Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:49:51 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Từ Đồng Quan đến Điện Biên  (Đọc 48029 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #60 vào lúc: 07 Tháng Mười Một, 2016, 02:52:26 am »


        Trong khi đơn vị hành quân dến Phục Cổ thì ngày 22 tháng 11 chúng tôi được tin tiểu đoàn Thái thứ ba, quân cơ động được liệt vào loại tinh nhuệ của Pháp ở Tây Bắc, bọn hung thần đã gieo tang tóc cho đồng bào các dân tộc Sơn La đã từ Quang Huy xuống cánh đồng Thu Cúc, Lai Đồng, Kiệt Sơn, Ngọc Lập, Xuân Đài, dự định phá mùa màng, đốt thóc lúa rồi dồn dân về vùng chúng chiếm đóng. Hơn 600 tên lính hung hãn tràn lên cánh đồng lúa đã chín vàng dùng trâu chà đạp, xếp lúa thành đống rồi dùng xăng châm lửa đốt. Cánh đồng Thu Cúc rộng hơn 300 mẫu bốc cháy như một biển lửa. hết Thu Cúc chúng chuyển sang Lai Đồng, Kiệt Sơn.

        Một buổi tối, tôi sang gặp anh Nguyễn Chí thanh đề nghị cho đánh. Anh Thanh đồng ý.

        Chúng tôi sử dụng ba tiểu đoàn 11, 542, 115 để bảo đảm diệt gọn bọn này. Tôi dặn anh em: “Bọn này là ngụy Thái nhưng phần lớn là lính khố đỏ của Pháp cũ, do Pháp chỉ huy, lại có máy bay yểm trợ. Đánh bọn này phải bao vây cho chặt, xung phong đồng loạt, diệt cho gọn, bắt cho hết”.

        Các chiến sĩ, tân binh cũng như cựu binh đều nức lòng xuất kích. Những cánh đồng lúa cháy đen, những xác đồng bào nằm trên bờ ruộng, những mái nhà cháy trụi đã giục giã anh em xông lên ngọn đồi nơi địch đóng quân. Địch dùng máy bay ngăn chặn và từ trên cao dùng các loại hỏa lực bắn xuống. Như không biết đến những quả bom lửa cháy rừng rực, không để ý đến những luồng đạn điên cuồng bắn xuống, anh em xông lên lăn xả vào đội hình địch, dùng lựu đạn, lưỡi lê đánh giáp lá cà. Bọn địch bị ta chia cắt ra từng cụm nhỏ. Năm trăm tên địch bị tiêu diệt, hơn 50 tên bị bắt sống, trong đó có tên quan ba Truy-be. Chúng tôi tạm biệt đồng bào Thu Cúc lên đường đi Hòa Bình.

        Đến Hòa bình, chúng tôi gặp Bộ tư lệnh chiến dịch. Các anh cho biết trung đoàn 165 sẽ đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ chỉ huy chiến dịch, có nhiệm vụ  đi về phía Ba Trại. Hai trung đoàn 141 và 209 vượt sông Đà tiến về phía Ninh Mít có nhiệm vụ tiến công Chẹ và chuẩn bị đánh viện trên sông Đà. Bên kia sông Đà là những thửa ruộng cằn cỗi xen kẽ với rừng cây, có núi Ba Vì, có những đường cơ động đi Trung Hà, Xuân Mai, địch rất dễ dàng cơ động ứng cứu. Nhân dân vùng này đã bỏ đi hết. Tiếp giáp vòng vây là vành đai trắng theo đúng nghĩa đen của nó. Không một bóng cây xanh, không còn thôn xóm chạy suốt từ Trung Hà qua những con đường số 89, 87, 21. Trungbình cứ một ki-lô-mét trên vành đai có 45 tên lính, tám khẩu liên thanh, chín ki-lô-mét có một khẩu pháo 105. Chỉ trong ba tháng chiếm đóng, chúng đã bắn chết năm đồng chí huyện ủy viên và 30 du kích. Khẩu hiệu khủng bố của địch là “Đánh thằng trên đất ra thằng dưới hầm. Đánh thằng công khai ra thẳng bí mật. Đánh con đàn bà ra thằng đàn ông. Đánh thằng không hoạt động ra thằng hoạt động”.

        Đưa cả một đại đoàn bí mật vượt sông qua những cứ điểm lớn kiên cố của địch trong vòng vây ba ngày phải tiến công ngay một vị trí trên dưới một tiểu đoàn trong công sự vững chắc thật không đơn giản. Khi giao nhiệm vụ cho đại đoàn, đồng chí Tổng tư lệnh dặn chúng tôi: “Thắng lợi của cuộc vượt sông là tùy thuộc vào hai yếu tố chủ yếu: dựa vào dân, bám hẳn vào dân và giữ bí mật nghiêm ngặt”. Đại tướng giới thiệu anh Hoàng Sâm, Tư lệnh Quân khu 2 sẽ là phái viên của Bộ di với đại đoàn và các đồng chí Kim, Thượng, Trung (ủy viên thường vụ tỉnh ủy Sơn Tây). Chúng tôi thảo luận trong đảng ủy, thấy có ba vấn đề khó khăn nhất là bảo đảm vượt sông bí mật trong tay không có một thứ khí tài gì ngoài chiếc ba lô, thứ hai làm làm thế nào nắm được địch ở Núi Chẹ để bảo đảm cho một trận công kiên chắc thắng, tức là bảo đảm trinh sát và cuối cùng là bảo đảm hậu cần. Cho cả một đại đoàn ở một vùng không có dân cư, không được tiếp tế Đồng chí Tư lệnh chiến dịch đã cùng chúng tôi thức trắng đêm cùng các đồng chí trong thường vụ tỉnh ủy Sơn Tây bàn cách giải quyết khó khăn cho đại đoàn. Khi các đồng chí thường vụ cho biết có hơn một vạn gốc sắn, chúng tôi thấy nhẹ cả người.

        Sau cuộc họp, chúng tôi chia nhau mỗi người một việc. Các cán bộ quân sự vượt sông bám sát vị trí Chẹ. Các cán bộ chính trị tỏa xuống đơn vị phát động anh em hiến kế bí mật vượt sông, cách giữ bí mật sau khi vượt sông. Các đồng chí trong tỉnh ủy Sơn Tây, huyện ủy Bất Bạt đi phát đông nhân dân cho mượn thuyền. Chỉ trong có mấy hôm, khi được phổ biến bộ đội cần thuyền, nhân dân mang ngay thuyền nhà đến cho mượn. Đủ các loại: thuyền chài, thuyền nan, đò ngang… ai có gì cho mượn nấy. Có người ở xa hàng 20 ki-lô-mét cũng đội thuyền mang đến và xin xung phong chèo thuyền chở bộ đội. Chỉ trong vòng 48 giờ chúng tôi đã có hơn một trăm chiếc thuyền được giấu cẩn thận.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #61 vào lúc: 07 Tháng Mười Một, 2016, 03:00:24 am »


        Đêm 7 tháng 9, trung đoàn 165 vượt sông. Đêm 8 sở chỉ huy vượt sông. Tôi và quyền chính ủy đại đoàn đi cùng một chiếc thuyền. Cái thuyền thúng nhỏ tí không có người chèo, tôi tự chèo lấy. Đêm 9, trung đoàn 209 tập kết ở Bãi Vàng chuẩn bị để đêm 10 tiến công Núi Chẹ. Vừa sang sông tôi được báo cáo anh Nguyễn Bàng, trung đoàn trưởng và Nguyễn Tâm, tham mưu trưởng trung đoàn 209 đã hi sinh trong khi đang làm nhiệm vụ trinh sát Núi Chẹ. Tôi lặng người trước cái tin đau xót  đó. Sau khi trinh sát thực địa xong, đồng chí Nguyễn Bàng cùng tham mưu trưởng Nguyễn Tâm chưa thật yên tâm về vị trí chiếm lĩnh của bộ đôi và điểm mở cửa. Các anh quay trở lại, bò sát vào đồn một lần nữa, khi quay ra bị địch phục kích. Hai bên nổ súng. Nguyễn Bàng và Nguyễn Tâm hi sinh với trách nhiệm cao của những ngời chỉ huy dũng cảm, chắc chắn. Anh em cho biết địch đã tăng cường cho Núi Chẹ từ một tiểu đoàn lên hai tiểu đoàn. Bọn mới đến thuộc binh đoàn cơ động số 4. Hôm trước máy bay địch trinh sát rất kĩ vùng Ninh Mít, căn cứ du kích của ta, tăng thêm quân ở Chẹ, dùng máy bay trinh sát cho các đơn vị nhỏ đánh thăm dò. Như vậy triệu chứng địch sắp càn vào Ninh Mít đã khá rõ.
zzzzz
        Ninh Mít là căn cứ của tỉnh ủy Sơn Tây, hiện là nơi giấu quân của đại đoàn. Để địch càn vào Ninh Mít sẽ lộ kế hoạch tiến công của ta. Một vấn đề đặt ra là chỉ định người thay thế đồng chí Nguyễn Bàng và xem lại kế hoạch tiến công Núi Chẹ. Người thay thế đã có - đồng chí trung đoàn phó Hoàng Cầm. Còn kế hoạch tiến công Chẹ? Đó là mệnh lệnh của bộ. Trung đoàn 209 có nhiệm vụ tiêu diệt Núi Chẹ phối hợp với trung đoàn 88 đại đoàn 308 tiến công Tu Vũ trong cùng một đêm. Núi Chẹ hiện nay địch đã đề phòng, binh lực của chúng được tăng cường gấp đôi. Chúng lại đang có ý định tiến công ta ở Ninh Mít. Người chỉ huy và tham mưu trưởng nắm kế hoạch tiến công Chẹ đã hi sinh. Trung đoàn còn ở bên kia sông. Trung đoàn phó Hoàng cầm chưa được đi trinh sát thực địa. Nhưng không tiến công Chẹ thì trung đoàn 88 sẽ gặp khó khăn vì ở Chẹ có trận địa pháo trực tiếp yểm hộ cho Tu Vũ. Trước tình hình đó, tốt nhất là điều ngay trung đoàn sang sông, bố trí ở ngay Ninh Mít. Nếu chúng không càn vào sẽ tiếp tục chuẩn bị tiến công Núi Chẹ để bảo đảm nổ súng đúng thời gian quy định của Bộ.

        Tôi vào một lán thóc giữa rừng thắp đèn viết lệnh cho đồng chí Hoàng Cầm: “Trung đoàn 209 phải nhanh chóng vượt sông đến Ninh Mít trước hai giờ sáng ngày 9 tháng 12, bố trí hình thành thế bao vây để tiêu diệt địch nếu chúng ra càn quét, đồng thời cử ngay cán bộ đi điều tra và chuẩn bị cho bộ đội đánh Chẹ đểp phối hợp đúng ngày giờ đơn vị bạn đánh Tu Vũ”. Là một người chấp hành mệnh lệnh nghiêm, trung đoàn trưởng Hoàng Cầm đã cho bộ đội tập kết bí mật chỉ cách Tu Vũ hơn một ki-lô-mét, dùng 10 chiếc thuyền nan đưa cả trung đoàn và 6 khẩu pháo 75 vượt sông. Trung đoàn đã lọt vào vùng Ninh Mít trước hai giờ sáng.

        Sáng hôm sau, địch cho máy bay trinh sát khu vực Ninh Mít. Bọn thám báo từ Chẹ tiến vào Ninh Mít bị ta bắt sống. Chúng khai bọn chỉ huy địch dùng tiểu đoàn dù mơi tăng viện cho Chẹ đánh vào Ninh Mít. Trong ngày chúng tôi nhận được điện của Bộ đồng ý với đề nghị của đại đoàn cho trung đoàn 209 làm nhiệm vụ chống càn ngay tại Ninh Mít.

        Suốt đêm hôm đó các cán bộ trung đoàn 209 đi trinh sát thực địa vùng Ninh Mít. Trinh sát đến đâu tổ chức chiến đấu đến đấy. Bộ đội đào công sự chiến đấu tổ chức trận địa hỏa lực, ngụy trang trận địa, tỏa mạng thông tin. Sáu giờ sáng toàn trung đoàn đã hoàn thành công tác chuẩn bị chiến đấu.

        Bảy giờ 30 sáng hôm đó, địch cho tiểu đoàn dù số 1 theo đường làng từ Chẹ tiến vào Ninh Mít. Nhìn đội hình địch đi hàng dọc như đi dạo, chúng tôi biết chúng chưa biết chủ lực ta đã ở đây. Bộ phận sục sạo tuy có phát hiện dây điện thoại của ta chôn dưới đất, nhưng chúng cho là du kích ,cứ đàng hoàng tiến vào phố Ninh Mít. Tôi ra lệnh cho trung đoàn chờ khi nào hai đại đội địch lọt hẳn vào trận địa mới được nổ súng. Anh em phải qua những phút chờ đợi căng thẳng. Có bộ phận địch chỉ đi cách chiến sĩ ta một với tay. Khi bộ phận đi đầu của địch tiến cách trận địa đại liên ta chỉ có mười mét, Hoàng Cầm ra lệnh nổ súng. Bốn khẩu đại liên gầm lớn như một trận cuồng phong. Cả một mảng áo dù loang lổ rạp xuống, chồm lên nhau. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 130 cho một đại đội đánh vỗ mặt dồn địch xuống cánh đồng, một đại đội khác cắt đôi đội hình của tiểu đoàn địch. Nhiều tên vừa lủi vừa vẫy mùi xoa trắng xin hàng. Nhưng vì lực lượng bố trí phân tán nên đoạn đi sau của tiểu đoàn địch đã chiếm được thế cao phản công quyết liệt. Các chiến sĩ ta bật lê xông vào đội hình địch. Pháo địch ở Đá Chông, Chẹ bắt đầu bắn trả. Luc này ta đã giải quyết xong bọn địch ở đường cái. Không đợi lệnh, anh em vận động qua hàng rào đạn pháo địch xong vào đội hình chúng. Bọn địch bỏ chạy về Chẹ. Trận chiến đấu diễn ra trong suốt buổi sáng. Ta tiêu diệt 200 tên, bắt sống hơn một trăm tên, loại tiểu đoàn dù số 1 của địch ra ngoài vòng chiến đấu. Buổi chiều, địch cho một tiểu đoàn có xe tăng, xe bọc thép yểm hộ từ Chẹ vào Ninh Mít để nhặt xác. Với trận địa đã được chuẩn bị của ta, trung đoàn 209 đã chặn đứng mũi tiến công của địch. Suốt buổi chiều và cả đêm hôm đó ,24 khẩu pháo địch từ Đá Chông, Núi Chẹ bắn dồn dập vào khu vực Ninh Mít. Có lúc pháo đạn nổ liên tục như súng liên thanh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #62 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 04:57:25 am »


        Phải chuẩn bị đánh quân tiếp viện lớn hơn. Đó là điều chắc chắn. Quân địch không thể nào chấp nhận sự có mặt của chủ lực ta ở sát nách tuyến phòng thủ Sông Đà. Tôi bàn với quyền chính ủy đại đoàn dùng trung đoàn 141 đánh viện sáng hôm sau, trung đoàn 209 làm dự bị cho trung đoàn. Đánh địch sát phòng tuyến của chúng phải có đội dự bị mạnh.

        Sáng hôm sau, địch cho binh đoàn cơ động số 4 từ Sơn Tây qua mỏm 251 tiến vào Ninh Mít. Cả một binh đoàn cơ động của địch hành quân qua điểm cao 306, đúng vào trận địa của tiểu đoàn ta. Nhưng tiểu đoàn trưởng và trung đoàn phó thấy địch đông gấp ba lần quân số của mình đã không cho xuất kích. Địch vượt qua điểm cao tiến vào Dốc Bóp, nơi đặt sở chỉ huy đại đoàn. Tôi ra lệnh cho dời thương binh nặng vào rừng. Tù binh được dẫn đi nơi khác. Tất cả cán bộ chiến sĩ trong cơ quan đại đoàn được lệnh sẵn sàng chiến đấu. Pháo địch nổ ngay trên vị trí chỉ huy của trung đoàn 209. Đường dây điện thoại từ trung đoàn xuống các tiểu đoàn bị cắt đứt. Tôi biết đồng chí Hoàng Cầm đang gặp khó khăn, nhưng nếu ta không tung ngay lực lượng dự bị ra lúc này sẽ rơi vào tình thế bị động. Nhận lệnh của đại đoàn, Hoàng Cầm khoác luôn khẩu tiểu liên xông ra dưới làn đạn của địch bắn theo. Luc này anh em phân tán trong các hầm tránh pháo. Hành động dũng cảm của trung đoàn trưởng đã thôi thúc anh em xách súng vọt ra khỏi hầm. Hoàng Cầm tập hợp được khoảng hơn đại đội vừa liên lạc, vừa  văn thư, nuôi quân và một số chiến sĩ tổ chức đánh ngay vào giữa đội hình cảu binh đoàn cơ động số 4. bị đánh bất ngờ, bọn địch không rõ ta có bao nhiêu, ở đâu nên chúng hoảng loạn. Một bộ phận rút về Núi Chẹ, một bộ phận chạy lên Dốc Bóp. Một đại đội bị diệt tại chỗ. Ngay đêm hôm đó, chúng tôi tổ chức tập kích bọn địch trên Dốc Bóp. Địch bỏ chạy, chấm dứt cuộc tiến công vào Ninh Mít.

        Trong lúc đại đoàn 312 tiêu diệt tiểu đoàn dù ở Ninh Mít thì trung đoàn 88 đại đoàn 308 chuẩn bị tiêu diệt cụm cứ điểm Tu Vũ. Đêm 10 tháng 12 năm 1951 trung đoàn 88 đã tiêu diệt Tu Vũ. Đây là một vị trí do một tiểu đoàn địch chiếm giữ, có bốn xe tăng phối thuộc, một vị trí then chốt thuộc phân khu sông Đà của địch, trận đánh là rung chuyển thế phòng ngự của địch trên sông Đà. Từ Ninh Mít chúng tôi quan sát mấy hôm nay địch thường dùng máy bay vận tải lượn vòng trên mỏm Ba Vì. Ba Vì đúng như tên gọi, gồm ba mỏm khống chế toàn bộ khu vực sông Đà, nơi địch đặt đài quan sát pháo trên hai mỏm 400 và 600. Những trận bắn pháo và các bến vượt sông, các vị trí trú quân của ta trên mặt trận sông Đà đều do đài quan sát này tính toán. Chúng tôi đề nghị Bộ chỉ huy chiến dịch cho 312 tiến công hai mỏm 400 và 600 trên mỏm Ba Vì. Bộ chỉ huy chiến dịch cũng nhận thấy sự hiểm yếu của hai mỏm đó nên đồng ý cho đánh. Đại đoàn quyết định giao nhiệm vụ đó cho trung đoàn 141.

        Tôi chờ gặp trung đoàn trưởng Nam Long để giao nhiệm vụ. Nơi hẹn là một đài chòi canh thuộc huyện Bất Bát. Huyện ủy Bất Bạt cử đồng chí xã đội trưởng đến báo cáo tình hình đường lên “cốt” 400 và 600. Nam Long vừa lên chòi là ngủ liền. Tôi biết Nam Long mới lấy vợ nên cứ để cho ngủ. Cái chòi canh ngô chỉ có ba mét vuông. Nam Long ngả người cao lớn thò cả hai cẳng chân ra ngoài. Đồng chí xã đội trưởng báo cáo xong, tôi mới đánh thức Nam Long dậy nói lại cho nghe đường đi lên 400, 600. Đây vốn là nơi nghỉ mát của bọn thống trị, đường đi lên chỉ có một đường ô-tô, dốc rất cao. Nam Long hứa sẽ đánh bằng được.

        Trong ba ngày liền trinh sát đại đoàn và trung đoàn cùng các cán bộ đi trinh sát. Ở xa quan sát bằng mắt thường rất khó vì suốt ngày hai mỏm đó đêu nằm trong sươg mù. Muốn vào bên trong trinh sát chỉ có đường độc đạo, một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu. Trên đường, địch đã tưới ét-xăng đốt cỏ, thả vỏ chai, vỏ đồ hộp. Nam Long nói với tôi:

        - Anh ạ, đánh thằng này phải làm trái quy luật mới được.

        - Thế nào là trái quy luật? - Tôi hỏi.

        Nam Long vò đầu:

        - Tôi chưa nghĩ ra nhưng không thể đánh như các trận công kiên khác được.

        Riêng tôi, thấy trận này ta tiếp cận được là ăn. Cái khó nhất là làm sao tiếp cận được bí mật. Tôi suy nghĩ mãi câu nói của Nam Long “phải làm trái quy luật”. Đúng, đánh địch ở một nơi không có địa hình để triển khai binh hỏa lực thì trước hết binh hỏa lực phải ít nhưng tinh nhuệ. Trận này không phải đột phá nên không có giai đoạn mở cửa. Cũng không cần phải chuẩn bị hỏa lực cho nên cách sử dụng lực lượng và triển khai hỏa lực cũng phải khác các trận trước. Vấn đề là phải dùng lực lượng thật chọn lọc, bí mật đột kích rồi bất ngờ đánh thật mạnh, thật nhanh. Tôi trao đổi với Nam Long. Nam Long nắm tay tôi:

        - Đúng rồi, hay quá! Làm thế là trái với quy luật thông thường đấy. Thế mà tôi không nghĩ ra.

        Tôi nói:

        - Việc tổ chức, trang bị cũng phải trái quy luật. Không nhất thiết lấy từng đơn vị. có thể lựa chọn trong các tiểu đoàn những tay súng giỏi, có kinh nghiệm dùng thủ pháo, lựu đạn thành một đơn vị huấn luyện. Cần huấn luyện bổ sung một số vấn đề về kĩ thuật tiếp cận.

        Nam Long xốc túi dết đứng dậy. Tôi giữ lại nói thêm:

        - Cần đưa ra để anh em bàn bạc mở rộng dân chủ quân sự, nói thật rõ những khó khăn để anh em cùng bàn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #63 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 05:00:30 am »


        Hai ngày trước ngày nổ súng chúng tôi vẫn chưa nắm được tình hình cụ thể bên trong cứ điểm. Anh em trinh sát mỗi lần tiềm nhập lại rải tuyền đơn kêu gọi binh lính địch phản chiến chạy sang hàng ngũ ta. Cho đến một đêm trước cuộc tiến công một ngày, anh em dẫn về hai hàng binh người Đức bỏ đồn mang súng sang hàng. Tôi cho gọi hàng binh lên giải thích chính sách của ta đối với hàng binh. Hai hàng binh cho biết trên mỏm 600, địch đóng tại nhà nghỉ mát của tên quan sáu Moóc-đăng. Còn mỏm 400 địch ở trại lính cũ. Hai vị trí đều ở bên hai mỏm chênh vênh chung quanh là những vực sâu dốc đứng từ 60 độ trở lên. Dưới khe có nhiều rừng rậm. Từ đồn thấp lên đồn cao chỉ có một đường trải nhựa bám theo sườn núi. Đánh lên 600 chỉ có một lối. Xung quanh là vách đứng, chỗ cao nhất mười mét, chỗ thấp nhất cũng ba mét. Lời khai của hai hàng binh đã giúp chúng tôi thấy rõ tình hình trong hai vị trí và những khó khăn cụ thể phải khắc phục. chúng tôi tập trung bàn với anh em; khâu then chốt là giữ bí mật khi tiếp cận. Anh em bàn đánh đêm trong sương mù không cần cài lá ngụy trang. Giày dép cũng để hết ở “nhà”. Cuốc xẻng không cần mang theo vì địa hình toàn là đất đá, có mang theo cũng không đào được công sự. Ca, thìa ăn cơm, bi đông nước cũng để lại. những chân súng, nòng súng trung liên, những thứ đồ dễ phát sinh tiếng động phải bọc giẻ. Đề phòng ho, anh em quân y tổ chức nấu kẹo gừng. Những anh em không đi cho anh em đi mượn thêm áo ấm. Xung quanh sa bàn, anh em thảo luận nhiệm vụ của từng tổ. Anh em nhất trí khi vào đồn phải chia làm nhiều mũi đánh thật mạnh, thật nhanh, từng tổ ba người phải tìm mục tiêu mà đánh. Nghe tiếng súng là tự động đến hiệp đồng. bị thương nhẹ không rời trận địa. Dùng chăn chiên vắt chéo qua vai vừa ấm người, vừa làm cáng, lại vừa là tín hiệu để dễ nhận nhau trong đêm mù sương.

        Sau khi nghe quyết tâm của trung đoàn trưởng, tôi hỏi:

        - Khí thế của anh em thế nào?

        Nam Long cười nói:

        - Vẫn còn trầm một chút vì anh em ngại pháo.

        Tôi nói:

        - Trận này 141 không đơn độc. Bộ đã dùng hai đơn vị kiềm chế pháo. Ở Xuân Mai có đại đoàn 304. Trận địa pháo Đá Chông có trung đoàn 102 và 165. Được chứ?

        Lúc này nam Long mới cười:

        - Báo cáo anh tôi đi!

        - Ừ đi đi! Nhớ báo cáo luôn nhé!

        - Vâng. Tôi sẽ tổ chức một máy điện thoại trung gian giữa tôi và sở chỉ huy đại đoàn để anh có thể nắm từng tình huống.

        Trung đoàn trưởng Nam Long có cách diễn đạt những vấn đề phức tạp bằng những lời lẽ nôm na, chiến sĩ dễ hiểu. Ví dụ, khi nới tới vật chuẩn trong đêm, anh không dùng đông tây, nam, bắc mà nói “Cậu nào lạc cứ lấy sông Đà làm chuẩn nhé! Bên phải sông Đà là phía ta nhé! Bên trái sông là địch đấy”.

        Anh em được phát mỗi người hai nắm cơm. Một nắm cơm chiều, một năm để đến đêm ăn lấy sức. Nhưng cậu nào cậu nấy ăn hết cả một lúc. Hỏi ăn thế đêm đói làm sao? Anh em cười: “Báo cáo thủ trưởng lấy của địch chứ ạ! Bọn này mới ở Pháp sang chắc có nhiều dự trữ. Đêm nay lại dịp Nô-en. Cái gì chứ rượu, thuốc lá, đồ hộp là không thiếu”. Anh em rất tin tưởng, nhất là khi được phổ biến Bộ chỉ huy chiến dịch đã tổ chức kiềm chế pháo.

        Trận này, trung đoàn sử dụng binh lực chọn lọc của hai tiểu đoàn 11 và 16. Hai tiểu đoàn trưởng và chính trị viên đêu trực tiếp đi với các mũi. Khi hai đơn vị đã vào xong, trung đoàn trưởng lấy chăn trùm máy điện thoại hỏi:

        - Hóa đấy phải không? Phải Hồ Quang Hóa, thổi cho một tiếng nào!

        Đồng chí Hồ Quang Hóa là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 11, đồng chí Đào Đình Luyện là chính trị viên. Trong ống tổ hợp có tiếng thổi. Nam Long mừng quá gọi nhỏ lại máy trung gian:

        - Báo cáo anh Tấn, cả đơn vị đã tiếp cận đồn dưới. Địch chưa biết.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #64 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 05:04:01 am »


        Sau khi kiểm tra các mũi, vị trí của các tiểu đoàn trưởng Hồ Quang Hóa, Chu Phương Đới, tôi ra lệnh nổ súng. Thoạt tiên, là tiếng bộc phá, tiếp đó là tiếng thủ pháo, tiếng lựu đạn nổ dồn dập. Chỉ trong mười phút, ta đã giải quyết xong điểm cao 400. Địch hoàn toàn bất ngờ đến nỗi không kịp dùng điện đài báo cáo lên điểm cao 600. Lúc đó pháo địch mới bắn chi viện. Nhưng do vị trí nằm trên một mỏm cao chênh vênh nên đạn pháo bắn tới đều rơi xuống vực.

        Thừa thắng, trung đoàn trưởng ra lệnh cho hai đại đội 19 và 20 đánh thẳng lên 600. Hôm đó trời rất tối anh em cứ theo đường nhựa xông lên. Đường dây điện thoại giữa trung đoàn và tiểu đoàn bị đứt. Quân ta bắc thang nhưng thang ngắn phải nối lại. Cả ba lần bắc thang đều bị địch dùng tiểu liên quét. Đã có một số anh em thương vọng. Đại đội 19 tiến theo cổng đồn cũng bị đánh bật ra. Khoảng nửa đêm, tiểu đoàn trưởng báo cáo chỉ còn 20 tay súng. Tôi ra lệnh tập hợp lại. Trời còn nhiều sương mù, sáng ra vẫn có thể tiếp tục tiến công. Phải tranh thủ trinh sát, tìm nơi địch sơ hở cho lực lượng vào. Lại bị mất liên lạc. Khoảng gần sáng Nam Long cho biết, sau khi kiểm tra tổ chức lại, thấy còn lực lượng có thể tiếp tục tiến công. Anh em đã phát hiện một chỗ gần cổng đồn nơi tường cao, vách thành vại, địch tương đối sơ hở có thể vào được. Tôi quyết định kiên quyết tiến công, dù trời sáng vẫn cứ đánh.

        Ba giờ 30, cuộc tiến công lên đồn cao tiếp tục. lúc đầu chỉ có một khảu trung liên của đồng chí Lê Văn Tỉ vào được. Tỉ dùng trung liên bắn quét. Địch chui xuống tránh đạn. Lợi dụng giây phút đó, khẩu trung liên của Lê Văn Bộ vào được đồn. Hai trung liên tuyên truyền bắn quét tạo điều kiện cho tiểu đội Phạm Ngôn đánh chiếm một góc đồn. Theo sau là các đại đội 19, 20, 241 lần lượt phát triển vào tung thâm. Quân địch không sao chống đỡ nổi trước lối đánh gần, chia cắt, hiệp đồng hết sức ăn ý của tổ ba người. Địch chúi vào hầm ngầm. Quân ta vây chặt hầm ngầm, vừa đánh vừa gọi hàng. Trong trận này ta tiêu diệt 120 tên, làm bị thương 35 tên, bắt sống 135 tên.

        Đánh xong hai điểm cao trên núi Ba Vì, đại đoàn được lệnh rút sang sông chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Bộ đội đã thấm mệt sau chiến dịch Lí Thường Kiệt, chưa kịp nghỉ ngơi đã lao vào chiến đấu trong chiến dịch Hòa Bình. Tết Nguyên đán sắp đến nơi. Đảng ủy họp bàn phải tìm mọi cách cải thiện đời sống cho chiến sĩ vì chiến dịch còn kéo dài. Trước sau, dù muốn hay không địch cũng phải rút khỏi Hòa Bình. Nhiệm vụ của các đơn vị là phải giam chân địch ở Hòa Bình, tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực ta luồn sâu vào địch hậu mở rộng các khu căn cứ du kích.

        Trên chiến trường Trung Du, đại đoàn 316 do đồng chí Chu Huy Mân chỉ huy đã vào Vĩnh Phú, tiêu diệt vị trí La-ri-vê rồi thọc sâu vào Bắc Ninh, Bắc Giang. Đại đoàn 320 dưới sự chỉ huy của đồng chí Văn Tiến Dũng đã đưa cả ba trung đoàn vào vùng Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình với trận đánh thọc sâu vào thị trấn Phát Diệm làm rung chuyển thế phòng ngự của địch ở đồng bằng. Đại đoàn đã khôi phục căn cứ du kích Tiên - Duyên - Hưng, mở rộng khu căn cứ liên huyện Tiền Hải, Kiến Xương.

        Trong đợt ba chiến dịch, đại đoàn 312 có nhiệm vụ đánh địch trên đoạn đường từ Phương Lâm đến Ao Trạch. Trong đội hình của đại đoàn có thêm trung đoàn 102 do đồng chí Vũ Yên chỉ huy. Hướng chính là vùng Hòa Bình, đướng số 6. hướng phụ là Núi Chẹ, Đá Chông, bắc Ba Vì.

        Trên đường số 6, lúc này địch dùng pháo, máy bay oanh tạc ngày đêm. Sở chỉ huy đại đoàn ở trong một khe suối gần đường cái. Lúc đầu anh em chưa quen ăn ở trong hầm nên từ chỗ ở đến vị trí chiến đấu đều tạm bợ. Ăn uống lại hết sức thiếu thốn, phương tiện giải trí không có, ai cũng mong chiến dịch sớm kết thúc để về Phú Thọ ăn tết. Chúng tôi phát động trong anh em, trước hết là trong cơ quan đại đoàn phải cải thiện đời sống cho anh em. Các hầm hố phải bảo đảm vững chắc có thể ăn ở hội họp, sinh hoạt ngay trong hầm. Kinh nghiệm làm bếp không khói của đồng chí Hoàng Cầm, cấp dưỡng đại đoàn 308, nguyên là người nấu bếp cho hiệu ăn Văn Phú chuyên món lươn, ếch, ba ba phố Hàng Lọng (Hà Nội) được áp dụng. (Đi chiến dịch thấy anh em toàn ăn nguội, uống nguội Hoàng Cầm rất thương. Anh đã đào một kiểu bếp nửa nổi nửa chìm có ống dẫn khói ngầm dưới lòng đất, có thể nấu cả ban ngày lẫn ban đêm. Kiểu bếp đó được đặt tên là bếp Hoàng Cầm, được nhanh chóng phổ biến xuống các đơn vị). Bữa cơm được ăn nóng đã nâng sức khỏe của anh em lên rõ rệt. Những tin tức chiến sự, những gương chiến đấu, kinh nghiệm chiến đấu được anh em thông tin ưu tiên truyền đạt như mệnh lệnh chiến đấu. Tờ Anh dũng, tờ tin của đại đoàn phát hành. Thư chúc tết của Bác Hồ được phát tới đại đội. Đoàn văn công ủa đại đoàn đi phuc vụ một số đơn vị. Hôm biểu diễn, đồng bào trong vùng địch tạm chiếm cũng ra xem. Lần đầu tiên được xem những điệu múa, nghe những bài ca cách mạng, đồng bào rất nức lòng. Cuộc sống dần dần đi vào ổn định. Các tổ săn Tây bằng súng cối, súng trường, tiểu liên, trung liên thi đua lập công. Quà tết hậu phương tuy không nhiều nhưng cũng có chè lam Thanh Hóa, mứt Phú thọ, thuốc lá Ba Vì, chè Đồng Lương. Ban hậu cần cho người về Nho Quan (Ninh Bình) đưa đậu xanh, mỡ nước, đường, trâu bò ra tiền tuyến. Bữa cơm anh em đã có đôi chút chất tươi. Những kinh nghiệm đánh tỉa, kinh nghiệm tổ chức sinh hoạt trong đường hầm ở đây hai năm sau đã được nhân lên với quy mô lớn trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #65 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 05:05:33 am »


        Sự hiệp đồng trên quy mô chiến lược của các đơn vị chủ lực luồn sâu vào lòng địch cùng với sự chuyển hướng chiến dịch, chọn sông Đà, đướng số 6 làm hương chính trong đợt ba đã đặt bộ chỉ huy Pháp trước một vân đề phải lựa chọn là rút hay không rút khỏi Hòa Bình. Rút quân khỏi Hòa Bình tức là thừa nhận sự thất bại của kế hoạch đánh ra. Khi rút lực lượng có thể bị tiêu diệt. Về chính trị, cái “Xứ Mường tự trị” sẽ đổ vỡ. Ảnh hướng thất bại này sẽ vang tới Pa-ri và Oa-sinh-tơn không nhỏ. Không rút thì lực lượng tinh nhuệ sẽ bị giam chân, địch hậu càng nguy khốn. Không rút tuy có tạm thời che giấu được thất bại nhưng cũng không giải quyết được vấn đề gì có thể cải thiện được cục diện chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ. Quân viễn chinh Pháp sẽ gặp khó khăn hơn. Giữa lúc đó thì ở Pa-ri quốc hội Pháp chất vấn Lơ-tuốc-nô, bộ trưởng bộ thuộc địa khi ông ta trình bày về ngân sách Đông dương. Tướng Đờ Lát bị ung thư đang hấp hối. Ngày 11 tháng 1 năm 1952, tướng Đờ Lát, tác giả của kế hoạch tài chính ra Hòa Bình chết. Tướng Sa-lăng lên thay.

        Trong đợt ba chiến dịch chúng ta liên tục tiến công trên sông Đà, trên đường số 6. Trận tập kích của trung đoàn 36 đại đoàn 308 làm cho trận pháo địch ngay trong thị xã Hòa Bình dao động. Sau này, tướng Sa-lăng viết trong hồi ký của mình: “Tất cả tình hình trên đây, ngày cũng như đêm, từng giờ, từng phút đặt ra cho tôi biết bao nhiêu vấn đề nan giải”. Chưa đầy một tuần sua khi Đờ Lát chết, tướng Sa-lăng, tổng chỉ huy quyết định thu hẹp thế bố trí để chuẩn bị rút toàn bộ quân Pháp khỏi Hòa Bình. Từ thượng tuần tháng 2 năm 1952, việc chuẩn bị rút lui được chuẩn bị hết sức bí mạt. Cuộc rút chạy mang mật danh A-ma-răng. Binh lính chỉ được biết lệnh rút lui đúng vào ngày rút, tức là ngày 23 tháng 2 năm 1 952.

        Đêm 22 rạng ngày 23, trinh sát trung đoàn 36, đại đoàn 308 phát hiện địch thắp đèn pha rất sáng ở Bến Mời. Trên sông có tiếng ca-nô, trên đường số 6, có tiếng xe cơ giới địch di chuyển. Chúng đang rút dần các vị tri ở ngoài vào trong. Trung đoàn trưởng Hồng Sơn ra lệnh cho toàn trung đoàn sẵn sàng chiến đấu.

        Hai tiểu đoàn của trung đoàn 36 xuất kích trong đêm đã xông vào thị xã. Số địch còn lại trên điểm cao Ba Vành bỏ chạy vào thị xã, quân ta truy sát gót. Hai tiểu đoàn hình thành hai mũi tiến công đồn địch ra bến cầu phao. Quân ta dùng pháo 105 bắn vào ca-nô địch đang qua Bến Ngọc.

        Mười ba giờ ngày 23 tháng 2 năm 1952 thị xã Hòa Bình hoàn toàn giải phóng.

        Mười chín giờ ngày 23 thán 2 năm 1952 ta tổ chức mít tinh và duyệt binh ngay trong thị xã Hòa Bình. Trong nhật lệnh, đồng chí Võ Nguyên Giáp nhận định:

        “Đây là một chiến thắng lớn nhất từ chiến dịch Biên Giới đến nay: 20.587 tên địch bị tiêu diệt, 6.767 tên địch bị bắt sống, 132 cứ điểm bị san phẳng, 12 vị trí bị bức rút. Hàng chục máy bay, tàu chiến bị phá hủy. Lần đầu tiên ta đánh vào nơi địch tiến công, cắt đứt mọi hi vọng giành quyền chủ động của Pháp từ nay về sau. Sau lưng địch, ta đã giải tán 2.000 ban tề ngụy, chuyển từ thế bị o ép sang thế tiến công liên tục”.

        Trong thành tích chung của toàn chiến dịch, đại đoàn 312 đã góp một phần nhỏ bé. Mở đầu chiến dịch, đại đoàn đã chiến thắng giòn giã ở Thu Cúc - Lai Đồng, tiếp đó đã đánh sáu trận lớn, tiêu diệt 2.235 tên, bắt sống 320 tên, được Bộ tặng thưởng huân chương Quân công hạng nhì và lá cờ “Giữ gìn non sông” của kiều bào tặng. Đại đoàn đã vượt sông đà đưa lực lượng sát nách địch bí mật đánh liền hai trận ở Ninh Mít, tiếp đó theo tiêu diệt địch trên hai điểm cao 400 và 600. Trong hơn một năm chiến đấu, từ chỗ chỉ có một trung đoàn mạnh nay đã có ba trung đoàn hoàn chỉnh và một số binh chủng, đứng trong các đại đoàn cơ động chiến lược của Bộ. Từ chiến dịch Trần Hưng Đạo (Trung Du) đến Hoàng Hoa Thám (đường số 18), Lý Thường Kiệt (Nghĩa Lộ) một mình đảm nhiệm một hướng, đến chiến dịch Hòa Bình, đại đoàn trong nhiệm vụ là lực lượng cơ động của bộ đã chấp hành mệnh lệnh không điều kiện, chiến đấu dũng cảm, sáng tạo. Cả đại đoàn là một khối đoàn kết nhất trí. Đại đoàn đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về công kiên, vận động và chiến đấu trên địa hình trung du, rừng núi, đánh địch trên bộ trên sông.

        Chiến dịch Hòa Bình đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử của đại đoàn, cũng là đánh dấu sự trưởng thành của từng cán bộ và chiến sĩ trong đơn vị.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #66 vào lúc: 08 Tháng Mười Một, 2016, 05:08:21 am »

     
CHƯƠNG TÁM

THU ĐÔNG THỨ BA TÂY BẮC TOÀN THẮNG

        Tháng 3 năm 1952, với tầm nhìn xa về chiến lược, ngay khi chiến dịch Hòa Bình vừa kết thúc, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã quyết tâm mở chiến dịch tiến công trên chiến trường Tây Bắc.

        Đối với tôi, được gặp lại đồng chí, đồng bào Tây Bắc sau bao năm xa cách là một niềm vui thực sự như được về chính nơi quê hương mình.

        Thu Đông năm 1945 tôi lên Tây Bắc với một hành trang ít ỏi về quân sự. Trung đoàn Sơn La lúc đó thực chất là sự tập hợp những tiểu đoàn. Trang bị thiếu tốn, súng đạn không đủ, toàn là mác tre, gậy gộc, dao tông. Thuốc men thiếu thốn đến nỗi cả đại đội chỉ có vài viên kí ninh. Tri thức quân sự không có. Chỉ trong vài tháng cả trung đoàn bị địch đánh bật khỏi Sơn La. Nay tôi trở lại Tây Bắc với cả một đại đoàn bộ binh được trang bị thống nhất, có một vài binh chủng bảo đảm, có pháo, có cơ quan chỉ huy và những cán bộ dày dạn kinh nghiệm đã trải qua thử thách trong bốn chiến dịch liên tục. Tôi càng vui khi thấy việc lựa chọn hướng để mở chiến dịch lần này là rất chính xác. Tôi không còn băn khoăn như khi đi chiến dịch Hoàng Hoa Thám. Về tiêu diệt sinh lực địch chúng tôi đã thấy là đánh ở Trung Du, trên đường 18, chúng ta vẫn có khả năng tiêu diệt sinh lực địch, nhưng rõ ràng là ở Tây Bắc chúng ta có nhiều khả năng tập trung binh lực ưu thế hơn địch để tiêu diệt từng mảng sinh lực lớn của chúng. Trong điều kiện ta chưa có hỏa lực phòng không đủ mạnh để bảo đảm không phận tác chiến, hỏa lực chống tăng còn rất mỏng, hỏa lực pháo chưa đủ để chế áp pháo địch, phương tiện cơ động không có thì chủ trương mở chiến dịch Tây Bắc của Bộ là vừa sức đối với tình hình bộ đội chủ lực ta lúc đó.

        Trên chiến trường Bắc Bộ vào năm 1952 không có chiến trường nào địch yếu như trên chiến trường Tây Bắc. thành phần binh lính có tới 80 phần trăm là lính ngụy. Bố trí của chúng lại hết sức phân tán trên một tuyến dài hàng trăm ki-lô-mét. Các phân khu, tiểu khu lại cô lập, khó cứu viện lẫn nhau. Từ chiến dịch Trung Du đến Hoàng Hoa Thám, Hòa Bình, tôi thấy chỗ mạnh nhất của địch là có khói quân cơ động, có máy bay, xe tăng, pháo binh. Trên Tây Bắc, muốn sử dụng quân cơ động ứng cứu thì chỉ có cách dùng quân dù. Với số lượng máy bay chỉ có hạn, chúng chỉ có thể sử dụng từng tiểu đoàn ứng chiến chứ không thể đưa vài ba binh đoàn cơ động ứng chiến ngay tức khắc như ở trung du hoặc đồng bằng Bắc Bộ. Tây Bắc lại xa các căn cứ không quân và do điều kiện địa hình, thời tiết không quân Pháp không thể hoạt động như ở các chiến trường khác. Tóm lại, Tây Bắc đã hạn chế chỗ mạnh của địch.

        Về ta, với địa hình hiểm trở của Tây Bắc, chúng ta có điều kiện sử dụng binh lực tập trung đập vỡ từng mảng phòng tuyến của chúng, vừa tiêu diệt nhiều sinh lực địch, vừa giải phóng được đất đai, có khả năng làm thay đổi so sánh lực lượng và làm thay dổi cục diện chiến trường. So với chiến dịch Hòa Bình, lần này đại đoàn 312 đã mạnh lên rất nhiều. đó là kết quả của cuộc chỉnh huấn về chính trị và huấn luyện quân sự, chấn chỉnh tổ chức trong cả mùa hè 1952.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #67 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:49:22 am »


*

*       *

        Mùa hè năm 1952, sau chiến dịch Hòa Bình chúng tôi lại về Phú Thọ tiến hành chỉnh huấn chính trị và huấn luyện quân sự. Kể từ ngày thành lập quân đội cho đến năm 1952, lần đầu tiên quân đội ta tiến hành học tập chính trị tập trung nhất, rộng lớn nhất. Từ Khu 5 trở ra, các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương, cơ quan, nhà trường đều học chung một chương trình thống nhất. Cán bộ từ đại đội trở lên học “Mấy vấn đề về cách mạng Việt Minh”; cán bộ tiểu đội, trung đội, chiến sĩ học tài liệu “Quân đội nhân dân Việt Nam” và tài liệu “Trường kì kháng chiến nhất định thắng lợi”.

        Mặc dù có nhưng thiếu sót này thiếu sót khác về phương pháp nhưng cuộc chỉnh huấn đã bước đầu nâng cao được giác ngộ giai cấp của quân đội ta, làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ mục tiêu chính trị của cuộc chiến đấu; từ đó hiểu rõ bản chất và nhiệm vụ quân đội nhân dân, nâng cao lòng yêu nước, tinh thần quốc tế, tăng cường đoàn kết nội bội, đoàn kết quân dân, nâng cao quyết tâm chiến đấu. những cán bộ quân sự chúng tôi ai nấy đều ghi nhận chính cuộc chỉnh huấn mùa hè năm đó đã thực sự tăng thêm sức mạnh chiến đấu cho đơn vị. Sức mạnh đó đã được thể hiện rất rõ trong cuộc chiến tranh gian khổ tiến vào Tây Bắc, trong những cuộc truy kích năm, sáu ngày đêm không nghỉ, trong việc giúp đỡ đồng bào vùng giải phóng nhường cơm, nhường thuốc cho đồng bào và trong hiệp đồng tác chiến với quân đội Pa-thét Lào.

        Sau chỉnh huấn chính trị, bộ đội tiến hành chấn chỉnh về tổ chức, biên chế và trang bị. Các đại đoàn cơ động được biên chế thống nhất theo quy định của bộ Tỏng tham mưu. Đại đoàn chúng tôi có ba trung đoàn bộ binh và các tiểu đoàn trực thuộc như công binh, pháo binh, phòng không, thông tin vận tải. Mỗi tiểu đoàn bộ binh có một đại đội chủ công gồm bốn trung đội. Đại đoàn 312 được biên chế thống nhất giảm được hơn 1.000 người nhưng trang bị, vũ khí mạnh hơn trước. Việc học tập quân sự trong mùa hè năm đó cũng theo tài liệu thống nhất của Bộ Tổng Tham mưu. Về học đánh công sự kiên cố, các đơn vị học đánh cứ điểm kiên cố có binh lực trên dưới một tiểu đoàn địch, học đánh vận động tiêu diệt những binh đoàn cơ động lớn. Đại đoàn có một tiểu đoàn diễn tập thực binh có bắn đạn thật, có các phân đội hỏa lực và chuyên môn phối thuộc… Lại nhớ hồi ở Sơn La rút về Phú Thọ để huấn luyện, cứ mỗi lần học đánh đồn là anh em vào nhà dân mượn dao. Thuốc nổ chưa biết dùng, lựu đạn không có, đạn bắn bia tính từng viên. Cả thao trường vang lên tiếng do chan chát chặt vào hàng rào tre đực vang cả một góc rừng. Bộ đội diễn tập mà nghe như phát nương.

        Điều đặc biệt làm anh em yên tâm là Trung ương Đảng và Chính phủ đã cho thi hành chế độ cung cấp, chế độ quân trang chế độ thuốc men cho quân đội. Cũng năm 1952 điều lệ tạm thời về dân công được ban bố. Sức người, sức của hậu phương được huy động có tổ chức, tránh được sự lãng phí. Có thể nói mùa hè năm đó là một bước ngoặt đối với việc xây dựng lực lượng vũ trang. Chúng tôi đi vào chiến dịch Tây Bắc với niềm tin và sức mạnh mới.

        Tây Bắc là chiến trường có tầm quan trọng về chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ lúc đó. Chiếm đóng Tây Bắc, địch đã tạo ra thế thường xuyên uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc của ta, đánh phá căn cứ du kích của cách mạng Lào. Giải phóng được Tây Bắc, chúng ta sẽ mở rộng và củng cố được căn cứ địa Việt Bắc và tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng lào chúng ta sẽ không lo phía sườn và sau lưng căn cứ địa để tập trung lực lượng tiến công địch trên chiến trường khác, chủ lực ta sẽ có địa bàn cơ động rộng rãi hơn. Các dân tộc ít người ở Tây Bắc lúc đó chỉ có đồng bào Thái là còn bị địch thống trị và lợi dụng. Ở Tây Bắc, địch đã thực hiện được một phần quan trọng âm mưu chia rẽ dân tộc, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh,dùng người Việt đánh người Việt. Nếu lần này chúng ta giải phóng được Tây Bắc thì có thể nói trên chiến trường Bắc Bộ, âm mưu chia rẽ dân tộc của địch đã thất bại. Ở Tây Bắc địch có tám tiểu đoàn và 41 đại đội, phân tán trên 144 cứ điểm, trong đó có 40 cứ điểm có từ một đến hai đại đội, còn thường là cứ điểm từ một đến hai trung đội. Trừ một số vị trí then chốt có công sự kiên cố như Nghĩa Lộ, Mộc Châu còn phần lớn đều bằng gỗ, đất. Ở Tây Bắc, ta có điều kiện tập trung ưu thế binh lực tiêu diệt sinh lực địch nhiều hơn các chiến trường khác.

        Mục đích của chiến dịch lần này là: tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân Tây Bắc, giải phóng một bộ phận đất đai. Cả ba mục đích đó có quan hệ mật thiết với nhau. Có tiêu diệt sinh lực đich mới tranh thủ được nhân dân và giải phóng được đất đai.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #68 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:51:23 am »


        Với quyết tâm tiêu diệt sinh lực, giải phóng đất dai Tây Bắc, từ tháng 4 năm 1952 Trung ương Đảng đã ra những hỉ tị về công tác chuẩn bị chiến dịch. Trung ương đã điều thêm cán bộ đủ để kiện toàn bộ máy hậu cần của chiến dịch, chuẩn bị đường sá bảo đảm giao thông, vận tải lương thực, thực phẩm, thuốc men cho chiến dịch.

        Tháng 8 năm 1952 Bộ Chính trị ra nghị quyết về chính sách vận động đồng bào dân tộc ít người. Chủ tịch Hồ Chí Minh tự tay soạn thảo “Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ cho bộ đội và nhân dân vùng mới giải phóng”. Sau những công tác tổ chức để chuẩn bị điều kiện tất thắng cho chiến dịch, tháng 9 năm 1952 Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Các đại đoàn 308, 312, 316, 351 đánh địch ở Tây Bắc. Đại đoàn 320 và đại đoàn 304 đánh địch ở vùng sau lưng địch Liên khu 3.

        Ngày 9 tháng 9 năm 1952, hội nghị phổ biến kế hoạch chiến dịch Tây Bắc được triệu tập ở một khu rừng thuộc Chợ Chu (Thái Nguyên). Ngày cuối cùng của cuộc họp Bác đến. Hôm ấy trời mưa rất to, gió núi thổi ào ào. Chúng tôi ngồi trong hội trường nghe thấy tiếng suối réo ầm ầm dưới chân đồi. Ai cũng mong được gặp Bác vì mỗi lần được gặp Bác lại cảm thấy niềm tin, thấy nghị lực và sự say sưa được cống hiến của mình được nâng cao thêm. Nhìn những hàng cây rừng lay động trong gió mưa, ai cũng lo cho sức khỏe của Bác. Tất cả nhìn xuống con đường mòn ngập nước dưới chân đồi. thấp thoáng trong màn mưa lờ mờ bóng một cái ô đen. Anh Văn, anh Thanh chạy ra. Đúng Bác rồi! Bác che ô, tay chống gậy, một tay xách dép, chân đầy bùn. Bác bước qua rãnh nước chảy vào hội trường. Mái tóc, bộ râu của Bác dính hết nước mưa. Qua làn áo thấm nước dính vào vai, thấy rõ đôi vai mảnh khảnh của Bác hơi nhô lên. Tôi ứa nước mắt. Cả hội trường lặng đi vì nghẹn ngào. Bác bước lên bục hội trường. Tiếng vỗ tay như sấm dậy. Tất cả đồng thanh:

        - Hồ Chủ tịch muôn năm!

        - Bác Hồ muôn năm!

        Bác nhìn chúng tôi chớp chớp. Đột ngột và nhanh nhẹn như một người chỉ huy dàn nhạc giao hưởng, Bác khoát tay sang hai bên. Hiệu lệnh yên lặng quen thuộc của Bác. Tất cả yên lặng. Bác nói: “Hôm nay trời mưa to, suối nước lũ, khi đi đến một cái suối nước chảy mạnh, thấy bên kia có một số đồng bào đang ngồi đợi nước xuống để sang. Bác nghĩ: nếu không đi ngay, e các chú phải đợi mất thì giờ. Nên Bác cùng mấy chú nữa quyết tâm cởi áo quần, tay sào, tay gậy lần sang được. Thấy Bác sang được, nhóm đồng bào kia cũng quyết tâm sang. Đó là kinh nghiệm cho các chú. Bất kì việc gì to hay nhỏ, mình có quyết tâm thì làm được, mà còn lôi cuốn được người khác cùng quyết tâm như mình”1.

        Chỉ ra rừng cây nặng trĩu nước đang đu đưa tron gió, Bác nói: “Còn gì dễ hơn là ngắt một cái lá kia, nhưng nếu không quyết tâm bước ra ngắt thì vẫn không ngắt nổi”. Phân tích về quyết tâm của Trung ương, Tổng Quân ủy, Bác nói: “Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kĩ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp dến, và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi. Quyết tâm của Trung ương chưa đủ, còn phải để cho các chú cân nhắc kĩ thấy rõ cái dễ và cái khó để truyền cái quyết tâm đó cho các chú. Trung ương và các chú quyết tâm cũng chưa đủ, mà còn phải làm cho quyết tâm đó xuống đến mọi người chiến sĩ. Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống dưới, và từ từ dưới lên trên… Gặp thuận lợi thì phải quyết tâm phát triển, gặp khó khăn thì phải quyết tâm khắc phục… Gặp cái dễ mà không quyết tâm khắc phục thì nó có thể biến thành cái khó, gặp cái khó mà quyết tâm khắc phục thì cũng thành cái dễ”2.

        Bác bắt tay, thân mật hỏi chuyện chúng tôi. Khi đến trước đoàn 312, Bác bắt tay tôi hỏi:

        - Chú Tấn, chiến dịch này chú tính thế nào?

        Tôi đứng nghiêm thưa với Bác:

        - Thưa Bác, thay mặt cho cán bộ, chiến sĩ đại đoàn 312, cháu xin hứa trong chiến dịch này gặp khó khăn thì quyết tâm khắc phục.

        Quyết tâm lớn của Bác được truyền cho tất cả các cán bộ chỉ huy chiến dịch và đã trở thành quyết tâm, thành sức mạnh chiến đấu đè bẹp quân thù, và câu chuyện vượt suối lũ của Bác được truyền trong cán bộ, chiến sĩ suốt trong chiến dịch như một huyền thoại.

----------------
        1, 2.  Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nhà xuát bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr.218-219.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #69 vào lúc: 09 Tháng Mười Một, 2016, 12:53:43 am »


*

*       *

        Bước vào Thu Đông năm 1952, trước khi Tây Bắc nổ súng, từ đầu tháng 10, hai đại đoàn 320 và 304 tiến sâu vào vùng sau lưng địch tại Nam Định và Ninh Bình cùng với lực lượng tại chỗ mở một đợt hoạt động mạnh nhằm tiêu diệt sinh lực địch, thu hút các binh đoàn cơ động ứng chiến, đánh lạc hướng phán đoán của chúng. Trong khi đó ba đại đoàn 308, 312, 316 sẽ chia làm bốm mũi vượt sông Thao trong cùng một đêm đánh vào tuyến Nghĩa Lộ, La Phù, đánh ngang sườn tuyến phòng thủ của địch, đồng thời tranh thủ tiêu diệt địch ở tiểu khu Phù Yên, sau đó khuếch trương chiến quả, quét sạch địch tới sát bờ sông Đà, tạo điều kiện tiến công Sơn La.

        Ngày 10 tháng 10, toàn đại đoàn vượt sông Thao chia làm hai cánh. Một cánh gồm trung đoàn 141 và pháo phối thuộc vượt qua Khe Lóng, nhanh chóng tiến vào tiêu diệt vị trí Sài Lương, nổ súng mở màn chiến dịch. Một cánh khác gồm hai trung đoàn 209 và 165 cùng đại đoàn bộ theo hướng bắc, vượt đèo Nậm Bằng cao gần 2.000 mét, dọc đường tiêu diệt địch ở La Hầu Pèng, tiến vào bao vây tiêu diệt địch ở Nậm Mười, Bản Tủ - hai cứ điểm thuộc phân khu Nghĩa Lộ. Yêu cầu về chiến thuật trong trận mở màn là bí mật, nhanh chóng tiếp cận địch, bất ngờ nổ súng đánh thật nhanh, thật mạnh. Công binh đi trước đội hình làm nhiệm vụ tổ chức bến vượt sông, khắc phục suối và dốc trên những đoạn đường khó đi.

        Trong đợt mở màn, đại đoàn có nhiệm vụ tiêu diệt Sài Lương, đánh viện trên đường Gia Hội - Nghĩa Lộ và chuẩn bị tiến công Gia Hội. Để bảo đảm bí mật chiến dịch, chúng tôi phải hành quân qua những chặng đường địch không ngờ tới, không đề phòng. Đó là những lối đi cắt rừng qua những ngọn núi cao, những triền cỏ tranh không có nước uống, những dốc cao gần như dựng đứng. Đi lên phải bám từng bậc mà leo. Khi xuống phải ngồi mà tụt xuống một mạch cả người và vũ khí, trang bị, lương thực, quân dụng. Đường đã khó đi, lại phải bảo đảm kỉ luật thời gian nổ súng đúng giờ quy định. Thời tiết vùng cao vào tháng 10 ban ngày trời nắng hanh gay gắt nhưng chiều đến lạnh buốt. Để bảo đảm kỉ luật thời gian, chúng tôi phải đi cả ngày lẫn đem. Muốn đi được ban ngày phải tìm những con đường mà chính địch cũng không dám đến. Đó là những con đường xuyên rừng, vượt qua những ngọn núi cao không một giọt nước. Như một người học võ khổ công rèn luyện ngày đêm để có đủ bản lính trước đối thủ, cuộc hành quân gian khổ, bí mật của các đại đoàn chủ lực vào Tây Bắc đã giữ được thế bất ngờ về chiến dịch. Thu đông năm 1952, Sa-lăng, tổng chỉ huy quân Pháp tự hỏi liệu thu đông này đối phương sẽ mở màn chiến dịch trên đường nào? Cuối tháng 9, ông ta thấy sự vận chuyển của quân ta trên sông Hồng đến tả ngạn sông Đà. Tuy vậy, ông ta vẫn chưa thật tin cái “Xứ Thái” lại có thể bị tiến công. Đầu tháng 10, khi hai đại đoàn 320 và 304 vào đồng bằng Bắc Bộ thì bộ chỉ huy Pháp lại phân vân: không hiểu đối phương chọn đồng bằng hay Tây Bắc. Nhưng tự hào là người chỉ huy am hiểu Đông Dương, cộng với thói quen chờ đối phương lộ rõ ý định mứi hạ quyết tâm xử trí, ngày 5 tháng 10 tướng Sa-lăng vẫn bay vào Sài Gòn để đón tiếp và hướng dẫn bộ trưởng chiến tranh Đờ-Sơ-vi-nhê thăm miền Nam Việt Nam.

        Cuối tháng  9, trung đoàn trưởng cùng các tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng chủ công đi chuẩn bị chiến trường. Tôi và quyền chính ủy đi với hai trung đoàn 209 và 165. Trung đoàn 141 đi riêng theo đường Khe Lóng vào Sài Lương. Căn cứ vào đường đi trên bản đồ, anh em mang theo 12 ngày gạo. Dọc đường gặp bốn đồng bào địa phương đi đào củ rừng. Bốn người tình nguyện dẫn đường. Thế là số gạo phải san cho đồng bào cùng ăn. Anh em đi chuẩn bị chiến trường đúng vào dịp trời mưa to, suối tràn nước chảy rất xiết, có con suối nước ngập ngưng lưng phải bơi. Tính ra anh em phải vượt suối tất cả ba mươi sáu lần mới tới được Khe Lóng. Từ Khe Lóng phải tránh đi ban ngày để giữ bí mật. Thời gian do vậy phải kéo dài. Tính ra mất hơn tám ngày mới tới được Sài Lương.

        Sài Lương là vị trí tiền tiêu của Nghĩa Lộ, nằm trên con đường tắt từ sông Thao vào thị trấn Nghĩa Lộ, khác với các vị trí khác, Sài Lương là bàn đạp định hướng dùng để tung gián điệp, biệt kích vào vùng tự do. Vì vậy ở Sài Lương địch không phát hoang như những cứ điểm khác. Đồn Sài Lương đóng trên một đồi cao xung quanh là những lũy tre dày cao vút, lau lách, cây cối rậm rạp, bốn bên là núi cao, vách đá. Vào Sài Lương chỉ có một đường. Không thể quan sát từ xa được, anh em đi chuẩn bị chiến trường đánh phải đợi đến đêm. Mặc dù đã phải san gạo ra ăn rất dè sẻn nhưng cũng không đủ vì còn phải tín đến lúc quay ra đón bộ đội vào để kịp nổ súng theo quy định của Bộ chỉ huy chiến dịch. Vì vậy, anh em phải quay ra mặc dù còn một số vị trí chưa trinh sát được hết.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM