Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:28:27 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Từ Phạm Quang Lễ đến Trần Đại Nghĩa nhà khoa học anh hùng  (Đọc 23614 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #20 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2017, 04:27:47 am »

     
§10

TẠM BIỆT PA-RI THEO BÁC HỒ TRỞ VÈ TỔ QUỐC

        Hội nghị Phông-ten-nơ-blô (Fontainebleau) không thành, chính phủ Pháp không chịu công nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Tình hình căng thẳng, chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Để tranh thủ thời gian quý báu cho nước nhà chuẩn bị kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với chính phủ Pháp Bản Tạm ước 14 tháng 9 năm 1946.

        Ngày 10 tháng 9 năm 1946, Bác Hồ gọi kỹ sư Phạm Quang Lễ đến và bảo rằng: “Hội nghị Phông-ten-nơ-blô không thành, Bác sắp về nước, chú chuẩn bị để vài ngày nữa chúng ta lên đường. Chú đã sẵn sàng chưa? ” Giáo Trần Đại Nghĩa ghi nhớ mãi từng lời nói của Bác Hồ và ngày tháng không quên đó. “Thưa Bác cháu đã sẵn sàng". Anh sung sướng trả lời Bác. Từ ngày được tháp tùng Bác ở Pa-ri, chờ đợi ngày được bước theo Bác trở về phụng sự Tổ quốc, anh đã lo thu xếp tài liệu và những việc khác để được thuận lợi, sẵn sàng lên đường khi Bác gọi. Giáo sư tâm sự: “ Việc chuẩn bị của tôi lúc đó tương đối đơn giản. Tôi còn độc thân, chi cần viết một lá đơn xin thôi việc. Mọi việc thu xếp đều có người ở lại giúp đỡ. Tổ chức Hội Việt kiều yêu nước ở Pa-ri lúc bây giờ khả mạnh và gắn bỏ với nhau...".

        Sau khi ký Tạm ước 14 tháng 9 năm 1946, hai ngày sau Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định rời Pa-ri về nước. Chính phủ Pháp đã chuẩn bị một máy bay riêng và mời Người đáp máy bay về Hà Nội, nhưng Hồ Chủ tịch đã từ chối. Bác Hồ quyết định về nước trên chiến hạm Đuy- mông Đuyếc-vin (Dumont d’Ưrville) của hải quân Pháp.

        Ngày 16 tháng 9 năm 1946, một chuyến tàu hỏa đặc biệt có hai toa hạng nhất đưa Bác Hồ và đoàn tùy tùng rời Pa-ri, đi xuôi về phía nam để đến hải cảng Tu-lông (Toulon), nơi có chiến hạm của Hải quân Pháp đang chờ đón phái đoàn.

        Ra ga xe lửa tiễn Bác Hồ có các quan chức cao cấp trong chính phủ Pháp, đại diện Đảng Cộng sản Pháp, có cả vợ chồng Tổng bí thư Đảng Cộng sản Pháp Mô-rít Tô rê (Maurice Thorez), các vị trong Ban trị sự trung ương Hội và đông đảo bà con Việt kiều tại Pa-ri.

        Trong hồi ký “Trở về với Tổ quốc kính yêu” viết vào tháng 5 năm 1993, Giáo sư Trần Đại Nghĩa nhớ lại: “Đoàn tùy tùng theo Bác Hồ về nước gồm 6 người: anh Đỗ Đình Thiện - Thư ký của Bác, đại tá cận vệ Vũ Đình Huỳnh, kỹ sư luyện kim Võ Quí Huân, bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư mỏ Võ Đình Quỳnh và tôi, lúc ấy có tên là Phạm Quang Lễ. Anh Thiện và anh Huỳnh đi cùng Bác từ Hà Nội. Còn bổn người chúng tôi xem như Việt kiều về nước. Để tránh ồn ào, lưu luyến trên sân ga, mỗi người chúng tôi đều đã tổ chức chia tay bạn bè và người thân trước đó mấy ngày. Những lời gửi gắm, chúc nhau thân tình, trong đó có cả sự hẹn hò tải ngộ, lời hứa thông tin và giúp đỡ nhau khi cần thiết về vật chất, về tài liệu, nhằm phục vụ đất nước. Trong niềm hân hoan đón nhận một vinh dự, lòng tôi rộn lên một niềm vui, tự hào pha lẫn nỗi buồn nhớ. ”

        Bước vào tuổi 80, nghĩ về những ngày trước đây gần nửa thế kỷ, phải rời xa Pa-ri, ông tâm sự: “Hơn 11 năm gắn bó với thủ đô Pa-ri lộng lẫy, cùng thầy, cùng bạn, cùng đồng sự, chúng tôi đã cộng tác và chia sẻ biết bao điều ấm lạnh. Cảnh vật và lòng người Pa-ri đã in sâu vào tâm trí tôi nhiều hình ảnh, những kỷ niệm đáng nhớ. Những công trình kiến trúc đồ sộ, vừa hiện đại, vừa cổ kính mang nét đẹp truyền thống: Tháp Ep-phen (Eiffel) cao sừng sững, do một kỹ sư cùng tên thiết kế và thi công cuối thế kỷ 19, nào điện Ê-ly-dê (Elysée) tôn nghiêm, nhà thờ Đức bà Lelouvre xây dựng từ thế kỷ 13, được tiếp tục tôn tạo qua các triều đại vua chúa Pháp, nơi chiêm ngưỡng của những tâm hồn ngoan đạo, cùng các khách du lịch nước ngoài.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #21 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2017, 04:30:24 am »


        Thủ đô Pa-ri còn là trung tâm văn hóa, khoa học với nhiều trường đại học lớn quốc gia, một hệ thống thư viện sách báo nhiều thứ tiếng, có những người quản lý, trông coi rất cần mẫn, lịch sự, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của độc già. Thời gian lưu sống ở Pa-ri, tôi luôn được sự đùm bọc và cung cấp các điều kiện để tiếp xúc với thế giới khoa học bên ngoài. Trên cương vị một kỹ sư trưởng, tôi có mức lương 5.500F/tháng, tương đương với 22 lạng vàng hiện nay, mức sống khá đầy đủ. Nhưng giờ đây tôi phải xa Pa-ri, chia tay với mọi người. Tôi đã trải qua một lần chia tay có cả niềm vui và nước mắt, khi từ giã mẹ, chị và người thân, rời xa Tổ quốc ra đi du học. Lần chia tay thứ hai này, tôi đã trưởng thành về nhiều mặt. ”

        “Những ngày tiếp xúc với Bác Hồ ở Pa-ri, tôi luôn có những cảm giác lạ thường, một tiếng gọi thiêng liêng vừa gần, vừa xa, có cả ảo lẫn thực. Tiếng gọi từ một nơi xa xăm vạn dặm, và cũng rất gần gũi bên tai. Lời của Bác, hình ảnh và linh hồn Tổ quốc kính yêu. Tiếng gọi đó trùng với ước mơ và hoài bão tuổi trẻ của tôi lúc bấy giờ. ”

        Bảy giờ sáng, đoàn tàu kéo còi, từ từ lăn bánh. Nhiều bà con Việt kiều rưng rưng nước mẳt, tay vẫy cờ, hoa, tạm biệt Hồ Chủ tịch kính yêu và đoàn tùy tùng rời Pa-ri đi về phía nam nước Pháp. Phạm Quang Lễ trầm ngâm nhìn qua cửa sổ toa tàu, ngước mắt về hướng bắc, thủ đô Pa-ri khuất xa dần, xa dần trong màu nắng mùa thu nước Pháp.

        Khi đến thành phố Li-ông (Lion), đoàn tàu dừng lại khá lâu. Mọi người xuống sân ga dạo chơi hoặc tranh thủ mua sắm vài thứ cần thiết. Trên toa tàu chỉ còn lại hai Bác cháu. Bác Hồ đến bên Phạm Quang Lễ và hỏi: “Chú Lễ không đi xuống dạo chơi à, đang suy nghĩ gì đó, nhớ nhà hay lưu luyến Pa-ri?” Lễ giật mình vì Bác đã đoán đúng tâm trạng của anh. Rồi Bác hỏi thăm anh về gia cảnh. Anh lễ phép trả lời:

        - “Thưa Bác, cháu quê ở Vĩnh Long. Ba cháu trước đây dạy tiểu học ở quê, bị bệnh mất sớm. Khi cháu đi du học thì chị của cháu cũng mất, chỉ còn mẹ cháu nương thân với người cậu ruột. Từ chiến tranh thứ hai đến nay, cháu mất liên lạc với mẹ cháu, chẳng biết còn hay mất, trôi dạt ở đâu?

        - ‘‘Ba chú cũng làm thầy giảo à! Bác cũng có lúc đi dạy. Nay mai về nước chủng ta cũng phải tham gia làm thầy giáo. Người học rộng như chủ phải dạy cho người đang còn trình độ thấp. Người biết, dạy cho người mù chữ. Ở trong nước hiện nay đang thực hiện như vậy”. Bác ngưng giây lát rồi nói tiếp: “Mấy chục năm cai trị, bọn Pháp, Nhật và vua quan phong kiến đã để lại cho đất nước ta nhiều thảm cảnh: Gần 2 triệu người chết đói đầu năm 1945, trẻ em bị thất học, bà con Nam Bộ giờ đây chưa được sống bình yên. Tổ quốc đang trải qua những khó khăn. Chẳng biết khi về nước chú có chịu đựng nổi không? ”

        - “Thưa Bác, cháu xin hứa sẽ chịu đựng mọi cực khổ ” tôi đáp lời Bác.

        - “Hiện tại, ta chưa có nhiều kỹ sư, thợ giỏi, máy móc vật tư đều thiếu. Điều kiện làm việc còn khó khăn lắm. ”

        - “Xin Bác yên tâm, cháu sẽ cùng mọi người cổ gắng khắc phục để làm việc. Bản thân cháu cũng đã chuẩn bị trước một số tài liệu, mang theo hơn một tấn. ”

        - “Tốt lắm, ở nhà rất cần những thứ đó ”. - Vừa nói, Bác nhìn thẳng vào đôi mắt tôi - “Nhưng cải quỷ nhất lại chứa đựng trong đầu của chú. Tổ quốc đang cần những khối óc và tài năng mới”.

        Con tàu tiếp tục chuyển bánh về phía nam nước Pháp. Những giây phút ngắn ngủi tiếp xúc với Bác đã làm cho tôi suy nghĩ và xúc động. Tuy có hoàn cảnh khác nhau nhưng nói đến cội nguồn dân tộc, mọi con người xa quê hương, ai cũng đều chứa đựng nỗi niềm mong ước góp phần bé nhỏ của mình cho đất nước, ít ra là cho những người thân gần nhất. Thời gian đầu của cuộc đời sinh viên, tôi cũng đã cố gắng tiết kiệm dành dụm, gửi tiền về giúp mẹ và chị. Chỉ đến khi có chiến tranh phải nhận lại phiếu "măng da" hoàn trả lại tiền, thật xót xa, không giúp được mẹ. Giờ đây niềm đau xót tăng lên gấp bội, gần hai triệu đồng bào chết đói, trẻ em thất học, quê hương miền Nam còn khói lửa chiến tranh. Nỗi bất hạnh của con người và bất công xã hội còn diễn ra trên đất nước thân yêu” (Trích hồi ký “Trở về Tổ quốc thân yêu” viết năm 1993 của Giáo sư Trần Đại Nghĩa).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #22 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2017, 04:32:44 am »

     
§11

CHUYẾN TÀU LỊCH SỬ VƯỢT TRÙNG DƯƠNG
LỚP HỌC ĐẶC BIỆT TRONG LÒNG ĐỐI PHƯƠNG

        Ngày 19 tháng 9 năm 1946, từ thành phố cảng Tu- lông (Toulon), Bác Hồ và đoàn tùy tùng đáp tàu thủy về nước. Chiếc chiến hạm Đuy-mông Đuyếc-vin (Dumont d'Urville) là một loại thông báo hạm của hải quân Pháp, có trang bị đại bác 155 ly, pháo phòng không, súng liên thanh, cùng với khoảng 150 sỹ quan và thủy thủ, do đại tá Pi-e Ô-nây (Pierre Oneil) chỉ huy. Phòng riêng của Bác và của đoàn tùy tùng được bố trí đầy đủ tiện nghi cho chuyến đi xa, dài ngày.

        Đây là chuyến tàu vượt trùng dương, kéo dài hơn một tháng, từ bến cảng Tu-lông trên bờ biển Địa Trung Hải của nước Pháp đến cảng Hải Phòng trên bờ biển Đông của nước Việt Nam độc lập. Một chuyến đi lịch sử của vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khắc sâu trong ký ức không thể phai mờ của các nhà trí thức Việt kiều theo Người trở về nước phụng sự Tổ quốc.

        Giáo sư, viện sĩ Trần Đại Nghĩa đã kể lại khá tường tận trong hồi kí “Trở về Tổ quốc kính yêu”, viết tháng 5 năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc phần hồi ký này của giáo sư.

“Sự kiện hội nghị Phông-ten-nơ-blô thất bại ảnh hưởng đến mối quan hệ Việt - Pháp. Nghe đâu, lúc đó ở trong nước đang rất căng thẳng. Khỉ đặt chân xuông tàu, tôi lo lắng một điều mà không giảm nói ra: Cuộc viễn du dài ngày trên biển, nếu nửa đường xảy ra chiến tranh ở Việt Nam, thì cả đoàn rơi vào cảnh “cá chậu chim lòng ”, đối phó ra sao, nhất là với Bác, hình ảnh và linh hồn của Cách mạng Việt Nam.

        Nhưng Bác Hồ vẫn điềm nhiên, trầm tĩnh. Bác triệu tập chúng tôi lại, bàn việc sinh hoạt cho chuyến đi dài ngày: Từ việc nghỉ ngơi, đọc sách, sinh hoạt nội bộ mọi ngày ba lần, đến việc giữ gìn nếp sống trật tự, gọn gàng, thể hiện thái độ và phong cách đúng mực trong giao tiếp với các đối tượng.

        Chiếc thông báo hạm tiến vào Địa Trung Hải, bỗng nhiên một hồi còi bảo động gầm rú lên. Sàn tàu rung chuyển, các bước chân chạy rầm rập, sĩ quan bỉnh lính tập hợp nhanh vào các vị trí. Tiếng sắt thép va chạm vào nhau, và hàng loạt đại bác, pháo, liên thanh thi nhau nhả đạn, hướng về mục tiêu các chùm bóng bay lơ lửng trên không trung, khói thuốc đạn mù mịt như đang xẩy ra cuộc thủy chiến. Một số người trong chúng tôi hơi bàng hoàng. Cuộc tập trận diễn ra và kết thúc nhanh chóng. Bác Hồ ung dung hút thuốc lả, nhìn chúng tôi mỉm cười, nói: “Họ kiểm tra tinh thần của các chú đấy, các chú thấy thế nào?”

        Tôi vốn ít nhiều đã tiếp xúc trong chiến tranh thế giới thứ hai, có làm quen và hiểu biết tính năng các loại vũ khí, chi e ngại sự náo động, ồn ào đó làm ảnh hưởng đến không khí yên tĩnh, nghi ngơi của Bác Hồ mà thôi, và mong muốn sớm chấm dứt tình trạng này.

        “Việc làm của họ do một mệnh lệnh điều khiển từ xa”. Lời giải thích của Bác Hồ gợi cho chủng tôi liên hệ đến cái tên “thông báo hạm” với hệ thống thông tin mắc chằng chịt trên tàu.

        Trong buổi sinh hoạt nội bộ, Bác đặt vấn đề và cùng chúng tôi trao đổi cách đối phó với thế chủ động, bình tĩnh, tránh nóng nảy, khiêu khích.

        Ngày hôm sau, hai viên sỹ quan thiếu tá gặp tôi, ý muốn thăm dò thái độ của ta về cuộc tập trận của chung. Tôi bình thản nói: “Cuộc thao diễn rất tuyệt vời, trật tự, triển khai nhanh, phổi hợp nhịp nhàng. Tuy nhiên, các loại vũ khí chưa phải vào loại tối tân và hiện đại’’ Hai viên sĩ quan có vẻ bực tức, bảo :"Anh phải nói rõ hơn nhận xét này” tôi nói: “Nếu so sánh với các trang bị vũ khí trong thế chiến thứ hai, thì các loại sử dụng ở đây đã lạc hậu một bước, khó áp đảo được hỏa lực của đối phương”.

        Tôi tiếp tục chứng minh bằng cách nêu lên các khí tài, trang bị của Mỹ, Anh, Đức, Nga Xô, kể cả Pháp mà tôi đã biết trong thế chiến thứ hai, so sánh các tính năng và khả năng hủy diệt của những loại này.

        Hai viên sĩ quan ngạc nhiên, rồi trao đổi với nhau: “Tại sao tên này rành quá vậy? Phải chăng nó là tội phạm chiến tranh (Criminel de guerre), tay sai của Đức Quốc xã?.

        Tôi giải thích cho chúng rõ: “Các ông nhầm rồi: Tôi là người hậu cần của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã từng đứng về phía Đồng Minh, lãnh đạo nhân dân Việt Nam, chiến đấu chống phát xít Nhật ở Đông Dương, Trong thế chiến thứ hai, Người đã ra lệnh cho quân đội Việt Nam giải thoát nhiều viên chức Pháp bị phát xít Nhật cầm tù. Các ông chưa hiểu rõ tất cả điều đó à? ”
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #23 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2017, 04:33:40 am »


        Câu hỏi sau cùng của tôi đặt hai viên sỹ quan vào tình trạng lúng túng, chúng có vẻ xuống thang, mất đi niềm kiêu hãnh ban đầu.

        Từ những ngày chiến tranh Pháp - Đức, tôi hiểu rất rõ niềm kiêu hãnh của quân đội Pháp với chiến lũy Maginot hiểm trở, chạy dài dọc theo biên giới hai nước. Chúng chủ quan cho rằng, quân Đức muốn vượt qua chiến lũy phải phơi thây ở biên giới. Có ngờ đâu, quân Đức đã đi vòng nước Bỉ, thọc sâu vào phía bắc, quân Pháp đầu hàng nhanh chóng, nhục nhã.

        Nếu tôi tấn công tiếp bằng những chi tiết này, chắc sẽ gây khó chịu, tự ái cho hai viên sĩ quan. Tôi sực nhớ lời dặn dò của Bác Hồ “tránh khiêu khích”, và nhận thấy cuộc đối thoại đả đủ liều lượng rồi.

        Chúng tôi báo cáo với Bác mọi hoạt động và diễn biến trên tàu trong buổi sinh hoạt nội bộ hàng ngày. Bác tổng hợp, phân tích, và nhận xét: “Suy cho cùng, tất cả sĩ quan, thủy thủ trên tàu đều bị cắp trên lừa dối, đó là những số phận đáng thương hơn là đáng trách, chúng ta cần vận động, giác ngộ họ một cách chân thành ”

        Vài ngày sau đó, một cuộc tập trận nữa diễn ra, có tính chiếu lệ, rồi dẹp hẳn trong suốt chuyến đi.

        Sự chỉ đạo sáng suốt và khôn khéo của Bác, cùng với cách vận dụng ứng xử của chúng tôi, có tác dụng như một bức thông điệp không lời văn gửi đến cơ quan đầu não ở Pa-ri, thông qua các phương tiện truyền tin của chính họ ”.

        Giáo sư Trần Đại Nghĩa viết tiếp: “Ba tháng lưu lại ở nước Pháp là ba tháng Bác Hồ làm công tác vận động quần chúng, kết hợp với việc chỉ đạo phái đoàn Chính phủ ta tại hội nghị Phông-ten-nơ-blô. Mọi người chúng tôi cũng là đối tượng quần chúng của Bác. Và giờ đây, Bác đòi hỏi chúng tôi phải phát huy ảnh hưởng, tác động vào hàng ngũ sĩ quan, binh lính trên tàu.

        Nghệ thuật vận động quần chủng của Bác hoàn toàn tự nhiên, thoải mải, chân thành và sâu sắc. Bác không chỉ hướng dẫn, chỉ đạo mà còn tự trực tiếp làm nhiều việc có hiệu quả cao.

        Theo nghi thức ngoại giao, viên đại tá thuyền trưởng giao nhiệm vụ cho viên quản trị trưởng, bố trí một hạ sĩ đặc trách chăm lo các sinh hoạt cho Bác Hồ. Nhưng Bác đã nói với họ rằng: “Chẳng có gì nhiều lắm đâu, tôi có thể tự giải quyết, khỏi phiền đến các ông”. Viên quản trị trưởng báo cáo lại với đại tá chỉ huy. Đại tá suy nghĩ và ra lệnh: “Dù sao cũng phải bố trí viên hạ sỹ lo giặt quần áo cho Ngài ấy, và luôn túc trực tại chỗ để có việc gì Ngài sai bảo là làm ngay

        Viên hạ sỹ thường xuyên có mặt bên cạnh phòng của Bác, Những lúc rảnh rỗi, Bác trò chuyện với anh ta, hỏi thăm gia cảnh, cuộc sống và việc học hành. Bác tranh thủ giảng giải mở rộng tầm nhìn và sự hiểu biết cho viên hạ sỹ quan. Anh ta vô cùng cảm phục trước sự quan tâm của Bác. Có lần anh ta gặp tôi và tâm sự: “Các ông hạnh phúc quá, có một vị Quốc trưởng luôn sống bình dị, và giàu lòng nhân ải. Lạy chúa, xin chúa ban phúc cho Ngài, cầu chúc Ngài và các ông gặp nhiều may mắn!.”

        Lòng nhân hậu của Bác Hồ, và sự kiên nhẫn thâm nhập vào quần chúng của chúng tôi, đã nhanh chóng chinh phục được thiện cảm của mọi người trên tàu, kế cả viên đại tá chỉ huy. Có lần, theo gợi ý của Bác, viên đại tá tổ chức các bữa ăn chung, gồm có Bác, đại tá thuyền trưởng và viên thuyền phó. Bữa ăn thường diễn ra rất thân mật, không phân định được ai là chủ, ai là khách. Các mẩu chuyện hấp dẫn của Bác luôn gợi lên những đối thoại sôi nổi, những chứng minh hùng hồn về sự gần gũi giữa nền văn hóa lâu đời, truyền thống đấu tranh yêu nước của nhân dân Pháp với cuộc chiến đấu chính nghĩa sáng ngời của dân tộc Việt Nam. Bác còn nêu lên sự trùng hợp về đạo lý của phương Tây và phương Đông: "Đừng làm cho người khác cái điều mà ta không muốn người khác làm cho mình” (Kỷ sở bắt dục, vật thi ư nhân) và liên hệ với câu phương ngôn Pháp: “ne faites pas à autrui ce que vous ne voulez pas qu'on fait à vous même"

        Nghe đâu, sau này viên đại tá thuyền trưởng tìm cách từ chối nhiệm vụ chiến tranh ở Việt Nam, xin giải ngũ về làm một chân tại thư viện ở Pa-ri.

        Mục đích và phong cách vận động quần chúng của Bác Hồ vô cùng trong sáng. Bác bảo tôi khi về nước phải khắc phục khó khăn, chịu đựng thiếu thốn để vì nghĩa lớn, trong lúc đó với cương vị nguyên thủ quốc gia, Bác vẫn sống bình dị, gần gũi mọi người. Nói đi đôi với làm. Niềm tin và sức mạnh của quần chúng thật vô hạn, nhưng không bao giờ chấp nhận: ‘‘Hãy làm những gì tôi nói, đừng bắt chước cái tôi làm”. Sự chuyển tiếp qua đấu tranh giải phóng sức sản xuất nhằm phục hưng đất nước, còn đòi hỏi nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư duy và phong cách của Bác Hồ về lòng yêu nước, sự gắn bó với quần chúng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #24 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2017, 06:20:55 am »

       
        Bác Hồ về nước bằng đường thủy là dịp may hiếm có, thuận lợi cho tôi được đi theo, được sống gần người, một điều kiện và môi trường tốt để tôi được học tập, rèn luyện chuẩn bị đầy đủ hơn về kiến thức và kinh nghiệm, trước khi bước vào cuộc đời mới.

        Không có một bằng đại học, hay chứng chỉ nào có thể so sánh được với những điều tôi đã đã tiếp thu và tiếp nhận ở Bác trong thời gian ở Pa- ri, và đặc biệt hơn một tháng ở bên cạnh Người trên con tàu vượt trùng dương, trở về Tổ quắc. Tôi xem như đã trải qua một khóa huấn luyện đặc biệt, một lớp học có nhiều môn khoa học khác nhau, mà chỉ có một người thầy duy nhất. Lời của Bác thật sự ngắn gọn, ít lời nhiều ý, có sức truyền cảm mạnh, lýluận gắn liền với thực tiễn, cùng với tấm gương sáng của Bác, một con người mẫu mực về đạo đức và tài năng lỗi lạc.

        Nội dung từng buổi học tập ở trên con tàu rất sinh động, những vấn đề đặt ra trước mắt, nhưng đã được Bác chắt lọc tổng kết từ những tinh hoa truyền thống của dân tộc, những đạo lý, chân lý xưa và nay, cả phương Đông lẫn phương Tây, một phương pháp luận khoa học chứa đựng các đặc tính trong sáng và có hệ thống. Đối với những người trí thức lúc đó, Bác luôn biểu lộ một nhãn quan rộng mở, nghiêm túc nhưng không định kiến, hẹp hòi. Người thu phục tất cả niềm tin; và sự tin cậy chân thành của Bác đã được nhân lên gấp bội. Ngoài những buổi sinh hoạt, học tập định kỳ hàng ngày, Bác còn tranh thủ gặp riêng từng người, thân tình trao đổi, đi sâu vào tâm tư, hoàn cảnh riêng biệt, như sự chăm sóc ân cần của một người cha với đứa con thân thương.

        Tôi mồ côi cha từ thuở bé, sớm xa mẹ, xa quê hương, khoảng trống vắng tình thương tưởng không gì bù đắp nổi. Lòng nhân hậu và sự ưu ái của Bác đã đem đến cho tôi niềm an ủi lớn. Người vừa là người cha, người thầy, và đích thực là lãnh tụ tối cao, một thần tượng của đời tôi. Trong những ngày ở cùng Bác trên con tàu, tôi có một cảm giác mới lạ, như đang sống trong một quốc gia thu nhỏ; Bác là nguyên thủ quốc gia, còn sáu tùy tùng là đại diện của ba miền đất nước: anh Đỗ Đình Thiện, anh Vũ Đình Huỳnh, anh Trần Hữu Tước ở Bắc Bộ, anh Võ Quí Huân, anh Võ Đình Quỳnh ở Trung Bộ, và tôi Phạm Quang Lễ ở Nam Bộ. Tất cả mọi người hướng về với đại gia đình dân tộc Việt Nam. ”

        Đó là những lời tâm huyết của Giáo sư, Viện sĩ Anh hùng Trần Đại Nghĩa, hồi tưởng, ghi nhớ lại những cảm xúc về lớp học đặc biệt, và những sự việc xẩy ra trên chuyến tàu lịch sử vượt trùng dương, vào mùa thu năm 1946.

        Trong hồi ký, Giáo sư, Bác sĩ Trần Hữu Tước đã nhớ lại như in kỷ niệm sâu sắc về lớp học đặc biệt đó:

        “Lớp chỉ có sáu học viên là những trí thức trẻ, tuổi ngoài ba mươi, và giảng viên duy nhất là Bác Hồ. Hàng ngày ba buổi: sáng, chiều, tối, tất cả quây quần bên Bác để trò chuyện, nghe radio, và trao đổi những vấn đề chính trị, thời sự hoặc những chuyên đề cần cho người cách mạng do Bác nêu lên như: Người cách mạng với công tác vận động quần chúng; nêu cao tinh thần ái quốc. Bài học về vận động quần chúng được Bác minh chứng bằng cách đem thực hành ngay với các sĩ quan, binh lính, thủy thủ người Pháp trên tàu. Lời nói, thái độ, cử chỉ, việc làm của Bác đã có sức thuyết phục, cảm hóa họ đến lạ lùng, điều đó khiến các học viên lớp học đều khắc phục và làm theo gương Bác ”

        Trong hồi ký viết năm 1993 Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã nhắc tới Bác sĩ Trần Hữu Tước: “Đã gần 47 năm trôi qua, đất nước đã yên bình, độc lập và thống nhất. Tôi còn một điều phải suy nghĩ về người bạn cùng đi lúc đó, anh Trần Hữu Tước. Là Bác sỹ, anh chi có nhiệm vụ đi theo chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho Bác Hồ. Tại Pa-ri anh đã có một cơ ngơi bất động sản và người yêu sắp cưới, về  Hà Nội, lẽ ra anh đáp máy bay trở lại Pa-ri. Nhưng anh lặng lẽ từ chối, và đã cùng chủng tôi vào chiến khu làm nhiệm vụ người thầy thuốc. Anh đã chịu ảnh hưởng về sự dạy dỗ của Bác Hồ, hay bị cuốn hút bởi không khí sôi động của toàn dân trong những ngày khẩn trương toàn quốc kháng chiến: Tôi chưa có dịp tâm sự với anh điều này, thì anh Trần Hữu Tước đã qua đời ở Hà Nội cách đây mấy năm rồi. Tôi suy đoán, cỏ lẽ anh chịu ảnh hưởng cả hai: Vì Bác và vì cả nước! ”

        Nhớ lại một buổi chiều thu năm 1968, sau giờ làm việc, trời đổ mưa, Giáo sư Trần Đại Nghĩa chưa về, còn ngồi trầm ngâm nhìn ra hàng cây dưới làn mưa rơi. Tôi tranh thủ hỏi chuyện về những ngày trên con tàu vượt trùng dương ngày ấy. Giáo sư nói với tôi: ‘‘Nhanh quá, đã hơn hai mươi năm rồi, trong bốn trí thức theo Bác về nước năm ấy, anh Võ Quí Huân đã vĩnh viễn ra đi, vừa tròn một năm, khi mới hơn năm mươi lăm tuổi đời, thật là xót xa!

        Ngày ấy, chúng tôi còn độc thân, riêng anh Võ Quí Huân đã có gia đình. Vợ anh là anh tiến sĩ ngôn ngữ người Pháp gốc Nga, và một cháu gái tên là Việt Nga mới hơn hai tuổi. Anh em chúng tôi rất quý mến và cảm phục anh Huân. Chắc anh đã trải qua những giờ phút đắn đo, căn nhăc, phải xa vợ trẻ, con thơ, thật không dễ. Cuối cùng anh Võ Quí Huân đã quyết định về nước theo tiếng gọi của Tổ quốc, bởi con tim anh đã nặng tình non nước. Tôi nhớ mãi anh, một kỹ sư tài năng, giàu tình cảm, sống sôi nổi, nhiệt tình. Anh còn là một nhiếp ảnh gia, một nhà quay phim tâm huyết, đã để lại những thước phim lịch sử quý báu ghi nhớ hình ảnh Bác Hồ và đoàn chính phủ ta ở Pa-ri những ngày thu năm 1946. Anh ra đi quá sớm, thật là đau xót!”

        Đọc những dòng hồi ký, nhớ những lời kể chuyện của Giáo sư Trần Đại Nghĩa, tôi thật sự xúc động trước tình cảm thân thiết chân thành của ông và các bạn, những trí thức Việt kiều cùng chí hướng, được Bác Hồ lựa chọn và rèn luyện, đã vững bước theo Bác trên con đường phụng sự Tổ quốc.

        Trên chuyến tàu lịch sử vượt trùng dương ấy hơn một tháng được ở bên cạnh Bác Hồ, được tham gia một lớp học đặc biệt do Bác trực tiếp giảng dạy, đã để lại những kỷ niệm sâu đậm trong ký ức của những trí thức Việt kiều. Đó là một lớp huấn luyện chính trị hiếm hoi, có một không hai, ngay trong lòng đối phương. Một lớp huấn luyện không có chương trình định trước, không có tài liệu tham khảo, chỉ có ý tưởng và tri thức uyên thâm của Người Thầy Trí Tuệ, cùng niềm say sưa của những học viên là những trí thức giàu lòng yêu nước.

        Thành quả to lớn của lớp học đặc biệt đó chính là sự trưởng thành của các học viên trí thức, đã vững vàng bước vào cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, vượt qua biết bao khó khăn gian khổ, cống hiến tinh thần và trí tuệ cho quê hương, đất nước, được Đảng và Nhà nước vinh danh Anh hùng lao động, và tặng thưởng nhiều huân chương cao quý. Các ông đã sống và làm việc thật xứng đáng với niềm tin yêu của Bác Hồ. Tên tuổi Giáo sư Trần Đại Nghĩa, Giáo sư Trần Hữu Tước, Nhà khoa học, Nhà giáo Võ Quí Huân mãi là niềm tự hào của Giới Trí thức Cách mạng Việt Nam.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #25 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2017, 06:25:24 am »

     
§12

BÁC HỒ GIAO TRỌNG TRÁCH VÀ ĐẶT TÊN TRẦN ĐẠI NGHĨA

        Ngày 20 tháng 10 năm 1946 con tàu cập bến cảng Hải Phòng. Bác Hồ và đoàn tùy tùng về đến quê hương đất nước thân yêu, sau một chuyến viễn du lịch sử hơn một tháng trời lênh đênh trên sóng đại dương. Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp cùng hàng ngàn đồng bào ta và các chiến sĩ Vệ quốc đoàn, Công an cách mạng vui mừng chào đón Bác Hồ và các thành viên an toàn trở về Tổ quốc.

        Giáo sư Trần Đại Nghĩa nhớ lại: “Cuộc đón tiếp có cả phía Pháp, có Đoàn chính phủ ta do đồng chí Phạm Văn Đồng phụ trách cũng đã từ Pa-ri trở về. Khi chúng tôi rời Pa-ri, Đoàn chính phủ còn ở lại, sau đó về bằng máy bay, nên đã kịp thông báo trước để ở nhà biết hành trình về nước của Bác Hồ. Anh Võ Nguyên Giáp, vị Tổng Tư lệnh quân đội, chỉ hơn tôi hai tuổi, ôm lấy tôi và nói: “Ở nhà nghe tin Anh về với Bác mừng lắm!”. Tôi cảm động trong vòng tay Anh: ‘‘Cảm ơn Anh, tôi mới về nước, chưa làm được gì, các Anh ở nhà chắc vất vả lắm!”

        Trong cuộc đời của mình, Giáo sư Trần Đại Nghĩa không bao giờ quên ngày 20 tháng 10 năm 1946. Đó là ngày lần đầu tiên, người con Vĩnh Long - Nam Bộ, kỹ sư Phạm Quang Lễ đặt chân lên đất Bắc, ngày trở về Tổ quốc thân yêu của đứa con, sau hơn chục năm trời du học ở Pa-ri.

        Về đến Hà Nội, các trí thức Việt kiều, sau một tuần nghỉ ngơi, thăm Thủ đô bao năm mong đợi, đã được phân công vào các công việc phù hợp. Kỹ sư Phạm Quang Lễ được phân công về Cục Quân giới, Bộ Quốc phòng. Đầu tháng 11 năm 1946 anh đã có mặt tại xưởng Giang Tiên ở Thái Nguyên. Cùng đi có đồng chí Nguyễn Duy Thái, phụ trách Nha Giám đốc binh công xưởng (sau này là Thiếu tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng) và đồng chí Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Đây là một xưởng nhỏ, có 3 máy tiện và 15 công nhân, do anh Hoàng Phúc phụ trách. Kỹ sư đã bắt tay ngay vào việc nghiên cứu và chế thử súng đạn ba dô ca.

        Trước đó, đồng chí Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng đã đưa về đây hai quả đạn và một khẩu súng ba dô ca của Mỹ, để anh em nghiên cứu chế tạo. Đại tá Nguyễn Văn Thu, một trong những học viên của lớp học vũ khí đầu tiên ở Ứng Hòa đầu năm 1947, sau này là Viện trưởng Viện Công nghệ, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cho biết: “Người đầu tiên cưa cắt loại vũ khí này để lấy mẫu là anh Hoàng Phúc, lúc đó là Trưởng ty Quân giới Liên khu I, đóng ở Giang Tiên, Thái Nguyên. Nhưng khi chế tạo và bắn thừ thì đạn không nổ hoặc không tới đích”. Đây là loại đạn còn rất mới lạ, anh em chưa am hiểu, thì may mắn có chuyên gia từ Pháp về.

        Phạm Quang Lễ đã cùng anh em tháo đạn ra nghiên cứu. Khó khăn nhất là phần thuốc, cả thuốc nổ đầu đạn và thuốc đẩy của hỏa tiễn, ta đều không có. Ta chỉ có loại thuốc nổ đạn đại bác của Pháp, nhưng hình dạng và thành phần không giống ba dô ca. Hơn một tuần tìm hiểu nghiên cứu, tìm ra phần lý thuyết, từ đó thiết kế chế thử loại thuốc đẩy hình ống cho hỏa tiễn ba dô ca, anh đã thử nghiệm loạt đầu có kết quả. Con đường chế tạo ba dô ca đã được anh mở ra.

        Sau ba tuần, Phạm Quang Lễ đã cùng anh em công nhân chế tạo được hai khẩu súng và sáu quả đạn. Xưởng đã tổ chức bắn thử. Khi bắn, đạn đi rất tốt, trúng đích, nổ to, nhưng độ xuyên thủng không đạt yêu cầu như đạn Mỹ. Điều này không làm anh lo lắng, bởi có thể do sai sót kỹ thuật trong quá trình gia công. Anh đang cùng anh em tháo đạn để kiểm tra, thì cuối tháng 1 1/1946 nhận được lệnh trở về Hà Nội gặp Bác Hồ.

        Giáo sư Trần Đại Nghĩa hồi tưởng lại: “Sáng ngày 5 tháng 12 năm 1946, một ngày lịch sử mà tôi ghi nhớ mãi, đúng hai tuần trước khi cuộc Toàn quốc Kháng chiến bùng nổ, Bác Hồ gọi tôi đến Bắc Bộ Phù. Đúng bảy giờ sáng tôi có mặt. Cũng giống như ngày nào ở thành phố Li- ông, chỉ có Bác và tôi. Bác bảo tôi: “Kháng chiến toàn quốc sắp tới nơi, Bác giao cho chú nhiệm vụ Cục trưởng Cục Quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội. Đây là việc đại nghĩa, vì thế, Bác đặt tên chú là Trần Đại Nghĩa. Đây là bí danh từ nay trở đi của chú, để giữ bí mật và cũng là giữ an toàn cho bà con thân thuộc của chú ở trong miền Nam. Bác tin chắc chú sẽ làm tròn nhiệm vụ ”. Và Bác căn dặn thêm “Chiến tranh của chúng ta là chiến tranh nhân dân, chú vừa phải lo vũ khí cho bộ đội chính quy, vừa phải lo cho dân quân du kích. Phải giúp đỡ tạo điều kiện cho nhân dân tự làm ra vũ khí tại cho như mìn, lựu đạn... để đánh giặc, như kinh nghiệm Chiến tranh thế giới lần thứ hai mà chú đã biết. Chiến tranh sẽ qua ba giai đoạn, phải đi trước, chuẩn bị vũ khí cho từng giai đoạn. Phải mở lớp đào tạo về vũ khí và chuyên môn cho anh em....”

        Như vậy, kỹ sư Phạm Quang Lễ đã mang một họ tên mới là Trần Đại Nghĩa kể từ ngày 5 tháng 12 năm 1946. Tên khai sinh Phạm Quang Lễ, do cha mẹ đặt, chỉ còn ở trong lý lịch cán bộ, được giữ kín suốt hai cuộc kháng chiến, cho đến ngày đất nước thống nhất. Đối với ông, họ tên do Bác Hồ đặt có ý nghĩa lịch sử sâu sắc, không chỉ cho bản thân ông, mà cho con cháu mãi mãi về sau. Vì vậy, tất cả những người con của ông đều mang dòng họ Trần: Trần Dũng Trí; Trần Dũng Triệu, Trần Dũng Trình, Trần Dũng Trọng.

        Trong những năm đầu đầy khó khăn gian khổ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Cục trưởng Trần Đại Nghĩa đã phối họp chặt chẽ với các đồng chí Cục phó: Nguyễn Ngọc Xuân, Nguyễn Duy Thái xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng lực lượng ban đầu của Cục Quân giới. Đồng chí Nguyễn Ngọc Xuân - Bí thư Đảng ủy phụ trách Nha Mậu dịch và Văn phòng Cục. Đồng chí Nguyễn Duy Thái phụ trách Nha Giám đốc Binh Công xưởng. Cục trưởng Trần Đại Nghĩa kiêm Giám đốc Nha Nghiên cứu Kỹ thuật. Ba đồng chí là ba trụ cột, ba cây Đại thụ của Quân giới Việt Nam những năm đầu kháng chiến.

        Cục trưởng Trần Đại Nghĩa đã thực hiện xuất sắc trọng trách Bác Hồ giao cho “lo vũ khí cho bộ đội...” và bản thân ông đã cùng cán bộ, công nhân quân giới chế tạo thành công nhiều loại vũ khí, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

        Ông đã cống hiến tinh thần và trí tuệ để chế tạo vũ khí chống giặc ngoại xâm, xây dựng ngành Quân giới Việt Nam, trọn đời hy sinh vì sự nghiệp thiêng liêng của Tổ quốc, thật xứng với họ tên Bác Hồ đã đặt cho ông: Trần Đại Nghĩa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #26 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2017, 06:27:39 am »

     
§13

CHỈ ĐẠO NGHIÊN CỨU, CHẾ TẠO VŨ KHÍ CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

         SẢN XUẤT HÀNG LOẠT BA DÔ CA:

        Trước ngày toàn quốc kháng chiến, Cục Quân giới đóng ở Hà Nội, sau đó chuyển về Bình Đà, rồi ứng Hòa (Hà Đông cũ - nay thuộc Hà Nội). Tình hình rất cấp bách, giặc Pháp thường xuyên khiêu khích, kháng chiến sắp bùng nổ. Quân dân thủ đô quyết tâm kìm chân thực dân Pháp ở Hà Nội, để có thêm thời gian chuẩn bị hậu phương cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Lãnh đạo Cục Quân giới vừa chỉ đạo các nơi khẩn trương vận chuyển hàng vạn tấn vật tư, máy móc thiết bị lên chiến khu, để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của các binh công xưởng kháng chiến, vừa chỉ đạo việc chế tạo vũ khí. Một vấn đề lớn đặt ra, phải tìm phương án đánh xe tăng, xe bọc thép, một lợi thế của giặc Pháp lúc ấy đang uy hiếp chúng ta.

        Vấn đề chế tạo vũ khí chống xe tăng, chống xe bọc thép của giặc đã được Bác Hồ đặt ra từ đầu, ngay sau khi thành lập Cục Quân giới ngày 15 tháng 9 năm 1945. Bác đã nói rằng: Đây là lợi thế về vũ khí của quân Pháp trên chiến trường, sẽ gây khó khăn cho bộ đội ta. Vì vậy, khi được phía Đồng Minh tặng mấy quả đạn và súng badôca chống tăng của Mỹ, Bác đã yêu cầu đồng chí Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chuyển ngay cho xưởng Quân giới Giang Tiên để nghiên cứu chế tạo. Bác biết đây là vấn đề kỹ thuật khá phức tạp, cần có chuyên gia am hiểu, nên Bác đã chọn kỹ sư Phạm Quang Lễ - Trần Đại Nghĩa trực tiếp chăm lo công việc này.

        Về lâu dài, ta phải chế tạo vũ khí chống tăng, cấp bách trước mắt, Cục Quân giới triển khai hai phương án chính. Một là, sử dụng chai xăng “Mô-Lô-Tốp”, một kinh nghiệm của Chiến tranh thế giới thứ hai. Hai là, sử dụng “bom ba càng” một loại vũ khí dùng cho “cảm tử quân”

        Chai xăng “Mô-Lô-Tốp” (Tên của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Liên Xô ngày ấy) là loại vũ khí thô sơ của dân quân, du kích dùng để đánh xe tăng, gồm có một chai lớn đựng xăng và cờ - rếp (crêpe). Khi ném chai từ trên cao vào xe tăng, chai vỡ, xăng và cờ rếp bốc cháy bám trên xe tăng, nóng quá tên lái xe tăng không chịu nổi phải vội nhảy ra ngoài sẽ bị chiến sĩ ta tiêu diệt. Cục Quân giới đã hướng dẫn để dân quân, du kích các nơi tự chế tạo. Những người dâm ở phố Hàng Da, phố Hà Trung, quận Hoàn Kiếm, nơi chuyên làm giầy dép, sẵn sàng đem xăng và cờ rếp ủng hộ cho quân giới để chế tạo chai cháy. Chỉ mấy ngày trước khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, hàng trăm chai cháy “Mô Lô Tốp” đã được pha chế, sẵn sàng đưa ra trận địa, và đã góp phần quan trọng trong 60 ngày đêm quân dân Thủ đô kìm chân giặc Pháp ở nội thành Hà Nội.

        Bom ba càng là loại đạn cỡ lớn, chế tạo theo nguyên lý đạn lõm, có cán tre dài hơn hai mét, đầu quả đạn có ba cái càng để cắm vào thành xe tăng. Loại này ta thu được của Nhật. Quân giới Hà Nội đã luyện tập cho các chiến sĩ vệ quốc đoàn thao tác, sao cho vừa đúng kỹ thuật để chiến đấu có hiệu quả, vừa nhanh nhẹn, khôn khéo nhàm giảm bớt thương vong. Chiến công dũng cảm của các chiến sĩ vệ quốc, sử dụng bom ba càng đánh xe tăng giặc Pháp trên đường phố Hà Nội là hình ảnh sáng ngời tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của nhân dân thủ đô.

        Về ứng Hòa, Cục trưởng Trần Đại Nghĩa tiếp tục việc nghiên cứu chế tạo badôca, đã được khởi đầu từ Xưởng Giang Tiên. Ông đã giành thời gian rà soát, tính toán lại các thông số kỹ thuật. Như trên đã nói, khó khăn lớn nhất của việc chế tạo badôca là phần thuốc nổ đầu đạn và thuốc đẩy hỏa tiễn. Thành phần và hình dạng loại thuốc nổ mà ta đang có, khác xa với badôca Mỹ. Do đó, kỹ sư Nghĩa đã phải phân tích tính toán, trên cơ sở loại thuốc nổ ta có.

        Từ những kiến thức thu nhận được qua các tài liệu mật ở nước ngoài, với trình độ cử nhân toán cao cấp, kỹ sư Nghĩa đã dựng lại hệ thống phương trình mô tả các hiện tượng xẩy ra trong nòng súng, bên trong buồng đốt, làm cho đạn được phóng đi, mô tả ảnh hưởng của các yếu tố đến chuyển động của viên đạn.

        Ngày ấy chưa có máy tính như ngày nay, mà phải tính tích phân hệ phương trình ấy bằng phương pháp thủ công. Ông đã dùng phép phân tích gần đúng để rút ra các công thức tính toán cho thuật phóng và chỉ ra cách vận dụng thực tế vào tính toán badôca, khi dùng thuốc phóng khác với thuốc của Mỹ.

        Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Văn Đạo cho biết: “Ngày nay, so sánh các phương pháp tính hiện đại với phương pháp tính của anh Nghĩa, sự sai khác là không đáng kể. Bộ môn thuật phóng trường Đại học Bau-man (Liên Bang Nga) ngạc nhiên nhận xét rằng: Không ngờ, Việt Nam ở trong rừng sâu ngày ấy đã tự tạo cho mình những vũ khí “Không cổ điển” trên cơ sở lý luận vững chắc, và mang tính chất hiện đại” (Nguyễn Văn Đạo- “Viện sĩ Trần Đại Nghĩa” - NXB Trẻ TP.HCM-trang 18).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #27 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2017, 06:28:36 am »


        Tiếp đó, ông tháo đạn badôca đã chế tạo ở Giang Tiên-Thái Nguyên để kiểm tra và phát hiện ra sai sót kỹ thuật khi gia công độ dày chóp nón đầu đạn. Ông đã cho gia công lại chóp nón trên máy dập, đảm bảo độ dày khoảng một milimet rưỡi. Rồi đưa đi bẳn thử, kết quả đạt yêu cầu, tương đương tính năng đạn badôca của Mỹ. Từ kết quả này, kỹ sư Trần Đại Nghĩa đã hướng dẫn chi tiết cho tổ kỹ thuật do đồng chí Phạm Văn Gián phụ trách để tiếp tục gia, công chế thử badôca, lúc này để giữ bí mật đã được kí hiệu là B60( đường kính đầu đạn 60mm). Mỗi lần bắn thử badôca ở ứng Hòa, bên cạnh Cục trưởng Trần Đại Nghĩa có Cục phó Nguyễn Ngọc Xuân và các học viên lớp học vũ khí đầu tiên.

        Thật là một niềm vui bất ngờ, giữa tháng tư năm 2013 tác giả được gặp người chiến sĩ quân giới đã bắn thử badôca ở ứng Hòa năm 1947, cách đây hơn 66 năm. Ông là Nguyễn Văn Sinh, sinh năm 1928, quê ở Ứng Hòa, năm nay vừa tròn 85 tuổi. Hôm ấy ở Hà Nội, tôi may mắn được cùng các ông Nguyễn Văn Thu và Hồ Thanh Kha đi theo đoàn quay phim của Đài Truyền hình Việt Nam VTV2 về thăm Ứng Hòa, nơi Giáo sư Trần Đại Nghĩa mở lớp học vũ khí đầu tiên. Ông Nguyễn Văn Thu là học viên lớp học đầu tiên ấy, năm nay đã trên 86 tuổi và ông Hồ Thanh Kha là cán bộ Nha Nghiên cứu Kĩ thuật cũng đã 84 tuổi. Thật là mừng các ông còn khỏe mạnh để về thăm lớp học xưa ở Đền Khánh Hòa Linh Từ Bản Phủ và gặp lại người bạn quân giới Nguyễn Văn Sinh để xem thao tác lại các tư thế bắn badôca ngày ấy. Các ông sung sướng kể cho nhau nghe những kỉ niệm xưa của một thời trai trẻ những ngày đầu kháng chiến.

        Sau khi chế thử thành công ở ứng Hòa, kĩ sư Trần Đại Nghĩa đã cùng anh em đồng nghiệp tu sửa, hoàn chỉnh bản vẽ chi tiết và bản hướng dẫn chế tạo badôca (B60) để chuyển đến các xưởng quân giới ở Việt Bắc triển khai sản xuất.

        Từ giữa tháng 12 năm 1946, đồng chí Lê Đình Tạo (về sau là Cục trưởng Cục Quân khí) được lệnh của Bộ Quốc phòng, mang bản vẽ vào nhà máy xe lửa Trường Thi ở Vinh - Nghệ An, để tổ chức chế tạo hàng loạt đạn badôca bởi vì ở đây có đầy đủ máy móc thiết bị và nguồn vật tư cần thiết và là vùng không cỏ chiến sự. Đến tháng 3 năm 1947, những quả đạn badôca đầu tiên sản xuất ở Vinh và Việt Bắc đã được đưa ra bắn thực nghiệm. Nhưng kết quả lúc đầu chưa tốt, có mấy quả đạn đã nổ cướp, vài đồng chí đã hy sinh anh dũng khi bắn thử ở chợ Bến và Vinh. Ở chợ Bến, đồng chí Ngọc và đồng chí Hiệp hi sinh khi quả đạn thứ hai nổ cướp. Còn ở Vinh, đồng chí Lê Đình Dụ, em trai của đồng chí Lê Đình Tạo đã hi sinh khi quả đạn đầu tiên bị nổ cướp đồng chí Phạm Mĩ Vinh, Phó ty Quân giới khu 4 đứng sau bị thương nặng.

        Cục trưởng Trần Đại Nghĩa đã chỉ đạo Nha Nghiên cứu Kỹ thuật, phối hợp cùng Nha Giám đốc Binh công xưởng rà soát nguyên nhân cụ thể từng khâu, cả phần thiết kế và công nghệ chế tạo. Cuối cùng đã hoàn chỉnh, sửa chữa các sai sót trong công nghệ chế tạo, sử dụng đúng vật liệu. Những lần bắn thử sau này đảm bảo tính năng và độ an toàn.

        Một khó khăn lớn trong công việc chế tạo hàng loạt badôca là vấn đề vật tư, nguyên vật liệu, về thuốc nổ ta có một kho lớn đạn đại bác của hải quân Pháp mà ta thu được, trong đó có hàng trăm quả đạn cỡ lớn, mỗi quả chứa khoảng 200kg thuốc nổ mạnh. Đó là nguồn nguyên liệu quan trọng cho badôca. Riêng về sắt thép ở các xưởng dần cạn kiệt, phải giải quyết bằng cách nào?

        Kỹ sư Trần Đại Nghĩa ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ phải dựa vào quần chúng: “Dễ trăm lần, không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong", vấn đề được đưa ra bàn bạc, thảo luận trong anh em cán bộ, công nhân các binh công xưởng, về sắt thép, nguồn dồi dào nhất là đường ray xe lửa, có hàng ngàn kilômét đường ray rải khắp nơi, nhưng làm sao sử dụng. Đây là loại thép tốt nhưng rất cứng. May sao, cùng đi với Cục trưởng lên Tuyên Quang, giữa năm 1947 có đồng chí Đào Văn Lý là quản đốc xưởng rèn, một thợ rèn bậc cao, trưởng thành từ một gia đình thợ rèn có truyền thống. Theo yêu cầu của Cục trưởng, đồng chí Lý đã mời những thợ rèn giỏi từ khu Ba, khu Bốn về Việt Bắc để cùng nhau tìm cách giải quyết. Với một lực lượng công nhân kỹ thuật khá lớn, horn ba tháng vất vả lao động, vấn đề vật liệu sắt thép được giải quyết. Giáo sư Trần Đại Nghĩa nói: “Chính nhờ vậy mà chủng ta đã thành công, tận dụng được số lượng lớn đường ray, nên đã sàn xuất được hàng loạt súng đạn badôca, và các vũ khí khác, đáp ứng yêu cầu chiến đấu của các chiến dịch sau này”.

        Giáo sư Trần Đại Nghĩa nhớ lại: "Đến tháng 4 năm 1947, đạn ba dô ca mới thật ổn định và đi vào sản xuất hàng loạt, gửi các chiến trường.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #28 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2017, 06:30:41 am »


        Bộ đội ta không chỉ dùng ba dô ca để bắn xe tăng và xe thiết giáp mà còn dùng cho năm, sáu công việc khác nhau: Ba dô ca bắn ổ súng máy của địch, bắn lô cốt cố thủ, bắn xe cơ giới, bắn tàu chiến, tàu tuần tiễu đi gần bờ sông và bắn cả tốp bộ binh khi chúng tập trung đông. Nhiều đoàn cơ giới của địch đã bị ba dô ca tiêu diệt trên đường số 4. Trong chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông năm 1947, có một toán lính địch phục kích ở bến Bình Ca (Tuyên Quang) bên một bờ đả, chiến sĩ ba dô ca của ta bắn vào bờ đá, đạn nổ tiêu diệt gọn toán lính ”.

        Thực hiện huấn lệnh “luyện quân lập công” của Bộ Tổng Tư lệnh, từ cuối năm 1947 việc luyện tập bắn badôca vào mục tiêu trên bộ và trên sông đã được bộ đội ta đưa vào chương trình huấn luyện, và đã xuất hiện những tấm gương sử dụng thành thạo badôca, trong số đó có đồng chí Lã Viết Lâm quê ở xã Khánh Cư, huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình là một tấm gương sáng. Tại Đại hội liên quân Liên khu 3 mùa hè năm 1948, đồng chí Lã Viết Lâm chỉ huy tiểu đội badôca Ninh Bình đã thi đấu và giành giải nhất, được Đại hội tặng danh hiệu “Vua badôca”.

        Sau nhiều ngày nghiên cứu quy luật hoạt động của tàu chiến địch trên dòng sông Đáy, bộ đội ta đã tổ chức mai phục ở bến đò Tứ Mỹ phía Ý Yên, Nam Định. Đồng chí Lã Viết Lâm chiến đấu dũng cảm mưu trí, trực tiếp dùng badôca bắn trúng đích , làm tàu chiến giặc Pháp bốc cháy dữ dội. Quân Pháp hoảng loạn, bắn trả xổi xả, không may đồng chí Lã Viết Lâm trúng đạn của giặc và anh dũng hi sinh (Trích “Ninh Bình Lịch Sử Kháng Chiến Chống Thực Dân Pháp 1945-1954” do Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Bình xuất bản năm 1995, trang 49 và 62). Tác giả chân thành cảm ơn đồng chí Nguyễn Xuân Khang, Giám đốc Bảo tàng Ninh Bình đã kịp thời cung cấp tư liệu quí này.

        Khi viết về chiến công badôca, có một chuyện thật bất ngờ và cũng đầy xúc cảm. Tôi có một người bạn ở ngành Dầu khí quen thân cũng đã trên hai mươi năm nay, đó là anh Lã Xuân Thành, trẻ hơn tôi chục tuổi. Vui xuân Quí Tỵ 2013 ở thành phổ biển Vũng Tàu tình cờ gặp lại và lần đầu tôi được hiết anh là con của Liệt sĩ “Vua badôca”

        Lã Viết Lâm. Thật cảm động nghe anh Thành kể rằng bố anh đã hi sinh khi anh mới vài tháng tuổi trong bụng mẹ. Tôi lặng lẽ nhìn anh và thầm mong một ngày về quê anh để tặng gia đình và Bảo tàng Ninh Bình cuốn sách này, và thấp nén hưong tưởng nhớ người chiến sĩ anh hùng “Vua badôca” Lã Viết Lâm đã hi sinh vì Tổ quốc.

        Năm 1981, Đoàn phóng viên các nước Pháp, Anh, Mỹ phổi hợp làm bộ phim lịch sử về chiến tranh Việt Nam. Được phép của Bộ Ngoại giao, đoàn làm phim đến Viện Khoa học Việt Nam để phỏng vấn Giáo sư Viện sĩ Trần Đại Nghĩa về ba dô ca. Phóng viên truyền hình Pháp nói rằng: Trước khi qua Việt Nam, ông ấy có gặp Tổng tham mưu quân đội Pháp để hỏi cần phỏng vấn ai và vũ khí gì ở Việt Nam. Và được trả lời rằng: cần phỏng vấn Giáo sư Trần Đại Nghĩa những câu hỏi sau đây:

        1. Pháp không có ba dô ca, làm sao ông lại có mẫu ba dô ca của Mỹ

        2. Làm sao các ông nghiên cứu nhanh, sản xuất nhanh và nhiều như vậy

        3. Trong chiến dịch Thu Đông năm 1947 đối với Pháp có tính chất quyết định, các ông đã cung cấp cho quân đội của các ông bao nhiêu quả đạn ba dô ca?

        4. Trước kia ở bên Pháp ông đã làm gì? Và tại sao Chính phủ Pháp lại cho ông về với Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946?

        Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã trả lời ngắn gọn, riêng câu hỏi thứ tư, Giáo sư nói: Câu này, nên hỏi chính phủ Pháp.

        Qua câu chuyện trên, chúng ta càng thấy rõ ba dô ca đã có tác dụng như thế nào trong những năm đầu của cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #29 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2017, 08:34:30 pm »

   
§14

MỞ LỚP ĐÀO TẠO KỸ THUẬT VŨ KHÍ

        Vấn đề cán bộ kỹ thuật am hiểu vũ khí để nghiên cứu và chế tạo ngày ấy đang là vấn đề quan trọng và cấp bách có tính quyết định của thời kỳ đầu xây dựng ngành Quân giới non trẻ của đất nước. Ngay khi về Ứng Hoà, song song với việc hoàn chỉnh thiết kế và chế tạo badôca, kỹ sư Trần Đại Nghĩa đã bắt đầu lo mở lớp đào tạo về vũ khí.

        Mặc dù điều kiện làm việc vừa chật hẹp vừa thiếu thốn, kỹ sư Cục trưởng phải ở và làm việc trong một căn phòng nhỏ chỉ khoảng mười mét vuông, trước đây là phòng hiệu Trưởng của một trường tiểu học, hơn nữa có hàng ngàn cuốn sách và tài liệu về vũ khí mang từ Pháp về đã bị mất hết trong đêm bùng nổ kháng chiến toàn quốc, nhưng ông vẫn chuẩn bị đầy đủ những bài giảng lý thuyết cơ bản về vũ khí để hàng ngày trực tiếp giảng dạy cho lớp học vũ khí đầu tiên, bắt đầu từ cuối tháng giêng năm 1947.

        Ông là người đầu tiên đưa đến cho cán bộ khoa học trẻ của Việt Nam những kiến thức cơ bản về kỹ thuật vũ khí, cấu tạo và tính năng súng đạn, lý thuyết cơ bản về nội phao (balistique interieure), ngoại phao (balistique exterieure), lý thuyết chuyển động của viên đạn trong nòng súng và ngoài khí quyển, tính năng các loại thuốc nổ, thuốc phóng V.V..

        Nội dung những bài giảng của kỹ sư Trần Đại Nghĩa vừa cơ bản vừa thiết thực, đã được ông chắt lọc và đúc kết từ kinh nghiệm bản thân, qua một thời gian dài tự nghiên cứu, tìm hiểu ở Pháp và Đức. Đó là cơ sở lý luận đầu tiên giúp cho cán bộ nghiên cứu tự học, tự nâng cao trình độ (sau này có nhiều sách do đồng chí Tạ Quang Bửu mang về và sách về kỹ thuật pháo binh và các tài liệu khác ta thu được của địch).

        Lớp học vũ khí đầu tiên này chỉ có tám học viên nhưng hầu hết là những thanh niên tri thức có trình độ tú tài, hoặc cử nhân biết tiếng Pháp. Thầy đứng giảng bài đồng thời dùng hai ngôn ngữ Pháp, Việt.

        Một lớp học dã chiến, không có bàn ghế, bảng đen như các lớp bình thường. Lớp học được tổ chức ngay trong ngôi Đền Khánh Hòa Linh Từ ở phủ Ứng Hòa, ngày nay là huyện Ứng Hòa thuộc thành phố Hà Nội. Đây là một ngôi đền có diện tích khoảng bốn mươi mét vuông, xung quanh có vườn cây thoáng đãng, ngày nay đã được nhân dân tôn tạo khang trang. Học viên ngồi trên bục, đặt sổ ghi chép lên đùi. Tuy vậy, anh em vẫn tập trung lắng nghe chăm chú say sưa, cố gắng ghi chép đầy đủ và chi tiết, nhất là các công thức tính toán. Những nội dung này chưa hề có trong chương trình đào tạo đại học và cao đăng ở Hà Nội trước Cách mạng Tháng Tám.

        Học viên nghe giảng bài buổi sáng, buổi chiều tự học, làm bài tập, tự nghiên cứu, hoặc làm quen với việc nhồi lắp, gia công, chế tạo badôca do kỹ sư Nghĩa hướng dẫn. Hầu hết số học viên này, về sau đã trở thành những cán bộ chủ chốt của một số cơ quan, đơn vị. Ông Lê Khắc chuyển ngành ra làm Phó Chủ nhiệm, rồi Chủ nhiệm ủy ban Khoa học và Kĩ thuật nhà nước. Ông Hoàng Đình Phu, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, sau đó là Phó Chủ nhiệm ủy ban Khoa học, Kỹ thuật nhà nước. Ông Hoàng Xuân Tùy là Thứ trưởng Bộ Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp. Ông Phạm Đồng Điện - Hiệu trưởng trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Ông Nguyễn Văn Thu - Viện trưởng Viện Công nghệ Bộ Quốc phòng, Ông Ngô Điền - Đại sứ Việt Nam tại Pháp. Ông Phạm Văn Gián -  Cục trưởng Cục Quản lý xí nghiệp Tổng cục Hậu cần.

        Đêm mồng hai rạng ngày 3/3/1947, học viên lớp học này đã cùng thầy giáo kỹ sư Nghĩa, lắp ráp súng đạn badôca, để chuyển cho các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô lập chiến công tại Chùa Trầm, như đã nói trên đây.

        Lớp học đầu tiên này đã để lại những kỹ niệm sâu sắc trong lòng học viên, đặc biệt, họ thực sự thán phục trí nhớ khác thường của kỹ sư Nghĩa. Ông Phạm Đồng Điện thì nhắc lại kỷ niệm lần đầu được sử dụng thước tính lôgarít “Hemmisun” do Nhật chế tạo. Nghe nói, trước năm 1945 cả Đông Dương chỉ có một thước tính như vậy của Đờ ru-in (Drouin) Giám đốc nhà máy điện Yên Phụ, Hà Nội.

        Cuối tháng 3 năm 1947, Cục Quân giới được lệnh chuyển lên Tuyên Quang. Đến Phú Thọ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chúc mừng Cục trưởng Trần Đại Nghĩa chế tạo thành công badôca, khen ngợi chiến công đầu của badôca ở chùa Trầm. Thấy kỹ sư Trần Đại Nghĩa hiền lành, ít nói, Đại tướng gọi ông là : “Ông Phật làm súng”.

        Ở Tuyên Quang, một mặt tiếp tục chỉ đạo sản xuất hàng loạt badôca, nhiều cán bộ quân giới được cử đi các địa phương hướng dẫn kỹ thuật, mặt khác lo tổ chức hướng dẫn cho bộ đội pháo binh ở Bình Ca sử dụng và sửa chữa súng pháo và cách bắn cho đúng tầm trúng đích, trong đó có ba dô ca của quân giới ta mới chế tạo. Những thanh niên nông dân vừa khoác áo bộ đội đã học tập rất tốt, dũng cảm chiến đấu, đã dùng badôca tham gia đảnh đắm tàu chiến của giặc Pháp trong Chiến thắng Sông Lô vang dội - Chiến dịch Thu - Đông 1947, ta thu được rất nhiều súng đạn của địch. Ngày nay, bên bờ hữu ngạn Sông Lô ở huyện Đoan Hùng, Phú Thọ, nơi nhìn ra cửa sông Chảy đổ vào sông Lô (gần cầu Đoan Hùng), trên đỉnh đồi cao có Tượng đài Chiến thắng sông Lô hùng vĩ, sáng ngời chiến công đầu tiên của Pháo binh Việt Nam. Và “Bản Trường Ca Sông Lô” của Nhạc sĩ Văn Cao, với âm thanh hùng tráng mãi mãi ngân vang trên núi đồi Việt Bắc và trong lòng người Việt Nam.

        Tháng bảy năm 1947, cơ quan Cục Quân giới chuyển về Bắc Cạn. Tại đây, đầu tháng chín, Cục Quân giới đã tổ chức lớp đào tạo kỹ thuật quân giới với quy mô toàn quốc. Có trên 120 cán bộ công nhân quân giới từ các địa phương trong cả nước về dự lớp học này. Cục trưởng Trần Đại Nghĩa giảng bài, cả phần nguyên lý thiết kế đến công nghệ chế tạo vũ khí các loại, nội phao, ngoại phao, thuốc nổ, thuốc phao những bài học kinh nghiệm thực tế qua quá trình chế tạo badôca ở các nơi V.V.. Đây là lớp học rất quan trọng của Quân giới Việt Nam trong buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Lớp cán bộ này tỏa về các địa phương, là hạt nhân chế tạo vũ khí của các xưởng quân giới trên mọi miền đất nước.

        Năm 1949, kỹ sư Trần Đại Nghĩa được giao thêm trọng trách Cục trưởng Cục Pháo binh. Ông đã cùng các ông Hoàng Đình Phu, Nguyễn Phước Hoàng và cán bộ Nha Nghiên cứu Quân giới mở lớp đào tạo sĩ quan pháo binh đầu tiên của quân đội ta, tại Bắc Cạn.

        Trong hồi ký “Chiến đấu trong lòng địch” Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: “Chính Anh Trần Đại Nghĩa là người đầu tiên đã đem lại cho đội ngũ cán bộ khoa học của ta lúc bấy giờ những kiến thức cơ bản về lý luận và công nghệ chế tạo vũ khí”.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM