổ súng, chúng tôi đã phải trả giá cho sự thiếu sót đó.

        Theo kế hoạch, trạm liên lạc của Ban chỉ huy chiến dịch ở Nà Lạn và căn cứ hậu phương ở Tà Lùng. Trung đoàn 209 và pháo phối thuộc sẽ xuất phát ở An Hi từ ngày 10 tháng 9 năm 1950 theo đường Nam Đàn, Lũng Luông, Phục Hòa, Pắc Nậm tập kết tại Bản Vềnh. Theo kế hoạch, mở sáng ngày 16 khi thấy rõ mục tiêu tiến công, trung đoàn sẽ nổ súng tiêu diệt đồn Pò Hầu, đồn Pò Đình, chiếm lĩnh hai mục tiêu ngoài đồng thời phái một bộ phận khống chế địch ở Khâu Áng. Trong khi trung đoàn 174 tiến công Cạm Phầy, Đồn To - mục tiêu chủ yếu trong tung thâm, thì trung đoàn 209 tiến công vào Phủ Thiên, Kí Sầu, Nha Cũ. Làm xong nhiệm vụ sẽ quay lại diệ địch ở Khâu Áng Tóm lại, phạm vi tiến công của trung đoàn 174 ở hướng chủ yếu là tây-nam Phìa Khóa đánh vào Đồn To, vòng lên Nhà Thương theo hướng tây-bắc. Trung đoàn 209 tiến công hướng đông nam, nam và tây-nam.

        Ngày 14 tháng 9 trung đoàn 209 đến bản Vênh, cách phía đông Đông Khê chín ki-lô-mét. Mệnh lệnh số 3 quyết định tôi trực tiếp chỉ huy mặt tây-nam.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #38 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:43:55 am »


        Sáu giờ sáng ngày 16 tháng 9 trời đầy mây mù. Pháo chưa chiếm xong trận địa vì đường hành quân khó khăn lại lạc đường. Trung đoàn 209 chưa chiếm lĩnh xong trận địa, trung đoàn 174 vẫn được lệnh nổ súng. 10 giờ, trung đoàn đã diệt xong địch ở Phìa Khóa, Cạm Phầy, chuẩn bị tiến công lên Đồn To, nhưng không thành công. Ở hướng trung đoàn 209, mặc dù nổ súng sau, lại không có pháo phối hợp như kế hoạch, trung đoàn vẫn tiến công tiêu diệt Pò Hẩu, Pò Đình rồi dùng lựu đạn chiến đấu đến 23 giờ, trung đoàn chiếm được phủ Thiện và toàn bộ khu phố Đông Khê. Khi đó Đồn To vẫn chưa giải quyết được. Trung đoàn nhận được lện mở một mũi tiến công phối hợp. Gần sáng phải tạm ngừng vì hàng rào chưa mở xong. Do không phối hợp giữa hướng chính và hướng phụ về giờ nổ súng, lại chưa chuẩn bị đầy đủ để tiến công lên Đòn To nên cuộc tiến công phải dừng lại. Một bộ phận rút ra bao vây để rút kinh nghiệm và tổ chức đánh tiếp. Khi rút ra địch bắn theo ta một số bị thương vong.

        Sáng hôm sau tôi xuống Pò Đình gặp các đồng chí Hoàng Cầm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 130, đồng chí Thăng Bình tiểu đoàn phó và đồng chí Tạ Đình Hiểu chính trị viên. Nhìn các đồng chí tôi biết anh em rất xúc động vì lần đầu tiên đơn vị bị thương vong nhiều mà nhiệm vụ lại chưa hoàn thành. Tôi cũng hết sức xúc động khi nhìn thấy những chiếc cáng thương binh, tử sĩ đi qua trước mặt. Có đồng chí chân bị gãy cứ nhất định đòi ở lại chiến đấu để giải phóng bằng được Đông Khê. Trong cuộc họp cán bộ, tôi nhắc lại ý nghĩa của trận tiêu diệt Đông Khê trong chiến dịch Biên Giới. Nếu không tiêu diệt được Đông Khê thi điều kiện để đánh viện cũng không có. Cái cần thiết trước mắt là là nhanh chóng chấn chỉnh lại bộ đội, bổ sung trang bị, rút kinh nghiệm kịp thời để đột phá nhanh, xung phong liên tục. Đó là cách trả thù thiết thực cho những đồng chí bị hi sinh.

        Khi nhắc đến nhiệm vụ chiến đấu chưa hoàn thành, anh em tự trấn tĩnh và tổ chức rút kinh nghiệm tại chỗ. Chúng tôi cử người xuống chi bộ chủ công của tiểu đoàn 130 cổ vũ, động viên các đảng viên giải quyết những vướng mắc về tư tưởng. Đêm hôm đó dưới sự chỉ huy của đồng chí trung đoàn phó Nguyễn Bàng, tiểu đoàn 130 đã chiếm xong nhà Phủ Thiện và tiến công lên Đồn To. Lần này bộc phá khá liên tục nhưng do tổ chức hỏa lực kiềm chế lô cốt đầu cầu chưa chặt chẽ, lại không kiểm tra trước khi ra lệnh xung phong nên khi quân ta xung phong thì lô cốt này bắn ra dữ dội. Đội đột kích 1 phải dừng lại. Pháo địch trong cứ điểm bắn vào cửa mở. Pháo dứt, bọn địch ở hầm ngầm xông ra phản kích bọn này bị tiêu diệt nhanh chóng. Đại đội trưởng Trần Cừ đã anh dũng hi sinh trước lô cốt địch. Sự dũng cảm, gương mẫu của người chỉ huy đã có sức mạnh cổ vũ các chiến sĩ. Các chiến sĩ nhanh chóng lao lên dùng lựu đạn, thủ pháo tiêu diệt các lô cốt còn lại. Anh em đã bắt liên lạc được với trung đoàn 174. Nhưng địch ở hầm ngầm vẫn cố thủ. Đã đến lúc dùng đội dự bị. tôi ra lệnh cho tiểu đoàn 156 bước vào chiến đấu. Tiểu đoàn đã dùng khối bộc phá 70 ki-lô-gam đánh vào hầm ngầm. Tên A-li-úc chỉ huy Đông Khê xin hàng. Trung đoàn được lệnh chiếm Đông Khê để tạo điều kiện cho đại đoàn 308 đánh viện. Hai giờ đêm ngày 17 tháng 9, chúng tôi nhận được lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch: trong ngày 17 tháng 9 phải ngụy trang thị trấn Đông Khê, coi như thị trấn chưa bị tiêu diệt để bị máy bay địch oanh tạc và để dụ địch tăng viện Các đơn vị đã đánh Đông Khê phải bố trí sẵn sàng để tiêu diệt quân nhảy dù.

        Sáng ra anh em dẫn A-li-úc đi qua. Bắt gặp cái nhìn gay gắt của tôi. A-lu-úc lắp bắp: “Trong cuộc đời chiến đấu của mình, chưa bao giờ chúng tôi gặp một đối phương dũng cảm như vậy! Sự dũng cảm kì diệu!”. Tôi hiểu tên chỉ huy lê dương này nói thật. Nhưng hắn không thể nào hiếu nổi tinh thần dũng cảm tuyệt với của quân đội cách mạng. Vẫn quen với nếp chỉ huy của đội quân nhà nghề, coi người lính dưới quyền là một công cụ, hắn không thể nào hiểu được quan hệ giữa người lính và người chỉ huy của quân đội cách mạng. Khi vào trận người chiến sĩ và người chỉ huy là một. Lúc bình thường họ thân thiết với nhau như anh em. Khi bàn bạc thực hiện nhiệm vụ họ tôn trọng lẫn nhau, cùng nhau chia ngọt xẻ bùi, sống chết có nhau. Và cách đánh, hắn lại càng không hiểu sự khác nhau căn bản giữa tư tưởng cách mạng tiến công của quân đội cách mạng với chiến thuật phòng ngự bị động, tiêu cực chỉ biết có công sự, hỏa lực và vật cản mà không thể nào huy động được, có sức mạnh mạnh hơn vũ khí. Đó là con người. Thấy một đoàn dân công đi qua, bọn sĩ quan và binh lính thất trận nhôn nháo nhìn chúng tôi cầu cứu. Nhìn những chị người Nùng có chàm tay rộng, những chị người Thái áo dài vạt thắt chéo lưng uyển chuyển, những anh thanh niên Mán lực lưỡng đầu để hồng mao đang phấn chấn khuân vác chiến lợi phẩm đi qua, tôi hiểu những tên lê dương này khiếp sợ nhân dân trả thù. Tôi nói với chúng: “Các anh thua chúng tôi là phải. Không ai có thể chống lại cả một dân tộc. Nhân dân chúng tôi không bao giờ đánh kẻ đã hạ vũ khí”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #39 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2016, 04:41:53 am »


        Tiểu đoàn 166 do trung đoàn phó Nguyễn Bàng chỉ huy có nhiệm vụ giữ Đông Khê.

        Ngày 16 tháng 9, địch thả hai trung đội dù người Thổ và Nùng xuống tăng cường cho Thất Khê. Cùng ngày, địch điều một tiểu đoàn Ta-bo từ Lạng Sơn xuống tăng cường cho Thất Khê; tiểu đoàn Ta-bo thứ ba từ Lạng Sơn lên Na Sầm bị ta phục kích ở Pắc Luông, sáu xe và 60 tên bị diệt.

        Trong ngày 16 tháng 9, địch thành lập binh đoàn cơ động Bi-y-ăng ở Lạng Sơn do đại tá Lơ Pa-giơ chỉ huy gồm hai tiểu đoàn Ma-rốc. Ngày 17 tháng 9, binh đoàn Lơ Pa-giơ lên Thất Khê bị phục kích ở Pắc Luông, Thà Lài. Lúc này tiểu đoàn Ta-bo thứ ba từ Na Sầm về Đồng Đăng, bị diệt hai xe và 120 tên. Cùng ngày, địch cho tiểu đoàn dù lê dương thứ nhất thuộc binh đoàn Lơ Pa-giơ từ Hà Nội lên thất Khê. Ngày 18 tháng 9 binh đoàn Lơ Pa-giơ lại tiếp tục từ Na Sầm lên Thất Khê. Ta ra lệnh rút những trận địa phục kích để chuẩn bị một trận đánh vận động quy mô lớn nhằm tiêu diệt cả binh đoàn địch. Ngày 20 tháng 9, địch cho tiểu đoàn Ma Rốc thứ ba dùng đường không tăng cường cho Cao Bằng đòng thời cho chở bớt dân từ Cao Bằng về Lạng Sơn và Hà Nội. Như vậy là sau khi ta diệt Đông Khê, địch đã tổ chức binh đoàn cơ động gồm bốn tiểu đoàn nhằm tăng cường cho Thất Khê, đồng thời tăng cường cho Cao Bằng.

*

*       *

        Đông Khê - mắt xích quan trọng của tuyến phòng thủ khu đông bắc của địch bị tiêu diệt. Ngày 21 tháng 9 năm 1950, mệnh lệnh số 4 của Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định giải tán mặt trận Đông Khê. Các trung đoàn 174, 209 đặt dưới quền chỉ huy của Bộ chỉ huy chiến dịch chuẩn bị tham gia đánh viện. Nhưng quân viện không thấy lên. Phải chăng đồn Đông Khê chưa đủ để địch phản ứng. hay là địch có mưu toan gì mới trong ý định phòng thủ biên giới? Trên dọc đường số 4, năm trung đoàn chủ lực trực thuộc Bộ chỉ huy chiến dịch, các tiểu đoàn Cao Lạng, pháo, các đơn vị trực thuộc đã sẵn sàng. Nhưng quân địch vẫn chưa ra.

        Ngày 25 tháng 9, Bộ chỉ huy chiến dịch hạ quyết tâm tiêu diệt Thất Khê. Mệnh lệnh số 5 quyết định thành lập mặt trận Thất Khê và mặt trận Na Sầm - Lạng Sơn. Anh Cao Văn Khánh và tôi được chỉ định làm chỉ huy phó. Chỉ huy trưởng kiêm chính ủy là anh Vương Thừa Vũ. Nhưng quân viện vẫn không ra. Về sau mới biết có sự trùng trình này là do bọ chỉ huy quân Pháp có mâu thuẫn về việc rút bỏ hay tăng cường tuyến phòng thủ biên giới. Tướng Các-păng-chi-ê chỉ huy chủ trương rút còn tướng A-lếch-xăng-đri chủ trương tăng cường tuyến phòng thủ.

        Mệnh lệnh rút bỏ Cao Bằng do tướng Các-păng-chi-ê kí đúng vào ngày ta nổ súng đánh Đông Khê. Sự trùng hợp kì lạ này đã dẫn đến những do dự trong kế hoạch rút quân từ Cao Bằng về của Sác-tông và kế hoạch đón quân của Lơ Pa-giơ từ Thất Khê lên. Những mâu thuẫn về chiến lược và sự do dự của những viên tướng đầu sỏ đã làm cho hai binh đoàn bị tiêu diệt.

        Sau Đông Khê, theo mệnh lệnh số 5, trung đoàn 209 dùng tiểu đoàn 166 chiếm giữ một số điểm cao và thị trấn Đông Khê, còn ba tiểu đoàn khác của trung đoàn 209 để ở phái bắc Đông Khê có nhiệm vụ ngăn chặn địch không cho vào thị trấn và vùng phụ cận Đông Khê. Đại đoàn 308 được sử dụng tập trung để đánh viện.

        Ngày 30 tháng 9, ở Thất Khê địch rút bỏ Nà Cạn và cho một tiểu đoàn từ Thất Khê lên Đông Khê. Chiều 1 tháng 10, địch đã chiếm Lũng Phầy - Keo Ái, núi Kheo Luông. Tại nam Đông Khê, tiểu đoàn 166 đã chặn không cho địch vào Đông Khê. Chiêu hôm đó theo tin kĩ thuật, địch sẽ đốt Đồn To, Đông Khê. Tôi gọi điện báo cho đồng chí Nguyễn Bàng lệnh cho bộ đội rút ra khỏi Đồn To, Đông Khê. Bộ đội ta đang rút thì địch dùng máy bay thả ét-xăng pha crếp rồi dùng bom lửa thiêu hủy đồn Đông Khê. Mặt đất nhầy nhụa một lớp vừa trơn vừa dính, nồng nặc múi xăng. Chính trị viên Trần Quân Lập và Nguyễn Bàng bị cháy tóc. Khổng Doãn Hợi bị bỏng tới 70 phần trăm. Chiến sĩ thông tin hi sinh. Nhiều anh em phải nhảy qua dây thép gai vọt ra ngoài.

        Sáng ngày 2 tháng 10, tiểu đoàn 1 trung đoàn Ma Rốc số 8 và tiểu đoàn Bắc Phi số 11 đã chiếm đóng ở Khâu Áng, Na Kéo. Sở chỉ huy của Lơ Pa-giơ đóng ở Nà Pá. 14 giờ ngày 2 tháng 10, Công-xtăng tư lệnh khu biên giới lệnh cho Lơ Pa-giơ để một bộ phận nhỏ kiềm chế ta ở Đông Khê, đại bộ phận tập trung lên Quang Liệt - Nậm Nàng đón quân Sác-tông ở Cao Bằng rút về. Theo kế hoạch của Công-xtăng thì Lơ Pa-giơ phải đến vị trí vào ngày 3 tháng 10. Sau khi gặp nhau hai cánh quân cùng về Thất Khê.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM