Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:39:57 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Từ Phạm Quang Lễ đến Trần Đại Nghĩa nhà khoa học anh hùng  (Đọc 23647 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #30 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2017, 08:35:24 pm »


       * TĂNG CƯỜNG NHÃN LỰC KỸ THUẬT CHẾ TẠO SKZ VÀ VŨ KHÍ HẠNG NẶNG

        Từ đầu chiến tranh, thực dân Pháp âm mưu tốc chiến tốc thắng hòng nhanh chóng tiêu diệt sinh lực của ta. Chúng dùng tàu chiến đánh ngược dòng sông Lô, uy hiếp an toàn khu của ta, nhảy dù xuống Bắc Cạn ngày 07/10/1947 hòng phá tan cơ sở quân giới của ta. Nhưng chúng đã bị quân dân ta đánh trả quyết liệt bằng chiến thắng sông Lô vang dội, đập tan hoàn toàn mưu đồ của chúng trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947.

        Cục Quân giới liên tiếp nhận được điện tín từ các mặt trận gửi về khen ngợi tác dụng và uy lực của ba dô ca. Giặc Pháp lo sợ, tìm cách chống đỡ bằng cách xây một hệ thống boong ke, lô cốt bằng bê tông cốt thép có bề dày hơn trước, hòng tránh badôca của ta.

        Trong thời gian hội nghị Quân giới toàn quân lần thứ nhất tháng 9-1948, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trường Bộ Quốc phòng đã chỉ thị cho Cục Quân giới phải khẩn trương nghiên cứu một loại vũ khí có sức công phá lớn hơn ba dô ca, có khả năng tiêu diệt boong ke, lô cốt kiểu mới của địch.

        Hồi đó, ta có thu nhập được một số mìn lõm cỡ 5 kg của Mỹ, có sức xuyên bê tông cốt thép rất lớn. Chính loại mìn này làm cơ sở chế tạo đầu đạn mới. Sau khi được Cục trưởng giao nhiệm vụ và gợi ý, Nha Nghiên cứu Kỹ thuật đã đề xuất phương án làm súng không giật SKZ.

        Việc thành lập Nha Nghiên cứu Kĩ thuật của Cục Quân giới năm 1946 là do đề xuất và sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng . Ngay từ đầu ông đã xác định tầm quan trọng của công tác nghiên cứu, chế thử vũ khí nên cần có Nha Kĩ thuật bên cạnh Nha Giám đốc các binh công xưởng và Nha Mậu dịch. Ông đã lựa chọn được một số thanh niên trí thức đầy tâm huyết có trình độ tú tài và cử nhân để đào tạo làm nhân lực ban đầu của Nha Kĩ thuật. Đó chính là những học viên của lớp học vũ khí đầu tiên ở ứng Hòa đầu năm 1947 do Cục trưởng Trần Đại Nghĩa trực tiếp giảng dạy.

        Lãnh đạo Cục Quân giới đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Nha Kỹ thuật, do Cục trưởng Trần Đại Nghĩa kiêm Giám đốc, đồng chí Hoàng Đình Phu, Phó Giám đốc trực tiếp chỉ đạo. Đốn năm 1948, Nha đã có các phòng kỹ thuật chuyên môn khá mạnh là: Phòng Xạ thuật, Phòng Hóa chất, Phòng Cơ khí, Phòng Tác chiến và Xưởng Thực nghiệm.

        Phòng Xạ thuật, một đơn vị quan trọng của Nha được tăng cường cả về nhân lực, tài liệu kỹ thuật và phương tiện nghiên cứu, do đồng chí Nguyễn Trinh Tiếp làm trưởng phòng và đồng chí Đỗ Đức Dục làm phó phòng.

        Nội dung những bài giảng của kỹ sư Trần Đại Nghĩa ở Ừng Hòa đã phát huy tác dụng. Đồng chí Đỗ Đức Dục nhớ lại: "Những bài học ban đầu về xạ thuật mà đồng chí Trần Đại Nghĩa Cục trưởng kiêm Giám đốc Nha lên lớp ở Ứng Hòa, đồng chí Hoàng Đình Phu, Phó giám đốc có ghi chép cẩn thận và trao lại cho đồng chí Nguyễn Trinh Tiếp. Tài liệu tuy ngắn nhưng súc tích, bao gồm những công thức về nội phao, ngoại phao, tính toán những hiện tượng về động lực, về áp suất... trong quá trình quả đạn di chuyển từ nòng súng đến mục tiêu. Với vốn sẵn có về toán cao cấp, lại có một lề lỗi làm việc khoa học, đồng chí Tiếp đã triển khai khẩn trương, đỡ phải mày mò từ đầu” (Đỗ Đức Dục, Tài liệu NCKT kỷ niệm 50 năm thành lập, trang 554).

        "... Anh Nguyễn Trinh Tiếp trình bày cụ thể với anh Phu về tiền dự án và những tính năng hỏa lực cần phải đạt được của loại vũ khí SKZ này. Anh Phu đồng ý và làm báo cáo gửi anh Nghĩa kèm theo bản thảo phác họa vũ khí và tính toán sơ bộ của Phòng Xạ thuật.

        Được Cục trưởng Trần Đại Nghĩa phê duyệt, công việc xúc tiến ngay. Kèm theo công văn phê duyệt có một tài liệu viết tay của anh Nghĩa hướng dẫn tính toán cụ thể thêm về vũ khí không giật. Chứng tỏ vấn đề này anh Nghĩa cũng đã có suy tính từ trước. Đó là một tài liệu rất quý để nâng cao trình độ lý luận của cán bộ Phòng Xạ thuật. Phó giám đốc Hoàng Đình Phu quyết định thành lập Ban SKZ (viết tắt của súng không giật), cử anh Nguyễn Trinh Tiếp làm trưởng ban, anh Nguyễn Nguyên Huy làm thư ký và một số trưởng, phó phòng tham gia ban này” (Nguyễn Phước Hoàng - Đỗ Đức Dục - Tài liệu Viện Nghiên cứu kỹ thuật Quân giới NCKT năm 1997 trang 65).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #31 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2017, 09:37:53 pm »

       
        Về phương tiện để nghiên cứu thí nghiệm chế tạo SKZ, thời gian này xưởng máy của Nha nghiên cứu đã thiết kế chế tạo được hai thiết bị thí nghiệm rất quan trọng, đó là thiết bị đo sơ tốc theo nguyên lý Bolanger - Bréguer, và thiết bị đo độ lùi của vũ khí. Nhờ hai thiết bị này mà các nhà thiết kế đã cân đối, điều chỉnh các thông số kỹ thuật để sớm hoàn thành công tác chế thử SKZ.

        Đồng chí Đỗ Đức Dục - Phó Phòng Xạ thuật ngày ấy nhớ lại quá trình nghiên cứu chế thử, thực nghiệm SKZ 60 ở xã Đồng Chiêm gần Ben Đĩa phía tả ngạn sông Lô, cách Đoan Hùng khoảng 10 km: “Sau mỗi lần thực nghiệm, ban thử, lại rút kinh nghiệm, tính toán sửa lại cho đến lúc hoàn thiện mới thôi. Thỉnh thoảng đồng chí Trần Đại Nghĩa lại nói thêm về tính toán trong những thư công tác gửi cho Nha. Mỗi một phân đoạn chế thử, thực nghiệm là một cuộc phấn đấu gian khổ đế tìm ra giải pháp hay nhất

        Với quyết tâm cao của tập thể cán bộ Nha Kỹ thuật, sau hơn 6 tháng thực nghiệm, bắn thử, súng đại bác SKZ 60 đã chế thử thành công. Đây là loại vũ khí công đồn nặng khoảng 26 kg, có thể tháo rời để mang vác, đầu đạn nặng khoảng 9 kg, có thể xuyên thủng bê tông dày trên 60 cm, khi bắn ở cự ly tối ưu.

        SKZ 60 được ứng dụng ngay trên chiến trường, và lần đầu đã lập chiến công xuất sắc, phá tan boong ke kiên cố của giặc Pháp trong chiến thắng ở phố Ràng, và chiến thắng phố Lu trong chiến dịch Lê Hồng Phong I cuối năm 1949. Tướng Cao Văn Khánh ngày ấy là Đại đoàn phó 308 trong chiến dịch Lê Hồng Phong đã viết thư tỏ lòng cảm phục anh em quân giới.

        Cục Quân giới quyết định đưa vào sản xuất hàng loạt SKZ 60 tại các xưởng quân giới ở Việt Bắc và Khu Bốn, đồng thời gửi bản vẽ vào Nam Bộ và Khu Năm. Sản xuất SKZ có thuận lợi bởi chỉ dùng thuốc đen bột là loại thuốc ta có sẵn, tự chế tạo được. Ngày ấy, Quân giới Việt Nam có sáng kiến trộn phân dơi với than và diêm sinh theo một tỷ lệ nhất định thì sẽ thành thuốc đen, bởi trong phân dơi có chất salpêtre (nitơrabotat). Trong các hang động núi cao có rất nhiều phân dơi đã đóng thành từng mảng khô cứng, như ở Bắc Giang, Hữu Lũng - Lạng Sơn và nhiều nơi khác. Nhân dân các dịa phương đã trèo đèo, lội suối, leo lên những hang đá trong rừng sâu để thu gom hàng trăm tấn phân dơi cung cấp cho các xưởng quân giới làm thuốc súng.

        SKZ, một loại vũ khí hạng nặng, công phá boong ke của Quân giới Việt Nam tự chế tạo đã làm giặc Pháp khiếp sợ. về sau, trong nhiều đại đoàn chủ lực của bộ đội ta thường có biên chế một đại đội trợ chiến có trang bị SKZ, chẳng hạn như Đại đội 80 của Đại đoàn 304 là Đại đội SKZ.

        Sau badôca, đại bác SKZ là thành công quan trong chế tạo vũ khí hạng nặng, hiện đại của Ngành Quân giới non trẻ của nước ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đó là kết quả sáng tạo tập thể của Nha Nghiên cứu Kỹ thuật, mà trực tiếp là Ban SKZ do đồng chí Nguyễn Trinh Tiếp làm Trưởng ban. Đó cũng là kết quả sự chỉ đạo cụ thể và kịp thời của Cục Quân giới, đứng đầu là Cục trưởng kiêm Giám đốc Nha Kỹ thuật, kỹ sư Trần Đại Nghĩa, người đã có những bài giảng lý luận cơ bản về vũ khí trong các lớp đào tạo những ngày đầu kháng chiến, đã thiết thực giúp cho cán bộ nghiên cứu của Nha Kỹ thuật trong việc chế tạo SKZ.

        Công trình chế tạo SKZ đã được Nhà nước tặng thưởng Huân Chương Quân Công hạng ba, tháng 7 năm 1950 và được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ đợt đầu tiên năm 1996.

        Đầu xuân năm Mậu Tý 1948, Cục trưởng Trần Đại Nghĩa trao đổi với các đồng chí Cục phó Nguyễn Ngọc Xuân, Nguyễn Duy Thái những công việc trọng tâm ở Việt Bắc cần tập trung chỉ đạo. Còn Cục trưởng và một số cán bộ kỹ thuật đi vào Ty quân giới Khu Bốn để nghiên cứu chế tạo bom bay. Sau gần ba tháng nghiên cứu đã thành công. Loại bom này bắn xa được khoảng 4km, nhưng tốn nhiều nhiên liệu và phải dùng thuốc đen ép thật cứng với áp suất 300kg/cm2. Nếu ép thuốc không đủ áp suất thì hiệu quả kém, chỉ nổ như một quả mìn. Do đó ta không sử dụng nhiều.

        Mùa đông 1949, bộ đội ta bắn thử loại bom bay này ở Hà Nội. Khi bắn, quả đạn bay qua sông Hồng rơi đúng vào trung tâm chỉ huy của Pháp ở Bác cổ. Tuy ràng thiệt hại về vật chất thì không nhiều, nhưng đã làm cho giặc Pháp khiếp sợ, hoang mang. Riêng đồng bào ta thì rất vui mừng, nói với nhau rằng: “Quân ta đã đánh được giặc Pháp ở ngay sào huyệt của chúng”.

        Cuối năm 1949, Bộ Tổng tham mưu yêu cầu Cục Quân giới nghiên cứu nâng tầm bắn của đạn lên trên một cây số. Tầm bắn của đại bác SKZ 60 chỉ trong khoảng từ ba đến bốn trăm mét. Muốn có loại vũ khí có tầm bắn xa hơn thì phải chế tạo được nòng súng có đường kính khoảng 200 milimet. Công nghiệp luyện kim của ta ngày ấy chưa có, lấy gì để làm?

        Giáo sư Trần Đại Nghĩa nhớ lại: “Tôi họp anh em kỹ thuật để hỏi ý kiến. Anh em đề xuất ý kiến dùng bình thép đựng oxy mà ta đang có trong các xưởng cơ khí. Vỏ của bình oxy này bằng thép tốt khá dày, chịu được áp suất khoảng 150kg/cm2. Nhưng đường kính của các bình oxy không giống nhau, có loại 200 milimet, có loại 210, có loại đến 238 milimet. Như vậy là phải thu gom một so lượng lớn bình oxy, phân loại và chế tạo ra một số nòng súng có nhiều cỡ khác nhau. Nghĩa là phải làm ra súng trước, sau đó mới làm ra quả đạn. Đó là nét đặc biệt của quân giới chúng ta ngày ấy.

        Chúng tôi gọi đây là súng lớn (vì có nhiều cỡ) dùng để đánh pháo đài kiên cố của địch. Mỗi viên đạn nặng trên 30 kilogam. Thuốc nổ dùng cho loại súng này ngày ấy ta không có nhiều. Chúng tôi đã dùng phương pháp điện phân để sản xuất ra cờ lo rát, rồi đem trộn với thuốc đen thành hỗn hợp có sức nổ mạnh dùng cho đạn súng lớn. Chúng tôi đã thành công”.

        Như vậy, năm 1949 đánh dấu một bước phát triển mạnh mẽ của Ngành Quân giới Việt Nam. Với đội ngũ cán bộ công nhân ngày càng lớn mạnh, từ khâu nghiên cứu chế thử đến sản xuất hàng loạt trong các nhà máy binh công xưởng, ngoài ba dô ca đã sản xuất ổn định, chúng ta đã chế tạo được nhiều súng đạn mới, đặc biệt hiệu quả trên chiến trường như SKZ 60, súng đại bác lớn (súng lớn), súng phóng bom (bom bay), V.V.. Ngoài ra còn sản xuất các loại mìn nổ chậm, mìn cháy chậm phục vụ chiến đấu của các đon vị đặc công, và nhiều loại vũ khí khác cho bộ đội địa phương, dân quân du kích.

        Bước phát triển này của Quân giới Việt Nam đã góp phần quan trọng để bộ đội ta giành thắng lợi lớn trên các chiến trường, đặc biệt là trong chiến dịch Biên giới 1950.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #32 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2017, 09:40:24 pm »


        * NHÀ NƯỚC VINH DANH ANH HÙNG

        Gần 2 năm trôi qua kể từ ngày theo Bác Hồ về nước phụng sự Tổ quốc, kỹ sư Phạm Quang Lễ - Trần Đại Nghĩa đã vượt qua những chặng đường kháng chiến đầy khó khăn, gian khổ của những năm tháng đầu tiên trên chiến khu Việt Bắc. Anh đã đồng cam cộng khổ cùng các chiến sĩ quân giới trong rừng sâu, dù cuộc sống thời chiến thiếu thốn đủ thứ, dường như quên đi cảnh sống sung túc đầy đủ ở Pa-ri, khi còn làm kỹ sư trưởng ở Công ty chế tạo máy bay của Pháp. Anh đã thực sự hòa mình vào không khí sôi nổi đầy khí thế quyết tâm của toàn quân, toàn dân chiến đấu chống thực dân Pháp và đã có những đóng góp quan trọng và có hiệu quả.

        Đến giữa năm 1948, kỹ sư Phạm Quang Lễ - Trần Đại Nghĩa đã vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và được Nhà nước phong quân hàm cấp Thiếu tướng. Từ tháng 3 năm 1949 đến tháng 6 năm 1952, kỹ sư - Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa được Bộ Quốc phòng giao
thêm trọng trách Cục trưởng Cục Pháo binh đầu tiên của quân đội ta. Giữa năm 1949, ông đã mở lớp đào tạo sĩ quan pháo binh, góp phần xây dựng các đơn vị tiền thân của binh chủng quan trọng này. Từ ba Trung đoàn huấn luyện ban đầu, đến năm 1952 đã thành lập Đại đoàn pháo binh đầu tiên do Tướng Phạm Ngọc Mậu chỉ huy. Pháo binh Việt Nam nhanh chóng lớn mạnh, đã góp phần quan trọng vào chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

        Ngày 28 tháng 5 năm 1948, tại chiến khu Việt Bắc đã tổ chức trọng thể lễ phong quân hàm cấp tướng lần đầu tiên trong lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các vị trong Chính phủ Kháng chiến đã tham dự buổi lễ long trọng này. Bác Hồ đã gắn quân hàm cấp tướng cho sĩ quan cao cấp nhất của quân đội ta: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Nguyễn Bình, các Thiếu tướng gồm có: Nguyễn Sơn, Văn Tiến Dũng, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiển Mai, Trần Đại Nghĩa và Trần Tử Bình.

        Đối với kỹ sư Phạm Quang Lễ - Trần Đại Nghĩa, việc được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và được phong quân hàm Thiếu tướng là một vinh dự lớn của một trí thức Việt kiều theo Bác Hồ về nước tham gia kháng chiến, mà hai năm trước đây anh chưa bao giờ dám mơ ước tới.

        Sau chiến thắng Biên giới, giải phóng một vùng rộng lớn ở Đông Bắc Tổ quốc, nối liền nước ta với Trung Quốc và các nước Xã hội Chủ nghĩa anh em, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã bước sang một giai đoạn mới có tính chất quyết định. Ngày 3 tháng 3 năm 1951, tại Việt Bắc đã tiến hành Đại hội toàn quốc lần thứ 2 của Đảng. Đảng ta đổi tên là Đảng Lao Động Việt Nam, Bác Hồ được bầu là Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Trường Chinh là Tổng Bí thư. Đại hội đã quyết định những vấn đề quan trọng nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, động viên mọi nguồn lực cho giai đoạn tổng phản công, tiến tới trận chiến đấu lịch sử và chiến thắng vẻ vang ở Điện Biên Phủ.

        Đầu năm 1952, tại An toàn khu ở Việt Bắc, Đại hội Anh hùng - Chiến sĩ thi đua toàn quốc đã được tổ chức, nhằm biểu dương những thành tích, những chiến công xuất sắc của quân dân cả nước trên mọi mặt trận, tiền tuyến cũng như hậu phương. Lần đầu tiên, Đại hội đã tuyên dương bảy anh hùng và hàng chục chiến sĩ thi đua, tiêu biểu cho quân dân cả nước trong sáu năm qua. Các Anh hùng lực lượng vũ trang gồm có: Cù Chính Lan (Liệt sĩ), La Văn cầu, Nguyễn Quốc Trị, Nguyễn Thị Chiên. Anh hùng lao động có: Hoàng Hanh, Ngô Gia Khảm và Trần Đại Nghĩa.

        Như vậy, ngành Quân giới có hai Anh hùng: Đồng chí Ngô Gia Khảm tiêu biểu cho giai cấp công nhân, đồng chí Trần Đại Nghĩa tiêu biểu cho giới trí thức cách mạng. Đối với kỹ sư Nghĩa, danh hiệu cao quý này là sự đánh giá của Tổ quốc về kết quả của cả quá trình hàng chục năm miệt mài học tập và làm việc ở nước ngoài, ấp ủ hoài bão lớn, và tinh thần lao động sáng tạo trong những năm đầu kháng chiến, trực tiếp nghiên cứu và sản xuất vũ khí trên cương vị là Cục trưởng Cục Quân giới và Cục trưởng Cục Pháo binh. Đó cũng là kết quả giáo dục và dìu dắt của Bác Hồ đã lựa chọn và đặt niềm tin vào người kỹ sư Việt kiều giàu lòng yêu nước. Giáo sư Trần Đại Nghĩa tâm sự: “Bác Hồ luôn quan tâm theo dõi công việc của ngành Quân giới. Mặc dầu Bác rất bận, nhưng vẫn thường xuyên thăm hỏi, khích lệ và nhắc nhở anh em chúng tôi. Tháng 3 năm 1950, Bác Hồ đã đến thăm xưởng quân giới của chúng tôi ở gần chợ Mới - Bắc Cạn. Bác rất vui khi thay chúng tôi làm được súng cối lớn và súng phóng bom

        Trên báo Nhân dân số 61 ngày 12 tháng 6 năm 1952, với bút danh CB, Bác Hồ đã viết: “Là một đại trí thức đi học ở Châu Âu đã nhiều năm, mang một lòng nhiệt tình phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến, đó là Anh hùng tri óc Trần Đại Nghĩa. Kỹ sư Nghĩa có công to trong việc xây dựng Quân giới, luôn luôn gần gũi, giúp đỡ, dạy bảo và học hỏi anh em công nhân, đã thắt chặt lý luận với thực hành.

        Giáo sư Tạ Quang Bửu người bạn thân thiết của Phạm Quang Lễ - Trần Đại Nghĩa từ những ngày ở Paris năm 1946, là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp chỉ đạo Cục Quân giới trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp đã nhận xét: “Người có công lớn nhất trong việc nghiên cứu, thiết kế và chế tạo các loại vũ khí có hỏa lực mạnh thời kháng chiến chống Pháp là anh Trần Đại Nghĩa.

        Chính vì vậy, tại Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất ở Việt Bắc anh đã được Nhà nước ta tặng Danh hiệu Anh hùng. Anh Nghĩa rất xứng đảng là người trí thức Việt Nam đầu tiên được nhận vinh dự cao quí ấy. ”

        Cậu học sinh Phạm Quang Lễ, con trai của ông giáo Phạm Văn Mùi và bà Lý Thị Diệu ở miền quê Vĩnh Long địa linh nhân kiệt, trải qua một quãng đường dài, từ năm 17 tuổi trên ghế nhà trường đã ấp ủ hoài bão lớn chế tạo vũ khí chống giặc ngoại xâm, đã dày công học tập, nghiên cứu trong hơn 11 năm du học và làm việc ở Pháp và Đức và được Bác Hồ tin cậy, lựa chọn đưa về nước phụng sự Tổ quốc, vượt qua những năm tháng đầy khó khăn gian khổ của cuộc kháng chiến, cùng với đồng chí, đồng đội miệt mài lao động, cống hiến tinh thần và trí tuệ chế tạo vũ khí cho bộ đội chiến đấu và chiến thắng, ở tuổi đời ba chín đã trở thành Nhà Khoa học Anh hùng Trần Đại Nghĩa, Nhà Khoa học tiêu biểu của Giới Trí thức Cách mạng Việt Nam.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #33 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2017, 09:58:24 pm »

       
§15

CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC KỸ THUẬT QUÂN SỰ TRONG THỜI KỲ CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

        Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Hiệp định Giơ ne vơ tháng 7 năm 1954, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương, nhưng đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền Nam và Bắc, giới tuyến là vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải - Quảng Trị). Nhân dân miền Bắc bắt đầu thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, xây dựng Xã hội Chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất nước nhà.

        Lúc này, Giáo sư Trần Đại Nghĩa đang là Thứ trưởng Bộ Công thương, được giao thêm trách nhiệm Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội ngay từ ngày đầu thành lập. Đến năm 1956, ông chuyển giao công việc Hiệu trưởng cho Giáo sư Tạ Quang Bửu, để tập trung vào nhiệm vụ Thứ trưởng Bộ Công thương, khôi phục sản xuất các ngành công nghiệp của đất nước.

        Đầu năm 1963, Giáo sư được giao trọng trách mới là Phó Chủ nhiệm, và sau đó là Chủ nhiệm ủy ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước, đến cuối năm 1965 đồng thời kiêm Chủ nhiệm ủy ban Khoa học, Kỹ thuật Nhà nước. Năm 1966, Giáo sư được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (Nga).

        Ở miền Nam, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai cố tình phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, bày đặt ra luật 10-59 tàn sát dã man Đảng viên Cộng sản và những người kháng chiến cũ, dìm cách mạng miền Nam trong biển máu. Nghị quyết 15, tháng 1 năm 1959 của Trung ương Đảng ta đã mở đường cho nhân dân miền Nam dùng bạo lực cách mạng, đồng khởi vùng lên đánh đổ chính quyền Mỹ Diệm. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập từ 1960 để đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, đấu tranh giải phóng miền Nam. Đế quốc Mỹ đã gây ra chiến tranh vô cùng tàn khốc trên khắp miền Nam. Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, dùng người Việt đánh người Việt, từ năm 1965, chúng chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Chúng ồ ạt đổ quân vào, từ vài chục vạn ban đầu đến lúc cao nhất hơn 50 vạn quân Mỹ, kết họp với quân ngụy và quân chư hầu, đến đầu năm 1969 lên tới,gần 1,5 triệu quân, cùng phương tiện chiến tranh hiện đại nhất thế kỷ hai mươi.

        Ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ bắt đầu dùng máy bay đánh phá miền Bắc và từ giữa năm 1965 liên tục đánh phá, hòng ngăn chặn sự chi viện của Hậu phương lớn miền Bắc cho Tiền tuyến lớn miền Nam.

        Đầu năm 1966, được Bác Hồ gợi ý, Quân ủy Trung ương đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ điều động Giáo sư Trần Đại Nghĩa trở lại phục vụ quân đội với cương vị là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, chuyên trách chỉ đạo về mặt kỹ thuật vũ khí quốc phòng, một lĩnh vực quan trọng về sức mạnh chiến đấu của quân đội ta. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của Giáo sư trong thời gian này, đồng thời vẫn kiêm chủ nhiệm hai ủy ban trên đây.

        Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là một cuộc đối đầu mang tầm lịch sử thế giới giữa một bên là để quốc Mỹ xâm lược, một cường quốc công nghiệp phát triển nhất, có tiềm lực kinh tế và quân sự hùng mạnh bậc nhất, với những trang bị vũ khí hiện đại, tối tân nhất, và một bên là nhân dân Việt Nam chính nghĩa, một nước đất không rộng, người không đông, kinh tế còn nghèo, công nghiệp chưa phát triển, nhưng có truyền thống lịch sử lâu đời đấu tranh chống giặc ngoại xâm, lại được các nước Xã hội Chủ nghĩa anh em và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ nhiệt tình ủng hộ, không chỉ về tinh thần đoàn kết, mà còn chi viện về vật chất và các phương tiện kỹ thuật vũ khí quốc phòng. Một cuộc đối đầu lịch sử trên nhiều mặt trận: Quân sự, chính trị, binh vận, ngoại giao.

        Đó cũng là một cuộc đọ sức trí tuệ về mặt kỹ thuật quân sự giữa một thế lực kỹ thuật hùng mạnh, có nhiều tiềm năng với trí tuệ của nhân dân Việt Nam, mà đại diện là tập thể các nhà khoa học kỹ thuật quân sự Việt Nam. Giáo sư được mời trở lại quân đội chính là ở điểm này.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #34 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2017, 09:58:49 pm »

     
        Sau hai mươi năm xây dựng, đến giữa những năm sáu mươi, cùng với sự lớn mạnh, tiến lên chính quy hiện đại của các quân binh chủng Quân đội Nhân dân Việt Nam, lực lượng kỹ thuật quân sự - quân giới Việt Nam từ cơ sở vật chất đến đội ngũ cán bộ công nhân đã trưởng thành. Một hệ thống các nhà máy quốc phòng đã được xây dựng song song với các cơ sở công nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961/1965). Đội ngũ nghiên cứu thiết kế, chế tạo vũ khí, khí tài quân sự của Tổng cục Hậu cần cũng như của các Quân khu, Quân binh chủng được củng cố. Ngoài Cục Quân giới còn có Cục Nghiên cứu Kỹ thuật Quân sự (về sau là Viện Kỹ thuật Quân sự thuộc Bộ Tổng Tham mưu).

        Giáo sư đã cùng các nhà kỹ thuật quân sự xây dựng phương hướng cơ bản của kế hoạch dài hạn về vũ khí trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước, trong đó nhấn mạnh những vấn đề trọng tâm: Một là sử dụng có hiệu quả cao số lượng vũ khí, khí tài quân sự được viện trợ, đa dạng hóa tác dụng vũ khí trong chiến đấu. Hai là nghiên cứu chế tạo các loại vũ khí phù hợp với cách đánh của từng chiến trường, từng vùng chiến thuật và của các quân binh chủng. Ba là nghiên cứu những biện pháp đối phó với kỹ thuật hiện đại của Mỹ.

        Với một bộ óc bác học uyên thâm về nhiều lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, quân sự, công nghệ cao, và có vốn kinh nghiệm thực tế từng trải qua chiến tranh thế giới thứ hai ở Pháp, ở Đức, và kinh nghiệm quý báu thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Giáo sư, Viện sỹ Trần Đại Nghĩa thực sự đã trở thành cố vấn đa năng có hiệu quả cho lớp cán bộ khoa học kỹ thuật quân sự trẻ vừa tốt nghiệp từ các trường đại học ở trong và ngoài nước, bước vào phục vụ quân đội trong thời chiến. Đó là lớp cán bộ giỏi, được đào tạo cơ bản, giàu nhiệt tình yêu nước, nay lại có một người thủ trưởng, người Thầy có trí tuệ uyên thâm, luôn luôn sẵn lòng giảng giải những vấn đề mới, kỹ thuật phức tạp, nên họ càng đầy niềm tự tin, mạnh dạn đi sâu vào những phương án kỹ thuật mới đánh trả vũ khí hiện đại của giặc Mỹ. Ông thực sự là tấm gương sáng về phẩm chất, nhân cách và tầm cao trí tuệ cho lớp trẻ noi theo.

        Thời gian này tôi đang là kỹ sư ở nhà máy quân giới Z113, đang lo khâu nhiệt luyện dụng cụ dập đạn K56 và là Trưởng ban An toàn kỹ thuật dây chuyền cải tiến đạn cối 82 ly của Nga thành 81 ly của Mỹ để gửi vào chiến trường miền Nam. Đầu năm 1968, tôi được chọn làm thư ký của Giáo sư. Tôi cảm thấy thật vinh hạnh được giúp việc, được ở bên cạnh một nhà khoa học thần tượng mà lóp thanh niên chúng tôi đã cảm phục từ khi còn là những học sinh dưới mái trường kháng chiến trên bờ sông Lam ở Nghệ An. Nhưng tôi thực sự lo lắng vì mới tốt nghiệp đại học, vốn kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn quá ít. Tôi nhớ giây phút ban đầu gặp Giáo sư, thấy tôi băn khoăn lo lắng, ông động viên: “Cứ yên tâm, vừa làm vừa học, cái gì chưa hiểu thì hỏi, đừng ngần ngại. Tôi biết chú là sinh viên giỏi, tốt nghiệp đại học loại xuất sắc. Chú theo dõi tạp chí kỹ thuật quân sự của Nga và bảo cho tôi thông tin mới” Giáo sư chỉ bảo cặn kẽ, dần dần tôi quen việc, mạnh dạn và tự tin. Gần bốn năm ở cạnh Giáo sư, tôi học hỏi được rất nhiều về mọi mặt.

        Đối với tôi, bốn năm làm thư ký cho Giáo sư Trần Đại Nghĩa cũng là một khóa đào tạo, huấn luyện sau đại học của một kỹ sư trẻ, đã được học tập hơn 5 năm ở trường Đại học Thép và Hợp Kim Matxcơva và ba năm công tác ở nhà máy quân giới. Điều đó thực sự giúp tôi rất nhiều để hoàn thành những công việc về sau trên bước đường công tác, nhất là thời gian tôi được giao nhiệm vụ Viện phó Viện Khoa học Dạy nghề và sau đó là Viện Phó Viện Đại học và Giáo dục Chuyên nghiệp.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #35 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2017, 09:59:58 pm »


*

*       *

        Trong thời gian tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã sử dụng tất cả các loại vũ khí hiện đại nhất với khối lượng khổng lồ (trừ tên lửa tầm xa và bom nguyên tử). Hàng năm, Chính phủ Mỹ bỏ ra hơn một tỷ đô la dành riêng cho việc nghiên cứu cải tiến vũ khí cho chiến trường Việt Nam, nghiên cứu rất khẩn trương và áp dụng thử nghiệm ngay trong chiến trận.

        Trọng điểm của đế quốc Mỹ là đánh phá ta ác liệt dọc trên chiều dài tuyển đường 559, con đường Hồ Chí Minh, tuyến đường huyết mạch vận chuyển quân lực, vũ khí, phương tiện quân sự của Hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho Tiền tuyến lớn miền Nam. Trên tuyến đường này, đế quốc Mỹ thiết lập hàng rào điện tử Mac na ma ra (tên của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ thời điểm ấy). Các loại khí tài điện tử hiện đại như cây nhiệt đới, máy đếm, máy thông tin, siêu âm, tia hồng ngoại; các loại mìn lá, bom nổ chậm, bom la de, bom từ trường, bom napan, chất độc hóa học, cùng với hệ thống xe tăng, xe bọc thép, trực thăng vận, các loại máy bay do thám, máy bay gây nhiễu, phản lực “Thần sấm”, “Con ma”, “Cánh cụp, cánh xòe” F111A đến pháo đài bay chiến lược B52, đế quốc Mỹ đã thường xuyên huy động vào chiến trận, nhằm phát hiện đoàn xe của ta, địa điểm quân ta tập trung để tìm cách tiêu diệt.

        Lực lượng nghiên cứu kỹ thuật của ta so với đế quốc Mỹ tuy còn khá mỏng, cơ sở vật chất, kinh phí còn hạn hẹp, nhưng ta có cách làm của ta. Xuất phát từ yêu cầu thực tế của chiến trường, đề tài nghiên cứu của ta có trọng tâm, trọng điểm, có sự phối hợp ngay từ đầu giữa cơ quan thiết kể và xí nghiệp sản xuất để rút ngắn thời gian nghiên cứu thực nghiệm và chế tạo đưa ra chiến trường.

        Cán bộ nghiên cứu của Viện Kỹ thuật Quân sự, Cục Quân giới, các cục kỹ thuật của các quân chủng và binh chủng luôn bám sát thực tế của mặt trận, có mối quan hệ mật thiết với sĩ quan tác chiến của các đơn vị, hiểu rõ cách đánh của bộ đội ta, từ đó đã đề xuất những phương án cải tiến vũ khí để nâng cao hiệu suất chiến đấu, cũng như các biện pháp kỹ thuật đối phó với vũ khí hiện đại của Mỹ. Thời gian này, trong lịch làm việc hàng tuần, hàng tháng của Giáo sư với các nhà kỹ thuật quân sự, Phòng Bí thư luôn nhắc nhở tôi phải bố trí thật hợp lý, ưu tiên những vấn đề cấp thiết nhất cho chiến trường và những vấn đề kiểm tra thực nghiệm để sớm đi vào chế tạo phục vụ cho tuyến đường 559.

        Phương án cải tiến vũ khí ngày ấy khá thành công, đơn cử như việc cải tiến hỏa tiễn đất đối đất H6 thành đất đối không của Phòng Kỳ thuật Cục Quân giới, bằng cách cải tiến ống phóng, nhằm đánh máy bay tầm thấp dưới 4 km. Chỉ riêng trong năm 1967 nhà máy VI13 và VI11 đã gửi vào chiến trường khoảng 100 ống phóng cải tiến và 500 đầu đạn, đã góp phần hạn chế máy bay tầm thấp đánh phá tại các khu vực đầu mối giao thông.

        Vấn đề phá bom từ trường, một phương án quan trọng đã thành công là chế tạo xe phóng từ trường. Viện Kỹ thuật Quân sự đã cùng nhà máy quân giới V119 và nhà máy chế tạo biến thế, Bộ Công nghiệp nặng chế tạo thành công hàng trăm xe phóng từ, có thể phá bom ở cự ly 130 mét. Nhờ vậy đã giúp bộ đội công binh giải tỏa nhanh các trọng điểm giao thông bị bom từ trường phong tỏa. Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, Tư lệnh Đoàn 559 đánh giá rất cao tác dụng của phương tiện này, xem đây là một thành công đặc biệt về kỹ thuật đã giúp ông hoàn thành tốt nhiệm vụ

        Từ thực tiễn chiến đấu và kết quả nghiên cứu, cải biên cải tiến vũ khí ở cả hai miền Nam - Bắc, tháng 11 năm 1968 tại Thủ đô Hà Nội, Tổng cục Hậu cần đã tổ chức Hội nghị toàn quân chuyên đề về cải tiến vũ khí. Các đồng chí chủ nhiệm hậu cần, chủ nhiệm quân giới của các quân khu, quân chủng, binh chủng và đại diện các chiến trường đã có dịp trực tiếp thảo luận, trao đổi ý kiến với đại diện của cơ quan Bộ Quốc phòng như Cục Quân huấn,

        Cục Tác chiến, Viện Kỹ thuật Quân sự, và các cán bộ kỹ thuật của Tổng cục Hậu cần ở Cục Quân giới, Cục Quản lý xe, Cục Vận tải V.V.. Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa đã đọc báo cáo kiểm điểm tình hình trang bị vũ khí của quân đội, đặc biệt là vũ khí của lục quân, nhấn mạnh những trọng tâm nghiên cứu để sử dụng có hiệu quả cao các loại vũ khí được viện trợ, cũng như những biện pháp kỹ thuật đối đầu với vũ khí hiện đại của Mỹ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #36 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2017, 10:38:22 pm »

   
        Thời gian này, Giáo sư Trần Đại Nghĩa còn phối hợp lực lượng kỹ thuật của quân đội với các trường đại học, các viện kỹ thuật ngoài quân đội, như Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Viện Kỹ thuật Giao thông, Viện Công nghệ Bộ Cơ khí Luyện kim V.V.. trong nhiều đề tài nghiên cứu khẩn cấp cho quốc phòng. Những vấn đề nước sôi lửa bỏng đã được khẩn trương phối hợp như việc rà phá ngư lôi phong tỏa cảng Hải Phòng, phá bom từ trường, thực nghiệm cáp chuyển tải để phục vụ gấp cho tuyến đường huyết mạch 559 V.V..

        Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt đó, được ở gần Giáo sư, tôi càng thấy rõ tinh thần lạc quan cách mạng của ông và các thủ trưởng Tổng cục Hậu cần. Mỗi lần Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Đinh Đức Thiện gặp các Phó Chủ nhiệm Tổng cục Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Duy Thái, Vũ Văn Cẩn, Trần Thọ, Lương Nhân là một lần được nghe tiếng cười sảng khoái, vui vẻ, lạc quan. Đặc biệt vui nhất là những lần đồng chí Đồng Sỹ Nguyên, Phó Chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần đặc trách Tư lệnh Đoàn 559, từ chiến trường trở về Hà Nội, kể lại chiến công của bộ đội ta trên các trọng điểm sử dụng có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật mới được Hậu phương cải tiến. Trong lòng những thanh niên, cán bộ kỹ thuật trẻ chúng tôi lúc ấy càng cảm phục tinh thần thương yêu đồng chí, đồng đội, cũng như niềm tin sắt đá vào chiến thắng của lớp đàn anh, những người thủ trưởng, người thầy quý mến của chúng tôi.

        Đầu năm 1969, mặc dù chiến tranh còn rất ác liệt, Giáo sư Trần Đại Nghĩa vẫn nghĩ đến việc bồi dưỡng kiến thức khoa học cho sĩ quan quân đội ta. Giáo sư đã cử tôi đến gặp Giáo sư Hoàng Tụy, Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, để xin cuốn sách “Vận Trù Học Trong Quân Sự” của Giáo sư, Thiếu tướng Nga. Sau khi nghe tôi báo cáo lược dịch tóm tắt nội dung các chương mục, Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã giao cho Viện Kỹ thuật Quân sự dịch và in ấn. Cuốn sách đã góp thêm tài liệu cần thiết để nâng cao trình độ của sĩ quan quân đội trong các khóa huấn luyện sau đó.

        Cũng thời gian này, theo yêu cầu của Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc và Bộ Công nghiệp nặng, Giáo sư đã nhiều lần giảng bài tại các lớp bồi dưỡng cán bộ, với chủ đề: “Cách mạng khoa học kỹ thuật và vấn đề quản lý”. Đây là một bài giảng rất lý thú và hấp dẫn cho cán bộ quản lý ngày ấy. Nhiều vấn đề mới đặt ra cho cán bộ lãnh đạo các ngành về phương thức quản lý xí nghiệp, những nét nổi bật về ưu điểm, nhược điểm của phương thức quản lý tư bản chủ nghĩa mà bản thân Giáo sư đã kinh qua trong thời gian làm việc ở Pháp và Đức, những kinh nghiệm quý báu của công tác quản lý xí nghiệp ở Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa, nhấn mạnh vai trò quyết định của cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề, đặc biệt là công nhân lành nghề bậc cao V.V..

        Đây là một tài liệu khá hấp dẫn, ngày ấy được nhiều người quan tâm. Tôi được tháp tùng Giáo sư và nhiều lần say sưa nghe ông giảng bài, và dựa vào giáo án tóm tắt ngắn gọn của ông, theo yêu cầu của cơ quan tôi đã viết thành một văn bản khá dài, giáo sư đã đọc lại, tu sửa thành một tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý xí nghiệp công nghiệp.

        Từ ngày trở lại quân đội chỉ đạo công tác kỹ thuật quân sự, Giáo sư Trần Đại Nghĩa luôn ghi nhớ lời căn dặn của Bác Hồ khi Bác về thăm bộ đội Phòng không - Không quân. Bác đã tiên đoán ràng: Sớm muộn rồi giặc Mỹ cũng dùng máy bay chiến lược B52 đánh phá thủ đô Hà Nội, rồi thua, chúng mới chịu thua.

        Pháo đài bay chiến lược B52 có hệ thống gây nhiễu hiện đại, nhiễu lớn đến mức mà các phương tiện điện tử của ta không phát hiện được mục tiêu trên màn ra đa để bắn trúng đích. Đế quốc Mỹ coi B52 là pháo đài bay uy lực tuyệt đối, bất khả xâm phạm, đe dọa sẽ san phẳng Hà Nội. Vì vậy tìm phương án đánh B52 là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của quân dân ta.

        Vâng theo lời dạy của Bác Hồ, muốn bắt cọp phải vào hang cọp, binh chủng tên lửa của quân đội ta đã tìm cách đưa tên lửa SAM - 2 vào Quảng Bình từ năm 1965 để tìm cách hạ gục B52. Đầu năm 1967, Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Tướng Phùng Thế Tài đã thành lập đội trinh sát nhiễu điện tử để phối hợp cùng đoàn chuyên gia Liên Xô. Đến năm 1968 Tiểu đoàn trinh sát nhiễu gồm 3 đại đội đã được thành lập do đồng chí kỹ sư Phan Thu làm tiểu đoàn trưởng (sau này đồng chí Phan Thu được tuyên dương Anh hùng Quân đội, và là Trung tướng - Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng)
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Mười, 2017, 10:50:10 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #37 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2017, 10:46:25 pm »

       
        Lực lượng kỹ thuật của Quân chủng Phòng không Không quân lúc này đã lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Cục kỹ thuật Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân được thành lập từ tháng 3 năm 1965 là cục kỹ thuật quân chủng đầu tiên, chăm lo quản lý và phát huy tác dụng của hệ thống trang bị, khí tài pháo cao xạ, tên lửa, ra đa, máy bay... Thời gian này Cục trưởng Trần Thái Vĩnh và các cán bộ nghiên cứu Cục Kỹ thuật thường đến gặp Giáo sư Trần Đại Nghĩa để được nghe ý kiến của ông về những vấn đề kỹ thuật của quân chủng. Đồng thời ông cũng đến hiện trường để góp ý và chỉ đạo cụ thể, chẳng hạn như việc cải tạo sân bay dã chiến Kép, Hòa Lạc V.V..

        Những lần làm việc với các nhà kỹ thuật phòng không không quân, Giáo sư Trần Đại Nghĩa thường nhấn mạnh rằng: Kinh nghiệm chiến tranh thế giới đã chỉ rõ, vũ khí dù hiện đại đến mấy đi nữa vẫn có nhược điểm. Chúng ta cần phải nghiên cứu sâu, phát hiện và khoét sâu những nhược điểm đó. Đó là biện pháp tích cực nhất để đáp trả đối phương.

        Giáo sư nói rằng: “ Máy bay Mỹ tuy gây nhiễu nhưng không nhiễu được hết, bởi có cái làn sóng đầu máy để dẫn đường không nhiễu được, nếu nhiễu máy bay cũng không thể sử dụng được. Chúng ta nhằm vào nhược điếm đó mà xử lý. Đồng thời chúng ta có những biện pháp khác để giảm hiệu quả nhiễu của chúng. Ta có thể kết hợp quan sát bằng sóng ra đa với khí tài quang học, chẳng hạn dùng hệ quang học pháo cao xạ 100 với ra đa tên lửa. Kết hợp thủ công với hiện đại, ở những vị trí, những góc độ tầm và hướng khác nhau của khí tài chắc sẽ tìm ra phương án chống nhiễu tối ưu".

        Suốt hai mùa khô 1968 - 1969 và 1969 - 1970 theo dõi, nghiên cứu phân tích thủ đoạn gây nhiễu của máy bay Mỹ trên tuyến đường 559, nhóm cán bộ kỹ thuật của tiểu đoàn trinh sát nhiễu đã phát hiện một loại ra đa của ta không bị máy bay B52 gây nhiễu. “Trên cơ sở đó, cuối năm 1971, một tổ cán bộ Phòng nghiền cứu kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân gồm các kỹ sư: Hoàng Văn Khoa, Trịnh Ngọc Xiển, Nguyễn Quý Quốc, Hoàng Thế Kỳ, do kỹ sư Phan Thu trực tiếp phụ trách đã dùng ra đa có bước sóng thích hợp ghép với đài điều khiển tên lửa phòng không để phát hiện B52" (Lịch sử Quân giới Việt Nam 1954 - 1975; NXB Quân đội Nhân dân Việt Nam trang 217)

        Sau khi kiểm tra thực nghiệm tại Quảng Bình đạt kết quả khả quan (tháng 2/1972), Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân đã cho lắp thêm 6 bộ khí tài KX như vậy cho một số đơn vị phòng không bảo vệ Hà Nội để đưa vào thường trực chiến đấu, và sau đó nhân rộng ra. Qua thực tế chiến đấu, càng khẳng định khả năng “Vạch nhiễu tìm thù” của bộ khí tài KX.

        Cùng với những bước cải tiến có hiệu quả của tên lửa SAM - 2, khả năng phát hiện mục tiêu B52 của bộ khí tài KX đã góp phần quan trọng cùng với những biện pháp về chiến thuật xạ kích, cũng như tinh thần chiến đấu dũng cảm và trình độ tác chiến phòng không của bộ đội tên lửa của quân đội ta, “Siêu pháo đài bay” của giặc Mỹ đã rơi rụng thảm bại trên bầu trời Hà Nội trong chiến dịch “Lai - nơ Bech - cơ II”, một thảm bại nghiêm trọng trong lịch sử không lực Hoa Kỳ.

        Giáo sư Trần Đại Nghĩa kể lại, và Thiếu tá Đào Đức Tú - Phòng Lịch sử - Ban Khoa học Hậu cần đã ghi trong hồi kỳ năm 1982 của Giáo sư như sau: “Tôi còn nhớ ngày 7/9/1972 có một cuộc hội nghị ở Bộ Tổng Tham mưu do anh Vương Thừa Vũ chủ trì, có anh Phùng Thế Tài và các đồng chí Tư lệnh của Quân chủng Phòng không Không quản tham dự, chủng tôi nêu những đặc điểm của B52, khẳng định ta đánh được B52 và những biện pháp cần áp dụng. Sau hội nghị, anh em luyện tập và thực nghiệm các biện pháp đó để thành thạo trước khi địch đánh vào Hà Nội. Với sự anh dũng và nghệ thuật của anh em, các biện pháp đó đã thành công mỹ mãn".

        Thắng lợi lịch sử vang dội của trận “ Điện Biên Phủ trên không” của quân dân ta đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari ngày 27/01/1973, công nhận nền độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, và đã mở đường cho Đại thắng Mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước vững bước trên con đường xây dựng Xã hội Chủ nghĩa, dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh, hiện đại.

        Trong sổ ghi nhật ký của mình, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đã viết: “Ngày 30 tháng 04 năm 1975, nhiệm vụ của tôi đã hoàn thành, vì hoài bão của tôi hồi nhỏ, sứ mạng của tôi rất đơn giản là tham gia về mặt khoa học, kỹ thuật vũ khí trong cuộc đau tranh vũ trang cách mạng để giải phóng đất nước, và nay đất nước đã được giải phóng, tôi không muốn gì hơn nữa, vì một đời người không thể làm hơn.

        Tôi mãi mãi nhớ Bác Hồ kính yêu, vô cùng biết ơn Bác cho theo Bác về nước, luôn chăm sóc, hướng dẫn tôi, và trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như chống đế quốc Mỹ xâm lược, đã cho tôi các cương vị để có thể hoàn thành nhiệm vụ của đời tôi một cách hiệu quả nhất. Và tên mà Bác đã đặt cho tôi ngày 5/12/1946 cũng luôn nhắc nhở tôi. Hàng năm cứ đến 3 ngày là: ngày 10 tháng 9, ngày 20 tháng 10 và ngày 5 tháng 12, tôi lại nhớ về quá khứ một cách rất cảm động".
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #38 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2017, 10:47:38 pm »

       
§15

XÂY DỰNG VIỆN KHOA HỌC VIỆT NAM

        Sau ngày giải phóng miền Nam, đất nước thống nhất, một hôm gặp đồng chí Trường Chinh - Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Giáo sư Trần Đại Nghĩa báo cáo rằng: Năm nay đã 63 tuổi, đã đến tuổi quy định, xin được nghỉ hưu. Đồng chí Trường Chinh thân mật trả lời: “Anh Nghĩa ơi! Đất nước thống nhất rồi nhưng còn nhiều việc, chúng tôi chưa được nghỉ, làm sao anh trẻ hơn lại nghỉ được!”

        Ngày 20 tháng 5 năm 1975, Chính phủ quyết định thành lập Viện Khoa học Việt Nam - Trung tâm nghiên cứu khoa học lớn nhất của cả nước về khoa học tự nhiên và kỹ thuật, công nghệ. Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đang làm Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, được cử kiêm giữ chức vụ Viện trưởng đầu tiên của Viện Khoa học Việt Nam. Và từ tháng 2/1977 Giáo sư Trần Đại Nghĩa thôi kiêm giữ chức vụ Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước để tập trung làm nhiệm vụ Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam.


Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đón tiếp Phó Thủ tướng Chính phủ Đại tướng Võ Nguyên Giáp Thăm Viện Khoa học Việt Nam - 1980



Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đón tiếp Thủ tướng Phạm Văn Đồng thâm Viện Khoa học Việt Nam -1981


Bác Tôn ĐứcThắng cùng Viện sĩ Trần Đại Nghĩa tiếp Phi công Vũ Trụ Việt Nam - Phạm Tuân

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #39 vào lúc: 01 Tháng Mười, 2017, 11:03:17 pm »

   
        Theo đề nghị của Giáo sư Viện trưởng Trần Đại Nghĩa, Chính phủ đã bổ nhiệm một số Giáo sư, nhà khoa học kỹ thuật lớn tiêu biểu các lĩnh vực khoa học, làm Phó Viện trưởng thành một tập thể lãnh đạo đầu tiên của Viện Khoa học Việt Nam. Ngày 3 tháng 3 năm 1977 tại Viện Khoa học Việt Nam với sự hiện diện của đông đảo các nhà khoa học tiêu biểu trong cả nước trong đó có Giáo sư Tạ Quang Bửu, Giáo sư Tôn Thất Tùng, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn..., Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Phó Thủ tướng Chính phủ đã công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm các Phó Viện trưởng gồm các Giáo sư: Nguyễn Văn Hiệu (Vật lý - Viện KHVN) Nguyễn Văn Chiển (Địa chất - Đại học Tổng hợp Hà Nội); Vũ Đình Cự (Vật lý - Đại học Bách khoa Hà Nội); Phan Đình Diệu (Toán học - Viện KHVN); Nguyễn Văn Đạo (Cơ học -  Đại học Bách khoa Hà Nội); Lê Định (Chuyên viên Cao cấp Ban Tổ chức Trung ương); Hoàng Đình Phu (Viện Kỹ thuật Quân sự); Đặng Ngọc Thanh (Sinh học - Đại học Tổng hợp Hà Nội) và Hồ Sĩ Thoảng (Hoá học - Phân viện của Viện KHVN tại TP. Hồ Chí Minh)

      
Viện trưởng Trần Đại Nghĩa cùng các Phó Viện trưởng Viện KHVN. Từ trải sang phải: Nguyễn Văn Đạo, Nguyễn Văn Hiệu, Phan Đình Diêu

        Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp đã nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác khoa học kỹ thuật trong giai đoạn mới của Cách mạng Việt Nam, khi đất nước đã hoà bình thống nhất đang trên đường xây dựng Xã hội Chủ nghĩa, và nhiệm vụ quan trọng lúc này là tập trung trí tuệ của các nhà khoa học cả nước xây dựng Viện thành trung tâm nghiên cứu khoa học lớn nhất của nước ta, giải quyết những vấn đề cấp bách trước mắt và chuẩn bị cho bước phát triển lâu dài của đất nước. Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp đặt niềm tin vào Ban lãnh đạo của Viện do Giáo sư Trần Đại Nghĩa đứng đầu sẽ vượt qua những khó khăn thiếu thốn ban đầu để xây dựng Viện Khoa học Việt Nam.


Những người thư kỷ của Giảo sư Trần Đại Nghĩa tại Hà Nội - 2004 Từ trải qua phải: Thành Đức, Lê Quang Tương, Nguyên Khãc Chấn, Nguyễn Huy Ứng

        Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu, nhà khoa học vật lý nguyên tử nổi tiếng, đã có 12 năm làm việc, trong đó có 8 năm là Phó Viện trưởng, sát cánh cùng Viện trưởng Trần Đại Nghĩa, sau đó từ 1983 kế tục trọng trách Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, đánh giá rất cao công lao của cố Giáo sư Trần Đại Nghĩa trong giai đoạn đầu xây dựng Viện. Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu tâm sự rằng: Từ thuở học sinh ông đã cảm phục bác Trần Đại Nghĩa. Đối với ông, đó là một vĩ nhân huyền thoại, một nhà khoa học có thành tựu kiệt xuất cống hiến cho Tổ quốc. Nay lại có dịp được làm việc với bác Nghĩa, ông học được ở bác rất nhiều, rất thán phục. Bác Nghĩa có bộ óc phi thường, đọc rất nhiều, có vốn tri thức uyên thâm nhiều lĩnh vực khoa học. Bác Nghĩa có uy tín rất lớn nên đã đoàn kết, thu phục được các nhà khoa học lớn của đất nước cùng chung sức xây dựng Viện Khoa học Việt Nam trong bước đầu đầy khó khăn thiếu thốn.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM