Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:29:07 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu  (Đọc 56338 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #100 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:01:49 am »


SỰ BẤT LỰC CỦA CHA CON HỌ ĐỜ

        Đúng lúc các tướng lĩnh Pháp lao vào những cuộc càn quét vùng đồng bằng Bắc Bộ và tướng Đờlát đi đi về về Xingapo và Malaixia cùng Anh - Mỹ bàn “kế hoạch phòng thủ Đông Nam Á”, thì quân Việt lại mở một chiến dịch mới ở phía nam châu thổ sông Hồng. Bộ chỉ huy Pháp phải thừa nhận rằng “trận chiến đấu diễn ra trên toàn phòng tuyến sông Đáy hoàn toàn bất ngờ” đối với họ. Còn bọn ngụy quân, trong tài liệu tổng kết chiến tranh, đã chê trách tình báo Pháp không nắm được tin tức gì về một trận đánh quy mô lớn được đối phương chuẩn bị rất chu đáo, vì phía Pháp quá tin rằng những cuộc càn trong hai tháng 4 và 5 đã làm cho vùng đồng bằng Bắc Việt trở lại yên tĩnh.

        Qua tin tức tình báo thu lượm được, bộ tham mưu Pháp không thể ngờ rằng những đơn vị đang “nghỉ ngơi” ở Thanh Hóa (sư đoàn 304), ở trung du (sư đoàn 308) và ở vùng Nho Quan (sư đoàn 320) lại có thể dùng phương pháp hành quân mà họ gọi là theo kiểu Napôlêông1 để bất ngờ lao vào một chiến dịch tiến công nhanh chóng như vậy. Họ đinh ninh rằng Trung đoàn 64 được đưa vào vùng Nam đồng bằng là để phối hợp với Trung đoàn 42 đối phó với các cuộc càn quét chứ không phải là để cùng lực lượng vũ trang địa phương kìm chân quân tiếp viện của Pháp khi mặt trận phía trước nổ súng. Rõ ràng, Việt Minh đã khéo giấu kín được ý định chiến lược của mình, khiến cho một số vị trí của quân Pháp nhanh chóng bị tiêu diệt ngay từ đầu, mặc dù được hỏa lực pháo binh của các thủy đội xung kích yểm trợ.

        Tại Ninh Bình, đêm 28 rạng ngày 29 tháng 5, chỉ sau khi quân dân Việt Nam tiêu diệt một số vị trí phía ngoài, tiếp đó tiêu diệt thêm một đại đội biệt kích và làm chủ thị xã rồi vượt sông Đáy và kiểm soát quốc lộ số 1, viên đại tá Gămbiê (Gambiez, chỉ huy khu Nam đồng bằng) mới phát hiện được hướng tiến công của đối phương. Hai đại đội biệt kích, một thủy đội xung kích và pháo tăng cường được vội vã điều đến bằng đường sông để ứng cứu (vì đường bộ đã bị cắt đứt; riêng quãng đường Nam Định - Phủ Lý bị cắt 110 chỗ, 3 cầu bị phá). Xalăng phải thừa nhận rằng viện binh chưa đến nơi đã sớm chịu những tổn thất nặng nề vì rơi vào trận địa phục kích cách Ninh Bình 4 kilômét. Một trong hai đại đội biệt kích bị tiêu diệt hoàn toàn (trừ hai tên bị thương sống sót).

        Hai giờ sáng ngày 30, đối phương tiến đánh các mỏm núi đá phía tây và phía nam Ninh Bình bằng những đợt xung kích dữ dội. “Quân Việt Minh tới quá gần đến nỗi các khẩu pháo của GM4 và của thủy đội xung kích số 3 phải hạ nòng để bắn thẳng”. Từ 6 giờ 30 đến 9 giờ, các điểm cao trên lần lượt lọt vào tay bộ đội Việt Nam. Toàn bộ quân Pháp ở đây bị tiêu diệt, trong đó có viên trung úy Bécna Đờlát, đại đội trưởng, đứa con độc nhất của viên tổng chỉ huy Giăng Đờlát. Bécna và viên đại đội phó Mécxiê (Mercier) bị chết cùng một lúc vì một viên đạn cối rơi trúng sở chỉ huy. Viên thượng sỹ Menlô (Mellot) cũng ngã gục ngay sau khi lên nắm quyền chỉ huy đại đội.

        10 giờ 40, thêm một đại đội biệt kích được điều đến và phải trả giá đắt (1/3 quân số bị diệt) mới chiếm lại được mỏm núi đá phía nam.

        11 giờ, GM Bắc Phi của Êđông được điều đến và phải dùng hỏa lực rất mạnh để chiếm lại thị xã Ninh Bình. Quá trưa, khi trận đánh kết thúc thì tiểu đoàn xung kích số 1 (đơn vị được điều đến tăng viện đầu tiên, với quân số 800 người, trong đó có đại đội của Bécna) chỉ còn 30 tên sống sót.

        Các “sử gia” của ngụy Thiệu sau này cũng phải thú nhận rằng trong trận Ninh Bình, quân Pháp bị thua lớn: trên 1.000 tên bị chết và bị thương, nhiều đại bác bị phá hủy, nhiều tàu xuồng bị hư hại, nhiều vũ khí bị mất.

        Không ít ký giả và sử gia Pháp đã tốn khá nhiều giấy mực viết về cái chết của Bécna - đứa con cuối cùng của dòng họ Đờlát - ở mỏm núi Thúy (Hồi Hạc).

        Mãi 17 giờ hôm đó (30.5), viên tổng chỉ huy mới được nhìn thấy xác chết của đứa con, đã được đưa về Hà Nội cùng với xác của Mécxiê và Menlô. Ông ta chỉ còn biết đánh điện về Pháp cho vợ, “xin tha tội vì đã không bảo vệ được tính mạng đứa con duy nhất của chúng ta” (như người vợ đã ủy thác trước khi về Pháp).

        Suốt đêm túc trực bên xác con, tướng Đờlát hồi tưởng lại ý kiến của Bécna trong cuộc gặp gỡ cuối cùng hai tháng trước khi gã vào Đà Lạt với gia đình trước khi bố về Pháp công cán.

--------------------
        1. Napoléon Bonaparte (1769-1821): Hoàng đế và danh tướng Pháp.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #101 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:03:01 am »


        Tuy mới 23 tuổi nhưng mang trong người dòng máu lính thực dân chính cống, Bécna sớm có cách nhìn đôi khi còn thâm hiểm hơn bố về cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Trong cuộc tranh luận ở Đà Lạt, Bécna nói thẳng: “Hẳn ba cũng hiểu rằng không thể chỉ biết đến những khẩu đại bác và những trung đoàn đẹp mã, những đơn vị cơ động và những trận đánh, danh vọng và những chiến tích đã được thổi phồng lên để lừa bịp. Điều quan trọng khác cần phải biết, đó là những con người, hàng triệu con người ở vùng đồng bằng, những người nhà quê. Đối với những người cùng khổ đó, điều quan trọng cũng là cuộc sống. Ba càng giết hại họ ít bao nhiêu, họ càng theo ba nhiều bấy nhiêu (!). Số người bị giết hại càng nhiều thì số người nổi dậy càng tăng. Con có thể nói với ba rằng con hiểu họ. Cuộc chiến tranh của ba phải tỏ ra “nhân đạo” (!) hơn”1.

        Mặc dù có những ý kiến đối nghịch với con, tướng Đờlát vẫn rất tự hào về dòng họ binh nghiệp thực dân của mình, tự hào về đứa con sớm nối gót cha xông pha lửa đạn như trong cuộc chiến tranh (xâm lược) Đông Dương này. Chẳng thế mà khi Bảo Đại đề nghị đưa Béena về làm việc ở “võ phòng” của mình, thì viên tướng tổng chỉ huy đã kiêu hãnh trả lời: “Khi mà người ta thuộc dòng họ Đờlát thì người ta chỉ biết lao vào lửa đạn”2.

        Gieo gió thì gặt bão. Kết quả là lửa đạn chính nghĩa của cuộc chiến tranh tự vệ của “những người nhà quê cùng khổ” đã bắt gia đình Đờlát trả giá quá đắt, đến nỗi viên tướng này phải thốt lên với Xalăng những lời vừa ngậm ngùi, vừa tuyệt vọng: “tôi sang Đông Dương để bảo vệ thanh niên (!). Vậy mà tôi đã không bảo vệ nổi chính đứa con độc nhất của tôi”. Một lời thú nhận sự bất tài của một viên tướng, đồng thời cũng là lời thú nhận nỗi bất lực của một người cha.

        Chúng ta hãy trở lại vùng chiến sự nam đồng bằng Bắc Bộ.

        Bốn ngày sau trận Ninh Bình, đến lượt Yên Cư Hạ bị bộ đội Việt Nam tiến công. Vị trí này được Pháp coi là một cứ điểm kiên cố do một đại đội đóng giữ; khi xảy ra chiến sự ở Ninh Bình, được tăng cường một đại đội biệt kích.

        Sau khi pháo binh chuẩn bị hỏa lực, “quân Việt Minh tiến sát cứ điểm. Bộc phá. Lưỡi lê. Giáp lá cà...”. Pháo của GM4 từ Ninh Bình bắn ngay vào hàng rào dây thép gai. Nhưng “pháo vừa dứt, Việt Minh đã khai thác ngay sơ hở”, xung phong mãnh liệt lên chiếm lô cốt chính và một lô cốt phụ. Quân Pháp dựa vào lô cốt phụ còn lại và bức tường phía sát sông để chống cự một cách tuyệt vọng.

        Trước nguy cơ đó, một đoàn tàu chở quân tiếp viện từ Ninh Bình sang tiếp cứu, khi hai đại đội Pháp trong đồn chỉ còn vài chục người sống sót.

        Ngay hôm sau, 8 tháng 6, đến lượt quân Pháp ở Phát Diệm bị tiến công. Một số lớn bị tiêu diệt, số quân ngụy còn lại bỏ chạy, bỏ mặc bọn chỉ huy Pháp mắc kẹt rồi chết trong thị xã. Sáng ngày 9, khi viên đại tá Êruylanh đưa binh đoàn đến cứu thì đối phương đã thu toàn bộ vũ khí và lui quân từ lâu!

        Bộ chỉ huy Pháp đang phán đoán chưa biết đối phương chuyển hướng hoạt động về đâu thì ngày 16 có tin nhiều vị trí trên đường Phủ Lý - Ninh Bình lại bị tiến công. Trong một trận phục kích ở gần Thái Bình, thêm 13 xe quân sự của Pháp bị diệt.

        Sợ đối phương làm ruỗng nát vùng đông bắc Phủ Lý, Đờlát ra lệnh tập trung 3 GM, 1 liên đoàn thiết giáp, 5 chi đội xe lội nước, nhiều đại đội biệt kích trang bị súng phun lửa để mở cuộc càn từ ngày 20 tháng 6. Nhưng một lần nữa, “quả đấm lớn đã giáng xuống nước”. Quân chủ lực của ta đã kết thúc chiến dịch từ ngày 18. Trong khi đó các lực lượng địa phương tiếp tục hoạt động và trở thành những mục tiêu “không thể bắt được” của Đờ Linarét - kẻ chỉ huy cuộc càn.

        Kết luận cuối cùng mà các “sử gia” của chế độ Sài Gòn sau này rút ra trong trận nam đồng bằng là: Việt Minh không những đã thành công trong việc tiêu diệt lực lượng địch ở mặt trận phía trước, mà các trung đoàn 42 và 64 đã cùng lực lượng địa phương hoạt động mạnh cả ở Nam Định và Thái Bình, làm cho vùng này bị “ruỗng nát”, công cuộc bình định trước đó của Pháp ở vùng này đã thất bại.

        Còn tướng Xalăng - phụ tá của Đờlát, chỉ ghi một nhận xét vắn tắt nhưng đầy ý nghĩa trong Hồi ký của mình: “Tình hình đánh đấm của chúng ta (ở phòng tuyến sông Đáy) chẳng ra sao cả...”.

        Về phần mình, trải qua nửa năm sang Đông Dương, cao ủy - tổng chỉ huy phải chịu đựng quá nhiều thử thách: sau trận Vĩnh Yên là thất bại trong cuộc công cán ở Pari, rồi vùng mỏ và cuối cùng là phòng tuyến sông Đáy. Trong khi đó thì việc xây dựng “quân Bảo Đại” và “phòng tuyến Đờlát” tiến triển quá chậm.

        Những thất bại diễn ra liên tục đến nỗi “vua Giăng” bỏ mất thói quen là duyệt binh và họp báo.

        Điều day dứt đối với Đờlát không phải chỉ ở chỗ “nhà ảo thuật” tự thấy mình không đủ phép màu để cứu sống đội quân viễn chinh (như đã hứa) mà còn ở chỗ người cha không đủ sức để giữ cho dòng họ Đờlát khỏi tuyệt tự.

        Tất cả quy lại là do cao ủy - tổng chỉ huy không ngờ rằng đối phương lớn mạnh đến thế.

--------------------
        1, 2. Lucien Bodard, sách đã dẫn, t.5, tr. 265-271.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #102 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:04:55 am »


Chương tám

HÒA BÌNH, “CANH BẠC LỚN”

KHI PARI ĐÃ KIỆT SỨC

        Sau thất bại của chuyến công cán xin tăng viện ở Pari hồi tháng 3, Đờlát tự hỏi: đâu là lối thoát để có người, có súng tiếp tục cuộc chiến tranh? Nước Pháp đuối sức quá rồi. Ngân sách năm 1951 hụt 317 tỷ phrăng (tức là hụt hơn năm trước 70 tỷ phrăng). Thực tế đó không cho phép ông ta hy vọng có thể tiếp tục ép Pari để có thêm nhiều quân, nhiều súng tăng viện.

        Đáp số cuối cùng vẫn là: súng Mỹ trong tay lính bản xứ, giải pháp duy nhất trong điều kiện lúc bấy giờ.

        Lính bản xứ! Những tên lính tay sai rẻ tiền, đối với viên tổng chỉ huy Pháp mới hấp dẫn làm sao! Bảo Đại đã cho ra cái “đạo dụ động viên”. Bài diễn văn 19 tháng 4 của cao ủy đã gây tiếng vang vài ngày trên mặt báo chí. Những trận càn quét vây ráp đã bắt về được một số thanh niên đáng kể, nhưng so với yêu cầu xây dựng “quân đội quốc gia” cho ngụy quyền Bảo Đại thì còn quá ít. Đờlát thấy còn phải “lên dây cót” nhiều hơn nữa.

        Ngày 11 tháng 7, lại thêm một lần ra mắt của cao ủy trước đám học sinh trường trung học Lôba (Chasseloup Laubat) ở Sài Gòn. Sau những lời phỉnh nịnh, tỏ lòng yêu mến và cảm phục thanh niên Việt Nam, “những người dũng cảm, cần cù, hăng hái, xứng đáng với sự ủy thác của tổ tiên và sự đòi hỏi của lịch sử”, v.v… là những lời cứng rắn để dọa nạt, mềm mỏng để quyến rũ:

        “Các anh hãy là những con người, nghĩa là nếu các anh là cộng sản thì các anh hãy đi theo Việt Minh cho rảnh,... Còn nếu như các anh là những người quốc gia thì các anh phải chiến đấu cho Tổ quốc của các anh, bởi vì cuộc chiến tranh này là của chính các anh (!!!). Các anh hãy góp phần xây dựng quân đội quốc gia, quân đội đó sẽ dần dần thay thế quân Pháp, đảm nhiệm trọng trách của quân Pháp hiện nay...

        Thời cơ đã đến để các anh bảo vệ xứ sở của mình... Dưới ánh sáng mặt trời của nền độc lập, các anh phải đổ mồ hôi và đổ máu để gia tăng thành tựu của những người tự do...”.

        Sau bài diễn văn mà viên cao ủy tin rằng đã “chinh phục được bọn trẻ”, Đờlát chuyển sang một mục tiêu mới: cựu hoàng Bảo Đại, lúc ấy đang chu du Bắc Phần, đúng vào dịp Quốc khánh của Đại Pháp. Nhân ngày 14 tháng 7, Đờlát bày ra trước mặt Bảo Đại mọi thứ trò: lính ngụy điểm binh, gắn mề đay, lính dù mang theo thuyền cao su từ trên máy bay nhảy xuống hồ Hoàn Kiếm... Muốn đốc thúc Bảo Đại động viên thanh niên vào lính tất phải bày ra những trò chơi nhà binh. Điều đó cũng dễ hiểu.

        Suốt trong buổi trình diễn, “Bảo Đại nhiều lần mỉm cười, cao ủy và cựu hoàng gật gù trao đổi những lời tâm đắc”.nhìn cảnh đó, nhiều nhân vật cao cấp Pháp - ngụy, dân sự cũng như quân sự đều cảm thấy như được hưởng “những giây phút tuyệt vời (!) của tình thân hữu Pháp - Việt”.

        Với bước thứ nhất diễn ra ở Sài Gòn và Hà Nội, cao ủy Đờlát hy vọng sẽ hót được một số thanh niên vào lính. Bước thứ hai, muốn có súng Mỹ, phải sang bờ bên kia Thái Bình Dương, phải đến Oasinhtơn.

        Các tướng lĩnh cầm đầu quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương thường đặt vấn đề: Cuộc đàm phán đang diễn ra ở Bàn Môn Điếm, đáng lẽ nhẹ tay một phần ở Triều Tiên rồi, Mỹ phải tỏ ra sốt sắng hơn với vấn đề Đông Dương. Nhưng tại sao họ vẫn tỏ thái độ lạnh nhạt? Rõ ràng họ muốn ép Pháp nới rộng quyền hơn nữa cho Bảo Đại để đổi lấy viện trợ quân sự và tài chính. Tệ hại hơn nữa là họ muốn vượt qua đầu Pháp để viện trợ trực tiếp cho Bảo Đại và cái “quân đội quốc gia” do chính Pháp nặn ra.

        Như vậy Pháp làm sao đủ sức để “bảo vệ” Đông Dương theo chiến lược chống cộng của Mỹ ở Đông Nam Á mà kế hoạch đã được trù liệu nhiều lần, bắt đầu từ hội nghị giữa tổng thống Mỹ - Tơruman và thủ tướng Pháp - Plêven ở Xanhgapo ngày 29 tháng 1 năm 1951!
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #103 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:05:49 am »


        Nếu Đờlát là viên tổng chỉ huy hy vọng nhiều ở viện trợ của Mỹ để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương thì ông ta cũng là người thẳng tay gạt bọn tay sai thân Mỹ (như Phan Văn Giáo, Nguyễn Hữu Trí, Phan Huy Quát) và đưa bọn thân Pháp (như Nguyễn Đệ, Nguyễn Văn Hinh) vào những vị trí quan trọng trong ngụy quyền để giám sát và kiềm chế Bảo Đại, nhằm ngăn chặn không để ảnh hưởng của Mỹ phát triển. Mọi hành động tuyên truyền cho cái gọi là nới quyền cho Bảo Đại1chẳng qua chỉ nhằm làm vừa lòng Mỹ để câu viện trợ theo phương châm “thả săn sắt, bắt cá rô”.

        Thấy không thể thông qua Pari mà xin được viện trợ Mỹ một cách nhanh chóng và đầy đủ, Đờlát chủ trương dùng danh nghĩa cá nhân tư lệnh quân đoàn 1 của Pháp, vốn quan hệ nhiều với các tướng lĩnh Mỹ ở mặt trận châu Âu trước đây, để gõ cửa giới quân sự ở Oasinhtơn - những người mà tiếng nói có trọng lượng ở Lầu năm góc và Nhà trắng. Lòng tràn đầy hy vọng, ngày 27 tháng 7, Đờlát rời Sài Gòn về Pháp để sang Mỹ.

        Ngày 9 tháng 9, khi viên cao ủy cùng với vợ đang đi trên tàu Ile de France sang Mỹ, Bảo Đại gửi theo một bức điện tỏ lòng tri ân “người quân nhân vĩ đại của dân tộc Pháp” (!). “Quốc trưởng” bù nhìn cũng không quên hứa hẹn gấp rút bắt lính, tổ chức “quân đội quốc gia”, một quân đội sẵn sàng thay thế quân Pháp “theo trình tự các phương tiện trang bị (của Mỹ) được trao cho nó”.

        Ngày 13, Đờlát đặt chân đến Niu Oóc. Các tàu ở cảng đua nhau rú còi. “Đó là cách đón tiếp theo kiểu Mắc Áctơ”. Ngày 14 đến Oasinhtơn. Tổng thống Mỹ - Tơruman, rồi bộ trưởng chiến tranh và tham mưu trưởng liên quân Mỹ lần lượt tiếp Đờlát. Kết quả đầu tiên sau mấy ngày gặp gỡ giữa lái súng Mỹ và xâm lược Pháp được coi là khả quan: trước mắt, Mỹ gửi sang chiến trường Đông Dương 600 máy vô tuyến điện, 9.000 súng tiểu liên, 500 súng máy, 5.000 xe vận tải. Các thứ khác (xe tăng, máy bay, tàu chiến… ) sẽ gửi tiếp sau.

        Báo chí phái hữu ở Pari hí hửng lên tiếng: Với sự giúp đỡ đó, hãy mau tổ chức “quân đội quốc gia” để nhanh chóng cân bằng lực lượng với Việt Minh nhằm “đương đầu với cơn ác mộng do đối phương gây ra”. Tại Đông Dương, tướng Xalăng hết lời ca ngợi “vị sứ thần tầm cỡ quốc tế đã vì lợi ích Đông Dương mà thắng một keo phi thường...”.

        Qua Luân Đôn từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 10, Đờlát được đế quốc Anh cho thêm một số trang bị, phần lớn là súng tự động loại nhẹ “rất cần thiết cho các cuộc càn quét ở vùng kênh rạch Nam Bộ”.

        Tuy nhiên, trở lại đất Pháp, Đờlát vẫn vấp phải sự chống đồi về việc gửi quân tăng viện. Nước Pháp đã tỏ ra kiệt sức thật sự.

        Một tháng rong ruổi trên Đại Tây Dương cũng là một tháng Đờlát liên tiếp gửi cho Xalăng những bức điện: Phòng tuyến bê tông đã làm đến đâu? Các cuộc càn quét bắt lính kết quả ra sao?... Ông Giáp sắp đánh ở hướng nào?, v.v… Họ không ngờ rằng, đúng vào dịp chuyến tàu thứ 66 của Mỹ, chở viện trợ sang Đông Dương, cặp bến Sài Gòn, một đơn vị chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam đã nổ súng tiến công Nghĩa Lộ.

        Do không phán đoán được ý định chiến lược của đối phương (chỉ đưa một đơn vị lên Tây Bắc, tranh thủ tiêu diệt một bộ phận lực lượng địch trong khi phần lớn các sư đoàn chủ lực đang chuẩn bị cho chiến dịch thu - đông), bộ chỉ huy Pháp đặt vấn đề: Phải chăng sự có mặt của chủ lực đối phương ở Ca Vịnh là dấu hiệu mở màn cuộc tiến công lớn của Việt Minh trong thu - đông? Liệu Nghĩa Lộ, nơi chỉ có một tiểu đoàn đóng giữ, có trở nên “một thứ Đông Khê” như trước đây một năm?

        Mọi biện pháp cần thiết được đem ra đối phó: tăng cường hệ thống phòng thủ ở Nghĩa Lộ; báo động toàn khu Tây Bắc; không quân Bắc Bộ ở vào trạng thái sẵn sàng ứng eứu; đẩy mạnh càn quét ở đồng bằng để đỡ đòn cho Tây Bắc...

        Ngày 30 tháng 9, khi Xalăng cùng với tham mưu trưởng Graxiơ (Gracieux) ra Hà Nội để lo việc đối phó, cũng là lúc quân Pháp bắt đầu cuộc tháo chạy và quân ta đang quét các vị trí địch từ Ca Vịnh về phía lòng chảo Nghĩa Lộ. Một tiểu đoàn dù được vội vã ném xuống Gia Hội để đỡ đòn cho phân khu Nghĩa Lộ.

--------------------
        1. Cuối năm 1950 và đầu năm 1951, Pháp tuyên bố trao trả cho ngụy quyền một số ngành như Cảnh sát, Bưu điện, Đài phát thanh, Ngân khố, v.v… nhưng lại đặt cố vấn có thực quyền bên cạnh các viên chức ngụy.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #104 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:06:17 am »


        Đêm 2 tháng 10, Nghĩa Lộ rồi Sơn Búc lần lượt bị tiến công. Trời vừa sáng, Xalăng đích thân bay lên không phận khu vực đang diễn ra chiến sự. Từ trên cao được tận mắt nhìn các máy bay chở binh lính bị chết và bị thương từ Nghĩa Lộ về Hà Nội, Xalăng hạ lệnh thả thêm hai tiểu đoàn dù xuống cứu nguy.

        Mãi đến ngày 15, tức là bốn ngày sau khi quân ta kết thúc đợt hoạt động ngắn trên chiến trường Tây Bắc, đường Nghĩa Lộ - Sơn Búc mới được giải tỏa và tướng Xalăng mới dám gửi báo cáo cho tổng chỉ huy Đờlát bấy giờ đã từ Luân Đôn trở về Pari.

        Mặc dù trong điện báo cáo gửi cho Đờlát, Xalăng đã khéo vo nhỏ số lính bị chết, bị thương và mất tích1, nhưng trong tập II Hồi ký viết sau đó 20 năm, chính viên tướng này lại thừa nhận rằng mình đã “phải trải qua 10 ngày đêm căng thẳng đến mệt lử... Cuộc vật lộn gay gắt biết chừng nào... Những thiệt hại nạng nề khiến tôi phải suy nghĩ về sự ác liệt của trận chiến đấu... Thật đáng mừng khi thấy nó kết thúc sớm...”2.

        Ngày 19 tháng 10, Đờlát trở lại Sài Gòn. Hai ngày sau, tham mưu trưởng liên quân Mỹ, tướng Côlin (Collins) đến Đông Dương. Để làm vừa lòng viên tướng lái súng Huê Kỳ, Đờlát cho bắn đại bác như đón chào một nguyên thủ quốc gia. Không phải là không có sự tính toán. Mất vài chục viên trái phá giả để “câu” được hàng ngàn hàng vạn viên trái phá thật. Vẫn lại thủ thuật “thả săn sắt, bắt cá rô”. Viên tướng Mỹ xúc động. Và hai ngày lưu lại của hắn là hai ngày bàn bạc xoay quanh vấn đề viện trợ. Các tướng lĩnh Pháp kháo nhau: chuyến thăm viếng của Côlin thật quý giá. Cả Đờlát và Xalăng đều hỉ hả trước những lời hứa hẹn của Côlin. Riêng Xalăng tỏ ra rất tự hào khi Đờlát dùng tiếng Anh giới thiệu viên phụ tá của mình với Côlin: “Ông ấy giống y như tôi vậy” (He is another me).

        Tuy nhiên, sau khi tống tiễn Côlin, Xalăng thấy tổng chỉ huy tỏ ra mệt mỏi, chán chường, mặc dù viên tướng Mỹ đã hứa hẹn viện trợ rất nhiều so với những gì đã bàn bạc ở Oasinhtơn hồi tháng 9. Nguyên nhân vì “chính quốc”. Nếu Đờlát tự hào vì đã “thắng một keo phi thường” ở Mỹ thì ông ta lại thú nhận là đã thất bại ở Pháp: “Các nhân vật chính trị của chúng ta đã không giấu giếm nói với tôi rằng phải giảm quân đội viễn chinh, nhiều lắm cũng chỉ giữ mức độ như hiện nay thôi... Phải làm cho quân Việt Nam (ugụy) gánh bớt gánh nặng về nhân lực, một việc đã tỏ ra quá nặng nề (đối với nước Pháp)... điều đó đối với chúng ta thật là khó khăn gian khổ vì lúc này đối phương không ngừng tổ chức thêm những sư đoàn mới...”.

        Điều làm cho Đờlát lo ngại hơn cả là những tin tức mới nhất về phong trào phản chiến đang ngày càng dâng cao ở “chính quốc”.

        Từ cuối tháng 10 năm 1951, báo chí Pháp nói nhiều đến từng đoàn các bà mẹ có con chết trận ở Việt Nam, mặc áo tang kéo đến Bộ Hải quân và phòng Quân vụ Bộ Tham mưu Pháp đòi trả xác con, đòi thả Hăngri Máctanh. Cảnh binh đã làm ngơ khi các bà hô khẩu hiệu “Hòa bình ở Việt Nam!”, phân phát truyền đơn và lấy chữ ký vào các bản kiến nghị đòi chấm dứt chiến tranh. Truyền đơn nói gì? Đó là hàng loạt danh sách thanh niên Pháp đã vĩnh viễn nằm lại trong rừng rậm và trên đầm lầy Việt Nam. Đó là những lời phân tích, so sánh số phận con trai của những bà mẹ vô phúc với số phận Bécna Đờlát, con trai viên đương kim tổng chỉ huy. Nếu hàng vạn thanh niên khác “bị bỏ mạng một cách vô nghĩa và thầm lặng như những con giun” thì Bécna Đờlát, sau khi chết trận, được đưa về chôn ở nghĩa trang Văngđê (Pari) như một vị anh hùng...

        Chưa hết.

        Cũng vào khoảng cuối tháng 10 này, nhân dịp chính quyền Pháp buộc phải trả lại tự do cho bà Cốttông (Eugénie Cotton), Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Pháp, trên tờ Phụ nữ Pháp đã xuất hiện những bài báo của “một tác giả đáng sợ”, đả kích đích danh tổng chỉ huy Đờlát. Đó là bà Lơcléc (Françoise Leclerc), người vợ góa của viên tổng chỉ huy đầu tiên Philip Lơcléc (Philippe Leclerc) và cũng là người mẹ đáng thương của Hăngri Lơcléc, viên trung úy “ra đi không có tin về”. Bà Lơcléc viết: Giữa lúc tướng Đờlát bắt thanh niên Pháp tiếp tục đổ máu một cách nhục nhã và xin thêm vũ khí, bom đạn và máy bay Mỹ để tiếp tục tàn sát thường dân Việt Nam, phụ nữ Pháp chúng ta phải hô lớn khẩu hiệu mà các bà mẹ Pháp đã nói với các con mình “Nhất định không đi lính sang Việt Nam...”.

        Chính với nỗi ưu tư nặng trĩu trong lòng do các tin tức từ Pari bay sang mà, đầu tháng 11 năm 1951, “vua Giăng” đáp máy bay tuần du Bắc phần.

        Ra Hà Nội ngày 3 tháng 11, việc đầu tiên của viên tổng chỉ huy là cùng phụ tá Xalăng vùi đầu vào những con số thống kê, những biểu đồ ghi các đơn vị ngụy mới được hình thành. Tiếp đến là những buổi bay đi thị sát phòng tuyến boong ke.

        Ngụy quân và phòng tuyến, hai vấn đề chế ngự bộ óc quân sự thực dân của Đờlát ngay cả trong giấc ngủ.

---------------------
        1. Xalăng báo cáo chỉ có 36 chết (1 thiếu tá chỉ huy Nghĩa Lộ, 1 đại úy), 96 bị thương (6 sĩ quan cấp úy), 163 mất tích (3 sĩ quan cấp úy) tổng cộng 295. Sự thật, Pháp bị tiêu diệt trên 1.000 tên, đa số là lính nhảy dù xuống ứng cứu.

        2. Xalăng, sách đã dẫn, tr. 257, 258.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #105 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:06:53 am »

     
NẠN “VÀNG HÓA” TRÊN NHỮNG BIỂU ĐỒ QUÂN LỰC

        Mặc dù được các giới cầm quyền ở Pari đánh giá là một viên tướng có tài làm xoay chuyển cục diện chiến trường, Đờlát cũng không thoát khỏi thói quen thường tình của năm viên tổng chỉ huy trước, tức là đặt vấn đề giải quyết nạn khủng hoảng quân số lên hàng đầu chương trình hành động của mình. Người ta nhận thấy ông ta đã có nhiều cố gắng trong việc này và (đứng về con số mà nói) ông ta đã đạt được ít nhiều kết quả đáng kể.

        Bằng mọi cách thúc ép Pari vét quân sang, nhất là bằng những cuộc hành binh vây ráp để bắt lính phát triển quân ngụy, Đờlát đã nâng tổng số quân từ 239.400 tên cuối năm 1950 lên 338.000 tên cuối năm 1951. Toàn bộ lực lượng trên được tổ chức thành 160 tiểu đoàn bộ binh chính quy (gồm 88 tiểu đoàn Âu - Phi, 27 tiểu đoàn lính ngụy trong biên chế quân đội Pháp và 45 tiểu đoàn lính nguỵ “tổ chức riêng” trong cái gọi là quân đội quốc gia của bù nhìn Bảo Đại), 18 tiểu đoàn pháo 105 và 155 milimét, 7 chi đoàn cơ giới - thiết giáp, 7 tiểu đoàn công binh, 5 tiểu đoàn vận tải.

        Với số quân tăng viện từ Pháp sang và số lính Âu - Phi rút khỏi nhiệm vụ chiếm đóng ở các địa phương (do quân ngụy thay thế), Đờlát đã tổ chức được 7 binh đoàn cơ động (groupement mobile, gọi tắt là GM) và 9 tiểu đoàn dù dự bị chiến lược, nâng tổng số lực lượng cơ động chiến lược từ 6% lên 18% so với toàn bộ binh lực Pháp - ngụy ở Đông Dương (8/118 tiểu đoàn hồi tháng 11 năm 1950 lên 29/160 tiểu đoàn hồi tháng 10 năm 1951).

        Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp hy vọng rằng các đơn vị dự bị chiến lược này “hoàn toàn không phụ thuộc vào đồn bốt, có thể cơ động dễ dàng, có điều kiện sẵn sàng tiến công nhưng đồng thời cũng có thể bảo đảm an toàn cho một khu vực chiếm đóng trong một thời gian nhất định”. Nhưng trong nửa đầu năm 1951, khi quân đội Việt Nam liên tiếp mở các chiến dịch tiến công ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, Đờlát phải đem các GM tổ chức thành các sư đoàn, gọi là các “sư đoàn cơ động Bắc Bộ” (DMT) để đối phó với quân chủ lực Việt Nam trên địa bàn chiến dịch. Do phải gắn với nhiệm vụ bảo vệ từng địa phương nên các sư đoàn không phát huy được tính cơ động đầy đủ. Từ nửa cuối năm 1951, 40% các GM vẫn bị giam chân trong từng khu vực để đối phó với chiến tranh du kích trong vùng tạm chiếm, vì lực lượng cơ động chiến thuật (có nhiệm vụ hỗ trợ cho việc chiếm đóng và bình định) đã giảm sút1, không đủ sức “đứng vững” ở địa phương trước sự phát triển của chiến tranh du kích. Do thiếu các binh chủng bảo đảm, các GM lại thường hoạt động độc lập nên từ tháng 10 năm 1951, bộ chỉ huy Pháp phải bỏ tổ chức các sư đoàn cơ động.

        So với các tướng tổng chỉ huy trước, Đờlát là người mạnh tay hơn cả trong việc xây dựng cho ngụy quyền một “quân đội quốc gia”, đúng như cựu toàn quyền Anbe Xarô, chủ tịch Khối Liên hiệp Pháp, đã chỉ bảo. Song dù sao thì cả Xarô lẫn Đờlát cũng vẫn chỉ là các ngài thực dân bảo thủ, và tính bảo thủ đó đã thể hiện rõ nét trong cái “quân đội quốc gia” do họ nặn ra.

        Đến cuối năm 1951, 28 trong tổng số 45 tiểu đoàn bộ binh chính quy của “quân đội quốc gia” được “sơ bộ” tổ chức thành 4 sư đoàn, nhưng đều đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của sĩ quan... Pháp!2. Do chất lượng chiến đấu kém, binh chủng chuyên môn thiếu, sĩ quan chỉ huy không đủ (cuối năm 1951, tổng số sĩ quan ngụy mới có 1.100 tên) và nhất là do tư tưởng muốn trút gánh nặng chiến tranh lên đầu quân ngụy nhưng lại hạn chế sự phát triển của nó nên “quân đội quốc gia” vẫn đóng vai trò phụ thuộc vào quân đội viễn chinh Pháp. Vì vậy tướng Pháp Nava sau này đã phải kết luận: không thể gọi các đơn vị “các quốc gia liên kết” (ngụy Đông Dương) là những quân đội thật sự được, vì chúng chỉ là những lực lượng bổ trợ cho quân Pháp mà thôi.

        Một điểm nổi lên trong năm 1951 là “nạn vàng hóa” làm cho chất lượng quân đội giảm sút rõ rệt. Bằng các cuộc càn quét để cưỡng bức bắt lính3, Pháp đã nâng tỷ lệ lính ngụy trong tổng quân số trên toàn Đông Dương từ 51% (122.400/239.400) cuối năm 1950 lên 62% (210.000/338.000) cuối năm 1951. Trong biên chế nhiều tiểu đoàn Âu - Phi, quân ngụy đã chiếm từ 1/3 đến 1/2.

        Mặt khác, do tập trung lính Âu - Phi để tổ chức các binh đoàn cơ động và dùng quân ngụy thay thế nhiệm vụ chiếm đóng và bình định nên chất lượng quân chiếm đóng cũng ngày càng thấp kém. So với mùa hè năm 1950, phạm vi chiếm đóng của Pháp trong thu đông 1951 đã thu hẹp lại, nhưng do quân dân Việt Nam đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng sau lưng địch nên buộc Pháp phải tăng lực lượng chiếm đóng từ 77 tiểu đoàn lên 109 tiểu đoàn chính quy, tức 67% tổng số lực lượng của Pháp trên toàn Đông Dương. Riêng lực lượng chiếm đóng của quân ngụy đã từ 35 tiểu đoàn tháng 11 năm 1950 tăng lên 65 tiểu đoàn tháng 12 năm 1951, tức 59% tổng số lực lượng chiếm đóng của Pháp trên toàn Đông Dương.

        Quá say sưa với kết quả một năm xây dựng lực lượng, Đờlát không hề biết rằng ngay từ hồi đó, đối phương đã sớm phát hiện chỗ yếu rất cơ bản của những con số được Bộ tham mưu quân viễn chinh tô vẽ trên những biểu đồ quân lực:

        1. Pháp đã đạt được kết quả đáng kể trong việc phát triển quân số, nhưng số lượng càng tăng thì chất lượng càng giảm vì thành phần quân ngụy đã chiếm gần hai phần ba tổng số lực lượng Pháp - ngụy.

        2. Pháp đã nhanh chóng xây dựng được một đội quân cơ động chiến lược tương đối lớn gồm 29 tiểu đoàn bộ binh và lính dù chính quy, chiếm 18% tổng quân số, nhưng số quân cơ động chiến thuật lại giảm (do phải “đôn” lên để xây dựng các GM) và chất lượng quân chiếm đóng cũng giảm (do thành phần quân ngụy thay thế quân Âu - Phi chiếm đóng tăng lên).

        3. Quân chính quy cơ động đối phó với chủ lực đối phương ở mặt trận phía trước tăng lên, nhưng khả năng đối phó tại chỗ với chiến tranh du kích trong vùng tạm chiếm lại giảm đi.

---------------------
       1. Từ tháng 11 năm 1950 đến tháng 12 năm 1951, lực lượng cơ động chiến thuật của địch giảm từ 27% xuống 15% tổng binh lực Pháp - ngụy toàn Đông Dương, tức giảm từ 33 tiểu đoàn xuống 22 tiểu đoàn.

        2. Ở Nam Bộ: sư đoàn 1 gồm 7 tiểu đoàn BVN, 1 đại đội thông tin, 1 đại đội công binh do đại tá Xomperắc (Sompairac) chỉ huy; ở Trung Bộ: sư đoàn 2 gồm 4 tiểu đoàn BVN, 1 đại đội thông tin, 1 đại đội công binh, do đại tá Ơgierơ (Euzière) chỉ huy; ở Bắc Bộ: sư đoàn 3 gồm 11 tiểu đoàn BVN, 1 đại đội thông tin, 1 đại đội công binh, do đại tá Viđan (Vidal) chỉ huy; ở Tây Nguyên, sư đoàn 4 gồm 6 tiểu đoàn người Thượng (BM), 1 đại đội thông tin, do trung tá Canmông (Calmon) chỉ huy.

        3. Riêng tại Bắc Bộ, chỉ trong tháng 9 năm 1951, Pháp đã càn bắt 10.000 thanh niên đưa vào lính ngụy.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #106 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:08:11 am »


VIÊN TƯỚNG GIÀ VÀ VÙNG “ĐỒNG BẰNG CÓ ÍCH”

        So với các viên tổng chỉ huy trước, Đờlát là người đặc biệt coi trọng chiến trường Bắc Bộ.

        Để “đứng vững ở khu then chốt cửa ngõ Đông Nam Á” trong chiến lược chống cộng của Mỹ tại vùng lục địa Tây Thái Bình Dương, Đờlát tập trung ra Bắc Bộ một lực lượng rất lớn. Viên tổng chỉ huy hy vọng rằng với quân số đông, quân Pháp không những có thể đối phó hữu hiệu với chủ lực đối phương mà còn nhanh chóng thực hiện được ý đồ “tẩy hết những chấm đỏ ngày càng phát triển ngay trong vùng đồng bằng có ích, những chấm đỏ khiến cho tướng quân không chịu nổi”, như Bộ tham mưu Pháp thường nói.

        Đến cuối năm 1951, chiến trường Bắc Bộ đã thu hút 54% lực lượng bộ binh và lính dù (chính quy) của Pháp trên toàn chiến trường Đông Dương, 50% lực lượng pháo binh, 42% lực lượng cơ giới - thiết giáp, 71% lực lượng công binh, 40% lực lượng vận tải.

        Tuy nhiên, do lấy việc bảo vệ “vùng đồng bằng có ích” làm nhiệm vụ hàng đầu, nên trong bố trí binh lực, Đờlát vẫn tạo ra những sơ hở trên các chiến trường khác ngay trên địa bàn Bắc Bộ. Chẳng hạn Tây Bắc là một chiến trường rừng núi rộng gấp hai lần đồng bằng Bắc Bộ, có tầm chiến lược quan trọng ở vùng biên giới nối liền ba nước Việt - Trung - Lào, nhưng Pháp chỉ bố trí ở đây có 8 tiểu đoàn chính quy, tức gần 10% toàn bộ lực lượng của chúng ở Bắc Bộ.

        Từ trung tuần tháng 1 năm 1951, khi chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam mở chiến dịch tiến công vào Vĩnh Yên, một vấn đề đặt ra với Đờlát là liệu lực lượng cơ động chiến lược hạn chế của Pháp có đủ sức giữ vững đồng bằng Bắc Bộ trước một đối phương đã lớn mạnh và đang hướng về vùng châu thổ sông Hồng? Sau khi dùng quyền tối hậu quyết định của tổng chỉ huy để gạt bỏ mọi ý kiến bàn ra tán vào, Đờlát giao cho tướng Đờ Linarét trực tiếp điều hành việc xây dựng phòng tuyến boong ke bao quanh đồng bằng Bắc Bộ. Để gắn chặt số phận của mình với số phận phòng tuyến do chính mình nặn ra, viên tổng chỉ huy đã không do dự đặt cho nó một cái tên: phòng tuyên Đờlát.

        Phản ánh âm mưu thâm độc của Bộ chỉ huy Pháp cố bám lấy vùng đồng bằng đông người nhiều của, phòng tuyến Đờlát là một công trình quy mô lớn, một hệ thống phòng ngự hoàn chỉnh từ ngoài vào trong nhằm mục đích ngăn chặn đối phương từ xa đến gần.

        Bên ngoài cùng của phòng tuyến là một “vành đai không an toàn”, do không quân đảm nhiệm, với mục đích làm rối loạn đội hình và ngăn chặn từ xa các cánh quân của đối phương trên đường tiến vào đồng bằng. Tiếp đến là một “vành đai trắng”, còn được gọi là “vùng đất không người” (no man’s land), rộng chừng 5 kilômét, do các đội tuần tiễu cùng với máy bay và pháo binh đảm nhiệm, nhằm phát hiện và tiêu hao lực lượng đối phương vận động tiếp cận. Ngay sau vành đai trắng là phòng tuyến chính, bao gồm hàng loạt vị trí kéo dài từ vùng mỏ Đông Bắc, lên Sơn Tây ở trung du xuống Ninh Bình - Phát Diệm ở phía nam hạ lưu sông Hồng. Mỗi vị trí gồm một lô cốt “mẹ” ở giữa với 5-7 lô cốt “vệ tinh” chung quanh. Các lô cốt được xây dựng bằng ximăng cốt sắt, nửa chìm nửa nổi, đủ sức chịu đựng hỏa lực pháo 105 milimét. Một hệ thống đường giao thông ngầm nối liền các lô cốt. Một mạng lưới hỏa lực chéo cánh sẻ khiến cho các lô cốt trong từng vị trí có thể yểm trợ lẫn nhau. Mỗi lô cốt đều có hàng rào dây thép gai bao bọc, quanh mỗi vị trí là một bãi mìn rộng chừng 100 mét kết hợp với 3-4 lớp dây thép gai. Pháp bố trí ở mỗi vị trí chừng một đại đội Âu - Phi. Dựa vào công sự vững chắc và hỏa lực mạnh, lực lượng này có nhiệm vụ chặn đứng các cuộc tiến công và thâm nhập của đối phương vào đồng bằng. Bên trong phòng tuyến chính chừng 4-5 kilômét là các đơn vị cơ động có nhiệm vụ ứng cứu khi phòng tuyến bị đối phương uy hiếp.

        Trải qua mười tháng xây dựng gấp rút, phòng tuyến đã hình thành với trên 80 vị trí, khoảng 800 lô cốt. Gần 25 tiểu đoàn Âu - Phi tinh nhuệ (16% tổng số binh lực Pháp - ngụy trên toàn Đông Dương) bị chôn chân trên phòng tuyến cùng với 1.200 khẩu cối, 500 khẩu pháo từ 37 đến 105 milimét, trên 10.000 súng tự động...

        Đờlát hy vọng với ba yếu tố chủ yếu (công sự vững chắc, hỏa lực mạnh, quân ứng chiến đông và cơ động), chắc chắn phòng tuyến sẽ hoàn thành được chức năng của nó là bịt đường đối phương tiến vào đồng bằng. Nhưng ngay từ cuối năm 1951, thực tế chiến trường Bắc Bộ đã sớm chứng minh những nhược điểm của phòng tuyến Đờlát. Từ thực tế đó, sau này tướng Nava vạch rõ: Việc thiết lập một phòng tuyến giống như chiến lũy Maginô thu nhỏ lại, với tiền bạc đổ vào vô kể1 đã không đem lại tác dụng gì như ý định vạch ra khi xây dựng nó. Quân Pháp chưa phải dùng đến phòng tuyến này để đánh lui một cuộc tiến công quy mô lớn nào của đối phương, nhưng phòng tuyến lại tỏ ra hoàn toàn bất lực không ngăn chặn nổi các đơn vị quân đội và các đoàn tiếp tế của Việt Minh đã lợi dụng các khe hở để bí mật ra vào đồng bằng một cách tự do. Các đơn vị quân đội Pháp bị giam chân bất động trong các công sự đã giảm sút tinh thần nhanh chóng…

---------------------
        1. Để xây dựng phòng tuyến Đờlát, Pháp đã phải chi tiêu ba tỷ phrăng. Số ximăng được sử dụng lên tới 51 triệu mét khối.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #107 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:08:56 am »


        Dùng phòng tuyến để bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ chưa đủ, vì khi mà đối phương chủ trương “đánh cả ở sau lưng, bên sườn và ngay trong ruột quân địch”, thì “vùng đồng bằng có ích vẫn luôn luôn đứng trước nguy cơ bị ruỗng nát”. Một yêu cầu chiến lược đặt ra với Đờlát là làm sao xóa cho được “những chấm đỏ” ngày càng sinh sôi nảy nở ngay trong vùng tạm chiếm. Yêu cầu đó càng trở nên cấp thiết để làm sao, khi phòng tuyến hình thành, bên trong của nó không còn bị “ung thối”(!)

        Năm 1951, trong khi ra sức phát triển lực lượng, xây dựng phòng tuyến và đối phó với các chiến dịch tiến công của chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam thì quân Pháp cũng đồng thời tiến hành các cuộc hành binh càn quét quy mô ngày càng lớn. Và, vùng tạm chiếm ở đồng bằng Bắc Bộ vẫn nổi lên là mục tiêu quan trọng vì nó bị những “chấm đỏ” uy hiếp nặng nhất.

        Nếu trong mỗi cuộc hành binh bình định ở Trung và Nam Bộ, Pháp thường chỉ dùng nhiều nhất là 3-4 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn pháo binh, càn quét 2-3 ngày, thì trên chiến trường Bắc Bộ, trong mỗi trận chúng thường dùng từ 6 đến 18 tiểu đoàn bộ binh, 3-4 tiểu đoàn pháo binh, càn quét dài ngày, có khi chà đi xát lại một địa phương liên tục trong 2-3 tuần.

        Năm 1951, chỉ riêng trong vùng tạm chiếm ở Việt Nam, địch đã mở 119 trận càn, gấp hai lần năm 1950 (Bắc Bộ 49, Trung Bộ 44, Nam Bộ 26)

        Với binh lực lớn, càn đi quét lại nhiều lần, nhằm tàn sát nhân dân, triệt phá kinh tế và bắt lính, các cuộc hành binh nói trên đã làm cho cuộc đấu tranh trong vùng tạm chiếm diễn ra vô cùng ác liệt về nhiều mặt. Thế nhưng, tất cả vẫn chỉ đem lại cho quân Pháp những kết quả rất hạn chế về mặt quân sự. Nhiều tướng lĩnh Pháp phải thừa nhận rằng những phương tiện chiến tranh hiện đại của họ triển khai rầm rộ nhằm tiêu diệt những chiến sĩ du kích lúc ẩn lúc hiệu đã tỏ ra bất lực trước hàng trăm ngàn tai mắt của dân chúng. Hơn thế nữa, tập trung lực lượng để càn quét nơi này, làm cho nơi khác trở nên sơ hở, cũng tức là tạo điều kiện thuận lợi cho đối phương đẩy mạnh các mặt hoạt động.

        Chính vì vậy mà Đờlát và đồng bọn đều cho rằng quân sự không thể và không phải là mục tiêu chủ yếu trực tiếp trong các cuộc hành binh càn quét của chúng. Kinh nghiệm của các tướng thực dân tiền bối, như thống chế Ácnô (Saint Arnaud) trong cuộc chiến tranh xâm lược Mađagaxca, thống chế Lyôtây trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, đã dạy cho các tướng lĩnh Pháp lớp con cháu phải chiếm lấy nguồn sức người, sức của không để lọt vào tay đối phương, phải giết hại trâu bò, phá hủy nông cụ, cướp phá lương thực với mục đích “đập vỡ nồi cơm của mọi người dân”. Các chỉ thị ngày 14 tháng 3 năm 1951 của tư lệnh quân Pháp ở Bắc Bộ, 13 tháng 6 của thủ hiến Bắc phần, 3 tháng 9 của phòng tham mưu vùng Nam sông Hồng,... đều nhấn mạnh yêu cầu dùng mọi thủ đoạn dã man nhất như đổ xăng vào thóc để đốt, dùng xe bọc thép triệt phá lúa chín ngoài đồng, không để một con trâu bò chạy thoát trước mũi súng...

        Đờlát và đồng bọn không những hài lòng về những cuộc vây ráp bắt lính trong các trận càn quét để tổ chức đội quân tay sai rẻ tiền mà còn tự hào về những con số thống kê các cuộc tàn sát dân chúng, số đê điều và nông cụ bị phá, số lúa gạo bị chúng đốt cháy hoặc cướp bóc1.

        Tất nhiên, Đờlát không thể nào hình dung được rằng kẻ đã lập nên những “chiến tích” ấy lại chính là kẻ đổ thêm dầu vào ngọn lửa căm thù ngùn ngụt của dân tộc Việt Nam. Bécna Đờlát đã có lý khi nói với viên tổng chỉ huy, bố gã ta rằng: “Số người bị sát hại càng nhiều thì số người nổi dậy càng tăng”. Gần một năm sau, cho đến lúc về chầu Chúa, viên tướng già có lẽ vẫn chưa thấy hết ý nghĩa của chân lý giản đơn đó.

---------------------
        1. Mấy con số làm ví dụ:

            - Trận càn “Quả quýt” (Mandarine) ở vùng Tiên - Duyên - Hưng (Thái Bình) tháng 9 năm 1951, Pháp bắt 8.000 dân, giết 2.000 người, giết và cướp 2/3 trâu bò.

            - Những vụ tàn sát ở Quỳnh Lang, Thái Bình (giết 3.000 người), Chợ Cạn, Bình Trị Thiên (giết 1.000 người), vụ thảm sát ở bốt Đởm, Hưng Yên,... đều diễn ra trong các cuộc càn quét khốc liệt của Pháp.

            - Năm 1951, trong các cuộc càn quét, Pháp đã cướp của nhân dân Việt Nam 359.000 tấn gạo, trong đó có 40% vụ lúa chiêm ở nhiều tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ (tỉnh Hà Đông 4.246 tấn; Thái Bình và Nam Định, mỗi tỉnh khoảng 5.000 tấn).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #108 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:12:18 am »

     
KHẨU SÚNG NGẮN CHĨA THẲNG VÀO TIM QUÂN THÙ

        Sau chuyến đi Mỹ và Anh, khi trở lại Đông Dương và kiểm điểm tình hình mọi mặt, Đờlát tỏ ra hài lòng.

        Về chính trị, tuy nhiều nhân vật tai to mặt lớn ở Pari có phần tỏ ra “thối chí” trước xu thế phát triển của chiến trường, nhưng số vũ khí mà Mỹ chấp nhận viện trợ cho quân Pháp ở Đông Dương đã khiến phái hữu trong chính phủ Pháp tỏ ra “cứng rắn” hơn. Không những thế, họ còn đốc thúc các tướng lĩnh Pháp ở đây hãy nhân cơ hội này mà mau “đẩy tới” cuộc chiến tranh càng sớm càng tốt, miễn là đừng đòi Pari tăng viện binh lực, một việc mà nước Pháp không đáp ứng nổi. Viện trợ của Mỹ và sự ra đời của “quân đội quốc gia” làm cho ngụy quyền Bảo Đại phấn chấn và tỏ thái độ dễ chịu hơn.

        Về quân sự, tốc độ xây dựng các binh đoàn cơ động chiến lược cũng như các đơn vị chính quy “quốc gia” được coi là nhanh. Việc càn quét vùng đồng bằng tiến triển khá tốt, tuy yêu cầu “xóa sạch những chấm đỏ” trong vùng Pháp kiểm soát còn là mục tiêu xa vời. Việc xây dựng phòng tuyến tuy có chậm so với kế hoạch nhưng kết quả bước đầu đã đem lại lòng tin đối với những người lính sống trên “mảnh đất bất trị” của vùng châu thổ sông Hồng.

        Trên chiến trường Tây Bắc, mặc dù binh lính bị thiệt hại vì phải chống trả một cuộc tiến công nhỏ nhưng khá ác liệt trong suốt mười ngày, đồn binh Nghĩa Lộ vẫn cố gắng đứng vững được.

        Sau các chiến dịch Xuân Hè, các đơn vị chủ lực Việt Minh đang trong thời kỳ nghỉ ngơi và củng cố. Ý định sắp tới của đối phương ra sao? Chưa thăm dò được động tĩnh của họ. Dù mùa khô này Việt Minh có hướng hoạt động của họ vào vùng đồng bằng (giả thuyết: nếu họ vượt qua được phòng tuyến) thì với trang bị được tăng cường, với lực lượng dự bị chiến lược hùng hậu gồm 30 tiểu đoàn, bộ chỉ huy Pháp tin rằng họ sẽ “bẻ gãy” được mọi ý đồ của đối phương. Tuy vậy, xét khả năng các sư đoàn chủ lực của Việt Nam, Đờlát cho rằng trước sau nỗ lực quân sự của Pháp vẫn phải dốc nhiều hơn nữa vào Bắc Bộ, “cái chiến trường cứng đẩu cứng cổ” mà ông ta chưa hề gặp suốt trong cuộc đời binh nghiệp của mình. Còn chiến trường miền Trung, sau tổn thất hồi tháng 7 trên “con đường không vui” gần Huế, tướng Lôriô đã thành công trong việc tổ chức các đoàn xe vận tải tiếp tế cho quân Pháp ở Lào. Hoạt động bất ngờ của Việt Minh ở Cao Nguyên (tiến công Complong ngày 6 và Comphong ngày 25 tháng Cool làm cho các đơn vị địa phương của tướng Lơ Cốc bị thiệt hại nặng. Tại Nam Bộ, mặc dù vùng cao su Lộc Ninh nhiều lần bị uy hiếp nhưng Pháp đã lôi kéo được các giáo phái nên tình hình không đến nỗi nghiêm trọng, dù từ đầu năm nhiều tiểu đoàn chính quy đã bị điều ra Bắc. Chỉ đáng buồn là sáng 31 tháng 7, tướng Săngxông - tư lệnh quân Pháp ở Nam Bộ - đã bị bỏ mạng cùng “thủ hiến Nam Việt” Thái Lập Thành trong một cuộc đi thị sát chiến trường ở Sa Đéc.

        Trên mặt trận ngoại giao, việc đồng minh Anh - Mỹ công nhận “chính phủ” Bảo Đại, Oasinhtơn gọi Thibô về và cử Hít1 sang làm đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ ở Sài Gòn, tất cả những sự kiện đó là những thắng lợi quan trọng, tạo điều kiện cho chuyến công cán sang Mỹ vừa qua đạt kết quả.

        Tóm lại, theo nhận định của bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp, “nhìn chung, cán cân đã nghiêng về phía Pháp... Đã đến lúc có thể dứt khoát từ bỏ thái độ phòng ngự mà Pháp đã phải chịu đựng từ năm 1948, nhất là từ cuối năm 1950, để chuyển sang tiến công...”

        Ông Giáp sẽ tiến công trên hướng nào mùa khô sắp tới? Nếu Pháp ra quân trước thì nên chọn mục tiêu nào? Câu hỏi chưa có lời đáp thì chiều 4 tháng 11, từ Pari bay sang một công văn mật: Chính phủ giục tiến công! Ngồi đối diện với tổng chỉ huy trong đại bản doanh, Xalăng thấy Đờlát “mặt tối sầm lại”.

---------------------
       1. Thibaut de Saint Phalle, nhân viên CIA, sang Đông Dương cùng Pháp xúc tiến kế hoạch chống cộng từ 1950. Nhưng vì hành động lộ liễu khiến cho Pháp đánh hơi thấy Mỹ muốn nhúng tay sâu vào nội bộ Pháp - ngụy ở Đông Dương, Đờlát đã vận động để Oasinhtơn triệu hồi Thibaut về nước và cử Heath sang làm đại sứ Mỹ ở Việt Nam. Donalt Heath vốn là sĩ quan liên lạc giữa quân đội Mỹ và quân đoàn 1 của Đờlát trên chiến trường châu Âu hồi cuối Chiến tranh thế giới thứ hai. Chuyến công cán của Đờlát sang Mỹ hồi tháng 9 cũng do Heath đứng ra làm môi giới.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #109 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:13:31 am »


        Vừa đưa cho Xalăng xem tờ công văn, Đờlát vừa tỏ nỗi bất bình:

        - Ở Pari họ chẳng hiểu gì cả. Họ cho rằng tôi án binh bất động, không có tinh thần tiến công và bỏ phí thì giờ không biết kết thúc sớm... Họ không biết rằng tôi còn cần vài tuần nữa để hoàn tất phòng tuyến bê tông và xây dựng một đội quân Việt Nam cũng đông như quân của ông Giáp. Họ muốn rằng tôi tiến công, rằng tôi phải kết thúc sớm cuộc chiến tranh này đi... Tiến công, tiến công... Được, đồng ý. Tôi sẽ tiến công... Ông cho tìm ngay Đờ Linarét...

        Một quyết định chiến lược khiến cho Xalăng và Đờ Linarét “nhìn nhau, sửng sốt, nếu không nói là bàng hoàng”:

        - Tôi sẽ đánh ra Hòa Bình, sẽ bẻ Việt Minh ra làm đôi!

        Trong lúc cùng cơ quan tham mưu nghiên cứu bản đồ và chuẩn bị phương án, hai viên tướng không dám nói ra nhưng đều không tán thành ý đồ chiến lược của tổng chỉ huy. Xalăng chủ trương chờ đợi và phát hiện hướng tiến công của đối phương đã, sau đó mới buộc họ phân tán lực lượng và dồn họ vào chỗ thất bại. Còn Đờ Linarét thì muốn dùng các đơn vị cơ động tiếp tục càn quét đồng bằng vì nguy cơ “ung thối” ngày càng tăng. Nhưng đó chỉ là ý nghĩ của hai viên tướng cấp dưới. Còn thái độ của Đờlát đã rõ ràng rồi. “Tướng quân đã quyết định chơi một canh bạc lớn...”.

        - Trước hết là Chợ Bến, tiếp theo là Hòa Bình. (Hai viên tướng im lặng)... Các ông hãy tin ở tôi, phải hành động như vậy thôi. Cho đến nay, chúng ta chưa hề bao giờ nắm được quyền chủ động. Chúng ta đã tự bằng lòng với việc dập tắt những ngọn lửa do Việt Minh nhóm lên (ý nói bị động đối phó với các chiến dịch tiến công của quân chủ lực Việt Nam). Tôi thách tướng Giáp đấy, để xem ông ta có chấp nhận lời thách thức này không...”.

        Kết luận cuối cùng: 1. Dùng tới mức tối đa quân Việt (ngụy) vào chiến dịch tiến công; 2. Tuyệt đối bí mật, phải giành cho được hoàn toàn bất ngờ; 3. Ngày 10 đánh ra Chợ Bến; 4. Phân công: “Linarét, phần ông Chợ Bến; Xalăng, ông điều khiển đánh ra Hòa Bình...”.

        Hai viên tướng ra khỏi phòng của tổng chỉ huy lúc ba giờ sáng.

        “Canh bạc lớn” bắt đầu.

        Vì sao Đờlát chọn Hòa Bình làm mục tiêu của cuộc tiến công chiến lược? Ngay trong bộ tham mưu Pháp, câu hỏi này cũng được đặt ra.

        Trước đó, vào cuối tháng 10 năm 1951, viên tổng chỉ huy Pháp đã thất bại trong kế hoạch tiến công Thanh Hóa. 10 tiểu đoàn bộ binh và các phương tiện kỹ thuật cần thiết được huy động để bất ngờ đổ bộ lên vùng bãi biển Sầm Sơn, trong khi 8 tiểu đoàn dù sẵn sàng được ném xuống để đánh chiếm thị xã Thanh Hóa và vùng phụ cận. Giữa đường hành quân gặp bão năm ngày liền, đoàn tàu phải quay mũi trở lại Hải Phòng. Cuộc tiến công không thành nhưng Đờlát vẫn “ôm mộng lớn là đánh bật Việt Minh ra khỏi vùng họ đang kiểm soát” (!).

        Nếu Thanh Hóa là một vùng tự do trù phú mà Đờlát đã chú ý từ lâu và chỉ chờ cơ hội thuận tiện để đánh chiếm thì Hòa Bình lại có tầm quan trọng khác về mặt chiến lược.

        Về quân sự, Hòa Bình nằm trên hành lang vận chuyển chủ yếu của đối phương giữa Việt Bắc với đồng bằng và vùng tự do Khu 4. Chiếm Hòa Bình, “nếu không hoàn toàn chắc chắn ngăn chặn được nguồn tiếp tế của cộng sản thì ít nhất cũng gây khó khăn cho việc vận chuyển các trang bị nặng của họ”. Chiếm Hòa Bình, mở rộng phạm vi kiểm soát của quân Pháp từ dãy Ba Vì đến sát đồng bằng, sẽ tạo điều kiện mở rộng phòng tuyến từ hữu ngạn sông Đà đến trục đường số 6, Xuân Mai - Hòa Bình. Đờlát còn hy vọng rằng với việc chiếm đóng Hòa Bình, ông ta sẽ “thu hút được đối phương đến một chiến trường đã chọn và đã chuẩn bị sẵn” để làm suy yếu, thậm chí “nghiền nát” lực lượng của họ, sau đó sẽ dùng các vị trí mới chiếm được làm căn cứ xuất phát, “chọc những mũi thật sâu vào sào huyệt đối phương”.

        Về mặt chính trị, đánh chiếm thị xã Hòa Bình, “thủ phủ của Xứ Mường” sẽ thu hút được dân chúng địa phương, “duy trì được lòng trung thành của họ đối với nước Pháp” (!).

        Một mục đích khác không kém phần quan trọng là gây tiếng vang ở Pari và Oasinhtơn. Quốc hội Pháp sắp họp bàn về Ngân sách chiến tranh cho Đông Dương năm 1952-1953 và chính phủ rất cần có một chiến thắng để vượt qua những khó khăn nội bộ”. Mặt khác, “một chiến thắng của Pháp ở Đông dương sẽ kích thích các nghị sĩ Mỹ trong việc bỏ thêm vốn đầu tư vào gánh vác chung với Pháp trong cuộc chiến tranh này”. Đó là nguồn gốc của “bức điện thúc giục tiến công” mà Đờlát nhận ngày 4 tháng 11.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM