Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:21:15 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Từ Đồng Quan đến Điện Biên  (Đọc 48001 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #90 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 05:18:09 am »


        Ngày 21 tháng 11 ở Điện Biên chỉ có sáu tiểu đoàn. Ngày 7 tháng 12 lên đến chín tiểu đoàn. Ngày 25 tháng 12: mười tiểu đoàn. Thế là chủ trương tránh tổng giao chiến với chủ lực ta trong bước một của kế hoạch Na-va đã không thực hiện được. Kế hoạch Na-va bị đảo lộn.

        Đồng thời với cuộc tiến công Lai Châu và gấp rút bao vây Điện Biên Phủ, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với Quân giải phóng Pa-thét Lào đã mở cuộc tiến công vào hướng Trung Lào, nơi địch tương đối sơ hở.

        Ngày 3 tháng 12 Na-va tổ chức cuộc hành quân Rê-gát từ Điện Biên Phủ xuống và từ Ác-dét từ Luông Pha-băng lên, hợp điểm ở Sốp Nao tạo thành một hành lang chiến lược nối Điện Biên Phủ với Luông Pha-băng dọc sông Nậm U để tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ khỏi bị cô lập vào có đường rút chạy khi cần thiết.

        Về ta, thực hiện kế hoạch tiến công Trung Lào, đêm 21 tháng 12 năm 1953, hai tiểu đoàn thuộc đại đoàn 325 lợi dụng lúc địch ở vị trí Khăm He chưa được củng cố công sự, bất ngờ tập kích, tiêu diệt nhanh chóng tiểu đoàn lính Âu Phi và tiểu đoàn pháo binh địch. Trận Khăm Khe giáng một đòn mạnh vào tinh thần địch ở Trung Lào. Ngày 22 tháng 12 năm 1953 địch ở vị trí Ba-na-phào rút chạy. Đang chuẩn bị đánh công sự vững chắc, chuyển sang truy kích, quân ta đã chạy bộ đuổi địch rút bằng cơ giới. Mộ tiểu đoàn của trung đoàn 66 đại đoàn 304 xác định được hướng địch rút, đã tranh thủ thời gian bám sát địch, nhanh chóng vượt sông Sê-băng-phai trong điều kiện chưa được chuẩn bị và tiến công ngay khi chúng vừa cụm lại ở Pa Cuội. Do tận dụng được yếu tố bất ngờ, tiểu đoàn này đã diệt gọn trên một tiểu đoàn tinh nhuệ của địch, bắt sống 500 tên, thu rất nhiều xe cộ và vũ khí.

        Chỉ trong có hai ngày, các đơn vị Lào - Việt đã tiêu diệt hoàn toàn ba tiểu đoàn lính Âu Phi cơ động và một tiểu đoàn pháo gồm 2.200 tên. Quân địch hoảng hốt bỏ cả phòng tuyến rút chạy. Hệ thống phòng thủ cứng nhất của địch ở Trung Lào sụp đổ. Cả phòng tuyến chắn ngang nước Lào của địch bị phá vỡ. Liên quân tiến rất nhanh về hướng Thà Khẹt và truy địch về hướng đường số 9. Địch vộ vã rút khỏi Thà Khẹt chạy về Sê Nô, một căn cứ quân sự ở Xa-va-na-khét.

        Ngày 25 tháng 12 Quân giải phóng Pa-thét Lào tiến vào thị xã Thà Khẹt. Một số vị trí địch trên đường số 9 bị tiêu diệt. Vùng giải phóng của nhân dân Lào được mở rộng từ Sầm Nưa đến đường số 9, từ Trường Sơn đến sông Mê Công bị cắt đứt. Báo chí đưa lên trang đầu những dòng tít lớn: “Đông Dương bị cắt làm đôi”… Na- va phải rút bốn tiểu đoàn cơ động ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và một tiểu đoàn ở Nam Bộ ra để tổ chức Sê Nô thành một tập đoàn cứ điểm mười tiểu đoàn.

        Sau đồng bằng Bắc bộ, Điện Biên Phủ, Sê Nô là nơi tập trung binh lực thứ ba của Na-va. Ông ta đã không giữ được dây cương để mặc cho chỗ xe chiến tranh chạy ra khỏi quỹ đạo ban đầu.

        Trong lúc Na-va còn đang bàng hoàng trước đòn tiến công của quân ta ở Trung Lào thì quân ta đã dùng một lực lượng nhỏ thuộc đại đoàn 325 bất ngờ đánh xuống Hạ Lào. Đây là một địa bàn chiến lược trọng yếu, nhưng rất sơ hở vì ngoài đường sông Mê Công và đường không, chỉ có con đường số 13 là đường duy nhất xuống Hà Lào.

        Được giao nhiệm vụ tổ chức mũi thọc sâu xuống Hạ Lào, đại đoàn 325 đã tổ chức tiểu đoàn 436 thành một tiểu đoàn mạnh. Bình thường các tiểu đoàn bộ binh theo biên chế chính thức lúc đó có 500 quân nhưng tiểu đoàn 346 có 750 cán bộ, chiến sĩ biên chế thành năm đại đội gồm ba đại đội bộ binh, một đại đội ĐKZ, một đại đội súng cối. Bộ binh hầu hết được trang bị tiểu liên K.50 và trung liên, đại liên. Đơn vị được phát tiền Đông Dương để chi tiêu trong vùng địch tạm chiếm, đủ ăn trong một năm. Đạn dược và muối ăn đủ để hoạt động trong thời gian đó. Trung đoàn phó và phó chính ủy trung đoàn 101 đi cùng tiểu đoàn để tăng cường chỉ huy và lãnh đạo. Để giữ bí mật, trung đoàn đã cắt rừng, đi theo đường mòn, con đường mà sau này trong kháng chiến chống Mĩ trở thành đường mòn Hồ Chí Minh. Qua Trị - Thiên tiểu đoàn được tỉnh ủy Thừa Thiên huy động 1.500 dân công vượt qua đồn bốt địch, giúp tiểu đoàn tiếp tế gạo ăn đường và mang vác vũ khí. Qua Tây Nguyên vào mùa “cấm rẫy”, đồng bào Gia Rai, Ba Na, Ê Đê đã tự nguyện phá bổ tục lệ, làm lễ tế thần, mở đường cho tiểu đoàn đi qua. Đồng bào còn bí mật gùi gạo, sắn, bắp để sẵn trên đường tiểu đoàn hành quân. Tới giữa tháng 1 năm 1954, tiểu đoàn 436 đã vượt qua dốc Pan Ninh, theo đường dây liên lạc của Liên khu 5 vào tập kết trong vùng căn cứ của Quân khu Hạ Lào.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #91 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 05:20:54 am »


        Sau hai tháng hành quân vô cùng gian khổ, tiểu đoàn dã vượt qua vùng rừng núi miền tây Nghệ Tĩnh, Bình - Trị - Thiên, Khu 5, Hạ Lào tới địa điểm quy định đúng thời gian quy định. Toàn bộ quân số, trang bị tới đích an toàn, bí mật. Mục tiêu tiến công của tiểu đoàn là A-tô-pơ, một vùng rừng núi dân cư thưa thớt thuộc khu vực ngã ba biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia.

        Địch ở A-tô-pơ có khoảng 1.000 tên bố trí thành hai cụm. Cụm thứ nhất có bốn đại đội chủ lực bố tí ở khu vực thị xã và sân bay A-tô-pơ. Cụm thứ hai có một đại đội xung kích và một trung đội pháo bố trí ở cứ điểm Pui.

        Sau khi cung các bạn Lào vào thị xã A-tô-pơ trinh sát, tiểu đoàn 436 dã thay đổi kế hoạch: không tiến công khu vực sân bay và thị xã như khi hạ quyết tâm sơ bộ vì địch ở dây tuy ô hợp nhưng công sự khá vững chắc. Còn ở Pui, tuy binh lực địch tinh nhuệ hơn nhưng công sự không kiên cố bằng và lại ở vào thế bị cô lập. Đánh Pui thì bọn địch ở thị xã và sân bay sẽ hoang mang, dao động. Kế hoạch tiến công của tiểu đoàn được Bộ chỉ huy Quân khu Hạ Lào chấp nhận.

        Tiểu đoàn nổ súng đúng đêm giao thừa Tết Nguyên đán. Sau 30 phút chiến đấu, tiểu đoàn đã diệt gọn địch, bắt sống 89 tên, thực hiện xuất sắc trận đánh mở màn. Trong khi đó, theo đúng kế hoạch hiệp đồng giữa ta và bạn, các bạn Lào đã bao vây thị xã. Các cán bộ Neo Lào Hắc-xạt phát động nhân dân thị xã A-tô-pơ đưa hàng trăm gia đình binh sĩ tới các đồn trong và ngoài thị xã đòi chồng con về. Binh sĩ ở một số đồn bốt hưởng ứng cuộc đấu tranh của nhân dân.

        Chiều ngày 30, bọn chỉ huy Pháp không thể chỉ huy nổi binh lính phải vột vã rút khỏi thị xã chạy về Pắc Xế. Tiểu đoàn 436 từ Pui cơ động về thì thị xã đang bốc cháy. Tiểu đoàn đã cùng các bạn đánh thẳng vào thị xã. Địch chống cự yếu ớt và nhanh chóng tan rã. Hai mươi mốt giờ cùng ngày, liên quân Lào - Việt hoàn toàn làm chủ thị xã A-tô-pơ.

        Không thỏa mãn với thắng lợi đã giành được, tiểu đoàn hạ quyết tâm tiếp tục đánh đuổi quân địch chạy về thị xã Pắc Xế rồi phát triển lên phía bắc giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven. Địch rút chạy theo đường xuyên rừng. Nếu ta cũng xuyên rừng thì đường rất khó đi và có khả năng bị lạc. tiểu đoàn quyết định quay về Pui hành quân theo đường cái lớn cũng sẽ đến được Bô-lô-ven nhưng đường xa hơn đường xuyên rừng khoảng 100 ki-lô-mét.

        Đêm 1 tháng 2 năm 1954 tiểu đoàn đã tới cao nguyên Bô-lô-ven. Tàn quân địch ở A-tô-pơ cũng đã đến nơi kéo theo bọn địch ở Nha Hỏn, Keng Xay chạy về Huội Coòng. Tiểu đoàn nhanh chóng bao vây Huội Coòng. Nếu ta dùng sức mạnh tiến công Huội Coòng có thể bị tổn thất. Tiểu đoàn chủ trương tổ chức phục kích trên đường Huội Coòng đi Pắc Xế, đồng thời tổ chức mở vây cho địch rút để có điều kiện đánh địch ngoài công sự.

        Quyết tâm thông minh này đã được thực hiện đúng như kế hoạch. Địch rút Huội Coòng vào tảng sáng ngày 2 tháng 2 năm 1954. Tiếc rằng lực lượng địch quá đông tiểu đoàn chỉ tiêu diệt được khoảng một nửa. Địch lợi dụng sương mù chạy vào rừng theo hướng Sa-ra-van. Tiểu đoàn đang lúng túng tìm đường thì có một trung đội du kích Bô-lô-ven đến phối hợp chiến đấu. Đây là trung đội du kích do con rể của người anh hùng Com Ma Đam chỉ huy. Anh cho biết, nghe thấy tiếng súng nổ biết rằng địch đã bị đánh nên chủ động đến phối hợp. Được du kích địa phương dẫn đường, tiểu đoàn lại cắt rừng đuổi địch. Chín giờ sáng bộ phận đi đầu của tiểu đoàn gặp địch trên bờ sông H, phát hiện địch đang nằm ngổn ngang ở bờ sông, đại đội trưởng ra lệnh nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch luống cuống nhảy xuống sông bị chết đuối khá nhiều. Được sự hướng dẫn của du kích Bô-lô-ven, tiểu đoàn đã phá nát căn cứ phỉ trên cao nguyên Bô-lô-ven mà Pháp đã công phu xây dựng dể đánh phá Hạ Lào.

        Ngày 5 tháng 2 tiểu đoàn 436 từ Bô-lô-ven đánh vào các cứ điểm Bung Kao, Lào Ngam. Địch bỏ chạy về Sa-ra-van. Tiểu đoàn tiếp tục đánh sang thị trấn Thàng Teng (Viêng Thông) thuộc vùng Tà Ven Oọc. Bọn này đã bị tiểu đoàn chủ lực Hạ Lào bao vây tiến công trước đó bốn ngày. Địch lại bỏ chạy về Sa-ra-van. Cùng với tiểu đoàn chủ lực Hạ Lào, tiểu đoàn đã tiến lên Sa-a-van bao vây thị xã. Tình thế buộc Na-va phải tung binh đoàn lê dương số 7 từ đồng bằng Bắc Bộ sang Trung- Hạ Lào và binh đoàn ơ động ngụy số 51 xuống thị xã Sa-ra-van, xây dựng Sa-ra-van thành cụm cứ điểm lớn thứ hai ở Trung - Hạ Lào.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #92 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:42:13 pm »


        Trong mười ngày liên tục tiến công, tiểu đoàn 436 trung đoàn 101 đại đoàn 325 đã cùng quân và dân nước bạn tiêu diệt và làm tan rã gần 3.00 tên địch, giải phóng một vùng rộng hơn hai vạn ki-lô-mét vuông, nối liền vùng giải phóng Trung Lào với vùng giải phóng Hạ Lào. Tiểu đoàn đã hoàn thành sản xuất nhiệm vụ thọc sâu có ý nghĩa chiến lược, dùng binh lực ít nhưng tinh nhuệ, đánh vào nơi địch yếu và sơ hở thực hiện được ý đồ chiến lược của Bộ, buộc địch phải tiếp tục phân tán binh lực mà chúng rất muốn sử dụng tập trung, lam đảo lộn thế phòng ngự của chúng ở Trung - Hạ Lào, giải phóng những địa bàn có ý nghĩa chiến lược đố với cuộc chiến tranh giải phóng của hai nước Lào - Việt.

        Tiểu đoàn đã độc lập chiến đấu đạt hiệu suất cao trong khi xa sự chỉ huy của trên, không được bổ sung quân số, không được tiếp tế. Quán triệt sâu sắc phương châm “tích cực chủ động, cơ động linh hoạt”, bằng hành động cụ thể, tiểu đoàn 436 đã khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, tìm địch mà đánh, mở đường mà đi, dũng cảm thọc sâu, không sợ hở sườn, không lo lạnh lưng. Trước mỗi tình huống, cán bộ tiểu đoàn đã phán đoán chính xác hạ quyết tâm nhanh, tổ chức thực hiên cụ thể. Gặp tình huống thay đổi, tiểu đoàn đã nhạy bén thay đổi kế hoạch, khi tiến công thì sử dụng binh lực tập trung, biết lượng sức mình, đã đánh và thắng với nhiều cách đánh phong phú. Khi tổ chức tiến công bằng sức mạnh, khi truy kích, phục kích, đánh địch trong công sự hay đang vận động đều giỏi. Đặc biệt tiểu đoàn đã khai thác những thuận lợi do thế chiến lược chung tạo nên, triêt để khai thác yếu tố bất ngờ, khiến cho sức mạnh của tiểu đoàn được nhân lên gấp nhiều lần. Với tinh thần chấp hành mệnh lệnh không điều kiện, tiểu đoàn đã nâng hiệu lực chiến đấu của bản thân tương đương một binh đoàn. Quán triệt tinh thần quốc tế vô sản, coi kẻ thù của nước bạn như kẻ thù của mình, tôn trọng nhân dân và quân đội bạn như nhân dân, như đồng đội của mình, tiểu đoàn dã được nhân dân nước bạn và quân đội bạn sát cánh chiến đấu, tạo thuận lợi cho tiểu đoàn hoàn thành nhiệm vụ.

*

*       *

        Trong ba tháng (từ trung tuần tháng 11 năm 1953 đến trung tuần tháng 1 năm 1954, tướng Na-va tiếp tục phân tán khối chủ lực của ông ta lên Tây Bắc, san Hạ Lào, xuống Trung Lào, tổ chức những cuộc hành quân có tính chất chống đỡ và bị đánh bại trên nhiều hướng. Nhưng Na-va vẫn chưa phán đoán được ý đồ chiến lược của ta.

        Thấy chiếm được Điện Biên Phủ không khó khăn lắm, lại thấy chủ lực ta chỉ đánh vào nơi sơ hở, nơi quân Pháp yếu, Na-va cho rằng quân ta không đủ sức tiến công Điện Biên Phủ. Từ nhận đinh này, nhìn Điện Biên Phủ ông ta thấy nó rất mạnh. Nhìn rộng ra, ông ta cho rằng Điện Biên Phủ ở rất xa hậu phương ta, có muốn tiến công, quân ta cũng không thể khắc phục được những khó khăn về bảo đảm hậu cần, đường sá. Thấy chúng ta tiến công trên nhiều hướng, ông ta lại cho rằng quân ta đang do dự trước kiểu phòng ngự mới của quân đội Pháp. Nếu quân ta do dự thì ông ta sẵn sàng chờ đợi một thời gian nữa, gặp khó khăn về lương thực quân ta sẽ phải rút khỏi Tây Bắc. Lúc đó Na-va sẽ đánh tiêu hao chủ lực ta trên đường rút lui và sẽ tiếp tục thực hiện kế hoạch đã định, đánh chiếm Tuần Giáo, lấy lại Sơn La và có thể trở lại Nà Sản. Điện Biên Phủ quan trọng thật nhưng chỉ có tính chất cục bộ. Đồng bằng Liên khu 5 mới là vùng quan trọng cả về kinh tế và chính trị. Phải cho đánh chiếm vùng mà trước đây tướng Sa-lăng đã đề ra nhưng chưa thực hiện được. Chiếm xong sẽ giao cho chính quyền Bảo Đại tảo thanh, bình định. Ông ta sẽ gây ảnh hướng chính trị chưa từng thấy. Kế hoạch tiến công ra vùng tự do Liên khu 5 mang mật danh Át-lăng.

        Kế hoạch Át-lăng có ba bước. Bước một chiếm Tuy Hòa, Phú Yên. Bước hai chiếm Quy Nhơn, Bồng Sơn. Bước ba hoàn chỉnh cuộc hành quân bằng hành động nối liền Bồng Sơn với Quảng Nam. Phải bắt bằng được 30.000 thanh niên trai tráng vào hương dũng, địa phương quân để giữ vùng đất mới chiếm. Việc bình định về sau sẽ giao cho Phan Văn giáo, thủ hiến trung phần chỉ huy. Ngày 20 tháng 1 bước một của chiến dịch Át-lăng bắt đầu.

        Tướng Lơ Blăng chỉ huy quân Pháp ở Trun Bộ chỉ huy 22 tiểu đoàn bộ binh và lính dù trong G.M 10 (Bắc Phi), GM100 mới ở chiến trường Triêu Tiên về, các GM 31 và 32 cộng tám tiểu đoàn cơ động chiến lược và hai tiểu đoàn dù cùng một số đơn vị pháo binh, cơ giới, công binh, vận tải… đổ bộ đánh chiếm Tuy Hòa, Phú Yên.

        Mặc dù bị địch đánh vào vùng tự do của ta nhưng Bộ tư lệnh Liên khu 5 vẫn hạ quyết tâm kiên quyết thực hiện kế hoạch đã đinh: chỉ để một bộ phận nhỏ tác chiến ở đồng bằng còn phần lớn lực lượng tập trung đánh lên Tây Nguyên, một hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối sơ hở.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #93 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:43:21 pm »


        Ngày 26 tháng 11 năm 1954, cuộc tiến công bắt đầu. Lực lượng tiến công có hai trung đoàn chủ lực 108 và 803. Cả hai trung đoàn đều sử dụng tập trung. Mở đầu, ta đánh một lúc ba cứ điểm Măng Đen, Công Pray và Mang Bút trong đó trận Măng Đen là trận then chốt mở đầu do tiểu đoàn 19 trung đoàn 108 đảm nhiệm.

        Măng Đen là cứ điểm tiểu khu có công sự kiên cố. Trận đánh diễn ra quyết liệt từ phút đầu đến phút chót. Với tinh thần dũng cảm, kiên quyết tiến công, các chiến sĩ đã tiêu diệt cả ba mục tiêu Măng Đen, Công Pray, Măng Bút. Hệ thống phòng ngự của địch ở Bắc Tây Nguyên bị phá vỡ một mảng lớn. Phát huy thắng lợi, bộ chỉ huy chiến dịch do đồng chí Nguyễn Chánh, Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 5 trực tiếp chỉ huy đã cho trung đoàn 108 đánh lên phía bắc, trung đoàn 803 tiến xuống phía nam uy hiếp thị xã Công Tum.

        Thiếp theo, ngày 5 tháng 2 quân ta tiêu diệt Đắc Tô và giải phóng thị xã Công Tum, quét sạch quân địch ở Bắc Tây Nguyên, sau đó tiến sát đường số 19. Tình hình trong những ngày đó phát triển rất nhanh. Có nhiều đồn bốt đã bỏ chạy trước khi quân ta đến. bộ đội ta thiếu ăn, thiếu ngủ, ngày nắng đêm rét vẫn kiên quyết đuổi giặc. Dân công gánh nặng trên vai theo sát bộ đội. Đòn tiến công của chủ lực Liên khu 5 đã phá vỡ thế uy hiếp của địch đối với vùng sau lưng Quảng Nam, Quảng Ngãi, giải phóng cả một vùng địa bàn chiến lược quan trọng ở Bắc Tây Nguyên rộng 16.000 ki-lô-mét vuông với 20 vạn dân, bảo vệ được vùng tự do Phú Yên, Bình Định. Vung tự do của ta từ ven biển Quảng Nam - Quảng ngãi đến biên giứi Việt - Lào đã được nối liền với vùng giải phóng tây-nam Bô-lô-ven.

        Ngày 28 tháng 1 năm 1954, Na-va ra lệnh đình chỉ cuộc hành quân ở đồng bằng Liên khu 5, rút G.M số 100 và hai tiểu đoàn dù ra khỏi cuộc hành quân Át-lăng cùng với hai G.M 11 và 21 thuộc lực lượng cơ động chiến lược lên Tây Nguyên, tổ chức Plây Cu và An Khê thành hai tập đoàn cứ điểm. Plây Cu và An Khê trở thành nơi phân tán binh lực thứ tư của Na-va.

*

*       *

        Ngày lại ngày, toàn đại đoàn 312 vẫn nằm trong khu rừưg Phú Thọ nghe tin thắng lợi của các đơn vị bạn trên chiến trường mà lòng thấy nôn nao. Nhưng rồi ngày đầy mong đợi cũng đến. Đại đoàn được lệnh lên đường. Ba trung đoàn vượt sông Hồng trên ba bến khác nhau bí mật, an toàn. Thuyền mượn của nhân dân đã tập trung trong dân, mờ sáng hôm sau lại phân tán. Tất cả đều diễn ra trật tự, im lặng. Không một ánh lửa, không một tiếng nói. Đường đi chiến dịch năm nay đã mở rộng. Trên đường qua Thượng Bằng La, đèo Lũng Lô mới đầu năm, khi chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ ở Sốp Hào về còn âm u rập rạp nay đã mở rộng, rải đá phẳng lì. Trên đèo Phiêng Ban nườm nượp dân công gồng gánh, xe thổ, cả nước lên đường, trong trạng thái phấn chấn của cuộc cách mạng ruộng đất. Qua sông Đà năm nay, chúng tôi được đi cầu phao do công binh bắc từ trước. Ra đến đường số 41 thì một cảnh tượng chưa từng có đã đập vào mắt: hàng đàn ô-tô kép pháo chiếc nọ kéo chiếc kia lăng bành trên con đường rải đá rộng thênh thang giữa hai hàng dân công và bộ đội hành quân theo một hướng. Con đường số 41 đối với tôi có biết bao kỉ niệm vui buồn. Trên con đường này tôi đã cùng đồng chí Trần Duy Hạnh hai ngựa, hai người đi trong đêm giao thừa năm nào về căn cứ Mộc Hạ, bụng đói, quân không, phương thức đánh địch còn đang mò mẫm trong những ngày đầu kháng chiến. Cũng trên con đường này mới năm nào đầy lau lách, chúng tôi phải vừa đi vừa đề phòng bọn biệt kích và những con hổ đói lang thang trên đường đi cùng các đội vũ trang tuyên truyền đi vào vùng đich chiếm dể phát động nhân dân Tây Bắc xây dựng cơ sở chính trị. Và đêm nay, dưới ánh trăng rừng vằng vặc của mùa đông Tây Bắc, con đường sống động như một dòng sông. Người và xe cuồn cuộn nối nhau lên Điện Biên.

        Trong sự phấn chất bất ngờ, có chiến sĩ lần đầu tiên thấy xe kéo pháo không hiểu là xe gì, kéo pháo gì đã đặt tên cho xe kéo là “xẹ mẹ kéo xe con”. Có chiến sĩ nhìn những tấm vải bạt bịt bùng cảm thấy một sức mạnh vừa ghê gớm, vừa bí hiểm đang cùng mình ra trận. Có cậu phấn khởi cứ vỗ vào nòng pháo mà nói: “Bỏ mẹ mày rồi! Na-va ơi là Na-va!”.

        Chúng tôi, những cán bộ chỉ huy có ít nhiều được biết về sự trưởng thành của pháo binh ta nhưng trước cảnh tượng ra trận uy nghi, hùng dũng này cũng thấy lòng phơi phới. Sức mạnh của cả nước chung lòng chung sức để đập tan kế hoạch Na-va kết hợp với sức mạnh của thời đại đã tạo điều kiện cho chúng tôi, những người trực tiếp chiến đấu ở Điện Biên một khả năng tác chiến mới. Tuy vậy cũng đặt ra cho chúng tôi nhưng yêu cầu mới về chỉ huy, về tác chiến hiệp đồng binh chủng trong một chiến dịch tiến công quy mô chưa từng có mà ngay lúc này cũng thôi chưa thấy hết được. Đại đoàn hành quân trong 15 đêm thì tới Điện Biên Phủ, không rớt một người.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #94 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:43:56 pm »


        Ngày 14 tháng 1 năm 1954, cán bộ chỉ huy các đại đoàn được triệu tập về hang Thẩm Púa, sát Điện Biên Phủ để Bộ tư lệnh chiến dịch phổ biến kế hoạch tiến công. Tôi gặp các anh Vương Thừa Vũ, Cao Văn Khánh đại đoàn 308, Chu Huy Mân đại đoàn 316 và Nam Long nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 141 nay là tham mưu trưởng đại đoàn 304. Chúng tôi đã quen biết nhau từ lâu và từ chiến dịch Biên Giới tới nay không chiến dịch nào là không gặp nhau. Nay lại có thêm đại đoàn mới, đại đoàn công pháo 351 do anh Phạm Ngọc Mậu làm chính ủy.

        Đồng chí Phó tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái trình bày tình hình chung trên các chiến trường, sự phá sản của kế hoạch Na-va, kết quả tác chiến của ta trong vùng sau lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ, ở Trị - Thiên, Liên khu 5, Nam Bộ, đặc biệt là sự trưởng thành của chủ lực các quân khu, Tây Nguyên, sự phối hợp tác chiến của quân đội ta với bạn trên chiến trường Trung - Hạ Lào. Đồng chí nêu quyết tâm của Trung ương, của Bác trong việc mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Đây là chiến dịch tiến công lớn nhất của quân đội ta. Trận đánh sẽ đánh dấu bước tiến vượt bậc của quân đội ta, đồng thời đánh bại cố gắng cao nhất về chiến tranh của quân viễn chinh Pháp. Sau đó chúng tôi được thảo luận về cách đánh. Có hai phương án được thảo luận; “đánh chắc, tiến chắc” và “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Đánh chắc, tiến chắc thì hướng chủ yếu sẽ là hướng đông. Đánh nhanh, giải quyết nhanh thì sẽ lấy hướng tây làm hướng chủ yếu. Hướng tây là hướng địch yếu hơn, từ hướng tây, chúng ta có thể đánh thẳng vào sở chỉ huy, trung tâm đầu não của tập đoàn cứ điểm. Sau khi thảo luận, chúng tôi nhất trí với phương án đánh nhanh, giải quyết nhanh. Tuy nhiên, dựa trên nguyên tắc “đánh chắc thắng” của Nghị quyết Trung ương lần thứ tư, chúng tôi cũng nhất trí: rồi đây khi tình hình địch có thay đổi có thể chuyển sang đánh chắc, tiến chắc. Cuối cùng, hội nghị hạ quyết tâm:

        - Tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ!

        - Địch cố thủ, kiên quyết đánh!

        - Địch bỏ chạy, kiên quyết truy!

        - Địch tăng cường, kiên quyết diệt!

        Tôi ra về lòng đầy phấn chấn. Nhưng khi về đến sở chỉ huy lúc đó đặt ở Bản Kéo, điểm lại nhiệm vụ của đại đoàn tôi thấy muốn đánh vào sở chỉ huy của địch, đại đoàn sẽ lần lượt phải đột phá liên tục năm cứ điểm và cụm cứ điểm là Him Lam, 305, 105, sân bay và sở chỉ huy của Đờ Cát.

        Trong lúc đó, đại đoàn 308 được lệnh mở đường để đưa pháo vào Điện Biên Phủ. Với phương án đánh nhanh, giải quyết nhanh, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định sẽ dùng ô-tô kéo pháo từ Tuần Giáo tới ki-lô-mét 69, ở quãng bản Na Nham rồi dừng lại cắt pháo. Sau đó sẽ dùng sức người kéo cả mấy chục khẩu pháo, mỗi khẩu nặng hai tấn rưỡi vượt qua đỉnh núi Pha Sông cao 1.150 mét, qua cả một hệ thống núi dài 15 ki-lô-mét, từ phía đường số 4 sang hẳn con đường mòn Lai Châu - Điện Biên ở phía tây. Sau đó lại kéo pháo thêm một đoạn nữa đến Bản Nghịu mới lập trận địa, nhằm đưa pháo và sát địch mà bắn. Muốn thực hiện ý định đó, phải làm một con đường đủ rộng cho pháo lăn bánh. Thời gian làm trong một ngày phải xong. Đại đoàn 308 được một tiểu đoàn công binh và năm đại đoàn sơn pháo giúp sức. Đại đoàn đã hoàn thành trước hạn định bốn giờ.

        Ngày 17 tháng 1 năm 1954, trung đoàn 165 đại đoàn 312 đã vượt qua dãy núi Tà Lèng vào sát Điện Biên Phủ tổ chức phòng ngự và làm công sự cho pháo. Hai trung đoàn 209 và 141 tham gia kéo pháo. Đêm đầu tiên anh em chỉ dùng sức nên mới kéo được hơn một ki lô-mét. Sau chín ngày đêm lao động khẩn trương, phần lớn các khẩu pháo đã được đưa vào trận địa an toàn. Bài hát Hò kéo pháo của nhạc sĩ Hoàng Vân, lúc đó là đội trưởng văn công đại đoàn 312 ra đời trong bối cảnh đó.

        Trong khi chúng tôi đang chuẩn bị xuất kích, khoảng giữa trưa, bỗng nhiên có lệnh bằng điện thoại của Bộ chỉ huy chiến dịch: “Tạm ngưng cuộc tiến công, kéo pháo ra”. Gần như cùng một lúc lại nhận được điện “Quyết tâm của Trung ương không thay đổi! Địch cố thủ kiên quyết đánh, địch bỏ chạy kiên quyết truy, địch tăng cường kiên quyết diệt!”. Nhận được lệnh, tôi đoán chắc tình hình địch có cái gì thay đổi ghê gớm lắm hoặc là tình hình chung có cái gì chưa tiện thông báo nên mới có sự thay đổi này. Đồng thời, tôi nhận được lệnh của đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy chiến dịch chỉ định tôi làm lực lượng chỉ huy các lực lượng kéo pháo.

        Đúng là tình hình chiến trường đã có những diễn biến mới. Chúng ta bỏ phương án “đánh nhanh, thắng nhanh” để “đánh chắc, tiến chác” là hoàn toàn đúng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #95 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:44:27 pm »


        Ngày 3 tháng 12 năm 1953, Na-va hạ quyết tâm chấp nhận chiến đấu với chủ lực ta ở Điện Biên Phủ. Bộ chỉ huy binh đoàn hành binh Cát-xto đã được thay bằng bộ chỉ huy binh đoàn hành binh Tây Bắc (GONO) gồm 10 đại tá và trung tá. Đến đầu tháng 3 năm1954, binh lực của Pháp ở Điện Biên Phủ đã lên 12.000 tên gồm 12 tiểu đoàn và bảy đại đội. Về trang bị có hai tiểu đoàn pháo 105 (24 khẩu), một đại đội pháo 155 (bốn khẩu), hai đại đội súng cối 120 (20 khẩu), hai đại đội công binh, một đo xe tăng 18 tấn (10 chiếc), một đội xe cơ giới (127 chiếc các loại), một phi đội thường trực (sáu chiếc máy bay khu trục và trinh sát). Ngoài ra còn một số binh khí kĩ thuật khác như mìn đĩa, súng phun lửa, mìn na-pan, khí tài chống khói và đặc biệt có máy hồng ngoại để quan sát ban đêm. Với binh lực và trang bị đó, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được tổ chức thành ba phân khu: bắc, trung tâm và nam. Mỗi phân khu gồm nhiều trung tâm đề kháng. Chung quanh 49 cứ điểm và mỗi trung tâm đề kháng là cả một hệ thống công sự hào chiến đấu, dây thép gai dày từ 50 tới 70 mét và hệ thống mìn các loại. Ngoài hệ thống hỏa lực chung của tập đoàn cứ điểm, mỗi cứ điểm còn có hỏa lực riêng bố trí thành hệ thống chặt chẽ, liên hoàn. Mỗi cứ điểm, mỗi trung tâm vừa có thể độc lập tác chiến lại vừa có thể hỗ trợ cho nhau.

        Na-va đánh giá chúng ta không thể nào kéo dài trận đánh cho nên cơ số vật chất được chuẩn bị theo kế hoạch chỉ gồm chín ngày lương thực, thực phẩm, tám ngày nhiên liệu, từ sáu đến chín cơ số đạn các loại. Kế hoạch tác chiến do Na-va trực tiếp thông qua gồm ba bước:

        Bước một, đẩy nhanh hoạt động ở dưới đất và trên không nhằm trì hoãn việc chuyển quân của đối phương và đánh giá các tuyến giao thông.

        Bước hai, quá trình đối phương tiếp cận tập đoàn cứ điểm và trực tiếp tiếp xúc (dự kiến từ 6 đến 10 ngày) dùng máy bay và pháo binh đánh bật đối phương ra khỏi vị trí tiếp cận.

        Bước ba, nếu đối phương đã buộc phải rút lui, phải kịp thời khuếch trương thắng lợi, gây thêm cho họ nhiều tổn thất suốt trong quá trình lui quân.

        Quá trình hình thành và phát triển mau chóng của tập đoàn cứ điểm cũng là quá trình Na-va và các tướng lĩnh Pháp vững tin Điện Biên Phủ sẽ là một pháo đài bất khả xâm phạm. Theo họ, Điện Biên Phủ là sắt thép mà muốn chọi với săt thép phải có sắt thép. Na-va và cả bộ tham mưu cho là ta không có đủ săt thép để tiến công Điện Biên Phủ. Pháp ta có ít. Trận địa rất khó đặt, số đạn chỉ có hạn, xe tăng không có. Sức người có hạn không thể kéo pháo đặt trên các đỉnh núi chung quanh lòng chảo Điện Biên vì không có đường lên.

        Vào những ngày đầu năm 1954, Na-va phát hiện: có những dấu hiệu chứng tỏ đối phương đã mệt mỏi, các chiến dịch tiến công của đối phương đã lên đến đỉnh cao và đối phương sắp rút quân đến nơi rồi (?). Trong thư chuc tết gửi binh sĩ ngày 1 tháng 1 năm 1954, ông ta trịnh trọng tuyên bố: “Điều kiện quân sự để chiến thắng đã đầy đủ, chỉ còn tùy thuộc vào ý chí của tất cả các chiến sĩ hải - lục - không quân để làm cho năm 1954 là năm thắng lợi rõ rệt của quân đội Pháp”. Còn đại tá Đờ Cát, chỉ huy tập đoàn cứ điểm thì tuyên bố: “Nếu đối phương tiến công, tôi sẽ đội chiếc mũ ca-lô đỏ của tôi để từ trên cao họ thấy rõ mục tiêu và bắn trúng hơn”.

        Ngày 15 tháng 1 năm 1954, Đờ Cát cho rải truyền đơn thách thức: “Còn đợi gì nữa mà không tiến công, nếu các người không phải là kẻ hèn nhát!”. Trong lần đến thăm Điện Biên Phủ ngày 19 tháng 2 năm 1954, Plô-ven, bộ trưởng quốc phòng Pháp đã nối với Đờ Cát: “Liệu đại tá có biết rằng cả nước Pháp đang chiêm ngưỡng ngài không?”. Còn Pi-rốt trung tá pháo binh thì nói: “không quan tâm sâu sắc đến cái gọi là pháo binh Việt Minh trên chiến trường Điện Biên Phủ này”.

        Để đánh lạc hướng phán đoán của địch, làm cho chúng càng thêm mơ hồ, khoét sâu thêm tư tưởng chủ quan của chúng, một mặt Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh ráo riết chuẩn bị tiến công Điện Biên Phủ theo phương án đánh chắc tiến chắc, một mặt cho đại đoàn 308 phối hợp cùng Quân giải phóng Pa-thét Lào mở cuộc tiến công bất ngờ vào phòng tuyến địch ở lưu vực sông Nậm Hu, Thượng Lào. Bộ chỉ huy chiến dịch cho đại đoàn được quyền quyết định lực lượng tiến công Nậm Hu, vì biết đại đoàn có khó khăn về lương thực. Gạo ăn đã hết và chỉ huy có thể huy động được thóc ở xung quanh Điện Biên Phủ. Đảng ủy đại đoàn 308 do đồng chí Vương Thừa Vũ làm bí thư đã hạ quyết tâm đưa cả đại đoàn đi chiến đấu. Với tinh thần chấp hành mệnh lệnh không điều kiện đại đoàn đã tổ chức đóng cối xay, cối giã gạo khẩn trương xay thóc gãi gạo. Nhưng khi lên đường mỗi chiến sĩ cũng chỉ có một ngày lương khô vào một ngày gạo. Địa hình chưa quen, tình hình chưa biết, lương thực không có ở phía trước, đại đoàn đề ra phương châm hoạt động là “tự lực và gấp rút”. Tự lực khắc phục khó khăn, tìm địch mà đánh. Chuẩn bị gấp rút, hành quân gấp rút, tổ chức tiến công gấp rút nhưng phải bảo đảm chắc thắng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #96 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2016, 11:44:46 pm »


        Ngày 26 tháng 1 năm 1954 đại đoàn 308 lên đường.

        Đại đoàn cho đội quân báo và cán bộ hậu cần đi trước đội hình. Đi sau là một tiểu đoàn bộ binh. Cả hai bộ phận này thuộc lực lượng tiền vệ do đồng chí Cao Văn Khánh, đại đoàn phó trực tiếp chỉ huy. Đội tiền vệ có nhiệm vụ mở đường, tìm địch mà đánh và lo lương thực cho bộ phận đi sau. Đi liền trong hai ngày, ba đêm, đội tiền vệ đến Sốp Nao, phạm vi kiểm soát của địch thuộc phòng tuyến sông Nậm Hu. Cả đại đoàn chỉ có hai máy vô tuyến điện nên hễ cứ một đài dừng lại làm việc thì đài kia phải bứt lên phía trước dể giữ vững liên lạc với Bộ chỉ huy chiến dịch và mới các cánh quân của đại đoàn.

        Đêm 29 tháng 1, đến Sốp Nao, đại đoàn được Bộ thông báo địch đã phát hiện đại đoàn 308 rời Điện Biên Phủ, đã ra lệnh bỏ Mường Khoa và các đồn lân cận, chúng có thể rút về Nậm Bạc. Bộ tư lệnh đại đoàn hạ quyết tâm đập tan tuyến phòng thủ Nậm Hu, đẩy địch xuống Luông Pha-băng. Ngay trong đêm 29 đại đoàn chia làm ba cánh: trung đoàn 102 tiến sang Mường Khoa; trung đoàn 88 tiến xuống bao vây Mường Nghi; trung đoàn 36 đánh vu hồi, tiến sâu tới phòng tuyến Nậm Bạc. Các cánh quân được lệnh tiến gấp, truy kích mạnh. Cũng trong đêm đó gạo hết. Nhưng được tin địch đang hoang mang cao độ, với tinh thần tiến công “thần tốc” và khẩu hiệu “cấp dưỡng ở phía trước”, từ ngày 29 tháng 1 đến ngày 1 tháng 2 năm 1954, các cánh quân của đại đoàn đã tiến quân ào ạt, bức địch phải rút khỏi Mường Khoa, Mường Ngòi. Ngày 5 tháng 2 (mồng 3 Tết Nguyên đán), sau khi đã tiêu diệt 17 đại đội, một tiểu đoàn lê dương, các đơn vị tiếp tục truy quét tàn quân địch tại lưu vực sông Nậm Hu. Đại đoàn lệnh cho trung đoàn 36 vượt sông Nậm Hu tiến về Luông Pha-băng. Ngày 6 tháng 2, tiểu đoàn 89 trung đoàn 36 vượt sông tiêu diệt đồn Bản Ca, bắt sống tên quan hai đồn trưởng và 20 lính lê dương. Đại đoàn còn cách Luông Pha-băng mười ki-lô-mét. Trước tình hình Bản Ca bị tiêu diệt, kinh đô Luông Pha-băng bị uy hiếp, Na-va phải đổ thêm quân, biến Luông Pha-băng thành một tập đoàn cứ điểm nữa.

        Trong khi buộc địch phải bị động mang quân cơ động chiến lược mà chúng rất muốn sử dụng tập trung và còn đang trong quá trình xây dựng thì ở chiến trường sau lưng địch, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích đã nắm vững thời cơ đẩy mạnh hoạt động phối hợp.

        Ở đồng bằng Bắc bộ, chiến tranh du kích phát triển rất mạnh. Tháng 1 năm 1954, đại đoàn 320 tiến công phòng tuyến sông Đáy, nối vùng căn cứ của ta ở Thanh Liêm (hà Nam), Ý Yên (Nam Định) với vùng tự do của ta ở Khu 3. Đại đoàn tiến sâu vào đồng bằng Bắc Bộ, cùng với các trung đoàn 42, 46, 50, 246, 238, các tiểu đoàn địa phương tỉnh và dân quân du kích tiến công địch trên hầu khắp các vùng quan trọng, mở rộng cơ sở, phát triển mạnh mẽ chiến tranh du kích.

        Hầu hết các đường giao thông thủy, bộ và đường sắt của địch đều bị đánh phá. Theo đường số 5, du kích Hải Dương đặc biệt là du kích Kim Thanh đã đánh những trận địa lôi táo bạo. Địch phải điều hàng trung đoàn cơ động, hàng chục tiểu đoàn canh giữ nhưng vẫn bị đánh phá, giao thông địch có lúc tê liệt hàng tuần.

        Các lực lượng vũ trang địa phương dùng lực lượng nhỏ nhưng tinh nhuệ tập kích thị xã Đồ Sơn và thành phố Nam Định. Trong hai trận tập kích sân bay Cát Bi và Gia Lâm, quân ta đã phá hủy 78 máy bay, bằng một phần sáu trong số máy bay của địch trên chiến trường ba nước Đông Dương. Sức chiến đấu của bộ đội ta ta trong vùng sau lưng địch được nâng cao rõ rệt. Bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương đã tiêu diệt hàng loạt vị trí quan trọng của địch, trong đó có những những vị trí lớn như Hoàng Đan ở Hà Nam, La Tiến (Thái Bình), Từ Sơn (Bắc Ninh), buộc địch phải rút hàng loạt vị trí khác, trong đó có những vị trí quan trọng như phân khu Cầu Bố ở Bắc Giang, Diên Điền, Cao Mại (Thái Bình), Kinh Môn (Hải Dương), Phù Lưu Tế (Hà Đông), Ao Khoang và Suối Me (Sơn Tây). Một số vị trí địch phải tiếp tế bằng máy bay hoặc dùng binh đoàn cơ động mở đường từng đợt.

        Ở Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ, quân ta cũng hoạt động rất tích cực, đánh mạnh trên đường giao thông.

        Từ 20 tháng 1 đến 20 tháng 2 năm 1954, quân ta đã phá hủy 17 cầu, 18 cống từ Đông Hà lên Rào Quán trên đường số 9, tiêu diệt và bức rút sáu vị trí, giải phóng hoàn toàn huyện Hướng Hóa. Nhân dân huyện Vĩnh Linh sát cánh cùng du kích phá hoại cầu đường. Quân dân ta còn đánh địa lôi trên nhiều đoạn đướng số 1 từ Hương thủy đến Đà Nẵng, lật đổ hàng chục đoàn tàu quân sự.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #97 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2016, 09:03:44 am »


        Phối hợp với cuộc tiến công của chủ lực Liên khu 5 lên Tây Nguyên, du kích Nam Trung Bộ đã tập kích thành phố Nha Trang, đốt cháy hang trăm lít xăng, đột nhập thị trấn Ninh Hòa (Khánh Hòa). Bộ đội địa phương Quảng Nam, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận đã diệt nhiều cứ điểm đại đội, tiểu đoàn địch, tập kích táo bạo vào La Lung (Phú Yên) diệt một tiểu đoàn địch và tiến sâu vào vùng sau lưng địch diệt nhiều vị trí, tháp canh. Nhiều vùng rộng lớn đã được giải phóng như Điện Bàn (Quảng Nam) có trên bốn vạn dân. Hòn Khói ở tây - bắc Khánh Hòa. Ở Cực Nam Trung Bộ, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, trung đoàn 812 đã cùng nhân dân giải phóng hai huyện Tánh Linh và Lương Sơn (Bình Thuận).

        Ở Nam Bộ, trong Đông Xuân, các tiểu đoàn chủ lực 302, 304, 307 và các tiểu đoàn chủ lực tỉnh 300, 303, 306, 309, 310, 31, 401… đều tiến vào những vùng mà địch cho là bình định xong, tiêu diệt địch, đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân. Ta đã tiêu diệt nhhiều đồn bốt, từng đại đội địch và đánh nhiều trận vận động, kết hợp với vây đồn đánh viện. Ở Rạch Giá, kết hợp vây đồn với đánh viện, quân ta đã giải phóng cả huyện lị An Biên. Thế uy hiếp đối với vùng tự do của ta bị phá tan. Địch phải quay về đối phó ở ngay vùng chúng bình định. Các đường giao thông thủy, bộ thường xuyên bị đánh phá. Trong trận vận động phục kích trên đường Bạc Liêu - Cà Mau, ta diệt gọn hai đại đội địch. Trận đột nhập bến tàu Vĩnh Long, ta bắn chìm và bắn hỏng nặng hai tàu chiến địch. Nam Bộ có lối đánh độc đáo vào hậu cứ địch trong vùng sâu. Trong trận đột nhập kho bom Tân Sơn Nhất ta đã phá hủy hoàn toàn 300 tấn bom, tiêu diệt đại đội lính lê dương bảo vệ. Bộ đội Bà Rịa - Chợ Lớn đột nhập khách sạn Ô Cấp, diệt hơn 100 sĩ quan Pháp và Mĩ. Một đại đội chủ lực tỉnh Mĩ Tho đã đánh thắng một tiểu đoàn địch trong trận vận động trên kênh Bùi, thu hàng trăm súng. Ở Gò Công chỉ trong hai ngày, nhân dân được vũ trang bằng giáo mác, cùng du kích và một trung đội địa phương đã hạ hàng chục đồn bốt. Ở Gia Định, Thủ Biên, nhân dân vác gậy đuổi đánh địch giữa ban ngày. Ở Mĩ Tho sáu đại đội Hòa Hảo bỏ về nhà làm ăn. Ở Ba Tri (Bến Tre) một đại đội quân ngụy đào ngũ.

        Chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch từ đồng bằng sông Hồng, ven biển miên Trung cho đến đồng bằng sông Cửu Long có sự chỉ đạo thống nhất về chiến lược, theo một kế hoạch thống nhất đã buộc Na-va phải mang chủ lực ra đối phó. Kế hoạch đầy tham vọng xây dựng những cứ điểm mạnh, quân ứng chiến mạnh để bảo vệ những trục giao thông chiến lược đã tỏ ra vô hiệu. Na-va không bảo vệ được đồng bằng Bắc Bộ, Thương - Hạ Lào, Luông Pha-băng bị uy hiếp chưa từng có. Những lực lượng tại chỗ của địch không đối phó được với bộ đội địa phương tỉnh và huyện của ta. Không những thế, Na-va phải đưa khối binh lực tập trung ra cứu nguy cho nơi đó. Khối binh lực tập trung trước đây ở đồng bằng Bắc Bộ là 44 tiểu đoàn nay chỉ còn 20 tiểu đoàn.

*

*       *

        Như vậy, bước vào Đông Xuân 1953-1954 chúng ta đã sử dụng một bộ phận nhỏ lực lượng chủ lực thuộc lực lượng cơ động chiến lược của Bộ Tổng tư lệnh chủ động mở một loạt các cuộc tiến công vào những nơi địch yếu sơ hở nhưng chúng lại không thể bỏ. Với lực lượng đó, kết hợp với chủ lực của quân khu, bộ đội địa phương tỉnh và huyện, chúng ta đã giải phóng được Tây Bắc, Bắc Tây Nguyên. Cùng với quân đội cách mạng hai nước Lào và Cam-pu-chia giải phóng những vùng đất đai quan trọng ở Thượng Lào, Trung Lào, Hạ Lào, mở rộng căn cứ du kích ở Cam-pu-chia.

        Bằng một loạt đòn tiến công chủ động trên nhưng địa bàn chiến lược quan trọng, chúng ta đã làm cho kế hoạch Na-va bị phá sản. Na-va đinh ninh quân ta tiến công xuống đồng bằng sông Hồng, nhưng quân ta lại tiến công trên nhiều hướng.

        Na-va nhận định chủ lực ta có thể từ phía bắc tiến công xuống phía nam phối hợp với chủ lực Liên khu 5 uy hiếp miền Trung và Nam Đông Dương nhưng chủ lực của ta lại tiến công sang hướng tây và chủ lực Liên khu 5 tiến công lên Tây Nguyên.

        Na-va chủ trương trước mắt tránh tổng giao chiến với chủ lực ta ở phái bắc thì nay lại lấy Điện Biên Phủ là nơi quyết chiến chiến lược với chủ lực ta.

        Na-va muốn khối quân có động được tập trung để hình thành một quả đấm mạnh, nay quả đấm đã trở thành bàn tay xòe. Khối quân cơ động tinh nhuệ bị phân tán ở đồng bằng Bắc Bộ, Luông Pha-băng, Sê Nô, Plây Cu, Nam Tây Nguyên và Điện Biên Phủ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #98 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2016, 09:04:06 am »


        Kế hoạch Na-va bị phá sản ngay từ bước một. Na-va đã không thực hiện được việc bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ, Thượng Lào và tiến công chiến lược ở miền Nam. Nhưng cho đến lúc đó, Na-va vẫn không nhận ra kế hoạch của mình đã bị phá sản. Đại đoàn 308 tiến công sang hướng Nậm Hu và các đại đoàn khác của ta chưa hành động, Na-va nhận định cuộc tiến công Thu Đông của ta đã lên đến tột đỉnh rồi, cuộc rút lui của quân ta sắp bắt đầu rồi, ta không đủ sức để tiến công tiếp. Xuất phát từ nhận định đó, Na-va ra lệnh tiếp tục cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam, tập trung một binh lực lớn đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5, tiếp tục cuộc hành binh Át-lăng bị bỏ dở.

        Ngày 12 tháng 3 Na-va cho quân đổ bộ lên Quy Nhơn.

        Và ngày 13 tháng 3, đại đoàn 312 tiến công Him Lam mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ.

        Tôi muốn ôn lại những diễn biến trong cuộc đấu trí, đấu lực giữa ta và địch trong cuộc tiến công chiến lược Dông Xuân 1953-1954 để rút ra một số bài học về sự chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta trong giai đoạn có ý nghĩa quyết định của cuộc chiến tranh giải phóng chống thực dân Pháp xâm lược.

        Sau chín năm lãnh đạo đấu tranh vũ trang và xây dựng lực lượng vũ trang trong chiến tranh, nhất là sau ba năm liên tục tổ chức như chiến dịch tiến công (tính từ chiến dịch Biên Giới năm 1950), chúng ta đã tích lũy được một số kinh nghiệm về chỉ đạo chiến lược và tiến hành những chiến dịch tiến công. Trên cơ sở tổng kết và tiếp thu có phê phán kinh nghiệm của quân đội các nước anh em, chúng ta đã tích lũy được những kinh nghiệm về chỉ đạo chiến lược, về kế hoạch chiến lược và tổ chức thực hiện kế hoạch đó trên chiến trường. Nhờ tổng kết kịp thời và tổng kết tốt, chúng ta đã nắm được quy luật của chiến tranh, làm cho sự chỉ đạo chiến lược của chúng ta ngày càng phong phú và không ngừng phát triển. Nét nổi bật về chỉ đạo chiến lược trong tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 là sự lựa chọn hướng tiến công trên những chiến trường có ý nghĩa quyết định, trong những thời điểm quyết định.

        Từ tháng 3 năm 1953, khi địch đang tập trung quân đánh phá khốc liệt đồng bằng Bắc Bộ, chúng ta đã hạ quyết tâm không phân tán chủ lực xuống đồng bằng và sử dụng chủ lực tập trung, lựa chọn những nơi địch yếu nhưng không thể bỏ được. để tổ chức những đòn tiến công mãnh liệt. Khi Na-va sang thay Sa-lăng và kế hoạch Na-va hình thành, chúng ta vẫn giữ vững phương hướng chiến lược tiến công vào nơi địch yếu. Nhờ có quyết tâm chiến lược sáng suốt và sự kiên định quyết tâm trong cả quá trình của chiến cuộc, chúng ta hình thành ưu thế hơn địch và giữ vững ưu thế đó trong tất cả những đòn tiến công cho tới khi khối binh lực tập trung của Na-va bị phân tán và chiến dịch Điện Biên Phủ ắt đầu. Để kiên định giữ vững quyết tâm chiến lược đó, cơ quan chỉ đạo chiến lược của ta, nhân dân ta, các lực lượng vũ trang của ta đã trải qua những tình huống căng thẳng, phải khắc phục những khó khăn tưởng chừng không thể khắc phục được với một tinh thần cách mạng tiến công không suy suyển. Đó là khi địch tập trung quân và phương tiện đánh phá ác liệt đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng ven biển Liên Khu 5 và đồng bằng Nam Bộ. Khi địch nhảy dù từ Lạng Sơn, khi chúng đánh Nho Quan - Ninh Bình, khi chúng tiến công ra Quảng Trị - Thừa Thiên, đổ bộ lên Quy Nhơn… chúng ta vẫn giữ vững quyền chủ động tiếp tục tiến công theo kế hoạch đã định.

        Chiến lược quân sự của chúng ta bắt nguồn từ mục tiêu chính trị kiên định của cuộc chiến tranh chính nghĩa, được Đảng Mác-Lê-nin lãnh đạo cho nên chiến lược đó vừa mang tính cách mạng vừa mang tính khoa học. Mục tiêu chính trị của cuộc chiến tranh giải phóng đòi hỏi một chiến lược quân sự kiên quyết, chủ động, luôn luôn tiến công. Toàn bộ hoạt động của các lực lượng vũ trang ta đã thấm nhuần sâu sắc tinh thần kiên quyết của mục tiêu đó. Đó là ý thức tổ chức cao của Bộ tư lệnh Liên khu 5, kiên quyết thực hiện nhiệm vụ chiến lược đã được giao, đưa toàn bộ chủ lực liên khu lên Tây Nguyên trong lúc địch tiến công vùng tự do của liên khu. Đó là tinh thần chấp hành mệnh lệnh không điều kiện của tiểu đoàn 436 trung đoàn 101 đại đoàn 325 khi thực hiện nhiệm vụ thọc sâu ở Trung Lào, Hạ Lào, đánh địch với tinh thần áp đảo, dùng ít thắng nhiều, cơ động, linh hoạt; là tinh thần khắc phục khó khăn của đại đoàn 308 đánh mạnh truy kích mạnh, vừa thực hiện nhiệm vụ nghi binh chiến lược vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đập tan phòng tuyến phòng thủ địch, uy hiếp một mục tiêu chiến lược quan trọng của địch…
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #99 vào lúc: 14 Tháng Mười Một, 2016, 09:04:57 am »


        Chiến lược của chúng ta khoa học vì chúng ta đã tính toán một cách nghiêm tục các nhân tố chính trị, tinh thần và so sánh lực lượng giữa ta và địch lúc đó.

        Trong Đông Xuân 1953-1954, dựa vào viện trợ Mĩ (Mĩ gánh 78 phân trăm chiến phí), Na-va đã có trong tay 10 trung đoàn cơ giới, 28 tiểu đoàn pháo binh, 12 tiêu diệt công binh, 11 tiểu đoàn vận tải, 548 máy bay các loại, 391 tàu xuồng các loai. Ta chỉ có hơn các chiến dịch trước một trung đoàn pháo 105 và một tiểu đoàn pháo cao xạ 37. Trước sự chênh lệch về trang bị giữa ta và địch, chúng ta đã nhận ra mối mâu thuẫn không thể điều hòa của địch (cơ động và chiếm đóng, rừng núi và đồng bằng), lợi dụng những mâu thuẫn đó, hạn chế những chỗ mạnh của địch về trang bị, buộc chúng phải đưa quân đến những chủ trương dù với trang bị mạnh hơn ta, chúng cũng không thể tạo nên ưu thế.

        Trong so sánh lực lượng giữa ta và địch, chúng ta thấy cái mạnh của địch về vũ khí trang bị, nhưng đồng thời cũng thấy sự hạn chế của quân viễn chinh Pháp về tài chính, về nhân lực và cả về trang bị của một đế quốc suy tàn, kiệt quệ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Nước Pháp tiến hành chiến tranh trong một ngõ cut. Xu thế rút ra khỏi chiến tranh đang trở thành xu thế mạnh mẽ trong nhân dân và cả trong chính giới Pháp. Tinh thần của binh lính Âu Phi sau những đòn đau ở Biên giới, Trung du, Hòa Bình đã không còn như các thu đông năm trước, lính ngụy lại càng bạc nhược. Quân số của địch có tăng, nhưng chất lượng lại giảm. Khi bị đánh mạnh thì sự suy sụp sẽ có những đột biến.

        Về ta, do lực lượng chủ lực có hạn và do điều kiện hậu cần không cho phép chúng ta tiến hành cùng một lúc hàng loạt trận tiến công với cường độ giống nhau trên tất cả các mặt trận. Chúng ta biết chỗ mạnh của mình về chính trị - tinh thần, về thế trận của chiến tranh nhân dân, nhưng cũng thấy có những hạn chế về trang bị và cơ động so với địch. Cho nên trong hiều hướng có thể tiến công, chúng ta đã chọn ra một số hướng có thể tiến công, có tính chất quyết định với cục diện để lần lượt tổ chức các cuộc tiến công tiêu diệt từng mảng sinh lực địch, từ Lai Châu, Trung Lào, Hạ Lào, Tây Nguyên, Thượng Lào cho đến Điện Biên Phủ. Khi thực hiện những đòn tiến công ở nơi địch yếu, sơ hở thường là nơi quân ta cũng gặp khó khăn về hành quân, về hậu cần. Chúng ta đã tính toán đến khả năng chịu đựng của quân đội ta, sự dẻo dai, bền bỉ sự giác ngộ giai cấp sau chỉnh quân và chỉnh huấn chung như tinh thần quật khởi của nhân dân ta nên chiến lược quân sự vừa kiên quyết, triệt để lại vừa linh hoạt cao.

        Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dựa vào cơ sở chính trị đã được công phu xây dựng trong lòng địch, chỉ dùng bộ binh tinh nhuệ, chúng ta đã đánh sâu vào hậu cứ địch (các sân bay Gia lâm, Cát Bi, Tân Sơn Nhất, các kho dầu, nơi ở của sĩ quan cao cấp địch), đã thực hiện đanh vu hồi (mũi tiến công của các trung đoàn 66 và 101), cuộc truy kích của đại đoàn 316 ở Lai Châu và 308 ở lưu vực sông Nậm Hu.

        Trong chiến cuộc này, kế hoạch chiến lược đã khéo léo phối hợp giữa những đòn tiến công của chủ lực với chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch rất phong phú và đa dạng. Được một bộ phận chủ lực làm nòng cốt, chiến tranh du kích đã tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, làm tê liệt trong từng thời gian việc tiếp tế, hành quân của địch và giam chân lực lượng cơ động của địch tăng, căng chúng ra trên các chiến trường. Trong Đông Xuân 1953-1954, chúng ta đã làm thất bại ý đồ chiến lược chủ yếu, phá hoại công cụ chiến lược chủ yếu của địch, làm thất bại kế hoạch Na-va trước khi mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

        Chiến lược của chúng ta luôn luôn chủ động và dồn địch vào thế bị động. Địch muốn tập trung quân cơ động, chúng ta buộc chúng phải phân tán, địch chưa muốn tổng giao chiến với chủ lực ta, buộc chúng phải chấp nhận trận quyết chiến chiến lược ở Điện Biên Phủ. Chúng muốn giữ đồng bằng, ta buộc chúng phải đưa quân lên rừng núi. Chúng ta đã chủ động tạo nên thời cơ và khi thời cơ xuất hiện thì lập tức nắm thời cơ hạ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

        Trong khi thực hiện kế hoạch chiến lược, chúng ta lại tuyệt đối giữ bí mật ý đồ chiến lược, khéo léo nghi binh làm cho địch bị bất ngờ. Chỉ đạo chiến lược của chúng ta đã bám sát thực tiễn của chiến trường và hết sức nhạy bén với những nhân tố mới nảy sinh nên đã có những quyết tâm chính xác khi thời cơ xuất hiện. Chúng ta đã không mang nguyện vọng chủ quan thay thế cho tình hình và khi tình hình diễn biến khác với nhận định ban đầu chúng ta đã kịp thời hạ quyết tâm mới (đình chỉ triển khai lực lượng tiến công, chuyển sang đánh chắc tiến chắc, cho đại đoàn 308 sang phối hợp với Quân giải phóng Pa-thét Lào tiến công khu vực sông Nậm Hu).

        Chiến lược của chúng ta trong tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 và trước đó rất kiên quyết, rất sáng tạo vì cơ sở của chiến lược là đương lối chính trị, quân sự của Đảng. Đảng ta đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin về chiến tranh và quân đội cảu triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử nên đã nhận thức một cách khoa học quy luật khách quan của chiến tranh. Trong chiến cuộc này, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp thông qua phương án tác chiến, kế hoạch tác chiến và đã tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần, huy động sức mạnh của cả nước, tạo mọi điều kiện cho các lực lượng vũ trang chúng ta đánh thắng.

        Nhìn về quá khứ, hướng về tương lai để không ngừng phát triển và hoàn chỉnh lí luận chiến lược quân sự Việt Nam, đó là suy nghĩ của tôi khi kết thúc chương này.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM