Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:11:23 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử nhà tù Côn Đảo 1862 - 1975  (Đọc 67989 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #160 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2017, 04:03:07 am »


        Theo Bản tổng kết của Ban liên lạc tù chính trị Côn Đảo tỉnh Thừa Thiên - Huế, thực hiện tháng 4- 1989, do Nguyễn Xuân Tốn chấp bút thì ngay khi lên tàu, đại diện của 4 tỉnh đã liên hệ với nhau, hình thành bộ phận trách nhiệm, tập hợp và chỉ đạo lực lượng tù chính trị theo từng tỉnh.

        Cũng theo bản tổng kết này, những người có trách nhiệm trong đoàn tù bốn tỉnh mới ra đã liên hệ được với Huỳnh Văn Tửng trong số ra trước đó, nắm được thủ đoạn phân hóa, cưỡng bức ly khai của địch, biết rõ lực lượng kiên cường chống ly khai đang bị biệt giam tại Trại I - Trại cộng sản, còn Trại II là Trại “quốc gia” đang giam giữ số chịu ly khai cộng sản. Nội bộ đoàn tù 4 tỉnh có 3 loại ý kiến:

        - Có khoảng 60 anh em quan niệm rằng nếu địch không đặt điều kiện cũng không ở lại Trại II (trại ly khai) mà phải đấu tranh, đòi hỏi địch đưa qua Trại 1 (Trại cộng sản kiên cường).

        - Một số khác nêu ý kiến vì mới ra đảo, sức khỏe yếu, có thể tạm thời chịu điều kiện, để bồi dưỡng sức khỏe, củng cố đội ngũ rồi hãy đấu tranh.

        - Ý kiến thứ 3, được đông đảo những người có vai trò lãnh đạo tán thành là người tù không đòi hỏi ở trại nào. Nếu địch để ở Trại II mà không bắt ký giấy ly khai thì cứ ở. Nếu địch đặt điều kiện xúc phạm khí tiết thì tuyên bố chống. Ý kiến này đã trở thành chủ trương chỉ đạo trên 400 tù chính trị ra ngày 17-5-1957.
   
        Hơn một tuần sau, đại úy Quản đốc nhà tù Bùi Văn Năm ra lệnh cho đại diện 5 phòng mới ra lập danh sách ly khai tập thể, đại diện ký vào để báo cáo lên Ban Quản đốc.

        Sau đợt chống ký kiến nghị ngày 7-7-1957, đại diện các tỉnh đã bí mật họp tại khám 2 cử ra Đảng ủy lâm thời do Trần Quang Hiệu (Phú Yên) là Bí thư cùng các Đảng ủy viên: Lê Quang Ngọc (Quảng Ngãi), Nguyễn Quýnh, tức Tôn (Thừa Thiên), Hoàng Văn Tửng, Phan Văn Ký (Nam Bộ).

        Việc một bộ phận tù chính trị không chịu đựng được mức đày ải, truy bức trường kỳ và tàn bạo ở Côn Đảo, phải chấp nhận điều kiện của địch là không tránh khỏi. Song sự kiện một số người có cương vị cao trước khi bị bắt, tự tập hợp thành bộ phận trách nhiệm (có lúc lấy danh nghĩa Đảng), chủ trương ở lại Trại II - Trại “quốc gia” đã có ảnh hưởng lớn đến tinh thần chiến đấu của tập thể đoàn tù chính trị miền Trung.

        Ký giấy ly khai tập thể, chịu điều kiện của địch ngay từ khi đặt chân lên đảo là chưa đánh giá đúng phẩm chất cách mạng và tinh thần chiến đấu của đội ngũ tù chính trị. Điều đó dẫn tới sự phản ánh sai lạc tương quan lực lượng chung, làm giảm sức chiến đấu và phẩm chất khí tiết của tù chính trị, nhất là khi đã biết rõ âm mưu phân hoá, thủ đoạn tố cộng của địch, biết địch đã thanh lọc tù chính trị thành Trại cộng sản (Trại I, chỏng ly khai) và Trại quốc gia (Trại II, chịu ly khai) mà vẫn dùng lý luận ngụy biện cho hành động hạ thấp khí tiết của mình.

        Tuy nhiên, về phương diện khác, nhiều thành viên trong Ban lãnh đạo đoàn tù chính trị miền Trung đã tham gia Đảng ủy lâm thời, trở thành hạt nhân đoàn kết, lãnh đạo cuộc đấu tranh của tù chính trị Trại II từ thấp lên cao, hình thành mặt trận tù nhân, phôi hợp với Trại I, và hỗ trợ được nhiều cho cuộc đấu tranh của Trại I. Hai đợt chống kiến nghị ngày 7-7-1957 và ngày 6-6-1958 đã khởi đầu cuộc đấu tranh vươn lên bảo vệ khí tiết của tù chính trị Trại II.

        Trong lúc Trại I giương cao ngọn cờ chống li khai thì Trại II liên tục đấu tranh chống học tập tố cộng bằng nhiều hình thức. Năm 1958, Ban tố cộng Trại II thuyết trình tài liệu “Cộng sản với cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam”, nội dung xuyên tạc lịch sử, rằng cuộc kháng chiến chống Pháp lúc đầu có tính chất quốc gia, sau cộng sản khủng bố các đảng phái, cướp công kháng chiến, lái kháng chiến theo con đường cộng sản, thực hiện chủ nghĩa tam vô: không gia đình, không tài sản, không tôn giáo...

        Tài liệu này đã gây một luồng phản ứng mạnh mẽ khắp Trại II. Nhiều tù nhân Trại II đã dũng cảm đứng lên vạch mặt “quốc gia” giả hiệu của ngụy quyền tay sai, bảo vệ chân lý lịch sử, bảo vệ uy tín của Đảng và Bác Hồ, bảo vệ chính nghĩa của sự nghiệp cách mạng. Mỗi buổi học tố cộng, bọn công an, cải huấn, trật tự thường theo dõi và cảnh cáo “phần tử ngoan cố” tra khảo, phạt xà lim, tạo cớ đánh đập. Biện pháp “cứng rắn” thì nhà tù không thiếu, nhưng chúng luôn luôn bất lực là không thể đem “chủ nghĩa quốc gia” để cải tạo tư tưởng cho tù nhân và không thể nào bôi nhọ được uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #161 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2017, 04:03:30 am »


        Mùa hè 1959, Ban cải huấn tổ chức trình diễn vở kịch “Giấc mơ kinh khủng” do Nguyễn Phương, một tù tay sai trong Ban văn nghệ soạn. Vở kịch nói về một nữ sinh từ bỏ đô thành tham gia kháng chiến, sau bị bạc đãi. Kết cục là những lý tưởng cao đẹp của cô đã biến thành “giấc mơ kinh khủng”. Hàng trăm tù chính trị câu lưu ở các phòng 1-2-12 và một số phòng khác đã phản đối, không xem. Ngày hôm sau, địch bắt tất cả số tù nhân không xem kịch ra lội nước, vét bùn, đắp đập Hồ Sen, không cho đội nón, không cho uống nước một ngày ròng dưới nắng hè đổ lửa và roi vọt. Ai say nắng, khát nước, ngơi tay là chúng đánh đập tàn tệ. Máu tù nhân loang đỏ bờ đập. Từ đấy, đập Hồ Sen mang tên đập “Giấc mơ kinh khủng”.

        Ngày 26-10-1959, “quốc khánh” Việt Nam cộng hòa, ngụy quyền Côn Đảo bắt tù chính trị Trại II ký kiến nghị ủng hộ Ngô Đình Diệm. Lực lượng chống ký kiến nghị vượt quá con số 800, song cũng giống như 2 lần trước, sau khi địch đàn áp, chỉ còn gần 400 trụ lại được. Đó là những người đã được sàng lọc qua hơn một năm tranh đấu. Một số người được Ban lãnh đạo Trại II giao nhiệm vụ liên lạc, địch vận, trật tự đã phải cắn răng nuốt hận ký vào bản kiến nghị phản động, chịu trá hàng để hoạt động nội tuyến phục vụ cuộc đấu tranh lâu dài.

        Những người chông kí kiến nghị bị cấm cố tại khám một và khám 13, sau đó cưỡng bức lao động khổ sai với mức rất nặng. Bốn tháng sau, đến Tết nguyên đán Canh Tý (1960), địch mới giải toả đợt khủng bố này, ba tù chính trị Trại II đã chết vì tra tấn, đày ải. Trong thời gian này, Ban lãnh đạo Trại II đã liên hệ với tù án chính trị ở Trại III, dự kiến hình thành Đảo ủy, gồm:

        - Một ủy viên ở Trại I (tượng trưng bằng ý kiến của tập thể Trại I).

        - Hai ủy viên ở Trại II: Nguyễn Hài (tức Hân ở Huế), Tôn Diêm (Quảng Ngãi).

        - Hai ủy viên ở Trại III: Lê Minh Nê, Nguyễn Thế Vịnh.

        Trên thực tế, lực lượng ưu tú nhất của tù chính trị Trại I, trung tâm của cuộc đấu tranh bảo vệ khí tiết không tham gia Đảo ủy. Vì thế, những cố gắng của Ban lãnh đạo tù chính trị Trại II và Trại III để hình thành Đảo ủy mang tính chất mặt trận tù nhân, liên hiệp tranh đấu hơn là một Bộ tham mưu chiến đấu. Tổ chức Đảo ủy này chưa tiêu biểu cho bộ phận ưu tú nhất của tù chính trị đang đấu tranh một mất một còn để bảo vệ khí tiết cách mạng, chống ly khai Đảng, chống mọi thủ đoạn tố cộng, diệt cộng của kẻ thù.

        Các thủ đoạn “tố cộng - diệt cộng” trong tù của Mỹ ngụy đã làm phân hóa và chia cắt rất sâu giữa các trại tù, giữa tù chính trị có án và không án, giữa tù cấm cố và tù khổ sai, giữa những người chống trực diện, chống toàn diện và những người chống có mức độ, chống từng lúc, từng phần. Chính vì vậy mà các tổ chức từng xưng danh là “Đảo ủy” trong giai đoạn này đều không tương xứng với danh xưng, bởi lẽ những đại biểu ưu tú nhất đã bị cấm cố nghiêm ngặt, không có điều kiện tổ chức và chỉ đạo. Ngược lại, người tù chính trị ở khu vực khổ sai có điều kiện liên lạc, tổ chức và hoạt động lại không đủ phẩm chất, năng lực và bản lĩnh trong vai trò “Đảo ủy”.

        Đầu năm 1959, địch phát hiện ra bức thư của Ban lãnh đạo Trại II gửi Trại I qua anh Dũng ở kíp hoả thực (Nhà bếp), chúng bắt Nguyễn Hài, Nguyễn Quýnh, Phan Hoè, sau bắt thêm Cao Viết Bảo (cơ sở binh vận), tra tấn dã man nhưng không khai thác được tổ chức. Sau 20 ngày, Cao Viết Bảo anh dũng hy sinh, địch ngưng tra tấn, chuyến ba người còn lại sang chế độ cấm cố trường kỳ.

        Ngày 19-10-1959, Trưởng ty công an Phú Yên đã lập hồ sơ gửi Tỉnh trưởng Phú Yên, đồng gửi Tổng giám đốc cảnh sát công an (Sài Gòn), phúc trình vụ “Đảo ủy Côn Đảo” qua cung xuất của Nguyễn Cước, cán bộ của tỉnh Phú Yên, giữ mối liên hệ với một tù chính trị tên là Mạng. Ty công an cỏn Sơn đã tổ chức điều tra, phối kiểm nguồn tin theo lệnh của Tổng giám đốc cảnh sát công an (Sài Gòn). Các anh Trần Quang Hiệu, Lê Quang Ngọc, Nguyễn Đình Thành, Thái Thọ Dương, Nguyễn Văn Biểu, Bùi Dục, Nguyễn Chiến và hàng chục người có liên quan bị bắt đi khai thác, cấm cố tại xà lim Trại II. Hồ sơ phúc trình thẩm vấn ngày 23-11-1959 của Ban An ninh cho biết 7 người có danh sách trên nằm trong Đảng ủy Trại II.

Bản phúc trình còn phát hiện 74 đội viên Đội cảm tử được chuẩn bị cho cuộc võ trang cướp đảo. Để đôi phó và răn phạt số chống đối ở Trại II, đồng thời ngăn ngừa một cuộc võ trang bạo động có thể xảy ra, bọn chúa ngục thanh lọc 285 người trong số đã 3 lần chống kí kiến nghị về Trại III, áp dụng chế độ cấm cố nghiêm ngặt. Những người bị khai báo, lộ mặt bị biệt giam tại chuồng cọp.

        Sau 3 năm nỗ lực vươn lên, bộ phận tích cực nhất của tù chính trị Trại II đã đứng chung với Trại I trong một trận tuyến bảo vệ khí tiết, chịu chung một cảnh ngộ đày ải khắc nghiệt nhất. Họ đã cùng chịu chung chiến dịch khủng bố tháng 4-1960 do Mai Hữu Xuân cầm đầu. Sau trận ấy, 285 tù chính trị cốt cán thuộc Trại II cũ cùng với 799 người từ Trại I vừa bị rớt đã sát cánh vươn lên đấu tranh kiến tạo lập trường khí tiết.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #162 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2017, 02:30:55 pm »


        Trung tâm Cải huấn I và chủ trương kiến tạo lập trường khí tiết

        Kết thúc chiến dịch chuyển hướng (4-4-1960) địch xóa sổ cả Trại I “Trại cộng sản” và Trại II “Trại quốc gia”, thiết lập Trung tâm cải huấn I giam giữ tù câu lưu gồm các trại: Nhân Vị (Trại II cũ), Bác Ái (Trại III và Trại IV cũ) và Cỏ Ống. Có lúc, do nhu cầu của công việc khổ sai, địch mở thêm chi nhánh với các trại ở Bến Đầm, Sở ruộng Quang Trung.

        Trại I cũ mang tên Trại cộng hòa, thuộc Trung tâm cải huấn II, giam tù án. Bản nguyệt trình số 235/NA/TTCH/M ngày 25-5-1960 của Tỉnh trưởng Lê Văn Thế cho biết: “Tổng số can cứu thuộc Trung tâm cải huấn I là 2.898, chết trong tháng 7 người, hiện diện đến 25-5-1960 là 2.891, tất cả là đàn ông, được phản chia thành hai loại: Loại A (đã ly khai): 2788; Loại B (chưa ly khai và bị kỷ luật): 103”.

        Báo cáo đặc biệt của Ty công an Côn Sơn đề ngày 28-6-1960 cho biết: “Số can cứu thuộc Trung tâm Cải huấn I tính đến ngày 25-6-1960 là 2884, chết trong tháng 4, số chưa ly khai là 53, số bị kỉ luật là 40, còn lại được phân bổ như sau: Trại Nhân Vị: 1.414; Trại Bác Ải 959; Trại cỏ Ổng: 425”.

        Địch nhận định rằng trong chiến dịch vừa qua, chúng mới làm được việc là dùng bạo lực cưỡng bức những người tù chính trị ly khai chứ chưa chinh phục được trái tim, khối óc họ. Bản Phúc trình số 135/ĐCT/ĐB/TV/M ngày 23-4-1960 của Dương Văn Hiếu, Trưởng đoàn công tác đặc biệt miền Trung, đã nhận định rằng việc chuyển hướng tư tưởng trên một ngàn tù nhân trong chiến dịch vừa qua “chỉ mới là thắng lợi trong giai đoạn đầu, vì chính trong phạm nhân li khai củng còn nhiều thành phần và động cơ tư tưởng phức tạp”.

        Bản phúc trình đã dẫn có đoạn nhấn mạnh: “Côn Đảo là một trung tâm có địa thế biệt lập với đất liền, có hoàn cảnh dễ cô lập và trừng phạt củng như có điều kiện thuận tiện để cải huấn những phạm nhân Việt cộng nguy hiểm, cho nên phải biến Côn Sơn thành một trường huấn luyện quốc gia, cải tạo phạm nhân trở thành lực lượng chống cộng chứ không để cho chúng có thể lợi dụng để rèn luyện thêm ý thức cộng sản, càng tập trung đông đảo càng thành ra mối nguy cơ thường trực cho chế độ ta được”.

        Trong thời điểm này, tâm trạng của tù chính trị câu lưu diễn biến rất phức tạp, phần lớn đã mệt mỏi về tinh thần, suy kiệt về thể xác. Không ít người mặc cảm, bi quan về sai lầm của mình, về thất bại tạm thời của cuộc chiến đấu. Một bộ phận tù chính trị hoài nghi về mục tiêu đấu tranh, về khả năng giành thắng lợi. Sự tan vỡ của Trại I - Trại cộng sản là một bài học đau xót. Hàng trăm người đã kiên cường tranh đấu và hi sinh anh dũng, nhưng rốt cuộc cả ngàn người vẫn thất bại, chịu điều kiện của kẻ thù. Vài chục người trực diện chống li khai cuối cùng trong chuồng cọp có thể bị địch giết hết nay mai. Liệu có tiếp tục đem thân xác và ý chí của người tù ra đấu chọi với đòn roi, súng đạn và sự bạo tàn không giới hạn mà có thể giành được thắng lợi?

        Song chính vào lúc thấm thìa thất bại chua xót, thấm thìa nỗi cay đắng ê chề khi bị khuất phục, những người có trách nhiệm đã nung nấu ý chí vươn lên khôi phục lại vị trí đấu tranh bảo vệ khí tiết. Các anh Lương Chi (Lương Thạnh), Đặng Ngọc Cảnh, Nguyễn Hào (Nguyễn Thành), Nguyễn Ngọc Cao (Trần Văn Cao), Nguyễn Văn Nghĩa, Phan Xuân Nhị (tự Bình), cùng hàng chục anh ở Trại I vừa bị đánh rã còn điều trị ở bệnh xá đã tập họp nhau lại, bàn phương án đấu tranh vươn lên, khôi phục lại vị trí Trại I.

        Một số người có trình độ lý luận như Hoàng Dư Khương, Trần Xuân Lê, Phan Kiệm (Năm Thành), Nguyễn Văn Hai (tự Quảng) cũng đã đóng góp ý kiến đế tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của Trại I, xây dựng phương án đấu tranh vươn lên theo chủ trương kiến tạo lập trường khí tiết. Buổi đầu, chủ trương kiến tạo lập trường khí tiết được xác định là:

        - Hạn chế tố cộng

        - Củng cố đội ngủ, phá hệ thống mật vụ của địch

        - Chống các kiến nghị tố cộng.


        Sau nhiều cuộc thảo luận trong từng nhóm, từ bộ phận có trách nhiệm đến từng người tù trung kiên ở tất cả các trại, lực lượng tù chính trị ở Trại I vừa tan rã và lực lượng tù chính trị trung kiên ở Trại II cũ đã đoàn kết thành một khối, sát cánh bên nhau trong cuộc đấu tranh vươn lên kiến tạo lập trường khí tiết.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #163 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2017, 02:32:39 pm »


        Một bản Quy ước chung được đúc kết từ các cuộc thảo luận thống nhất trong bộ phận trách nhiệm, rồi phổ biến (truyền miệng) đến từng người tù mang nội dung cơ bản như sau: “Kiên quyết đấu tranh chống học tố cộng, chống khổ sai, chống siết bóp đời sống, tiến tới xóa bỏ nội qui phản động, bảo vệ quyền lợi chính trị và dân sinh dân chủ của người tù, đồng thời sớm phục hồi vị trí chính trị, chuyển thế đấu tranh mạnh lên, buộc địch bị động đối phó để chia đòn, bảo vệ số anh em trực diện chống li khai trong chuồng cọp”.

        Phương châm cơ bản của cuộc đấu tranh là:

        - Kết hợp đấu tranh chính trị với dân sinh dân chủ, kiên trì, đấu tranh giành thắng lợi từ thấp đến cao, kết hợp các hình thức đấu tranh hợp pháp, bán hợp pháp và bất hợp pháp.

        - Củng cô hệ thống tổ chức của tù nhân từ trên xuống dưới, từ trong trại đến các bộ phận ngoài trại, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng khối đoàn kết tù nhân.

        - Phát động một phong trào sâu rộng trong đảng viên và quần chúng trung kiên, quyết tâm vươn lên chống học tố cộng, chống chào cờ ngụy, chống ký kiến nghị phản động. Trong bất kì tình huống nào, dù địch đưa đi đâu, dùng thủ đoạn gì, mỗi cá nhân mỗi bộ phận đều phải nắm vững phương châm hành động, tự lực chiến đấu.

        - Đẩy mạnh công tác binh vận, mỗi người tù chính trị đều phải làm binh vận, tranh thủ, phân hóa cao độ kể thù, cô lập triệt để bọn ác ôn.


        Cuối năm 1960, Quy ước chung và Phương châm cơ bản đã được bộ phận trách nhiệm phổ biến từng nhóm tù, kíp tù. Ban lãnh đạo chung của tù câu lưu được hình thành ở Trại Nhân Vị (Trại II) gồm: Nguyễn Văn Nghĩa (Biên Hoà), Nguyễn Hào (tức Nguyễn Thành ở Quảng Nam), Lê Tam tức Ngọc (Thừa Thiên), Lê Cân (Quảng Ngãi).

        Trong các cuộc đấu tranh chống khổ sai hà khắc, tù nhân thường giữ thế hợp pháp, vận dụng những yếu tố pháp lý để tố cáo sự hà khắc của nhà tù và kiên trì đấu tranh. Song trên lĩnh vực đấu tranh chính trị, chống tố cộng, chống nội quy thì tù chính trị phải đứng ở thế bán hợp pháp và bất hợp pháp, nghĩa là bằng hành động hoặc trực diện không thừa nhận nội quy, quy định của nhà tù.

        Bất cứ một thắng lợi nào đạt được ở nhà ngục này, tù nhân cũng phải đổi bằng máu của chính họ. Ngày làm khổ sai cật lực, tối học tố cộng đến khuya, theo phương châm bán hợp pháp, tù chính trị chống học tố cộng bằng cách ngồi ngả nghiêng, ngủ gà ngủ gật, nghe lơ đễnh, phát biểu xuyên tạc tài liệu, viện cớ làm khổ sai quá mức không học được.

        Có một kiểu chống khá phổ biến ở các phòng là không nghe, không phát biểu ý kiến. Bọn cải huấn ra chỉ tiêu, khoán cho mỗi phòng mỗi đêm phải phát biểu từ 15 đến 20 ý kiến mới được nghỉ. Có đêm, chúng phạt bằng cách không cho đi tiêu đi tiểu, viện cớ mất trật tự. Anh Trần Nhơn người Bình Định đau bụng đi cầu, bị bọn trật tự ngăn lại làm anh té cả ra quần, chúng mới chịu thua.

        Tổng kết đợt học tố cộng, bọn cải huấn tập trung tù nhân trước sân trại, bày trò phát thưởng. Sau bài diễn văn khai mạc của Đoàn cán bộ cải huấn, thiếu tá Tỉnh trưởng Lê Văn Thể được mời lên trao lá cờ vàng cho đại diện phòng 8 có thành tích xuất sắc trong học tập. Bọn cải huấn vỗ tay lẹt dẹt.

        Tiếp đó anh Đặng Chí Hiền, đại diện phòng 1, phòng học kém nhất được mời lên nhận lá cờ đen từ tay vợ thiếu tá Thể, chủ tịch “phụ nữ liên đới” Côn Sơn trao tặng. Tiếng vỗ tay vang dội cả sân lao rồi chuyển thành nhịp vỗ 3 tiếng một, đón người đại diện của phòng học tố cộng kém nhất. Bọn chúa ngục phải thừa nhận rằng, tràng vỗ tay hoan nghênh lá cờ đen chính là cái tát vào chính sách cải huấn của chúng.

        Biết tù chính trị đấu tranh có tố chức, địch bắt trên 40 người mà chúng nghi là cầm đầu đưa về chuồng cọp biệt giam, tra tấn suốt ngày, xối nước suô't đêm. Cảnh đày ải cùng cực nhưng không ai còn trăn trở giữa cái sống và cái chết như trước nữa. Trái lại, những ngày tháng trở về chuồng cọp lần này là niềm an ủi, là sự chuộc lại lỗi lầm. Nhiều anh em bền bỉ chịu đựng và quyết tâm chiến đấu vươn lên. Trong đợt khủng bố bằng cách xối nước và cho ăn gạo trắng cuối năm 1960, anh Lê Thành Thân chịu đựng đến mức kỷ lục 34 ngày đêm liền. Anh đã tuyệt thực liên tục 29 ngày cho đến khi dịch phải ngưng xối nước. Anh Lê Quyết Chiến (Phú Yên) bị xối nước lạnh đến cấm khẩu không nói được. Các anh Trần Nga, Võ Đình Hiếu (Khánh Hoà), Đỗ Hằng (Gia Lai), Lê Quang Ngọc (Quảng Ngãi)... cũng bị xối nước ngót một tháng, đến khi gần chết địch mới ngừng lại.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #164 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2017, 02:34:02 pm »


        Năm 1961, ngụy quyền Côn Đảo xin kinh phí 200.000 đồng trùng tu ngôi mộ chí sĩ Nguyễn An Ninh, lợi dụng tên tuổi ông để sơn phết cho chủ nghĩa “quốc gia” giả hiệu. Tù nchính trị câu lưu đã đấu tranh quyết liệt chống đào mồ cuốc mả tù nhân để mở con đường vào ngôi mộ của ông. Tỉnh trương Lê Văn Thể đến tận Nghĩa trang Hàng Dương trực tiếp chỉ huy cuộc khủng bố. Trên 50 tù chính trị vừa đấu lý với địch vừa gồng mình chịu đòn. Từ sáng đến trưa, bọn gác ngục đánh nát lưng tù, dập từng bó roi mây, máu người tù sống thấm đẫm xương cốt người tù quá cố. Cả kíp tù, lớp vào bệnh xá, lớp vào biệt giam, Chuồng Cọp.

        Ngày hôm sau, kíp tù thứ 2 cũng chịu đòn và không ai nỡ đào bới xương cốt đồng đội mình. Con số chống đào mồ cuốc mả, chống nội quy, chống tố cộng, chống chào cờ bị đưa vào chuồng cọp cuối năm 1961 đã lên tới 70 người.

        Trong lúc lực lượng tù chính trị câu lưu đang củng cố đội ngũ, đẩy mạnh đấu tranh chống địch thì Nguyễn Văn Hai (tự Quảng) phản bội. Hai Quảng là con một điền chủ ở Bạc Liêu, học đến tú tài, từng làm Bí thư nhiều tỉnh ở miền Tây Nam bộ, trước khi bị bắt là Thành ủy viên Sài Gòn - Gia Định. Quảng ra đầu thú tháng 10-1960, khai báo trên 30 cốt cán trong bộ phận trách nhiệm của tù chính trị câu lưu với toàn bộ hệ thống tổ chức từ Ban lãnh đạo trại đến các phòng giam, các chi nhánh Bến Đầm, Cỏ Ống, khai báo toàn bộ chủ trương, phương châm, biện pháp đấu tranh vươn lên kiến tạo lập trường khí tiết của tù chính trị.

        Vụ phản bội của Hai Quảng làm đổ máu hàng chục tù nhân cốt cán, làm cho các cuộc đấu tranh của tù chính trị đều bị địch khủng bố ngay từ khi mới nổ ra. Tù chính trị đối phó bằng cách phản cung, cô lập và bác bỏ hoàn toàn lời khai của Hai Quảng làm cho địch không tin hắn. Tiểu ban điều tra cho đối chất cũng không ai nhận. Hai Quảng nổi khùng xông vào đấm đá, cắn xé, bóp huyệt anh Trần Xuân Lê.

        Hai Quảng còn hiến kế cho địch Kế hoạch tranh thủ gồm 5 bước nhằm đánh gục hoàn toàn những người mang tư tưởng lừng chừng, xây dựng hạt nhân điển hình tố cộng và trừng phạt, ngăn chặn ảnh hưởng của số ngoan cố vẫn giữ lập trường cộng sản. Dấn sâu vào con đường tội lỗi, Hai Quảng làm bản phản tỉnh lần thứ nhất vào ngày 10-4-1961, phản tỉnh lần thứ 2 ngày 12- 4-1961 và lần thứ 3 ngày 15-4-1962, khai báo và vẽ sơ đồ 62 cơ sở tại Sài Gòn mà các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Trần Bạch Đằng, Huỳnh Tấn Phát, và nhiều cán bộ Thành ủy thường qua lại, khai báo lộ trình giao liên của Xứ ủy từ Sài Gòn đi Nam Vang.

        Mấy năm sau, Hai Quảng được trả tự do với điều kiện nhận làm mật báo viên cho Tổng nha cảnh sát và công an ngụy, rồi bị bỏ rơi vì không được việc. Nhục nhã vì thân phận của một tên phản bội, hắn tự sát sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng.

        Ngoài Hai Quảng, còn có vài tên phản bội, tình nguyện làm tay sai cho địch, trở thành trật tự ác ôn như Dương Thành Tâm, Lý Ngọc Phẩm, Võ Tâm Tư... Một số khác chừng vài chục người tham gia vào Ban chấp hành trại, Ban trật tự an ninh, Ban tố cộng, Ban văn nghệ với thái độ và mức độ chống cộng khác nhau.

        Nhúm người này bị chìm trong phong trào đấu tranh của hàng ngàn tù chính trị, kể cả những người đã từng sai lầm, vấp ngã. Chính nỗi đau đớn, dày vò cả về thể xác và tinh thần khi bị thất bại, sai lầm đã giúp họ sức mạnh để giành lại vị trí chính trị trên mặt trận đấu tranh trong tù.

        Công tác địch vận đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của tù chính trị. Các anh Phan Phước, Nguyễn Văn Hưởng, Nguyễn Tấn Thanh (tự Trạch), anh Yến được cài vào Ban trật tự từ nhiều năm trước đã giữ thế hợp pháp để hoạt động.

        Ban lãnh đạo tù chính trị cử anh Lê Văn Thả chỉ đạo bộ phận y tế chăm lo sức khoẻ cho anh em. Lê Văn Thả là kĩ sư điện tử, tốt nghiệp ở Pháp về, có nghiên cứu về y, dược. Kíp y tá có Phan Thanh Nhàn, Trần Tiên, Phạm Đồng, Lê An, Lê Bá, Lê Siêng, Huỳnh Văn Long (tự Hộ), Lê Trắc (tự Dậu), Nguyễn Văn Chung, Phan Chấp, Bùi Văn Tám, Nguyễn Ba (tự Long), Huỳnh Công Táng, Huỳnh Công Hải, Lê Thành Ân, Trần Thanh Chí phục vụ tại bệnh xá và một số người khác phục vụ tại các trạm xá trung tâm. Có người từng là y tá, cứu thương trong kháng chiến, có người mới học nghề y khi vào tù.

        Phan Thanh Nhàn là y tá cứu thương trong bộ đội Hoà Hảo nhưng tích lũy được nhiều kinh nghiệm và chịu khó nghiên cứu sách y học. Công chức, gác ngục gọi anh là “bác sĩ tù” khi anh xử lý thành công một ca đẻ khó, có nguy cơ dẫn đến tử vong cả hai mẹ con sản phụ. Nhờ ân tình từ ca bệnh ấy, thượng sĩ Nguyễn Viết Hội, trưởng trại Bác Ái đã tạo điều kiện cho Phan Thanh Nhàn và tổ y tế vào điều trị, cấp thuốc cho các chiến sĩ chống ly khai ở chuồng cọp.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #165 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2017, 02:34:34 pm »


        Được trưởng trại Nhân Vị Nguyễn Văn Liêu và Trưởng Ty y tế Lê Vân Trang đồng ý, tổ bào chế thuốc đã mượn các dụng cụ y tế huy động các loại nguyên liệu kiếm được trên đảo như cóc, khỉ, dê, huyết bò, huyết heo để bào chế thành filatov viên, hépathémo và nhiều loại thuốc bổ khác. Sau khi thử nghiệm thành công, tố bào chế đã cấp thuôc, cấp filatov dạng viên cho 400 tù chính trị. Trong quá trình điều trị chứng suy nhược cơ thế cho vợ Thượng sĩ Liêu, tổ điều chế đã cung cấp hàng ngàn liều thuốc bổ cho tù chính trị.

        Phan Thanh Nhàn còn nâng cao uy tín cho lực lượng y tế tù chính trị thông qua ca chữa bệnh đặc biệt cho Huỳnh Đại, một tù chính trị người Hoa. Huỳnh Đại là chủ sòng bạc Đại Kim Chung, nhà hàng Đại La Thiên, chủ khu Đại Thế Giới cùng nhiều cơ sở ăn chơi nổi tiếng trong giới tài phiệt ở Chợ Lớn. Đại bị tù trong đợt chính quyền Diệm tảo thanh Bình Xuyên vì tội cung cấp tài chính cho Bảy Viễn. Trải qua nhiều nhà lao, tất ca các chúa ngục đều nể Đại. Đại mắc một chứng bệnh nan y về đường ruột mà các bác sĩ của ngụy quyền đều không chẩn đoán được.

        Bằng tất cả kinh nghiệm thực tiễn và dày công học hỏi, Phan Thanh Nhàn phát hiện ra một viên sạn lớn đã tích tụ lâu năm trong ruột bệnh nhân và xử lý thành công, đẩy viên sạn trôi dần về phía hậu môn, gắp ra. Sau lần ấy, Huỳnh Đại tạ ơn cứu mạng, viết thư về nhà nhờ mua hàng trăm lọ Pénixinine và nhiều loại thuốc bổ tặng tủ thuốc của tù chính trị. Đại từ bỏ cả đặc quyền mà phó tỉnh trưởng Tăng Tư cho ở lại tư dinh, xin được vào trại ở chung với tù chính trị.

        Phan Phước tức Phan Đình Phước sinh năm 1926 tại ấp Dạ, núi Tròn, xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, con ông Phan Tuy và bà Bạch Thị Tôn. Nhờ có bản lý lịch suôn sẻ, là giáo viên chỉ tham gia liên lạc cho Việt cộng nên đã được bộ phận trách nhiệm cấy vào hàng ngũ trật tự từ những ngày ra đảo, chui sâu vào trật tự chuồng cọp. Anh giữ đầu mối liên lạc, tiếp tế rất quan trọng, góp phần đắc lực trong việc nuôi dưỡng, bảo vệ tính mạng các chiến sĩ chống ly khai ở chuồng cọp.

        Phan Phước là con thoi phối hợp chủ trương và hành động giữa lực lượng chống ly khai và lực lượng vươn lên kiến tạo lập trường khí tiết ở các trại. Do công tác yêu cầu tuyệt đối bí mật, anh phải chịu tiếng là phần tử ly khai, phản bội, làm tay sai cho địch. Đến ngày được trả tự do, trở về với đội ngũ, tiếng xấu còn mang theo cho đến khi anh ngã xuống trên chiến trường miền Trung. Phan Phước chỉ là một trong nhiều trường hợp thầm lặng hy sinh, chịu đựng những nỗi cay nghiệt trên mặt trận nhà tù thầm lặng ấy.

        Ở Côn Đảo còn có 50 tù nhân người Hoa mang quốc tịch Trung Quốc bị câu lưu vì tội chống chủ trương cưỡng bức nhập quốc tịch Việt Nam cộng hoà dưới chế độ Diệm. Ngoại trừ một vài trường hợp tham gia bộ máy trật tự, đàn áp tù nhân như Huỳnh Bắc, Lý Sanh, còn đại bộ phận đã tham gia mặt trận đấu tranh của tù chính trị. Họ có quan hệ tốt, giúp việc cho nhiều công chức, kể cả Phó Tỉnh trưởng Tăng Tư. Nhờ đó, số tù chính trị Hoa kiều đã thu thập được nhiều tin tức quý từ báo, đài và từ miệng các công chức, gác ngục.

        Năm 1961, Mỹ - ngụy đánh giá công tác cải huấn đã đạt được nhiều kết quả trong các nhà tù, kể cả Côn Sơn là nơi giam giữ các phần tử cứng đầu nhất. Những can cứu xét tội trạng không có gì nguy hiểm được đề nghị trả tự do. Hành động chống đối của họ được giải thích là do bị giam giữ lâu ngày nên sinh ra bất mãn. Hai đợt trả tự do số lượng lớn diễn ra vào tháng 7 và tháng 10-1961, 75 can cứu chống ký kiến nghị “tri ân Ngô Tổng thống” trước khi được trả tự do đã bị giữ lại Côn Đảo.

        Ngày 30-8-1962, địch chuyển 500 can cứu về đất liền, trong đó có 153 can cứu mãn hạn sẽ phóng thích vào dịp Quốc khánh ngụy (26-10) và 347 can cứu sắp mãn hạn, đưa về an trí tại Trung tâm Cải huấn Phú Lợi. Lực lượng tù chính trị Côn Đảo về Phú Lợi đã tạo ra một phong trào chống nội quy nhà tù sôi nổi, lôi kéo nhiều tù nhân ở Phú Lợi tham gia. Bị chuyển về Tân Hiệp (Biên Hòa), lực lượng tù chính trị đã trở thành hạt nhân đoàn kết và tranh đấu ở nhà lao này.

        Một bộ phận tù chính trị ở Côn Đảo về bị đưa đi làm ấp chiến lược ở Năm Căn (Cà Mau) đã tổ chức vượt ngục về kháng chiến. Một bộ phận khác được coi là “phần tử nguy hiểm” bị địch chuyển qua các nhà lao Tàng Thơ (Huế), Thanh Tân Ồ Ồ (Quảng Trị). Đi đến đâu, lực lượng tù chính trị Côn Đảo cũng tuyên bố chống chào cờ, chống nội quy, cổ vũ tinh thần tranh đấu của tù nhân các nhà lao ở đất liền. Sau cùng, ngụy quyền Sài Gòn đã gia hạn an trí, đày họ trở lại Côn Đảo (5-2-1964).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #166 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2017, 02:38:52 pm »


        Vươn lên khôi phục khí tiết, lập lại Trại I

        Từ tháng 8-1962, lực lượng tù chính trị câu lưu còn ở lại Côn Đảo đã phát triển cuộc đấu tranh kiến tạo lập trường khí tiết lên một giai đoạn mới. Đó là giai đoạn vươn lên quyết liệt, giành lại vị trí bảo vệ khí tiết, chống toàn bộ nội quy nhà tù.

        Chủ trương dùng bạo lực cách mạng, võ trang khởi nghĩa của Đảng ta và tin tức về phong trào cách mạng miền Nam từ khi có Nghị quyết 15 đến Côn Đảo làm cho tù chính trị rất phấn khởi. Bộ phận trách nhiệm của tù chính trị câu lưu chỉ đạo đẩy mạnh đấu tranh chống khố sai quá sức đi đôi với nâng cao nhận thức tư tưởng, sẵn sàng vươn lên chống toàn diện khi có điều kiện và chỉ đạo một đợt học chính trị trong toàn lực lượng, quán triệt sâu sắc các tài liệu: Đường lối cách mạng miền Nam, Chỉ thị bảo vệ khí tiết, Bôn quan niệm về nhà tù của Lênin, Sáu tiêu chuẩn đảng viên, Tám kinh nghiệm chiến đấu của Năm Anh.

        Tám kinh nghiệm do các anh Nguyễn Đức Thuận, Phan Trọng Bình cùng tập thể chiến đấu trong chuồng cọp tổng kết, phổ biến truyền miệng, trở thành bài học “nằm lòng” vô cùng quý giá cho lực lượng tù chính trị đang đấu tranh vươn lên. Nội dung cơ bản của Tám kinh nghiệm là: “Đặt lên hàng đầu nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ khí tiết; Thống nhất tư tưởng, ý chí và hành động;

        Đoàn kết chiến đấu; Biết tranh thủ, thuyết phục kẻ thù; Tránh bộc lộ lực lượng, hạn chế tổn thất; và kinh nghiệm quan trọng nhất là Quyết tâm - Quyết tử - Tự lực - Trường kỳ”.


        Không quán triệt sâu sắc khẩu hiệu này thì không bao giờ chiến thắng trên mặt trận bảo vệ khí tiết trong tù. Mỗi một từ, một ý trong Tám kinh nghiệm đều được từng nhóm tù nhân thảo luận thật kĩ, trân trọng và quán triệt như là học tập các nghị quyết của Đảng. Đợt học tập chính trị lần này mang tính chất dân chủ với tinh thần tự phê bình sâu sắc.

        Mặc dầu chưa thành chủ trương, tù chính trị câu lưu đã chống chào cờ dưới nhiều hình thức: khai bệnh, giả đau bụng, ngồi trong nhà cầu không ra chào, đòi đi làm khổ sai sớm trước giờ chào cờ, hoặc ra chào cờ không hô, không hát. Năm 1962 có kiểu chống chào cờ tập thể của những người bị thần kinh.

        Do bị tra tấn và truy bức tư tưởng nhiều năm, có hàng chục chính trị mang bệnh thần kinh nặng. Đến buổi chào cờ, khi trật tự hô “nghiêm” là những người này lên cơn động kinh té sấp, té ngửa, chân tay co giật, sùi bọt mép, mắt trợn ngược làm hàng trăm người khác phải xúm lại cấp cứu. Buổi chào cờ nào cũng rối loạn. Trưởng trại Nguyễn Văn Liêu quả quyết rằng số tù nhân này vờ động kinh để chống chào cờ, phá nội quy và đem nhốt tất cả vào xà lim, hàng ngày cho công an, trật tự tra khảo. Ba tháng liền theo dõi, trắc nghiệm tâm lý, cuối cùng chúng phải công nhận rằng họ bị động kinh thật.

        Chính sách “tố cộng” đã làm cho nhiều người đau đớn, bị dày vò đến ngơ ngẩn, mất hồn. Anh Trần Đình Hoa bị điên cứ đi lang thang các phòng. Gặp bọn công an, cải huấn là anh thét lên: “A, Ngô Đình Diệm đây rồi, mày giết vợ tao, mày ăn thịt con tao. Bây giờ tao giết mày”. Thế là anh lao vào chúng để cào cấu và lần nào cũng bị chúng đánh chết ngất.

        Sau này, trong Luận án Tiến sĩ y khoa, bảo vệ thành công năm 1972, bác sĩ Nguyễn Minh Triết đã gọi những căn bệnh thần kinh trong tù, bị kích động mạnh theo các phản ứng dây chuyền là bệnh Nộ Kinh. Các nhà y học có thể giải thích được hiện tượng suy nhược thần kinh, dẫn đến bệnh tâm thần do bị khủng bố, truy bức, hoặc do dấu tranh tư tưởng quá căng thẳng. Song có một điều mà bọn cai ngục không thể chấp nhận được là hầu hết những người mắc bệnh tâm thần ở Côn Đảo đều chống chào cờ ngụy, chống học tố cộng, đả đảo Ngô Đình Diệm, hoan hô Hồ Chí Minh. Trong lúc thần kinh rối loạn thì ý thức chính trị của họ lại rất tỉnh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #167 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2017, 07:10:52 pm »


        Theo bản báo cáo số 429/BQĐ/HC/01 ngày 12-10- 1962 của Ban quản đốc Trung tâm cải huấn, Côn Đảo khi ấy chỉ còn 499 tù chính trị câu lưu. Biên bản bàn giao ngày 16-7-1963 giữa cựu tỉnh trưởng Lê Văn Thể và tân tỉnh trưởng Nguyễn Văn Sáu cho biết, tổng số tù chính trị câu lưu khi đó là 519 người, bị giam ở Trung tâm cải huấn I, Thượng sĩ Nguyễn Văn Nghĩa làm trưởng Trung tâm, trung sĩ Ngô Thạnh Trị là trưởng an ninh trung tâm. Địch phân tán tù chính trị câu lưu, một bộ phận ở Trại IV (làm Nhà bếp và nội trợ), khoảng 60 người, còn đại bộ phận giam ở Trại III, bắt đập đá xây Trại V, cưỡng bức cả chủ nhật, gọi là ngày “cộng đồng”.

        Lực lượng tù chính trị câu lưu củng cố tổ chức, bước vào một thời kỳ đấu tranh mới, vươn lên khôi phục toàn bộ khí tiết. Anh Lương Chi quê Quảng Ngãi, nguyên là cán bộ tỉnh Plâycu, được tập thể tín nhiệm trong cương vị lãnh đạo chung. Anh Đỗ Hằng (Plâyku) được cử cùng Trần Thám (Bình Định) và một vài người có trách nhiệm soạn thảo tài liệu Vươn lên khôi phục toàn bộ khí tiết, gọi tắt là Vươn lên.

        Tài liệu được tổng hợp từ các cuộc thảo luận tập thể đã đúc kết khẩu hiệu đấu tranh lúc này là Toàn bộ khí tiết, nghĩa là không chỉ chống chào cờ ngụy, chống khẩu hiệu phản động nữa mà chống mọi thủ đoạn cưỡng bức tư tưởng, xúc phạm nhân cách tù chính trị. Tài liệu được những người có trách nhiệm truyền đạt, tố chức học tập và thảo luận theo từng nhóm, đến toàn thể tù chính trị câu lưu.

        Vấn đề tổ chức chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh dạo được đặt ra một cách bức thiết. Anh Lương Chi đã nhiều lần tha thiết đề nghị với số cán bộ có trách nhiệm ở các phòng về việc cần phải thành lập tổ chức Đảng làm hạt nhân lãnh đạo cuộc đấu tranh.

        Ngày 1-5-1963, trước hiên phòng 4, Trại IV, một bộ phận tù chính trị đã thành lập chi bộ mang tên Lê Hồng Phong, gồm: Lương Chi - Bí thư, Đặng Ngọc Cảnh - Phó Bí thư phụ trách tổ chức; Đỗ Hằng - ủy viên phụ trách tuyên huấn; Hoàng Phùng - ủy viên, đại diện đấu tranh. Chi bộ không kết nạp đảng viên mà chỉ tập hợp một số người theo nhu cầu lãnh đạo, giống như vai trò một cấp ủy. Các ủy viên khác có Trần Thám, Nguyễn Quýnh, Nguyễn Hài, tháng 10-1963 tập hợp thêm Nguyễn Thiện, Lê Quang Ba, Nguyễn Chấn, Bùi Dục. Tháng 12-1963 tập hợp Nguyễn Thành Tây. Chi bộ đề ra 3 nhiệm vụ trước mắt:

        - Củng cố nòng cốt ở các phòng giam, các kíp tù.

        - Tiếp tục đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ.

        - Chuẩn bị thực lực khi có điều kiện sẽ chống chào cờ.


        Các cuộc đấu tranh trong thời kỳ “Vươn lên khôi phục toàn bộ khí tiết” đã diễn ra hết sức quyết liệt. Bọn chúa ngục đã phản kích bằng mọi cách: phạt cấm cố, còng xiềng, xà lim, chuồng cọp, bỏ đói, xối nước lạnh, đưa về Ban an ninh tra tấn, khai thác tổ chức, phạt đòn từ 50 đến 100 roi...

        Nhiều thanh niên đã gan góc, xung phong đi đầu trong các cuộc dấu tranh chống học cải huấn, chống chào sĩ quan, chống lao công ngày chủ nhật cộng đồng và vươn lên chống chào cờ như Hồ Bồi, Nguyễn Xuân Ái, anh Tánh (ở Bình Định), Lê Quang Ba (ở Quảng Ngãi), Nguyễn Văn Mười tức Thương (Bình Thuận), Huỳnh Hà (Quảng Nam), Nguyễn Văn Sáu, Trần Văn Cam (Mỹ Tho), Trần Văn Tuân (Bến Tre). Các anh đã kiên cường chịu hàng chục hình phạt, hàng trăm trận đòn đến nát lưng, thịt rơi, máu đổ để duy trì phong trào, củng cố đội ngũ, vươn lên bảo vệ vị trí chính trị của người chiến sĩ cách mạng.

        Sáng 2-11-1963, được tin giới quân sự ở Sài Gòn làm đảo chính, chi bộ Lê Hồng Phong đã phát động cuộc đấu tranh chống hô khẩu hiệu phản động. Trại IV lúc đó có 450 tù chính trị. Phòng Nhà bếp có khoảng 60 người được chi bộ quyết định ở lại lo việc ăn uống và thông tin liên lạc. Số còn lại được huy động vào cuộc đấu tranh.

        Giờ chào cờ sáng 3-11-1963, địch bỏ khẩu hiệu “ủng hộ Ngô Đình Diệm” thay vào đó là “ủng hộ quân lực Việt Nam cộng hoà”. Trên 400 tù chính trị câu lưu đã không hô, không hát. Các anh Lê Quang Ba, Phạm Minh Sáu, Nguyễn Văn Tâm đứng ra tuyên bố không ủng hộ bất cứ tổ chức nào của chế độ Sài Gòn. Ba anh bị đưa vào chuồng cọp.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #168 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2017, 07:12:40 pm »


        Những ngày tiếp theo, địch đưa thêm 22 người nữa vào biệt giam. Trừ phòng Nhà bếp, các phòng còn lại đều bị cấm cố, bớt cơm, bớt nước uống, không cho tắm giặt. Gần một tháng bị cấm cố, các phòng trao đổi và quyết định đấu tranh bằng hình thức tuyệt thực. Các anh Đỗ Hằng, Tô Thành, Lê Quang Ngọc đã đặt ra mật mã (MORSE) để liên lạc. Bản mật mã được chia làm 25 ô (mỗi chiều 5 ô). Mỗi chữ cái trong ô ký hiệu bằng 2 chữ số theo hàng ngang, hàng dọc (a: 1-1; b: 1- 2; c: 1- 3...y: 5-5) các phòng cùng dãy nhận mật mã bằng cách gõ vào tường theo những nhịp ngắn dài của từng chữ cái, do mã khóa hàng ngang, hàng dọc quy định. Hai dãy phòng giam đối diện nhận mật mã bằng tín hiệu quạt lên quạt xuống.

        Sáng 22-12-1963, các phòng của Trại IV (trừ Nhà bếp) tuyên bố tuyệt thực đòi giải quyết các yêu sách:

       1. Giải tỏa cấm cố.

       2. Tự do tư tưởng, bỏ hô khẩu hiệu, bỏ chào cờ.

       3. Trả tự do cho tù chính trị câu lưu, trong lúc chờ đợi phải đưa tất cả về đất liền.

       4. Cơm ăn đủ no, có đủ thức ăn, có rau tươi, thịt cá.

       5. Đau ốm có thuốc chữa bệnh, được đi bệnh xá.

       6. Được bầu Đại diện phòng, Tổng Đại diện trại.


        Cuộc tuyệt thực nổ ra đúng vào đỉnh cao của cuộc khủng hoảng chính trị tại Sài Gòn làm cho ngụy quyền , Côn Đảo rất hoang mang. Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Sáu chọn giải pháp nhượng bộ tù chính trị để rảnh tay đối phó nội bộ. Sáng 25-12-1963, Nguyễn Văn Sáu chấp nhận phần lớn yêu sách, bỏ khẩu hiệu huấn chính lúc chào cờ, cho tù nhân được tự do tư tưởng, cải thiện đời sống, cho bầu Đại diện và Tổng Đại diện, riêng việc trả tự do và đưa về đất liền phải chờ ý kiến của Sài Gòn. 1 Cuộc đấu tranh hoàn toàn thắng lợi, đạt được các yêu cầu mà chi bộ đã đề ra.

        Ngày 27-12-1963, lần đầu tiên trong lịch sử Nhà tù Côn Đảo, cuộc bầu cử dân chủ, công khai của tù chính trị đã diễn ra tại sân Trại IV, trước sự chứng kiến của Ban Quản đốc. Anh Nguyễn Văn Thọ quê Bến Tre được bầu làm Tổng Đại diện. Anh Thọ chuyển bệnh chết đột ngột (14-1-1964), toàn thể tù chính trị Trại IV đã tổ chức lễ truy điệu trọng thế rồi đưa anh về nơi an nghỉ. Hồ Sĩ Phan (ở Quảng Trị) được tập thể tín nhiệm giữ cương vị Tổng đại diện.

        Sau khi lật đổ Diệm, Hội đồng quân nhân cách mạng đã ra sắc lệnh phóng thích tất cả những người bị tù vì chống chính quyền Ngô Đình Diệm từ 7-7-1954 đến 31-10-1963, trừ tù chính trị cộng sản. Anh Hà Minh Trí, dưới danh nghĩa lực lượng võ trang giáo phái Cao Đài, được Trung tướng Mai Hữu Xuân, Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia của Nội các mới đề nghị phóng thích ngay vì “thành tích ám sát hụt Ngô Đình Diệm”. Nhân dịp này, tù chính trị bị giam giữ lâu ngày trong các nhà tù cũng đấu tranh đòi tự do.

        Tháng 1 năm 1964, bốn chiến sĩ trực diện chống ly khai: Nguyễn Đức Thuận, Phan Trọng Bình, Phạm Quốc Sắc, Lê Văn Một được đưa về đất liền để phóng thích. Anh Nguyễn Minh được chuyển về đất liền và được tự do trước đó. Năm Anh đã toàn thắng trở về, nhưng gương chiến đấu và chiến thắng của các anh còn toả sáng trong cuộc đấu tranh vươn lên bảo vệ khí tiết của tù chính trị Côn Đảo. Thay chỗ năm Anh tại Chuồng Cọp là đội ngũ tù chính trị chống chào cờ ngày càng đông đảo.

        Ngày 20-1-1964, ngụy quyền phản kích, chúng đưa lực lượng đàn áp đến bắt tù chính trị câu lưu phải chào cờ ngụy. Tất cả đều nhất loạt phản đối. Địch cho bọn trật tự xông vào đánh đập, đưa 25 người vào biệt giam chuồng cọp, 38 người bị cấm cố tại phòng 8 và 100 người đưa về cấm cố tại Hầm Đá Trại II và Trại III.

        Ngay trong lúc địch đàn áp và thanh lọc, Chi bộ Lê Hồng Phong hội ý cấp tốc, nhận định đây là âm mưu phân tán mỏng, cách ly lãnh đạo, hạn chế đấu tranh, chia cắt lực lượng để dễ bề đàn áp, tước đoạt thành quả đấu tranh. Chi ủy phân công Trần Thám, Lê Quang Ba, Nguyễn Quýnh xen vào lực lượng địch phân tán để lãnh đạo anh em. Chủ trương của chi bộ là dù địch phân tán đi đâu, thực hiện những thủ đoạn khủng bố nào cũng phải kiên định mục tiêu khôi phục toàn bộ khí tiết.

        Tại hầm đá và chuồng cọp, địch nhốt chật gấp ba lần ngày thường, còng chân, đánh đập, cưỡng bức chào cờ. Lực lượng tù chính trị câu lưu bị giam ở đây đã tuyệt thực để phản đối khủng bố, đòi tự do tư tưởng, không chào cờ ngụy, không hô các khẩu hiệu huấn chính. Sau 5 ngày tuyệt thực, địch nhượng bộ, trả lại đồ dùng cá nhân, cho ra tắm giặt, sinh hoạt bình thường, hứa sau tết âm lịch sẽ trả về trại cũ.

        Sau 73 ngày đấu tranh quyết liệt, ngày 4-4-1964, địch phải trả toàn bộ tù chính trị câu lưu bị phân tán ở Chuồng Cọp, Hầm Đá Trại II, Trại III về Trại IV và đổi tên Trại IV thành Trại I, với ý nghĩa là Trại cộng sản trước đây, Trại cứng đầu, không thế khuất phục được, chỉ có thể “xây thêm nhà lao để giam giữ họ suốt đời”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #169 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2017, 09:32:04 pm »

        
        Liên chi Đảng bộ tù án

        Khi thực dân Pháp bàn giao cho ngụy quyền Sài Gòn, Nhà tù Côn Đảo chỉ còn lại tù án mà đa số là tù thường án. Theo báo Tiếng Chuông xuất bản tại Sài Gòn ngày 19-3-1956, “Côn Đảo có 600 tù nhân với 120 gia đình công chức (500 nhân khẩu), không có thường dân, không có chợ búa. Việc tiếp tế do tàu Cửu Long và tàu Đồng Nai đảm nhiệm. Sở rẫy An Hái có đến 50 tù nhân làm việc mỗi ngày, sản xuất rau tươi cho đảo. Sở Lưới hàng ngày đánh cá chia cho công chức, Sở Chăn nuôi có vài ngàn con bồ câu, mỗi tuần bán cho công chức hai lần, giá 5 đồng một con".

        Tháng giêng năm 1956, chính quyền Sài Gòn đã cử một phái đoàn cao cấp ngành Tư pháp do Biện lý Lưu Đình Diệp dẫn đầu ra Côn Đảo nghiên cứu. Cùng đi có vị giáo sĩ người Mỹ và hai giám mục: Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi.

        Dưới thời Quản đốc Hồ Chí Thiền, nhân số tại đề lao đã tăng lên 674 vào ngày 14-12-1956, có 70 giám thị trông coi. Hai năm 1957-1958, số lượng tù án tăng không đáng kể. Từ khi Ngô Đình Diệm ra Luật 10/59 (tháng 5- 1959), số tù án bị đưa ra Côn Đảo ngày càng đông. Theo Báo cáo số 467/NA/TTHC/CS/ M ngày 25-11-1959 của Tỉnh trưởng Côn Sơn, “tính đến ngày 25-10-1959, Trại Cải huấn có 1.456 tù án, phân loại như sau: thường phạm: 600; thường phạm thuộc toà án quân sự: 16; quân phạm thường án: 198; quân phạm chính trị: 147; chính trị phạm: 484; tử hình: 10; giam cứu (Toà Biện lý Sài Gòn gửi): 1; trong thảng, trại cải huấn chết 2. Nhân số hiện hữu tính đến 25-11-1959 là 1.454 người".

        Những năm sau, số lượng tù án tăng dần, kể cả án tử hình, phần nhiều là tù chính trị. Dưới đây là số liệu tù án trong các báo cáo của nhà tù:
        
Ngày          Án tù          Số     tử hình           tử hình      
thángTổng số tù chính trị        Tổng sốtù chính trị
26-6-19601.888799104
21-7-19612.6101.2585944
15-8-19623.3481.794165127
16-9-19633.4691.908205166

        Trong khi tập trung lực lượng truy bức tư tưởng, triệt hạ khí tiết tù chính trị câu lưu thì ngụy quyền chỉ áp dụng chế độ khổ sai đối với tù án. Từ năm 1960, sau khi giải quyết một số lớn tù chính trị chống li khai ở Trại I, địch thành lập Trung tâm cải huấn 2 giam tù án và bắt tù án cũng phải học tố cộng vào buổi tối, với mức độ chiếu lệ so với tù chính trị câu lưu. Hoạt động và tranh đấu của tù án chính trị dưới thời Ngô Đình Diệm còn ở mức độ thấp, với các yêu sách giảm nhẹ khổ sai, cải thiện đời sống, chưa chống các thủ đoạn chính trị của địch.

        Lực lượng tù án kế thừa kiểu tổ chức của tù nhân kháng chiến (1946-1954). Sau 3 đợt trao trả tù binh, tù chính trị, đến tháng 3-1955, Côn Đảo còn lại 59 người kháng chiến không được trao trả, cùng với hơn 600 tù án tư pháp (thường phạm). Anh Nguyễn Vãn Mẹo được cử làm Bí thư Liên chi ủy, kiêm Chủ tịch Liên đoàn tù nhân kháng chiến, phụ trách số chưa được trao trả.

        Lớp tù án chính trị bị chính quyền Ngô Đình Diệm đày ra sau này đã được kết tập vào Liên chi Đảng bộ tù án do Lê Minh Nê làm bí thư. Mục đích của tổ chức Liên chi Đảng bộ tù án là:

        1. Tập hợp tất cả các đảng viên để sinh hoạt giữ vững tư thế, tác phong đạo đức của người cách mạng, hun đúc tinh thần chiến đấu bất khuất.

        2. Nêu cao tinh thần đoàn kết, tương thân, tương trợ nhau trong hoàn cảnh lao lý.

        3. Đấu tranh với nhà cầm quyền đòi dân sinh dân chủ, cảm hóa các phần tử đối lập.

        4. Lợi dụng thời cơ thuận tiện của tình hình bên ngoài sẽ đứng lên cướp chính quyền, tự giải phóng.


        Tháng 5-1961, Liên chi Đảng bộ tù án củng cố lại, gồm 7 chi bộ. Hồ Văn Nai làm Bí thư Liên chi, Trần Văn Tấn làm Phó bí thư, Nguyễn Văn Vương là ủy viên thường vụ, tổng số đảng viên kết được kết tập trên 50 người. Liên chi tổ chức ra Liên đoàn tù nhân giải phóng, do Trần Văn Tỵ (tự Xuân) là Trưởng ban chấp hanh, với 14 ủy viên. Tháng 4-1961, Trần Văn Tỵ mãn án, giao lại cho Nguyễn Trường Can (tức Thái Hoàng Ân) làm Liên đoàn trưởng. Nhiệm vụ của Liên đoàn là: "Phát triển cơ sở trong mọi tầng lớp tù theo đường lối cách mạng miền Nam, chuẩn bị thực hiện, tiến tới tổng phản công, cướp chính quyền”.

        Ngụy quyền Côn Đảo khá thành thạo trong việc dùng tù trị tù. Ban an ninh của nhà tù tố chức một mạng lưới an ninh, tình báo cài vào khắp các phòng giam, các kíp tù khổ sai để theo dõi, kìm kẹp mọi hoạt động của tù nhân. Bản báo cáo số 30/CS/TTCH II ngày 15-8-1962 của Giám thị trưởng Trung tâm cải huấn II cho biết, trong số 3348 phạm nhân thành án, có 460 phạm nhân được tuyển vào Ban an ninh, trong đó trật tự nội trại là 223, trật tự biệt phái là 205, tình báo là 32.

        Báo cáo còn đánh giá về hoạt động tình báo, mật báo như sau: “Trung tâm đã lựa chọn số can phạm giác ngộ hạnh kiểm tốt, xây dựng thành một hệ thống mật báo viên chìm để giúp ích cho việc ngăn chặn và hủy diệt ngay các âm mưu vừa chớm nở của số phạm nhân ngoan cố”.

        Vụ việc mà bản báo cáo nói trên đề cập đến chính là do Ban tình báo phát hiện ra tổ chức Liên chi Đảng bộ tù án và Liên đoàn tù nhân giải phóng (tháng 5- 1962). Nội vụ kéo dài cho đến cuối năm 1962 mới kết thúc. Theo công văn số 101/AN/M ngày 26-12-1962 của Ban an ninh Trung tâm cải huấn II, trong vòng 6 tháng, chúng đã bắt đi điều tra khai thác 140 tù nhân thuộc hai tổ chức nói trên, tất cả đều bị đưa vào biệt giam, 4 người đã chết trong quá trình điều tra, 339 người khác đã bị khống chế và vô hiệu hóa.

        Đây là vụ tổn thất lớn, gây hiệu quả nghiêm trọng. Các thành viên trong tổ chức khi mãn hạn cấm cố đã nghiêm khắc tự kiểm điểm, rút kinh nghiệm về tổn thất đau xót này1.

------------------
       1. Các thành viên trong tổ chức “Đảo ủy” và Liên đoàn tù nhân đã tự kiểm điểm và thống nhất với nhau 2 điểm: một là giải thế hai tổ chức này; hai là tất cả những thành viên trong hai tổ chức này, từ nay về sau tuyệt đối không được tham gia các tổ chức của tù chính trị với tư cách là người lãnh đạo, chỉ được tham gia với tư cách một chiến đấu viên.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM