Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #120 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:22:32 am » |
|
CHUYẾN ĐI CỦA NGƯỜI HÀNH HƯƠNG BẤT HẠNH
Mỗi chiến trường có những đặc điểm riêng, nhưng tình hình ở bất cứ nơi nào cũng đặt trước ngài tổng chỉ huy những chuyện đau đầu.
Vừa đặt chân đến Lào, Xalăng đã không giấu nổi sự phiền muộn vì viên đại tá Xide trầy trật mãi vẫn chưa xây dựng nổi mấy tiểu đoàn ngụy theo kế hoạch đã định. Tại Phnôm Pênh, mặc dù viên tổng chỉ huy được nhà cầm quyền bù nhìn Cao Miên bảo đảm sớm cho ra đời cái gọi là “quân đội hoàng gia Khơme (ARK)”, nhưng hoạt động của đối phương trong những tháng đầu năm nhất là những trận phục kích trên sông Mê Công, đã khiến cho tướng Điô (Dyo) phải “đương đầu với những khó khăn nghiêm trọng”. Không những thế, tình hình thực tế ở Campuchia còn đòi hỏi Xalăng phải căn dặn các sĩ quan thuộc quyền “bám sát tình hình chính trị (không ổn định) ở đất nước này”.
Đến chiến trường Nam Bộ, Xalăng nhận thấy rằng tướng Bôngđít (Bondis) đã nắm được bọn cầm đầu các lực lượng vũ trang giáo phái phản động và đội quân Bình Xuyên. Nhưng viên tổng chỉ huy Pháp lại lo ngại trước những mâu thuẫn về quyền lợi giữa thủ tướng bù nhìn với bọn cầm đầu Bình Xuyên và các giáo phái.
Là một viên sĩ quan thực dân đã từng có mặt ở Đông Dương từ hơn một phần tư thế kỷ nay, Đờlát không lạ gì các tổ chức giáo phái phản động. Nhưng trước tình hình lục đục giữa bọn cầm đầu tay sai, viên tổng chỉ huy đã phải dành khá nhiều thời gian để cùng tướng Bôngđít nghiên cứu lại lịch sử và đặc điểm của từng tổ chức vũ trang đánh thuê này, hòng tìm ra nguồn gốc mâu thuẫn nội bộ của chúng để có phương sách giải quyết.
Những người cầm đầu quân viễn chinh Pháp cho rằng, với kinh nghiệm thực dân lâu đời, họ đã sớm “quy tụ dưới lá cờ ba sắc” các đội quân giáo phái phản động để biến chúng thành “những đồng minh chống cộng quan trọng đầu tiên” ở miền Nam Việt Nam. Bọn lãnh tụ giáo phái đã trở thành những tên tay sai đắc lực của Pháp ngay từ những năm 1948-1949, khi “giải pháp Bảo Đại” xuất hiện, khi tướng lĩnh Pháp đẩy mạnh chính sách “dùng người Việt đánh người Việt...”: Nguyễn Văn Thinh (Cao Đài) “quy thuận” Pháp ngày 8 tháng 1 năm 1947; Trần Văn Soái tức Năm Lửa (Hòa Hảo) ngày 15 tháng 3 năm 1947; Lê Quang Vinh, tức Ba Cụt (Hòa Hảo) ngày 30 tháng 1 năm 1948; tháng 4 năm 1950, lãnh tụ Cao Đài Phạm Công Tắc chính thức chuyển giao các đơn vị vũ trang còn lại của giáo phái Cao Đài cho ngụy quyền Bảo Đại. Riêng Nguyễn Giác Ngộ (Hòa Hảo) do mâu thuẫn với Năm Lửa và Ba Cụt nên “ly khai” một thời gian dài và chỉ “quy thuận” quân Pháp năm 1952; Lơ Roa1, cầm đầu đội quân Thiên chúa giáo chống cộng, năm 1949 là tỉnh trưởng kiêm chỉ huy trưởng tiểu khu Bến Tre, năm 1952 được thăng cấp đại tá, chỉ huy trưởng khu Tiền Giang, đặc trách bình định vùng châu thổ sông Cửu Long.
Ngoài các đội quân giáo phái trên đây, Pháp còn sử dụng các đơn vị vũ trang Bình Xuyên do Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) dẫn về đầu hàng chúng từ năm 1948.
Để phát triển và nắm được các đội quân tay sai trên đây, Pháp nới rộng quyền hạn cho bọn cầm đầu, đồng thời dùng thần học để lừa bịp, dùng vật chất để mua chuộc, hòng biến những thanh niên giáo dân thành những người cầm súng đánh thuê đắc lực.
Từ cuối năm 1951, các tướng lĩnh Pháp ở Sài Gòn đã nhận thấy việc sử dụng các lực lượng vũ trang giáo phái (Cao Đài và Hòa Hảo) như những đơn vị phụ lực quân trong chức Vệ binh Cộng hòa Nam Kỳ2không còn thích hợp nữa. Phụ lực quân giáo phái là một tổ chức vũ trang được Pháp coi là vô cùng phức tạp về nhiều mặt. Ngay từ những năm 1948-1949, các tướng lĩnh Pháp muốn trực tiếp nắm các đội quân này nhưng đã vấp phải sự chống đối của bọn lãnh tụ giáo phái. Bọn này chịu để cho các đội quân của họ trong hệ thống chỉ huy của Pháp (chứ không phải của ngụy quyền) nhưng lại không cho Pháp nắm số quân cụ thể, mặc dù Pháp vẫn trả lương cho binh lính giáo phái qua tay bọn cầm đầu..
--------------------- 1. Jean Léon Le Roy, tây lai, năm 1940 là chuẩn úy trong trung đoàn 9e RIC đóng ở vùng biên giới Việt - Trung (đường số 4). Bị Nhật bắt trong cuộc đảo chính 9 tháng 3 năm 1945, Lơ Roa được phái bộ Anh thả ra và được Pháp giao nhiệm vụ tổ chức đội quân Thiên chúa giáo chống kháng chiến từ tháng 7 năm 1947.
2. Garde républicaine de la Cochinchine, một hình thức tổ chức vũ trang tay sai của Pháp mà “Chính phủ Nam Kỳ tự trị” lập ra từ ngày 1 tháng 10 năm 1946, do Pháp trả lương.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #121 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:23:07 am » |
|
Qua nghiên cứu, Xalăng và Bôngđít đều nhận thấy rằng nếu những năm trước đây, Pháp đã từng coi các đội quân giáo phái là “một lực lượng tinh thần đáng kể”, một tiềm lực to lớn có tác dụng quan trọng góp phần vào việc hình thành sức mạnh của “quân đội quốc gia” (ngụy), thì ngày nay trước viễn ảnh của một cuộc chiến tranh kéo dài và trước yêu cầu “tổng động viên” để phát triển quân ngụy, Pháp càng phải coi trọng các đội quân giáo phái. Với sự ra đời của bộ tham mưu ngụy từ tháng 2 năm 1952, Pháp đã chuyển giao các đơn vị vũ trang giáo phái và quân Bình Xuyên sang hệ thống quân đội ngụy. Nhưng mấy tháng qua, việc thực hiện chủ trương trên đây gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu là do mâu thuẫn về quyền lợi ngày càng tăng giữa “chính phủ” Trần Văn Hữu với bọn cầm đầu quân Thiên chúa giáo và quân Bình Xuyên. Xalăng và Bôngđít đã đi sâu nghiên cứu hai đối tượng này hòng tìm phương sách hạn chế sự lục đục giữa các tên tay sai.
Quân Thiên chúa giáo Lơ Roa:
Tháng 7 năm 1947, khi giao cho Lơ Roa tổ chức ba đại đội biệt kích Thiên chúa giáo đầu tiên, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã cho lực lượng vũ trang chống kháng chiến này nấp dưới cái tên “các đơn vị cơ động bảo vệ Thiên chúa giáo” (Unités mobiles de défense de la Chrétienté, viết tắt là UMDC). Đến cuối năm 1947, lực lượng biệt kích này đã phát triển lên thành 10 đại đội (600 tên) và mở rộng hoạt động ra vùng đông giáo dân thuộc nhiều tỉnh đồng bằng Nam Bộ, nhất là ở các tỉnh Bến Tre, Mỹ Tho.
Từ năm 1949, tức là khi Lơ Roa làm tỉnh trưởng Bến Tre, hắn đã công khai lộ ý đồ chính trị của hắn. Dựa vào các chữ tắt UMDC, tên tây lai này đã đổi tên lực lượng vũ trang thuộc quyền thành “Liên hiệp dân quân bảo vệ Thiên chúa giáo” (Union des milices pour la défense de la Chrétienté). Lực lượng vũ trang Thiên chúa giáo đã từ một tổ chức mang tính chất đơn thuần quân sự chuyển thành một tổ chức có ý nghĩa rộng rãi hơn. Điều đó nói lên tham vọng của Lơ Roa muốn đẩy mạnh hoạt động sang lĩnh vực chính trị, ngoài sự kiểm soát của ngụy quyền Sài Gòn.
Cũng từ đó, lực lượng vũ trang Thiên chúa giáo của Lơ Roa có “quân kỳ” riêng mang dòng chữ lừa bịp “Vì Chúa và Tổ quốc” (Pro Deo ét Patria). Hoạt động của chúng chủ yếu tiến hành vào ban đêm, nhằm tiêu diệt các cơ sở kháng chiến ở các địa phương, hỗ trợ cho kế hoạch bình định của quân Pháp. Theo phương châm “bàn tay sắt, bàn tay nhung, quân biệt kích Thiên chúa giáo vừa dùng thần quyền và chiến tranh tâm lý để lừa bịp và mua chuộc vừa mặc sức tàn sát bất kỳ người dân lương thiện nào bị chúng gán cho cái tên Việt Minh để có cớ khủng bố. Do tội ác của chúng, nhân dân vừa căm ghét vừa khinh miệt gọi đội quân công giáo Lơ Roa là quân Uống Máu Dân Chúng (UMDC).
Cậy thế là tây lai, Lơ Roa ra sức vơ vét ở vùng Hậu Giang, coi như không có chính quyền Trần Văn Hữu. Mâu thuẫn quyền lợi giữa UMDC với ngụy quyền Sài Còn ngày càng sâu sắc, khiến Xalăng và các tướng lĩnh Pháp không thể không có biện pháp giải quyết.
Quân Bình Xuyên.
Trước đây vốn là một lực lượng chống Pháp, quân Bình Xuyên dần dần bị phân hóa, nhất là sau khi người đứng đầu là Dương Văn Dương (Ba Dương) chết, quyền chỉ huy lọt vào tay Lê Văn Viễn (Bảy Viễn). Năm 1948, Bảy Viễn đưa số lính còn lại trong lực lượng Bình Xuyên về đầu hàng Pháp. Được Pháp giao nhiệm vụ khủng bố, truy nã các chiến sĩ biệt động, phá cơ sở kháng chiến ở Sài Gòn - Chợ Lớn và bảo vệ giao thông đường thủy từ biển vào cảng Sài Gòn, Bảy Viễn dùng khu Rừng Sát làm căn cứ.
Để nắm chắc quân Bình Xuyên, Pháp đã dung túng cho Bảy Viễn và đồng bọn mở các sòng bạc Đại Thế Giới (ở Chợ lớn), Kim Chung (ở Sài Gòn) và nhà chứa Bình Khang (ở Vườn Lài). Mâu thuẫn giữa ngụy quyền Trần Văn Hữu với Bảy Viễn bắt nguồn từ sự tranh giành những món lời thu được từ những ổ cờ bạc và đĩ bợm trên đây. Hơn thế nữa để có tiền tụ tập bọn phỉ Mẹo vào các đội biệt kích hỗn hợp không vận (GCMA), tổng chỉ huy Xalăng đã dùng nhiều chuyến máy bay đặc biệt chở thuốc phiện từ Thượng Lào về Sài Gòn để Bảy Viễn tung ra thị trường Nam Bộ. Các chuyến áp phe này đã đem lại cho Bảy Viễn (và tướng Xalăng) những khoản tiền rất lớn. Điều đó càng khơi sâu mâu thuẫn giữa ngụy quyền và bọn cầm đầu Bình Xuyên. Núp dưới cái ô của bọn chỉ huy quân viễn chinh Pháp, tất nhiên Bảy Viễn coi “thủ tướng” Trần Văn Hữu và “chính phủ” Sài gòn dưới tầm mắt.
Trước nguy cơ có thể xảy ra xung đột giữa “quân đội quốc gia” (ngụy) với các đội quân Bình Xuyên và giáo phái, Xalăng đã gọi Nguyễn Văn Thành (Cao Đài), Trần Văn Soái (Hòa Hảo), Lơ Roa (Thiên chúa giáo) và Bảy Viễn (Bình Xuyên) đến để cùng “thủ tướng” Trần Văn Hữu dàn xếp việc tranh giành ảnh hưởng và quyền lợi.
Sau một ngày cãi lộn nhằm tâng công với chủ và đổ lỗi cho nhau, bọn cầm đầu các lực lượng vũ trang và chính quyền tay sai đã phải chấp nhận một mệnh lệnh của viên tổng chỉ huy Pháp: ngày 1 tháng 12 năm 1952, các đội quân giáo phái và Bình Xuyên phải chính thức thuộc quyền bộ tham mưu “quân đội quốc gia” (ngụy) với chức năng chủ yếu là bình định theo kế hoạch chung của viên chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Nam Bộ.
Hoàn thành một việc được coi là “thuần hóa bầy ngựa khác giống nhốt chung một chuồng”, Xalăng vẫn chưa dám rời Sài Gòn để tiếp tục cuộc kinh lý. Tình hình không ổn định ở chiến trường Nam Bộ đã níu áo viên tổng chỉ huy lại. Không những các trận đánh của các đơn vị chính quy đối phương mà chỉ riêng hoạt động của các đội du kích cũng khiến cho các tướng lĩnh Pháp ở Nam Bộ lo ngại. Xalăng phải dành thêm khá nhiều thời gian để cùng đồng bọn nghiên cứu quá trình phát triển của quân du kích ở từng địa phương vài năm qua hòng tìm phương sách đối phó với các đội quân lúc ẩn lúc hiện này.
Từ dưới thời Đờlát, bằng các cuộc hành binh càn quét liên tiếp vào các vùng Đồng Tháp Mười, Tây Ninh, Bạc Liêu, Rạch Giá... quân Pháp vẫn không sao bình định được Nam Bộ. Điều đó càng rõ nét mỗi khi quân Pháp bị điều thêm ra đối phó ở chiến trường miền Bắc. Hơn 100 trận càn trong mấy tháng cuối năm 1951 đã đem lại cho phía Pháp “những tổn thất không nhỏ”. Tiếp đến là các trận càn ba tháng đầu năm vừa qua vào các vùng Long Xuyên, Gia Định,... với gần một ngàn quân bị bỏ mạng, Pháp vẫn không sao xóa nổi “các chấm đỏ ngày càng mọc dày” ở trong các địa bàn được coi là do quân Pháp kiểm soát. Thất bại điển hình là các cuộc hành binh vào vùng Đồng Tháp Mười một địa bàn “tràn vào đã khó, rút chân ra lại càng khó hơn”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #122 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:24:20 am » |
|
Ngoài hoạt động chống càn và các trận phục kích trên các đường giao thông thủy bộ của các đội du kích, Xalăng còn nhận thấy tình hình đáng lo ngại là các trận đánh táo bạo của các đội biệt động ở Cầu Gio, Giồng Lô, Tân Thành Đông, Trà Vinh,... đặc biệt là trận đánh vào cơ quan đầu não của quân giáo phái Cao Đài ở Tây Ninh, khiến viên tham mưu trưởng của đội quân này là Dương Quảng Đăng phải bỏ mạng.
Từ thực tế tình hình Nam Bộ, Xalăng chỉ thị cho các tướng lĩnh chỉ huy chiến trường này phải tìm biện pháp thoát khỏi mấy khó khăn nổi lên bấy giờ: 1. Tinh thần quân đội Việt Nam (ngụy) sa sút (bảy tháng cuối năm 1951 đầu năm 1952, chỉ riêng ở vùng Bến Tre, hơn 400 lính trở về với phe kháng chiến. Đó là “một cơn sốt tinh thần phải mau chấm dứt”); 2. Vùng kiểm soát của Pháp quá sơ hở. Phải sớm củng cố “quân đội quốc gia” (ngụy) và chấn chỉnh các đội quân giáo phái để bù vào những nơi binh lực bị căng ra quá mỏng; 3. Việc giao thông tiếp tế không bảo đảm. Đối phó với các trận phục kích trên đường bộ và đường sông phải là một nhiệm vụ được đặc biệt coi trọng. Ngoài ra, phải tăng cường bố phòng, chấm dứt những trận phá hoại lớn như trận đối phương phá sập cầu Bến Lức tháng hai vừa qua...
Tóm lại, theo Xalăng, sức mạnh tiến công của đối phương đã đạt tới đỉnh cao; Đồng Tháp Mười, “sào huyệt của Việt Minh ở Nam Kỳ” là một mảnh đất không thể coi thường...
Rời Sài gòn, Xalăng “chống chiếc gậy của người hành hương” ra miền Trung, tiếp tục cuộc thanh tra quân sự.
Sau khi nghe báo cáo của tướng Lơblăng (Leblanc, chỉ huy quân Pháp ở Trung Trung Bộ) và sau khi nắm toàn bộ tình hình. Xalăng hiểu rằng viên chỉ huy chiến trường miền Trung đang đứng trước một tình hình không thuận lợi. Trung đoàn 95 của đối phương vừa liên tiếp tiến công các vị trí Nam Tây, Nam Đông, Vạn Kim, Sơn Tùng,... vừa đánh viện binh Pháp trên đường số 74 và đường số 1, gây rất nhiều khó khăn cho việc tiếp tế sang chiến trường Lào qua con đường chiến lược số 9. Trong khi đó thì các đội du kích luôn luôn lật các đoàn xe lửa tiếp tế và chuyển quân của Pháp trên suốt đoạn đường từ Thừa Thiên ra Quảng Trị. Trận phục kích ngày 7 tháng 3 vừa qua ở vùng Phú Bài, Phú Lộc (lật 2 đoàn tàu 43 toa, trong đó có 18 toa bị nhào xuống biển) là một ví dụ gần nhất. Tại Nam Trung Bộ, tướng Lơ Cốc (Lecoq) cũng chứng minh rằng chính vì hoạt động của các đội du kích Cao Nguyên mà cuộc hành binh Lắctêrít đang gặp khó khăn. Có nhiều triệu chứng cho thấy việc “cấy” người Rhê (tàn quân của cuộc phiến loạn ở Sơn Hà) ít có khả năng thực hiện được.
Trước khi rời Huế, Xalăng hứa với hai viên tướng chỉ huy miền Trung và miền Nam Trung Bộ: sẽ cố gắng đưa một số lực lượng ngoài Bắc vào để hỗ trợ công cuộc bình định và củng cố hệ thống phòng thủ dọc các trục giao thông lớn.
Kết thúc cuộc thị sát chiến trường dài ngày trên đường ra Bắc, Xalăng cố tìm lời giải đáp một câu hỏi ngày càng xoáy sâu vào đầu óc của viên tướng thực dân tự coi là am hiểu Đông Dương hơn ai hết: Vì sao đối phương, những nông dân đã từng được tướng lĩnh và chính khách thuộc địa đánh giá là “nhát như bầy chim sẻ”, lại lớn mạnh nhanh như vậy? Họ đương đầu ngày càng hữu hiệu với gần 400 nghìn quân Pháp - Việt (ngụy) được Mỹ viện trợ ngày càng nhiều. Lối đánh của họ thật là “kỳ lạ, khó hiểu và không chịu đựng nổi” đối với đội quân viễn chinh nhà nghề của Pháp.
Từ viên tướng hai sao chỉ huy cuộc tiến công (thất bại) lên Việt Bắc gần 6 năm về trước, nay đã trở thành viên tướng với bốn sao trên cầu vai, Xalăng vẫn dừng lại ở cách giải thích duy nhất: vì phía Pháp thiếu quân. Nguy cơ “lỗ hổng quân số sẽ càng tăng nếu Hội đồng quốc phòng Pháp buộc phải trả lại số 20.000 quân mà Đờlát đã “vay” chính quốc hồi tháng 3 năm ngoái.
Giải pháp cổ truyền mà Xalăng thấy vẫn cần áp dụng là phải tiếp tục phát triển nhanh hơn nữa đội quân tay sai. Ngày 10 tháng 5, viên tổng chỉ huy lại thân hành vào Nha Trang gặp Bảo Đại để đốc thúc việc bắt lính.
Trong cuộc gặp gỡ nếu cả chủ lẫn tớ vui mừng nhận thấy các chuyến tàu viện trợ của Mỹ cập bến khá đều đặn, bình quân khoảng 2-3 ngày một chuyến1, thì họ lại lo lắng trước những khó khăn trong việc “tổng động viên”. Hơn thế nữa, Bảo Đại còn than phiền với quan thầy rằng “quân đội quốc gia” đang bế tắc trước nạn khủng hoảng sĩ quan. Điều đó cũng có nghĩa là đội quân đánh thuê vẫn còn phải đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của sĩ quan Pháp. Trong khi đó thì, theo Xalăng cho biết, rất nhiều sĩ quan và nhân viên kỹ thuật Pháp đã được liệt vào danh sách mãn hạn và hồi hương nhưng chưa biết bao giờ mới được xuống tàu về nước (vì quân Bảo Đại còn lâu mới “bước vào thời kỳ cai sữa”).
Một phương án tuyển mộ gấp rút sinh viên và nhân viên kỹ thuật người bản xứ được đặt ra, kể cả thợ thủ công, nhân viên truyền tin, kỹ thuật viên cầu đường, lái xe,...
------------------------- 1. Cuối tháng 1 năm 1952, chuyến thứ 100; đầu tháng 5, chuyến thứ 150. Cứ theo nhịp độ đó, chuyến tàu viện trợ thứ 200 sẽ đến cảng Sài Gòn vào tháng 1 năm 1952.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #123 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:25:15 am » |
|
NHỮNG CHUYỆN CÔNG KHAI VÀ BÍ MẬT Ở PARI Sau cuộc bàn tính với Bảo Đại, tổng chỉ huy Xalăng vội vã trở về Sài Gòn để chuẩn bị cho tướng Ala về Pháp. Viên tham mưu trưởng được Xalăng cử đi Pari để yêu cầu tướng Grốtxanh (Paul Grossin, tổng thư ký võ phòng của tổng thống) vận động ủy ban quốc phòng Pháp (sắp họp ngày 23 tháng 5) nới tay đôi chút về vấn đề đòi trả số quân mà bộ chỉ huy Pháp ở Đông Dương còn đang “nợ”. Trong thư đề ngày 14 tháng 5 gửi tướng Grốtxanh, Xalăng cảnh cáo: nếu Tổng thống và ủy ban quốc phòng buộc phải hồi hương số 20.000 quân nói trên trong điều kiện quân ngụy chưa phát huy tác dụng thực tế trên chiến trường, bộ chỉ huy quân đội viễn chinh buộc phải thu hẹp phạm vi chiếm đóng tương ứng với số quân còn lại. Thực chất đó sẽ là sự tháo chạy, sự bỏ rơi hoàn toàn và vĩnh viễn sự nghiệp mà nước Pháp đang theo đuổi. Điều đó tất nhiên sẽ làm cho các quốc gia liên kết (ngụy Đông Dương) nản lòng và làm cho tiềm lực chiến tranh chuyển sang tay Việt Minh để đối phương có thêm khả năng chiến thắng và chấm dứt cuộc chiến trong điều kiện có lợi cho họ... Như vậy, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương sẽ biến thành kẻ đào huyệt chôn vùi địa vị của nước Pháp ở xứ này. Xalăng đảm bảo rằng nếu số quân trên đây không phải hồi hương thì bộ chỉ huy Pháp sẽ “nắm mọi thời cơ thuận lợi để giáng cho đối phương những đòn nặng nề khi có điều kiện, mặc dù đã có nhiều triệu chứng chắc chắn rằng họ sẽ hoạt động mạnh trong mùa khô sắp tới”. Bức thư được kết thúc bằng một câu khá hấp dẫn: “Dù sao tôi (Xalăng) cũng không thể chấp nhận thái độ của kẻ ngồi nhìn nước Pháp bỏ cuộc đúng vào lúc mà cán cân đang nghiêng về phía chúng ta...” (!). Ala ra đi và Ala trở lại Đông Dương với những tin tức không có gì đáng khích lệ. Ở Pari, người ta đang tỏ ra lo lắng và bối rối về vấn đề Đông Dương. Không ít người trong giới cầm quyền “lộ rõ tâm trạng hoài nghi, chán ngán và thốt ra những lời chỉ làm cho nao núng tinh thần đội quân viễn chinh”. Với quyết tâm “không để cho mình bị đánh bại”, ngày 29 tháng 7, tổng chỉ huy Xalăng đích thân về Pháp mang theo hy vọng “sẽ thắng một keo ngay ở Pari”, như trước đây một năm Đờlát đã từng ảo tưởng. Cũng như Đờlát, Xalăng đến gõ cửa mọi vị quyền cao chức trọng ở thủ đô Pháp, từ Bộ trưởng quốc phòng Plêven, Thủ tướng Pinay đến Tổng thống Ôriôn. Khốn nỗi đó lại chính là những người luôn miệng nói đến “một giải pháp nhanh chóng”, vì quốc hội đang ngày càng phân hóa sâu sắc về cuộc chiến tranh Đông Dương. Trong những ngày lưu lại Pari, chính Xalăng đã chứng kiến sự phân hóa đó. Những người cộng sản tiếp tục lên án “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” của Pháp ở Đông Dương. Xalăng bực tức cho rằng đó là những lời thóa mạ khả ố đối với những người “đang vì danh dự và uy tín của nước Pháp (?) mà chiến đấu ở bên kia”... Các đảng viên xã hội Pháp thì chủ trương lập lờ: không tái xâm lược, cũng không bỏ rơi. Họ chờ đợi sự can thiệp của các cường quốc (phương Tây). Đối với viên tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp, loại ý kiến này “không độc địa và có thể là một chỗ dựa”. Những người thuộc đảng Cấp tiến thì cho rằng châu Á là một mục tiêu hấp dẫn nhưng xa vời và khó nuốt. Trong bọn họ kẻ thì muốn hướng nỗ lực vào châu Âu, kẻ lại khuyên không được bỏ rơi châu Phi. Còn phe cực hữu mà đại diện là đảng Tập hợp dân chúng Pháp (RPF) và đảng Cộng hòa bình dân (MRP) thì chủ trương thành lập một mặt trận liên minh với Mỹ (thực chất là mở cửa cho Mỹ trực tiếp nhảy vào Đông Dương). Đối với bọn họ việc Mỹ chỉ gánh vác chừng 40% chiến phí ở Đông Dương là… quá ít. Trong khi tình trạng chia năm xẻ bảy đang diễn ra trong Quốc hội thì dư luận phần lớn dân chúng Pháp cho rằng “sự dính líu của Pháp ở Đông Dương là một sự suy đồi về phẩm chất, một sự gia tăng về thuế má, một nỗi buồn phiền sâu sắc…”. Xalăng được nghe những người dân Pháp, kể cả những người lính bị tàn phế, đang bị bỏ rơi ở các nhà thương, nói thẳng ra rằng: hãy rút quân viễn chinh về, hãy để mặc nước Việt Nam cho người Việt Nam. Kém xa chuyến công cán của Đờlát năm trước, cuộc hành trình Sài Gòn - Pari của Xalăng đem lại kết quả là con số không, nếu không kể chiếc mề đay Bắc đẩu bội tinh mà Tổng thống Pháp gắn cho ngày 20 tháng 8, trước khi viên tổng chỉ huy trở lại chiến trường. Hai mươi năm sau, khi viết tập Hồi ký, tướng Xalăng vẫn chưa hết tự hào nhắc lại rằng đối với hắn, đây “thật là một phần thưởng tuyệt vời...”. (!). Đầu tháng 9 năm 1952, Xalăng trở lại Sài Gòn. Viên tướng này không hề biết rằng ở thủ đô Pháp người ta đang bí mật trù tính một việc mà chẳng ai thèm tham khảo ý kiến vị tổng chỉ huy trong những ngày ngài có mặt ở Pari. Xalăng lại càng không bao giờ nghĩ rằng chính sự kiện bí mật đó đã là một trong những nguyên nhân dẫn đến thái độ thờ ơ của Pari đối với cuộc chiến tranh Đông Dương. Câu chuyện đó, sau này vỡ lở ra, được các ký giả và sử gia Pháp mệnh danh là một cuộc điều đình bị bỏ lỡ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #124 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:25:33 am » |
|
Từ tháng 8, nhiều nhân vật quân sự và dân sự tai to mặt lớn ở Pari đã tổ chức những cuộc họp bàn bí mật để tìm lối thoát ra khỏi vũng bùn Đông Dương. Điểm mặt trong các cuộc họp đó, người ta thấy có cựu toàn quyền Anbe Xarô (bấy giờ là chủ tịch cái gọi là Hội đồng Liên hiệp Pháp) ;Măngđét Phrăngxơ, một nhân vật được coi là “bồ câu”; Xanhtơny và Bôla, những người đã từng nếm mùi sóng gió trong những năm đầu của cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương; Phrăngxoa Valăngtanh với bộ óc đặc sệt quan điểm của Đờlát; tướng ba sao Pôn Grốtxanh, tổng thư ký võ phòng của tổng thống, cùng một số nhân vật trí thức và chính trị Pháp.
Người ta bàn đến việc tiếp xúc với Chính phủ kháng chiến Việt Nam. Người được chọn đi làm môi giới cho cuộc thương lượng là Bửu Hội, anh em họ của cựu hoàng Bảo Đại và là con bài dự trữ của Pháp đang chờ thời ở Pari từ cuối năm 1946. Người ta thỏa thuận với nhau: Bửu Hội sẽ lên đường sang châu Á dưới danh nghĩa công khai của một nhà khoa học đi công cán với sự tài trợ của Chính phủ Pháp. Người được chỉ định đi gặp đại diện Chính phủ kháng chiến Việt Nam có thể là Xanhtơny, “chuyên gia về Việt Minh”, địa điểm được lựa chọn cho cuộc thương lượng là Rănggun, thủ đô Miến Điện, nơi họ cho là Chính phủ kháng chiến có thể qua lại dễ dàng.
Thủ tướng Pháp Pinay được tham khảo ý kiến cũng không phản đối, “miễn là xin các ngài xúc tiến bí mật cho”. Tổng thống Pháp cũng ngấm ngầm chấp thuận và yêu cầu mọi người “không giấu giếm Bảo Đại điều gì trong quá trình tiếp xúc với Việt Minh”.
Suốt mùa thu 1952, sau nhiều cuộc họp, chưa có vấn để gì được ngã ngũ, nhất là trong việc cử ai là đại diện của phía Pháp đi gặp Chính phủ Việt Nam và điều kiện có thể chấp nhận trong cuộc gặp gỡ đó. Người này cho rằng chọn Xanhtơny sẽ làm phật ý những người trong Chính phủ trực tiếp có trách nhiệm về quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Kẻ khác giữ quan điểm: đàm phán nhưng không phải là để đầu hàng đối phương, không phải là để rút quân. Người ta cũng đặt ra một vấn đề cần thảo luận là liệu Việt Minh có đòi quân Pháp phải rời bỏ Việt Nam không, v.v… Tóm lại các ngài chính khách này thấy đã đến lúc cần phải đàm phán với phía kháng chiến nhưng đầu óc thực dân thủ cựu đã trói chặt họ vào hai vấn đề khiến họ không thoát ra nổi: sĩ diện của Chính phủ Đại Pháp và quyền lợi thực dân ích kỷ trên mảnh đất Đông Dương béo bở. Trải qua một thời gian dài, sáng kiến vĩ đại về thương lượng cứ thai nghén mãi trong những bộ óc đen tối.
Thế rồi (cũng không hiểu vì sao) câu chuyện bí mật ở đại lộ Phrêđêrích Lơ Phay bỗng bay đến tai Lơtuốcnô, Bộ trưởng bộ Các quốc gia liên kết, đương kim cao ủy Pháp ở Đông Dương, nhân vật “phản đối đến cùng mọi cuộc thương thuyết với Việt Minh, dù chỉ trên nguyên tắc”. Nham hiểm và xảo trá, Lơtuốcnô chủ trương không phản đối công khai và trực diện, mà bỏ ra một khoản tiền lớn để phá theo kiểu ném đá giấu tay. Khi có người thăm dò thái độ, viên bộ trưởng - cao ủy trả lời gượng gạo: “Nếu Pinay đồng ý, xin các ngài cứ thử xem. Riêng tôi, tôi đứng ngoài cuộc”. Trong thâm tâm, Lơtuốcnô chờ đợi một sự tan vỡ trong cuộc gặp gỡ với đối phương. Và chỉ đến khi đó, y mới lên tiếng: Tôi đã nói với các ngài từ lâu rồi! Không thể thương lượng được với bọn ấy đâu!
Sau này người ta được biết rằng chuyến đi của Bửu Hội chưa được thực hiện thì nội các Pinay đổ (22-12-1952). Nước Pháp không có Chính phủ, cũng tức là không có ai dám chi tiền cho chuyến đi tốn kém đó. Phải đợi đến khi May (René Mayer) lập được nội các (7-1-1953) Bửu Hội mới lên đường sang châu Á. Theo các ký giả thạo tin tiết lộ thì cuộc gặp gỡ đầu tiên với đại diện Chính.phủ kháng chiến Việt Narn diễn ra ở Rănggun vào cuối tháng 2 năm 1953. Hai bên chỉ mới thống nhất được một điểm: ai là người thay mặt Chính phủ Pháp trong cuộc đàm phán sắp tới. Qua cuộc gặp gỡ đó, Bửu Hội thấy nổi bật một điều trong thái độ của phía kháng chiến là họ quyết tâm chiến đấu đến cùng nếu chưa đạt được mục tiêu độc lập và thống nhất.
Trên đường trở lại Pari đầu tháng 3, Bửu Hội nghe tin Lơtuốcnô (với danh nghĩa người được Thủ tướng Mayê ủy thác giải quyết mọi vấn đề về Đông Dương) tuyên bố. “Nước Pháp sẽ không bao giờ đàm phán trước khi giành thắng lợi hoàn toàn về quân sự và sẽ khước từ bất kỳ giải pháp nào khác...”. Cũng như vào mùa hè năm 1946, Sài Gòn đã nói và làm những gì mà giới cầm quyền Pháp “không tiện” nói và làm ở thủ đô Pari.
Khi Bửu Hội đặt chân lên đất Pháp cũng là lúc Mayê đã đích thân lên đường sang Oasinhtơn để xin thêm viện trợ. Và muốn dựa vào Mỹ để có viện trợ nhằm tiếp tục chiến tranh, tất nhiên Chính phủ Pháp phải bóp chết mọi khả năng thương thuyết ngay từ khi tia sáng đầu tiên vừa lóe lên ở cuối đường hầm. Điều đó không có gì là khó hiểu.
Thêm một dịp tan biến mọi cơ hội sớm chấm dứt cuộc xung đột Việt - Pháp. Sau này, người ta được biết thêm rằng Quốc hội Pháp chỉ dám trút mọi “trách nhiệm lên đầu Lơtuốcnô mà không dám đả động đến Mayê, sau đó là Lanien (Joseph Laniel), “những người thay nhau bám chặt vào xe tăng Mỹ để tiếp tục mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương”.
Chỉ riêng tổng chỉ huy Xalăng là không biết những gì đã và đang xảy ra ở Pari khi y trở lại Đông Dương với hai bàn tay trắng để chuẩn bị đón lấy những đòn sấm sét mà đối phương sắp giáng xuống đầu đội quân viễn chinh mùa đông 1952 này.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #125 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:26:28 am » |
|
MỘT ĐỐI THỦ KỲ LẠ VÀ ĐÁNG SỢ Nếu trong những năm 1955-1975, đế quốc Mỹ và tay sai đã gọi từ em bé đến cụ già ở miền Nam Việt Nam (những người chiến đấu chống lại chúng) bằng một danh từ riêng nhưng rất chung: Vixi (V.C. - Việt Cộng) thì, vào những năm 1945-1954, thực dân Pháp cũng dùng một loại danh từ tương tự để gọi các lực lượng kháng chiến: Việt Minh. Năm 1971, tức 17 năm sau khi quân đội viễn chinh Pháp đã bị “Việt Minh” đánh bại, tướng Xalăng viết tập 2 cuốn Hồi ký, trắng trợn đặt cho nó một cái tên giật gân: Việt Minh, đối thủ của tôi. Nhưng “quân đội Việt Minh” là như thế nào thì vào năm 1946 y chưa hiểu rõ, mặc dù viên tướng này khoe rằng từ hồi đó y đã nghiên cứu tư tưởng quân sự của vị tổng chỉ huy đối phương. Sáu năm sau tức là năm 1952, khi chính thức được chỉ định cầm đầu quân đội viễn chinh Pháp, viên tướng này mới nghiên cứu kỹ đối thủ của mình. Đọc cuốn Hồi ký của Xalăng, người ta thấy rằng “công trình nghiên cứu của viên tướng này (với sự cộng tác của đại tá Broayen (Broyelle) và một số sĩ quan tham mưu khác) đã giúp cho bộ chỉ huy quân viễn chinh “thu hoạch” được khá nhiều điều bổ ích về “bộ đội Việt Minh”, một đối thủ mà họ cho là kỳ lạ. Mặc dù sự hiểu biết của Xalăng còn rất hạn chế và không ít lệch lạc, nhưng công bằng mà nói, qua cuốn Hồi ký (từ trang 320 đến trang 326), viên tướng này đã buộc phải kể đến khá nhiều mặt thuộc bản chất cách mạng của quân đội Việt Nam. Dưới đây là mấy điểm chủ yếu do chính Xalăng viết trong cuốn sách nói trên, đã được sắp xếp lại. Một quân đội của nhân dân. Quân đội Việt Minh từ nhân dân mà ra, gắn bó hữu cơ với nhân dân và thu hút những phần tử tinh túy nhất trong nhân dân. Đó là một quân đội năng nổ, trẻ trung, giản dị và được thử thách. Họ xuất thân từ quần chúng nông dân quen lao động nặng nhọc và quen chịu đựng gian khổ. Quân đội đó “cuồng tín” (ý nói có tinh thần quyết chiến quyết thắng) vì được cổ vũ bằng một lý tưởng (cách mạng), một lòng căm thù địch và vì thường xuyên đặt dưới sự lãnh đạo của hàng ngàn chi bộ Đảng. Một nét nổi bật là sự kết hợp giữa quân sự và chính trị ở tất cả các cấp để hoàn thành nhiệm vụ. Là một binh sĩ có ý thức chính trị về mục đích cách mạng, người chiến binh Việt Minh lấy những điều răn sau đây làm tôn chỉ hành động của mình: - Bằng bất kỳ giá nào cũng phải đem tinh thần chiến đấu dũng cảm, mãnh liệt để tiêu diệt quân địch. - Trong suốt quá trình các trận đánh, phải chiến đấu liên tục, quyết liệt, không đầu hàng địch. - Giải thích không mệt mỏi cho quần chúng nhân dân về đường lối chính trị của Chính phủ, động viên dân chúng tham gia kháng chiến và không bao giờ xâm phạm của cải của họ. - Thực hiện hoàn toàn đoàn kết, hoàn toàn nhất trí giữa các cấp, giữa chỉ huy và chiến sĩ, giữa đảng viên và người ngoài Đảng. Hồ Chủ tịch đã từng dạy quân đội: là anh em của chiến sĩ, người tiểu đội trưởng, người chính ủy phải lo lắng đến đời sống của chiến sĩ và nắm được mọi sự buồn rầu, lo lắng của họ... Sự giáo dục, được tiến hành từ cơ sở, đã hoàn toàn thấm xuống tận các đơn vị nhỏ nhất và đã làm chủ tinh thần và ý chí của quân đội. Một quân đội lớn mạnh nhanh chóng. Vào giữa năm 1952, quân đội Việt Minh đã đạt tới trình độ phát triển rất cao. Nó bao gồm những lực lượng tổng dự bị và những trung đoàn và tiểu đoàn độc lập, nhất là ở các vùng châu thổ. Lực lượng tổng dự bị gồm 7 sư đoàn (6 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn vũ khí nặng), được tổ chức và trang bị hoàn chỉnh, đó là những binh đoàn có chức năng san bằng các đồn bốt của Pháp và tiêu diệt các lực lượng ứng chiến trong những trận đánh ngoài công sự. Nhưng khi cần hoạt động phân tán, các binh đoàn đó cũng hoàn toàn phù hợp với chiến tranh du kích, để đưa chiến tranh từ du kích đến chính quy một cách tuyệt diệu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #126 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:26:54 am » |
|
Một sư đoàn bộ binh tổng dự bị có thể tự mình đảm nhiệm một chiến dịch và đưa chiến dịch đến mục đích của nó. Còn các trung đoàn, với cơ cấu như hiện nay, thực chất là những sư đoàn thu nhỏ lại.
Ngoài lực lượng bộ binh, quân đội Việt Minh còn có các đơn vị pháo binh, công binh, cao xạ, trinh sát...
Tổ chức thấp nhất là tiểu đội. Mỗi tiểu đội lại chia làm ba tổ 3 người, một tổ chức được các cấp chỉ huy rất coi trọng. Tất cả đều đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của hệ thống công tác chính trị.
Xalăng và bộ tham mưu Pháp phán đoán rằng: vào khoảng giữa năm 1952, trong cả nước, lực lượng vũ trang kháng chiến gồm 108.000 quân chính quy, 53.000 bộ đội địa phương, 115.000 du kích, tổng cộng là 276.000 tay súng. So sánh với tổng số quân mà bộ chỉ huy Pháp có trong tay, viên tướng này than phiền rằng, sau khi phải trả về “chính quốc” 18.000 lính, quân viễn chinh chỉ còn 165.000 tên. Nếu cộng tất cả các loại quân ngụy Đông Dương, tổng số lính Pháp và tay sai cũng chỉ đạt tới 260.000 tên. “Như vậy, ưu thế hình như thuộc về ông Giáp, tuy ông ấy không có không quân, cơ giới. Ưu thế đó (của phía kháng chiến) thật là điều đáng kể trong so sánh lực lượng”. (Có một điều quan trọng khác mà tướng Xalăng không nói đến là, vào mùa hè 1952, trong khi quân chủ lực của đối phương hoàn toàn cơ động trên các chiến trường thì khoảng 85% chủ lực của Pháp - ngụy phải giam chân trong các vùng tạm chiếm để đối phó với chiến tranh du kích, lực lượng cơ động chiến lược trong tay Bộ chỉ huy Pháp chỉ còn trên dưới 15%).
Một bộ máy chỉ đạo chiến tranh hoàn chỉnh.
Về tổ chức cơ quan quân sự, ông Giáp có một Bộ tham mưu đúng với chức năng của nó, một Tổng cục Cung cấp, một Tổng cục Chính trị. Dưới ánh sáng của thực tế chiến tranh, đối phương không ngừng cải tiến bộ máy chỉ đạo kháng chiến của mình.
Nhiệm vụ chính của các cơ quan trên đây là động viên tinh thần chiến đấu, chủ nghĩa anh hùng (cách mạng), tính dũng cảm, lòng tin tưởng theo quan điểm mác-xít, lòng căm thù địch; duy trì trong binh sĩ của họ tinh thần bền bỉ và tác phong giản dị ở trình độ cao; không ngừng cải tiến kỹ thuật và chiến thuật; hoàn chỉnh một chế độ cung cấp hợp lý cho bộ đội...
Việc tiếp tế được các đoàn dân công “đông như kiến” vận chuyển từ hậu phương ra mặt trận cho bộ đội. Tuy vậy, trong hành quân chiến đấu, các chiến binh vẫn mang trên người một bao đựng số gạo đủ ăn trong ba ngày như người ta thường thấy ở châu Âu những năm 1914-1918.
Để giữ được tính liên tục giữa chiến đấu, bổ sung và phát triển lực lượng đột kích chủ yếu (theo nguyên văn: các mũi lao - fers de lance) trong các trận đánh, bộ tư lệnh đối phương quan tâm đặc biệt đến việc bố trí các đợt nghỉ ngơi và củng cố bộ đội. Họ chú trọng đi sâu vào chất lượng để không ngừng tạo nên sức mạnh và hiệu quả chiến đấu cho bộ đội.
Sau các trận đánh (ngoài việc khẳng định những ưu điểm đưa đến thắng lợi), Bộ Tổng tư lệnh thường chỉ đạo việc tự phê bình bằng cách nêu lên hàng loạt khuyết điểm, ví dụ: tư tưởng chủ quan tự mãn, phương pháp chỉ huy thiếu khẩn trương và đôi khi cứng nhắc, việc chấp hành mệnh lệnh thiếu nghiêm túc... đã hạn chế tầm vóc của thắng lợi đáng lẽ phải giành được lớn hơn. Một khi lời tự phê bình thẳng thắn của thủ trưởng cấp trên được phổ biến xuống sĩ quan cấp dưới và bộ đội lập tức liên hệ và rút ra những kinh nghiệm của chính mình để áp dụng ngay vào các trận đánh sau.
Chính vì vậy mà quân đội Việt Minh đã không ngừng nỗ lực và liên tục tiến bộ. … “Quân đội Việt Minh là một bộ đội lục quân tuyệt vời... một công cụ chiến đấu không gì có thể so sánh được... một đối thủ đáng sợ...”.
Đó là những kết luận mà viên tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp Xalăng rút ra sau khi nghiên cứu quân đội nhân dân Việt Nam, đối thủ của y.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #127 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:28:04 am » |
|
ĐỠ ĐÒN CHO XỨ THÁI Vào mùa thu năm 1952, bắt chước điệp khúc mà Đờlát thường dùng trước đây, tướng Xalăng cũng đặt vấn đề: Mùa mưa sắp hết, từ 20 tháng 9, những ngày nắng ráo đã xuất hiện, vậy cái gì sắp xảy ra? Liệu ông Giáp sẽ tập trung nỗ lực trên hướng nào...? Viên tổng chỉ huy than phiền rằng phòng nhì bất lực, không cung cấp được tài liệu gì đáng kể về ý định của đối phương. Cuối tháng 9, một số triệu chứng bắt đầu xuất hiện. Sự đi lại và vận chuyển trên sông Hồng ở vùng Yên Bái tỏ ra khác thường trên một tuyến dài khoảng 60 kilômét. Các phiên liên lạc vô tuyến điện của đối phương tăng lên. Từ ngày 4 tháng 10, toàn khu Tây Bắc nhận lệnh báo động. Một đại đội Tabo được điều từ Lai Châu về tăng cường cho phân khu Nghĩa Lộ 1. Sở chỉ huy phân khu dời lên đồn cao Pú Chạng. Công sự ở Nghĩa Lộ được tăng cường. Máy bay trinh sát và các đội tuần tiễu thường xuyên theo dõi đối phương từ hữu ngạn sông Hồng đến tả ngạn sông Đà. Đối với bộ chỉ huy Pháp, những biện pháp đối phó đầu tiên trên đây được coi là tạm đủ, khi mà họ chưa tin rằng hướng tiến công của đối phương là xứ Thái 2. Từ kinh nghiệm cuối tháng 9 năm trước, họ tin rằng. Nghĩa Lộ có thể “đứng vững”, nhất là sau khi đã được tăng cường cả về binh lực và công sự. Sau khi phát hiện một số triệu chứng của đối phương, hàng ngày máy bay trinh sát chỉ điểm để không quân và pháo binh bắn phá những khu vực chung quanh Nghĩa Lộ. nghi là có đối phương tập kết. Đêm đến, máy bay Đacôta thả dù chiếu sáng, máy bay B26 ném bom nổ và bom cháy quanh cứ điểm. Tuy nhiên, mãi đến đầu tháng 10, một vấn đề chiến lược vẫn được đặt ra với các tướng lĩnh Pháp là đối phương chọn đồng bằng hay vùng rừng núi Tây Bắc làm hướng tiến công. Phải chăng họ thấy không đủ điều kiện giành thắng lợi lớn ở chiến trường địa hình trống trải nên đã chuyển hướng lên xứ Thái, nơi mà chỗ mạnh về binh khí kỹ thuật của quân đội Pháp bị hạn chế, nơi mà họ dễ dàng phát huy sở trường trong các trận đánh “với tốc độ vận động việt dã”? Như vậy họ sẽ buộc không quân Pháp hoạt động xa căn cứ để đánh một đối phương phân tán trong rừng... Rồi họ bất ngờ tập trung mau lẹ từ nhiều địa điểm xuất phát khác nhau, với “trình độ ngụy trang đã trở thành một nghệ thuật cả trong hành quân và trú quân”. Nhiều ký giả và tướng lĩnh Pháp tỏ ra lo lắng nhận xét rằng: trong năm qua, so sánh lực lượng chưa thay đổi gì có lợi cho Pháp trên chiến trường xứ Thái, một chiến trường mỗi chiều khoảng 200 kilômét, từ sông Hồng đến biên giới Lào, từ Vạn Yên đến Phong Thổ. Đó là điều thuận lợi để đối phương thực hiện ý định chiến lược của họ là lần lượt quét các vị trí trơ trọi và mỏng yếu của Pháp viền dọc sông Hồng và sông Đà, tạo điều kiện tiêu diệt quân ứng chiến để tiến tới làm chủ vùng rừng núi bao la này và nhanh chóng tiến sang vùng biên giới phía Tây. Đối phương cũng sẽ đánh mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ để giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng dự bị của Pháp, tức là thực hiện “chủ trương tác chiến trên hai mặt trận” như đã từng xảy ra cuối năm trước (ý nói trong chiến dịch Hòa Bình). Khó khăn nổi bật của đối phương là vấn đề tiếp tế đảm bảo cho hàng vạn binh sĩ chiến đấu dài ngày trên một chiến trường xa, giao thông không thuận tiện, lương thực tại chỗ khan hiếm. Mới nêu vấn đề hậu cần của Việt Minh, nhiều người đã vội nghĩ rằng hình như việc đưa binh lực lớn lên tiến công xứ Thái là một điều mạo hiểm, hầu như không kham nổi, nhất là các tuyến đường thường bị không quân Pháp oanh tạc, ngăn chặn. Nhưng không ít người cho rằng với những đoàn dân công dài vô tận, dựa vào rừng núi kín đáo đối phương sẽ thành công trong việc bố trí các kho trạm, các căn cứ hậu cần ở sát và ở cả phía trong phòng tuyến của Pháp... ------------------------- 1. Đại đội lính da đen này (5/10 Tabor) bị diệt ở Bản Tú ngày 15 tháng 10, khi vừa ở Lai Châu xuống.
2. Xuất phát từ âm mưu chính trị (lập xứ “tự trị”), Pháp gọi vùng Tây Bắc Việt Nam là “xứ Thái”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #128 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:28:32 am » |
|
Từ những nhận xét trên đây, một số tướng lĩnh Pháp, trong đó có tướng Mácsăng, đã rút ra kết luận: chỉ cần suy nghĩ như vậy cũng đủ để thấy thắng lợi hình như đã nằm trong tay đối phương.
Điều đó giải thích vì sao tổng chỉ huy Xalăng sau này phải thú nhận rằng, vào đầu tháng 10 năm 1952, hắn ta “rất lo lắng cho số phận vùng tây - bắc Bắc Kỳ”. Lo lắng nhưng không có phương sách đối phó nào khác hơn khi mà chiến trường quá rộng và lực lượng dự bị trong tay không nhiều. Thói quen của viên tướng này là chờ đợi khi nào đối phương lộ rõ ý định chiến lược mới hạ quyết tâm xử trí.
Từ ngày 5 tháng 10, mặc dù bận rộn vì phải đón tiếp và dẫn Bộ trưởng chiến tranh Sơvinhê (De Chevigné) đi thăm “những nơi yên tĩnh” ở miền Nam, tướng Xalăng vẫn không quên đốc thúc Đờ Linarét “báo cáo tin tức hàng ngày, nếu không phải là hàng giờ”.
Thế rồi từ ngày 11 tháng 10, các sự kiện cứ dồn dập xảy ra trên chiến trường Tây Bắc. Các đơn vị tuần tiễu vừa tiếp xúc với quân đối phương thì ngay sau đó, các đồn bốt phía ngoài của phân khu Nghĩa Lộ, trên đường tiến quân của quân đội Việt Nam, lần lượt bị quét sạch. Một số vị trí đầu hàng, một số khác chống đỡ yếu ớt để rồi rút chạy.
Viên tổng chỉ huy (vốn là người chậm hiểu) tuy phán đoán đối phương có thể tiến công Nghĩa Lộ, nhưng lại không dám khẳng định để có phương sách đối phó.
22 giờ ngày 15, từ Sài Gòn, Xalăng thảo một chỉ thị mật, giao cho đại tá Bútxari (Boussarie) ra Hà Nội chuyển cho Đờ Linarét, chỉ huy quân Pháp ở Bắc Bộ. Theo chỉ thị đó, “Nghĩa Lộ và Sơn La đang bị uy hiếp nặng nề... nhưng các yếu tố nắm được chưa cho phép chúng ta có chủ trương... Phải đợi cho Việt Minh lộ rõ ý định của họ”. Địa hình rừng núi đang buộc đối phương phải phân tán. Đó là nhân tố thuận lợi cần chú ý. Để tăng cường cho Nghĩa Lộ và bảo vệ Sơn La, không cần phải ném quân xuống Gia Hội hay Tú Lệ vì hai nơi này quá xa Nghĩa Lộ. Trước mắt, phải dành phần lớn không quân yểm trợ cho Tây Bắc...
Chỉ thị tới nơi quá chậm. Sáng 16, tiểu đoàn dù thứ 6 (6è BPC) do thiếu tá Bigia (Bigeard) chỉ huy đã được ném xuống Tú Lệ.
Tung tiểu đoàn dù ra phía trước, Đờ Linarét chủ trương “hy sinh con cừu non” để thu hút đối phương hòng tạo điều kiện cho các đồn binh phía sau có đủ thời gian rút chạy về phía sông Đà. Để đạt mục đích đó, “sự hy sinh (của tiểu đoàn dù) cũng xứng đáng”.
Biết mình được đem đi làm vật hy sình, quân dù “tỏ ra lo lắng khác thường”. Chính Bigia cũng nhận thấy “những sự vui đùa hàng ngày biến đâu mất” mặc dù cố đạo Giăngđen (Jeandel), tuyên úy của tiểu đoàn cũng có mặt trong máy bay với bộ quần áo biệt kích dù. Người ta chỉ phân biệt được viên cố đạo khi thấy ngay trên túi đựng dù trước ngực hắn ta lủng lẳng bức tượng Chúa bằng bạc trên chiếc thánh giá đen sì. Khi Giăngđen nhảy dù xuống, tất nhiên tượng Chúa cũng nhảy theo.
Tại Sài Gòn, vào hồi 22 giờ ngày 17 tháng 10, tổng chỉ huy Xalăng đang cùng hai ngài bộ trưởng Sơvinhê và Lơtuốcnô chén tạc chén thù thì viên đại tá Broayen bỗng xuất hiện và thì thầm bên tai tổng chỉ huy: Nghĩa Lộ bị tiến công lúc 17 giờ. Xalăng “bị kích động mạnh nhưng cố trấn tĩnh” quay sang báo tin không lành đó cho hai vị cấp trên và ngỏ ý sẽ bay ra Hà Nội sáng mai. Hai ngài bộ trưởng yêu cầu cùng đi.
Như sau này Xalăng thú nhận, đêm hôm đó đối với viên tổng chỉ huy là “một đêm đầy lo âu, vì những tin tức hàng giờ bay vào Sài Còn luôn mâu thuẫn nhau...”. Viên tướng tổng chỉ huy chỉ lo “tình hình diễn biến xấu nhất”, khi mà ngài bộ trưởng chiến tranh mới từ Pari quá bộ sang kinh lý.
Tới Hà Nội trưa ngày 18, họ gặp Đờ Linarét vừa từ Tây Bắc bay về báo tin: “Thế là hết!”. Nội dung ngắn gọn thôi, nhưng mọi người đều hiểu chuyện gì đã xảy ra. Ai nấy vội vã về bộ tham mưu để nghe Đờ Linarét báo cáo.
Theo viên tướng này thuật lại thì từ 17 giờ ngày 17, khi quân phòng ngự ở Nghĩa Lộ “còn đang chịu đựng đến mê muội đi vì mật độ và tính chính xác đến ghê rợn của hỏa lực pháo binh và súng cối đối phương bắn vào hệ thống dây thép gai, đào thành những lối đi trên bãi mìn và hạ sát các xạ thủ súng máy và súng cối trong đồn..., thì ngay sau đó, khi màn đêm vừa ập xuống, từng lớp người đã xung phong vào đồn cao. Súng không giật và bộc phá nổ nhức tai. Không đầy một giờ, đồn cao bị tiêu diệt, cũng có nghĩa là “bản án tử hình đối với phân khu Nghĩa Lộ đã ký xong”. Sáng hôm nay (18-10), đến lượt đồn thấp bị tràn ngập. Khi trên nền trời xuất hiện chiếc máy bay vận tải đầu tiên chở quân dụng và máu khô (những thứ được yêu cầu gửi lên gấp), thì lá cờ ba sắc đã biến mất trên cứ điểm Nghĩa Lộ, chỉ còn lại dấu vết những công sự đã bị phá tan tành và đang bốc khói...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Thượng tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #129 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2016, 06:28:48 am » |
|
Thêm một chi tiết (do Bécna Phôn bổ sung sau này), từ trên máy bay, các phi công còn nhìn thấy rất rõ từng đoàn tù binh kéo đi, “tay giơ quá đầu lê bước giữa hai hàng lính Việt Minh”.
Kết luận được viên tổng chỉ huy rút ra sau khi nghe báo cáo là: ông Giáp đã bất ngờ tập trung sư đoàn 308 vào Nghĩa Lộ. Các hướng khác: Sầm Nưa, Mường Hét, Mường Hum... chỉ là nghi binh. Nghĩa Lộ đã không đứng vững được thì các vị trí khác ở phía tây sông Đà sẽ tiếp tục trở thành những mồi ngon cho đối phương. Sau đó 1à một quyết định có tầm chiến lược: phải rút tất cả về Nà Sản, một vị trí trên đường liên tỉnh 41 (đường số 6 Hà Nội - Lai Châu). Nà Sản có sẵn sân bay cho máy bay Đacôta hạ cánh. Đại tá Gin (Gilles) được cử làm chỉ huy cứ điểm Nà Sản, thiếu tá Vôđrây (Vaudrey) làm phó. Tướng Ala và đại tá Đơbenácđy (Debernardy) phải giải quyết việc chi viện của không quân vì đó là “vấn đề sinh tử của tổng chỉ huy lúc này”. Điện gấp cho Bigia: phải rút chạy ngay khỏi Tú Lệ, vét theo các đồn nhỏ quanh vùng đưa nhanh về Nà Sản, để “tránh đòn thứ hai của đối phương”.
Không chậm trễ, tổng chỉ huy Xalăng dẫn hai ngài bộ trưởng bay lên Tây Bắc. Vòng qua không phận Nghĩa Lộ, từ trên máy bay, các ngài tận mắt chứng kiến cảnh tan hoang của cứ điểm còn đang bốc khói. Sau đó máy bay mới hạ cánh xuống Nà Sản. Mọi biện pháp tổ chức phòng ngự được hạ đạt trực tiếp cho tướng Đờ Linarét và hai viên chỉ huy cứ điểm Nà Sản: phải củng cố vị trí này thành một tập đoàn cứ điểm với những điểm tựa đủ sức chịu đựng được đạn pháo. Phải bảo vệ bằng được sân bay trước bất kỳ cuộc tiến công nào của đối phương. Nhiệm vụ đặt ra cho Nà Sản là đập tan ý định của đối phương muốn giành lại xứ Thái, “một vùng rất mực trung thành với nước Pháp từ 70 năm qua”(!), cũng tức là ngăn chặn đối phương thâm nhập vào đất Lào. Không những Nà Sản phải chờ đón các cuộc tiến công của Việt Minh mà sẽ còn là căn cứ xuất phát để đánh lại họ. Tiểu đoàn dù của Bigia sẽ là đơn vị đầu tiên được điều về đây “không một phút chậm trễ”...
Mệnh lệnh trên xem chừng “lọt tai hai vị bộ trưởng” nhưng chưa được thực hiện thì đã có tin Tú Lệ bị tiến công, “số phận của tiểu đoàn dù của Bigia coi như đã được định đoạt vì không có một sức chi viện nào khi mà họ đang ở vào thế hoàn toàn bị cô lập...”.
Trước nguy cơ “con cừu non” (tiểu đoàn dù của Bigia) bị tiêu diệt, ngày 20 tháng 10, tổng chỉ huy Xalăng phải hai lần đích thân bay lên không phận Tú Lệ và Mường Chen để đốc thúc tiểu đoàn này rút chạy từ Tú Lệ về Nà Sản. Sau 4 ngày vượt qua 60 kilômét đường rừng, được sự yểm trợ của 50 lần chiếc máy bay và được thiếu tá Vôđrây đưa một tiểu đoàn ngụy đi đón, ngày 24 tháng 10, Bigia mới dẫn một phần ba số quân dù sống sót chạy về đến Nà Sản. Dọc đường, gần 70 tên lính ngụy ở đồn Mường Chen đã bỏ xác vì được lệnh chặn đối phương truy kích để cho những tên lính dù sống sót chạy thoát. Để tình cảnh tan tác của đám tàn quân dù này không ảnh hưởng đến tinh thần bọn lính ở Nà Sản, Xalăng hạ lệnh cho máy bay bốc số lính dù về Hà Nội.
Vị trí Nghĩa Lộ bị tiêu diệt. Ý định đưa tiểu đoàn dù 6è BPC của Bigia và các đồn binh ở sát sông Đà về Nà Sản không thực hiện được. Vậy mà Xalăng vẫn cố bám lấy thói quen huênh hoang biến bại thành thắng của hắn. Nào là “tôi đã thắng một ván ở xứ Thái”, nào là “phân khu Nghĩa Lộ bị mất là một đòn đau đớn đối với chúng ta (Pháp) nhưng không phải là đòn quyết định” v.v… Điều đáng lo sợ đối với viên tướng này là để cho tiểu đoàn dù bị xóa sổ. “Pari sẽ không tha thứ cho tôi điều đó”. Bởi vậy, mặc dù số lính bị thương và bị vứt lại Tú Lệ đã khoảng 100, số bị bắt dọc đường đã lên tới 110 tên, viên tổng chỉ huy Pháp vẫn coi đó là “một bản anh hùng ca của một đội quân có khả năng đặc biệt...”.
Trong cuộc họp tại bộ tham mưu Pháp ở Hà Nội, trước mặt Bộ trưởng - cao ủy Lơtuốcnô, Xalăng tuyên bố. “Chúng ta đã lấy lại được tính tự chủ. Một con đê chắn sóng vững chắc, đồng thời cũng là một căn cứ hành quân đã được thiết lập chung quanh sân bay Nà Sản. Ván cờ chỉ mới bắt đầu. Bây giờ đến lượt chúng ta hành động. Trong những trận vừa qua, quân địch đã thất bại nghiêm trọng. Bởi thế, tôi có cơ sở để nghĩ rằng diễn biến của những hoạt động sắp tới sẽ có lợi cho ta...”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|