Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:42:18 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu  (Đọc 56148 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #80 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2016, 01:30:59 am »


        Cả quan và lính binh đoàn Baya đều chung một hy vọng là “không phải chờ đợi cánh quân Cao Bằng quá lâu, khi mà tình thế đã trở nên quá khốn quẫn giữa một đối phương đông đặc thế này”. Chúng làm sao biết được rằng lúc bấy giờ ở sở chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam, một quyết tâm đã được bộ chỉ huy chiến dịch xác định: chặn bước tiến của binh đoàn Sáctông, không để cho hai cánh quân cụm lại với nhau, tiêu diệt binh đoàn Lơpagiơ trước, sau đó tiêu diệt nốt binh đoàn Sáctông.

        Với quyết tâm đó, số phận của cả hai binh đoàn đã được quyết định.

        Nhiều tướng lĩnh và ký giả Pháp không muốn nhắc lại một sự kiện quân sự khác diễn ra ở Thái Nguyên vào những ngày mà bước thứ nhất của kế hoạch Têredơ (tức cuộc hành binh Tidơnít) thất bại.

        Ngày 1 tháng 10, năm tiểu đoàn bộ binh và dù, một cụm pháo binh, một số đơn vị công binh chia thành ba hướng (đường số 3, dọc theo sông Cầu và bằng đường không - thả dù) tiến lên chiếm thị xã Thái Nguyên. Cuộc hành binh này mang tên Hải cẩu (Phoque). Bộ chỉ huy Pháp lòng đầy hy đọng sẽ đánh lừa được đối phương vì cho rằng “thủ đô kháng chiến” bị chiếm, quân chủ lực của đối phương nhất định sẽ từ biên giới kéo về đối phó, như vậy Hải cẩu sẽ đỡ đòn được cho quân Pháp đang lâm vào thế rất hiểm nghèo trên mặt trận Đông Bắc. Sức ép của đối phương trên đường số 4 sẽ giảm, cánh quân Cao Bằng sẽ rút chạy an toàn.

        Nhưng chúng đã sai lầm, một sai lầm mà mãi sau này tướng Mácsăng mới dám thú nhận. Mặc dù quân Pháp tiến vào thị xã Thái Nguyên “hầu như bỏ ngỏ”, nhưng ý định tiến công của đối phương (trên đường số 4) đã được khẳng định họ không hề bị động bởi kế hoạch của Pháp. Vì vậy cuộc hành binh lên Thái Nguyên rõ ràng đã rơi vào chỗ trống và chỉ đóng vai trò thứ yếu, thậm chí vô ích. Mácsăng than phiền: thật là đau xót vì đáng lẽ đưa lực lượng đó lên mặt trận Đông Bắc, nơi trận giao chiến ác liệt đang diễn ra thì bộ chỉ huy Pháp lại đưa quân lên Thái Nguyên để chẳng gây được phản ứng nào của đối phương.

        Trải qua 10 ngày chạm súng với một trung đoàn địa phương và dân quân du kích, 500 tên Pháp đã bị loại khỏi vòng chiến. Ngày 10 tháng 10, tức là khi quân Pháp đã nếm mùi thất bại trên đường số 4 rồi, quân Pháp ở Thái Nguyên mới hấp tấp kéo về vị trí xuất phát của chúng để tăng cường các trận địa phòng ngự, hòng chặn đối phương tiến về đồng bằng.

        Khi mà ý đồ “chiếm lại” Đông Khê đã thất bại và binh đoàn Baya đang giẫm chân tại chỗ với những tổn thất chồng chất quanh Đông Khê thì ở Cao Bằng, viên trung tá Sáctông còn đang khẩn trương chuẩn bị cho cuộc rút chạy. Không nắm được tình hình của Lơpagiơ, Sáctông vẫn tin rằng mọi việc sẽ diễn ra tốt đẹp. Trinh sát cho biết không có bóng quân đối phương trong vòng 5 kilômét bán kính quanh Cao Bằng. Sáctông đinh ninh rằng cánh quân Lơpagiơ sẽ lên đón ở kilômét 22.

        Lực lượng do Sáctông chỉ huy rút chạy khỏi Cao Bằng gồm một tiểu đoàn lê dương (3/3 REI) 500 tên, với những sĩ quan mới tới Đông Dương chừng một tháng; một tiểu đoàn da đen (3e Tabor) mới được tăng cường; một tiểu đoàn ngụy được coi là “khá vững vàng”; một số đơn vị pháo và công binh.

        Sáctông nắm khá vững địa hình dọc đường số 4. Riêng chặng đường từ Cao Bằng đến Đông Khê có rất nhiều núi cao, rừng dày, chỗ nào cũng có thể bị phục kích, mà nguy hiểm hơn cả là “thường đến phút cuối cùng mới phát hiện được đối phương”. Từ Cao Bằng đến kilômét 18 có thể đi xe được, vì không có chỗ nào bị phá hoại đáng kể. Đường mòn từ Nậm Nàng đến Thất Khê không thấy ghi trên bản đồ. Nếu thoát khỏi đường lớn, các đơn vị buộc phải đi hàng một, vừa đi vừa phát đường. Nếu không có máy bay trinh sát giúp định hướng, đơn vị lớn hành quân sẽ gặp nhiều khó khăn. Càng không thể hành quân ban đêm vì rất dễ dàng “mất đi ba phần tư quân số”.

        Kế hoạch cuộc triệt thoái mà Sáctông phổ biến cho sĩ quan trong binh đoàn gồm mấy điểm chính:

        1. Phá hủy toàn bộ tranh bị không cần thiết kể cả 150 tấn quân nhu các loại. Mang theo xe vận tải để chở một phần lương thực, đạn dược và người ốm cùng với hai khẩu pháo 105 và 37 ly để sẵn sàng đối phó nếu bị phục kích. Dự kiến số xe pháo này ít nhất cũng đưa được tới kilômét 18.

        2. Nhanh chóng rút khỏi 15 vị trí vành ngoài, không để đối phương kịp tiến công và chia cắt trong quá trình tập trung quân.

        3. Mang theo chừng 500 thường dân1. Nếu hành quân theo đường số 4 thì không có gì đáng ngại. Nếu phải vào đường mòn thì số thường dân này sẽ thành vấn đề nan giải.

        4. Hết sức giữ bí mật không để đối phương phát hiện trước khi đến kilômét 22, để tránh tăng thêm số lính bị thương trong quá trình hành quân.

        5. Cuộc hành binh được mang tên Dông tố (một cái tên mà binh lính cho là một “điềm gở” vì không hứa hẹn gì tốt đẹp)

        0 giờ ngày 3 tháng 10, cuộc tháo chạy khỏi cứ điểm Cao Bằng bắt đầu.

---------------------
1.   Gia đình ngụy quyền tỉnh Cao Bằng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #81 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:43:50 am »

        
MỘT CUỘC HẸN HÒ KỲ LẠ

        Dù được viết trong những điều kiện khác nhau, những trang báo cáo hoặc nhật ký của Lơpagiơ, Sáctông và nhiều sĩ quan thuộc quyền họ đều nói lên một sự thật bi thảm diễn ra trong vòng một tuần lễ, đã quyết định số phận của 7 tiểu đoàn Pháp trên “con đường máu”.

        Ngày 3 tháng 10

        Ngày hành quân đầu tiên không gặp khó khăn gì đáng kể đối với binh đoàn Sáctông. Tiểu đoàn 3 Tabo mở đường và dừng lại ở kilômét 15. Tiểu đoàn ngụy vượt lên và dừng lại ở kilômét 18. Sau cùng là tiểu đoàn lê dương. Hành quân theo lối cuốn chiếu như vậy đã chậm, số thường dân lại sớm trở thành gánh nặng đối với binh đoàn.

        Không quân không yểm trợ vì rừng núi và vì thời tiết.

        Càng tiến xuống phía nam binh lính càng có cảm giác là họ đang “bị dẫn vào con đường chết”.

        Sau thất bại vì không chiếm lại được Đông Khê, lại bị đánh mạnh ở Nà Kéo và Nà Pá (tiểu đoàn 1 Marốc và tiểu đoàn 11 Tabo thiệt hại nặng, riêng tiểu đoàn 1 Marốc chết 1 đại úy và 60 lính), từ tảng sáng, Lơpagiơ cho hai tiểu đoàn (tiểu đoàn 1 Marốc và tiểu đoàn 1 Tabo) chuyển sang phía tây đường, lên hướng các điểm cao 760-765 để đón binh đoàn Sáctông, theo lệnh nhận được hôm trước. Bọn lính bị thương đã gây quá nhiều khó khăn cho hai tiểu đoàn này suốt dọc đường.

        Hai tiểu đoàn 11 Tabo và 1 dù được lệnh trụ lại ở khu vực Nà Kéo, bị đối phương tiến công ác liệt suốt ngày. Số thương vong tăng lên. Pháo bị phá hủy, lừa ngựa bị chết đến nỗi hai viên thiếu tá tiểu đoàn trưởng phải cho đơn vị tháo chạy lúc nửa đêm. Vừa tới đường lớn lại bị phục kích, thiếu tá Đencrô (Delcros), chỉ huy tiểu đoàn 11 Tabo chạy lạc đơn vị.

        Ngày 4 tháng 10

        Nhận được điện của Lạng Sơn báo cho biết tình cảnh khó khăn của binh đoàn Lơpagiơ (đang giẫm chân ở vùng Đông Khê), Sáctông hạ lệnh phá xe pháo và phát cho mỗi người nửa cơ số đạn, một ngày lương thực.

        Đến klômét 22, không tìm được đường mòn để tiến quân về phía nam. Mất nhiều thì giờ đối chiếu bản đồ, định hướng, tìm đường.

        Tới trưa, bắt đầu bỏ đường lớn. Tiểu đoàn ngụy đi trước binh đoàn, bắt đầu “dở chứng”. Phải cho tiểu đoàn 3 lê dương vượt lên. Chưa đi được bao nhiêu đêm đã ập xuống. Phải dừng lại ở một nơi không xác định được trên bản đồ.

        Sau một đêm hành quân bắt buộc, 10 giờ sáng số quân thoát chết ở Nà Kéo mới đến phía nam điểm cao 765. Thiếu tá Đencrô, sau một đêm lạc đơn vị đã mò được đến sở chỉ huy binh đoàn.

        Lính mệt mỏi, hao mòn. Số lính bị thương mà binh đoàn phải mang theo đã tới hơn một trăm. Tình hình đó buộc Lơpagiơ phải dừng lại ở khu vực từ núi đá Cốc Xá tới các điểm cao 760-765.

        14 giờ mới bắt đầu triển khai được đội hình thì đối phương đã bám sát gót. Toán đầu của đoàn thương binh rơi vào ổ phục kích. Viên đại úy áp tải thương binh bị mất tích. BEP và số còn lại của tiểu đoàn 11 Tabo bị tụt lại, cắt rời khỏi đội hình toàn binh đoàn.

        Đã qua 4 ngày đêm không ngủ, 36 giờ không một giọt nước vào miệng.

        Không biết binh đoàn Sáctông hiện ở đâu.

        Ngày 5 tháng 10

        Sáctông quyết định đi nhanh hơn, nhưng vẫn phải vừa đi vừa tìm đường. Trật tự hành quân về hướng Quang Liệt: tiểu đoàn 3 lê dương (3/3 REI), tiểu đoàn 3 Tabo (3e Tabor), thường dân, cuối cùng là quân ngụy.

        Vừa xuất phát chưa bao lâu, 3/3 REI đã lạc đường. Sáctông phải thân hành lên giúp tiểu đoàn này xác định phương hướng. Chưa tới thung lũng Quang Liệt đã bị hỏa lực của đối phương từ xa chặn lại, tiểu đoàn 3 Tabo tạt sang một bên. Đội hình hành quân xáo trộn. 3/3 REI tụt xuống cuối binh đoàn.

        Chưa tới được khu vực điểm cao 590 thì trời đã tối. Không biết tiểu đoàn 3 Tabo đi hướng nào. Mất liên lạc với tiểu đoàn này. Buộc phải dừng lại vì đêm tối. Chặng đường đi được trong ngày quá ngắn.

        Điều may mắn: lần đầu tiên Sáctông gặp Lơpagiơ trên máy bộ đàm.

        Sáng sớm, BEP và số còn lại của tiểu đoàn 11 Tabo vừa tới thung lũng Cốc Xá thì nhận được lệnh phải chiếm ngay Quý Chân (đông bắc 477) nhưng lính đã kiệt sức sau một đêm tìm kiếm binh đoàn.

        Buổi sáng máy bay thả dù xuống lòng chảo Cốc Xá. Súng máy của đối phương ở vùng điểm cao 765 và quanh Cốc Xá bắn lên ác liệt. Nhiều dù ném vội vã, rơi vào khu vực đối phương.

        Buổi chiều, BEP mới chấp hành được lệnh chuyển quân lên hướng Quý Chân. Vừa triển khai thì đơn vị đi đầu bị tiến công mạnh. Tiểu đoàn trưởng cho đơn vị lui về sát binh đoàn, trên đường mòn 765 - Cốc Xá.

        Cả ngày sức ép đè xuống phía bắc và phía đông đội hình binh đoàn.

        Được biết Sáctông còn cách 10 kilômét về hướng tây bắc

        Suốt đêm tiểu đoàn 1 Tabo bị liên tiếp tiến công.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #82 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:45:08 am »


        Ngày 6 tháng 10

        Phát hiện thấy tiểu đoàn 3 Tabo tiến về hướng 590 - 477 (sau một đêm lạc đội hình binh đoàn), Sáctông đốc thúc sở chỉ huy tiến về hướng đó. Đến 11 giờ, những người sống sót của sở chỉ huy mới về tới điểm cao 590. Tiếp đến là quân ngụy. Sáctông đẩy bọn này về hướng Tan Be để cố gặp binh đoàn Lơpagiơ, nhưng bị phục kích dọc đường. Chừng một đại đội bị tiêu diệt. Một đại đội khác tách khỏi binh đoàn chạy dọc theo suối về phía nam 477. Số còn lại chạy tháo về hướng Quý Chân.

        Sáctông dự định sẽ từ 590 cố tiến nhanh về phía nam, trong tầm pháo chi viện của Thất Khê. Nhưng bọn dân sự đi quá chậm, cản bước 3/3 REI.

        15 giờ nghe tin binh đoàn Lơpagiơ yêu cầu dừng lại và phái lực lượng đến Quý Chân để yểm trợ cho họ giải vây khỏi khu vực Cốc Xá sáng hôm sau (7-10). Đúng lúc đó, lính lê dương (3/3 REI) bị đối phương cắt đứt đội hình ở phía sau. 18 giờ 3/3 REI vẫn bị giam chân ở khu vực 590. Sáctông yêu cầu Thất Khê đưa pháo lên sát cầu Bông Lau để yểm trợ cho 3/3 REI tiến về phía nam. Nhưng trời đã tối, lính lê dương đã mệt lả.

        Đêm đó, đội hình binh đoàn Sáctông rải ra:

        - 3/3 REI và một số ngụy ở đông nam cao điểm 590 hai kilômét.

        - Tiểu đoàn 3 Tabo quanh vùng cao điểm 477.

        - Sở chỉ huy ở bắc cao điểm 477.

        - Chừng 1 đại đội ở Bản Ca, điểm chốt tận cùng phía nam của cả hai binh đoàn.

        - Hai đại đội ngụy ở các mỏm quanh Quý Chân, sát binh đoàn Lơpagiơ.

        - Bọn dân sự lác đác khắp nơi giữa hai cao điểm 590-477.

        Lại nhận được thông báo của Lơpagiơ: họ sẽ phá vây vào 3 giờ sáng hôm sau.

        Sáctông tự nhận thấy bất lực trước yêu cầu chi viện của Lơpagiơ vì đã quá muộn, tai biến đã trở nên khó tránh khỏi với quân bạn. Vấn đề đặt ra cho Sáctông là làm sao nhích nhanh về phía nam để được pháo từ Thất Khê yểm trợ.

        Sáng sớm, máy bay đang thả dù thì đối phương thâm nhập vào phía nam đội hình binh đoàn Lơpagiơ. Một khẩu súng máy (“như từ trên trời rơi xuống”, xuất hiện ở vách đá dựng đứng, một nơi tưởng chừng như không sao có chỗ để đặt súng) quét chặn lối ra vào lòng chảo Cốc Xá. 1/8 RTM và tiểu đoàn 1 Tabo cố gắng mà cũng không “bẩy” được nó đi.

        Lạng Sơn ra lệnh cho Lơpagiơ phải tháo chạy khỏi Cốc Xá. Nhưng bằng đường nào? Lạy Chúa, chỗ nào cũng thấy địch. Toàn bộ số quân còn lại của binh đoàn cùng với 150 tên bị thương, như bị chôn chân ở Cốc Xá. Chỉ có bỏ thương binh lại mà tháo chạy trong đêm tối mới có cơ thoát chết. Lơpagiơ quyết định dùng quân dù làm vật hy sinh, yểm trợ cho bộ phận còn lại của binh đoàn phá vây.

        Súng cối của đối phương bắn liên tiếp vào lòng chảo Cốc Xá, suốt từ chiều đến tối, cản trở việc tổ chức đội hình phá vây.

        Đinh ninh rằng binh đoàn Sáctông “còn nguyên vẹn”, Lơpagiơ hy vọng được quân bạn giúp giải vây và hai binh đoàn cụm lại sẽ tạo thành sức mạnh. Lời yêu cầu tung đi lúc 17 giờ không được trả lời, mặc dầu có tin một bộ phận của Sáctông đã đến 477.

        Ngày 7 tháng 10

        Khoảng ba giờ sáng chỉ cần nghe tiếng súng từ xa, Sáctông cũng phán đoán được rằng việc phá vây của Lơpagiơ đã diễn ra rất khó khăn, đến nỗi viên trung tá này tự hỏi: liệu sau cuộc phá vây này (dù có thành công) người ta có còn trông đợi được gì ở binh đoàn đã tơi tả của Lơpagiơ không? Dù sao, Sáctông vẫn nuôi hy vọng nếu đám tàn binh của cả hai cánh quân cùng lê được về hướng Nà Kéo thì vẫn có thể “tạo nên một sức mạnh hành động vững vàng”.

        Nhưng mối hy vọng quá mỏng manh đó đã tan biến nhanh. Bắt đầu từ 6 giờ, tình hình đã trở nên nghiêm trọng một cánh đáng sợ: tất cả các vị trí của binh đoàn Sáctông đều nằm dưới tầm hỏa lực mãnh liệt và chính xác của đối phương. Đại đội ngụy giữ điểm chốt Bản Ca nhanh chóng bị tiêu diệt. Chốt khống chế này quan trọng tới mức mất nó, toàn bộ diễn biến của trận đánh sẽ bị ảnh hưởng. Tiếp đó điểm tựa chữ “a” của Quang Liệt (bắc 477: 1,5km) do tiểu đoàn 3 Tabo chốt giữ cũng bị đối phương đánh chiếm. Thiếu tá Phoócgiê bị chết trong trận phản kích không kết quả của 3/3 REI.

        Sau hai lần Sáctông cố dồn bọn tàn binh tràn về phía tây không thành công thì một thảm họa mới đã đến: một số lính của bính đoàn Lơpagiơ thoát chết từ Tan Be và 649 chạy ùa sang và ập vào các vị trí của 3/3 REI. Tình hình bỗng trở nên rối loạn và tinh thần bọn lính đã “xuống tới mức thấp nhất”. Lính Marốc, lính dù của BEP, lính Tabo, tất cả, tất cả trà trộn và chất đống vào các vị trí của Sáctông.

        Trước cảnh hỗn loạn đang diễn ra (đúng vào lúc Lơpagiơ thoát chết chạy được đến chỗ Sáctông), một hạ sĩ quan ngụy chạy về sở chỉ huy Sáctông báo cáo rằng quân ngụy ở Quý Chân đã đào ngũ hết, tất cả các sĩ quan Pháp ở khu vực đó đều bị loại khỏi vòng chiến. Tình thế đã trở nên quá bi đát. Sáctông chỉ còn biết dùng vô tuyến điện yêu cầu Lạng Sơn cho thả dù một tiểu đoàn ứng chiến xuống Bản Ca, hy vọng tiểu đoàn này sẽ nâng cao tinh thần bọn lính còn sống sót và sẽ làm “tê liệt tinh thần quân Việt” (!), tạo điều kiện cho tàn quân của cả hai binh đoàn chạy thoát về Thất Khê. Nhưng, Lạng Sơn không trả lời.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #83 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:45:36 am »


        16 giờ. Lại thêm một tai họa: đối phương đánh chiếm điểm cao 477 do tiểu đoàn 3 Tabo chốt giữ.

        Đến lúc này, tình hình rõ ràng đã trở nên tuyệt vọng. Tàn quân của hai binh đoàn giẫm đạp lên nhau trên một khoảng đất dài chừng 1 kilômét sát ngay điểm cao 477. Chỉ cần đối phương đặt đại liên, súng cối và ngay cả trung liên trên đỉnh 477 cũng đủ biến số quân còn lại thành những bia thịt.

        Cụm lại nhưng không tạo nên được “sức mạnh hành động” vì đơn vị nào cũng đã tơi tả. Sáctông tính chuyện dựa vào 3/3 REI, đơn vị duy nhất còn có thể chiến đấu được để mở đường cho đám tàn quân của binh đoàn Cao Bằng tháo chạy.

        Chạy được 2 kilômét về phía nam, quân Sáctông không gặp trở ngại gì. Nhưng vừa tiến gần khu vực Nà Kéo, vấp phải một đơn vị nhỏ của đối phương đón sẵn chặn lại. Chỉ kịp nghe vài băng tiểu liên của quân Pháp bắn trả, Sáctông đã bị thương ở bụng và “bỗng thấy mình trơ trọi” vì quân lính đã tan biến đâu cả!

        Viên trung tá chỉ huy cánh quân Cao Bằng bị các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam bắt làm tù binh lúc 18 giờ 30.

        Đúng như Sáctông phán đoán, việc phá vây hồi 3 giờ sáng của Lơpagiơ không dễ dàng chút nào. BEP đang im lặng triển khai đội hình thì bỗng tiếng lựu đạn, súng cối, súng máy... vọng vào núi đá tạo nên một sự huyên náo nhức tai. Và đối phương từ bốn phía xung phong tới.

        Tảng sáng, tiểu đoàn dù BEP chỉ còn chừng 100 tên, tất cả sĩ quan cấp đại đội, quá nửa sĩ quan cấp trung đội đã bị chết. Tiểu đoàn 1 Tabo lợi dụng trời gần sáng mở đường tháo chạy, số sống sót của BEP chạy theo. Tất cả ùn lại ở chỗ ra vào phía bắc lòng chảo Cốc Xá. Đối phương bám sát đằng sau. Trước cảnh “bị dồn vào chân tường”, nhiều tên phải vứt bỏ trang bị, dùng dây tụt xuống vách đứng thành vại phía trước mặt, bỏ mặc số phận bọn bị thương đang la thét.

        Nhưng cũng không thoát. Đối phương đã đón sẵn dưới chân vách đá. Mạnh ai nấy chạy và những tên sống sót tràn vào khu vực của binh đoàn Sáctông.

        Một thời điểm khó quên được ghi lại trong lịch sử chiến bại của đạo quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương: 13 giờ ngày 7 tháng 10 năm 1950, hai viên trung tá chỉ huy hai binh đoàn gặp nhau bằng cái bắt tay mệt mỏi kèm theo nụ cười tuyệt vọng ở sườn bắc điểm cao 477, khi mà binh đoàn Baya của Lơpagiơ chỉ còn khoảng một phần tư quân số (chừng 550 tên, kể cả quan và lính)1.

        Cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa hai binh đoàn càng làm cho tình hình thêm rối loạn. Lơpagiơ vội chia tay với Sáctông để chuẩn bị cho đám tàn binh của mình tháo chạy về hướng đông - đông nam, với hy vọng gặp quân ứng cứu của Thất Khê lên đang ở khu vực Lũng Phầy. BEP muốn tách khỏi đội hình binh đoàn để đi thành tốp nhỏ hòng tự tháo thân.

        Chẳng mấy chốc, phân đội bảo vệ và ban tham mưu cùng Lơpagiơ bị tụt lại phía sau trong khi bốn bề tiếng súng không ngớt. Các đơn vị đang vấp phải đối phương chặn phía trước hoặc bám sát đằng sau.

        Đêm đến Lơpagiơ cùng với hai bộ phận tham mưu và cảnh vệ dừng lại cách Nà Kéo chừng vài trăm mét. Viên trung tá không nắm được những gì đã xảy ra với đám tàn binh của 4 tiểu đoàn thuộc quyền và cũng chẳng biết rằng lúc này ông bạn Sáctông đã bị bắt làm tù binh.

        Trước sáng, Lơpagiơ cùng nhóm tàn quân tiếp tục tiến theo hướng nam - đông nam. Dù chỉ chạy từng tốp nhỏ cũng khó mà thoát được vì mỗi bước đều có nguy cơ bị phát hiện.

        Khoảng nửa đêm, được Lạng Sơn thông báo: chừng bốn đại đội lê dương và Tabo do Bôm (De la Beaume) chỉ huy, xuất phát từ Thất Khê ngày 7 tháng 10 đã đến nam Lũng Phầy để đón quân từ phía bắc về, Lơpagiơ vội vã cho ban tham mưu tiến nhanh về hướng nam - đông nam với hy vọng sớm gặp “đội quân cứu hỏa” của Bôm.

        Từng tốp nhỏ, lần bước trong đêm tối, tiến chậm chạp.

        Trời sáng hẳn. Trước nguy cơ bị phát hiện Lơpagiơ cùng quân lính đành phải náu mình trong bụi rậm, chờ đêm đến.

        Chừng nửa đêm, nhờ định hướng bằng địa bàn, họ lại tiếp tục cuộc hành trình tuyệt vọng trong rừng rậm. Luôn luôn phải dừng lại ẩn nấp mỗi khi nghe tiếng súng. Đã hai ngày đêm, viên trung tá không được tin về số phận đám tàn binh của bốn tiểu đoàn thuộc quyền.

        Buổi chiều, vừa ra khỏi rừng thì bị đối phương phát hiện. Trong thế bị bao vây quá nhanh mọi ý định chống cự hoặc chạy trốn đều không thể thực hiện được.

        Cùng bị bắt với Lơpagiơ, ngoài các sĩ quan tham mưu, còn có trung tá bác sĩ Đuyrít (Thomas Duris).

        Mãi đến lúc này, tìm hiểu qua đối phương, Lơpagiơ mới sáng tỏ một số điều quan trọng: trừ một số rất ít lọt lưới chạy thoát về Thất Khê hoặc còn ẩn nấp trong rừng, toàn bộ hai binh đoàn đã bị tiêu diệt; Sáctông đã may mắn được “nghỉ ngơi” sớm hơn Lơpagiơ hai ngày đêm ở trại tù binh; cánh quân “cứu hỏa” do Bôm (De la Beaume) chỉ huy bị chặn đứng ở khu vực Lũng Phầy - 608 - 703, vội quay đầu tháo chạy, khi thấy tình thế đã tuyệt vọng.

---------------------
        1. BEP: ngót: 100; 1/8 RTM: 140; 1e Tabor: 170; 11e Tabor: 50; linh tinh: 100.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #84 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:46:35 am »


TÁC ĐỘNG DÂY CHUYỀN

        Trao cho Bôm chỉ huy 4 đại đội Âu - Phi hành quân lêu hướng Đông Khê, Côngxtăng hy vọng rằng ít nhất cánh quân này cũng tạo nên một thế mới, buộc đối phương phải phân tán binh lực, tạo điều kiện cho hai binh đoàn (dù đã sứt mẻ nghiêm trọng) có thể lê được về tới Thất Khê. Nhưng nguồn hy vọng đó đã bị hoàn toàn tan vỡ. Hai binh đoàn bị chôn chân ở vùng Cốc Xá - 477 để rồi bị tiêu diệt. Cánh quân Đờ la Bôm bị đánh tan tác ở khu vực Lũng Phầy. Một số ít tàn binh “bơ phờ, mệt lử, mang theo dấu vết của một cuộc chiến đấu ác liệt”, ngày 8 tháng 10, chạy thoát được về tới Thất Khê, gây nên một không khí hoang mang cực điểm ở vị trí này. Đến ngày 10 tháng 10, cứ điểm Thất Khê lại mở đầu một cuộc tháo chạy mới, hỗn loạn hơn, trên chặng phía nam đường số 4.

        Sau này, trong bản tường trình của mình, trung tá Sáctông lấy làm tiếc rằng tại sao quân Pháp lại rút chạy khỏi Thất Khê vội vã như vậy. Sáctông cho rằng nếu về kịp Thất Khê vào ngày 7 hoặc 8 tháng 10, hắn ta sẽ đề nghị được tổ chức phòng thủ Thất Khê, một vị trí mà hắn cho là vững chắc, có đủ lương thực đạn dược và được không quân chi viện dễ dàng. Về binh lực, theo Sáctông, ngoài lực lượng ở Thất Khê, cứ điểm này có thể được tăng cường bằng số quân từ phía bắc thoát chết chạy về hoặc đưa từ mặt trận Thái Nguyên lên.

        Nhưng khốn nỗi, đây chỉ là phương án mà viên trung tá này đề ra vào cuối năm 1954, khi chiến tranh đã kết thúc và hắn đã được ta trao trả cho phía Pháp. Còn vào hồi trung tuần tháng 10 năm 1950, cuộc tháo chạy khỏi Thất Khê đã diễn ra nhanh đến nỗi ngày 16, một số tàn binh từ phía bắc cố lủi về đến vị trí này đã bị Quân đội nhân dân Việt Nam tước vũ khí và đưa vào trại tù binh.

        Trên chặng đường khoảng 60 kilômét từ Thất Khê đến Lạng Sơn, dù quân Pháp có tài rút chạy khá nhanh, những đơn vị phía sau vẫn bị các chiến sĩ Việt Nam đuổi đánh. Mãi ngày 15, bọn quan quân thoát chết mới về tới Lạng Sơn, nơi đặt bản doanh khu Biên Giới của đại tá Côngxtăng. Một cảnh tượng hỗn loạn lại diễn ra ở đây khiến chính viên đại tá này cũng nghĩ rằng bản doanh của hắn sắp bị tiến công đến nơi. Và ngày 16, Côngxtăng đã đề nghị với tướng Alécxăngđri (khi đó cũng có mặt ở sở chỉ huy khu Biên Giới) cho phép cấp tốc rút chạy khỏi Lạng Sơn “để tránh bị bao vây buộc phải đầu hàng”.

        Thật ra, không phải mãi đến lúc này, Côngxtăng mới lộ rõ là một “viên đại tá da thỏ” (như lính lê dương vẫn thường gọi). Theo tin tức bay về Pháp mà báo chí Pari thuật lại, khi cứ điểm Đông Khê bị tiêu diệt (ngày 18 tháng 9), một không khí kinh hoàng đã tràn ngập đồn binh Lạng Sơn. Từ quan đến lính đều có cảm giác “chỗ nào cũng có Việt Minh và bất kỳ lúc nào cũng có thể bị bắt làm tù binh”.

        Sau khi “đồng ý trên nguyên tắc” cho Côngxtăng chuẩn bị rút chạy, Alécxăngđri bay thẳng từ Lạng Sơn vào Sài Gòn. Đêm 16, trong một cuộc họp “đầy vẻ bi ai”, tướng Cácpăngchiê (lúc đó đã tỏ ra “mệt mỏi, chán chường và bất lực”) đành chấp nhận giải pháp mà Alécxăngđri đã quyết định: rút quân khỏi Lạng Sơn.

        Nhận được điện của Alécxăngđri đánh thẳng từ Sài Gòn ra, Côngxtăng vội vã thực hiện kế hoạch rút chạy đã được trù liệu. Khi Alécxăngđri bay ra tới Hà Nội thì Cácpăngchiê được tin phái đoàn thanh tra của Pari sắp tới Sài Gòn. Viên tướng tổng chỉ huy vội điện cho tướng Alécxăngđri đình chỉ việc rút quân khỏi Lạng Sơn để chờ ý kiến phái đoàn.

        Dù nhận được lệnh đình chỉ do Hà Nội truyền đạt, đại tá Côngxtăng, “người lúc này đã như mất trí và không đủ bản lĩnh để hoàn thành nhiệm vụ của mình” vẫn tiếp tục bật đèn xanh để cuộc rút chạy khỏi Lạng Sơn được bắt đầu đêm 17 rạng 18, khi phái đoàn Pari vừa đạt chân đến Sài Còn. Ba ngày sau, tại tổng hành dinh quân viễn chinh Pháp, viên sĩ quan trực ban tác chiến ghi lên bản đồ chiến sự: các đơn vị trên đường số 4 đã rút về đến vùng Chũ, Kép, An Châu, “ngay sát mép đồng bằng”. Còn trên hướng biên giới Tây Bắc, quân Pháp ở Hoàng Su Phì, Bắc Hà và nhiều vị trí khác trong vùng đã rút chạy về Lao Cai.

        Nhiều viên tướng Pháp ngồi ở Pari (những người ngoài cuộc) đã hết lời chê trách bọn cầm đầu quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương vì “tất cả mọi chuyện đã xảy ra quá nhanh chóng và được quyết định trong bầu không khí hoảng loạn”. Họ than phiền các tướng lĩnh ở Đông Dương thực hiện rút Cao Bằng quá muộn nhưng lại hấp tấp bỏ chạy khỏi Lạng Sơn quá sớm, ngay cả khi chưa có triệu chứng về cuộc tiến công của đối phương. Tướng Xalăng (nguyên trung úy đồn trưởng đồn Đình Lập 25 năm trước) quả quyết rằng nếu bị tiến công, quân Pháp ở Lạng Sơn có thể chống đỡ được vì có không quân yểm trợ, binh lực ở đó có bốn tiểu đoàn lê dương thiện chiến, có thiết giáp, công binh, pháo binh, tóm lại có thể phản kích gây cho đối phương tổn thất nặng nề nếu họ tiến công.

        Ngồi ở Pari, cánh Đông Dương 14.000 kilômét, Xalăng nói như vậy quả không có gì là khó hiểu. Nếu chưa bị triệu hồi và còn giữ cương vị chỉ huy ở Bắc Bộ, chắc chắn viên tướng này cũng chẳng có mưu kế gì hay ho hơn ngoài cái kế “tẩu vi thượng sách”.

        Cuộc rút chạy vội vã của quân Pháp khỏi Lạng Sơn khiến nhiều tướng thực dân kỳ cựu ở Đông Dương hồi tưởng lại sự kiện lịch sử 65 năm trước: năm 1885, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ nhất. Lạng Sơn đã từng là “biểu tượng của sự kinh hoàng quân sự” của quan đội viễn chinh Pháp1.

        Đáccua (Pierre Darcourt, tác giả cuốn Đờlát ở Việt Nam) lên án việc rút chạy vội vã khỏi Lạng Sơn như sau: “Với việc mất Lạng Sơn, quân đội Pháp đã sa xuống vực thẳm... Thành phố được phòng thủ kiên cố này đã rơi vào tay quân thù khi còn nguyên vẹn, với 1.500 tấn trang bị, 2.000 tấn quân nhu, 4.000 khẩu tiếu liên mới còn niêm phong trong hòm, 10.000 viên đạn pháo 75 milimét, 150 tấn thuốc... Với số trang bị đó, Việt Minh có thể tổ chức thêm được 8 trung đoàn”2.

-----------------
        1. Ngày 28 tháng 3 năm 1885, sau bị thiệt hại nặng ở Kỳ Lừa, một lữ đoàn quân Pháp do viên thiếu tướng De Négrier chỉ huy đã phải vứt toàn bộ pháo, đạn dược, lương thực và 130.000 đồng bạc trắng xuống sông Kỳ Cùng, bỏ Lạng Sơn chạy về Chũ.

        2. Pierre Darcourt, Delattre au Việt Nam, Table ronde, Paris, 1965, tr. 15
.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #85 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:47:20 am »


TIẾNG VANG CHIẾN BẠI

        Lính Pháp và Âu - Phi bị bắt và được quân ta thả ngay tại trận, khi về Hà Nội đã trở thành những cái loa tuyên truyền về “thiên anh hùng ca biên giới”. Họ nói về cuộc “hẹn hò kỳ lạ” giữa Sáctông và Lơpagiơ, về những ngày rút chạy hầu như không nghỉ của hai binh đoàn, về toàn bộ cơ sở vật chất dự trữ phải bỏ lại Lạng Sơn, trong đó có chừng 600.000 lít xăng. Câu chuyện lan truyền dai dẳng về việc không quân không dám bay lên ném bom phá hủy các kho tàng như kế hoạch đã định.

        Về tới Hà Nội. họ tỏ ra bất bình khi nghe tin Côngxtăng trút mọi trách nhiệm về việc để mất các kho tàng ở Lạng Sơn lên đầu một viên trung úy vì anh ta không kịp phá hủy trước khi rút chạy. Theo họ, viên trung úy nọ không hề nhận được lệnh phá hủy bằng mìn, vì Côngxtăng hy vọng vào những quả bom của không quân lên phá hủy. Động lòng thương hại viên trung úy bất hạnh, họ phải giấu anh ta vào một tiệm cà phê ở phố Pôn Be (tức phố Tràng Tiền ngày nay) để anh ta khỏi bị đưa ra tòa án binh. Sau đó họ đã nói hết sự thật khi phái đoàn Pari tới Hà Nội.

        Phẫn nộ trước sự đần độn của các mệnh lệnh mà họ phải chấp hành khi ở biên giới, nhiều sĩ quan thoát chết từ “địa ngục đường số 4” trở về đã kéo đến khách sạn Mêtơrôpôn (tức khách sạn Thống Nhất ngày nay) để nói với phóng viên báo chí về những gì đã xẩy ra và dẫn các ký giả đến nhà thương Lanétxăng (ngày nay là Viện Quân y 108) để tìm hiểu sự thật qua những người bị thương.

        Trong thành phố Hà Nội, từ giữa tháng 9, một không khí hoảng hốt bao trùm cơ quan tham mưu Pháp ở Bắc Đông Dương khiến nhiều người hồi tưởng lại quang cảnh rối loạn mười năm trước, khi quan phát xít Nhật tiến đến biên giới Đông Bắc.

        Giờ nọ tiếp giờ kia, các tin tức về sự sụp đổ của phòng tuyến biên giới cứ bay về bộ tham mưu. Nhiều sĩ quan ở đây mừng thầm rằng quân Pháp đã chạy nhanh đến nỗi đối phương không đuổi kịp nhất là từ Lạng Sơn trở đi. Nhiều người phán đoán Hà Nội sắp bị tiến công. Và việc bố phòng được triển khai gấp rút để bảo vệ thành phố này. Một hệ thống dây thép gai dày nhiều lớp được tung ra để bảo vệ cầu Dume (tức cầu Long Biên ngày nay). Từng đoàn xe nhà binh ngày đêm vội vã chuyển các hồ sơ và vật quý ra khỏi thành phố. Nhiều gia đình Pháp hấp tấp tản cư xuống Hải Phòng.

        Trong một chỉ lệnh, do Cácpăngchiê phê duyệt và Alécxăngđri ký tên, gửi quân đội Pháp ở miền Bắc Đông Dương, các tướng lĩnh Pháp công nhận rằng Pháp không đủ sức để chống giữ ở khắp nơi nếu tiếp tục bị tiến công. Một điều cụ thể được đề ra trong bản chỉ lệnh là phải ngăn chặn càng lâu càng tốt, không để cho thiết giáp (!) của đối phương lọt qua nếu họ từ Việt Bắc tiến về đánh... Hà Nội.

        Quan sát bầu không khí đầy hốt hoảng, nhiều ký giả Pháp có mặt ở thành phố này nói mỉa mai: từ chỗ đánh giá quá thấp kẻ thù, chỉ sau một tháng nếm mùi thất bại ở Đông Bắc người ta đã quá run sợ và khuếch đại sức mạnh của Việt Minh.

        Mặc dù đế quốc Pháp cố tình bưng bít, thảm họa đường số 4 vẫn gây nên những phản ứng tâm lý sâu sắc ở Bắc Phi cũng như ở nhiều thuộc địa khác của Pháp. Trong lúc Chính phủ Pháp lo ngại việc rút thêm quân để tăng viện cho chiến trường Đông Dương càng làm cho “nền an ninh ở Bắc Phi bị uy hiếp, thì dư luận tiến bộ ở vùng thuộc địa này của Pháp đã tìm ra một chân lý: những quân đội nhà nghề được huấn luyện chu đáo và trang bị đầy đủ vẫn có thể bị đánh bại trong một cuộc chiến tranh xâm lược khi mà nhân dân quyết tâm chiến đấu chống lại.

        Nơi dư luận xôn xao nhiều nhất về tin tức chiến sự ở biên giới Việt Nam vẫn là thủ đô Pari.

        Tại phố Xanh Đôminích, nơi đặt cơ quan chuyên theo dõi các quân đội thuộc địa, một nỗi lo âu đè nặng căn phòng làm việc có treo ảnh Galiêni và Mănggianh1, những “vĩ nhân (!) đã xây dựng Đế quốc Pháp”. Các bức điện liên tiếp chuyển về Pari nặng trĩu những thiệt hại mà quân đội viễn chinh Pháp phải chịu đựng ở Đông Dương, chứng tỏ rằng đế quốc đó đang sụp đổ từng mảng ở chính nơi mà các vị tướng lĩnh thực dân bậc cha chú đó đã rèn đúc nên nó. Cũng tại căn phòng này, bọn cầm đầu quân sự nước Pháp - những con bạc khát nước - đã bàn tính đến việc vét túi để đổ thêm quân sang Đông Dương nhằm cứu vãn tình thế, vì thiệt hại một tháng qua quá nặng nề. Các bản báo cáo trình bày trong các cuộc họp ở đây đã làm đậm nét bức tranh về “những dòng người bi ai như những kẻ đi theo xe tang, kiệt sức vì thiếu ngủ, rã rời tơi tả sau những ngày chiến đấu liên tục căng thẳng... đang lê bước dưới lưỡi lê của đối phương để về các trại tù binh”.

        Trong khi Chính phủ Pháp đang chìm ngập trong những bức điện ngày càng bi đát thì một không khí nặng nề bao trùm lên quốc hội. Một vấn đề cũ lại được đặt ra trong hoàn cảnh mới: Chúng ta (Pháp) bám lấy cái xứ Đông Dương đó để làm gì? Cuối trung tuần tháng 10, quốc hội họp phiên bất thường. Vấn đề Đông Dương ghi trên hàng đầu chương trình nghị sự. Nội các đương thời của Plêven cũng như mười hai nội các trước đó2 đều bị đả kích về đường lối chính trị lỗi thời, nguyên nhân sâu xa của những thất bại ngày càng lớn trong cuộc chiến tranh xâm lược bẩn thỉu ở Đông Dương. Dĩ nhiên, những nghị sĩ cộng sản trong quốc hội vẫn luôn luôn là những người cất cao tiếng nói chính nghĩa, kịch liệt lên án cuộc chiến tranh bẩn thỉu mà bọn “lái súng tham tàn, bọn bán thịt người vô liêm sỉ” đã gây ra ở Việt Nam. Măngđét Phrăng (Mendès France) xuất hiện với chủ trương rút quân đội Pháp về nước. Cuộc tranh cãi ở quốc hội (mà tờ báo này cho là thảm kịch, tờ báo khác lại cho là đầy lý thú) đã làm cho “Plêven và công ty” hết sức bối rối. Phe chủ hòa cũng nhân dịp này mà nhắc lại “vụ bê bối của các vị tướng” (ý nói vụ án Rơve) và đòi các nhân vật cao cấp, cả quân sự và dân sự dính líu đến vụ đó phải ra trước Tòa án tối cao.

        Theo “thói quen đáng kính” (!) của nền Đệ tứ Cộng hòa Pháp, cứ mỗi khi vấp phải một thất bại có ý nghĩa chiến lược ở Đông Dương, thì Chính phủ Pháp lại cử một phái đoàn sang để “nghiên cứu tình hình tại chỗ”.

        Ngày 15 tháng 10, “thói quen” đó lại tái diễn.

        Phái đoàn được Pari cử sang Đông Dương lần này không những do cấp bộ trưởng cầm đầu3 mà còn có tướng Gioăng (Juin), viên tướng số 1 của Pháp và tướng Valuy, cố vấn quân sự của Chính phủ về Đông Dương.

---------------------
        1. Joseph Galliéni (1849-1916): thống chế Pháp đã từng tham gia chiến tranh xâm lược Xuđăng, Bắc Việt Nam, Mađagátxca. Charles Mangin (1866-1925), tướng Pháp đã từng đem quân xâm lược Bắc Việt Nam những năm đầu thế kỷ này.

        2. Trong 5 năm xâm lược Đông Dương (9-1945 - 9-1950) nước Pháp đã 13 lần thay đổi thủ tướng: 1945: Đờ Gôn; 1946: Goanh, Biđôn; 1947: Blom, Ramađiê; 1948: Suman, Mari, Suman; 1949: Cơi, Mốtsơ, Mayê; 1950: Biđôn, Plêven...

        3. Lơtuốcnô, Bộ trưởng Bộ “Các Quốc gia liên kết”, nguyên gọi là Bộ “Pháp quốc hải ngoại”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #86 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:48:19 am »


LỜI PHÁN XÉT CỦA PHÁI ĐOÀN

        Ngày 17, vừa đặt chân đến Sài Gòn, phái đoàn hết sức ngạc nhiên về quyết định rút chạy khỏi Lạng Sơn. Việc này đang được xúc tiến và không thể đình chỉ được nữa. Phái đoàn đặt vấn đề: Tại sao lại quyết định như vậy và liệu chúng ta (Pháp) còn rút chạy đến đâu nữa trong cảnh hoảng loạn này. Nhưng đứng trước việc đã rồi, ngài bộ trưởng và hai vị tướng quân cũng đành phải bỏ qua một việc đang được xúc tiến trái hẳn với ý muốn của mình.

        Nhưng không phải chỉ có thế.

        Phái đoàn được biết rằng lúc này tại Hà Nội, các cuộc hội nghị đang diễn ra tại bản doanh quân đội Pháp ở miền Bắc Đông Dương. Trong các cuộc hội nghị đó, người ta đang bàn đến chuyện “tổng rút chạy” khỏi Móng Cái, Tiên Yên, Cẩm Phả, Hòn Gai, nhằm vét thêm được một số tiểu đoàn về giữ “vùng đồng bằng có ích”. Tệ hại hơn nữa là có kẻ còn dám gợi ý đến chuyện rút chạy khỏi Hà Nội, một điều báo hiệu sự tan vỡ hoàn toàn của giấc mộng xâm lăng. Từ chỗ ngạc nhiên đến chỗ nổi khùng, phái đoàn cấp tốc đáp máy bay ra Hà Nội và hạ những mệnh lệnh nghiêm khắc để xua tan bầu không khí kinh hoàng đang tràn ngập.

        Sau khi đã cố tỏ ra bình tĩnh để làm gương cho cấp dưới (!), phái đoàn bắt đầu xét đến các vị cầm đầu quân đội Pháp ở Đông Dương, những người mà phái đoàn cho là đã làm cho tình hình trở nên nát bét.

        Đích danh thủ phạm, đứng đầu sổ được xét đến là tướng Cácpăngchiê, người trước đây vốn được tướng Gioăng “đánh giá cao”.

        Theo nhận xét của phái đoàn, Cácpăngchiê không phải là viên tướng không có đầu óc tổ chức, nhưng thực tế những gì đã diễn ra trong năm qua chứng tỏ rằng ông ta không đủ bản lĩnh để ứng phó với cục diện chiến tranh đã trở nên hiểm nghèo đối với Pháp. Có mặt ở Đông Dương đã một năm nay và ngay từ đầu đã thấy “mầm mống của một cơn khủng hoảng trầm trọng”, sao ông tổng chỉ huy không nhanh chóng rút quân khỏi Cao Bằng, trái lại, đã thỏa hiệp với viên tướng cứng đầu Alécxăngđri, tổ chức cầu hàng không rất tốn kém để tiếp tục giữ vị trí này, từ đầu năm 1950.

        Cácpăngchiê sát tình hình hơn Hội đồng Quốc phòng ở tận Pari, vậy mà vào giữa tháng 9, khi quyết định rút quân khỏi Cao Bằng, sao ông ta không cho rút theo đường khác mà lại máy móc theo đường số 4 như đã được Chính phủ dự kiến trước đó hàng năm? Là tổng chỉ huy, sao ông ta bỏ đại bản doanh của mình để đi xa hàng ngàn kilômét, trực tiếp đốc thúc cuộc triệt thoái mà không tin tưởng rằng những sĩ quan cao cấp phụ trách khu vực có thể hoàn thành một công việc thuộc quyền chỉ huy của họ?

        Để cứu vãn tình thế, cần triệu hồi viên tướng tổng chỉ huy và thay thế bằng người khác, tài cán hơn. Nhưng để tránh điều bất lợi về tinh thần và tâm lý, trước mắt hãy tạm để ông ta ở vị trí hiện nay cho đến khi tình hình chứng tỏ rằng “sự xúc động (vì thất bại vừa qua) đã dịu đi”.

        Dù Alécxăngđri đã từng phản đối việc rút quân khỏi Cao Bằng, nhưng trong tấn thảm kịch vừa qua, viên tướng này được phái đoàn xét là vô tội vì cuộc hành binh được quyết định lúc ông ta vắng mặt. Đến nay, khi mọi điều bất hạnh đã xảy ra, nên chấp nhận để ông ta trở về Pháp theo yêu cầu của con người đã “vỡ mộng tổng chỉ huy”.

        Tướng Mácsăng tỏ ra thiếu trách nhiệm vì vừa thấy Alécxăngđri trở lại Đông Dương đã vội trút mọi gánh nặng cho viên tướng mà mình tạm thay quyền. Trong những ngày liên tiếp xảy ra biết bao biến cố bi thảm vừa quan Mácsăng tỏ thái độ như người đứng ngoài cuộc. Cần cử ngay Đờ Latua ở Nam Bộ ra thay thế và cho Mácsăng về Pháp.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #87 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:48:46 am »


        Đại tá Côngxtăng chỉ biết ngồi ở sở chỉ huy Lạng Sơn để làm chiến tranh bằng bản đồ và máy bộ đàm, trong khi tình hình đòi hỏi một đức tính kiên định và một tác phong sâu sát. Đáng lẽ Côngxtăng phải tự mình đảm nhiệm chỉ huy binh đoàn Baya. Bị kích động hơn ai hết trước sự tan rã, ông ta chỉ nghĩ đến việc tháo chạy càng nhanh càng tốt. Ông ta phải phịu trách nhiệm về “cuộc rút chạy không nghỉ” khỏi các cứ điểm phía nam Đông Khê, nhất là Lạng Sơn, vị trí của chính ông ta, nơi mà cuộc rút chạy vội vã đến nỗi một phương sách tầm thường nhất cũng không được áp dụng để phá hủy các kho tàng. Ông ta đừng hy vọng ngôi sao cấp tướng để ở lại đất Bắc Bộ này. Tốt nhất là hãy cho ông ta hồi hương.

        Trong báo cáo gửi Chính phủ Pháp sau khi trình bày mọi lý do để yêu cầu xóa sổ hàng loạt cấp chỉ huy quân sự cao nhất ở Bắc Bộ và Đông Dương, tướng Gioăng đã nhân danh tổng tham mưu trưởng nói rõ quan điểm của mình về cục diện chiến tranh Đông Dương và đề đạt với Chính phủ phương sách giải quyết.

        Vấn đề trước tiên cần được xem xét là những quyền lợi mà xứ Đông Dương mang lại liệu có bù đắp được những khoản chi tiêu khổng lồ và những tổn thất về nhân mạng mà nước Pháp phải gánh chịu trong những năm qua?1. Cuộc chiến tranh (xâm lược Đông Dương) đã làm cho địa vị của nước Pháp ở châu Âu bị sa sút nghiêm trọng, nền an ninh của Khối Liên hiệp Pháp bị đe dọa.

        Đối phương lớn mạnh đã đánh cho quân đội viễn chinh Pháp một đòn cay đắng chưa từng thấy, trong khi đó thì triển vọng bình định các vùng Pháp kiểm soát vẫn còn là một điều quá xa tầm tay.

        Theo viên tổng tham mưu trưởng Pháp, trên chiến trường Đông Dương, trước hết là ở Việt Nam, đã xuất hiện một tình hình trái ngược về lực lượng so sánh. Một bên, sức mạnh của đối phương là ở chỗ họ có một tổ chức chính trị mạnh, một lực lượng vũ trang dựa trên một nền tảng đầy đủ màu sắc dân tộc. Còn một bên là nước Pháp, đã suy yếu lại phải một mình chịu đựng mọi gánh nặng chiến tranh vì “những phần tử quốc gia (ý nói bọn tay sai) chỉ là một chính phủ bù nhìn vô dụng được người Pháp o bế”.

        Cuối cùng, tướng Gioăng nêu lên hai giải pháp để Chính phủ Pháp lựa chọn.

        Một là thương lượng với Cụ Hồ Chí Minh. Chính Cụ cũng không phải là không muốn kết thúc cuộc chiến để đi đến chỗ hợp tác trên cơ sở tin cậy lẫn nhau2. Giải pháp này có thể bị coi là điều thú nhận một sự bất lực và sẽ gây tiếng vang lớn trên tất cả các đất đai ngoại quốc (ý nói các thuộc địa) của Pháp, ấy là chưa nói đến những hậu quả chính trị của một cuộc bỏ rơi như vậy, chưa nói đến những suối máu sẽ còn có thể chảy ở Đông Dương (?). Tóm lại, đây là một giải pháp nửa vời, bỏ thì tiếc, nuốt không trôi.

        Hai là đưa cuộc chiến tranh Đông Dương ra thành bình diện quốc tế, cụ thể là đưa ra trước Liên hợp quốc. Giải pháp này cho phép rút dần phần lớn binh lực Pháp ra khỏi Đông Dương song song với việc tiếp phòng (?) của quân lực các nước thường trực Liên hợp quốc. Gioăng cho rằng giải pháp này chẳng qua cũng chỉ là một sự bỏ rơi về mặt tinh thần và chắc chắn rằng phải một thời gian mới kéo được Hội đồng bảo an tuyên bố về một “hành động xâm lược rất khó mà xác định được tính chất”.

        Phái hữu cầm đầu Chính phủ Pháp không chọn giải pháp nào do tướng Gioăng đề nghị, vì thương lượng với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa hoặc quốc tế hóa cuộc chiến tranh “nước Pháp đều mất hết quyền lợi” (!).

        Trong khi lực lượng phe chủ hòa chưa đủ mạnh để chặn tay Chính phủ Pháp, giới cầm quyền hiếu chiến ở Pari vẫn chủ trương tiếp tục lao sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược. Họ tin rằng với một tướng tổng chỉ huy mới, chủ trương chiến lược mới và bàn tay của chú Sam, họ sẽ làm đảo lộn tình thế, lấy lại được những gì đã mất sau năm năm qua.

---------------------
        1. Theo một bản tường trình của W. Bullit (trợ lý Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ) viết đầu năm 1951, trung bình mỗi năm nước Pháp mất vào cuộc chiến tranh Đông Dương ít nhất 450 triệu đô la, 7.000 lính Pháp và Âu - Phi, 400 sĩ quan (bằng tổng số sĩ quan mà nước Pháp đào tạo hàng năm).

        2. Theo nguyên văn: “Kết thúc cuộc chiến bằng một nụ cười và bàn tay để lên trái tim”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #88 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:49:53 am »


*

*      *

        1945 - 1950 - Năm năm, nhìn lại một chặng đường xâm lược

        Năm năm đã trôi qua. Đó là năm năm mà dư luận tiến bộ Pháp không ngừng lên án giới cầm quyền ở Pari đã tỏ ra mù quáng, ngày càng tính sai nước cờ.

        Ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai, đã có lúc người Pháp tự hào rằng họ “đã khôn ngoan, biết đánh giá đúng ý nghĩa của những biến đổi về chính trị và xã hội ở châu Á, đã đi trước tất cả các nước phương Tây” để tiến hành đàm phán và ký kết với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa (3-1946). “Sự hòa giải đó là kết quả khiến cả châu Âu và thế giới khâm phục”.

        Nhưng rồi, như nhận xét của báo Người quan sát mới (6-11-1972), điện Êlydê và phủ cao ủy đã hành động mù quáng, “khiến cho thiện chí hòa giải của Việt Minh không thành”. Cuộc chiến tranh Pháp - Việt nổ ra cách nước Pháp hàng vạn kilômét và đã kéo dài năm năm.

        Trong suốt năm năm đó, mục đích của cuộc chiến tranh (xâm lược) được ngụy trang dưới những lý lẽ ngược đời. Nào là “chúng ta không thể bỏ rơi những người bản xứ... họ chưa thể tự cai trị được... Chúng ta có nghĩa vụ khai hóa cho họ...”, nào là “chúng ta không thể để cho dân tộc đáng yêu ấy sa vào cảnh bị đọa đày... không thể để cho cơ nghiệp đế quốc mà Galiêni và Đume đã xây dựng nên bị đổ vỡ tan tành”…

        Cũng trong năm năm đó, những Đờ Gôn và Đácgiăngliơ, những Ôriôn, Biđôn và Lơtuốcnô... đã liên tiếp đánh giá sai đối phương cả về mục tiêu chính trị và thực lực. Năm năm, đó là thời gian mà các chính phủ kế tiếp nhau ở Pari ngoan cố “kiên trì chờ đợi và hy vọng thực sự vào giải pháp Bảo Đại”, họ không chịu công nhận Chính phủ kháng chiến Việt Nam là một thực tại chính trị, chỉ vì “đó là kẻ thù của nước Pháp”1(!).

        Kết quả là, như thống tướng Mỹ Anđriu nhận xét trong lời tựa cuốn Con đường không vui2, cuộc chiến tranh ngày càng dẫn đế quốc Pháp đến chỗ bế tắc về chính trị và tâm lý, tuyệt vọng về chiến lược. Trong khi, về mặt chính trị, nội tình nước Pháp ngày càng bị phân hóa sâu sắc và vụ án Rơve chỉ là một dịp để đảng Cộng hòa Bình dân gạt nốt ảnh hưởng cuối cùng của đảng Xã hội về vấn đề Đông Dương thì, về mặt quân sự, “tính chất rất mới lạ của cuộc chiến tranh cách mạng ngày càng làm đau đầu các bộ tham mưu Pháp”. Tướng Mỹ Anđriu và tướng Pháp Rơve đều thống nhất một nhận định là: “Mọi cố gắng của quân đội viễn chinh Pháp nhằm đối phó với kiểu chiến tranh của Việt Nam thường là vô ích. Quân đội Liên hiệp Pháp ngày càng lún sâu trong vùng đồng lầy và rừng rậm nhiệt đới... Vấn đề quân sự (trải qua năm năm chiến tranh) vẫn còn nguyên vẹn”.

        Chính phủ ở Pari và bộ tham mưu ở Sài Gòn không thể giải thích nổi vì sao, trong suốt năm năm chiến đấu trong thế đất nước bị bao vây bốn phía và trong điều kiện không cân sức, dân tộc Việt Nam vẫn tồn tại và không ngừng lớn lên. Mãi vài chục năm sau, có người3 mới giải thích giúp họ rằng: sở dĩ Việt Minh (xin hiểu là dân tộc Việt Nam) tồn tại được là do họ có “nghị lực thần diệu, tính ngoan cường, sự khéo léo và thiên tài mưu lược...”. Chính nhờ những đặc tính đó mà, mặc dù “trong hoàn cảnh hoàn toàn bị ngăn cách với thế giới bên ngoài, người Việt Nam vẫn kiên trì bám vững những triền núi đá để ngoan cường chiến đấu và xây dựng đất nước...”.

        Từ năm 1947, Thủ tướng Ramađiê và Chính phủ Pháp hy vọng rằng việc gạt các bộ trưởng cộng sản ra khỏi chính phủ sẽ hạn chế được tiếng nói ủng hộ của nhân dân Pháp đối với cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam vì “Việt Minh không còn có đồng minh trong chính quyền ở Pháp nữa”. Họ không ngờ rằng trước sau nhân dân Việt Nam vẫn được sự ủng hộ ngày càng rộng khắp và thiết thực của nhân dân Pháp và của cả loài người tiến bộ. Trong hoàn cảnh đất nước bị bao vây bốn phía, nhân dân Việt Nam vẫn vững bước theo đường lối kháng chiến được vạch ra đúng đắn ngay từ đầu. Bộ tham mưu và các tướng lĩnh Pháp ngày càng tỏ ra thất vọng trước một thực tế là “những người kháng chiến Việt Nam, vững bền ý chí, không chịu rơi vào chủ nghĩa du kích”. Trái lại, từ những đội quân nhỏ bé ban đầu (những đội quân mà tướng Valuy tưởng rằng có thể tiêu diệt dễ dàng bằng “cuộc hành binh cảnh sát” cuối năm 1947), họ đã từng bước lớn lên và không ngừng tiến vững chắc từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy. Chính “sức mạnh của đội quân mũ lá chân đất” đó đã dẫn đến “thảm cảnh đường số 4” vừa qua, một thảm cảnh được coi là “lớn nhất của nước Pháp ở hải ngoại từ sau cái chết của Môngcan tại Kêbéc” 4 gần hai trăm năm trước.

        Vào những ngày cuối năm 1950, khi điện Êlydê đang xúc tiến việc thay tướng thêm quân, báo chí Pháp đã thẳng thừng vạch ra rằng: Nhìn vào cục diện chiến trường biến đổi ngày càng bất lợi (cho Pháp) trong năm năm qua, nhìn vào cuộc đối mặt đầu tiên của dân chúng Sài Gòn với quân đội Mỹ hồi tháng Ba5 và nhìn vào cuộc chiến tranh mà Mỹ mới phát động ở Triều Tiên hồi tháng Sáu (1950), người ta thấy rõ ràng nước Pháp đang cùng Mỹ lao sâu vào “cuộc thập tự chinh chống cộng” ở châu Á. Hai gọng kìm của Mỹ (ở Đông Bắc Á - Triều Tiên) và của Pháp (ở Đông Nam Á - Đông Dương) ngày càng chứng tỏ “một sự thật không thể chối cãi là cuộc thập tự chinh chống cộng của phương Tây đã bước vào giai đoạn thoái trào”.

        Riêng trên chiến trường Việt Nam, mặc dù Mỹ đang từng bước can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh Pháp - Việt, sự thật năm năm qua ngày càng khẳng định: cuộc chiến tranh đó không đem lại cho giới cầm quyền ở Pari một tia hy vọng nào nếu họ ngoan cố tiếp tục chui sâu vào “đường hầm không lối thoát”.

---------------------
        1. Tuyên bố của Đờ Gôn trong cuộc họp báo 17 tháng 11 năm 1948.

        2. Bernard Fall, Stackpole Books, New York, 1967.

        3. J. Lacouture, tác giả cuốn Hồ Chí Minh, Seuil, Paris, 1967.

        4. P. Darcourt, Đờlát ở Việt Nam (Delattre au Việt Nam), Nxb Leronde, Paris, 1965. tr. 13. Louis Montcalm là danh tướng Pháp (1712-1759) chết tại Canađa trong cuộc giao chiến với quân đội Anh.

        5. Ý nói cuộc biểu tình của 50 vạn nhân dân Sài Gòn ngày 19 tháng 3 năm 1950 phản đối hai tàu chiến Mỹ đến cảng. Trước sức mạnh của nhân dân ta, tàu chiến Mỹ buộc phải nhổ neo rời cảng. Ngày 19 tháng 3 hàng năm trở thành Ngày toàn quốc chống Mỹ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #89 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 05:51:40 am »


Phần ba

THẾ THUA ĐÃ RÕ RÀNG


Chương bảy

TƯỚNG GIÀ CỨU NGUY

THAY TƯỚNG, VÉT QUÂN

        Trong lúc dư luận Pháp đang bị chấn động mạnh mẽ về thất bại của quân viễn chinh trên chiến trường biên giới, thì Chính phủ Pháp triệu hồi những viên chỉ huy chóp bu theo kiến nghị của tướng Gioăng. Việc làm đó không dẹp yên được dư luận. Ở Pari, người ta nói nhiều đến thái độ bao che của phái đoàn Lơtuốcnô - Gioăng. Qua bản tường trình của phái đoàn, dư luận cho rằng mặc dù tướng Gioăng cố dùng những lời mạnh mẽ để lên án bọn chỉ huy Pháp ở Đông Dương, nhưng thật ra ông ta đã khéo léo gỡ tội cho phần lớn những nhân vật chính trong vụ thảm bại ở đường số 4. Hơn thế nữa, ông ta còn tạo điều kiện cho họ hồi hương, tức là thoát khói “cái tổ ong Đông Dương”.

        Không thể làm ngơ trước dư luận, Chính phủ Pháp buộc phải cử ra một ủy ban do tướng Buýtxông (Buisson) cầm đầu để tiếp tục cuộc điều tra hòng tìm ra đích danh kẻ có tội. Nhưng vì thế lực của tướng Gioăng quá lớn trong giới quân nhân cao cấp ở Pari cho nên sau một thời gian “làm việc âm thầm trong sự quên lãng”, ủy ban của Buýtxông ngày càng chui sâu vào bụi rậm1. Cuối cùng cả Cácpăngchiê, Mácsăng và Côngxtăng, những kẻ được quan thầy Gioăng che chở, không những vô can mà còn được vinh thăng2. Chỉ riêng tướng Alécxăngđri bị kết tội chống lại chủ trương rút ngắn phòng tuyến biên giới, một việc đáng lẽ phải được thực hiện từ giữa năm 1949.

        Sau này, trong tài liệu tổng kết cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp, bọn ngụy quyền tay sai cũng phải nhận rằng cách giải quyết trên đây là vô lý. Chính phủ Pháp không thể quy trách nhiệm cho bất kỳ viên chỉ huy nào ở Đông Dương, kể cả Alécxăngđri. Là cơ quan tối cao quyết định đường lối chiến tranh xâm lược Đông Dương, lại am hiểu mọi khó khăn của đạo quân viễn chinh, đáng lẽ Chính phủ Pháp phải tự kết tội về trách nhiệm thất bại ở biên giới (cũng như mọi thất bại khác mà quân Pháp phải chịu đựng trên bán đảo này). Bọn ngụy quyền tay sai còn nói lên một sự thật (và cũng là một nguyên nhân, tất nhiên chưa phải là nguyên nhân chủ yếu nhất) là giới cầm quyền Pháp ở Pari đã không đánh giá đúng sức mạnh của nhân dân Việt Nam chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp. Chính phủ Pháp không ngờ rằng đối phương có khả năng mở một chiến dịch lớn như chiến dịch Biên Giới. Sự lớn mạnh của lực lượng kháng chiến tất sẽ dẫn đến kết quả như cuối năm 1950, đó là điều không thể tránh khỏi.

        Khách quan mà xét, trong bản tường trình của mình, tướng Gioăng đã nói lên được một phần sự thật về cục diện chiến tranh Đông Dương hồi đó. Điểm nổi bật là thế phân tán binh lực cao độ của quân viễn chinh Pháp sau tám cuộc hành binh ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ mà tướng Alécxăngđri đã tiến hành từ giữa năm 1949 đến giữa năm 1950. Nếu các cuộc hành binh đó đem lại kết quả là đến mùa hè 1950, phạm vi chiếm đóng của quân đội Pháp mở rộng hơn bao giờ hết thì thời kỳ này cũng là thời kỳ mà binh lực của chúng bị căng mỏng hơn bao giờ hết. Do phải rải quân ra kiểm soát một vùng quá rộng nên lực lượng cơ động chiến lược của Pháp chỉ còn khoảng mười phần trăm tổng số binh lực ở Đông Đương (9/91 tiểu đoàn). Đây cũng là thời kỳ mà mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung binh lực của Pháp đã trở nên sâu sắc nhất. Đơn vị lớn, tập trung, có ý nghĩa quả đấm chiến lược, không còn nữa.

        Do binh lực bị phân tán để chiếm đóng và bình định, cho nên việc huấn luyện cũng bị tê liệt vì không có thời gian. Nội dung huấn luyện về phương pháp bình định và chống chiến tranh du kích không còn thích hợp khi trên chiến trường đã xuất hiện những binh đoàn mạnh của đối phương cùng với những chiến dịch tiến công quy mô ngày càng lớn, tính chất tập trung và chính quy ngày càng tăng.

        Tổ chức chỉ huy tê liệt, cứng đờ, binh lực thiếu thốn - đó là hai vấn đề sống còn của bộ máy chiến tranh xâm lược mà phái đoàn Lơtuốcnô - Gioăng đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh trong báo cáo của mình khi trở về Pari.

        Theo yêu cầu của Gioăng và Valuy, tướng Xalăng (phụ trách theo dõi việc phân phối quân lực hải ngoại) đã lần lượt gửi sang Đông Dương tất cả lực lượng có thể vét được ở Pháp. Chính Xalăng sau này phải thú nhận rằng: nhiều lắm là hắn cũng chỉ dốc túi lấy được chừng 10 tiểu đoàn và chẳng bao lâu đã thấy mình trắng tay. Tính sổ 5 năm chiến tranh xâm lược, Xalăng nhận thấy rằng mặc dù Chính phủ Pháp đã dồn rất nhiều binh lực (của các thuộc địa và của cả “chính quốc”) sang Đông Dương, nhưng chiến trường này đã ngốn quá nhiều quân, thiệt hại của Pháp ngày càng nặng nề. Đã đến lúc nước Pháp thấy mình kiệt sức, nhất là với “thảm họa đường số 4”, quân Pháp phải gánh lấy những thiệt hại quá sức chịu đựng.

        Nếu vấn đề binh lực đối với nước Pháp đã trở thành chuyện sống còn trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương thì việc cử viên tướng viễn chinh nào đủ tài ba để tiến hành cuộc chiến tranh đó lại càng không kém phần quan trọng, nhất là trong những ngày đen tối cuối năm 1950.

        Ngay trong lúc tấn thảm kịch biên giới đang diễn ra, cả Tổng thống, Thủ tướng và các tướng lĩnh Pháp ở Pari đều thấy cần phải cử một viên tướng “có tài năng và uy tín nhất” sang thay cặp Phinhông - Cácpăngchiê, đứng mũi chịu sào ở nơi đầu sóng ngọn gió này. Sau 5 năm chiến tranh xâm lược Đông Dương, lần đầu tiên Quốc hội Pháp đề cập đến vấn đề tập trung quyền hành quân sự và dân sự vào tay một viên tướng tổng chỉ huy kiêm cao ủy.

        Một tháng đã trôi qua và hai viên tướng đã lắc đầu thoái thác.

        Người đầu tiên được vời đến là tướng Gioăng - viên tướng số 1 của nền Đệ tứ cộng hòa Pháp. Vừa đi kinh lý Đông Dương về, hiểu rõ thực trạng cuộc chiến tranh hơn bất cứ viên tướng nào ở Pari, Gioăng đã khéo léo từ chối, với lý do đơn giản là “xứ Marốc hấp dẫn và quen thuộc hơn” đối với ông ta. Khi tâm sự với bạn bè. Gioăng nói thẳng ra rằng: vì không chịu nổi một cuộc chiến tranh quá hao người tốn của, trước sau nước Pháp cũng phải nhả miếng mồi Đông Dương vừa quá xa xôi lại vừa khó nuốt. Theo Gioăng, trong tình thế này nhận trách nhiệm cầm đầu quân đội Pháp ở Đông Dương là “tự hủy hoại uy tín của mình...”.

        Người thứ hai được Tổng thống tiến cử là tướng Cơních (Koenig), so với Gioăng còn là một bậc đàn em, nhưng cũng đã từng có chiến tích đáng kể. Cơních không từ chối thẳng thừng như Gioăng, nhưng lại đưa ra quá nhiều điều kiện mà chính phủ không thể nào chấp nhận: nào là Quốc hội phải ra luật tổng động viên thanh niên Pháp đưa sang Đông Dương; nào là “chính quốc” phải thỏa mãn kịp thời về quân số theo yêu cầu của chiến trường, v.v…

        Trong thế bí, Quốc hội phải họp phiên bất thường. Ngày 22 tháng 11, với 345 phiếu thuận và 226 phiếu chống, Quốc hội tuyên bố tín nhiệm Chính phủ và trao cho Thủ tướng Plêven quyền hạn tăng cường lực lượng viễn chinh Pháp ở Đông Dương tới mức cao nhất. Ngay sau phiên họp của Quốc hội, viên tướng thứ ba được Tổng thống vời đến. Đó là tướng năm sao Đờlát đờ Tátxinhi (Jean Delattre de Tassigny), nguyên tư lệnh quân đoàn 1, một viên tướng nổi tiếng là hợm hĩnh, hiếu thắng và nóng nảy. Đờlát đã từng được tặng biệt hiệu “vua Giăng”, một biệt hiệu mà ông ta không công khai từ chối mà cũng chẳng công khai thừa nhận.

---------------------
        1. Tiếng Pháp: Buisson nghĩa là bụi rậm.

        2. Sau đó, Cácpăngchiê được thăng lên tướng năm sao, viên “đại tá da thỏ” Côngxtăng cũng được thăng lên cấp tướng.

Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM