bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2017, 03:21:38 am » |
|
Tác giả: Gyorgy Falus & Gabor Jozsef
Thể loại: truyện phản gián Hungaria
Chương I Ban đêm, phòng đợi dành cho hành khách của sân bay Pherissen ở gần Budapest thường vắng vẻ nên hành lang dường như càng trống trải. Bãi đỗ xe ôtô bus trước nhà ga lại càng trống vắng và mênh mông hơn. Quá nửa đêm ở đây chỉ có một vài chiếc máy bay đưa thư đậu, ngoài ra không còn loại máy bay nào khác. Việc bốc dỡ hàng chỉ chiếm mất rất ít thời gian và người bưu tá hàng không lại tiếp tục cuộc hành trình của mình. Những ngọn đèn pha báo hiệu trên tháp, nơi có điều độ viên chính đang ở, với một phần tư độ sáng, chỉ rực lên trong chốc lát cho các máy bay cất cánh hoặc hạ cánh. Thật ra chung quanh đường băng lên xuống được bảo vệ bằng một mạng đèn dày đặc có độ sáng cực mạnh và sáng suốt đêm nhưng chúng chỉ hướng lên bầu trời. Nhân viên trực ca đêm từ lâu nay đã bị tinh giản tới mức độ chỉ còn lại ít nhất. Vì không có hành khách nên những cuộc gặp gỡ và đưa tiễn cũng không. Bởi vậy sân bay như chìm trong im lặng.
Thế nhưng vào đêm mùng 7 tháng 8, toàn cảnh ở đây trông có vẻ không giống với những gì đã miêu tả ở trên. Khi những chiếc kim của chiếc đồng hồ lớn treo trên tường đã chỉ sang giờ thứ hai và tòa nhà của ga hàng không ngập tràn ánh sáng, người ta thấy rất đông nhân viên phục vụ kíp đêm đã có mặt tại nơi làm việc của mình. Những tiếng va chạm khe khẽ phát ra từ vô số ly tách cà phê mà họ đang uống để chống lại sự mệt mỏi khi họ gặp nhau – với họ, những cuộc gặp như vậy cũng đã khá nhiều – và cùng bực dọc đưa mắt nhìn lên bảng điện báo, ở đó sáng lên một cách lì lợm độc một dòng chữ:
“ Chuyến bay MA – 424, Frankfurt – Budapest – và sau đó, ở cột cuối viết mấy chữ to hơn, – ĐẾN CHẬM”.
Gặp nhau chỉ tổ buồn rầu, một số đến ngồi vào những chiếc ghế fauteuil, số khác đi lại vẩn vơ trong phòng hoặc đến đứng cạnh tấm biển điện báo. Mặc dầu có “ Bản thông báo”đã ghi phía sau bàn điều khiển song họ cũng không biết gì hơn, vì những cô gái mặc đồng phục màu xanh đã tỏ ra mệt mỏi do phải giữ lịch thiệp để lặp đi lặp lại mấy câu:
-Vâng, đúng đấy ạ! Chuyến bay đến chậm. Không, không phải tại tôi. Công nhân viên chức làm việc ở sân bay tại Frankfurt đã tuyên bố bãi công… Khi nào bay ấy à? Xin lỗi, cho đến lúc này cũng chưa thể biết gì hơn…
Lúc ấy, hai người đã cao tuổi, có lẽ là hai vợ chồng vừa đến kịp chỗ quầy bán vé. Người đàn bà khoảng dưới bảy mươi tuổi, còn người đàn ông trông có vẻ già hơn. Nhẫn nại chờ cho đến lúc cô nàng xinh đẹp với chiếc mũ ca –lô trên đầu ngồi trịnh trọng sau chiếc bàn chỉ dẫn chú ý đến mình, người đàn bà hỏi: -Xin làm ơn cho biết, máy bay từ Frankfurt…
-Thật đáng tiếc, máy bay đến muộn, – không đợi nghe hết, cô gái vội cắt ngang lời bà lão. – Xin mời bà hãy theo dõi tấm bảng báo – làm ra vẻ mệt mỏi, cô gái chỉ tay về phía bức tường. – Công nhân và viên chức toàn bộ các sân bay của FRG ( Cộng hòa Liên bang Đức) đang bãi công. Đây là cuộc bãi công “cao su”… - “ Cao su” ư ? – Bà lão tròn mắt.
-Vâng, đây là một hình thức mới. Các chuyến bay không hủy bỏ, công việc vẫn chạy nhưng chỉ có điều là chậm lại gấp đôi. Nó cứ kéo chằng ra như cao su.
Trong cái lồng bằng kính của phòng điều độ chính được xây cao khỏi mặt đất, người trưởng ca và những người giúp việc cho ông ta cũng không rời mắt khỏi màn ảnh. Nhưng hệ thống radar không có hoạt động thông báo gì. Mãi sau cùng, trên màn ảnh mới thấy thoáng qua cái gì đó.
-Hình như nó đang vào khu vực! – Người trưởng ca thở phào nhẹ nhõm.
-Rất đúng lúc, – kỹ sư quan trắc đáp lại, mắt vẫn không rời màn ảnh. – Quả là vượt kỷ lục: chậm vừa đúng 3 giờ 40 phút.
Từ xa, loa phóng thanh như sống lại và bắt dầu liên hệ với đài điều khiển ở gần bức tường. Cơ trưởng báo cáo máy bay đã vào khu vực, đề nghị tọa độ và xin phép được hạ cánh.
Trên tấm bảng báo trong phòng chờ nhấp nháy đèn báo hiệu màu xanh, những chữ cái bằng đèn điện tử chạy qua hợp thành những từ: “ CHUYẾN BAY MA – 424, FRANKFURT – BUDAPEST, ĐANG ĐẾN…”.
Mọi sự chờ đợi coi như kết thúc. Những người gặp mặt, những công nhân khuân vác như được sống lại trong khi nhân viên hải quan và các nhân viên trực ban lại thở dài. Sự kích động thần kinh và những nỗi bực dọc vụt biến mất. Một số người vội vàng đến trạm điện thoại tự động để báo tin cho những người ở nhà biết là họ sắp về nhà, số khác thì ra ngoài hành lang vừa hút thuốc vừa nhìn lên bầu trời đen cao thăm thẳm hoặc dán mắt vào đường viền sáng ánh đèn của đường băng.
Từ trên cao, tiếng ầm ầm của động cơ ngày càng rõ hơn. Đã có thể nhìn thấy ánh đèn báo hiệu màu đỏ nhấp nháy ngày càng đến gần ở mũi và phân nửa con chim sắt. Rồi có tiếng ầm ầm va chạm của càng máy bay, sau đó một chiếc máy bay đồ sộ lướt nhẹ trên đường bê – tông với tốc độ giảm dần. Sau đó nó quay ngược trở lại, lăn bánh đến nơi quy định và dừng hẳn. Bằng đôi tay cần mẫn người ta điều khiển chiếc cầu thang tự động lướt nhẹ đến con chim sắt khổng lồ.
Cửa khoang hành khách đã mở. Từ trong đó lần lượt bước ra cả thảy tám hành khách. Cuối cùng, theo cầu thang bước xuống là một người đàn ông tầm thước trạc bốn mươi tuổi. Ông ta đeo trên vai hai máy ảnh, tay xách chiếc túi du lịch loại trung bình.
Việc ghi phiếu ở trạm kiểm dịch chỉ chiếm mất một vài phút, sau đó hành khách tiếp tục đi đến chỗ kiểm tra hộ chiếu. Ở đây thủ tục diễn ra cũng nhanh như ở chỗ kiểm dịch. Người ta chỉ nhìn hành khách, nhìn vào tấm hộ chiếu đã mở sẵn có dán ảnh chủ nhân của nó và ngay lập tức đóng dấu chứng nhận được phép nhập cảnh vào lãnh thổ của nước Cộng hòa nhân dân Hungary với đầy đủ các mục chỗ ở, ngày tháng năm. Vẫn như lúc vừa xuống máy bay, người đàn ông với những chiếc máy ảnh vẫn bám theo sau đoàn. Bước đi ngập ngừng và cái nhìn do dự chứng tỏ ông không phải là người quen thuộc đối với những nề nếp sinh hoạt của sân bay này. Việc kiểm tra quá cảnh đối với ông ta cũng không lâu gì hơn so với những người khác. Tầm vóc trung bình, hơi gầy, tóc màu hạt dẻ, mắt nâu, mũi thẳng, môi mỏng. Dấu hiệu đặc biệt không có. “ Xin mời đi qua”. Theo sự sắp đặt của sở Hải quan khi phân loại hành lý của hành khách, những chiếc va ly được di chuyển theo băng chuyền. Nhưng người khách lạ, thay vì đứng đợi hành lý của mình lại bước thẳng đến cánh cửa, nơi có một bóng đèn đỏ đang cháy sáng. Anh nhân viên hải quan trong bộ đồng phục chặn ngang đường và chìa cho ông ta tờ giấy kê khai, lịch sự trỏ vào chiếc máy ảnh – Cần phải ghi thêm nó vào bản khai mẫu. Người khách lạ nhanh nhẹn điền vào tờ giấy, nhưng ở cột cuối mục nói về máy ảnh nhập vào té ra không phải hai mà có đến ba tên gọi. Nhân viên hải quan cầm lấy tờ giấy, nhìn vào máy ảnh rồi rà soát lại số hiệu. Đây là hai chiếc máy ảnh tuyệt hảo mang nhãn hiệu Minolta, mỗi máy đều có ống kính tele và ống kính macro. Tất cả đều chính xác. Nhân viên hải quan chỉ tay vào một phần ba dòng chữ, đưa mắt có ý hỏi. Người ngoại quốc thò tay vào túi và lấy ra một máy ghi âm nhỏ xíu. Kích thước của chiếc máy ghi âm ấy chỉ lớn hơn bao diêm chút đỉnh.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #1 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2017, 12:18:47 am » |
|
Nhân viên hải quan lấy làm ngạc nhiên bởi sự kỳ diệu của máy móc, như thể lần đầu tiên anh ta mới nhìn thấy một cái máy như thế. Anh ta nhìn xuống tấm thẻ hộ chiếu của người khách, chỗ đã có tờ kê khai kẹp bên trong. “Người Ý” – nhân viên hải quan thầm nhận xét. Anh ta ra hiệu yêu cầu được mở máy ảnh ra. Vị khách lạ liền mở cả hai ngăn lắp phim. Chúng đều trống rỗng. Tiếp đó vị khách mở cả dây kéo chiếc túi xách của mình và đưa đến gần anh nhân viên hải quan, chỉ vào cuộn phim màu “Agra” còn nguyên cả giấy bọc của nhà máy sản xuất. Bằng nét mặt và cử chỉ, người Ý này giải thích rằng ông ta đã hiểu rất rõ và đã chấp hành một cách nghiêm chỉnh quy tắc đã đề ra: trên máy bay ông ta đã không hề sử dụng đến máy ảnh. Cả hai bên: anh nhân viên hải quan và người Ý đếu lấy làm mãn nguyện, và trong khi người Ý sắp xếp lại đồ đạc của mình thì anh nhân viên hải quan đóng dấu thị thực vào bản kê khai và hoàn tất mọi thủ tục – đúng như bản chỉ thị đã hướng dẫn từ trước. Người khách bước ra khỏi phòng chờ. Không có một ai ra đón ông ta cả. Ông ta do dự nhìn quanh và đi về phía có tấm biển ghi “Cho thuê xe hơi”. Sau bàn giấy có hai người đang ngồi, nét mặt tỏ vẻ hết sức mệt mỏi – người đàn ông mập mạp chừng 50 tuổi và trước mặt ông ta là một chàng trai trẻ mặc quần áo đồng phục lái xe du lịch của hãng Volan . -Bonacera! – Người khách chào bằng tiếng Ý và chìa ra bức điện tín cho người lớn tuổi – nhân viên ban quản trị – xem. -Tôi là Victorio Carrini, – người Ý tự giới thiệu và vẫn tiếp tục nói bằng thứ tiếng của nước mình. – Tôi muốn đặt thuê một chiếc xe hơi. Đây là bức điện tín đã được chứng thực rằng, đơn đặt hàng đã được chấp nhận. -Si, si! – Người đại diện của hãng Volan mệt mỏi gật đầu. Ông ta thỏa mãn với sự hiểu biết về mấy tiếng Ý này của mình, nếu không ông ta đã đọc thêm mấy tiếng “No, no” – Ông ta nhìn bức điện tín và nói với người thanh niên mặc bộ combination[1]. -Khách hàng của cậu đấy ! Bám lấy ông ta đi ! Chàng trai trẻ đứng dậy và đặt lên bàn hai chiếc chìa khóa xe hơi – một dùng để mở công tắc điện và một dùng để mở cửa xe. Nhưng khi người Ý vươn người lên theo, anh ta liền đưa tay ra phía trước có ý ngăn lại. Và với bộ mặt làm ra vẻ rất trịnh trọng, anh ta tuyên bố: -Yêu cầu đưa trình bằng lái xe ! Lời yêu cầu này thể hiện sự nhận thức cao về trách nhiệm trong việc phục vụ nguời nước ngoài kết hợp với lợi ích kinh tế của nước cộng hòa nhân dân – Phải nộp ngoại tệ. -A hà, giấy chứng nhận ! – Người Ý đã hiểu ra và thò tay vào túi. Việc xuất trình giấy chứng nhận coi như đã được “nghiên cứu” một cách kỹ lưỡng và kết cục là những chiếc chìa khhóa đã chuyển sang tay người khách. -Tiền thuê xe hơi sẽ thanh toán qua đường điện báo sau năm ngày đêm, – nguời cao tuổi giải thích, nhưng thấy Carrini một lần nữa tỏ ra không hiểu nên ông phẩy tay ra hiệu cho đồng nghiệp của mình dẫn khách ra xe. Chàng trai trẻ trong bộ đồng phục áo liền quần đi về phía lối ra, nhân tiện nói khi họ vừa khuất: -Anh hãy ra lệnh cho họ giữ ôtô bus lại. Ngữ ấy thì tôi cũng chẳng ham, đó là điều chắc chắn. Sáng ngày mai tôi sẽ giải thích lý do tại sao. Tóm lại, đúng là một thứ mít đặc[2]. Carrini thản nhiên đi đằng sau người dẫn đường, đầu hơi cúi xuống và mỉm cười: tiếng Hungary thì gã hiểu rành rẽ đến từng chữ một. Từ trong hãng Volan ra, chàng trai trẻ dẫn gã người Ý tới chiếc xe mới tinh mang nhãn hiệu “ Fiat – 128” và ân cần mở cửa xe cho gã. Carrini xếp số hành lý ít ỏi của mình lên chỗ ghế ngồi ở phía sau và trước khi ngồi vào sau tay lái, gã hỏi: -Đến trung tâm thành phố phải không? Người dẫn đường khoát tay chỉ về phía thành phố. Lúc ấy gã người Ý rút từ trong túi ra 5 USD đưa cho anh chàng. Chàng trẻ tuổi kinh ngạc, dập gót giày đánh cộp một tiếng và chào theo kiểu quân sự. “Coi kìa, chơi bảnh không – anh ta nghĩ bụng – những 5 USD trà thuốc!â€
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #2 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2017, 12:20:21 am » |
|
Trở lại xe, gã chui vào bên trong nhưng chưa sập kính cửa xuống vội. Mở nắp chiếc va –ly màu vàng, gã thấy trong đó có một vài chiếc áo sơ –mi, mấy chiếc cravate và một bộ đồ ngủ. Nhìn hú họa vào số đo in trên cổ áo, gã thấy size của chiếc áo là 40. Carrini huýt sáo một cách mãn nguyện. Quả đúng là số áo của gã. “Họ hành động rất chuyên nghiệp” – gã tự nhủ. Trước khi “từ chỗ ấy” ra đi, Carrini đã tỏ ra hết sức lo lắng. Đã hai mươi năm trôi qua kể từ ngày gã rời xa tổ quốc. Từ đó đến nay, ở đây đã thay đổi những gì. Làm thế nào để che giấu và bảo đảm được sự an toàn của gã trước mọi người, theo như nhiệm vụ mà vì nó, gã đã tới Budapest? Nhưng lo lắng như thế này thì có vẻ như là chuyện tầm phào, cũng giống như là sự chính xác của số đo ở cổ mấy chiếc sơ –mi mà thôi, cứ yên tâm. Phải, họ quả là lo xa và cẩn trọng, đối với họ chẳng có gì là không đáng quan tâm cả. Bảo đảm an toàn tuyệt đối mà. Lương lại cao nữa. Công việc này rất quan trọng, rất cốt yếu vì nó đã được giao cho chính gã. Carrini vốn xuất thân là thợ chụp hình. Và, mặc dù nhiệm vụ không có gì là nguy hiểm, họ cũng đã đền đáp cho gã nhiều, rất nhiều. Gã người Ý thọc tay xuống dưới lớp quần áo, sờ soạng dưới đáy chiếc va –ly, nơi có một chỗ hơi gồ lên. Gã ấn nút. Từ ngăn đựng quần áo và lớp đáy rơi ra một cuốn băng cassette nhỏ xíu, loại dùng cho máy ghi âm của gã. Gã liền lắp băng cassette vào máy rồi cho xe rời khỏi chỗ đậu và lượn một vòng rộng, sau đó cho xe chạy theo đại lộ Racossi. Chính vào thời điểm đó, chiếc Renault màu xanh phóng vụt qua. Carrini không kịp nhận ra ai ngồi sau tay lái nhưng gã hiểu rằng người ta đang kiểm tra gã… “Cứ việc mà kiểm tra, – gã nghĩ – chẳng có gì đe dọa được ta hết. Trái lại…”. Vẫn tiếp tục cho xe chạy theo đại lộ Racossi, Carrini bật máy ghi âm. Ngay từ phút đầu trong máy chỉ phát ra những tiếng xào xào rất nhẹ, sau đó, bất thình lình Carrini phải giật mình vì giọng nói của một người đàn ông: “Đã dành sẵn cho anh một phòng trong khách sạn Budapest. Số phòng là 365. Đối diện với cửa phòng là cầu thang để sử dụng mỗi khi có việc bất trắc xảy ra. Anh sẽ nhận được phiếu ủy nhiệm vào ngày mai từ người phụ trách. Không được nói tiếng Hungary. Coi như anh chưa từng bao giờ ở Hungary hết. Hãy tránh xa mọi chỗ người ta có thể nhận ra anh. Anh không có quyền mạo hiểm. Tài liệu, sau một ngày phải bỏ lại vào chiếc tủ tự động để ở nhà ga. Mỗi lần anh hãy thay đổi va –ly. Không được sử dụng vũ khí ngay cả khi chỉ nhằm mục đích tự vệ. Nếu có đem theo súng, hãy cất ngay vào va –ly và bỏ nó trong chiếc tủ ngay vào ngày mai, không được chậm trễ. Địa chỉ khâu trong cổ chiếc áo sơ –mi ca –rô. Anh hãy học thuộc lòng chúng rồi hủy mảnh giấy ghi ngay. Ngày mùng 3 tháng 6, anh cần phải đem những tài liệu cuối cùng trở về. Những tài liệu của anh được lấy đi đều đặn từng ngày một. Hãy cố gắng khám phá tài liệu trên những bức ảnh dành cho anh. Phải xóa ngay lập tức băng gốc này, không được đem ra khỏi xe hơi và ghi nhạc thay vào đó. Anh phải rà soát lại xem băng có chỗ nào bị nhòe tiếng không? Anh đã nghe chỉ thị của sếp rồi đó”. Carrini quay trả băng và nghe lại một lần nữa, ghi nhớ nguyên tắc và những điều cấm kỵ. Rồi gã rút ra chiếc micro nhỏ cỡ bằng hạt đậu lắp vào máy ghi âm và dò tìm tần sóng đang phát nhạc nhẹ trong chiếc máy thu thanh gắn trong xe hơi và tiến hành ghi nhạc vào đấy. Lúc này chiếc Fiat đã chạy đến quảng trường mang tên Moscow. Phía trước đường cáp chuyền toa của nhà ga, một chiếc đèn tín hiệu giao thông màu đỏ đang bật sáng. Dừng xe lại, Carrini nghe thấy tiếng xè xè nho nhỏ – cuốn băng đã ghi xong. Quay xe trở lại chỗ đậu ở cạnh khách sạn Budapest, Carrini tắt máy xe. Trong bầu không khí yên tĩnh, gã nghe lại một lần nữa toàn bộ cuốn băng. Lời huấn thị đã biến mất, thay vào đó là tiếng nhạc vang lên.
Chương II Viện trưởng Bela Imre luôn luôn cho rằng đặc trưng rõ nét nhất đối với bất cứ xí nghiệp hoặc cơ quan nào không phải ở bộ máy hành chính mà là ở khối lượng sản phẩm, hay nói một cách khác đó là hiệu quả lao động của đơn vị đó. Vì thế bốn phân xưởng của nhà máy và hai phòng thí nghiệm lớn phải chịu sự chỉ đạo từ tòa nhà hai tầng rất khiêm tốn truyền đi. Vả lại, Imre tổ chức vấn đề này một cách khác: không phải chịu sự lãnh đạo mà tự mình điều hành công việc. Hơn nữa, tòa nhà hành chính với tấm biển đề “Viện năng lượng” chẳng hề đầy ắp các loại cán bộ, công nhân viên như vẫn thường thấy ở các nơi khác. Những cán bộ công nhân viên thuộc Viện năng lượng không phải chịu khổ sở vì chật chội. Họ làm việc một cách bình thản và đều đặn, không gây phiền hà cho nhau. Bela Imre lãnh đạo viện, đúng ra là lãnh đạo nhà máy liên hợp chế tạo máy móc khoa học đã gần mười lăm năm. Trong thời gian này, chất lượng sản phẩm điện tử, dụng cụ và trang thiết bị mang nhãn hiệu Viện năng lượng đã tạo được uy tín thật sự ở tất cả các nước trong khối KOMECON ( Hội đồng tương trợ kinh tế ) và cả trên thị trường các nước phương Tây. Imre làm việc rất nhiều. Thường thường ông đến phòng làm việc của mình lúc 6 giờ sáng. Kể từ giờ đó bắt đầu là ngày làm việc và ông làm mãi đến 6 –7 giờ tối. Vào buổi sáng, khi tòa nhà hành chính còn chưa có người và sự yên lặng vẫn còn đang ngự trị ở đó, ông đã có thể tập trung tư tưởng vào các bản thiết kế và thuyết trình, đánh giá những đề xuất của người thiết kế công trình, nghiên cứu các tài liệu, chuẩn bị bắt tay vào thực hiện, còn phần lớn thời gian ông xem xét và đào sâu suy nghĩ về những tài liệu từ phòng thí nghiệm – nơi ông đang cho tiến hành các cuộc thí nghiệm chuyển đến hay của các phân xưởng, nơi đã chế tạo xong các sản phẩm. Thế nhưng, hôm nay đồng hồ mới chỉ 6 giờ mà ông đã ngồi ở bàn làm việc của mình. Mở chiếc cặp làm việc ra – loại cặp được bọc bằng da dê thuộc – ông tập trung tư tưởng đọc những tài liệu bằng tiếng Hungary và tiếng Nga đầy trong đấy. Thật ra, ông nói tiếng Nga còn vất vả nhưng hiểu tiếng Nga rất vững. Khi đọc ông có thể biết được những chỗ in sai hoặc những câu dịch không đạt yêu cầu. Vả lại, phòng quốc tế thuộc viện của ông đã làm việc rất hoàn hảo. Đọc nốt cho xong, ông đóng cặp và nghĩ: “Lẽ ra phải lưu ý đến món tiền thưởng bằng ngoại tệ dành cho cả chuyên viên lẫn cô đánh máy chữ mới phải”. Ông ngả người ra chiếc ghế bành, mở máy thu thanh và mấy giây sau đã nghe thấy những tín hiệu quen thuộc báo đã đúng giờ phát sóng. Giọng đọc của xướng ngôn viên vang lên: - Đây là tiếng nói Budapest, Đài phát thanh mang tên Kosut. Bây giờ là 7 giờ sáng, giờ địa phương, ngày thứ năm, 8 tháng 6 năm 1978. Xin kính chào quý thính giả đang trên đường đến nơi làm việc. Nha khí tượng dự báo thời tiết…
Đúng lúc đó cánh cửa ra vào bọc da ở bên trong mở tung ra và Tereza Kintres, thư ký của ông, bước nhanh vào, miệng khe khẽ hát một cách vui vẻ. Hơi vụng về kiểu trẻ con một chút, dáng người của cô cân đối và hài hòa trong bộ quần áo màu kem với chiếc áo cánh màu nâu ôm sát người. Mái tóc của cô thưa, màu vàng với kiểu chải để đường ngôi chính giữa cho tóc hai bên rủ xuống hơi che khuất vành tai cộng với những búp tóc hơi loăn xoăn ở hai bên do sự khéo léo của người thợ làm tóc. Kiểu để tóc này đã làm cho khuôn mặt hơi thuôn thuôn của cô trở nên tròn hơn, làm mất đi những nét cương nghị thường bộc lộ hàng ngày – Tereza đã ngoài 30 tuổi. Nhìn thấy viện trưởng ngồi ở bàn, Tereza lúng túng: - Xin viện trưởng thứ lỗi, tôi cứ tưởng là ông chưa đến. Xin thứ lỗi vì sự đường đột này! - Mọi việc đều ổn cả, cô Teri[4] ạ, – Imre tắt máy thu thanh. – Rất vui vì hôm nay cô đã tới rất sớm. Tereza đưa mắt nhìn xuống, cười tủm tỉm: - Sao hôm nay ngài lại lịch sự thế, thưa ngài viện trưởng! Có lẽ viện trưởng định nói là tôi luôn luôn dành phần lớn thì giờ vào việc trang điểm, phải không ạ? - Có thể là như vậy, – Imre nhẹ nhàng rời ghế, đứng lên và bước ra khỏi bàn làm việc. Ông tỏ ra thích thú vì sự chú ý của cô nữ thư ký, mặc dù ông nhận thấy trong đôi mắt xanh mở to của cô đang ẩn giấu một nụ cười mai mỉa. Ông bước về phía trước và vươn người lên, ưỡn thẳng vai, như tất cả những người cao lớn, tuy ông có thói quen so vai. Như cái máy, ông sửa lại áo veston, đưa lòng bàn tay xoa xoa mớ tóc thưa và trắng như tuyết của mình. - Tại sao điều đó làm cho viện trưởng phải ngạc nhiên? Chẳng lẽ những hôm khác nom tôi có vẻ xấu hơn ư? Tuy nhiên, viện trưởng nói đúng: hôm nay là một ngày đặc biệt. Chúng ta sẽ ký kết hợp đồng hợp tác với các đối tác bên Nga và Cộng hòa Dân chủ Đức. Điều này đòi hỏi một mức độ trang trọng nào đó, chẳng lẽ lại không đúng hay sao? Cô gái phì cười. - Còn bởi vì Bộ trưởng ngoại giao cũng sẽ có mặt trong lễ ký kết, – Imre tiếp tục, đầy vẻ nghiêm túc. – Về y phục của ông ấy cô sẽ nhận được thông báo chính xác, tôi xin hứa với cô nhu vậy. Nhưng thôi, yêu cầu cô nhắc cho tôi nhớ chương trình làm việc của ngày hôm nay. Tereza chạy về phòng tiếp tân và một phút sau đã trở lại, tay cầm theo cả quyển sổ ghi chép và cây bút bi. Cô ngồi ghé bên chiếc bàn con kê ở chân trường, mở sổ ghi chép ra và bắt đầu báo cáo: - Lúc chín giờ, như viện trưởng đã nói, sẽ có cuộc họp phổ biến những công văn quan trọng ở bộ. Mười một giờ viện trưởng hướng dẫn cuộc họp của lãnh đạo các phòng ban và các phân xưởng. Đến 14 giờ, người ta sẽ đợi viện trưởng ở nhà máy Liên hợp hóa chất Budapest, ở đó đang trưng bày thành tựu về việc tìm ra một chất mạ mới nhằm chống gỉ cho các vật liệu làm bằng chất rắn. Lúc 16 giờ viện trưởng lại phải họp ở Ban thường vụ Quận ủy, còn chiều tối viện trưởng dành thì giờ để đi thăm ông bạn Dodek. Trung tá Rona ngày hôm qua đã đặc biệt gọi dây nói cho tôi dặn tôi nhớ nhắc viện trưởng về chuyện này.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #3 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2017, 12:27:35 am » |
|
-Phải, phải, đi thăm Dodek. – Imre trầm ngâm nhìn ra cửa sổ – đi thăm người bạn thợ của tôi. – Ông im lặng một phút, sau đó hướng về phía Tereza. – Còn gì nữa không? -Cơ quan đại diện du lịch Ibus có gọi dây nói về. Ở đấy mọi việc đều ổn. Họ đã sắp xếp xong xuôi một chuyến đi ngắn ngày sang một số nước châu Âu cho đôi vợ chồng trẻ theo đúng yêu cầu của viện trưởng. Ngày hôm nay có thể nhận được giấy tờ của chuyến đi này. -Cảm ơn Teri, đây là một tin rất tốt. – Imre nhận xét, trong giọng nói đã thấy vang lên âm điệu vui vẻ. – Giữa lễ ký kết ở Bộ và cuộc họp, tôi có thể tranh thủ độ mười lăm phút để đến chỗ hai đứa. Cô thử tưởng tượng xem, con gái và cậu con rể của tôi sẽ vui đến thế nào. -Viện trưởng đã chuẩn bị cho họ món quà cưới tuyệt diệu! Đúng là không thể mong đợi điều gì tốt hơn thế được. Cả hai cùng im lặng. Bước nhẹ nhàng trên tấm thảm dày, Imre đi qua góc phòng làm việc và thả người xuống chiếc ghế bành kê bên cạnh chiếc bàn nhỏ để hút thuốc. Tựa cằm vào tay, ông lơ đãng nhìn ra ngoài cửa sổ một lúc lâu. -Lúc chúng nó đi du lịch, tôi sẽ lại chờ đợi chúng, – ông nói khẽ. – Còn sau đó? Sau đó thì tôi hoàn toàn cô độc. Lúc trở về con gái tôi sẽ đi theo chồng nó. -Xin viện trưởng thứ lỗi, vì sao viện trưởng không lấy vợ? – Tereza quay mặt về phía ông. – Vợ viện trưởng mất cách nay cũng đã hai năm rồi cơ mà. Trong dân gian người ta vẫn thường nói: đàn ông khó mà sống một mình được. Imre không trả lời. Tereza hiểu rằng mình đã vượt quá giới hạn được phép của cuộc trao đổi nên vội vàng chuyển cuộc nói chuyện sang chủ đề khác: -Xin viện trưởng cho phép tôi hỏi viện trưởng một câu, – cô nói và vì Imre nhìn vào mắt cô ra chiều khích lệ, cô hỏi luôn. – Mỗi lần khi nhắc đến ông Dodek, không hiểu sao viện trưởng lại gọi ông ấy là bạn thợ. Điều đó có nghĩa là gì? Imre nghiêm mặt lại. -Tereza, hôm nay cô có phần quá đáng đấy. Cô gái gượng đỏ mặt: -Xin viện trưởng thứ lỗi… Tereza đứng dậy, gấp sổ tay và làm cho nắp đậy cây bút bi kêu tách một tiếng. -Tôi đi chuẩn bị cà phê cho viện trưởng. Tereza đã ra đến cửa, Imre giữ cô lại: -Cô hãy nói xem, Teri, chúng ta cùng làm việc với nhau bao lâu rồi? -Sáu năm rồi, thưa viện trưởng. Mười phút sau, khi trở lại cùng với chiếc khay trên đặt chiếc tách trắng và mùi cà phê bay ngào ngạt, Tereza đã mặc thêm chiếc áo khoác làm việc màu xanh nhạt đã được ủi cẩn thận. Viện trưởng ngồi vào chỗ cũ trong góc phòng, đang đọc báo cáo trong tuần, xét đoán những dòng chữ ghi trong chiếc cặp giấy từ phòng thí nghiệm số 2 gửi đến. Tereza lặng lẽ đặt trước mặt ông chiếc khay nhỏ đựng tách cà phê, hộp đường và chiếc lọ đựng kem tí xíu. Imre nhìn Tereza. Nét mặt của cô đã hoàn toàn trở lại là một nữ thư ký nghiêm trang và có vẻ đang tập trung tư tưởng vào công việc. -Đem ly cà phê của cô lại đây và ngồi vào chỗ này, – ông chỉ vào chiếc ghế bên cạnh. Nói xong, thấy Tereza đã thực hiện lời yêu cầu của mình, Imre mở hộp đựng thuốc để trên bàn, mời cô gái. Hai người cùng hút thuốc. -Vậy là cô hỏi, tại sao lại gọi Dodek là bạn thợ ư? Đây là cả một câu chuyện dài, Teri ạ. Chuyện này bắt đầu từ hồi cô chưa có mặt trên thế gian này, tức là trong những năm chiến tranh kia. Cuối mùa thu 1941, khi ấy Đảng cộng sản đang trong tình trạng hoạt động bí mật ra tuyên bố chuyển sang thời kỳ đấu tranh vũ trang chống bọn phát xít Đức xâm lược và bọn tay sai của chúng, tôi đã là một thành viên của nhóm Phản kháng. Chúng tôi kiếm vũ khí cho mình – một vài khẩu súng ngắn, số đạn dự trữ hùng hậu và hàng chục trái lựu đạn. Chúng tôi đã tiến hành được một vài vụ phá hoại, một số cuộc tấn công vũ trang đạt kết quả. Nhưng có một lần, đó là vào buổi chiều – đây đã là bắt đầu vào tháng 12 – ở gần quảng trường Canvaria, bất thình lình một toán tuần tiễu SS xuất hiện. Chúng có ba tên, đúng bằng số người của nhóm chúng tôi – Balint Rona, em trai út của cậu ấy và tôi. Hầu như không còn chỗ nào có thể lợi dụng để che chắn, chúng tôi buộc phải bắn thẳng vào bọn chúng. Bọn SS không kịp bắn lại sau loạt tiểu liên của chúng tôi. Chúng tôi kéo xác chúng giấu vào bụi cây, lấy súng và đạn. Rona nhận thấy tên chỉ huy toán tuần tiễu, một trung úy, bị giết chết bằng một phát đạn ngay giữa trán. Bộ quân phục của hắn vẫn nguyên vẹn, không hề dính một giọt máu. Chúng tôi lột bộ quân phục của hắn và lấy hết những giấy tờ cần thiết đem về khu căn cứ của chúng tôi. Cố nhiên, giấy tờ của hai tên khác chúng tôi cũng làm như vậy. Trong những ngày Budapest sống dưới sự kềm kẹp của bọn phát xít Đức, trên đường phố, ở quảng trường có khi có hàng chục xác chết nằm lăn lóc không có ai chôn cất. Và chúng tôi tin rằng, hành động như vậy dù có ai đó muốn đi tìm họ, người ta cũng khó có thể nhận ra được những kẻ đã chết. -Tôi đã biết viện trưởng là du kích, – Tereza nói. – Người ta đã nói cho tôi biết điều này. Vả lại, sau này tôi thấy viện trưởng có huy chương du kích. Và, dù sao đi nữa… -Ngày hôm sau, chúng tôi báo cáo tất cả mọi chuyện cho người chỉ huy của đội, còn về phần mình, anh ta lại báo cáo rành rẽ cho cấp chỉ huy cao hơn. – Imre đặt điếu thuốc lá vào gạt tàn. – Lúc đó tôi làm việc ở xí nghiệp chế tạo máy “Hanz”, nó được coi như là xí nghiệp quốc phòng, chúng tôi đều có giấy bảo chứng nên tôi không bị gọi vào quân đội. Một lần, tôi đang lúi húi bên chiếc máy tiện để tiện một chi tiết nào đó thay vào chiếc cần trục bị hư hỏng vì một trận oanh tạc. Lúc ấy, vì đang chú tâm vào công việc nên tôi không nhìn thấy người chỉ huy đội của chúng tôi đã đến đứng ngay bên cạnh. “ Cậu vẫn chưa mất thói quen nói tiếng Đức đấy chứ?” – anh ta khẽ hỏi. “Anh nói giỡn phải không?” – Tôi trả lời. – “ Tiếng Đức coi như là tiếng mẹ đẻ thứ hai của tôi.” – “ Thì chính chúng tôi cũng đã nghĩ đúng như thế”, – anh ta nói thêm. “ Thế thì có chuyện gì?” –Tôi hỏi với vẻ quan tâm, mặc dù nói đúng ra, tôi không mấy hài lòng vì thấy anh ta có vẻ bí ẩn thái quá. Nhưng liền đó, chỉ huy trưởng mỉm cười: “ Về chuyện mà … nhìn cậu, người ta tin là cậu sẽ đóng khá tốt vai một sĩ quan SS ! Tôi mới nhận được chỉ thị là cải trang cậu thành một trung úy SS với nhiệm vụ là phải kiếm cho được vũ khí. Nhưng cái chính là phải lấy được lương thực để cung cấp cho du kích của chúng ta” . -Xin lỗi, tôi chưa thật hiểu, – Tereza rụt rè ngắt lời ông. – Bằng cách nào viện trưởng có thể coi tiếng Đức là tiếng mẹ đẻ thứ hai của mình? -Ba mẹ tôi là người Đức, thậm chí còn là người gốc Bavaria[5] nữa kia. Từ thời Mari Tereza, tổ tiên của chúng tôi đã đi từ Áo đến đây. Vào năm 42, khi phải khai lại lý lịch, cha tôi đã chối bỏ chủng tộc “thượng đẳng” của mình và viết vào tờ khai “Hungary”. Cha tôi vốn là người xã hội dân chủ. Ngày trước, họ của chúng tôi được gọi một cách khác – Innauer, sau đó ông cụ mới biến nó thành âm Hung: Imre. Nhưng ở trường tôi vẫn mang lốt người Đức. Ở đấy người ta dạy chúng tôi văn học bằng tiếng Đức. Cha tôi muốn tôi học tiếng Đức cho hoàn chỉnh ngay khi đang còn nhỏ. Chuyện xảy ra như thế đấy ! -Và viện trưởng cải trang thành sĩ quan SS. -Buộc phải làm do nhu cầu cần thiết thôi. Chúng tôi không thể ngồi chờ vũ khí từ Thượng đế đưa xuống. Những người phụ trách nhắc nhở trong lúc tôi đi vào trại lính. Ở đấy đã bố trí một số ít đơn vị người Đức và người Hung. Bọn lính trong trại chỉ toàn nói về “Vũ khí bí mật” của Hitler, kháo chuyện về sự “ chiến thắng hoàn toàn”, về tính xung kích của đội quân SS, cứ như là chúng đi cứu giúp cho Budapest đang bị bao vây. Thật ra ở bên ngoài thì hỗn độn, bát nháo, còn trong lòng chúng thì chán nản, u sầu. Sau đó, như tôi đã giải thích, do đặc điểm cá nhân của mình và nhờ vào số giấy tờ lấy được của tên trung úy SS bị giết, tôi đã lọt vào trại lính mà không một ai phát hiện ra được. -Sau đó chúng cũng không nghi ngờ gì viện trưởng à? Imre bật cười: -Thú thật là lúc nào tôi cũng lo ngại về chuyện ấy nên suốt ngày tôi chỉ nói vài ba câu thôi. Do đó xung quanh cho rằng tôi có tính kiêu kỳ, không thích giao du với một ai, ẩn chứa trong mình niềm kiêu hãnh của một sĩ quan SS, của một con người thuộc chủng tộc “ thượng đẳng”. Điều này rất có lợi cho tôi. – Imre ngừng lại một lát rồi nói tiếp: – Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ được giao phó. Tôi bí mật thu lượm súng tiểu liên, xoay xở được cả súng ngắn và tôi chuyển những thứ ấy cho đầu mối liên lạc của chúng tôi. Song chẳng bao lâu sau, từ đầu mối liên lạc này tôi nhận được chỉ thị mới: Istvan Dodek bị bắt nhốt ở trong trại, phải cứu anh ấy ! -Thế viện trưởng biết mặt người tên là Dodek chứ ? -Tôi có nhìn thấy anh ấy vài lần. Tôi biết rằng Dodek có chân trong ban lãnh đạo Đảng nhưng chưa hề quen biết anh ấy. -Vậy thì làm sao viện trưởng có thể nhận ra ông ấy ở trong trại được ? -Khó nhất là việc tìm cho ra chỗ anh ấy bị nhốt. Ngày ngày tôi nhẫn nại lượn lờ quanh các phòng có giam giữ tù nhân. Làm ra vẻ như đang đi kiểm tra lại hệ thống canh gác, tôi yêu cầu mở cửa và bước vào phòng giam. Rốt cuộc, tại một trong các hầm tối, tôi đã tìm được Istvan Dodek. Anh ta tả tơi, râu ria tua tủa, trên mặt bê bết những máu là máu. Chắc là chúng đã đánh đập anh ta rất dữ trước khi quẳng vào hầm tối này. Dodek nhìn tôi và hiểu ngay. Tôi nhận ra ngay cái nhìn của anh ta – khởi đầu là ngạc nhiên, sau đó là cháy bỏng căm thù vì một trong những tên hầu cận của tôi đã giơ roi lên để đánh. Tôi giữ tay hắn lại: “Không cần. Chúng ta còn có dịp thanh toán”. – Tôi nói một cách khinh mạn để cho hắn không nhận thấy trong giọng nói của tôi có sắc thái nào khác.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #4 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2017, 08:38:08 pm » |
|
Tereza rít một hơi thuốc rất sâu và cúi đầu xuống, chắc là cố tưởng tượng mình đang ở trong tình huống ấy. - Hôm sau là ngày lễ Giáng sinh. Bọn lính ngụy và những kẻ được gọi là “đạo quân của nước Chúa” ngay từ sáng sớm đã đeo dính những chai đựng rượu, cho đến tối thì cả bọn chẳng còn đứng vững trên đôi chân của mình được nữa. Chúng lè nhè hát, cụng ly mừng sức khỏe của Fuhrer[6], vì sự thịnh vượng của Salasa, vì sự thắng lợi của “nước Đức vĩ đại” và cuối cùng bọn chúng quyết định đến ngày Tết dương lịch sẽ dọn sạch trại, hay nói cách khác là sẽ xử bắn tất cả những người đã bị chúng hành hạ lâu nay và nhốt trong hầm tối. - Ôi, khủng khiếp làm sao ! - Tôi đi đến chỗ sĩ quan trực ban. Hắn ta cũng đã say nhưng trông khả dĩ còn có thể nói chuyện được. “Herr[7] trung úy , – tôi nói tiếng Đức rất cứng cỏi và gay gắt theo kiểu quân sự. – Hãy cắt cho tôi một tên lính để làm người hầu cận”.Thoạt đầu hắn ta nhìn chằm chằm vào tôi như không hiểu được tôi muốn gì ở hắn ta. “Tôi nhận được báo cáo , – tôi nói tiếp ngay, không để cho hắn có thì giờ hiểu được câu chuyện, – rằng cách trại không xa bọn cộng phỉ đã bắt đầu gài mìn toàn bộ tầng hầm. Cần phải vô hiệu hóa chúng lập tức. Ngay từ phút đó tôi dự tính có thể chuyển số đông những tên bị giam ra khỏi chỗ này một cách thật im lặng, tránh mọi sự chú ý không cần thiết – Để phục vụ cho việc gỡ mìn, tôi cần 15 tên tội phạm”. Cuối cùng tên sĩ quan trực ban cũng hiểu là tôi đang nói về chuyện gì: bằng bàn tay của những kẻ khốn khổ này, tôi muốn gỡ mìn ra khỏi khu vực của trại. – “Ồ, dĩ nhiên rồi ! – Hắn ta cười, kiểu cười của người xỉn. – Anh có thể lôi đi tất cả, quá mức yêu cầu cũng được. Chúng tôi cần tiết kiệm đạn”. – Hắn ta nói thêm và cầm lấy ống nghe. Mấy phút sau, tôi đã có một tên lính lực lưỡng, cơ thể bị bó căng trong bộ đồng phục với khẩu tiểu liên đeo trên cổ. Tereza muốn nói một điều gì đó, nhưng chợt nhớ ra, lại thôi. Cô mở to đôi mắt nhìn người kể chuyện. Nét mặt của Imre dường như tái lại trong hồi ức về những chuyện đã qua. Tôi xuống dưới tầng hầm. Những tù nhân sợ hãi lùi vào sát tường, nhìn vào tôi và tên lính hộ vệ. “ Istvan Dodek!” – tôi hét. Dodek bước lên phía trước. Anh ta chăm chú nhìn phía sau lưng tôi. Nơi khung cửa vừa mở đã thấy tên lính đứng đấy cùng với khẩu tiểu liên tự động đã hờm sẵn. Tôi thộp ngực Dodek giật về phía mình: “Hãy giữ mình” – Tôi nói nhỏ với anh ta. – “Nếu trong trại còn những đảng viên cộng sản khác, hãy đưa họ đi theo” – “Mày là thằng chó đểu!” – Anh ta quát khẽ như thế. “Còn anh là thằng ngốc!” – Tôi nói có phần dịu hơn. Sau đó Dodek hiểu rằng những tiếng ấy quả có làm cho anh ta yên tâm. Tereza phì cười. - Tôi biết là trong việc này, Dodek đã chỉ thị cho một người đàn ông và một phụ nữ nào đó, tôi bèn lựa chọn số còn lại, trong số đó có phụ nữ và trẻ em. Chúng tôi kéo ra ngoài cổng trại. Đi đâu bây giờ? Tôi vắt óc nghĩ cách hành động. Trên đường phố tối tăm vắng tanh vắng ngắt, tiếng trẻ con nức nở nên những người mẹ đang cố ghì chặt chúng vào lòng. “Hãy bịt miệng chúng lại!” – Tên lính áp giải thét. Tôi bí mật mở khóa an toàn khẩu súng ngắn. “ Này, cậu!” – Tôi kêu tên lính áp giải. Hắn ta ngoảnh cổ lại và sửng sốt nhìn chằm chằm vào tôi. – Chưa bao giờ hắn nghe thấy tôi nói tiếng Hungary. Tôi bắn thẳng vào mặt hắn. Tereza giật nảy mình. - Cô thương hại hắn ta? – Imre hỏi. - Không, tất nhiên là không. Nhưng bây giờ thậm chí ngay cả tưởng tượng cũng không thể nào… – Cô bỏ dở câu nói. - Lẽ nào tôi lại có thể giết chết một con người ư? Có thể lắm chứ! – Ngừng một lát, Imre tiếp tục. – Bỗng dưng một thứ ánh sáng rực rỡ phủ ngập đường phố và nhà cửa trong toàn bộ khu vực. Những chiếc máy bay ném bom ban đêm của Liên Xô giăng ra trên thành phố. “Những chiếc đèn cầy Stalingrad” – người ta thường gọi pháo sáng như vậy đó. Ngay sau đó vang lên những tiếng nổ – bắt đầu các cuộc ném bom. “Chạy đi!” – Dodek thét lên. Chính anh ta nhảy ào xuống đất và bò đến bên xác tên lính đã bị bắn chết để thu súng. Số người chạy trốn còn lại, chỉ trong một vài phút như biến mất trong những ngõ hẻm và ở các khe cửa của những ngôi nhà. Tôi theo Dodek trườn qua cầu, sát tới mức gần như chạm vai nhau. Tiếng bom nổ nghe mỗi lúc một gần hơn. “Hãy nhanh hơn nữa!” – Dodek hét lên và gập mình bổ nhào về phía ngôi nhà đổ nát thấy lờ mờ cách đó không xa. Từ phút ấy, tôi đâm ra do dự, không biết có nên chạy theo Dodek hay không để mà bật ngay dậy, nên đã không thể đuổi theo Dodek được nữa. Bên cạnh tôi, tiếng bom nổ nghe đinh tai nhức óc và chúng hất tôi về một phía. Lúc rạng đông tôi trở về nhà mình. Tôi lảo đảo bước, khó khăn lắm mới lê được tới chỗ ngôi nhà đổ nát, nơi tôi thấy Dodek chạy đến vào tối hôm trước. Tôi tìm anh ta nhưng không thấy đâu cả. Sau đó hai năm tôi mới biết anh ta đã được cứu thoát và đã lánh sang Nga. - Thế Dodek không tìm viện trưởng à? - Có tìm. Nhưng lúc ấy trời tối và trong tình trạng hỗn loạn sau những trận bom thì làm thế nào tìm được tôi. Tôi không muốn nói về chuyện đã rồi, giống như là chuyện sau đó ba tuần tôi đã được thoát chết. Khi thì trong bộ quân phục của bọn SS, khi thì trong bộ quần áo dân sự. Cứ như thế cho đến khi Hồng quân Liên Xô giải phóng Budapest. Còn sau đó là bắt đầu… – Imre thở dài. Tháng 3 năm 1946 tôi bị người ta tố cáo, bị bắt giam và bị đưa ra trước tòa án nhân dân. - Viện trưởng mà phải ra trước tòa án? – Giọng của Tereza biểu lộ một sự ngạc nhiên chân thật. - Phải. Có một kẻ nào đó xưng tên là Robert Haber viết đơn tố cáo tôi, hình như là trong đêm lễ Giáng sinh tôi đã tham gia vào vụ xử bắn tập thể, rằng chính mắt hắn trông thấy tôi bắn vào hắn nhưng chỉ làm hắn bị thương, còn sau đó hắn lại lành lặn y như là hắn có phép thuật vô cùng màu nhiệm. Hắn xác nhận toàn bộ điều đó ở chỗ lấy khẩu cung tại cơ quan công an. - Nhưng chính trong đêm ấy viện trưởng đã cứu Dodek và mấy người nữa thoát chết cơ mà? - Chẳng hiểu từ đâu lại tòi ra một gã nhân chứng có cái tên là Nandor Saad mà thằng cha này trong đời tôi chưa hề nhìn thấy bao giờ. - Nhưng còn Dodek? Ông ta không bảo vệ viện trưởng trước tòa hay sao? - Thời gian này anh ta không có mặt ở Hungary. Vào giai đoạn cuối chiến tranh anh ta đã chiến đấu cùng các chiến sĩ Hồng quân Liên Xô và trong một trận không chiến, anh ta đã bị trọng thương vì một mảnh đạn trúng vào đầu. Anh ta được nằm điều trị tại một bệnh viện dã chiến ở Ketskemet, rồi từ đấy cùng với những chiến sĩ bị trọng thương khác, được chuyển về hậu phương ở gần Kiev. Mãi đến đầu năm 47 anh ta mới trở về Tổ quốc. Từ lúc ấy tôi không được biết gì về anh ta, mà nếu như tôi có tìm đến chăng nữa, anh ta cũng không thể giúp đỡ gì được. Từ sau vụ bị một mảnh đạn vào đầu và bị trọng thương, có một khoảng thời gian hình như anh ta không còn nhớ được nữa. Chỉ huy trưởng nhóm du kích của tôi lại bị hy sinh vào một trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến.. - Khủng khiếp thật. Nhưng còn những người khác, những người mà viện trưởng đã cứu tính mạng ấy? - Quả thật là họ không thể giúp đỡ được tôi vì họ đâu có nhìn kỹ tôi. Cho đến ngày hôm nay tôi cũng không biết tên tuổi của họ là gì, họ ở đâu, còn sống hay đã chết. Vả lại, kẻ tố giác đã tính toán rất giỏi và khôn khéo mọi việc. Thời kỳ quan trọng của việc kiện tụng đối với bọn tội phạm chiến tranh coi như đã chấm dứt. Vì vậy, về chuyện buộc tội tôi, trên báo chí chỉ xuất hiện tất cả đâu chỉ vài ba dòng. Mọi người chú ý đến – ngay cả sự chắp vá của những trang báo – một chủ đề khác: việc khôi phục lại đất nước, cuộc đấu tranh trong Đảng và những thông báo về việc tìm thân nhân. - Thế còn cái người tên là Rona thì sao? - Anh ta là nhân chứng duy nhất ở phiên tòa. Thời gian này, anh ta đã làm đến chức trung úy công an nhân dân. Cương quyết và dũng cảm, anh ta bênh vực tôi, bảo vệ tôi với toàn bộ khả năng mà anh ta có, đã cãi vã cả với ủy viên công tố. Sau đó lại xảy ra một chuyện khá là kỳ quặc – Nandor Saad thình lình bác bỏ toàn bộ những gì hắn ta đã khai để buộc tội tôi mà bản khai này đã được tra xét một cách sơ bộ, còn Robert Haber thì biệt tăm tích. Người ta nói y đã bỏ chạy ra nước ngoài. Thời gian sau Nandor Saad cũng noi theo gương Haber. - Nghĩa là cả hai kẻ tố giác đều bỏ chạy hết cả? Cả hai nhân chứng buộc tội? – Tereza ngạc nhiên. – Trong trường hợp này người ta sẽ phải xử trắng án cho đồng chí. - Đúng. Họ đã xử trắng án cho tôi. Nhưng không phải vì thiếu bằng chứng phạm tội mà vì lời buộc tội thiếu bằng chứng. Cô hiểu được sự khác biệt đó chứ? Bản án giống như là một sự … Phải, hắn ta chính là tội phạm nhưng chỉ không có bằng cớ mà thôi. - Tôi hiểu là viện trưởng đã bị xúc phạm biết dường nào! - Sau này, khi tôi về lại nhà máy Hanz, người ta đã bầu tôi là Bí thư Đảng của một trong các phân xưởng. Hai năm sau tôi trở thành thủ trưởng ngành công nghiệp của các nhà máy liên hợp. Có một thời gian dài công việc khá là trôi chảy. Nhưng một ngày kia, một đơn kiện về việc trong thời kỳ chiến tranh, tôi đã phục vụ trong đội quân SS và đã làm đến chức trung úy – đã giáng xuống đầu tôi. Tôi không được biết tên họ của kẻ thưa kiện, nhưng hồ sơ đã được chuyển đến cơ quan và vụ kiện bắt đầu. Tôi tin rằng lần này thì địa vị của tôi chẳng ai làm gì được, vì để chứng minh cho sự vô tội này của mình, tôi không chỉ có một Balint Rona như lần trước mà còn có cả Istvan Dodek. Nhưng tôi đã lầm. Tôi lại được trắng án và khỏi bị giam cầm nhưng cái giá phải trả lần này quá đắt: Rona ngay sau đó đã bị đưa ra khỏi cơ quan nội vụ, và có một kẻ nào đó hoàn toàn không ai biết đã ngăn cản anh ta làm việc ở cơ quan nhà nước. Còn về phần Dodek, đúng vào lúc đó thì lại xảy ra một chuyện hoàn toàn quái gở. - Họ đã làm gì ông ấy? - Vào lúc đang đồn đãi vụ án của tôi thì thình lình “vỡ lẽ” rằng Dodek là một tên lính tiễu phạt và chuyên săn lùng du kích. Ngay sau khi anh ta biện minh, vì danh dự của tôi, thì người ta lôi thẳng anh ta vào phiên tòa. Tôi được tự do thì anh ta lại vào tù. Anh ta lãnh án 5 năm. Ngay từ hồi bấy giờ Dodek đã thầm nghĩ rằng đây là biểu hiện của cái mà người ta gọi là “thợ bạn”. Tôi ra tù thì anh ấy lại vào tù. - Chuyện khó tin thật. - Vào năm 1953 Istvan Dodek được thả ra trước thời hạn và được phục hồi hoàn toàn danh dự. Quả là anh ta chưa bao giờ bị gọi vào quân đội, chưa bao giờ làm người lính dưới thời Horti và giản đơn hơn, không thể là tên lính săn lùng du kích. Balint Rona cũng được phục hồi chức vụ và cấp bậc. Về sau này, cả hai người kể cho tôi nghe rằng: ngay bước đầu của quá trình tiến hành vụ án người ta đã báo trước một cách tế nhị rằng: nếu như hai người không tỏ thái độ chống lại tôi thì tự họ sẽ rơi vào tai họa. Nhưng hai người đã không sợ hãi và tin vào sự thật. Imre ngưng lại. Tereza sợ phá vỡ bầu không khí yên lặng này, cứ ngồi bất động. Viện trưởng lại cầm bản báo cáo của phòng thí nghiệm và mở cặp giấy, chú tâm vào nghiên cứu, dường như quên mất cô gái ngồi bên cạnh . Teraza chậm rãi đứng lên, thu dọn khay và ly tách rồi đi ra. Một phút sau Tereza quay trở lại và đứng ngay ngưỡng cửa. - Xin hãy nói cho biết, vì lẽ gì mà viện trưởng lại kể cho tôi nghe tất cả những chuyện đó? Hẳn là viện trưởng định trách móc tôi vì hôm nay tôi quá đỗi lạ lùng! Imre làm như không hề nghe thấy những lời cô gái nói. - Cô hãy nhìn xem, kỹ sư trưởng có ở đây không? – Giọng ông vang lên một cách lạnh lùng, gần như gay gắt. – Nếu anh ta chưa rời khỏi cơ quan, cô đi mời anh ta đến chỗ tôi. Hãy quan tâm tới vấn đề sao cho toàn bộ tài liệu tới được cuộc họp của những người phụ trách ở các phân xưởng và chuyển giao các bản thông tin, tuyên truyền đến các đơn vị nhỏ nhất cũng như tới các ban ngành. Hãy chuẩn bị bản thông báo để đưa cho báo chí. Ông quay về hướng Tereza, nhìn dáng điệu trẻ trung trong bộ quần áo làm việc màu xanh nhạt và nụ cười ấm áp của cô. - Sáu năm, Teri ạ, đấy là khoảng thời gian đủ để cho hai người làm việc bên nhau như tôi và cô trở thành những người bạn, phải không? Nhất lại là một người trong số đó chẳng bao lâu nữa sẽ trở nên hoàn toàn cô độc.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #5 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2017, 08:39:40 pm » |
|
Chương III Carrini chuẩn bị đối phó với sự tiến triển đều đặn của các sự kiện, nhưng không ngờ ngay từ ngày đầu tiên đã bị lôi vào cuộc chạy đua dữ dội. Từ sáng, gã làm như chẳng có tính toán gì và cũng chẳng có chút công chuyện nào. Gã ngồi bình thản trong chiếc Fiat của mình, đậu áp sát vào lề đường, đối diện với lối vào chính của tòa nhà hành chính “Viện năng lượng” và chờ đợi. Gã để chiếc máy ảnh nhỏ xíu có trang bị một ống kính chụp xa cực mạnh ở chiếc ghế bên cạnh. Lúc 7 giờ sáng, ở bên cạnh cửa ra vào dường như không thấy có sự hoạt động nào cả. Đến 8 giờ 30, khoảng sân trước cổng mới như sống lại – đấy là lúc cán bộ công nhân viên của viện đến làm việc. Viện trưởng xuất hiện lúc 9 giờ 30. Bước qua chiếc cửa kính, Imre dừng lại ở bậc tam cấp trên cùng. Trong tay ông xách chiếc cặp samsonite màu nâu sẫm. Carrini vội vàng lắp ống kính và bấm máy một vài lần. Viện trưởng nhìn quanh khoảng sân trước và tòa nhà, chắc có lẽ tìm chiếc xe hơi của mình. Từ một góc chỗ đậu xe, chiếc Mercedes màu đen như đang bắt đầu lăn bánh. Imre thong thả rời bậc tam cấp, bước về phía xe. Chiếc máy ảnh của gã người Ý khẽ kêu tanh tách ba lần liền. Gã chụp bức ảnh thứ tư khi viện trưởng đã vào ngồi cạnh người lái xe và bức thứ năm, lúc xe đã chạy được một đoạn, để ghi lại biển số. Quẳng chiếc máy ảnh sang bên, Carrini mở hết tốc lực và phóng đuổi theo chiếc xe du lịch trang nhã của viện trưởng. Imre bước ra khỏi xe, đi đến bên cạnh cửa ra vào của cơ quan Bộ. Gã người Ý còn bấm thêm một kiểu ảnh nữa mới đi đến chỗ chiếc Fiat của mình, trườn vào khóa cửa và ngừng lại để tính toán. Làm gì tiếp theo đây? Làm thế nào để có thể lọt được vào tòa nhà ngay sau đối tượng mà không ai hay biết gì? Để đề phòng bất trắc, gã đeo chiếc máy ảnh lớn của mình vào cổ, nhét chiếc nhỏ vào túi quần và lững thững như người tản bộ về hướng tòa nhà của Bộ. Gã gặp may một cách bất ngờ – một đám đông vừa ký giả vừa phóng viên nhiếp ảnh đang túm tụm ở gần cổng ra vào. Gã đến ngay bên cạnh người gác cổng đội mũ lưỡi trai đồng phục. Anh ta đã nhìn thấy trên cổ Carrini chiếc máy ảnh cùng với ống kính nhà nghề nên không hề có chút nghi ngờ nào. Gã nhân cơ hội đó nhập vào đám ký giả đang ồn ào đi vào cổng. Các đại diện báo chí, đài phát thanh và vô tuyến truyền hình đã tới để chứng kiến lễ ký kết bản hiệp định về sự hợp tác quốc tế. Carrini bám theo đám quay phim vô tuyến như keo, không rời một bước. Gã đưa mắt dò xét, nhìn vào bên trong tòa nhà để kiếm Imre. Những cánh cửa lớn của phòng họp trên tầng ba đã rộng mở. Ngay giữa phòng người ta kê theo chiều ngang một chiếc bàn vừa dài, vừa rộng, trên đó có phủ một tấm dạ in hoa màu nâu sẫm. Ở giữa bàn có để ba chiếc cặp màu da dê giống y như nhau. Người đầu tiên Carrini trông thấy lúc còn đứng ngoài cửa chính là Imre. Lúc này ông đã ngồi vào bàn. Bên phải của ông là một phụ nữ trung niên, dáng người cân đối và điệu bộ chững chạc. Chị ta có mái tóc màu hạt dẻ sáng và bộ mặt khá nghiêm nghị. Bên trái ông là một người đàn ông cũng đã trọng tuổi, nhỏ người, mặc bộ đồ màu xám, có đeo kính. Người đàn ông mỉm cười một cách hiền lành. Cùng lúc, những chiếc đèn chiếu ánh sáng của vô tuyến truyền hình, những chiếc đèn flash của các máy chụp ảnh đều nhất loạt sáng bừng lên. Carrini không hề mất thì giờ. - Trong số họ ai là người Nga? – Người cầm đèn đang điều chỉnh ánh sáng chiếc đèn của mình hỏi khẽ. - Người phụ nữ, – tay làm phim thời sự trả lời. – Anh hãy theo sát bên tôi khi tôi đến gần bà ta cùng với camera. Phóng viên tin tức của Đài truyền hình nói nho nhỏ vào chiếc micro mấy lời để chú giải cho một đoạn phim: -“Trong sự hợp tác quốc tế về khoa học và kỹ thuật giữa các nước thành viên của khối Hội đồng tương trợ kinh tế hiện nay đã có hơn 2.200 tổ chức khoa học và khoa học thực nghiệm tham gia”. Carrini dịch lại gần chỗ anh ta. Gã mân mê chiếc cúc nơi ve áo của chiếc veston, xoay nó về phía người phóng viên và ấn nút chiếc máy ghi âm nhỏ xíu vẫn giấu trong túi. Phần nghi lễ được tiến hành một cách bình thường như bất kỳ ở đâu: cũng ký kết, cũng bắt tay và những lời chúc mừng. Do có thủ trưởng đi theo để chứng kiến lễ ký kết, tất cả mọi người đi vào phòng làm việc của Bộ trưởng. Carrini biết rằng đã đến lúc mình phải chuồn khỏi chỗ này. Không để ý đến những hoạt động xung quanh, gã tắt máy ghi âm và lẩn vào đám đông phóng viên báo chí, rời khỏi tòa nhà của Bộ. Gã vào một quán ăn nhỏ ở trong một ngõ hẻm cách đó hai phố, vội vã ăn lót dạ bằng món gan nấu theo đúng khẩu vị của mình. Sau đó, gã ung dung trở lại chỗ chiếc Fiat, cho xe chạy vài vòng để giết thì giờ. Rồi, căn cho thật chính xác cự ly, gã cho chiếc xe tiêu thụ rất ít nhiên liệu của mình đỗ tại bãi để xe, ở một vị trí thuận lợi cho việc theo dõi chiếc xe Mercedes màu đen. Chiếc xe của Bela Imre dừng lại chỗ đường vòng đầu đại lộ Ianas, đối diện với chi nhánh Ibus. Carrini cũng dừng lại cách đó không xa. Lần này gã chụp được hai tấm ảnh: viện trưởng rời khỏi xe và viện trưởng trên nền tấm biển quảng cáo Ibus. Gã lại gặp may: Imre dừng lại bên cửa ra vào, chờ một người phụ nữ từ trong đó bước ra. Gian phòng ngoài rộng rãi, vắng vẻ. Imre đi về phía quầy bán vé có tấm biển: “Đi tham quan các nước châu Âu dành cho cá nhân”. - Tôi tên là Bela Imre, – viện trưởng tự giới thiệu với nhân viên của chi nhánh. Cô nàng đeo kính lịch thiệp trả lời: - Vâng ạ. Chúng tôi đã chuẩn bị xong xuôi cho ngài rồi ạ. – Vừa nói, cô vừa đặt trước mặt viện trưởng chiếc phong bì có đựng giấy tờ gì đó. Carrini không chủ tâm đến gần và làm ra vẻ đang nhìn tờ quảng cáo bày trong tủ kính, cầm lấy tờ giấy và rút bút ra. Đồng thời – tất nhiên là như thế – gã lại mở chiếc máy ghi âm bé xíu của mình. - Chúng tôi đã tổ chức một cách suôn sẻ theo lộ trình đúng như ngài đã đề xuất. – Cô gái cố gắng làm vừa lòng khách hàng. Imre cảm ơn và mở chiếc samsonite của mình nhét hết mọi thứ giấy tờ ông vừa nhận được vào đấy. Lớp vải lót bên trong chiếc samsonite màu olive. Cô gái chăm chăm nhìn người khách. - Xin đợi một lúc, – cô gái yêu cầu. – Ngài làm ơn coi lại giấy tờ, biết đâu ngài có thể bất ngờ phát hiện ra điều gì còn chưa rõ ràng chăng. Xin lỗi, người ta đã ủy thác cho tôi lo vụ này với sự lưu ý đặc biệt. Người ta nhấn mạnh rằng đây là một chuyến du lịch trăng mật! Cô gái tò mò nhìn người đàn ông đã không còn trẻ đứng trước mặt mình. Khó khăn lắm Imre mới khỏi bật ra tiếng cười: - Đây không phải là chuyến du lịch trăng mật của tôi, – ông trả lời một cách lúng túng và ngay lúc ấy, ông cảm thấy bực mình vì chuyện này. – Đây là chuyến đi của con gái tôi và chồng của nó. - Vâng, tất nhiên rồi. – Sự hào hứng của cô nàng đeo kính càng làm Imre bực bội: chẳng lẽ ông già đến mức không còn có thể lấy vợ được nữa sao? Nhiệt tâm thái quá đối với công việc khiến cô gái cứ nói ào ào, không còn cảm thông được với người tiếp chuyện. – Tôi còn nhớ rõ cả tên họ của họ nữa kia. Habor Jakay và vợ của anh ta vốn có tên là Nora Imre đúng chưa nào? - Quả là cô có trí nhớ cực tốt, thưa cô! Imre rút khỏi bao giấy thứ tự từng tờ và đọc lướt qua để biết chắc trong đó người ta viết hoàn toàn đúng tên họ. - Ông cho phép? – Cô gái tỏ ra nghiệt ngã. Cô ta giật khỏi tay ông cả xếp giấy tờ, kể cả chiếc phong bì đựng chúng, để trình bày rành rẽ từng phần cho người khách . – Xin hãy chú ý cho! Chuyến đi sẽ được khởi hành tại Budapest vào ngày 12 tháng 6. Hai vợ chồng sẽ đến Venice vào buổi sáng ngày hôm sau và ở lại đấy bốn ngày ba đêm. Buổi chiều ngày thứ tư sẽ khởi hành đi Roma . Họ sẽ ở lại Roma ba ngày hai đêm. Từ Roma họ sẽ đi máy bay qua Zurich rồi sang Munich. Họ sẽ lưu lại thủ phủ xứ Bavaria bảy ngày sáu đêm, mục đích là đến thăm Hamburg. Hành trình trở về sắp xếp trong hai ngày, trong đó có hai đêm họ sẽ ngủ lại ở Vienna. Suốt cuộc hành trình họ sẽ được sắp xếp nghỉ lại ở những khách sạn sang nhất. – Cô gái dừng lại để lấy hơi. – Còn bây giờ, xin mời ông hãy qua chỗ thu ngân và thanh toán toàn bộ chi phí của chuyến đi… Trong thời gian ấy ở đây tôi sẽ bọc giấy tờ lại.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #6 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2017, 08:40:29 pm » |
|
Hai câu cuối Carrini nghe được lúc đã đi về phía lối ra được một đoạn. Đến bên cạnh cửa ra vào, gã quay ve áo của chiếc veston về phía mình và nói thêm vào micro: - Lớp vải lót trong chiếc samsonite màu olive. Kết thúc một ngày làm việc, Imre cho người lái xe về nhà, tự mình ngồi vào sau tay lái của chiếc Mercedes màu đen. Đến chỗ hẹn, ông đậu xe lại, ngồi trên xe đợi người bạn là trung tá Balint Rona sẽ đi ngang qua sông Dunai, dọc theo cầu treo và phóng nhanh về phía quả đồi Pilis có tiếng là ngoạn mục. Là một người tóc vàng sậm, mạnh mẽ như gấu và giản dị, thái độ luôn luôn trầm tĩnh, trung tá Rona im lặng nhìn ra đường một lúc lâu, đến khi nhìn thấy Imre đang cố sức cho xe chạy vượt hết xe này đến xe khác, đã không nhịn được, phải cằn nhằn. - Tớ thấy cậu đã học được chút ít gì đó ở cô thư ký của cậu rồi đấy! Cậu muốn làm một tay đua xe giống như cô ta chắc. Đây là chiếc xe Rangli[8] phải không? - Tớ linh cảm có một cái gì đó không hay. Tớ không hiểu là việc gì nhưng tớ luôn nghĩ đến ông cụ, – sau khi ngừng, Imre cố gắng nói tiếp bằng một giọng khác. – Nhân tiện nói đến Tereza, vào chủ nhật trước cô ta đã thay đổi thành một người khác. Thử nghĩ xem, thường cứ mỗi buổi sáng,chưa đầy năm phút là cô ta đã bưng cà phê cho tớ rồi! Rona gõ gõ ngón tay trên chiếc khóa thắt lưng. - Họ lại trút cái vụ này xuống tấm thân 100 ký của cậu rồi, – bằng cái giọng thường hay cằn nhằn, Rona kết luận. – Bao giờ tớ cũng phải gồng vai mà gánh chịu hết. Cậu lo chuyện gì thế? Cái gì đã xảy ra với ông cụ? - Tớ không biết chính xác. Ông cụ cứ ủ ê thế nào ấy. Cách đây ba hôm tớ có nói chuyện với ông cụ qua đường liên thị. Bệnh đái tháo đường của ông cụ có vẻ tăng. Liên tiếp mấy hôm nay người ta không cho ông cụ uống insolin[9] mà bác sĩ không hiểu sao cũng chẳng thấy đến. Đối với ông cụ, tình trạng này không phải là đơn giản, nhất là ông cụ lại ở một mình và cũng đã cao tuổi. - Thế cậu bảo phải làm gì? Dodek chỉ thấy trong người khỏe ra lúc ở đấy, trong cái túp lều gỗ này và xa cách hết thảy mọi người thôi. Cậu có hiểu rằng như thế là ông ta gàn không? Cả hai cùng im lặng trong chốc lát. Rona vừa kính trọng vừa yêu mến Dodek nhưng cũng đã hơn một lần nghĩ là ông già cần thiết phải sống tách biệt như thế. Có thể là vì ông ta từng bị ngồi tù gần bốn năm trời do lời buộc tội sai lầm, nhưng ông ta được trả tự do và phục hồi danh dự cách nay cũng đã hai mươi năm. Nghĩa là đã một phần tư thế kỷ rồi. Họ cùng rời khỏi đường nhựa và rẽ về bên trái, đi theo con đường rừng. Đến đoạn này thì Carrini đã đuổi kịp họ bằng chiếc xe Fiat của mình. Gã người Ý không rẽ ngoặt vào con đường rừng mà vượt qua một đoạn rồi đậu xe ở ngay lề đường nhựa. Đợi ở đấy chừng mấy phút, gã đeo máy ảnh vào cổ, chui ra khỏi xe, khóa cửa lại và đi sâu vào trong rừng. Trong lúc đó Imre và người bạn đồng hành đã đến trước một ngôi nhà gỗ tròn, kiểu nhà của người gác rừng được trang trí bằng những nét chạm trổ khá cầu kỳ. Ngay từ vẻ ngoài, ngôi nhà đã có sự hấp dẫn đối với những người tới đây. Phía dưới có bậc tam cấp dẫn đến một hàng hiên không rộng và Istvan Dodek đã đứng đợi sẵn ở đó. Chủ nhà có mái tóc húi cua đã bạc trắng. Đôi mắt ngày nào màu xanh lam giờ đây đã trở nên lờ đờ. Bộ mặt của ông đã hằn những nếp nhăn của thời gian và trở nên buồn bã. Mặc dù Dodek chưa tới tuổi 60 nhưng dáng vẻ rõ ra là một ông già. - Công việc thế nào, Pista[10] ? – Giọng nói sang sảng của Rona vang lên. – Ủa, con Sedar sao không thấy chạy ra mừng chúng tôi như mọi khi? Ông già lắc đầu một cách buồn bã và chỉ sau khi không khí trở lại thân mật, ông mới nói khẽ: - Sedar bây giờ thì không còn chạy ra mừng ai được nữa. Tôi cảm thấy rõ ràng là hai tuần nữa tôi sẽ về hưu và phải dọn nhà vào trong làng. Nó cũng không muốn dọn đến chỗ ở mới, thế là nó bỏ tôi luôn. - Chẳng lẽ nó trốn mất rồi à? – Imre ngạc nhiên. - Không. Xét về khía cạnh phản bội, nó không có khả năng. Sedar là một con chó chứ không phải là con người. – Im lặng một lát, Dodek nói tiếp. – Nó đã chết vào tuần trước. – Trong đôi mắt của ông lão biểu hiện một sự đau đớn tột độ. Imre nhìn sang bạn vẻ cảm thông. - Đừng buồn nữa, ông bạn già. Việc này có thể khắc phục được. – Giọng của viện trưởng vang lên vui vẻ một cách thiếu tự nhiên. – Tôi có thể tìm cho ông bạn một con cún con khác. - Không cần. Cứ trông thấy cái chuồng mà con Sedar đã từng ở là tôi không muốn có một con chó nào khác. Với lại, ngôi nhà nhỏ của tôi ở trong làng đã xong xuôi cả rồi, cần phải dọn về đấy. Trong làng thì tất nhiên là không phải như trong rừng, cần gì đến chó kia chứ? – Dodek cố gắng thay đổi giọng nói. – Thôi, coi như không có chuyện gì xảy ra! Các anh hãy cứ ngồi tạm ngoài này, – ông chỉ hai chiếc ghế đẩu đặt bên chiếc bàn có phủ một tấm khăn sặc sỡ kê ở góc hàng hiên. – Bây giờ tôi phải vào kiếm cái gì đó nhậu sơ sơ một chút. Ông già đi vào nhà. Imre và Rona lặng lẽ đưa mắt nhìn nhau. Trung tá vẫn ngồi yên một chỗ, còn Imre đi qua một lối khác đến cuối hàng hiên, ở đấy thấy kê chiếc bàn con trên đặt chiếc máy đánh chữ. - Ông ấy không hề làm việc, – Imre nói. – Trên máy chữ vẫn chỉ có một trang mà tôi đã nhìn thấy từ chuyến đến đây lần trước. - Có thể là cái chết của con chó đã phá vỡ nếp sinh hoạt bình thường của ông cụ rồi. Nhưng không hề gì. Cậu cố tác động ông cụ. Tớ thấy là bao giờ ông cụ cũng nghe cậu. Dodek quay trở lại. Ông ta đem ra bánh mì và thịt. -Ồ, thật là hoang dã! Phải chăng đây là thịt heo rừng? – Imre tỏ vẻ khoái chí. Ômg già nháy nháy mắt một cách ranh mãnh. - Ở trên đĩa thì nó không còn là heo rừng nữa! Dodek từ chối uống rượu và rót đầy ly cho trung tá. Imre yêu cầu cho một ly nước lạnh vì còn phải lái xe. - Chúc sức khỏe các cậu, những người bạn của tôi! – Ông già nâng cốc. - Vì sức khỏe của ông bạn! Cũng vào lúc này, Carrini đang len lỏi qua những bờ bụi rậm rạp, trở lại phía sau, nơi để chiếc Fiat của mình. Gã tỏ ra vừa ý vì đã chụp được khá nhiều tấm ảnh, kể cả toàn bộ buổi “tam hội vườn đàoâ€
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #7 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2017, 09:09:41 pm » |
|
Chính cái “tiểu thuyết cũ” mà Kuty vừa nói làm cho ông nhớ lại cách đây chín năm, lúc họ có dịp quen biết nhau. Kuty là nhân viên kỹ thuật nhưng ánh hào quang của văn học đã hoàn toàn hấp dẫn anh ta, thế là anh ta bắt đầu cắm cúi viết một quyển trường thiên tiểu thuyết trinh thám, còn nhà xuất bản thì lại gửi quyển tiểu thuyết này cho Rona, yêu cầu ông nhận xét bản thảo với tư cách là một chuyên viên phản gián. Cho đến tận bây giờ Rona cũng không thể nín được cười mỗi khi mhớ lại chuyện này. Quả là một chuyện không lấy gì làm tốt đẹp đối với quyển tiểu thuyết của Kuty. Tuy nhiên, cũng qua cuộc gặp gỡ với anh chàng Kuty tác giả này, ông mới vỡ lẽ ra rằng, bên trong chàng trai cao kều này đã có dáng dấp của một con người đàng hoàng. Rona đã không lầm và ngay cả các đồng nghiệp ở nhà máy, nơi Kuty đang làm việc, cũng có ý kiến như vậy. “Về phương diện văn học, tôi khó có thể nhận định được vì tôi không phải là chuyên viên trong lĩnh vực này, – ông nói với anh chàng tác giả không gặp may. – Còn nếu như là công việc của cơ quan phản gián, tôi nghĩ, vì mình đã ở trong ngành nên có thể nhận thức tốt hơn”. “Ông hoàn toàn đúng, thưa trung tá, – chàng trai trẻ đồng tình ngay, không thể chối cãi, – nhất là tôi cảm thấy trong chỗ này, trung tá hãy nhớ lại xem, khi cả toán gián điệp nhảy dù xâm nhập vào lãnh thổ của ta thì chúng…”. Rona không để cho anh ta nói hết. “Phải, phải, tôi nhớ ra rồi. Cậu có nói là, cậu không ước muốn luyện tập một chút gì trong lĩnh vực này. Nói như thế, cậu cho rằng có được những biểu hiện đó là do kinh nghiệm cá nhân, đúng không? – Rona không thích chơi trò ú tim mà đi thẳng vào công việc. – Thế còn thì giờ rỗi cậu vẫn có thể trau dồi khiếu văn chương của cậu kia mà. Đầu tiên là hãy đọc một ít sách đi đã, rồi dần dần sẽ nâng lên. Lời giới thiệu có tính chất khích lệ đã thực sự làm cho Kuty vui sướng. Anh ta học tập và làm việc như điên. Thoạt đầu là các bài giảng, sau đó vào trường huấn luyện đặc biệt và cái chính là thực tập dưới quyền điều khiển của Balint Rona. Sau một vài năm, từ một “nhà văn trẻ” anh ta đã trở thành một sĩ quan phản gián. Anh ta được phong cấp đại úy trước niên hạn. Người cộng sự gần gũi thứ hai của trung tá là thượng úy Donltan Shalai, còn rất trẻ nhưng khéo léo, mưu trí và là một cán bộ mẫn cán. - Tất nhiên, tôi hoàn toàn hiểu được là, – giọng của Kuty đã làm cho Rona đứt mất luồng hồi tưởng và quay về với thực tại – để viết được kịch bản sân khấu, người ta không phải chỉ có tài năng mà còn phải nắm được những nguyên lý về kịch. Vì thế, tôi quyết định trước hết sẽ nghiên cứu toàn bộ kịch Shakespeare, sau đó là Moliere, sau nữa là Bertolt Brecht và cuối cùng là nắm cho được các tác giả cổ điển Hungary của chúng ta, từ Catona đến Laslo Nemet là kết thúc. - Tuyệt diệu. Miễn là cậu đừng quên dành một số thời gian để đọc lại bộ luật hình sự đã được công nhận, các sắc lệnh, các quy chế về công tác. – Roma hoàn toàn không cảm thấy khó chịu khi dùng những lời lẽ ôn hòa để nhắc nhở cấp dưới, vả lại nét mặt nghiêm túc như muốn cắt nghĩa thêm cho những ý nghĩ của ông – Điều này sẽ giúp cậu, với tư cách là một nhà văn, luôn luôn được sống va chạm với thực tế, có đúng thế không nào? Tiện đây, nếu cậu không có công tác gì khẩn cấp hoặc không có gì cần kíp lắm với công việc văn chương, cậu có thể đi với mình đến nơi tổ chức đám cưới được không? Chẳng là hôm nay ở đó, đứa con gái của ông bạn già Bela Imre của mình, – cậu cũng có biết ông ta rồi đấy, – đi lấy chồng. Đôi vợ chồng trẻ kịp đến chiếc bàn đăng ký, và theo thứ tự, ký tên vào sổ giá thú. Chàng trai mặc đại lễ, cô dâu trong bộ áo váy màu trắng. Trên đầu cô gái đội chiếc mũ cũng màu trắng có trổ hoa lỗ chỗ ở hai bên vành. Cô gái ôm trong tay một bó hoa xứng với sự long trọng của ngày vui, loại hoa dại có hương thơm thoang thoảng. Cô dâu và chú rể hôn nhau. Và trong khi người nữ đại diện của Tòa thị chính mời cặp vợ chồng trẻ ra phòng khách để mọi người chúc mừng thì cô gái đưa mắt tìm kiếm người cha. Bela Imre ngồi ngay ở hàng đầu. “Xin ba đừng mủi lòng, ba nhé!” – Ông đọc thấy những lời trìu mến trong cái nhìn của con gái. Imre cũng đưa mắt nhìn con gái như có ý bảo: “Không có gì đáng lo đâu, con gái ạ. Rồi sẽ ổn cả thôi!”. Người cha không nhìn đôi má ửng hồng, dáng điệu hơi ngượng nghịu đang tràn đầy hạnh phúc của cô con gái. Dodek, Rona và Kuty được bố trí ngồi ở dãy bàn thứ hai, ngay đằng sau lưng của Imre. Ngồi ngay dãy bàn bên cạnh họ là Tereza Kintres. Đại úy Kuty hầu như không chú ý gì đến khung cảnh của buổi hôn lễ. Toàn bộ sự chú ý của anh ta đều tập trung vào cô thư ký của Imre, người mà anh ta mới nhìn thấy lần đầu tiên. Tereza, cố nhiên, nhận thấy ngay sự chú ý đặc biệt của anh chàng trẻ tuổi cao kều này. Cô mỉm một nụ cười kín đáo và cũng không tỏ ra có gì khó chịu vì cô biết đây chẳng qua chỉ là cử chỉ lộ liễu của người có tính hay tò mò mà thôi. Những nhiếp ảnh viên chuyên nghiệp và đồng nghiệp của họ – những người chụp ảnh tài tử – mặt lấm tấm mồ hôi, vây quanh cô dâu chú rể hoạt động một cách tích cực. Carrini cũng đã có mặt trong đám thợ chụp hình này. Gã người Ý chụp hình tất cả các dãy bàn nhưng chủ yếu là ghi lại hình ảnh người nào tỏ ra nhiệt tâm nhất đối với đôi vợ chồng trẻ, hy vọng có thể qua đấy tìm biết được ai là bà con thân thích hoặc là bạn bè lâu năm đối với gia đình của hai người. Gã người Ý chú ý không sót một người nào. Tuy nhiên đã xảy ra một việc, dù chỉ một phút thôi, song làm cho gã như muốn rụng tim. Phải chăng đã bị lộ? Gã tự hỏi. Imre đứng sát cạnh con gái ông, còn gã, không biết bằng cách nào đã có mặt ở phía đối diện và đèn flash trên máy ảnh của gã chợt lóe sáng. Nhưng Carrini đã không có cơ hội ghi được tấm hình này vì Imre đã dùng bàn tay che kín khuôn mặt của mình. - Yêu cầu anh hãy ra khỏi chỗ này và đừng làm phiền như thế! – Ông nói với người thợ chụp hình một cách gay gắt. Carrini kinh hoàng. Gã quay lưng bước vội đến chỗ lối ra. Gã vừa đi vừa kín đáo ngoái cổ ngó lại phía sau xem có ai bám theo mình không. Không, chẳng có ai cả. Khách khứa nói chung đều đang bị cuốn hút vào đôi tân hôn hoặc là vào những câu chuyện trao đổi với nhau một cách vui vẻ. Chờ một lát cho yên vắng, gã len lén quay trở lại phòng cưới. Imre đang đứng nói chuyện với ông bà thân sinh của cậu con rể nhưng bên trong ông đang cố xua đuổi những hình ảnh của một quá khứ không hiểu vì sao đúng lúc này lại hiện lên một cách rõ rệt. Năm 1946, khi ông đang đi theo hai người lính áp giải có mang súng tiểu liên bước dọc theo hành lang của phòng xử án, bất thình lình ông thấy xuất hiện trước mặt họ một phóng viên nhiếp ảnh và anh ta cũng làm lóe mắt người khác bằng ánh đèn flash chiếu thẳng vào mặt hệt như gã thợ chụp hình này. Sau đó, lúc vào phòng xử án, khi đã ngồi vào ghế bị cáo với hai người áp giải hai bên, ông lại thấy gã thợ chụp hình xuất hiện ngay ở hàng ghế đối diện và lại chụp ảnh ông một lần nữa. Ống kính của chiếc máy ảnh che khuất hết mặt của gã thợ chụp hình và mãi đến bây giờ, ông cũng không được biết gã là ai. Ông không thấy tờ báo nào ở Hung đăng bức ảnh lúc ông ở tòa, mặc dù ông cố công tìm xem không sót một tờ báo nào. Dodek đi đến chỗ cô dâu chú rể. Nora vui vẻ ôm lấy ông già: - Bác Pista! Cháu rất vui mừng khi thấy bác ở đây. - Cháu đẹp tuyệt, cháu gái của ta ạ! Bác chúc cháu được hạnh phúc. - Bác sẽ là người đầu tiên ẵm đứa con nhỏ của cháu. Nếu nó là con trai, cháu nhất định sẽ cho nó mang cái tên đầy tiếng tăm của bác – Istvan. - Cảm ơn cháu Nora, – ông già nói một cách nghiêm trang. Sau đó ông quay lại phía anh chồng trẻ. - Đây là ông xã của cháu, – Nora giới thiệu một cách tinh nghịch. - Xin chào chàng trai! – Ông già siết chặt tay chàng rể. - Ngoài ra, cháu xin được nói thêm, anh ấy là một người khôn ngoan, khiêm tốn, tháo vát và mọi thứ khác cũng tương tự như vậy, – cô gái phì cười. Đang đứng lánh sang một bên, Rona liền kéo Kuty lại gần mình và nói thầm vào tai anh: - Nhìn xem, cậu thì làm nên trò trống gì? Ngay cả ở đây cậu cũng chậm rồi. Bao nhiêu lần tôi đã nói với cậu là cô gái sắp lấy chồng mà lại! - Tôi hoàn toàn chẳng có cơ hội nào cả, – Kuty cũng thì thầm trả lời. – Anh chàng có vẻ là một tài tử màn bạc, chỉ có thế thôi. - Anh ta là một kỹ sư có năng lực đấy. Mới 30 tuổi mà đã là trưởng phòng ở Nhà máy liên hợp hóa chất. – Rona bổ sung. - Trưởng phòng kia à? – Kuty nhún vai một cách mỉa mai. – Việc ấy thì tôi cũng làm được! Nếu như anh nói anh ta là giám đốc nhà hát thì là chuyện khác. Kuty đưa mắt tìm kiếm Tereza Kintres. Đúng lúc ấy, cô ta cũng đang đi đến để chúc mừng đôi vợ chồng trẻ. Đến lượt Rona. Ông cũng tiến đến chỗ đôi vợ chồng mới cưới. Nora trìu mến ôm lấy ông. Và, một lần nữa, lại nghe thấy tiếng máy ảnh của Carrini kêu tanh tách. Kuty cũng chúc mừng cặp vợ chồng trẻ. Thực ra, anh ta lắp bắp những câu gì đó không ai nghe rõ: chẳng ra chúc mừng cũng chẳng ra tự giới thiệu, cái nọ xọ sang cái kia. - Chúng tôi chờ anh tại phòng tiệc của khách sạn Royal, – Imre nói với trung tá. – Anh nhớ dùng xe của anh chở cả Dodek cùng đi. Đôi vợ chồng mới cưới và khách khứa lần lượt kéo nhau bước xuống cầu thang. Hai vợ chồng trẻ ngồi vào trong chiếc Mercedes màu đen đã được trang hoàng bằng những dây hoa. Carrini là một trong những người cuối cùng ra khỏi phòng cưới.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #8 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2017, 09:10:31 pm » |
|
Chương IV Khách sạn Con cọp ở Vienna thuộc vào loại trang nhã nhất, ở đây mọi thứ đều có vẻ sang trọng và lộng lẫy khác thường. Nói đúng hơn, tất cả những thứ trang hoàng cũng như những tiện nghi cực kỳ sang trọng đó chỉ nhằm mục đích làm cho những người khách bình thường kinh ngạc nhiều hơn là nhằm để giúp họ tìm được một chỗ ở hoặc một chỗ nghỉ ngơi thoải mái. Tất nhiên là trong những người khách bình thường đó phải loại trừ ra những hạng người sau đây: các nhà triệu phú, các ngài quý tộc, các nhà ngoại giao và cố nhiên cả các nhà hoạt động nghệ thuật tầm cỡ đã được nhiều người biết tiếng. Một trong số các căn hộ năm phòng ở tầng thứ ba do Gordon Benks làm chủ. Trong quyển sổ dành cho khách đăng ký ở khách sạn, người ta thấy chỗ của Benks có ghi là “Nhà ngoại giao”. Benks là một người đàn ông cao lớn khoảng 6o tuổi, có thân hình vạm vỡ kiểu lực sĩ, tóc cắt ngắn và đã bạc phơ. Cử chỉ dè dặt, giọng nói ề à, lão ta thuộc loại người có thói quen sai khiến người khác và không chấp nhận bất cứ sự phản bác nào, không chịu được những cử chỉ sỗ sàng – dù là nhỏ nhặt nhất – của người khác. Đôi mắt màu xám tro của lão nhìn chòng chọc vào mục tiêu một cách lạnh lùng và mỗi khi lão cau mặt lại theo thói quen, người ta có cảm giác như từ dưới mi mắt nặng trĩu ánh lên hai tia sắc lạnh, có cái gì đó nghiêm khắc và tàn nhẫn. Toàn bộ số cửa sổ của căn phòng rộng lớn mà Benks vừa dùng làm phòng khách và phòng làm việc đã được che chắn bằng những tấm màn bằng dạ khá nặng nề, nhằm mục đích không cho ai ở bên ngoài nhìn trộm, kể cả ánh sáng mặt trời cũng không lọt được vào phòng. Benks, với tư cách là người cầm đầu, đang ngồi ở chiếc bàn nhỏ, chủ trì cuộc họp. Ngồi đối diện với lão là Carrini, kế bên gã người Ý còn hai tên nữa: phía bên phải là Sandor Saad – chính là gã nhân chứng từng tố cáo Imre, sau đó bất thình lình biến mất, không thấy đến đối chứng ở tòa án; phía bên trái là một người đàn ông phục phịch, vai rộng, nét mặt nhăn nhó kinh niên. Bộ mặt của người đàn ông này khiến ta có cảm giác như nó được đẽo ra từ một tảng đá thô kệch. Người ta gọi hắn là Stely Mills. Trên mặt bàn xếp một đống ảnh màu đã được phóng to. Đây là công trình của Carrini đã chụp được và đem từ Budapest về. Benks đang chăm chú nhìn từng bức ảnh, không bỏ qua một chiếc nào. Ba tên còn lại ngồi im lặng như ba cái bóng, không có một biểu hiện nào chứng tỏ là họ đang còn sống. - Công việc tốt. – Cuối cùng Benks thốt lên, để ra một bên chiếc ảnh cuối cùng lão vừa xem. – Ở đây có tất cả những người chúng ta đang lưu ý chứ? - Tất cả những người có trong đơn đặt hàng dành cho tôi, thưa ngài! – Carrini nói gằn giọng rồi rụt rè bổ sung. – Ngoài những người mà ngài thấy ở đây, còn một số nữa, theo thiển ý của tôi và với sự cho phép của ngài, có thể sẽ dùng dược việc. - Đúng lắm! Bây giờ anh hãy chỉ cho tôi tất cả những nhân vật chính, – Benks hướng cái nhìn về phía Saad và Mills. – Cả hai anh lại gần đây! Gần nữa vào! Carrini bắt đầu giảng giải: - Người này là Bela Imre đang đứng trước tòa nhà làm việc của mình. Cơ quan này có tên gọi là Viện năng lượng. Ông ta thường đi trên chiếc Mercedes màu đen, trên tấm ảnh này thấy số xe rất rõ. Tấm ảnh này chụp lúc ông ta có mặt ở Bộ để ký kết hiệp ước về sự hợp tác… - Khoan đã, – Benks ngắt lời gã. – Người đàn ông và người phụ nữ ngồi ở bàn và cùng ký kết với ông ta là ai thế? - Người phụ nữ là Elizaveta Gorotkova, một nhân vật lãnh đạo ở Taskent có quan hệ khá mật thiết đối với viện của Imre, còn người đàn ông là Rudolph Zinhenbaum, viện trưởng viện Zonnierg ở Đông Đức. Carrini lôi từ trong túi ra chiếc máy ghi âm nhỏ xíu, song chưa mở ngay: - Ngài thử nghe giọng bình luận của phóng viên vô tuyến truyền hình. - “…Đã ký kết xong kế hoạch “Mặt trời 12”, kế hoạch này nhằm sử dụng năng lượng mặt trời vào mục đích hòa bình…”. - Tắt ngay đi! – Benks ra lệnh. – Bấy nhiêu là đủ rồi. Phần còn lại tôi sẽ tự nghe lấy. – Lão ngả người vào chỗ dựa của chiếc ghế bành. - “Mặt trời 12”! – Lão ta lặp lại vẻ kích thích cao độ và quay mặt ra phía cửa sổ. – Có nghĩa là kế hoạch này được công bố trước công chúng mang số 12. Nhưng theo tin tức của chúng ta thì người ta đã chuẩn bị kế hoạch 13 và 14 cũng có cùng một ký hiệu như thế! Hóa ra hôm nay lại là ngày đáng lưu ý đối với chúng ta. Vả lại, ngày hôm nay cũng là ngày có khá đầy đủ tài liệu. Sau khi ngừng một lát như để lấy hơi, lão gật đầu ra hiệu cho Carrini. - Tiếp tục đi! Người ta làm gì đây? – Benks giơ ra một tấm ảnh, trong đó có hình của Nora và Rona. Carrini nhìn vào ký hiệu được viết bằng bút chì ở đằng sau tấm ảnh và vội vã lật quyển sổ tay của mình. - Thằng cha Balint Rona nào đó, – gã ân hận nhún vai. – Chắc là một ông bạn nào đó của Imre. - Không được làm trò khỉ! – Benks cao giọng nạt gã. – Tôi thấy là anh chẳng biết gì về gã Rona này cả. Còn anh? Naldor Saad do dự ghé mắt vào tấm ảnh. - Balint Rona… – Hắn ta như có vẻ hụt hơi. - Nhưng anh có biết hắn ta không? – Câu hỏi của Benks quất xuống chẳng khác gì một chiếc roi gân bò. - Còn phải nói! Gã Rona này là người đã cố sức bảo vệ cho Imre trước tòa án vào năm 1946. Thời kỳ ấy, ông nhớ cho, hắn ta đang phục vụ trong ngành công an nhân dân, cấp bậc dường như là trung úy. - Thế còn hiện nay? – Đôi mắt của Benks hướng vào Carrini, nét giận dữ có chiều thuyên giảm. Gã người Ý cầm tấm ảnh và nhìn chằm chằm vào đó, nét mặt căng thẳng. Mặc dù có cả một quá trình hoạt động, tự nhiên hắn trở nên rụt rè và đôi tai của gã đỏ tía lên chẳng khác gì một cậu bé lần đầu tiên được đi đến trường học. Bens thừa hiểu chính lão đã gieo cho Carrini nỗi sợ hãi này. - Tôi không biết, – gã lầm bầm. – Tôi chụp hắn để đề phòng có khi cần đến bởi vì tôi thấy họ có vẻ rất thân thiết với nhau. – Carrini giơ ra một tấm ảnh khác. – Ngài hãy xem tấm ảnh này. Hắn ta cùng với Imre đi vào rừng, đến chỗ ở của Dodek. Còn một tấm ảnh nữa cũng thế, đây này! Benks vội vàng giằng lấy cả hai tấm ảnh mà Carrini đang cầm và chìa cho Mills. - Cần phải xác minh ngay Rona hiện nay là ai? Nhân viên phản gián? Dự thẩm viên? Hay là điệp viên? - Xin tuân lệnh, thưa ngài! – Mills đứng phắt dậy và vội vàng bước ra ngoài. Benks tiếp tục lục lọi trong đống ảnh, khi thì chọn chiếc này, lúc lại lấy chiếc khác. - Nora Imre? Xinh đấy. Thế đây là chồng của cô ta à? - Vâng, Habor Jakay, – Carrini khúm núm thưa. – Anh ta là kỹ sư, trưởng phòng của nhà máy Liên hợp hóa chất. Benks xua xua tay. - Rõ rồi. A hà, chính hắn đây rồi – Istvan Dodek! – Benks chọn riêng ra những tấm ảnh có hình của Dodek trong toàn bộ số ảnh để trước mặt mình. – Hoàn toàn là một ông già, lụ khụ lắm rồi. – Bất ngờ lão gom hết số ảnh lại và đưa cho Saad. – Anh hãy xem cho kỹ vào. Sau đó anh báo cáo xem có quen biết một ai trong số người này hay không. Saad dồn hết tinh lực ra “đánh hơi” từng bộ mặt trên các bức ảnh. Hắn mải mê nghiên cứu chúng cẩn thận chẳng khác nào một người thợ tu sửa sắc đẹp đứng trước khách hàng. - Không, thưa ngài, tôi không biết một ai trong số này. Trong chuyện này, tôi tin là mình nói hoàn toàn chính xác. - Anh tin như thế à? Anh cứ thử xem kỹ lại một lần nữa đi. Rất có thể là ít lâu nữa anh sẽ gặp lại họ và chắc chắn là sẽ không lấy gì làm thú vị nếu như có kẻ nào trong số họ biết được bộ mặt của anh trước kia. - Tôi biết rõ điều đó, thưa ngài. Nhưng dù thế nào đi nữa, tôi vẫn khẳng định: tôi không quen biết một người nào. - Được. – Giọng của Benks lại vang đều đều và lạnh lùng. Mills đã quay trở lại. Hắn báo cáo: - Thưa ngài, lệnh của ngài đã được thực hiện. Công việc thẩm tra được tiến hành theo kênh 3. Họ hứa sẽ cho chúng ta biết kết quả vào thời gian nhanh nhất. Benks phác một cử chỉ như có ý nói công việc ở hướng này không làm cho lão quan tâm nữa. Lão lại lấy tấm ảnh có hình của Bela Imre đang xách chiếc samsonite trên tay. - Chiến dịch có phần mạo hiểm nhưng trận đấu không thể dừng lại được. Dù thế nào thì chúng ta cũng phải giáng cho Imre một đòn. Kể từ lúc hắn bị dính vào vụ tòa án nhân dân cho đến nay đã trải qua 32 năm rồi. Do đó, ngay bản thân Imre cũng không thể nào tưởng tượng ra được bây giờ lại xuất hiện trước mặt mình cả hai nhân chứng đã từng tố cáo hắn. Việc phải xảy ra đúng là như vậy. Imre đã được xử trắng án sau khi vắng mặt cả hai nhân chứng nhưng tội ác chống lại loài người thì chẳng bao giờ có thời hạn nào hết. Tự hắn ta cũng biết rất rõ điều này. - Nhưng hắn đã không yêu cầu chính quyền can thiệp để minh oan hoàn toàn cho hắn thì phải? – Saad hỏi. - Cũng có thể là hắn đã làm như vậy. Nhưng trong cơn lốc của những biến cố và trong tình hình hỗn loạn của thời kỳ ấy hắn không có thì giờ để làm việc đó. Còn sau đó, nói chung hắn đã quên làm việc ấy. Cần phải ép buộc Bela Imre cộng tác với chúng ta. Và chúng ta đang làm việc đó! Chúng ta cần phải thu thập cho được từ Bela Imre những tài liệu của chương trình “Mặt trời” để sử dụng về sau này. Đây cũng chỉ mới là dự kiến. Chính Imre rất cần thiết cho chúng ta. Tất cả những gì hắn đã biết và tất cả những gì hắn sẽ biết thì chúng ta cũng sẽ được biết. Imre có rất nhiều bạn bè, người quen có chức vụ cao và có thế lực đối với nhà nước. Ngoài ra, bây giờ hắn ta là người đang được tin cậy và trọng dụng. Tôi hy vọng các anh đã hiểu.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #9 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2017, 09:11:07 pm » |
|
Cả ba gã đều đồng loạt cúi đầu xuống như có người ra lệnh cho chúng. “Những con rối!” – Benks nghĩ một cách khinh miệt. - Robert Haber, nhân chứng buộc tội thứ hai đã có mặt ở chỗ chúng ta cũng đã sẵn sàng bắt tay vào những hoạt động tích cực. Benks đột ngột bỏ đi. Lão chợt nhớ đến một vụ rắc rối xảy ra đã từ lâu. Vào một ngày giá lạnh của tháng ba năm một chín bốn sáu, Robert Haber có mặt trong đơn vị của đại úy quân đội đồng minh Thomas Phoster đang đóng ở biên giới phía Tây Hungary. Họ run nghư cầy sấy trên chiếc xe jeep mui trần của cơ quan quân chính. Trong ngôi nhà dùng làm trạm gác ở gần biên giới, Haber xoa xoa hai bàn tay lạnh cóng vào nhau và nói: - Nào, thế là bây giờ tôi không khi nào còn có thể buộc tội tên hèn mạt Imre ở trước tòa nữa! - Biết làm sao được, ngài Haber, – Phoster trả lời hắn một cách hờ hững. Người gầy nhẵng, mắt màu xanh nước biển với lưỡng quyền nhô cao và những nốt tàn nhang bám đầy trên bộ mặt dài ngoằng, Robert Haber hy vọng chắc có lẽ cuộc đón tiếp sẽ vô cùng nồng nhiệt. Nếu không có đội vệ binh danh dự bồng súng chào hoặc là đốt pháo hoa chúc mừng thì chí ít cũng là lời khen ngợi và tuyên dương công trạng của mình. Thế nhưng với những công lao đã có, sự tin tưởng vào cuộc đón tiếp đầy nồng nhiệt ánh lên trong đôi mắt chờ đợi của Haber đã gặp phải một sự đón tiếp khá lạnh nhạt, thậm chí người ta còn có vẻ như thóa mạ và làm nhục Haber. Phoster không mấy quan tâm về chuyện này. Haber đối với hắn cũng chỉ như một tài liệu sống mà hiện thời hắn có thể sử dụng với bất cứ mục đích nào. Quả thật ở Haber, giản đơn là không có một sự lựa chọn nào khác ngoại trừ là phải làm việc cho họ, để họ đưa hắn qua phương Tây. Trong khi đó Phoster cũng đã có sự chọn lựa nhưng không đáng kể. Ngoại trừ những thứ cặn bã kiểu như Haber ra, hầu như chẳng có thứ tài liệu gì đáng kể. Đành phải làm việc với những thứ mình đã có trong tay vậy. Phoster cứ thế mà làm việc, làm việc và chi tiền, nhưng hắn vẫn không nhận được lệnh của thượng cấp là phải biệt đãi thêm một người nào khác nữa. Robert Haber vốn là một người Đức bản địa, thành viên của tổ chức “ Vonksbunda”. Tháng 10 năm 1944, gã tự nguyện tham gia lực lượng SS. Trong những ngày này người ta ít chú ý thực hiện cho đúng các thể thức và quên cả việc xăm số hiệu ở dưới nách cho gã. Trong khi đó, mặt trận đã lan đến gần Budapest. Haber và những tên SS bị đưa ra tiền duyên và chẳng bao lâu sau, gã đã bị một viên đạn găm vào vai. Thế là cuối tháng Chạp, hắn được chuyển về trại, nơi Bela Imre đang hoạt động. Vết thương của Haber chẳng có gì nguy hiểm nên trong khi chờ đợi cho bình phục hẳn, gã cứ đi lại phất phơ ngoài hành lang và ngoài sân vì chẳng có việc gì để làm. Chính vào lúc ấy gã đã gặp người du kích trá hình. Đứng thẳng người, gã cũng chào hỏi theo như điều lệnh quy định đối với “viên trung úy SS” trầm lặng. Sự cố xảy ra vào buổi sáng ngày 31 tháng 12. Suốt ngày này Haber chỉ nhìn thấy Imre một vài lần. Điều đập ngay vào mắt gã là viên trung úy này cố tình lẩn tránh các cuộc nói chuyện, có vẻ thích sống biệt lập và hầu như không muốn giao tiếp với các sĩ quan khác. Thậm chí, nếu cần thiết lắm mới nói vài ba tiếng thôi. Gã cũng như nhiều người khác cắt nghĩa cho cách cư xử lạ lùng của viên trung úy như là sự cố tình tỏ ra kiêu căng để chứng tỏ mình là giống người Arian thuần chủng, rằng anh ta là một con người hành động chứ không phải là người thích ba hoa xích tốc. Tuy nhiên, Haber vẫn báo cáo cho một trong các sếp của mình biết về tính cách lạ lùng của viên trung úy. Và, từ việc báo cáo này của Haber, có thể nói đây là bắt đầu một chặng đường đầy chông gai đối với Bela Imre. Sự tuyển chọn Nandor Saad cũng chính là do công lao của Haber. Saad là một người kín đáo, ăn mặc chỉnh tề, tóc chải lật đường ngôi và còn trẻ. Gã là một tên chuyên đầu cơ tích trữ ở chợ đen, hồi đó đang làm ăn khá phát đạt ở quảng trường Teleca. Haber đã bí mật tuồn cho gã một lô hàng hóa đánh xoáy được để gã đem bán theo lệnh của Benks. Sự cấu kết này hứa hẹn ngày một tăng đã làm cho ông vua về đầu cơ tích trữ bỏ rơi thói quen thận trọng vốn có, dễ dàng chui ngay vào cạm bẫy. Người ta đã dồn gã vào sát chân tường và buộc gã phải chọn một trong hai điều kiện: một là người ta sẽ xách gã nộp cho cảnh sát kinh tế, hai là gã phải cam kết làm việc cho Benks. Không chút lưỡng lự, Saat đã chọn điều kiện thứ hai. Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của gã là phải lên tiếng với tư cách là nhân chứng để chống lại Bela Imre ở Tòa án nhân dân. Chiến dịch này được mở màn cố nhiên là đã có sự chuẩn bị khá chu đáo. Tính toán đến những công lao của mình, Haber hy vọng rằng những ông chủ mới ở đây, ở phương Tây này, sẽ đối xử với gã một cách trọng vọng. Thế nhưng, Benks lại tỏ vẻ khinh thường gã ra mặt. - Ngài đại tá ở Budapest đã nói gì với anh? – Lão ta hỏi ngay lúc mới gặp gã ở trạm gác gần biên giới. - Ông ta hạ lệnh thu xếp và vượt biên giới, – Haber ấp úng. – Ông ấy bảo hiện thời chưa phải là lúc thuận lợi để đưa ra những bắng chứng tố cáo Bela Imre. - Anh nói dối! – Benks lớn tiếng. – Nếu anh cứ tiếp tục làm theo kiểu đó, tôi sẽ tống ngay anh vào nhà đá. Mặt của Haber đang đỏ hồng lên vì lạnh bỗng trở nên tái mét. - Xin lỗi, nhưng tôi đã lặp lại đúng nguyên văn lời của đại tá. Ông ta giải thích cho tôi biết, Imre là một tên cộng sản, trong chừng mực nào đó hắn là một kẻ có đầu óc và có học thức, chắc chắn là hắn sẽ được bổ vào một chức vụ cao nếu Đảng cộng sản thắng lợi trong cuộc bầu cử và nắm lấy chính quyền. Đến lúc ấy, ông ta nói, đúng là đến thời điểm để vạch mặt hắn. - Nói tiếp đi. - Đến ngày ấy, đại tá nói với tôi, có thể sẽ trôi qua 5 năm, cũng có thể là 10 năm, 20 năm, thậm chí đến 30 năm. Hiện giờ thì tôi thuộc quyền của ngài, làm một việc gì đó, nhưng tôi sẽ thực hiện nhiệm vụ của mình, lúc nước sôi lửa bỏng – vào đúng cái lúc đáng bỏ công nhất ấy. – Ngài đại tá nói như thế đó. Benks xếp tất cả những chiếc ảnh lại thành chồng và để chúng ở mép bàn. Cả ba người đang im lặng chờ đợi quyết định của lão. - Tạm thời Haber chưa lên đường cùng các anh. Chúng tôi sẽ cử hắn đi trong trường hợp thật là cần thiết. Vả lại, thể trạng của hắn hoàn toàn không thích hợp với loại công việc như thế này . Haber đã viết toàn bộ lời khai của mình và cam đoan là rất bảo đảm. Tài liệu này các anh có thể sử dụng. Anh hãy tìm cách tiếp xúc với Imre. – Benks chỉ tay về phía Saad. - Xin tuân lệnh, thưa ngài. - Chi tiết thì sau này sẽ biết! Mills, anh phải chú tâm vào chuyện này để làm sao từ đây đến chiều phải làm cho xong một chiếc cặp giống y như chiếc samsonite này. – Benks đưa cho Mills những bức ảnh cần thiết. - Vải lót bên trong có màu ô liu chín và xanh óng ánh,– Carrini nói thêm. – Còn ngay ở đây này, thưa ngài, trên góc này có một vết trầy dài ước chừng một phân. - Thấy rồi, – Benks gật đầu. Và phải dốc hết sức lực ra vì khi chiếc samsonite làm xong thì anh sẽ phải nhận ra dúng nó trong số ba chục chiếc cặp tương tự. - Tôi sẽ cố gắng để tránh nhầm lẫn, thưa ngài! - Ở trong chiếc samsonite sẽ bí mật gắn micro và máy phát. Trong chiếc xe hơi anh sẽ sử dụng ở Budapest, các chuyên gia sẽ trang bị một bộ phận thu nhận tin tức. Chúng tôi muốn nghe tất cả những gì Imre nói ra trong trường hợp hắn hoàn toàn được tự do và những người bảo vệ trực tiếp cũng không có ở bên cạnh. Phải bí mật và khéo léo đánh tráo cho được chiếc samsonite, thưa ngài Mills. - Sẽ hoàn tất, thưa ngài! - Thomas Phoster sẽ cho anh biết kế hoạch của chúng ta. Anh đã được chỉ thị thực hiện tất cả, chẳng khác gì tôi. Bây giờ chúng tôi giao cho anh một nhiệm vụ khó khăn như thế, anh cần phải làm thế nào để hoàn thành được nhiệm vụ ấy, phải loại trừ mọi thất bại. Tôi hy vọng là các anh đã hiểu cả chứ?
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
|