Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:08:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bí mật quân cờ  (Đọc 29354 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
danhthanh
Thành viên
*
Bài viết: 708


« Trả lời #40 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 08:40:05 pm »

Chương Tám
I

Chiều hôm ấy, khi trên đường từ công sở về nhà, Vân ghé vào hiệu sách mua cho con gái cuốn sách mà cô bé yêu thích. Anh đang vẩn vơ tìm kiếm chưa ra cuốn sách đó, định hỏi cô nhân viên bán hàng, thì chợt có người đến gần, hình như đang cười. Vân ngước nhìn. Anh à lên một tiếng và giơ tay vừa như chào, vừa như muốn bắt tay người đó. Rồi hai người đến gần nhau, nắm tay nhau chào hỏi. Thì ra, đó là đại tá Nguyễn Hùng. Vân nói:
 - Kính chào. Ngọn gió nào mà được gặp đại tá “Rồng xanh” tại đây thế. Không ngờ anh vẫn có phong độ cầu thủ bóng đá quá.
Hùng cười:
- Ngọn gió “Tinh vân” đấy. Nó làm mát cả sân gôn. Mà lâu lắm sao không thấy cậu vậy? Dạo này thế nào rồi? Sao không về Cục mà cứ làm mãi ở Dân số vậy?
Vân cũng cười nói:
- Hỏi gì nhiều vậy. Ai trả lời được cùng lúc chứ. Mà sao cứ phải về với anh vậy?
- Thì nghĩ là cậu buồn.
- Có các ông buồn. Tôi ở đâu lâu quen đấy rồi.

Nghe cái cách họ nói với nhau khá thân mật, đủ biết họ rất quen nhau. Thực ra, Hùng và Vân từng là cầu thủ trong đội bóng đá của trường an ninh thời trai trẻ. Hơn nữa, họ còn rất thân nhau trong các cuộc thi đấu thể thao. Khi Hùng là vận động viên nghiệp dư của ngành thì Vân là học viên trường an ninh. Lúc đó trường vẫn giữ một vài cầu thủ xuất sắc đã học xong ở lại đội bóng, để đội có sự kế tục vững vàng. Hùng tuy đã ra trường nhưng vẫn là thành viên của đội. Vân đang là học viên của trường, đã được chọn là cầu thủ cứng của đội bóng. Vì thế hai người biết, rồi thân nhau. Sau này họ còn đi chơi gôn với nhau nữa. Thời gian này hai người được các đồng đội đặt cho biệt danh đáng yêu là “Rồng xanh” và “Tinh vân”. Khi Vân ra trường, thì vị đại tá, Trưởng Công an thành phố là người bạn của bố Vân trước đây, vì muốn tăng cường nghiệp vụ an ninh cho cảnh sát khu vực, đã đưa Vân về làm cảnh sát khu vực, phụ trách an ninh dân phố. Lúc đó quận Đống Đa và nhất là khu Văn Miếu, Linh Quang có nhiều phần tử phức tạp, cần những sĩ quan có nghiệp vụ vững vàng và sắc sảo đảm nhiệm, nên Vân được cử về phường Văn Miếu. Vân đã quen dần với công việc này.

Song thực tế thì công việc của Vân cũng là làm công tác an ninh. Anh đã có những đóng góp về thông tin xác thực, cung cấp cho các cấp có thẩm quyền điều tra và xét xử nhiều vụ án đúng người, đúng tội. Vì thế anh có mối quan hệ khá thân thiết với các cán bộ ngành Toà án và Đoàn Luật sư.

Ngày ở phường Văn Miếu, Vân có một người bạn là Đỗ Lân, một nghệ nhân làm gốm. Trước đây nghề gốm tư nhân rất nhiều. Nhưng sau này vào hợp tác xã, rồi xí nghiệp, các lò tư nhân không còn nhiều. Bạn anh vì sở hữu lò gốm từ ông cha để lại, nên không muốn để mai một mất nghề. Khi thi vào đại học, Đỗ Lân đã chọn trường Mỹ thuật công nghiệp. Ở đây anh đã học được những kiến thức bổ ích cho nghề nghiệp gia truyền của mình. Sau khi ra trường, Lân về tổ chức lại sản xuất. Nhưng trước đó, vì đã có thời kỳ hợp tác làm ăn với một vài người, nên một số lò nung đã bị họ chiếm giữ. Lân đòi mãi không được, đành kiện ra toà. Nhưng lúc đó Toà án căn cứ vào hợp đồng sản xuất của những người bị kiện, đã nghiêng về phía họ. Lân phải tìm luật sư giúp đỡ. Anh hỏi ý kiến và nhờ Vân tìm giúp. Vân đã nghĩ tới ông Đàm và liền đưa bạn đến nhờ Đàm giúp. Vụ kiện đó Đàm đã tìm ra đủ chứng cứ xác đáng, nên khi xét xử, toà đã tuyên án Lân thắng kiện. Từ đó mối giao tình của họ càng đậm đà hơn.

Những chuyện này của Vân, Hùng không rõ lắm, song anh biết, Vân vẫn thường gặp gỡ các bạn học và những cầu thủ bóng đá thời trẻ. Thậm chí anh còn biết Vân có người thân là đại tá Trưởng công an thành phố, nay đã về hưu. Vân vẫn là một nguồn tin an ninh rất đáng tin cậy. Hùng rủ Vân vào quán cà phê ngồi với nhau.

*
Chờ Vân hỏi cô nhân viên mua cho con cuốn sách, rồi hai người vòng qua quán cà phê Nắng bên đường. Vừa uống cà phê, vừa quan sát cảnh tấp nập của đường phố, Hùng nhìn bạn cười nói:
- Công việc của cậu dạo này thế nào? Phố phường nhộn nhạo thế này, có lẽ không bận lắm hả? Chẳng bù cho bọn này.
Rồi Hùng lại cười. Vân nhìn Hùng:
- Anh sao thế? Không bận sao được. Dân phố một quận, phức tạp lắm. Trước ở Văn Miếu tuy có nhiều rắc rối, song còn đỡ, vì địa bàn nhỏ. Nay lên quận, lại ít người, cũng chẳng nhàn nhã gì.
- Thế mà vẫn tham gia thể thao được? Mình chỉ đi tập buổi tối thôi. Chúng mình đang muốn nhờ Vân giúp thêm chút việc, kiểu này chắc không được rồi.

Vừa nói Hùng vừa nghĩ đến những báo cáo khá chính xác mà Vân cung cấp cho đại tá Trưởng công an thành phố khi trước, lúc anh mới về Văn Miếu. Khi đó Hùng cũng đã về tạm nhận công tác ở bộ phận an ninh thành phố. Anh đã được đại tá gọi lên cho biết tin tức đó và đề nghị Hùng tham gia phá án. Hùng và Vân lại càng quý nhau. Song anh không nói cho Vân biết về việc đại tá trao đổi tin tức của Vân với mình để tránh Vân hiểu lầm và nhất là giữ bí mật hoạt động này của Vân. Sau Hùng được biệt phái vào Thành phố Hồ Chí Minh, họ cũng ít liên lạc với nhau. Từ khi Hùng về Cục Phản gián, anh cũng có điện cho Vân gặp nhau một hai lần. Nay, vì sự việc cần thiết, anh rất cần nhờ Vân giúp. Chắc Vân sẽ nhận lời. Nếu được, Hùng cũng muốn Vân cộng tác với anh. Song, mỗi người đều có chủ ý của mình. Anh tôn trọng Vân ở điều đó.

 Lúc ấy Vân nói:
- Việc thì cũng không ngại. Chỉ có điều phức tạp quá thì hơi vất chút xíu. Với lại, các anh thì thiếu gì quân.
- Thiếu thì không. Nhưng người có địa bàn thì thiếu. Gần đây có một thông tin cần xác minh ở chỗ cậu. Tin này mới là suy diễn, chưa có gì quan trọng lắm.
- Lại chuyện gì đây?
- Có một nguồn tin cho biết, ông luật sư Đàm ở khu vực Văn Miếu, đã đi Nam, nhưng vừa xuất hiện ở Hà Nội. Chúng mình muốn hiểu rõ về ông ta. Mình nghĩ có thể nhờ Vân giúp đỡ.
- Giúp bằng cách nào, có manh mối gì?
- Thì cứ từ từ. Mình nói đã.
Rồi Hùng trao đổi với Vân về thông tin anh mới nhận được. Anh có chút băn khoăn về cuộc viếng thăm đền Ngọc Sơn của Đàm. Để làm rõ những điều nghi ngờ mà về nghiệp vụ an ninh cần phải làm.

Nghe Hùng nói, Vân cũng cảm thấy có điều gờn gợn. Anh chưa từng nghi ngờ ông Đàm, mà chỉ thấy ông Đường lại có phần khó hiểu hơn. Vân chợt nghĩ, hay là mình có thiện cảm với Đàm nên tin tưởng ông ta. Nhất là sau vụ Đàm giúp Đỗ Lân, anh càng thấy không hề có chút gì lo lắng về ông ta. Song, ông Đàm đi Bờ Hồ ngay hôm sau khi vừa ra Hà Nội mà không có các bạn như ông Đường cùng đi, thì cũng hơi lạ. Chẳng lẽ đó là việc tâm linh? Vân chợt nhớ, chính ngày hôm đó anh có công việc phải đến Đoàn Luật sư Hà Nội, trao đổi với người bạn luật sư về một vụ việc họ đang thụ lý. Bạn anh đang điện thoại với cậu Liên ở bên Toà án. Thấy Vân phải đợi, nói điện thoại xong, anh xin lỗi, rồi nói:
- Cậu Liên ở Toà án, anh cũng quen đấy, vừa gọi điện báo tin nhìn thấy ông Đàm ở đền Ngọc Sơn. Chắc vừa từ Sài Gòn ra. Nhưng Liên không tiện gặp, nên đã gọi hỏi thăm tôi. Anh biết đấy, vì tôi khá thân với ông Đàm mà. Nhưng tôi cũng không biết là ông ta đã ra Hà Nội.
 Vân không lạ gì những người ở Toà án và cả Đoàn Luật sư nữa. Nghe bạn thanh minh, Vân chỉ cười và cho biết là mình đã gặp ông Đàm. Anh cũng hơi ngạc nhiên vì sao ông Đàm chỉ đi một mình. Đàm có rất nhiều bạn. Họ có thể thông báo cho nhau để cùng gặp gỡ, vui vẻ. Song lúc đó anh chỉ nghĩ, chắc Đàm có việc riêng cần đi lễ đền. Và anh không hỏi gì cả, cùng anh bạn luật sư trao đổi công việc. Bây giờ, khi Hùng cho biết có chuyện một nhà ngoại giao mà ta đang phải chú ý cần theo dõi, cũng xuất hiện ở đó. Điều này khiến Vân cũng cảm thấy có gì đó không ổn. Dẫu sao những người làm công tác an ninh không thể bỏ qua những sự việc như vậy. Anh nói với Hùng:
- Tôi không biết ông Đàm đi Bờ Hồ. Nhưng tối hôm trước, khi ông ấy ra Hà Nội, tôi đã gặp trong cuộc liên hoan lên nhà mới của ông Đường.
- Như vậy là ông ta mới ra hôm trước. Hôm sau đi Bờ Hồ một mình luôn. Có chuyện cần thiết như vậy không nhỉ? Từ trước tới nay ông ấy có thói quen như vậy không đây?
Hùng nói với Vân nhưng cũng như tự hỏi mình. Anh không ngờ chính Vân cũng có ý nghĩ như anh. Hùng nói tiếp:
- Này Vân, không biết có phải ông Đường ở Sở Văn hoá thông tin, vợ cậu từng khen đấy không?
- Đúng vậy.

Vân đáp. Anh chợt nghĩ lại lần anh tổ chức cúng giỗ cha anh cách đây vài năm. Lúc đó Hùng cũng từ Sài Gòn được điều về Hà Nội nhận công tác, anh đã mời Hùng tới dự. Ông cụ thân sinh ra Vân, cũng như bố Hùng đều là Liệt sĩ trong thời kỳ chiến tranh. Anh và Hùng tuy bận công tác khác nhau, cũng ít liên lạc, nhưng trong lòng họ đều có chút thân tình khó nói. Vì vậy, khi Hùng nhắc chuyện vợ anh kể về ông Đường, lại làm Vân nghĩ tới những điều băn khoăn của mình. Vân nói:
 - Thực ra tôi cũng không bận tâm về ông Đàm lắm. Anh biết đấy, trước đây tôi cũng có quen biết ông ấy mà. Thậm chí còn phải nhờ ông ta nữa. Nhưng chuyện này tôi cũng thấy hơi lạ. Có lẽ cũng phải tìm hiểu lại mới được. Còn với ông Đường, thực ra chưa có gì đáng nói, nhưng tôi thấy nể ông ta quá, đâm ra có chút đắn đo.
- Sao vậy?
- Ông Đường tròn trịa quá. Thậm chí có phần thánh thiện nữa. Một người sống chí tình, chí cốt thế, khó thấy lắm.
- Ra thế. Mình cứ nghĩ đã có chuyện gì.
- Chuyện gì thì không có. Nhưng ông ấy mới được phân nhà mới vào cái tuổi về hưu mà cứ bình thản như không vậy.
- Chẳng qua khổ mãi cũng thành quen rồi, nên tính nết của ông ta thế chăng?
 - Có thể thế. Song, nhà cũ là của ông Đàm. Ông ấy đến nhà mới, trả nhà cũ. Họ là bạn rất thân với nhau. Có lẽ cần phải tìm hiểu từ ông Đường xem việc ông Đàm đi lễ đền có phải chuyện thường xảy ra không. Anh thấy được không?

Rồi Vân cũng nói thêm những băn khoăn của mình về ông Đường cũng như những hiểu biết của anh về Đàm. Nhất là những năm anh ở Văn Miếu. Nghe xong Hùng trầm ngâm một lát rồi nói:
- Mình cũng băn khoăn chưa biết bằng cách nào. Nhưng giả sử. Giả sử đấy, nếu có chút liên quan nào đó giữa ông Đàm và tên Henry thì sao nhỉ?

- Ông Đàm là lưu học sinh ở Pháp mà. Nếu là người bình thường, họ có thể nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp. Và nếu ông Đàm có cần gặp hay liên hệ, chắc ông ấy phải vào sứ quán chứ.
- Thì thế. Có thể bọn mình hơi bị thói quen nghề nghiệp chăng? Tiếc là chưa biết hai người có gặp nhau không. Máy quay không ghi được.
- Tôi nhớ rồi. Hình như cậu Liên ở Toà án đã thấy ông Đàm tại đền Ngọc Sơn thì phải.
Vân nói với Hùng. Rồi anh kể lại chi tiết nghe anh bạn bên Đoàn Luật sư nói chuyện sau cuộc điện thoại với Liên. Vân nói thêm:
- Có lẽ để tôi nhờ anh bạn ở Đoàn luật sư hỏi xem sao.
- Liệu có lộ liễu quá không? Nếu ta gặp trực tiếp cậu Liên có thể tốt hơn không? Có điều, bằng cách nào để cho có vẻ tự nhiên được nhỉ?
- Cách khác chắc cũng có. Nhưng hãy để tối nay tôi hỏi ông Đường xem lúc nào họ đi thăm Hà Nội. Hình như tối hôm trước họ có hẹn nhau thì phải.
- Nhưng còn gặp Liên thì sao đây?
- Tôi có cách. Có lẽ vẫn phải nhờ anh bạn ở Đoàn Luật sư thôi. Có thể uống bia với nhau. Anh ta hỏi, Liên sẽ nói thôi. Còn nghe được hay không lại là một chuyện.
- Có lẽ đành vậy. Vân bố trí giúp nhé. Mà này. Mình định báo cáo cụ Cương kéo Vân về Cục được không? Ông cụ đại tá của cậu cũng vẫn muốn thế mà. Cụ ấy nghỉ hưu lại khoẻ ra đấy.
- Thế ra anh cũng sát cụ quá nhỉ?
- Thì các bố nhà mình đều gần gũi chứ có xa đâu.
- Để tôi nghĩ xem. Cũng chẳng còn lâu nữa đã nghỉ rồi.
- Còn khuya. Mình chưa “chào”, sao ông đã “chiều” được. Về đây nhiều việc lắm, nhưng rất cần cậu đấy.
- Được rồi. Cảm ơn anh. Tôi sẽ liên lạc ngay.
Họ chia tay nhau khi đường phố vẫn đông nghìn nghịt, xe cộ vẫn chưa vãn.

*
Có những sự kiện gây chấn động cả thế giới. Song cũng có những sự việc lại gây những bất ngờ không đoán được, khiến người trong cuộc trở thành một con cá nằm trên thớt. Sự việc của Đàm gặp Henry là một trường hợp như vậy.

Không phải việc Đàm vào đền Ngọc Sơn gặp “sếp” chỉ có một đôi mắt của Liên bắt gặp, rồi lại có một kẻ khác nữa chụp ảnh. Việc này qua vài chương nữa bạn đọc sẽ rõ. Vậy mà vẫn chưa hết. Còn có cả ánh mắt của một chiến sĩ trinh sát địa bàn để ý đến Henry như trên ta đã biết. Ấy là chưa kể đến máy quay của Ban bảo vệ khu di tích đặc biệt này.

Ngay cả Henry cũng bố trí một kẻ có nhiệm vụ quan sát Đàm và hắn khi họ vào đền. Kẻ đặc vụ này hết sức kín đáo. Hắn có nhiệm vụ phát hiện những sơ hở của Đàm và phát hiện những kẻ tình nghi khác đang chú ý tới Đàm và Henry.

Tên này ngay sau đó đã báo cáo với Henry những phát hiện của mình. Hắn đã chụp được một tấm hình anh chàng ở toà án, và hình phía sau một người chụp ảnh khi vào đền rồi ra ngay. Người này hắn không nhận được là ai.
Tất cả những thông tin này, Henry lập tức thông báo bằng mật mã lên mạng facebook để Đàm biết. Đàm đã nhận được tín hiệu báo động. Hắn sẽ phải hết sức thận trọng hơn trong những ngày tới. Đàm cũng không ngờ rằng, những băn khoăn về phương cách liên lạc cổ điển này rất dễ bị sơ hở, đã là một sự thật. Tuy nhiên, Đàm nghĩ, mình nên mượn gió bẻ măng, tiến tới liên hệ trực tiếp với Sứ quán Pháp, xin chuyển quà cho con gái ở Pari.
Và, hai hôm sau Đàm tới Sứ quán Pháp xin gặp một nhà ngoại giao để đề đạt nguyện vọng. Đàm đã đề nghị Đường cùng đi với mình để thêm phần khách quan.
Logged
danhthanh
Thành viên
*
Bài viết: 708


« Trả lời #41 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 08:40:48 pm »

II

Tối hôm đó, Vân gọi điện thoại cho Hùng. Anh thông báo ông Đàm và Đường sẽ có chuyến ra ngoại thành vào ngày mai. Mai anh cũng sẽ bố trí cùng anh chàng ở Đoàn luật sư gặp Liên. Anh sẽ thông tin cho Hùng ngay sau đó. Rồi Vân nói:
- Gọi lại cho anh sau nhé.
Hùng cũng nói:
- Cảm ơn Vân. Liên lạc sau nhé.
Họ chào nhau và cúp máy.

Hùng hiểu rằng, người như ông Đàm, một luật sư có tiếng, được mọi người cho là người rất thông minh, chín chắn, làm việc rất chắc thắng và lại giỏi ngoại ngữ, nếu quả là có chuyện nào đó khuất tất, nhất là dính líu đến người như Henry, thì thật sự không phải bình thường, thậm chí quá không bình thường nữa và rất đáng quan tâm. Anh rất muốn gặp Liên xem anh chàng đó có gặp hai người họ khi vào đền với nhau không. Điều nghi ngờ này đành phải gác lại, kẻo rút dây động rừng. Hùng nghĩ thế và mở máy vi tính làm việc.

Buổi tối, bao giờ cũng vậy, sau tất cả các việc như giúp con gái thu dọn bếp núc, nhà cửa, đâu vào đấy, để con vào phòng ngồi vào bàn học xong xuôi, Hùng mới lại mở máy để tập hợp lại một ngày làm việc của mình.
Trên email, vợ anh đã gửi thư cho anh báo ngày ra Hà Nội, và khoe đã mua quà cho hai cha con. Diệu Linh còn nói, sẽ có điều làm anh ngạc nhiên. Hùng tự mỉm cười và cũng không muốn đoán già đoán non điều bí mật mà vợ anh khoe. Hùng chỉ cảm thấy nhớ và vui vui khi nghĩ tới ngày vợ về. Anh cũng mong, mà con cũng mong. Nhà cần phải có người phụ nữ. Vắng họ là vắng mọi thứ ngay. Hùng vừa nghĩ vậy, vừa cười một mình. Anh nhớ vợ cũng phải. Diệu Linh là vợ anh nhưng còn là một chiến sỹ an ninh, từng là bạn chiến đấu sát cánh cùng anh bao năm nay trong ngành, mà nhiều lúc Hùng như muốn gửi cả tâm tư của mình vậy.

Giờ đây khi có chút thời gian riêng tư, khi có chút rỗi rãi trong buổi tối để nghỉ ngơi, Hùng muốn dành cho vợ con. Song, anh cũng chẳng thể nào không nghĩ tới công việc của mình. Nhất là nhiệm vụ của Ban chuyên án đang càng ngày càng thấy nặng nề và khó khăn hơn. Đã có lúc như chẳng biết phải làm gì, chẳng biết bắt đầu từ đâu, thậm chí cứ phải tìm kiếm vòng vo, quanh co như đi trong đêm tối. Chỉ có một tin đặc biệt, thế mà cũng làm cho tình hình như nóng lên. Nhưng chỉ thế thôi, nếu ta không xét đoán cho chính xác, cũng đủ để kẻ địch có điều kiện khám phá bí mật của ta. Ngược lại, ta cũng vì thế mà muốn tìm cho ra chúng, tìm cho ra ánh sáng ở cuối đường hầm. Thế mà cũng đã mất rất nhiều thời gian vẫn chưa có được một chút manh mối. Giờ đây, công việc đã le lói chút xíu thông tin có thể bắt đầu lần theo dấu vết của sợi dây bí mật để tìm kiếm, anh càng không thể ngồi yên mà ngơi nghỉ được. Anh càng phải gấp rút nối lại mọi nguồn thông tin, mọi hướng tìm tòi để xem thực chất của những mối quan hệ, những hiện tượng bất chợt xảy ra như thế nào và diễn biến tiếp đó sẽ ra sao.

Hùng hiểu rằng, công tác của Ban chuyên án không nhất thiết cứ phải bám lấy một vấn đề về dầu khí, đó có khi chỉ là cái cớ. Rất có thể những kẻ bí mật, những tên điệp viên đang có thể nhằm vào một việc khác, những mục tiêu khác nữa. Kể cả những chính khách, những nhà quân sự... mà các anh chưa hiểu được ý đồ của chúng. Nghĩ thế, Hùng lại nhớ tới những nỗi băn khoăn của thiếu tướng Thành Cương và trung tướng Tổng cục trưởng. Hùng đã từng thấy các ông phải đứng lên, ngồi xuống hoặc đi đi, lại lại nhiều lần để suy nghĩ. Anh càng hiểu sự lo lắng và tinh thần trách nhiệm với quốc gia của cấp trên khi công việc cụ thể của Ban chuyên án hiện giờ cũng đang là lúc khó khăn mà chính Hùng cũng đang phải suy nghĩ khá nhiều. Anh cứ muốn ngày mai trời sáng nhanh để có thể bắt tay vào những việc mà anh đang nghĩ đến bây giờ.

 Hùng nhìn lên cửa sổ, ánh sáng ngọn đèn đường hắt lên một vầng sáng mờ mờ qua cửa kính. Nơi đó là một điểm sáng rất thân quen, gần gũi, mà hằng đêm anh thường bắt gặp. Vầng sáng đó mờ dịu và có chút huyền ảo nữa. Mỗi khi anh suy nghĩ mông lung, nhìn vào vùng sáng đó, Hùng cảm thấy ý nghĩ của mình tập trung hơn, sáng suốt hơn. Có nhiều lúc, vùng sáng huyền ảo mà lạnh lùng trên khung cửa sổ ấy làm cho anh có những ý nghĩ lóe lên một cách minh mẫn hơn trong những lúc trăn trở với công việc. Và lúc này cũng vậy, nhìn lên phía có vùng ánh sáng mờ ảo từ cửa sổ, Hùng bỗng nghĩ tới những mối quan hệ mới của Thái Hà. Nhất là với Na Na và Nguyễn Long.

Những mối quan hệ mới này quả có những điều cần suy nghĩ. Trong khi gia đình Na Na đang có những cuộc gặp gỡ với những người thân đã ra nước ngoài suốt mấy chục năm. Mà đó lại là những nhà tư sản lớn, có tài sản cả ở Mỹ và nhiều nước khác. Chưa hết, họ còn có nhiều cuộc gặp gỡ khác, có thể có cả những cuộc liên lạc bí mật nữa không chừng. Lại thêm một điều đáng lưu ý nữa là những thông tin đang rộ lên về vấn đề dầu khí ở miền Bắc và thềm lục địa ngoài này, đang thu hút những kẻ săn tìm bí mật quốc gia. Mà, Thái Hà lại là một trong những đầu mối quan trọng. Anh không thể loại trừ bất cứ điều gì có liên quan tới vấn đề mà Ban chuyên án của anh đang điều tra, khám phá. Anh cần phải gặp Thái Hà vì được bạn thông báo sẽ đón Nguyễn Long ra Hà Nội trong vài hôm nữa. Lúc này anh cần phải hiểu rõ sự thực về gia đình Na Na trước khi gặp họ. Hùng bỗng thấy lóe ra một ý nghĩ về những sự việc còn mù mờ, nhưng đã có gì đó mong manh như là một chút hy vọng mà trong quá trình tìm kiếm thông tin vẫn làm cho anh băn khoăn, lo lắng. Đó là những dấu hiệu cần tìm hiểu về các mối quan hệ của đại gia đình giàu có của Na Na. Anh sẽ đề nghị các cộng sự giúp sức chú ý vấn đề này.

Nghĩ tới các mối quan hệ của những đối tượng mà anh đang quan tâm, Hùng bất chợt nhớ tới một người cùng trong ngành an ninh, nhiều tuổi hơn anh, đã nghỉ công tác, đang bị ốm nằm liệt trong bệnh viện. Đó là trung tá Hà Văn Tường. Người đã từng được cử sang ngành ngoại giao đi sứ Trung Quốc. Hùng muốn đến thăm anh và cũng để hỏi tin tức một người mà anh đã gặp khá lâu rồi, có quan hệ tới Đường và Tường, nhưng không còn thông tin. Anh hy vọng là Tường còn địa chỉ người này.
Logged
danhthanh
Thành viên
*
Bài viết: 708


« Trả lời #42 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 08:42:07 pm »

III

Tường là con một gia đình nông dân ở Nam Định. Bố anh là một người lao động cần cù. Gia đình anh khá đông người. Anh có một anh trai, hai chị gái và một em gái. Tường được đi học từ bé. Nếu chỉ có bố mẹ Tường thôi thì gia đình anh không đủ kinh tế nuôi năm anh chị em đi học. Đằng này, anh trai Tường học đại học Sư phạm, là một nhà giáo. Một chị gái làm y tá, một chị cũng dạy học. Tường đỗ Đại học Ngoại ngữ khoa Trung văn. Em gái Tường học Đại học Nông nghiệp.

Anh em nhà Tường được học hành tử tế như thế, một phần là do Tường có ông bác ruột là một người giàu có. Ông từng là người làm thuốc nổi tiếng cả vùng. Nhà thuốc ấy có đất di truyền từ đời ông để lại. Song, bố Tường không thích học, chỉ suốt ngày cuốc bẫm, cày sâu. Ăn chơi cũng có, rượu chè cũng có, nhưng không nghiện. Được cái ông rất hiền, ít nói, chịu thương, chịu khó và rất thương yêu con cái. Trái lại, bác Tường thì lại quá sắc sảo, tài ba. Ông được chân truyền nghề thuốc của cha. Nhưng dù làm nghề thuốc, song, ông cũng không chữa được cho mình cái bệnh liệt dương. Vì vậy, ông có tới ba người vợ, nhưng cũng chẳng có ai sinh cho ông được một đứa con nào. Và rồi, họ cũng lần lượt bỏ ông mà đi hết.

Ông làm thuốc nên rất giàu. Vì ông không có con, mà người em thì đông con, đứa nào cũng muốn đi học. Lại có đứa học rất giỏi như Tường, nên ông đã bỏ tiền của ra giúp cho em, chu cấp cho các cháu học tập. Chính vì nhờ có tiền của ông bác mà anh em Tường đã được học hành khá chu đáo.

Nhà ông bác và nhà bố Tường ở liền với nhau trên một thửa đất rộng rãi của cụ thân sinh ra họ để lại. Đất rộng và cao, nên ba gian nhà ngói to ở phía trên được gọi là nhà trên do ông bác ở. Ba gian nhà ngói ở phía dưới, lui về sau một chút, cạnh cái ao lớn phía Đông nhà, thì ông em ở. Ông bác và gia đình Tường cùng có một sân chung, vườn chung và ao chung, nhưng khu bếp riêng. Mỗi nhà có một dãy nhà ngang rộng rãi ở hai đầu hồi nhà họ. Rồi có một khu chuồng lợn, chuồng trâu, khu vệ sinh ở gần bờ ao, do nhà Tường sử dụng. Nơi này lũ trẻ như Tường thường đùa nghịch, trèo cây hái quả, xuống ao úp cá. Vì ông bác không có con cái, vợ lại bỏ đi, nên gia đình Tường thường chăm sóc, nấu ăn luôn cho ông. Chị gái Tường học y tá, sau cũng về giúp bác làm thuốc. Cuộc sống sung túc ấy kéo dài rất lâu. Ông bác Tường là người giàu có, nhiều tiền của, có sản nghiệp lớn, lại mua tậu nhiều ruộng đất cho cày thuê, cấy mướn. Trớ trêu thay, khi Cải cách ruộng đất, ông đã bị quy là địa chủ. Sau này sửa sai, ông đã được giảm thành phần xuống là trung nông lớp trên. Những việc này, mãi sau này Tường mới biết. Tuy thế, khi Tường sinh ra, anh lại rất được ông bác yêu quý. Ông coi Tường như con đẻ, muốn truyền nghề cho cậu. Nhưng Tường không nghe. Anh cứ nhất mực đi học ngoại ngữ. Thực ra anh muốn thi vào ngành Công an, nhưng lại không đạt tiêu chuẩn.

Học xong, Tường được nhận vào trường Đại học Xây dựng, dạy tiếng Trung. Anh lại là người khá thông minh, mà ngành kiến trúc lúc đó nằm trong Bộ Xây dựng. Lãnh đạo biết Tường giỏi tiếng Trung nên đưa anh lên bộ phận ngoại vụ, làm cán bộ phiên dịch cho chuyên gia Trung Quốc. Lúc đó ta có nhiều công trình được Trung Quốc giúp xây dựng. Anh đã làm việc khá chăm chỉ và có hiệu quả. Rồi sau đó theo nguyện vọng của Tường, cộng thêm yêu cầu về quan hệ đối ngoại của ngành, Tường đã được cử đi học Đại học An ninh. Sau đó anh được chuyển sang ngành Công an, làm việc ở bộ phận tin tức về Trung Quốc. Thời gian ở đây, nhất là sau chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979, anh đã có nhiều vụ điều tra, theo dõi và phát hiện những kẻ hoạt động cho Trung Quốc. Có nhiều lần anh đã phải bí mật theo dõi đối tượng lên tận vùng cao để tìm những chứng cứ xác thực trước khi đưa chúng vào lưới. Do đó anh là một nhân vật mà tình báo Trung Quốc rất quan tâm.

Nhưng số phận và con người Tường quả có nhiều đặc biệt, thậm chí độc đáo nữa. Ở trong ngành an ninh được một thời gian, Tường lại được chuyển sang ngạch ngoại giao, công tác ở Sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc với hàm Bí thư thứ nhất. Những năm đi nhiệm kỳ ở Sứ quán, Tường là người rất giỏi về tiếng Trung. Anh đã có nhiều mối quan hệ để nắm bắt tình hình. Sau đó, khi Tường về nước, được chuyển về Ban đối ngoại rồi về hưu trước tuổi. Tường có vợ là một nhà giáo cấp hai và hai con. Một đứa đi học Trung Quốc và một đứa học trong nước. Cuộc sống khá đầy đủ, sung túc.
Nhưng không may cho Tường, anh đã mắc một căn bệnh hiểm nghèo, hiện đang nằm trong bệnh viện.

*
Người mà Hùng muốn biết là một giảng viên trường Đại học Quốc gia. Anh ta là một nhà khảo cổ đã xuất bản một vài cuốn sách về công trình nghiên cứu người tiền sử. Anh có bằng Phó Tiến sĩ Khảo cổ học ở Đức, nay là Tiến sĩ, tham gia vào một Trung tâm thông tin và hiện đang có một phòng triển lãm những hiện vật khảo cổ mà anh tìm kiếm và khai thác được. Anh ta có tên là Nguyễn Nguyễn. Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Bố anh là một viên chức đã từng làm việc dưới chính quyền thực dân Pháp. Sau khi giải phóng Thủ đô, ông ta xin nghỉ ở nhà không tham gia làm việc cho Chính phủ. Khi Nguyễn Nguyễn học hết phổ thông vì lý lịch này, lúc đó không được đi đại học. Nhờ có người họ hàng làm trong Bộ Công an đứng ra bảo lãnh khai vào lý lịch, nên Nguyễn đã được nhận vào trường đại học. Học xong, Nguyễn thi đỗ nghiên cứu sinh đi Đức làm luận án Phó Tiến sĩ.

Nguyễn đã được dự nhiều cuộc hội thảo khoa học quốc tế do những tổ chức khoa học quốc tế và Unesco tổ chức ở Pháp, Đức và cả ở Anh nữa... Có lần, dự hội thảo tại Anh, Nguyễn đã được gặp một vị giáo sư khá nổi tiếng của Anh quốc. Vị này tuy đã hơn 70 tuổi, nhưng vẫn tham dự hội thảo và rất chú ý đến Nguyễn khi biết anh là người Việt Nam. Trong một cuộc trò chuyện, ông ta trao cho Nguyễn một cuốn sách do ông viết, một công trình nghiên cứu về người tiền sử Đông Nam Á. Nguyễn rất trân trọng và hết lời cảm ơn ông.

 Trước khi Nguyễn về nước, ông có mời Nguyễn tới dự một bữa tiệc nhỏ của gia đình và bạn bè nhân ngày sinh của ông. Trong buổi tiệc đó, vị chủ nhà còn mời một người Việt kiều đến dự. Hai người được giới thiệu gặp nhau tại nhà vị giáo sư nọ.

Vị Việt kiều này tên là Duy Đức, nguyên là một giáo viên dạy Vật lý cấp ba. Ông ta bỏ nghề, xin đi lao động xuất khẩu ở Tiệp. Rồi sau đó ở lại nước ngoài, buôn bán kiếm sống. Khi đó, người Việt hết thời hạn lao động ở lại các nước Nga, Tiệp, Đức, Ba Lan... như thế cũng nhiều. Đã có người làm ăn phát đạt. Nhà giáo này sau khi hết thời hạn hợp đồng lao động đã ở lại Tiệp Khắc. Ông ta cũng được vài người bạn giúp đỡ tìm cách buôn bán, kiếm sống. Lúc đó ông bôn ba khắp nơi. Thậm chí đã có lúc ông muốn vượt cả sang Đức và Ba Lan để buôn bán. Được vài năm, ông ta đã tìm ra cách đưa vợ sang cùng mình. Nhờ người vợ hết sức khôn khéo, tháo vát, giỏi buôn bán và nhiều mưu kế sinh nhai, nên họ đã đưa được cả hai đứa con nhỏ sang định cư ở Tiệp.

Người Việt kiều đã bỏ quê hương, xứ sở ra đi ấy, có một suy nghĩ khá độc đáo. Ông ta cho rằng, mình là một người đã mang tiếng là phản bội Tổ quốc, bỏ nghề, bỏ nước ra đi, lưu lạc tha hương, thì nơi nào dễ kiếm tiền nhất là tới. “Đất lành chim đậu”. Hiện nay, theo trào lưu Châu Âu, thì nước Anh đang là nơi dễ kiếm sống nhất. Do đó, khi con gái lớn lên, ông đã nghĩ ngay đến việc cho con sang Anh du học. Ông đặt mục tiêu cho con lấy chồng và định cư ở Anh. Sau đó ông sẽ chuyển dần gia đình sang Anh. Từ con cái rồi đến cha mẹ.

Thật là may mắn, con gái ông đã yêu và lấy chồng là một người Anh gốc Việt và đã được định cư tại Anh. Đến lượt con trai, ông cũng lo được cho cậu ta sang Anh. Tiếp tục với những mánh khoé khôn ngoan đó, ông ta đã được cấp hộ chiếu sang Anh. Lúc đầu là sáu tháng rồi đến thời hạn hai năm một lần, với lý do sang với gia đình con cái. Được mấy năm như vậy, rồi ông ta đã dần chuyển được cả nhà sang Luân Đôn. Một Việt kiều đã lang thang kiếm sống nhiều năm ở Tiệp Khắc, Châu Âu, rồi bây giờ là Anh quốc, quả không đơn giản chút nào. Ông ta cũng đã có một chút vốn liếng để buôn bán.

Trong khi đó, một số Việt kiều cao tuổi ở nước ngoài khá lâu, có con cháu sinh sống ở đây tới ba, bốn đời. Con cái họ định cư, lấy vợ, lấy chồng thành công dân nước sở tại. Rồi những lớp người Việt tiếp theo ra đời. Nhưng hầu như lớp trẻ con này không biết tiếng Việt. Bố mẹ thì bận kiếm sống, quan hệ thường xuyên với người nói tiếng nước ngoài. Do đó các bậc ông bà lúc này mới thấm thía nỗi buồn tha hương, nghĩ về cố quốc mà lo lắng trong lòng. Rồi đây lớp cháu chắt sẽ không còn nhớ gì đến tiếng quê hương xứ sở, tiếng mẹ đẻ. Vì thế họ đã rủ nhau mở lớp học Tiếng Việt cho trẻ nhỏ. Và, nhà giáo lưu vong được họ mời tới dạy cho các cháu. Trong những năm đó, ông ta đã làm quen được với vị giáo sư già người Anh cùng ở trên phố. Quý sự thông minh, tháo vát của ông, nên hai người đã cảm mến nhau. Vị giáo sư này đã thường xuyên tới thăm ông, rồi dần hai người trở thành bạn.

Được quen biết nhau ở nhà vị giáo sư này, ông Nguyễn và ông Việt kiều đã kể cho nhau nghe một số chuyện về quê hương. Thì ra họ là đồng hương Hà Nội. Khi ông Nguyễn về nước, ông Việt kiều gửi một món quà nhỏ và một bức thư về cho bạn ông ở trong nước.

Về nước, Nguyễn đã mang ngay quà đến nhà người bạn của vị Việt kiều này. Người được nhận quà lại chính là ông Đường. Thật tình cờ, hôm đó Tường cũng đến thăm ông Đường. Vậy là từ đó ba người quen biết nhau. Thì ra, nhà giáo lưu vong ở Anh đã học cùng trường sư phạm với ông Thảo, anh ông Đường. Vì hợp nhau nên ông ta chơi thân với ông Đường. Biết rõ hoàn cảnh sống của ông Đường, ông ta nhờ Nguyễn đem thư và quà về biếu Đường. Từ đó, Tường quen biết Nguyễn. Với ông Đường thì Tường đã quen từ trước, khi anh ta mới về ngành Xây dựng. Lúc đó Tường được phòng bảo tồn, bảo tàng nhờ dịch một số tài liệu Hán văn vừa mới phát hiện. Ông Đường và Tường đã quen biết nhau từ ấy. Mối giao tình của họ cũng rất ít người biết.

*
Hùng nghe nói về Nguyễn trong một trường hợp khác. Đó là lần Nguyễn tham dự hội thảo về dòng họ. Được mấy vị trong Ban liên lạc họ Trần tổ chức, Nguyễn đã có bài tham luận viết về họ Nguyễn ở Thanh Hoá. Mọi người rất hoan nghênh bài viết này. Sau đó, một vài người thông tin về dòng họ đã nói chuyện với Hùng. Nhưng do bận công việc, lại chưa có điều kiện quan tâm, nên Hùng đã không để ý nữa. Hùng cũng đã biết mối quan hệ của trung tá Tường với ông Đường từ lâu, nhưng sau này mới biết Tường quen với Nguyễn. Giờ đây, khi xảy ra sự việc ông Đàm ở đền Ngọc Sơn, mà ông Đàm lại rất thân với ông Đường, dù chưa rõ sự thực thế nào, song cũng khiến Hùng nghĩ ngay tới những mối quan hệ dắt dây của ông Đường cùng với Đàm và những người khác. Anh muốn qua Tường để tìm hiểu thêm thông tin về Nguyễn và Đường.

*
Tường nằm viện đã gần một tháng. Theo chẩn đoán của bác sĩ thì anh đã mắc ung thư vòm họng. Bệnh đã ở vào giai đoạn cuối. Tường vẫn còn tỉnh táo. Khi Hùng tới thăm, bác sĩ chỉ cho anh gặp một thời gian rất ngắn. Hùng cũng không muốn làm phiền người đàn anh trong ngành nữa. Anh chỉ hỏi thăm bệnh tình, rồi nhắc qua đến người bạn Tiến sĩ của Tường. Khi thấy Hùng nhắc tới Nguyễn, Tường có vẻ hơi suy nghĩ. Chỉ một thoáng biểu hiện đó trong ánh mắt của Tường, đã khiến Hùng phải chú ý. Rồi anh nghe Tường nói. Tường nói rất chậm, rất đứt quãng, nhỏ và khó nghe:
- Anh ấy có tới. Nhưng hay quên lắm. Sao hỏi vậy?
- À. Chợt nghĩ đến bạn anh mà. Với lại có chút việc về dòng họ nên muốn gặp anh ấy.
Hùng trả lời. Tường gượng mỉn cười. Hùng tiếp:
- Tôi muốn gặp anh ấy để giới thiệu với mấy vị trong họ tìm hiểu về nguồn gia phả, nhưng không có địa chỉ. Anh có thể cho biết được không?
Cố gắng lắm Tường mới nói được:
 - Để tìm điện thoại.

Một lát sau rồi họ tạm biệt nhau. Khi về, Hùng luôn nghĩ tới ánh mắt Tường. Khi Hùng nhắc tới Nguyễn, ánh mắt Tường chợt như có điều gì đó nghĩ ngợi băn khoăn về Nguyễn. Ánh mắt hơi khác biệt. Điều đó làm anh có vẻ khó hiểu. Với thói quen nghề nghiệp, Hùng vẫn cho rằng, trong tâm trí người chiến sĩ an ninh luôn phải bình thản trước mọi tình huống bất ngờ. Nhất là với Tường, một người đã được coi như một tình báo viên trong ngành ngoại giao, sao bỗng có chút chần chừ, hay lo lắng bất chợt về Nguyễn như vậy. Khi nhắc tới Nguyễn, Tường như có chút ngại ngần, e dè. Mà đó lại là người bạn từng quen biết. Có chuyện gì, có vấn đề gì giữa hai người? Nguyễn lại có nhiều mối quen biết với những người nước ngoài, và Việt kiều ở Anh, ở Đức... Hùng suy nghĩ miên man như thế suốt quãng đường từ bệnh viện trở về phòng làm việc.

Về cơ quan, Hùng liền tìm tới phòng hồ sơ lưu trữ. Anh lập tức tìm hiểu mối quan hệ của Nguyễn và những người anh ta quen biết ở nước ngoài. Anh không ngờ qua cuộc gặp gỡ với Tường, anh bỗng nhận thấy mối quen biết của Nguyễn và ông Đường quả nhiên có những điều độc đáo. Còn Tường sao lại có điều gì đó như suy tư khi nói về Nguyễn? Trong hồ sơ của Nguyễn không có vấn đề gì đáng nghi vấn. Chỉ có một chi tiết đề cập đến một vị giáo sư già người Anh đã tặng Nguyễn sách và rất quan tâm tới Nguyễn.
Logged
danhthanh
Thành viên
*
Bài viết: 708


« Trả lời #43 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 08:43:39 pm »

IV

 Điều băn khoăn suy nghĩ của Hùng quả nhiên là có căn cứ. Không phải Tường có một chút chần chừ khi nói về người này, mà thực ra anh ta còn lo lắng nữa. Tường là một chiến sĩ an ninh thực sự. Song, khi anh ta sang ngành ngoại giao thì đã là một con người khác. Không phải chỉ mang hàm ngoại giao ở Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc mà Tường còn có trọng trách với ngành an ninh. Nhưng không chỉ có thế, chỉ một thời gian ngắn sau đó, Tường đã trở thành một điệp viên hai mặt, một con dao hai lưỡi. Anh ta đã là một tên gián điệp đôi cho cả Việt Nam và Trung Quốc.

Lý do nào đã khiến Tường bán mình, bán nghề và bán linh hồn cho nước khác? Điều này chỉ có Tường và những kẻ đã bắt buộc được Tường làm thế mới biết mà thôi. Và đó là điều bí mật mà Tường đã “sống để dạ, chết mang đi”. Sự việc đó xảy ra khi Tường vừa nhận công tác ở Sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc được năm tháng. Ngày hôm đó, toà đại sứ nhận được tin báo: Bố Tường và một người chị của Tường bị nước lũ cuốn trôi mất cả người, cả xe cộ, đồ đạc, không tìm thấy thi thể. Bố Tường lúc đó đang lên thăm và ở lại với con gái đã hơn một tháng. Chị Tường dạy học ở Lào Cai. Hôm đó bố Tường cùng con gái về thăm nhà ông thông gia ở một xã vùng biên giới. Khi hai người trở về thì bị lũ ập tới. Trên đường họ phải qua một con suối sâu, có một chiếc cầu tre bắc ngang. Lúc đó cầu vẫn qua lại được. Vì có mưa lớn, hai người không chờ đợi được, cứ đi qua. Không ngờ lũ rất to ập đến quá nhanh, làm cầu bị sập, cuốn phăng tất cả mọi thứ. Hai bố con ông cũng bị mất tích. Mấy ngày vẫn không tìm được thi thể.

Tin đau lòng này đến với Tường như là một đòn sét đánh. Tường đã mất ngủ mấy đêm liền. Cơ quan đã chuẩn bị mọi nghi thức để đưa Tường về nước làm ma chay theo tục lệ cho gia đình chị và cho gia đình Tường. Xong xuôi, Tường chuẩn bị trở lại công tác. Nhưng oái oăm thay, khi chuẩn bị sang Bắc Kinh thì Tường chợt nhận được một tin nhắn: “Cần gặp ngay một người bạn để có tin quan trọng”.

Và, người nhắn tin đó đã thông báo cho Tường rõ: Bố và chị Tường đã được bí mật đưa sang Trung Quốc. Họ đang là con tin của Cục Tình báo Hoa Nam. Đấy là cái giá để Tường phục vụ cho họ. Nếu không, bố và chị Tường sẽ nhận lãnh đủ những điều khủng khiếp. Không chỉ có vậy. Thậm chí cả với Tường nữa. Bọn này hẹn Tường sau khi gặp cha mẹ mình, sẽ phải hoạt động cho chúng. Và, cũng từ sau khi Tường gặp lại bố và chị, thì anh ta đành chấp nhận số phận và chấp nhận sự thật đắng cay này.

Từ đó, Tường trở thành một điệp viên kép. Hắn đã hoạt động tốt cho Việt Nam về tin tức của Việt kiều và những thông tin mật về chính trị và văn hoá của Trung Quốc. Nhưng ngược lại, hắn đã cung cấp cho Trung Quốc mọi tin tức có liên quan đến dầu khí ở thềm lục địa miền Bắc Việt Nam.

Tên gián điệp tài ba này không ngờ đã trở thành một người có thế lực ở cả Sứ quán Việt Nam và ở cả cơ quan Cục Tình báo Hoa Nam. Hắn đã có những mối quan hệ mật thiết với nhiều cán bộ cao cấp nước ta khi hắn là phiên dịch xuất sắc cho các chính khách. Nhờ đó, hắn đã có nhiều thông tin về bí mật quốc gia bán cho Trung Quốc. Hơn nữa, lại là một cán bộ an ninh của Việt Nam, hắn càng có nhiều tin tức quan trọng để cung cấp cho cả hai phía. Trong đó có một thông tin mà không ai có được: Đó là việc Trung Quốc sẽ mở rộng vùng hải đảo, nhất là khu vực Trường Sa, để khoan thăm dò dầu khí ở biển Đông và mở ra công trình xây dựng thành phố Tam Sa. Tin này đã được đánh giá rất cao. Đổi lại, hắn cung cấp cho Cục Tình báo Hoa Nam biết ý đồ hợp tác khoan thăm dò dầu khí của ta với các nước Châu Âu và Việt kiều Mỹ.

 Chưa hết, hắn còn có nhiệm vụ tìm kiếm một điệp viên của Pháp đã nắm được một bí mật lớn về nhân sự Trung ương, về vũ khí hạt nhân của ta. Tên điệp viên này có một mạng lưới gián điệp ngầm chưa bị phát hiện. Tên này chỉ có một chút manh mối le lói mà Tường phải nắm lấy để tìm kiếm cho được. Đây là một kẻ sống rất kín đáo, giỏi giấu mặt mà lại rất có tài săn tin. Chỉ biết rằng, kẻ này đã được đào tạo rất kỹ và rất giỏi.

Tường đã bỏ nhiều công sức để tìm kiếm người này. Nhưng cho đến nay vẫn chưa tìm ra được. Những người hắn nghi ngờ, được đặt trong một danh sách tìm kiếm của hắn, có ông Đường, sau này có cả Nguyễn. Nhưng qua nhiều lần thử thách, ở Nguyễn hắn chưa thấy có dấu hiệu gì đáng khả nghi. Đến khi hắn có kết luận này thì bất chợt Nguyễn bộc lộ những mối quan tâm tới những bí mật mà hắn cũng đang tìm kiếm. Lúc này Tường đã bị bệnh hiểm nghèo, chưa có cách nào hiểu được điều gì đã đến với Nguyễn. Thành ra Tường có vẻ nghi ngờ và ngại ngần khi nghe Hùng nhắc tới anh ta.

Còn với ông Đường thì Tường hầu như rất yên tâm. Tường không hề nghi ngờ. Hắn đã nghĩ tới việc lôi kéo được Đường làm việc cho mình trong hệ thống tình báo của hắn. Song hắn vẫn chưa biểu lộ ý đồ này.
Dấu vết kẻ bí mật kia hắn chỉ biết được rằng, đó là một người đã được tình báo Pháp đào tạo, có khả năng ngoại ngữ, giỏi cả tiếng Anh, tiếng Pháp. Người này có một bộ sưu tập tiền cổ và những hiện vật đúc bằng kim loại thể hiện đủ các loại sao và huy hiệu. Nhưng những nghi ngờ của hắn vẫn chưa có gì chắc chắn, vì chưa bao giờ hắn thấy người này xuất hiện trong những tình huống thử thách, cũng như giăng bẫy mà hắn đặt ra.

*
Sau cuộc đến thăm của Hùng, rồi các bạn khác nữa, Tường bỗng nằm đờ ra mệt mỏi. Lúc này trong lòng Tường bỗng có chút băn khoăn. Không hiểu sao anh ta lại nghĩ tới việc Hùng đến thăm và hỏi tin tức của Nguyễn. Tường sợ rằng mình đã có chút sơ hở nào chăng? Hoặc có những điều gì về Nguyễn mà Hùng đã biết.

Bỗng trong óc Tường hiện lại toàn bộ chi tiết về những lần gặp gỡ và quen biết với Nguyễn. Tất cả những cuộc tiếp xúc, chuyện trò ấy diễn ra trong óc anh ta như một cuốn phim mờ nhạt và đứt quãng. Song Tường nhớ như in lần mới nhất anh ta gặp Nguyễn ở công viên có tượng đài Lý Tự Trọng. Đó là lần Tường có một cuộc liên lạc qua hộp thư chết với người đưa tin của Cục Tình báo Hoa Nam.

Hôm ấy, cũng như thường lệ, Tường vẫn đi bộ tập thể dục dọc đường ven Hồ Tây, qua đường công viên Lý Tự Trọng, khoảng gần một tiếng đồng hồ. Lúc 6 giờ tối, theo thói quen thường ngày, Tường đi quanh vườn hoa một vòng. Thấy an toàn, anh ta liền bước đến bên cây sấu, vạch một đường phấn nhỏ lên cây, đó là ám hiệu. Rồi Tường thả viên phấn xuống gốc cây trong đám lá khô. Khi anh vòng lại, viên phấn đã không còn ở đó nữa. Hẳn là một người quét rác đã đến và lấy đi, như một vài lần và để lại cho anh một vật nhỏ như viên bi dính kẹo cao su ở cái cây đó. Như vậy, Tường biết cuộc liên lạc đã hoàn tất. Lần sau sẽ là một hộp thư chết ở nơi khác. Những cuộc truyền tin kiểu này phải thay đổi luôn luôn.

Song Tường bỗng ngạc nhiên khi anh ta đi được một quãng thì gặp Nguyễn. Tường có linh cảm không được yên tâm lắm khi thấy Nguyễn rất ung dung đi dạo ngược lại với mình. Xung quanh không có một người quét rác nào cả. Lúc đó hai người hồ hởi chào nhau. Nhưng Tường nhác thấy nụ cười nhẹ của Nguyễn khi anh ta nói:
- Trung tá chịu giữ gìn sức khỏe quá ta. Hình như anh đã nghỉ hưu rồi nhỉ?
Tường ngạc nhiên:
- Bạn hữu gì mà rủa nhau quá thế. Tôi nghỉ mà vẫn còn sức. Đi bộ thành thói quen rồi.
- Tốt quá. Tôi cũng thỉnh thoảng đi thôi. Song có những lúc cũng đã thấy mệt mỏi rồi.
- Anh còn trẻ hơn tôi đấy.
- Thì thế. Nhưng tôi đau yếu lắm. Lại sắp phải tổ chức hội thảo quốc tế nữa. Rất bận. Đã thế lại phải tìm kiếm mấy người thợ kim hoàn làm nhái vài đồng tiền cổ triển lãm.
Nói vậy rồi Nguyễn cười. Khi hắn nhắc đến tiền cổ, trong Tường liền nghĩ ngay đến kẻ mà anh ta đang tìm kiếm, một người có bộ sưu tập tiền cổ. Có lẽ nào đây là người liên lạc với Tường? Trong câu nói của Nguyễn có nhiều điều ẩn chứa của một mật khẩu liên lạc. Tường cũng vờ như không quan tâm lắm đến chuyện này, nhưng chú ý đến cuộc triển lãm. Anh ta nói:
- Sao? Hội thảo về tiền cổ ư? Sao lại nói đến triển lãm tiền cổ vậy?
Trong câu nói ấy Tường nhấn mạnh hai chữ “tiền cổ”. Không ngờ Nguyễn nói luôn.
- Đúng là tiền cổ và thợ kim hoàn. Nhưng triển lãm ở ngoài nội dung hội thảo.

Tường nhìn Nguyễn. Rõ ràng hắn ta là người đã biết câu mật khẩu, nhưng chưa chịu nói ra cho đủ và đúng. Câu ấy phải là: “Tìm nhà kim hoàn có bộ sưu tập tiền cổ”. Câu trả lời là: “Tìm tiền cổ cần thợ kim hoàn”. Tường nghĩ, nếu hắn chưa nói đúng thì có nghĩa là chưa được liên lạc. Có thể hắn đang ở mức độ tìm kiếm và chờ đợi thời cơ để hai người gặp nhau một cách chính thức. Bằng vào sự nhạy bén và trí phán đoán của mình, Tường hiểu, có thể Cục Tình báo Hoa Nam đang muốn đưa anh ta ra khỏi vị trí hiện nay. Anh ta lờ mờ hiểu rằng, kể từ sau khi về nước, mọi hoạt động của Tường đã có một kẻ nào đó giám sát. Nhưng đó là ai thì Tường chưa biết được. Nhưng hôm nay nghĩ lại, Tường bỗng hiểu ra rằng, chính Nguyễn là kẻ đó. Không ai khác, chính Nguyễn là một điệp viên của Cục Tình báo Hoa Nam. Ngày ở Sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh, đã có lần Tường biết được một thông tin từ một nhân viên của Cục Tình báo Hoa Nam ở nước ngoài tiết lộ về một điệp viên trong nước là Tiến sĩ khảo cổ học. Bây giờ lắp ráp mọi thông tin, Tường thấy giật mình vì anh ta đã không nhận ra được bộ mặt thật của Nguyễn từ trước. Lúc này thì đã muộn rồi. Những lần hai người gặp nhau uống bia hoặc tiếp xúc, Nguyễn thường là người chủ động mời Tường, thậm chí có nhiều lần còn tự tay pha cà phê cho Tường nữa.

Và, giờ thì anh đã hiểu. Hiểu cả cái vị lạ lùng mà ngây ngất sau mỗi tách cà phê ấy. Những tách cà phê mang chất độc chết người. Thì ra, đó chính là một kẻ vừa là bạn, vừa là thù của Tường vậy.
Nghĩ như thế và Tường chợt thấy căm giận, giận ngay cả chính bản thân mình. Tường liền gọi điện cho Hùng và chỉ nói được mỗi một câu vắn tắt: “Nguyễn - Trung Quốc”.

*
Bệnh của Tường đã đến lúc nguy ngập. Anh ta nằm đó, không lật nổi thân mình, nhưng trí óc còn có chút tỉnh táo. Đã có lúc Tường muốn gặp người của mình để trút hết những bí mật của cuộc đời làm gián điệp đôi của hắn. Nhưng Tường không thể nào làm nổi. Anh ta cũng hiểu rằng, chỉ cần lòi ra một chút đuôi thôi, mọi sự coi như chấm hết. Do đó Tường chỉ im lặng chịu đựng tất thảy những đau đớn cả thể xác và tâm hồn của mình.
Sau đó mấy người bạn khác lại tới thăm. Lúc này Tường đã quá mệt mỏi. Cho đến khi Tường biết là cái chết đã đến gần, cũng là lúc anh mới hiểu rằng, mình đã bị Cục Tình báo Hoa Nam loại ra khỏi cuộc chơi bằng một thứ chất độc tiêu tán sức lực mà anh không ngờ được. Lúc này anh muốn trối trăng thì cũng không còn kịp nữa. Nói không được, viết cũng không xong và cũng chẳng thể ra hiệu gì được. Anh đã bị xốc và dần đi vào hôn mê. Mọi bí mật đã theo anh xuống mồ.

*
Khi nhận được điện thoại của Tường chỉ với một lời nói ngắn ngủi như trối trăng: “Nguyễn - Trung Quốc”. Hùng chợt hiểu rằng, Tường đã biết được điều bí mật gì đó ở Nguyễn. Có phải Tường định nói Nguyễn đi Trung Quốc. Hay “Nguyễn - Trung Quốc” là một ẩn ý? Anh chưa kịp quay lại gặp Tường ngay vì định sẽ lục tìm tài liệu và hồ sơ trước rồi sẽ đến với Tường sau. Nhưng khi đọc xong tài liệu lưu trữ, Hùng bỗng ngộ ra rằng, Tường muốn anh hiểu rõ một bí mật rất lớn về Nguyễn.

Hùng liền vội vã quay lại bệnh viện. Thật trớ trêu, lúc này Tường đã đi vào hôn mê, không nói được và cũng không còn ra hiệu được nữa.
Bác sĩ trực ca cho biết: Khi trước có một vài người bạn đến thăm Tường. Gần một giờ sau khi họ ra về thì Tường bị xốc và hôn mê. Những người trong gia đình Tường đã đến bệnh viện và đang chờ Tường ở ngoài phòng cấp cứu.
Tường đã ra đi nhanh chóng như vậy ngay ngày hôm đó.

*
Trở về cơ quan, Hùng suy nghĩ rất nhiều về câu nhắn nhủ của Tường. Anh lật giở tài liệu mà anh thu thập được về Nguyễn. Một Tiến sĩ khảo cổ học có danh tiếng, có phòng trưng bày riêng, lại tham gia nhiều hội thảo quốc tế. Anh muốn được hiểu rõ ràng những hoạt động nghề nghiệp của Nguyễn cũng như những người đã và đang giúp Nguyễn bước lên con đường danh vọng đó. Về những người bạn Việt kiều ở Anh, ở Đức và những nhà khoa học nước ngoài quen thân với Nguyễn, thì tài liệu với Hùng còn quá ít ỏi. Hơn nữa những mối quan hệ với Đường, có thể cả Đàm nữa nếu có, theo anh cũng chưa có gì rõ ràng. Liệu có thể như Tường nghĩ: Nguyễn có liên quan tới Trung Quốc? Liệu có phải Nguyễn là một điệp viên của Cục Tình báo Hoa Nam? Có đúng là như thế không và vì sao Tường biết như thế? Vì sao? Nguyễn là thế nào đây? Nếu đúng như thế thì vấn đề càng trở nên phức tạp và rắc rối hơn.

Trong óc Hùng nêu ra rất nhiều câu hỏi, rất nhiều thắc mắc mà anh chưa hiểu được. Anh liền mời Miên và Trực đến và trao đổi gấp với hai người.

Anh đề nghị Miên cùng tìm hiểu kỹ về Nguyễn. Trực cố gắng nắm bắt tin tức từ phía ông Đường và mối quan hệ này. Hùng sẽ nhờ Duy Thành giúp đỡ tìm hiểu về nhà giáo lưu vong Duy Đức đang sống ở Anh quốc và vị giáo sư người Anh. Với Nguyễn như vậy là một nghi vấn lớn. Công việc của Ban chuyên án càng trở nên bề bộn hơn.
Logged
danhthanh
Thành viên
*
Bài viết: 708


« Trả lời #44 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 08:46:19 pm »

V

Đến đây, chắc bạn đọc đã chú ý tới ông Đường, nhân vật được đưa ra ngay từ đầu cuốn truyện.
Trong buổi sáng hôm ông Đàm đi Bờ Hồ một mình, thì ông Đường cũng ra đi. Ông xuống đường và lững thững đi bộ tới chỗ một chiếc taxi đã đợi sẵn. Ông Đường hôm nay ăn mặc rất khác với mọi hôm. Ông đội thêm một chiếc mũ cũ che kín mặt, lại thêm chiếc kính râm đổi màu, nên có vẻ khó nhận ra ông. Ông lên xe và cũng xuống Bờ Hồ. Ông đã vào một quán nước ven đường Đinh Tiên Hoàng, vừa uống nước vừa như chờ đợi người quen. Nhưng ông không gặp ai cả. Uống nước xong, ông nhẹ nhàng lướt sang bên đường, vào trong đền Ngọc Sơn. Trong lúc rất đông người ra vào đền khi ấy, ông đã chụp được bức ảnh từ phía sau của ông Đàm và người ngoại quốc. Bức ảnh chụp đúng lúc Đàm ngả người về phía tay ngoại quốc và người này đưa tay ra cầm tay Đàm. Sau đó ông ra về rất nhanh. Mọi việc như không có gì xảy ra cả.

Khi ông Đàm về khách sạn ăn trưa thì ông Đường gọi điện để hỏi thăm tình hình của bạn có vẻ rất quan tâm. Ông Đàm liền hẹn ông Đường ngày mai sẽ ra ngoại thành, thăm đền Sóc. Họ thống nhất với nhau như thế.
Còn ông Đường, khi chụp tấm ảnh ở đền Ngọc Sơn, ông đã có sắp xếp, sẽ là một phi vụ cần thiết sau này. Lúc này ông cần xác minh với ông Đàm về cái điều mà ông còn thắc mắc. Từ hơn một năm trước, ông đã gặp một người lạ đến nhà ông ở Linh Quang. Đấy lại chính là một người chú họ của ông, đã thất lạc, bỏ nhà đi từ bé, rồi vừa mới về và mở một cửa hàng vàng bạc ở Hà Đông.

 Vì sao ông Đường hiểu rõ đường đi nước bước của ông Đàm như vậy. Thì ra, người lái chiếc taxi cho ông Đàm sáng hôm đó là cháu của Đường. Ông Đường đã giao cho cháu phải quan tâm tới ông Đàm ngay từ khi đặt khách sạn cho ông ta. Người cháu sẽ đón ông ta sáng hôm sau để đưa ông ta đi bất cứ đâu, nhưng không được nói quan hệ của anh ta với ông và báo ngay cho ông biết ý định đi đâu của ông Đàm. Khi biết ông Đàm đi Bờ Hồ thì ông Đường đã tới đó trước. Ông Đàm đến Bờ Hồ còn lững thững đi bộ và thăm vãn cảnh mãi mới vào đền. Khi đó ông Đường đã thấy rõ phong thái của Đàm và ông ta chợt giật mình vì biết có gã Henry cùng đến đền. Mọi dự đoán của Đường đã đúng, khi ông ta thấy hai người cùng vào đền, rồi lời họ nói và cách họ ngã. Đường đã hiểu được sự việc. Điều này khiến ông ta như khám phá được một điều bí mật mà ông vẫn băn khoăn nghi ngờ. Đường đã hiểu về Đàm. Chỉ còn xác minh cho được dấu hiệu liên lạc và mật mã là Đường có thể tìm được kẻ cần tìm và ông ta sẽ có kết luận chính xác về những điều mình băn khoăn.

Người lái chiếc xe taxi cho ông Đàm, cũng là một nhân vật mà theo kế hoạch, ông Đường đã sắp xếp, luôn theo dõi khéo léo nhưng sát sao, phải để ý cụ thể về ông Đàm, người bạn có những điểm đặc biệt đối với mối quan tâm của ông Đường.

 Thực ra người cháu này cũng đã được đào tạo khá bài bản trong nghề thám tử, do ông gợi ý, giúp đỡ. Anh ta vốn là một đứa trẻ nghịch ngợm, bỏ học thường xuyên và rất ham học võ nghệ. Khi còn học phổ thông cậu bé đã theo học võ từ một ông thày ở phố Huế. Ông này là công nhân nhà máy dệt kim, giỏi võ từ bé, đã mở lớp dạy võ cho những thanh niên ham võ nghệ. Sau đó tay thanh niên này còn đến một lớp học thám tử tư của một nhóm người tổ chức. Từ ngày đó, chú cháu Đường đã khá thân thiết, anh ta đã giúp ông Đường nhiều việc rất đắc lực. Mới đây anh ta đã được nhận vào làm bảo vệ cho một cửa hàng vàng bạc ở Hà Đông. Anh ta cũng là người đã quan sát ông Đàm trong lúc ăn trưa hôm đó. Mọi cử chỉ, mọi điều khác thường của ông Đàm đã được thông báo cho ông Đường.
*

Ở quanh khu Nhà thờ Lớn Hà Nội, trước đây hầu như đều là các gia đình theo đạo Thiên chúa. Sau Cách mạng tháng Tám, rồi sau Giải phóng Thủ đô, nhiều gia đình giáo dân đã di cư vào Nam. Nhiều ngôi nhà đã bỏ không, được chính quyền quản lý, giao cho những gia đình cán bộ nhà nước đến ở. Hoặc bán cho các gia đình ở ngoại thành đông con cháu, sau chuyển vào sinh sống. Do vậy, nơi đây dần dần có nhiều gia đình không đi đạo cùng ở lẫn với khu giáo dân. Những năm đó, ông nội Đường là thợ kim hoàn làm việc cho một ông chủ hiệu vàng ở phố Hàng Bạc đã nhiều năm, nên cũng tích lũy được một ít tiền, đủ mua lại ngôi nhà ở phố Ngõ Huyện, cạnh Nhà thờ Lớn để ở.

Gia đình cụ cố ông ngày xưa là người gốc làng Tả Thanh Oai, Hà Đông, khá đông con. Cụ bà có nghề buôn bán ở chợ thị xã Hà Đông, nên con cái đã được đi học và làm ăn xa cũng nhiều. Ông nội Đường là con trưởng, có vợ con từ rất sớm, đã tách ra ở riêng. Từ trước năm 1945 ông đã chuyển đến ở làng Cót bên sông Tô Lịch, lúc đó thuộc ngoại thành Hà Nội. Ông lại có nghề kim hoàn. Rồi đến khi có điều kiện ông liền mua nhà ở riêng. Sau ngày giải phóng Thủ Đô, ông cụ lại chuyển cả vợ con từ làng Cót ra Ngõ Huyện.

Ngôi nhà ở phố này nguyên trước là của một người công giáo, làm thợ sửa bản in ở nhà in Hồng Hà trên đường Hai Bà Trưng. Họ đã chuyển cả gia đình vào Nam. Nhà ông Đường lúc đó lọt thỏm vào khu vực gần như toàn người theo Đạo. Song, vì Thủ đô mới giải phóng nên cuộc sống của gia đình ông cũng không gặp khó khăn lắm. Cho tới mấy chục năm sau, vì bố ông và các chú có nhiều con cái, nơi đây mới trở nên chật chội, cuộc sống mới gặp nhiều khó khăn hơn.

Lúc gia đình ông Đường chuyển từ vùng quê Tả Thanh Oai thuộc Hà Đông ra làng Cót thì vùng Tả Thanh Oai luôn bị giặc càn, bom đạn loạn lạc, nên nhiều gia đình ly tán. Lúc ấy ông nội Đàm đã đưa một người cháu họ gọi ông bằng bác, vừa bị mất cha mẹ, đi theo. Nhưng đứa bé đó ở chưa được một năm thì bị thất lạc, rồi biệt tăm tích, không ai biết tin tức gì nữa. Khi ông nội Đàm và gia đình ra Ngõ Huyện, Hà Nội, được vài năm, thì ông nội Đường mất. Bố Đường và người em nuôi kém ông gần hai chục tuổi ấy đã mất liên lạc, càng không có tin tức gì nữa. Rồi bố mẹ Đường cũng lần lượt qua đời. Anh em ông sinh sau, nên cũng không nhớ gì về ông chú, không nhận được bất cứ tin tức gì của ông ta. Mọi người đều xem như ông đã chết rồi, cũng đành không biết làm sao.

*
Thế rồi vào một ngày Chủ Nhật, cách đây hơn một năm, khi ông Đường đang ở nhà làm mấy việc vặt, chuẩn bị cho con trai lớn đi học ngành in ở nước ngoài, thì có một vị khách đến cổng. Ông ta đứng lại, nhìn ngắm ngôi nhà một lúc lâu như để nhận xem có đúng là nhà này không, rồi mới gõ vào cánh cổng bằng mấy thanh sắt đã han rỉ. Ông Đường bèn đi nhanh ra cổng. Ông nhìn qua bức tường, thấy một người già đứng đợi ở ngoài. Khi tới mở cổng, ông nhìn qua các ô sắt đan của cánh cổng, mới rõ đó là một ông già quắc thước, chừng ngoài bảy mươi tuổi, tóc đã bạc, râu khá dài cũng bạc, một tay cầm chiếc gậy trúc, tay kia cầm chiếc mũ rộng vành. Ông ta mặc bộ quần áo lụa tơ tằm, đi đôi giày Bata trắng. Dáng người có vẻ nho nhã. Gương mặt hồng hào, nước da trắng và ánh mắt còn tinh anh. Ngón tay cái ông ta cứ xoa xoa trên đầu chiếc gậy trúc, như người có tật. Nơi đầu gậy có một đốt trúc bịt bạc và trên đó khảm một ngôi sao bằng kim loại màu đen, rất đẹp.

Ông Đường chậm rãi chào ông già, rồi tỏ ra quan tâm hỏi:
- Chào cụ. Cụ có việc gì đấy ạ?
- Chào ông. Tôi xin lỗi. Tôi hỏi khí không phải, chứ đây có phải nhà cụ thợ mộc, có người con làm luật sư ở Hà Nội đấy phải không?
- Cụ hỏi ông Đàm phải không ạ?
- Tôi chỉ biết cụ thợ ngày xưa, mà chưa được gặp ông luật sư. Vậy ra ông là...
Ông Đường nghĩ, chắc cụ này lại muốn nhờ ông Đàm luật sư, giúp đỡ vụ kiện cáo gì đấy chăng. Người già thường chỉ vì con cái, hay đất cát mới phải dính đến pháp luật mà thôi. Chưa để ông già nói hết câu, ông Đường đã trả lời:
- Không phải đâu cụ ạ. Ông luật sư đi vắng rồi. Thế chứ cụ là ai? Có việc gì cụ cứ nói, tôi sẽ chuyển lời cho ông ấy.
Lúc ấy ông già tóc bạc, mới dừng lại, nhìn kỹ ông Đường. Rồi như chợt nhớ ra điều gì, ông không xoa ngón tay cái lên cán chiếc can nữa và nói:
- Không giấu gì ông. Tôi có một việc phải nhờ đến ông luật sư. Vì chợt nhớ có người mách cụ thợ ngày xưa có con, giờ làm luật sư có tiếng, nên cố tìm đến nhờ vả. Vậy chứ ông là thế nào với cụ thợ, hay...
Ông Đường cũng chú ý nhìn ông già. Ông ta chợt thấy người này có nét gì quen quen. Song Đường lại nghĩ, dù gì người già cũng đã đến tận đây. Thôi thì cứ mời cụ vào nhà đã. Nghĩ thế rồi ông kéo cánh cửa, mời ông già.
 - Tôi cũng nghĩ vậy. Thì cứ mời cụ vào trong nhà đã, rồi hãy nói chuyện. Mời cụ.
Vừa nói, ông Đường vừa đưa tay mời ông già qua cổng. Ông đứng cạnh cổng chờ cho ông ta bước vào rồi mới xoay người khép cánh cổng lại và dẫn ông già vào nhà.

Khi hai người đã ngồi xuống ghế, bên chiếc bàn cũ, ông Đường đứng dậy pha trà mời khách. Lúc đó ông khách lạ mới dựa cái gậy vào bên đùi, nhìn dáng đi và cách nói năng của ông Đường và khen:
- Ông có dáng dấp của một người công chức quá, lại rất cẩn trọng và chu đáo. Chắc ông là người Hà Nội gốc hẳn rồi.
- Cụ nói đúng đấy. Tôi làm ở ngành bảo tồn, bảo tàng, nên luôn phải cẩn trọng cụ ạ. Còn là người Hà Nội thì mới từ cụ nội tôi từ Tả Thanh Oai ra đây thôi.
 - Ồ. Thế ra các cụ nhà ông là người Tả Thanh Oai? Quí hoá. Quí hoá quá. Thì ra là người Tả Thanh Oai. Nơi ấy là đất học, là làng Tiến sĩ ngày xưa đấy.
- Vâng. Thế cụ cũng biết vùng quê đó?
- Tôi không phải chỉ biết, mà còn là người ở đó nữa.
- Vậy ạ. Ô, hay quá. Vậy ra cụ là...
Giờ thì không chờ ông Đường nói hết câu, ông già đã nói:
- Tôi cũng đi khỏi đó từ lâu rồi. Và cũng lâu lắm tôi không về thăm làng, nhưng cũng thỉnh thoảng vẫn biết tin. Thế ông cụ nhà anh là ai, tên gì vậy?
- Ông nội tôi khi đi khỏi làng là cụ Tín. Ra Hà Nội, người ta cứ gọi tên con, tên bố tôi, là cụ Thường.
Nghe thế ông già này ngồi ngây ra. Một lúc rồi ông ta mới nói:
- Xin lỗi. Vậy chứ có phải cụ Thường ở làng Cót đấy không?
Bây giờ thì đến lượt ông Đường ngạc nhiên. Ông nhìn lại ông già tóc bạc. Đúng là ông này có nét gì đó như thể ông đã từng gặp rồi. Ông chưa nghĩ ra, nhưng cứ hỏi.

- Vậy ra cụ biết ông nội tôi? Thế cụ có biết ông Thường không?
- Ông là con trai ông Thường, cháu cụ Tín ư? Trời ạ. Tôi tên là Chương, em họ của ông Thường đây. Tôi chỉ nhớ được là ngày còn bé, cứ bám theo cụ Tín khi cụ đi làm thợ kim hoàn. Cụ dẫn tôi ra cả nhà hàng vàng bạc. Nhưng tôi chẳng nhớ được gì. Rồi khi bom đạn, gia đình tôi cũng bị thất lạc, tôi đã được cụ Tín đưa ra làng Cót. Khi đó tôi vẫn còn nhỏ, rồi lại bị thất lạc, nên cũng không nhớ rõ ông Thường lắm. Với lại tôi chỉ biết khi ông ấy ở làng Cót. Sau đó mấy chục năm, khi trở lại đấy, thì không sao tìm được gia đình cụ Tín nữa. Nên đến giờ vẫn không rõ tung tích. Không biết cụ sống chết thế nào. Nhiều năm không có tin tức gì. May quá. Hôm nay được trời xui đất khiến, lại gặp được cháu cụ là ông. Thật mừng quá.

 - Quí hoá thật. Vậy ra cụ là chú họ tôi. Hôm nay nhận được cụ. Xin để tôi gọi cho ông anh. Mời cụ ở lại đây nói chuyện và xơi cơm với gia đình.
Ông Đường vui mừng nói. Trong lòng ông chợt nghĩ, thì ra là người trong một nhà. Hèn gì cụ già này có nét hao hao với các cụ nhà mình, khiến mình cứ nghĩ như đã gặp ở đâu vậy. Ông ngước lên nhìn lại ông già một lần nữa như để khẳng định là người thân.

Ông già chậm rãi nói:
- Xin cảm ơn ông. Xin để khi khác sẽ lại ăn uống với nhau. Hôm nay ta biết nhau. Sẽ có lần ta tổ chức gặp mặt sau vậy. Hôm nay tôi xin nhờ ông nói với ông luật sư hộ, tôi có việc nhờ vả.
Thế rồi ông già nọ nói rõ việc cần nhờ ông luật sư giúp đỡ vì việc mua lại khu nhà ở phố Quang Trung, Hà Đông, còn vướng víu chút thủ tục gì đó, cần có luật sư giúp mới được.
...
Logged
danhthanh
Thành viên
*
Bài viết: 708


« Trả lời #45 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 08:46:35 pm »

...

*
Thực ra ông Chương tìm ông Đàm luật sư chỉ là cái cớ. Còn mục đích chính lại khác. Và đây là lần thứ hai ông muốn tìm tới nhà ông Phó Kiều Mộc để thăm dò tin tức của ông trùm gián điệp đã chết đột ngột. Trước đây, ông Kiều đã có lệnh trao cho ông những bí mật và một nhiệm vụ lớn lao mà ông phải thực hiện. Nhưng với ông, nhiệm vụ vừa hoàn thành thì sếp đã mất. Ông ta quyết không lộ tông tích và bí mật của mình, nhằm muốn thoát ra khỏi hoàn cảnh làm mật thám cho Pháp.

Rồi khi Pháp rút khỏi Việt Nam, ông cũng di tản vào Sài Gòn luôn. Ông đổi tên lại và làm ăn buôn bán chính đáng. Bọn mật thám Pháp không hề nghi ngờ ông, cũng không có được một chút manh mối hay một chút tin tức gì về ông. Ông với ông Phó Kiều Mộc là sư phụ và đệ tử ruột trong nhóm tình báo ngày xưa. Khi ông bị thất lạc lúc còn ít tuổi, ông cũng đã biết võ vẽ chút nghề làm kim hoàn do bác đưa đến nhà ông chủ tiệm vàng ở Hàng Bạc. Nhưng rồi, được ông Kiều dẫn đi theo, đổi tên của ông thành Hoàng Kim Báu, dạy cho nghề mộc, dần dần ông đã trở thành một người thợ khéo léo. Nhưng điều quan trọng hơn là Chương đã được sư phụ dạy dỗ thành một tên gián điệp, biết tìm tòi, theo dõi và nắm bắt những tin tức, những tín hiệu để báo cáo cho sư phụ về các hoạt động của những người mà ông Kiều quan tâm.

Trải qua gần chục năm theo nghề của thày, Hoàng Chương, lúc này là Hoàng Kim Báu đã lĩnh hội được những yếu quyết của nghề tình báo và những mưu mẹo của một người thợ có một sứ mệnh đặc biệt của một tên mật thám. Chương đã cho rằng, mình có phúc mới có được người thày tài giỏi như vậy dạy dỗ cho mình đủ mọi mánh khoé nhà nghề, đủ mọi tài năng của một kẻ hoạt động bí mật. Nhất lại là những hoạt động có tính chất lỗi lạc, anh hùng mà tư tưởng lớn của sư phụ đã truyền vào cho ông. Từ trong tư duy của mình, ông đã lấy làm khâm phục vị lãnh đạo và là người thày của ông. Và rồi, Chương trở thành một quân bài xuất sắc của ông trùm trong cánh thợ. Ông sẽ được nhận một trọng trách lớn trong nhóm hoạt động này khi mọi sự thành công.

Bây giờ ông đã ở tuổi “Thất thập cổ lai hy”, nên càng không muốn lộ diện. Song, cái bí mật của nhóm điệp viên đặc biệt của ông thợ mộc nổi tiếng và số vàng bạc của các ông, thì chính ông mới là người biết rõ nhất. Ngày ấy, khi ông đã trưởng thành trong nghề thợ mộc, thì được ông Kiều phân công cho ông tìm đường về Hà Đông, mở một cửa hàng buôn vàng bạc. Ông và ông Kiều thống nhất với nhau là mỗi người ở một nơi để vừa kinh doanh vừa hoạt động bí mật, nhằm bảo đảm an toàn và tránh cả sự nhòm ngó của bọn quan thày người Pháp. Nhóm bí mật của ông Phó Kiều Mộc có năm người, được phân lẻ đi năm nơi khác nhau, nhưng cùng chung một mục đích là tìm kiếm những bí mật của các nhóm cách mạng và tổ chức kinh doanh, học cách để gây dựng thành một tổ chức chính trị. Sau này có cơ hội sẽ chiếm lĩnh được chính trường trong giới chính khách thân tín của Pháp. Những ý đồ to lớn ấy đã được giấu kín. Còn việc hoạt động tình báo cho Pháp là một nhiệm vụ quan trọng, nhưng mục đích của ông thợ mộc tài ba này còn lớn hơn và đầy tham vọng hơn nhiều. Tiếc rằng ông ta đã bị chết đột ngột và hơi sớm, khi công việc tổ chức mới ở bước ban đầu. Do đó, nhóm điệp viên này, mà thực chất là hoạt động chính trị, đã trở thành một tổ chức hết sức bí mật và đã có một số tiền bạc rất lớn. Chương kinh doanh vàng bạc cũng phát rất nhanh và có được một số vốn lớn, mở được cả xưởng sản xuất các mặt hàng vàng bạc ở thị xã Hà Đông. Còn các tên khác, người thì đi buôn hàng chuyến, từ Nam ra Bắc, sang cả các nước Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan... Kẻ thì về làm công chức của Pháp ở Hà Nội. Tên khác thì tìm cách tham gia vào hàng ngũ Việt Minh, thậm chí còn là những chiến sĩ tự vệ của Hà thành. Ý đồ và cách thức bài binh bố trận của ông Kiều rất được các đệ tử khâm phục và kính nể. Riêng Chương là người thực hiện khá nhất và thông minh nhất. Do đó Chương đã được ông Kiều hoàn toàn tin tưởng và giao cho trọng trách lớn.

Thế nhưng, những mục tiêu cao cả ấy của nhóm bí mật này chưa thực hiện được thì ông trùm đã mất trong một trận bị phục kích mà không thể ngờ được. Từ đó, nhóm này hoàn toàn rút vào bí mật. Chương chưa được toàn quyền liên lạc và chỉ huy những kẻ khác. Hơn nữa, vì nguyên tắc hoạt động, mà năm người trong nhóm cũng chưa được biết nhau. Chỉ khi nào có lệnh của ông Kiều mới được phép liên lạc. Mỗi kẻ có một ký hiệu và cách liên lạc riêng. Mỗi khi có nhiệm vụ thì họ mới nhận được tín hiệu để liên lạc. Chính vì nguyên tắc đó mà Chương chưa nắm được tất cả những quân cờ của ông Kiều. Mặc dù khi đó ông ta có ý định giao cho hắn. Nhưng hắn cũng đã được ông Kiều cho phép liên lạc với một tên nữ gián điệp, một người luồn vào hàng ngũ Việt minh và đã được chọn tham gia vào đội quân biệt động. Đó chính là tên Hồng Nhi mà Chương mới được liên lạc có một lần. Nhưng sau khi ông Kiều mất thì nhóm điệp viên này không giải mà tán. Mọi nhân vật đã giấu kín mình. Riêng Chương đã chuyển vào Nam làm nghề vàng ở trong đó.

Về kinh tế, như Chương được biết, lúc đầu nhóm bí mật này đi vào kinh doanh, đã thu được một số lượng tài sản khá lớn. Một tên trở thành một nhà tư sản ở Hà Nội. Một tên là nhà buôn lớn ở chợ Đồng Xuân. Một tên sang Malaixia và trở thành một chủ cửa hàng ăn uống. Lúc đó Chương là người có quan hệ rất thân với một vị quan cũ của triều đình, nên ông ta nhận nhiệm vụ tích lũy vàng bạc để làm ngân khố cho tổ chức bí mật của mình hoạt động lâu dài. Với tài năng và sự khéo léo của mình, cộng với nghề buôn bán vàng khá giỏi, lại có cả xưởng chế tác, nên Chương đã thu đổi được rất nhiều vàng thỏi từ ngân khố của nhà vua khi trước. Ông ta đã đưa cho sư phụ một số thỏi vàng mười để dùng khi cần thiết. Nhưng ông Phó Kiều Mộc chưa dùng đến, đã cất giữ lại để cùng các chiến hữu phục vụ cho công việc lớn lao, vì mục đích sau này. Chính vì vậy Đàm mới phát hiện bí mật của cha giấu cùng với những thỏi vàng ấy. Nhưng ở chỗ Chương thì vàng còn nhiều hơn nữa. Có thể nói, đó là một tài sản lớn. Chưa kể tài sản còn ở các chiến hữu khác như nhà tư sản lấy tên là Hồng Phát ở Hà Nội, từng mở khách sạn, nhà hàng trong thời Pháp còn chiếm đóng. Song, những kẻ đó ngày nay người thì đã lú lẫn vì già cả, kẻ chết vì bệnh tật v.v... Còn tiền bạc tích lũy được, ông Kiều và Chương đã tập hợp lại, do ông Kiều cất giữ như một kho báu, phục vụ cho mục đích lớn sau này.

Vì Hoàng Chương không còn liên lạc được với các chiến hữu, nên ông ta đành cất kín bí mật của mình và chờ đợi một ngày nào đó có thể tìm được người thay thế ông, thay thế được cho ông trùm, làm nên những sự nghiệp lớn lao như ông ta và sư phụ hằng ấp ủ. Lúc đó, ông ta sẽ trao lại tất cả. Chương đã giấu mình, giấu nghề và giấu cả những bí mật của ông ta suốt mấy chục năm qua như thế.

Là người được ông Kiều trao quyền chỉ huy khi có gì bất trắc xảy ra, ông Chương nghĩ, bí mật này một phần còn ở chỗ ông và một phần ở cụ Kiều. Ông muốn tìm được người luật sư con ông Kiều, nếu đúng anh ta được đào tạo ở Pháp và vẫn theo bước người cha, thì ông sẽ trao lại mọi bí mật cho anh ta, để trước khi chết có thể thở phào mà nhắm mắt được. Nếu không, một kẻ nào đó mà phát hiện ra thì tất cả mọi công lao, mọi sự chịu đựng, mọi sự giấu giếm mà ông ta đã coi là sự nghiệp bí mật đến mức như đã chết này, sẽ là một cái giá quá đắt cho cuộc đời ông ta. Do vậy, ông Chương vẫn muốn liên lạc lại với những người có thể có được cái bí mật chết người về nhóm điệp viên của ông ta.

*
Cuộc trò chuyện ngắn ngủi đầu tiên của hai chú cháu ông Đường, đã làm cho ông Đường thêm tò mò về bố của Đàm và ông chú mình. Ông nghĩ, sẽ từ từ tìm hiểu để biết về ông chú nhiều hơn. Và ông hẹn ông Chương sẽ gặp mặt với gia đình anh em ông vào ngày Chủ Nhật tuần sau.

Thế rồi, câu chuyện của họ về những ngày xưa càng kể, càng có nhiều chuyện để nói với nhau. Ông Chương mới hiểu, cụ Tín sau đã chuyển về Ngõ Huyện. Ông Thường có hai người con trai và ông Đường là bạn của ông Đàm, luật sư, con cụ Kiều. Ông Đường đang ở nhờ và trông giữ nhà cho ông luật sư Đàm.

Còn ông Đường thì biết ông chú này khi bị thất lạc đã được ông bố Đàm đưa đi làm thợ, dạy nghề cho ông, nhưng ông không làm thợ mộc mà vào Nam làm thợ kim hoàn. Cho đến mãi tới năm ngoái, ông mới ở Sài Gòn ra Hà Đông. Nhưng không tìm được người thân, nên đành mở tiệm vàng bạc ở đó. Ông Chương tuy đã có hai đời vợ, song số kiếp không chiều người, cả hai lần lấy vợ thì hai người đều chết bất đắc kỳ tử. Thành thử, chung thân ông vẫn là người không có con cái hay gia đình, nên vẫn là người đơn chiếc, tự do, phóng túng như xưa.
Logged
danhthanh
Thành viên
*
Bài viết: 708


« Trả lời #46 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 08:48:17 pm »

VI

Sau cuộc gặp gỡ bất ngờ đó, ông Đường và ông Thảo đã tổ chức một cuộc liên hoan gặp mặt ông già Chương vào một ngày Chủ Nhật tiếp đó. Cuộc hội ngộ thật vui vẻ và thân thiết. Những kỷ niệm xưa cũ được đưa ra kể lại. Mọi người đều mừng rỡ vì từ nay gia đình lại có một người thân, em con chú con bác với cụ Thường. Con cháu tưởng ông đã mất tích, hay đã thất lạc đi đâu đó mãi, nay đã trở về. Từ đó, ông Đường cũng thường xuyên đến thăm ông Chương ở Hà Đông. Tình cảm chú cháu rất thân tình.

Mấy tháng sau, trong một lần tình cờ quét dọn nhà cửa, sắp xếp lại bàn thờ, lau rửa đồ thờ cúng, chuẩn bị cho ngày Tết, ông Đường đã phát hiện ra một điều bất ngờ. Năm nào đến trước ngày ông Táo lên trời ông cũng làm thế. Năm nay ông có ý định mời ông Chương về nhà mình ăn Tết, nên ông càng chuẩn bị kỹ lưỡng. Ông định sẽ cùng ông Chương đón Giao thừa. Rồi sáng mồng Một Tết sẽ cùng cả nhà về nhà ông Thảo cúng gia tiên.

Trong khi bà vợ đi vắng, con trai đi làm, ông ở nhà một mình hì hụi làm việc. Ông cũng muốn sửa sang một chút cho khác hẳn mọi năm, nên ông bỏ hết đồ thờ xuống rồi nhấc chiếc mặt bàn thờ ra khỏi giá đỡ đã được cụ thợ mộc, bố ông Đàm đóng rất chắc, treo cẩn thận trên tường hậu gian giữa. Lúc ông nhấc chiếc mặt bàn thờ ra khỏi kệ, không may, bàn thờ có hơi nặng, nên ông đã phải bước vội xuống khỏi ghế. Chiếc bàn thờ lệch sang một bên rồi rơi kịch xuống nền nhà. Ông Đường cuống lên, sợ làm hỏng đồ thờ thì xúi quẩy lắm. Ông không mê tín, nhưng về tâm linh, người ta vẫn kiêng kỵ điều đó. Ông vội nhấc chiếc bàn thờ lên xem có bị nứt vỡ không. Thật may, chiếc bàn không vỡ. Nhưng nhìn kỹ, ông thấy một thanh gỗ lắp vào mặt bàn làm thành cái gờ như là cái nẹp của bàn cờ, bị tụt một đầu ra khỏi mặt tấm gỗ. Ông đem ra bàn định tìm búa đóng lại. Bỗng ông phát hiện ra hai lớp mặt bàn ghép vào trong cái nẹp ấy. Sợ mình lắp không gọn, ông liền kéo hẳn chiếc nẹp gỗ ra. Thật đúng là hai lớp gỗ mỏng chồng khít lên nhau, rồi bên ngoài mới có một chiếc nẹp gỗ được khơi thành rãnh để ghép vào. Làm như thế mặt bàn có gờ, thành rất đẹp. Ông chợt thấy kính nể cụ thợ mộc, bố Đàm. Ông nghĩ, hèn chi ông Đàm trân trọng cái bàn thờ này đến vậy. Thì ra là ông ấy muốn giữ lại cái kỷ vật thể hiện tài năng nghề nghiệp thợ mộc của bố mình.

Nghĩ vậy rồi ông Đường định đóng lại. Song, loay hoay thế nào, chưa đóng lại được, thì ông lại làm cho cái nẹp bên cạnh cũng bị tách ra. Ông chợt nghĩ, thôi cứ tháo ra lau sạch sẽ rồi ghép lại sau cũng được. Ông liền dùng tay kéo cái mặt bàn ra khỏi hai thanh gỗ nẹp cạnh bên. Mặt bàn ghép rất chuẩn xác và trơn tru, nên cũng dễ tháo. Trong lúc tháo, Đường nghĩ, cụ Kiều làm mặt bàn cầu kỳ thế này mới đẹp, chắc chắn mà lại không cong vênh. Khi tháo rời ra thì quả là hai lớp. Ông bỗng giật mình vì bị bất ngờ trước tài nghệ của cụ thợ, chẳng khác gì một nhà điêu khắc. Hai mặt bàn ghép lại với nhau. Mặt dưới của tấm gỗ ghép phía trên được trạm trổ khá tinh vi một bức tranh thủy mặc với những nét điêu khắc rất tỷ mỉ. Nhiều điểm trên bức tranh được trau chuốt như vẽ hoa và viết chữ nho. Mặt trên của tấm gỗ ghép phía dưới khắc một chiếc bàn cờ với những chỗ đánh dấu các con cờ, như đang đánh cờ thế, nhưng có vẻ chưa khắc xong.

Những hình ảnh này, trên kia chúng ta đã được biết khi ông Đàm phát hiện ra bí mật này. Nhưng với ông Đường thì đây như một kỳ công, một tác phẩm tài năng của một người thợ mộc đã đạt đến bực nghệ nhân khắc gỗ. Ông không hiểu rõ ý đồ người làm ra những bức tranh và hình này, nhưng ông cho rằng, đây là một thú vui của cụ thợ tài giỏi ngày xưa. Ông liền dùng giẻ sạch lau chùi hai tấm gỗ và chuẩn bị cất lại, thì ông chợt nhận ra những ký hiệu trên bức tranh giống như những quân cờ trên bàn cờ. Ở đó ông còn thấy khắc những ngôi sao ba cánh, bốn cánh, năm cánh và cả sáu cánh nữa. Ông cho rằng đó là một ý tưởng của người chơi cờ muốn đặt bàn cờ vào trong một khung cảnh sông núi và non nước hữu tình. Điều này quả thật nên thơ. Đó như là hứng cảm của một nghệ sĩ. Nghĩ thế, ông càng thấy khâm phục cụ Kiều.

Trong lúc đang chăm chú làm việc ấy, thì bất chợt thế nào, ông chú Chương lại đến. Ông Đường vội cất tạm chiếc bàn cờ vào phía đầu giường rồi ra đón ông Chương.
Khi ông Chương vào trong nhà, liền giở mấy túi nylon đựng đồ để trong chiếc va ly kéo tay ra, và nói:
- Biết cháu năm nay chuẩn bị Tết, mong thằng cháu Tuấn về, chú có chút quà đem ra để cúng các cụ. Vì chưa ra được chỗ cháu Thảo, nên muốn nhờ cháu đưa giúp.
Nói rồi ông đưa một túi nylon cho ông Đường. Ông Đường nhẹ nhàng nhận lấy, rồi đặt túi ấy xuống bàn. Ông Chương lại cầm một túi nữa đưa cho ông Đường, nói tiếp:
- Còn đây là chút quà lễ Tết gia tiên nhà ta và các cụ nhà cụ thợ mộc, chú đem đến, nhờ cháu thắp hương và làm lễ đón Tết ở đây.
Ông Đường nhìn ông Chương, rồi nói:
- Cụ thật chu đáo quá. Nhà cháu cũng có chuẩn bị, làm sao mà cụ cứ phải lo nghĩ như vậy. Thật không biết nói với cụ thế nào. Chỉ biết cảm ơn cụ. Nhưng cháu cũng xin thưa với cụ, điều này cháu định vào thăm cụ rồi mới nói thì mới phải lẽ. Nhưng hôm nay cụ ra chơi, lại có quà, có lễ Tết, nên cháu xin mạn phép nói luôn. Tết năm nay là lần đầu tiên sau mấy mươi năm mới được gặp cụ, gia đình cháu xin mời cụ ra đây ăn Tết từ chiều Tất niên, đón Giao thừa, để sáng mồng Một cả nhà ta về nhà ông Thảo làm lễ Tết Năm mới. Xin cụ đừng từ chối đâu đấy.
Nghe ông Đường nói thế, ông Chương lặng im một lát, rồi mới nói:
 - Điều này thật bất ngờ quá. Thế thì quá vui đối với thân già như tôi. Song, chẳng lẽ đêm Giao thừa mà lại không ở nhà mình sao được. Cháu thử nghĩ coi. Thông cảm cho chú nhé.
Nghe ông Chương nói vậy, ông Đường có vẻ ngại ngùng. Song ông lại nói:
- Cụ ạ, mấy chục năm cụ không có gia đình ở ngoài này cùng ăn Tết. Năm nay cụ cứ sắm lễ, nhưng cụ thắp hương rồi vào đây đón Giao thừa và ăn Tết mồng Một. Mùng Hai chúng cháu xin vào chúc Tết tại nhà cụ. Như thế cụ nghĩ có được không?
Ông Chương trầm ngâm một lát rồi nói:
 - Thôi thì thế này vậy. Trưa Ba mươi, chú ra nhà cháu. Tối, chú về cúng Giao thừa, rồi sáng Mồng Một chú đến thẳng nhà ông Thảo cùng cả nhà đón Năm mới. Như thế tiện và thuận hơn Đường ạ.
Ông Đường nghe vậy thấy cũng đúng, đành chấp nhận và thống nhất như vậy. Sau đó ông mời ông Chương ngồi uống nước.

Từ lúc nãy mải nói chuyện, ông Đường quên mất là mình đang còn công việc dở dang. Còn ông Chương thì đã quan sát thấy ông Đường đang dỡ bàn thờ ra để lau rửa, ông vừa uống nước vừa bảo ông Đường cứ tiếp tục làm việc của mình.
Ông Đường liền xin phép ông Chương lau bàn thờ và đồ thờ. Cầm đến chiếc bàn thờ, ông bèn tiện miệng khen cụ thợ mộc tài ba như một nghệ nhân, nghệ sĩ. Nghe vậy ông Chương bèn hỏi:
- Ông bảo sao cơ, cụ thợ cả Kiều tài ba mà như nghệ sĩ ư?
- Vâng, thưa cụ. Cụ cả mộc làm cái bàn thờ này hết sức kỳ công. Cụ ghép hai lớp gỗ tốt mà mỏng, bằng loại gỗ vàng tâm rất đẹp, nên mặt bàn thờ rất chắc chắn và đẹp mắt. Trên đó cụ còn trạm trổ cả tranh sơn thủy và bàn cờ tướng nữa. Cụ thấy có kỳ công không?

Nói rồi ông cầm hai tấm mặt bàn định ghép lại để lắp vào khung nẹp. Ông Chương liền giơ tay đón lấy mượn xem. Ông Đường bèn lật hai mặt bàn có hoa văn, đặt lên giường cho ông Chương xem. Ông Chương thoáng giật mình kinh hãi. Song ông đã trấn tĩnh được ngay. Làm như chú ý ngắm nghía và đánh giá tài nghệ của cụ thợ, nhưng trong thâm tâm ông đã nhận ra tấm bản đồ cất giữ kho báu bí mật của nhóm điệp viên trên bức tranh. Mặt khác ông cũng nhận ra sự sắp xếp các quân cờ của cụ Kiều, đó là những ký hiệu của những tên điệp viên dưới trướng của cụ, trong đó có ông, một ngôi sao đen năm cánh. Ở trên bức tranh còn ký hiệu của vị quân vương và một cung cấm. Có thể khu cung cấm sẽ là kho báu. Ngôi vị và cung điện, những điều đó chính là mơ ước của cụ Kiều và nhóm hoạt động chính trị này, mà ông là một nhân vật quan trọng. Theo sắp xếp này, ông được để ở ngôi thứ hai. Còn tên mang mật danh quân Tượng lại là quân sư. Chương cảm thấy cụ Kiều đã có những kế hoạch thật sự tinh vi, táo bạo, với một ý đồ đã được sắp đặt sẵn, đến nỗi nghiền ngẫm đã chín muồi mới khắc thành những tấm sơ đồ ấy. Mật mã của những bí mật này được cất giữ ở nơi khác, mà ông Chương đã được cụ Kiều giao cho một nửa, phòng khi cần thiết sẽ có người thay cụ lãnh đạo nhóm này. Tuy nhiên, mật hiệu liên lạc và mật khẩu của từng người, thì cụ chưa kịp trao cho ông.

Ông Chương nhìn lại hai tấm hình khắc trên gỗ quý mà lòng bồi hồi xúc động, kèm theo một nỗi tiếc nuối cái quá khứ hào hùng mới chợt bắt đầu của sư phụ và đám đệ tử ấy. Ông thở dài thay cho lời tiếc nuối. Rồi ông nói:
- Thật đáng kính phục. Thế mới biết tay nghề của cụ còn cao gấp trăm lần người khác. Tiếc là cụ mất sớm quá. Cháu giữ được vật này cho ông Đàm thì cũng là một điều hết sức đáng quý và đáng trân trọng lắm.
Ông Đường ngước lên nhìn ông Chương rồi nói:
- Xin cảm ơn cụ đã chỉ giáo. Chúng cháu cũng nghĩ như thế. Có lẽ vậy mà ông Đàm trước khi đi, cứ căn dặn cháu giúp ông ấy đừng thay bàn thờ, đồ thờ và gìn giữ nhà cửa cho ông ấy. Tôi đã làm đúng được điều này.
Rồi hai người hàn huyên một lúc nữa. Trong khi ông Đường lắp bàn thờ, lau chùi đồ thờ thì ông Chương đi thăm quanh nhà và quan sát kỹ mọi địa điểm đặc biệt của nơi này. Ông cho rằng, đây không giống như cảnh trong bức tranh, mà đó lại chính là một tấm bản đồ cất giữ kho báu của các ông. Ông sẽ suy nghĩ và chú ý xem xét lại việc này và những điều cần khám phá nữa sau phát hiện hôm nay. Có lẽ sẽ cần đến ông Đường để tìm hiểu kỹ về ông luật sư mới được. Để xem con cụ thợ có nối được chí của cha không đã. Nghĩ như thế, rồi ông Chương vào nhà và chuẩn bị ra về để có kế hoạch đón Tết.
....
Logged
danhthanh
Thành viên
*
Bài viết: 708


« Trả lời #47 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2017, 08:48:39 pm »

...

*
Trong Hà Đông, ông Chương có một ngôi nhà khá đẹp ở phố Quang Trung. Đây là một ngôi biệt thự cũ của một người buôn đồ cổ từ đầu thế kỷ trước. Lúc ông Chương được sư phụ đưa về Hà Đông mới chỉ thuê của ông chủ đồ cổ tầng dưới để ở và mở cửa hàng vàng bạc. Sau đó làm ăn phát đạt, Chương đã mua lại ngôi biệt thự này khi ông chủ nhà chuyển vào Nam sinh sống. Từ đó Chương mở rộng thêm cửa hiệu và xưởng chế tác vàng bạc, đồng thời ông cũng kiêm luôn việc buôn đồ cổ. Ông mua luôn cả mảnh đất vườn của nhà bên cạnh để mở rộng cơ sở kinh doanh của mình. Khi Chương bỏ đi Nam thì ngôi biệt thự của Chương gửi lại cho một người làm quản lý của ông trông coi. Nhưng sau này, chính quyền đã dùng ngôi nhà này làm trụ sở của một cơ quan. Sau lại phân cho mấy gia đình đến ở. Hai năm trước, khi có ý định ra Bắc, ông Chương đã thuê người tìm hiểu và môi giới mua lại ngôi biệt thự nhỏ của mình và mở lại cửa hàng kim hoàn. Việc này diễn ra khá xuôn xẻ, chỉ phải chịu mức giá đắt hơn nhiều so với thời điểm lúc ấy. Mọi thủ tục, giấy tờ đã được người môi giới buôn bán thực hiện. Bây giờ ông có ý định mua luôn cả ngôi nhà của người có khu vườn trước đây, nhưng chưa thực hiện được.

Khi ông Chương về đến Hà Đông, rồi vào nhà, chuẩn bị tắm rửa, ăn tối, thì ông lại thấy đầu óc như quay cuồng vì những điều bất ngờ mới thấy hôm nay. Trong óc ông miên man với bao kỷ niệm, với bao âm mưu và những ý đồ lớn chưa thực hiện được. Điều băn khoăn nhất của ông vẫn là chưa biết rõ về Đàm, chưa hiểu Đàm như thế nào. Ông cũng đã có ý định trở lại Sài Gòn dăm bữa, nửa tháng, để tìm hiểu về Đàm, sau khi nghe ông Đường kể chuyện giữ nhà cho Đàm đi Nam đã được 8, 9 năm rồi. Song, ông chưa kịp đi thì bây giờ đã phát hiện ra một phần bí mật của ông trùm Phó Kiều Mộc.

Bà giúp việc lật đật chạy lên mời ông xuống xơi cơm và thông báo các nhân viên cửa hàng đã xin nghỉ về chuẩn bị cho mai lễ ông Táo. Ông Chương gật đầu tỏ ý đồng cảm và ông bảo bà ta cứ để đồ ăn đó rồi ông xuống.
Sau đó, khi màn đêm đã buông phủ lên khắp phố phường, đèn đường đã bật sáng trưng, tiếng ồn cũng vợi hẳn và bụi bặm không còn nhìn rõ nữa, thì đó là lúc ông Chương ngồi vào bàn, xem lại những số liệu của cửa hàng vàng bạc ban ngày và kế hoạch của tuần sau. Mọi việc như một chu kỳ diễn ra hằng ngày ấy đã xong xuôi, ông mới nghỉ ngơi và tập trung suy nghĩ về những phát hiện ở nhà ông Đàm cùng với ông Đường hôm nay.

Ông càng nghĩ, càng thấy khâm phục sư phụ và tiếc cho một tài năng, một trí tuệ có mục đích lớn lao, đã bị mất quá sớm. Nếu không... Ông Chương nghĩ thầm. Nếu không, chắc đến bây giờ các ông đã có những kết quả khác, những tiền đồ khác. Song, kế hoạch thì vẫn là kế hoạch. Kho báu vẫn cứ là kho báu. Chỉ có thành quả thì đã tan ra mây khói. Chỉ còn lại chút le lói của niềm tin vào người kế nghiệp. Liệu Đàm có được di truyền của người cha, có được những tài năng và trí tuệ mà ông Chương và cha Đàm mong muốn.

Theo ông được biết thì, trong những năm ông đi theo sư phụ học nghề, lúc ấy ông Kiều mới có một người con. Ông ta đã đưa ông đi biệt nhiều năm. Rồi có lần cùng ông về Hà Nội để giúp ông mở tiệm vàng ở Hà Đông, ông cũng đã đến thăm ông Kiều. Nhưng khi ấy người con trưởng của ông Kiều đã mất, chỉ còn có một đứa nhỏ. Sau đó thì Pháp thua, rút khỏi Việt Nam. Thủ đô được giải phóng. Ông Kiều cũng chết đột ngột năm đó. Thế là ông cao chạy xa bay vào Sài Gòn, mấy chục năm liền không một hơi tăm. Nay mới về Bắc, tìm đến quê nhà, tìm đến bạn bè thì mọi chuyện đã trở thành hư vô. Ông chỉ còn biết lặng lẽ kinh doanh và thăm hỏi tin tức dần dần. May mà gặp lại cháu chắt cụ Tín, được biết mối quan hệ của Đường với con trai “sếp” cũ, ông lại thấy có chút hứng khởi, có tia hy vọng, muốn tìm kiếm mối quan hệ xưa.

Nay sự việc đã đến thế này, ông Chương nghĩ, có lẽ ông phải đưa dẫn được Đường vào nhóm bí mật này. Và được như vậy thì Đường sẽ giúp ông tìm kiếm thông tin từ Đàm, theo dõi, tìm hiểu về Đàm và hướng tới tìm được kho báu và toàn bộ bí mật của ông Kiều nếu còn. Muốn vậy, ông phải lựa chiều thăm dò ý Đường và nếu có thể, sẽ tiết lộ cho Đường những bí ẩn về mối quan hệ của ông với ông Kiều. Điều này cần phải tiến hành một cách chu đáo và chắc chắn.
Ông Chương suy nghĩ như thế rồi trong lòng tự quyết định kế hoạch hành động của mình.

*
Thế là sau cái Tết ấy, Đường đã dần dần hiểu được những bí mật tày đình của bố Đàm và ông chú Chương, cùng nhóm đặc vụ của ông Kiều. Đường hiểu được tầm quan trọng của chiếc bàn thờ nhà Đàm. Đó là một bí mật, một bảo bối, một tấm bản đồ để tìm thấy nơi cất giữ một kho báu và cả những bí mật lớn khác của cụ Kiều. Vấn đề còn lại cần tìm hiểu là, ông Đàm có biết điều đó không, có hiểu sự bí ẩn trong đó không? Hay Đàm chỉ cho là một hiện vật còn lại, chứng tỏ tài nghệ và kỷ niệm nghề nghiệp của cụ thợ mộc tài ba mà thôi. Về việc này ông Đường được người chú ủy thác để tìm ra con người thực của Đàm. Và, sẽ tìm cách liên lạc, nối lại mạng lưới hoạt động đặc biệt, nếu Đàm có những hoạt động bí mật, tiếp tục con đường của người cha để lại.

Vậy là từ đó ông Đường đã có một việc mới để làm, một việc đặc biệt để mà theo đuổi, để mà tìm kiếm. Điều đó khiến ông phải học hỏi để có thể hoạt động bí mật, làm việc kín đáo, khôn khéo và hết sức nhạy cảm. Ông cũng bắt đầu hướng cho người thanh niên, cháu ông vào con đường làm ăn mới, giúp việc cho ông. Bước đầu gửi cậu ta vào làm bảo vệ cho cửa hàng vàng bạc của ông Chương. Được ông Chương đồng ý, anh ta trở thành một kẻ tay chân của Đường. Ông Chương cùng ông Đường bắt đầu âm thầm thực hiện một âm mưu, một kế hoạch bí mật độc đáo và tinh vi của mình.

Thật may cho ông Đường, đúng vào thời điểm quan trọng ấy, thì ông lại được phân nhà. Đây chính là lúc ông có điều kiện để kiểm chứng về ông Đàm và tìm cách xác minh vai trò của Đàm, nhằm nối lại liên lạc cho ông chú. Do vậy trong thời gian qua, ông đã tìm hiểu và suy nghĩ về từng đường đi nước bước của ông Đàm. Được ông chú cố vấn, ông Đường đã tự mình học hỏi, nghiên cứu và tập luyện những thủ thuật và phương pháp hoạt động tình báo bí mật. Ông thử đặt mình vào vai trò của Đàm mà suy nghĩ xem, nếu ra Hà Nội, ông Đàm sẽ phải làm gì, sẽ làm thế nào và gặp gỡ những ai, ở đâu? Chính vì thế mà ông đã nghiên cứu về những nhân vật tình báo của Pháp trước đây và những người Pháp có quan hệ với Việt Nam hiện nay. Nhất là những nhân viên đại sứ quán Pháp tại Hà Nội. Ông càng tin rằng, nếu ông Đàm có những hoạt động tình báo bí mật, nhất định sẽ có những cuộc liên lạc, gặp gỡ, hay tìm kiếm bí mật. Do đó thế nào ông ta cũng sẽ có sơ hở. Ông và người chú đã bố trí kế hoạch theo sát ông Đàm, nhằm tìm cách nắm lấy con bài này trong ván cờ đặc biệt của hai người.

Thế là cuộc đi thăm Bờ Hồ chớp nhoáng của ông Đường, quả thật không ai biết, không ai ngờ tới, đã có kết quả nhanh chóng và chuẩn xác. Đường, với tính cách kín đáo, chắc chắn, chỉn chu, đã làm như một thám tử lành nghề trong nhiệm vụ quan trọng của mình, nhưng ông ta lại không phải là một nhà chuyên nghiệp.
Logged
danhthanh
Thành viên
*
Bài viết: 708


« Trả lời #48 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2017, 10:13:21 pm »

Chương Chín
I

Trong chuyến đi thăm ngoại thành cùng ông Đàm, ông Đường đã có điều kiện để quan sát và tìm hiểu thêm về những điều mà chú cháu ông đang nghi vấn.
Hôm đó, Đàm cùng ông Đường lên thăm đền Sóc và một ngôi chùa gần đó. Đền Sóc từ khi dựng tượng đồng Thánh Gióng lên trời, ông Đàm chưa biết, nên đề nghị đi Sóc Sơn. Ở đó họ đã thăm và lễ đền khoảng hai tiếng đồng hồ rồi trở về nhà nghỉ để ăn trưa. Chính buổi trưa hôm đó, ông Đàm đã chụp những tấm ảnh trong cuộc dã ngoại ở ngoài vườn cây của khu du lịch này. Đó là một việc bình thường. Song, trong hình ảnh chụp được, ông Đường nhận ra một khu biệt thự gần vườn hoa có một người phụ nữ quý phái đang tưới hoa trong vườn. Lúc đầu Đường cho là một sự ngẫu nhiên. Nhưng sau đó thì ông đã hiểu được, đó là nhà riêng của vợ chồng một vị sĩ quan quân đội đã về hưu.

Một điều nữa mà ông Đường cũng nhận ra là, ông Đàm hình như có phần để ý nhiều đến khung cảnh chung quanh khu nhà nghỉ và khu du lịch Sóc Sơn này. Điều ấy khiến Đường có nhận xét rõ rệt rằng, Đàm đang có ý tìm kiếm một địa danh hoặc một nhân vật nào đó ở nơi này. Ông ta cất kỹ những nghi vấn ấy trong lòng để tìm hiểu sau, rồi cùng với Đàm vui vẻ suốt chuyến đi.

Còn ông Đàm, sau chuyến thăm đền Sóc, ông ta không sao ngủ được. Thực ra, Đàm đi ngoại thành là có một mục đích khác nữa, tuy chưa đạt được kết quả rõ ràng, nhưng cũng đã xác minh được nguồn tin của người cộng sự trẻ của mình. Số là, trong các nhân viên văn phòng của Đàm, ông ta để ý nhất đến một chàng thanh niên đã tốt nghiệp trường Luật, về Sài Gòn làm ở nhiều văn phòng tư nhân, nhưng không hợp. Anh ta xin vào văn phòng của Đàm vài năm trước. Không hiểu hợp với Đàm hay thế nào đó mà anh ta đã có những vụ việc đều thắng lợi một cách xuất sắc. Đàm bắt đầu chú ý và quý mến anh ta. Đàm đã dần dần nâng đỡ và huấn luyện anh ta trở thành một nhân viên giỏi, một luật sư có tài.

Nhưng Đàm không ngờ, người thanh niên này lại là con nuôi vị cán bộ ngành Văn hoá của Thành phố Hồ Chí Minh. Ông này quen biết với ông chú Đàm trước đây. Người đã tìm và nhận họ hàng với Đàm mười năm trước. Mối quen biết dắt dây đó đã dẫn Đàm tới một mối quan hệ khá mật thiết với một vị sĩ quan quân đội đã ở trong Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn trước đây, nay đã nghỉ hưu.

Ông chú họ của Đàm là một người buôn bán ở chợ Bến Thành đã nhiều năm, kể từ thời Mỹ - Ngụy. Khi ông nội Đàm bỏ vùng quê ra Hà Nội làm thợ, thì một người em ruột của ông cũng bỏ làng vào Sài Gòn buôn bán. Ông tên là Kim, bước đầu đi làm thuê cho một chủ sạp hàng ở chợ Bến Thành. Sau này, vì chăm chỉ và tháo vát, ông ta đã được ông chủ gả con gái cho nên vợ nên chồng và giúp cho cuộc sống của hai người ngày càng phát triển.
Những năm đó ông nội Đàm và ông Kim vẫn có thư từ liên lạc với nhau. Sau này ông chủ sạp hàng ở chợ Bến Thành mất đi, đã truyền cả gia sản cho con gái. Do vậy ông Kim đã có điều kiện buôn bán phát đạt. Ông ta đã sinh được một người con trai đặt tên là Minh. Đó chính là người chú sau này nhận ông Đàm là cháu và kêu gọi Đàm vào Sài Gòn làm ăn, sinh sống. Người này, nếu nói về tuổi tác thì ít hơn bố Đàm 14 tuổi. Khi bố Đàm đi làm ở vùng cao vẫn thường có liên lạc với ông Minh. Những rất ít khi họ gặp nhau.

Trớ trêu thay, ông Minh lại là người lấy vợ muộn. Đã mấy lần sinh đẻ mà không nuôi được người con nào. Ông bà đã đi xem bói, rồi cúng lễ ở nhiều đền chùa, song cũng vẫn không có con. Trong khi nghề buôn bán vẫn phát đạt, tuy không phải là giàu có lớn, nhưng cũng mua tậu được nhà lầu, xe hơi. Sau ngày miền Nam giải phóng, ông Minh cũng đã hiến một số tài sản cho chính quyền cách mạng và đã từng là cơ sở của những người biệt động thành, nên được xác nhận là cơ sở cách mạng. Trong đợt Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, ông chỉ phải đi học lớp cải tạo ngắn rồi trở về kinh doanh như cũ. Trong thời kỳ đó, ông đã làm quen được với một vị trong Ủy ban Quân quản thành phố, công tác ở Ban cải tạo tư bản thành phố. Đó chính là ông Dương, một cán bộ nay đã nghỉ hưu như chúng ta đã biết. Từ đó ông Minh buôn bán ngày càng phát đạt. Ở chợ Bến Thành, hễ nói đến ông Minh, chủ hãng buôn vải thì nhiều người biết tiếng. Ông còn là người thường bỏ ra khá nhiều tiền công đức và làm từ thiện.

Sau giải phóng, ông đã tìm cách liên lạc lại với gia đình ông thợ mộc Vương Thế Kiều. Song phải tới mấy năm sau ông mới biết được tin tức về con ông Kiều là luật sư Đàm. Cũng từ đó, Đàm đã nhận được tin tức của ông. Lúc đó, chú cháu nhận được nhau, nhưng chưa được biết mặt. Mãi khi Đàm có dịp nghỉ phép đi Sài Gòn, họ mới thực sự biết nhau. Theo đề nghị của ông Vương Thế Minh, Đàm đã nhận lời vào Nam sinh sống và làm việc. Lúc đó, thượng cấp của Đàm đã đồng ý đề nghị của Đàm, để Đàm đi Nam. Đồng thời trao cho Đàm nhiệm vụ: Làm sao móc nối được với một điệp viên cũ của Pháp và tìm kiếm một kẻ mà tình báo Pháp cho là gián điệp Mỹ đã có được khá nhiều bí mật về quân sự của Việt Nam. Tên này đang làm việc dưới sự chỉ đạo của CIA do một viên sĩ quan cao cấp của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trước đây trực tiếp chỉ đạo.

Sau gần 10 năm, vừa mở văn phòng luật sư hoạt động rất tích cực, vừa sống chìm để tổ chức mạng lưới gián điệp, săn lùng bí mật quốc gia, Đàm còn phải tìm kiếm kẻ bí mật là tình báo của Mỹ cài lại. Được người chú giúp đỡ về tài chính, cùng với sự làm ăn phát triển của Văn phòng Luật sư Đàm, ông ta đã nhanh chóng xác định được vị trí và tiếng tăm của mình trong giới luật sư cả nước. Nhưng mười năm qua, nhiệm vụ tìm kiếm bí mật quốc gia, Đàm đã làm khá tốt, được đánh giá cao, nhưng việc tìm kiếm tông tích kẻ bí mật kia thì vẫn chưa ra. Cho tới khi chàng thanh niên, con nuôi vị cán bộ ngành văn hoá nói về một sĩ quan có mối quan hệ với cậu ta, có những đặc điểm mà Đàm đang tìm kiếm, thì Đàm mới thấy le lói chút hy vọng.

Nhưng theo nguồn tin này thì kẻ bí mật này lại ở miền Bắc chứ không phải ở Sài Gòn như trung tâm cho biết. Người luật sư trẻ của Đàm yêu con gái của vợ chồng vị sĩ quan đã về hưu kia đang ở Sóc Sơn. Cô này đã tốt nghiệp Đại học Ngoại giao, được nhận vào làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khi Đàm được cậu ta cho biết, cha cô ta chính là một người từ miền Nam ra Bắc trong chiến tranh và công tác ở Bộ Tư lệnh quân khu 4. Đàm bắt đầu đặt người này vào diện nghi vấn để tìm kiếm.

Về người này, Đàm đã nghiên cứu, tìm tòi tài liệu và được cấp trên đồng ý để Đàm tiếp xúc. Vì thế lần này ông ta mới có cuộc thăm đền Sóc để tìm người. Ông ta đã chụp những bức ảnh ở đây. Tuy nhiên, nghĩ tới những gì tìm kiếm ở đền Sóc hôm nay, Đàm thấy mình vẫn chưa nắm được một điều gì cụ thể, hoặc có được một chút tin tức mới nào của nhân vật mà Đàm quan tâm. Trong khi đó, việc tìm kiếm “Xe-đen” vẫn chưa có phát hiện gì. Đàm chợt thở dài, rồi ngồi vào bàn máy vi tính.

 Những năm qua, để tìm kiếm kẻ giấu mặt, Đàm đã kết bạn với nhiều nhân vật ở Sài Gòn. Được ông chú giới thiệu, Đàm đã quen với ông Dương, một người mà Đàm hết sức chú ý. Trong cuộc tìm kiếm những quân bài cha Đàm để lại khi còn ở Hà Nội, Đàm đã tìm được tên nữ điệp viên có tên Hồng Nhi. Sau khi tìm hiểu, Đàm biết được rằng, bà ta cũng đã có thời kỳ quan hệ với một nhà giáo người miền Nam tập kết ra Bắc. Nhưng sau đó Hồng Nhi đã lấy chồng là người Pháp rồi cùng chồng sang Pháp. Khi biết Hồng Nhi đã trở thành một kẻ mù loà, thì Đàm không quan tâm nữa. Vào Sài Gòn, quen biết với ông Dương, Đàm đã lặng lẽ quan sát và tìm hiểu, Đàm mới hiểu, chính ông Dương là người đã có thời kỳ quan hệ với Hồng Nhi. Từ đó Đàm càng để tâm chú ý tới ông Dương nhiều hơn, tìm hiểu kỹ về vị cán bộ già này. Theo gợi ý của cấp trên, thì vị sĩ quan này có một trọng trách đặc biệt đối với chính quyền cách mạng Thành phố Hồ Chí Minh. Nhất là thời kỳ Sài Gòn mới giải phóng. Đàm sẽ phải theo dõi và tìm ra những bí mật của người này. Tuy vậy, cho đến nay Đàm mới chỉ biết rằng, ông Dương xuất thân từ một gia đình tư sản giàu có từ trước những năm 1945 và nay gia đình này vẫn giàu nổi tiếng ở Thành phố Hồ Chí Minh. Trong gia đình này có rất nhiều người đã di tản ra nước ngoài và cũng đã trở thành những Việt kiều giàu có ở cả Châu Âu và Mỹ. Có một điều đặc biệt là, gần đây những Việt kiều đó lại có xu hướng quay về Tổ quốc đầu tư kinh doanh lớn. Có thể nhờ ảnh hưởng của ông Dương mà gia đình này vẫn giữ được truyền thống kinh doanh và phát triển kinh tế trong xã hội hiện tại như vậy.

Đàm cũng không hiểu vì sao ông Dương không hề có vợ con, mặc dù ông ta cũng có nhiều mối tình, nhiều mối quan hệ nam nữ trong thời kỳ trai trẻ. Hơn nữa, ông ta đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử của dân tộc, sống qua hai cuộc chiến tranh, vậy mà đến già vẫn còn là người độc thân. Ông ta từng là một cán bộ có trọng trách trong chính quyền, một sĩ quan cao cấp trong quân đội, mà cuộc sống có phần giản dị, bình thản, không hề có một biểu hiện gì đáng nghi ngờ trong suy nghĩ của Đàm. Phải chăng ông Dương là một mẫu người Cộng sản hoàn hảo, được đào tạo từ cái nôi XHCN của Liên Xô và miền Bắc, được rèn luyện, thử thách trong những năm chiến tranh chống Mỹ, nên ông đã trở thành biểu tượng của “Một người chân chính”? Đàm nghĩ vậy, nhưng trong lòng vẫn cứ có một thắc mắc: Vậy, khi quen biết với Hồng Nhi, liệu ông Dương có biết gì về bí mật của người đàn bà này không? Liệu có điều gì ẩn giấu dưới mối tình này? Và liệu ông Dương và Hồng Nhi có phải thật sự là đôi tình nhân hay đó là một mối quan hệ khác? Những băn khoăn đó đã từng làm cho Đàm phải suy nghĩ rất nhiều để tìm ra câu trả lời. Và đó cũng là cái cớ để Đàm quan hệ với gia đình đại gia Nguyễn Hiếu nổi tiếng giàu có ở Thành phố Hồ Chí Minh. Song, đến nay Đàm vẫn chưa có đáp án, chưa có câu trả lời.

Nghĩ tới chuyến đi Sóc Sơn, Đàm cũng chợt nhận ra hình như Đường có điều gì như đang giấu Đàm. Thậm chí Đường còn có điều gì như muốn thắc mắc mà chưa có dịp trao đổi cùng Đàm. Ông ta nghĩ, sẽ phải ngồi lại với Đường để thực hiện ý đồ lôi kéo Đường vào với mình, thực hiện những mưu đồ bí mật. Nghĩ vậy và Đàm liền sắp xếp kế hoạch gặp Đường thật chu đáo.
Logged
danhthanh
Thành viên
*
Bài viết: 708


« Trả lời #49 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2017, 10:14:49 pm »

II

Anh chàng ở Đoàn luật sư Hà Nội được Vân đề nghị đã bố trí gặp Liên, trao đổi công việc. Cuộc gặp của họ diễn ra tại nhà hàng Thủy Tạ bên Hồ Gươm. Toàn bộ cuộc trao đổi hình thức đó đã được ghi lại. Với nghiệp vụ của mình, Vân được biết, hôm trước khi Liên ra Bờ Hồ chụp ảnh rùa nổi không được, tình cờ vào đền Ngọc Sơn thì nhận ra Đàm. Anh thấy Đàm cũng thăm đền Ngọc Sơn và trượt chân khi bước qua ngưỡng cửa vào đền. Khi đó ông ta được một người ngoại quốc giơ tay ra đỡ. Họ gật đầu cảm ơn và chia tay nhau. Vì cũng không quen Đàm lắm nên Liên không tiện hỏi, mới gọi điện thoại cho bạn ở Đoàn luật sư.

Thông tin này đã được Vân trao đổi ngay với Nguyễn Hùng. Hùng thở ra nhẹ nhõm. Anh hiểu rằng, những thông tin này đã giúp anh hình dung được một điều gì đó rất hệ trọng về người luật sư này. Không phải ngẫu nhiên mà họ lại có cuộc gặp chớp nhoáng đó. Nhất là, Đàm lại là một luật sư tốt nghiệp cao học tại Pháp, có vợ con ở Pari. Hơn nữa ông ta vẫn sống độc thân bao năm nay, không hề có chuyện trai gái. Đàm là một luật sư khá nổi tiếng, được nhiều người tôn trọng. Ông ta còn là một luật sư có tài, có một văn phòng tư vấn luật được nhiều người tin tưởng. Anh chợt nghĩ tới gia thế của Đàm. Đây là điều cần phải tìm hiểu kỹ. Hùng dự định một cuộc điều tra cụ thể và thật sự chu đáo về Đàm cùng những người bạn có quan hệ với anh ta. Hùng điện cho các cộng sự chuẩn bị giao ban Ban chuyên án.

*
Nguyễn Hùng cũng đã nhận được báo cáo của Dũng từ Sài Gòn gửi ra. Dũng đã có những phát hiện đặc biệt về mối quan hệ mới giữa ông Bình và gia đình ông Hiếu cùng đại tá Bảo. Đây là một cuộc giao dịch để đại gia đình tư bản này đầu tư vào công trình cầu cảng mới ở Nhà Bè. Trong đó có sự móc nối của vị cán bộ cách mạng đã nghỉ hưu là ông Dương.

Khi nhận nhiệm vụ được giao một cách chính thức từ Ban chuyên án do Hùng phụ trách, theo quyết định của thiếu tướng Thành Cương, Dũng đã tập trung tìm hiểu mọi tình hình về gia đình giàu có này. Bắt đầu từ ông Dương, người có địa vị cao nhất trong gia đình.

Theo Dũng được biết thì ông Dương là một người có mối quen biết rất rộng. Trong thời gian là cán bộ Ủy ban Quân quản Sài Gòn ngày mới giải phóng, ông đã có những lần ký giấy bảo lãnh cho gia đình ông Hiếu, người cháu con ông anh ruột trong cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Và ông đã giúp cho ông Hiếu có được một vị thế vững vàng trong quá trình kinh doanh, buôn bán sau đó. Nhưng Dũng còn tìm được một tài liệu trong hồ sơ bí mật về ông Dương mà ít người quan tâm, có nói tới một mối quen biết của ông với một phụ nữ đã từng ở trong đơn vị tự vệ thành Hà Nội xưa. Nhưng sau đó người này đã lấy chồng người Pháp. Tài liệu này còn cho biết, ông Dương về mặt danh chính ngôn thuận, thì không có gia đình riêng. Song, ông Dương cũng có những mối tình ngắn ngủi và nhạt nhoà lúc tuổi trẻ.

Trên cơ sở tài liệu mập mờ này, sau khi xin phép lãnh đạo Cục An ninh miền, Dũng đã tập trung tìm hiểu về ông Dương một cách cặn kẽ hơn. Anh đã lục tìm lại những người cùng thời với ông Dương ở Sài Gòn và cả Hà Nội nữa. Bằng cách liên hệ qua điện thoại, hoặc gặp gỡ trực tiếp, lấy cớ xác minh cán bộ để Viện Huân chương lập hồ sơ khen thưởng. Từ đó, Dũng biết được rằng, người phụ nữ từng ở trong đơn vị tự vệ thành hiện đang còn sống và vẫn ở Hà Nội, có tên là Vũ Nhi Hồng, thường được gọi là Hồng Nhi. Về bà Hồng Nhi, Dũng đề nghị đại tá Hùng cử người tìm hiểu và nếu có thể được, anh sẽ xin phép bay ra Hà Nội để trực tiếp báo cáo tình hình.

Dũng cũng biết được rằng, trước khi ông Dương tham gia Đoàn Thanh niên Cách mạng, ông đã đổi tên Quý Dậu sang tên hiện nay. Lúc đó, ông bỏ nhà đi làm cách mạng, được lãnh đạo rất tin tưởng. Rồi năm 1954, ông đã được tập kết ra Bắc. Gia đình ông là một gia đình giàu có vào loại nhất nhì Sài Gòn ngày đó. Trong thời gian ở miền Bắc, ông được đi học trường chuyên nghiệp của cán bộ và con em miền Nam. Sau đó vào trường huấn luyện sĩ quan của quân đội. Ở đây ông là sĩ quan xuất sắc, được cử sang Liên Xô du học. Trước khi về nước, ông Dương đã là người được tuyển chọn cùng một vài bạn nữa đi thực tập và tham quan các nước Đức, Tiệp và Bun-ga-ri. Về nước, ông tham gia khá nhiều hoạt động phong trào và đã quen biết nhiều bạn bè trong các giới chính trị và quân sự. Ông cũng được cử đi vùng Quảng Ninh, Hải Phòng cùng với các chuyên gia Liên Xô giúp ta xây dựng các công trình thông tin đặc biệt của quân đội. Sau đó ông được điều về làm giáo viên một trường đào tạo văn hoá cho các chiến sĩ và cán bộ bị thương hoặc có chiến công từ mặt trận chuyển ra. Trường này ở vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội. Trong thời gian gần ba năm công tác ở trường, ông tham gia công tác đoàn thể và các hiệp hội, nên có quen biết nhiều cán bộ phụ nữ. Vì có chân trong Ban chấp hành hội, đoàn thể, nên ông đã quen với bà Hồng Nhi, khi đó đã rút khỏi đội tự vệ thành phố, về làm cán bộ ngành giáo dục ở nội thành. Ông cũng từng tham gia công tác trong những cơ quan của Đảng ở thành phố Hà Nội, rồi lên Ban nghiên cứu phân tích tình hình chiến sự của Trung ương.

Sau khoảng hơn chục năm công tác ở miền Bắc, ông Dương trở lại quân đội, tham gia đơn vị đặc biệt, tập luyện chuẩn bị trở lại chiến trường miền Nam. Ông được phong quân hàm thượng tá. Khi cùng đoàn quân Nam tiến, đơn vị ông Dương đã có những trận đánh lớn tiến vào giải phóng Sài Gòn. Khi Sài Gòn giải phóng, ông được cử là Ủy viên Ủy ban Quân quản thành phố. Ông đã có những hoạt động và công tác khá nổi trội, đặc biệt trong đợt cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh.

Những ngày ông Dương ở trong Ủy ban Quân quản thành phố, thiếu tướng Thành Cương lúc đó là trung tá công an, phụ trách công tác an ninh, ông Dương phụ trách công tác giáo dục đào tạo.

Về vụ việc này, Ban chuyên án đã tóm tắt tình hình và Hùng sẽ trực tiếp gặp Cục trưởng báo cáo lại để xin ý kiến về việc tìm hiểu ông Dương. Anh cử Vũ Hải tìm hiểu về bà Hồng Nhi và Dũng được ra Hà Nội vài ngày để trực tiếp báo cáo với Ban chuyên án những kết quả điều tra của mình.

Khi Dũng ra tới Hà Nội thì Vũ Hải cũng đã có được vài thông tin về bà Hồng Nhi. Anh cho biết: Bà Hồng Nhi là một chiến sĩ trong đơn vị tự vệ thành. Sau ngày tiếp quản Thủ đô, bà công tác ở Hội phụ nữ thành phố, rồi công đoàn ngành giáo dục. Đến khi tiến hành cải cách ruộng đất, bố mẹ bà Hồng Nhi đã bị quy là địa chủ. Bà rất buồn và uất ức. Vài năm sau bà đã bỏ hẳn mọi hoạt động, về sống với các anh em. Sau đó bà kết hôn với một người Pháp. Rồi xin sang Pháp cùng chồng. Nhưng ở đó được mấy năm, bà không có con, người chồng đã quan hệ với cô gái khác. Bà xin ly hôn, rồi trở về nước, sống một mình với đứa cháu con ông anh. Hiện nay bà đã ngoài bảy mươi tuổi, nhưng có vẻ bị lú lẫn và mắt bị loà.

Còn về ông Bình, theo điều tra của Dũng thì đây là một nhân vật đặc biệt đáng quan tâm. Từ các nguồn tin tình báo, và qua các cuộc về nước của một vài Việt kiều yêu nước, Ban chuyên án đã biết được những khả năng kinh doanh và vốn liếng cực lớn của gia đình ông ta tại Mỹ. Thêm vào đó, tin tức của trung tá Miên cũng cho biết, nhà tư sản Hồng Sơn đã từng cùng ông Bình chung vốn đầu tư cho quân đội của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, trước ngày miền Nam được giải phóng, xây dựng khu phi quân sự ở vùng Biên Hoà thành một khu kinh tế đặc thù, như một thành phố vệ tinh của Sài Gòn. Đây là hai đại gia đã nổi tiếng từ lâu dưới thời Mỹ - Ngụy.

Nhưng có một nguồn tin tình báo quân sự cho biết, ông Bình hình như còn là một sĩ quan cao cấp trong quân đội của Nguyễn Văn Thiệu. Ông ta đã từng được Trần Kim Tuyến, người phụ trách ngành an ninh dưới thời Diệm Nhu, chọn tuyển vào đơn vị đặc biệt từ khi còn nhỏ. Sau đó, chính thể Ngô Đình Diệm bị đổ, thì không thấy ông Bình tham gia công tác chính quyền, mà chú tâm vào kinh doanh. Còn tại sao có thông tin Bình là một sĩ quan cao cấp trong quân đội của Nguyễn Văn Thiệu, thì những tài liệu mà Dũng tìm hiểu được cho biết, đã có một người từng là đặc vụ sau rút vào bí mật, cung cấp chi tiết này cho một cán bộ quân đội. Sau giải phóng người này đã biệt vô âm tín.

Bí mật lần theo dấu vết những cuộc gặp gỡ của Bình và gia đình ông Hiếu, nhóm trinh sát do Dũng phụ trách còn tìm ra một vài điều cần quan tâm khác. Trong đó có một cuộc gặp mặt tại khách sạn Hương Giang. Đại tá Bảo đã đưa đại tá Trường, người đang phụ trách đơn vị cảng mới Nhà Bè, tới khách sạn Hương Giang gặp Bình và Na Na để chuẩn bị ký kết đầu tư vào việc xây dựng cảng. Từ sự việc này, các anh đã tìm hiểu về những sĩ quan cao cấp trong quân đội phụ trách kinh tế. Các anh đã biết được rằng, đại tá Bảo là một chiến sĩ đặc công, đã từng tham gia nhiều trận đánh lớn, có chiến công rất oanh liệt trước ngày giải phóng. Ông đã tham gia các cuộc giải phóng vùng đảo Hoàng Sa của Việt Nam và căn cứ Hòn Xoài nổi tiếng. Sau đó Bảo phụ trách đơn vị quân đội xây dựng một công trình lớn của Hải quân ngoài biển đảo. Rồi được chuyển về phụ trách đơn vị xây dựng cảng mới Nhà Bè. Nay là cán bộ cao cấp ở Bộ chỉ huy quân sự thành phố, chuẩn bị về hưu.

Về đại tá Nguyễn Bảo, nhóm trinh sát của Thành Dũng có một nghi vấn nhỏ: Vị đại tá này trong lý lịch không thấy ghi về xuất xứ của bố mẹ vợ. Chỉ có tên bố mẹ và vợ, con. Về bố mẹ vợ, ghi là thị dân. Song, qua xác minh thì gia đình này là nhà buôn ở khu vực Chợ Lớn, sau đó đã di tản đi Mỹ. Hiện nay không còn tài sản ở Sài Gòn. Điều này làm cho các anh thấy gợn lên một chút băn khoăn vì thấy chưa được rõ ràng và Dũng đã ghi chú lại. Nhưng chưa hết, tìm hiểu về thân thế gia đình nhà vợ đại tá Bảo, nhóm của Dũng còn thấy một chi tiết đáng quan tâm nữa là, ông bố vợ Bảo là người Việt gốc Hoa. Em trai ông ta là một nhà giàu, theo đạo Thiên chúa, có người con trai là Ngô Duy Khiên đã di tản đi Anh từ năm 1979.

Sau khi gặp Dũng, nghe anh báo cáo tỷ mỉ mọi sự việc, Nguyễn Hùng đề nghị Ban chuyên án khẩn trương phân tích, nắm bắt lại tình hình và anh đặc biệt lưu ý Vũ Hải và Thành Dũng tập trung tìm hiểu thật kỹ về thông tin ông Bình đã từng là một sĩ quan cao cấp của chính quyền Ngụy. Đặc biệt tin tức về thời kỳ Bình được đào tạo như một đặc vụ dưới thời Trần Kim Tuyến. Và nếu việc này là đúng, thì mọi cuộc tiếp xúc của Bình càng trở nên quan trọng, thậm chí nguy hiểm nữa. Anh đề nghị trung tá Miên cũng chú ý khai thác các nguồn tin tình báo từ nước ngoài về những thông tin này. Đồng thời cùng nhóm Vũ Hải khai thác về khía cạnh những người gốc Hoa bên họ nhà vợ đại tá Bảo. Điều này sẽ giúp làm sáng tỏ mối quan tâm của chúng ta về những cuộc gặp gỡ của Bình và Bảo.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM