bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #50 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 10:26:38 pm » |
|
Ông Trường gật đầu: - Được! Tớ chẳng có phán đoán gì khác! Tớ cũng nghĩ là nó muốn kiểm tra ta ở mức cao hơn. Nó còn muốn “hành” nữa như cánh ta đã nghĩ tới ngay từ sau vụ C47. Vậy, chú em ơi, ta bắt đầu bước sang một thời kỳ khốn khổ, vất vả, đổ mồ hôi, sôi nước mắt với chúng nó đấy. Có đúng không? - Nhất trí với anh. - Vậy phải ráo riết động viên anh em cố gắng hơn nữa. Thế đấy, bây giờ là vào trận sâu hơn rồi, phải thế. Chú ý giáo dục thằng Páo nhá! Nó vẫn phải đi với ta, dù lên non dù xuống biển. Nhưng thôi, hãy giở bản đồ ra xem cái tọa độ chết tiệt ấy nó ở chỗ nào nào? An mở tấm bản đồ thường dùng ra. Hai anh em lại như bò ra trên mảnh giấy lớn ấy cùng chỉ chỉ chỏ chỏ. Nó đây rồi, cái tọa độ “chết tiệt” ấy. Vẫn dọc sông Đà thôi, nhưng ngược mãi lên gần đường 13, cách đây 20 dặm. Xanh rì một vùng, chẳng hề thấy một con đường mòn, chỉ toàn những đường biên độ của các cao điểm, núi đồi vằn vèo chi chít, tầng tầng, lớp lớp, nom mà phát ớn. Cái thằng Mẽo quả thật đểu! Ngồi tít tận Sài Gòn nó biết gì nơi này mà chỉ với chỏ! Tóm lại nó cứ tìm chỗ nào nom khó nhá nhất là quyết định thôi! Không đi không được, mà đi chắc chắn là “mửa mật”. - Thôi được - ông Trường phẩy tay đứng dậy - đêm nay báo cáo về Bộ, xin phép thực hiện cái điện khốn kiếp này. Còn bây giờ chuẩn bị mọi mặt luôn. Tớ làm công tác tư tưởng. Cậu lo hậu cần, và vẫn đặc trách thằng Páo đấy! Tối hôm đó, anh em cảnh vệ và nhân viên còn lại cùng quây quần bên một đống củi cháy sáng như lửa trại trong những đêm rừng thời chiến tranh chống Pháp. Ông Trường ngồi cùng đám đông. Ông thong thả, sang sảng nói từng lời. Dưới ánh lửa bập bùng, đôi mắt vốn rất sáng của ông càng như thêm lấp lánh, hai gò má ông vốn cao, càng như nhô cao hơn với vầng trán rộng đầy vẻ cứng cỏi và trung thực. -… Tôi đã nói về âm mưu thằng Mỹ trong kế điều ta phải di chuyển. Bây giờ tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh: anh em nhớ phải luôn luôn giữ bí mật. Di chuyển càng phải chú ý tới vấn đề này, vì sẽ có thể đi qua nơi có dân, xuyên rừng thì có thể gặp thợ săn, gặp sơn tràng, thậm chí cả dân buôn lậu vượt biên nữa... Phải hết sức bí mật, phải tránh hết, thậm chí phải tránh cả công an ta hiểu không? (anh em cười). Thật đấy - ông Trường vẫn nghiêm chỉnh - Phải luôn luôn nhớ ta đang là “Goblin”. Nhưng lẽ cố nhiên hồn vẫn là ta, chỉ có da... tạm là biệt kích. Như vậy ta vẫn luôn luôn là quân của “cụ” Trần Quốc hiểu không? Ông nói tới đó, tất cả lại cùng bật cười ran vì câu nói với hình ảnh bất ngờ thú vị ấy. Tên Páo ngồi gần An cũng cười, vì hiểu. Nó hỏi thầm An: - Vậy còn em là thế nào, cán bộ An? - Cậu cũng vậy thôi - Và cũng bắt chước ông Trường, An nói - Bây giờ hồn đã là của Páo, còn Páo vẫn tạm là biệt kích. Nghĩa là đầu óc cậu bây giờ tỉnh ngộ rồi, cậu chỉ còn dính cái cũ có một phần. Bao giờ chuộc hết tội lỗi, cậu sẽ hoàn toàn là anh thanh niên Páo nhân viên điện đài phục vụ Cách mạng. Páo lại cười vì nghe thấy hay quá. Sáng hôm sau Bộ điện lên: Hoàn toàn đồng ý với kế hoạch của Ban. Buổi trưa, ông Trường cho nhổ trại đi luôn, ông nhắc An phải nhớ luôn luôn ghi nhật ký hành trình: Số người lên đường, tên tuổi và ký hiệu từng người (tất nhiên là ghi đúng theo tên và ký hiệu của bọn Goblin thật). Cũng ghi rõ ngày, tháng và giờ xuất phát cùng hướng đi... Phải rất chi tiết và đầy đủ, để phòng sau này nhỡ địch có hỏi thẩm tra, ta sẽ có đầy đủ cơ sở để báo, làm cho chúng không còn hồ nghi vào đâu được. Mười anh em không những ba lô đã khá nặng, còn phải mang vác vật tư, máy móc, lương thực trĩu vai, có anh còn phải gánh gồng kĩu kịt. Ông Trường đứng nhìn “đoàn quân” của mình, lại cười khà khà, rồi hất hàm nói với An, cũng là để làm vui anh em lúc lên đường: - Coi! Có giống thầy trò Đường Tam Tạng đi Tây Trúc lấy kinh không? An cười. Anh biết ông Trường “hổ tướng” vậy mà cũng rất tình cảm. Ông cũng hay đọc sách, truyện, ông đã đọc cả Tây du ký. - Tớ tạm làm Đường Tam Tạng. Còn cậu làm Tôn Ngộ Không được đấy, người coi bộ cũng mảnh mai lại nhanh nhẹn. Chỉ còn thiếu có hai thằng Trư Bát Giới và Sa Tăng... Bắt đầu đi sâu vào rừng. Theo lộ trình phải xa sông Đà 5 dặm. Càng vào sâu, rừng càng rậm, đèo dốc, khe, suối càng nhiều. Không có đường mòn, chỉ có đường hươu chạy và lối đi nhỏ, mờ nhạt, đứt nối của dân sơn tràng, hoặc thợ săn. Có lúc phải phát cây mở lối mà tiến lên và đi theo la bàn. Tốc độ rất chậm, nhưng không ai tỏ ra sốt ruột. Ông Trường đã dặn rồi: Đi phải tới đích. Nhưng cũng không cần gấp. Tối đâu, ngủ đấy. Chiều xuống dần. Cứ nhìn bóng tối bảng lảng dâng lên dần dần trong rừng là biết. Chân đã mỏi nhừ. Vai đã tê dại. Thở dốc. Các bi đông nước đun sôi đem theo đã hết kiệt, phải uống nước suối... Rồi tối sập. Ông Trường cho hạ trại tạm bên một dòng suối nhỏ. Mọi người ngồi xả hơi một lúc rồi bắt đầu chia nhau đi hái củi, nấu cơm. Giữa rừng hoang, đêm tối, ngọn lửa bừng cháy lên thật ấm lòng. Nó gợi lại hình ảnh cuộc sống bầy đàn thời nguyên thủy quần tụ, đơn sơ, và vô tư, gần gũi với thiên nhiên rộng lớn. Nó làm cho mọi đầu óc như bớt âm u, mọi con mắt trở lại sáng hơn và mọi tâm hồn cũng bình yên, dịu lại. Bữa ăn chỉ có rau rừng và cá kho đem theo, nhưng đói nên ăn vẫn rất ngon miệng. Đang ăn, một nhân viên bỗng bật nói: - Này, ở Hà Nội lúc này hẳn đang bắt đầu bắn pháo hoa đấy nhỉ! Mọi người bây giờ mới sực nhớ ra: Hôm nay đúng là ngày Quốc khánh. Phải, giờ này chắc ở Hà Nội, quanh bờ hồ Hoàn Kiếm và hồ Thiền Quang, hẳn đang nổi lên những tiếng nổ lục bục vui tai trên bầu trời đầy lãng mạn. Rồi từng chùm pháo hoa bung ra, đủ các cỡ, các kiểu, đủ sắc màu lung linh, lúc soi hồng, lúc phớt xanh, lúc chiếu vàng, khi sáng rõ... trên tất cả những gương mặt già trẻ đang cùng ngước lên say sưa ngắm nhìn và đắm mình trong những giấc mơ kỳ diệu, những giấc mơ và cả những ảo ảnh tuyệt vời đã và đang làm cho con người ta quên đi dù chỉ trong phút chốc mọi nỗi nhọc nhằn, mọi điều gian khổ... Nhớ ra rồi, nhưng mọi người không ai bảo ai cùng hết sức tế nhị không nhắc một lời về những người thân yêu dù giàu có hay nghèo đói, dù sung sướng hay bất hạnh đang sống ở cái thành phố ở nơi khá xa xôi ấy. Cũng không một lời đụng tới mọi nỗi gian truân của chính mình trên sâu hút rừng xanh này. Tóm lại mọi người đều muốn giữ cho cái không khí đêm nay được hoàn toàn trong sáng, tươi vui như những ngọn lửa rừng đang tiếp tục nhảy múa và tung lên những đám tàn như rắc cốm vàng lấp lánh. Đến khuya, cắt gác cẩn thận rồi ông Trường mới giục mọi người đi ngủ. Tất cả trải lá để lót lưng, rồi cùng nằm vòng tròn quanh đống lửa theo kiểu người xưa. Đêm rừng xôn xao với muôn ngàn tiếng động, cùng tất cả những ảo ảnh, những hình thù biến, hiện huyền bí. Nhưng tất cả mọi người đều ngủ khá ngon, vì ban ngày đi đã quá mệt. Ông Trường là người lớn tuổi hơn cả nên thính ngủ nhất. Ông để ý không thấy An nằm mê hét lên như nhiều đêm còn ở lán của “đội khảo sát địa chất sông Đà”. Không hiểu vì sao? Có thể khi đã vào việc, lý trí khá mạnh của anh ta đã hoàn toàn làm chủ từ thân xác tới tâm hồn, thậm chí tiềm thức. Chỉ những khi quá nhàn rỗi hoặc tù túng, bấy giờ con người bản năng mới từ cõi vô thức trở về để thốt lên tất cả những gì vui, buồn hoặc khắc khoải máu thịt nhất... Tất cả vẫn ngủ ngon. Anh lính gác im lặng đi đi lại lại. Ở giữa vòng người, đống than đã rạc gần hết, chỉ còn le lói một vài đốm hồng hồng... Sáng hôm sau, ăn sáng qua loa xong, đoàn người tiếp tục cuộc hành trình xuyên rừng, vượt núi đầy gian nan, vất vả... Cho tới 11 giờ, ông Trường cho anh em dừng lại. Đã tới giờ hẹn lên phiên với Sài Gòn. Ông nói với An lấy sổ ra ghi chép. Một lần nữa, An phải chịu “ông già” làm việc thật nghiêm túc, mặc dầu bình thường đó là con người ăn nói lắm khi ào ào như bất cẩn. Páo vẫn luôn luôn tỉnh táo. Nó tỏ rõ đúng là một chàng trai của rừng núi sinh ra, bền dẻo như song mây, rắn cứng như lim táu, và tâm hồn tuy một thời bị làm vẩn đục nay gần như đã khá trong, dù có thể vẫn còn ít nhiều rều, rác nào đó. Páo nhận điện rất mau mắn, suôn sẻ không khác mọi khi còn tĩnh tại ở bên sông Đà. Bức điện được An mã dịch ngay để đưa tới ông Trường: “Trung tâm tin là anh em đã bắt đầu di chuyển - Hãy gắng lên - Hãy lập một căn cứ mới an toàn hơn, chắc chắn hơn - Trung tâm sẽ có chỉ thị tiếp - Luôn luôn tin tưởng ở anh em - Hãy ra sức lập công vì Tổ quốc”. Lại như mọi lần, ông Trường như muốn vò nát mẩu giấy lộn ấy vứt đi. - Mẹ cha nó! Chúng nó làm gì có Tổ quốc mà cũng dám mở miệng! Anh em nhà Diệm bán cha nó cho Mỹ rồi còn gì! - Ông lầu bầu. Nhưng rồi ông vẫn đưa bức điện cho An và dặn vào sổ nhật ký và lưu trữ thật cẩn thận. Lại qua một đêm nữa. Tới sáng ngày thứ ba cả đoàn mới tới được một ngọn núi khá bằng, có nhiều cây cao, dưới chân núi có một dòng suối khá lớn đổ thành một thác nhỏ trắng xóa. Nhìn ra, bốn bề xanh ngắt một màu. Bản đồ lại được mở ra. Chỉ khoảnh khắc sau, so bản đồ và đối chiếu la bàn, ông Trường và An cùng nhất trí: Đã tới đúng địa điểm nằm trong toạ độ mà bọn “Trung tâm” quy định. Nhận định ấy làm cho cả đoàn thở phào, mừng rỡ. Thế là không còn phải “nuốt” những chặng đường có thể đặt tên là “Những chặng đường hủy diệt”. Ông Trường chính thức ra lệnh hạ trại. Mọi người được phép nghỉ ngơi một lúc, sau đó phát quang và chia nhau đi tìm tre nứa về làm lán. Lại mệt! Nhưng cái mệt này dẫu sao cũng dễ chịu hơn nhiều.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #51 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 10:31:24 pm » |
|
Cũng đúng lúc đó cậu tân binh tên Ba nấu cơm cho đoàn lên cơn sốt cao tới 39 độ rưỡi. Khi trên đường đi chuyển An cũng chưa quá mệt mỏi cho lắm, nhưng lúc này ngồi nghỉ được lâu lâu anh mới cảm thấy hết tất cả sự ê ẩm của chặng hành quân kinh khủng vừa qua. Ông Trường cũng vậy. Tuy nhiên nhiệm vụ không cho phép ông được xả hơi quá dài. Ông cùng An bàn việc luôn: - Ở đây quả là rất hoang vắng. Nhưng thế nào cũng phải có dân, dù có xa hơn nơi cũ ta ở, phải không? Vậy từ ngày mai, phải có kế hoạch cho anh em đi tìm. Bây giờ ta lại đội cái mũ công khai “Đội khảo sát địa chất sông Đà” cậu ạ! An gật đầu. Ông Trường tiếp: - Còn vấn đề lương thực cũng phải bàn ngay. Ta mang đi chỉ được tất cả 15 ngày gạo. Thế đã là quá sức rồi. Có lẽ không kém bộ đội đi B cho lắm! Nhưng muốn tính lương thực trước hết phải xem thằng Mẽo nó sẽ cho mình ở đây lâu hay lại điều đi luôn? Theo tớ, có thể nó chọn đây làm căn cứ lâu dài. Cứ suy như vừa rồi đấy, sau vụ C47, nó nghi ta nhưng phải sau tới hơn một tháng vờn vã điện với đám bố láo, rồi mới điều ta đi thế này. Vậy đã tới đây, nó cũng lại phải lằng nhằng ít nhất một hai tháng mới lại điều đi hoặc giở trò gì khác. Cậu nghĩ sao? An im lặng một lúc rồi đáp: - Tôi cho là có khả năng nó sẽ điều ta đi liên tục anh ạ... - Vì sao cậu lại nhận định như vậy? An cười: - Cũng vẫn là cái... linh cảm của con nhà phản gián ta thôi. Tôi cứ nghĩ như thế này: thằng Mỹ rất thực dụng, rất ít khi công thức, máy móc. Vậy không có nhiều khả năng nó lập lại cái quy luật phải sau hơn một tháng mới chuyển sang giai đoạn thử thách khác. Lúc đầu, chắc nó cũng còn lúng túng, chưa có kinh nghiệm trong các thủ đoạn thử thách và kiểm tra từ xa kiểu này. Nhưng nay có thể nó đã bình ổn hơn và trở nên linh hoạt hơn... Vậy có khả năng nó sẽ điều ta đi liên tục vì đó là thời gian ta mệt nhọc nhất, dễ sơ hở để nó tóm được những sơ xuất đáng tiếc. Ông Trường chăm chú nghe rồi thành thực thốt lên: - Có thể cậu có lý! Tớ sẽ suy nghĩ thêm. Đúng! Cậu có thể có lý! Nhưng thôi được, để tĩnh tâm thêm, mai ta sẽ bàn tiếp, rồi điện về xin ý kiến Bộ và Cục. Bây giờ hãy trở lại vấn đề cấp bách trước mắt là lương thực. Cậu nghĩ sao về chuyện này? An lại im lặng lúc lâu rồi nói: - Anh vừa bảo phải tìm dân là đúng quá. Có dân sẽ có tất cả, trước hết là gạo. Ta cần có gạo tại chỗ để còn chờ anh Vạn chuyên chở từ Thuận Châu về đây. Mới gùi có 15 ngày gạo ta đã muốn chết. Vậy quân anh Vạn tải hàng tạ, hàng tấn lên đây, đâu có ngon ăn... - Đúng! Nhưng nếu tìm được dân thì lấy tiền đâu mà mua gạo của họ? Dân miền núi quá nghèo, ta không thể xin không họ được, dù đồng bào sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cũng không! - Tôi cũng đã nghĩ tối chuyện này. Không có tiền nhưng tôi có cái này... An chìa bàn tay của mình ra. Một chiếc nhẫn nhỏ xíu chỉ đáng một đồng cân (một chỉ) hiện lên ở ngón áp út. Đó là chiếc nhẫn cưới của anh... Ông Trường có thể nhận ra ngay điều đó. Mắt ông thoáng rớm lệ, nhưng ông cố giấu bằng một câu - Hóa ra cậu cũng đại ngốc nhỉ! Đi công tác, tác chiến miền núi mãi rồi mà quên ư? Dân miền núi người ta chỉ ưa có vòng bạc, khuyên bạc thôi cậu ơi! Chỉ có dân Hà Nội nhà cậu mới thích vàng! An ngồi ngẩn. Quả thật anh không kịp nhớ ra điều này. Ông Trường quay lại phía sau, mở chiếc ba lô của ông... An chưa hiểu gì thì ông đã lôi ra một bộ quần áo kaki tuy đã qua sử dụng nhưng còn rất tốt: - An ạ, ta sẽ đổi thêm ít gạo. Đổi quần áo, chắc dân vui lòng. Họ thích quần áo này lắm, tớ biết mà. - Vậy... anh thay đổi bằng gì? - An cũng không khỏi xúc động kêu lên. - Cần chó gì! ở rừng thế này diện với ai? Trời còn đang đầu thu nóng bức, hàng ngày tớ chỉ cần may ô quần đùi đủ chán rồi! - Ôi, anh Trường, anh Trường!. - Quyết định xong rồi đấy nhá! Không bàn nữa! - Ông Trường khoát tay - Tôi phân công ngày mai cậu phải cùng một hai cậu nữa đi tìm bằng được dân ở quanh đây. Hiểu không? - Rõ! Anh em đã hớn hở vác tre nứa về. Cùng lúc đó Páo réo lên báo cáo: lại tới giờ tiếp tục nhận điện của Sài Gòn. ông Trường quay lại, nhíu lông mày. Câu hỏi “Liệu chúng nó lại điều đi ngay hay còn để ở lại ít lâu nữa?” lại cộm lên trong lòng ông... * * * Ông Thạc sấp ngửa trở lại với Ban. Lẽ ra sau ngày mùng 2 tháng 9 ông về luôn, nhưng vì có một vụ gián điệp biệt kích nữa mà tụi Mỹ mới ném tiếp ra. Nhóm này mang tên Lido, được ném xuống bên kia đường 41 và sông Đà. Nhưng cũng gần như toán Eclat ở Quảng Bình vừa qua, nhóm Lido xuống, quân dân ta đã có kinh nghiệm của Goblin nên tóm chúng rất gọn. Địa phương cũng đã khống chế tụi này để “chơi trò nghiệp vụ”, nhằm “moi gan, móc ruột Mỹ - Diệm”. Nhưng cũng như Eclat, khả năng anh em địa phương chưa giỏi về điện đài, nên có thể tên điện báo viên địch đã bí mật báo động Mỹ biết là chúng đã bị khống chế. Một cán bộ công an tỉnh đã phát hiện tên điện báo viên địch đã đánh thêm mấy chữ L một cách vô lý vào cuối nhóm chữ thứ 5 của bức điện. Ông Thạc đã phải cấp tốc lên đó xem xét. Ông cũng rất phân vân: phải chăng cuộc chơi có thể đã bị hỏng?... Sau khi truyền đạt lại một số kinh nghiệm thực tế của chuyên án SL06, ông quay về Hà Nội thì được Bộ và Cục giữ lại chờ dự Hội nghị về công tác đấu tranh chống phản cách mạng ở miền núi dự định sẽ mở vào cuối tháng 10 này, mà trong đó nội dung chống gián điệp biệt kích được nhấn rất mạnh. Như vậy có nghĩa là Bộ muốn Ban chuyên án SL06 có mặt càng tốt. Nhưng ông Thạc viện cớ đã báo cáo hết sức đầy đủ mọi mặt với Bộ và Cục rồi, nên kiên quyết xin phép về kẻo anh em mong ngóng. Sau khi cân nhắc, Bộ và Cục đồng ý. Ông Thạc ra đi lần này rất vui. Vui vì chẳng cần đợi đến Hội nghị tháng 10, mà được biết như trong Hội nghị phản gián lần I của Bộ (từ 15 đến 28 tháng 8 vừa rồi), ông Quốc và ông Công Năng đã nhắc nhiều tới vụ Goblin. Chuyên án SL06 đã được Hội nghị rất chú ý. Đó là việc công. Còn việc riêng của ông cũng xem ra có nhiều triển vọng: Một nhà máy lớn của Hà Nội cho biết có thể nhận vợ ông về Ban chấp hành công đoàn. Còn Bộ thì hứa khi vợ được lên đây làm việc, sẽ thu xếp cho một chỗ ở. Ôi! Đó là một giấc mơ lớn đang trở thành hiện thực... Từ trên Bộ, ông Thạc cũng được biết: anh em trên Sơn La đã bị địch điều đi tới 3 lần, mỗi địa điểm cách xa nhau hàng hai, ba ngày đường cực kỳ gian khổ. Cứ như thế, địch đã biến anh em ta thành một thứ đèn cù. Ba tháng, ba lần di chuyển và làm lán, làm lều, đào hầm, lập kho, phát đường mở lối tiến lui... phải làm gần y như thật! Ông Thạc chưa “hân hạnh được nếm mùi”, nhưng với kinh nghiệm chiến tranh đã từng trải, ông hiểu: sức người có bền như thép mới chịu đựng nổi. Bây giờ ông Thạc lên, theo anh em trên đó báo về cho biết, là địa điểm thứ năm. Anh em mới đến được có một tuần. Ông Thạc từ bờ sông Đà, dưới hạ lưu, cách trạm “Khảo sát” cũ hơn 10 cây số, theo chỉ dẫn của Bộ, rẽ vào rừng, leo đèo, lội suối và phải ngủ trên một ngọn đèo mất một đêm. Gần trưa hôm sau ông mới tới được địa điểm mới của Ban. Chân đã rủn, hai mắt đã gần mờ đi vì quá mệt, nhưng vừa nom thấy anh em, ông đã trào nước mắt. Không thể tưởng tượng được anh em lại gian khổ đến thế. Người nào cũng gầy rộc, mặt mày võ vàng, hốc mắt sâu hoáy, nụ cười héo hắt. Áo quần thì nhàu nát và rách vá hết. Riêng ông Trường đang phải lên trạm xá huyện vì kiết lỵ quá ghê gớm: một ngày đi tới mấy chục lần. Vất vả quá đã đành, còn vì ăn uống quá kham khổ, nhất là thiếu rau xanh triền miên. Ông ngất xỉu, tưởng đã “đi” rồi. Anh em phải khiêng ông về trạm xá huyện cách đây hai ngày đường để tiếp tục điều trị. Chỉ còn có An ở nhà chịu trách nhiệm mọi việc. ... Một lần nữa, ông Thạc lại ngồi lặng đi. Quá thương anh em! Lát sau tĩnh tâm lại, nhìn bao quát xung quanh, ông thấy lán trại cũng khá gọn ghẽ, nhất là việc canh gác, trực ban vẫn rất nghiêm túc, chặt chẽ. Anh em quả là đã hết mình vì nhiệm vụ. Họ hoàn toàn xứng đáng được tôn vinh. Đúng là “Trải đường dài mới biết ngựa hay. Qua gian lao, nguy hiểm mới phân biệt được vàng thau, thật giả” Vừa ngồi chưa nóng chỗ, ông đã thấy An hộc tốc chạy lại, vẻ rất bức xúc: - Báo cáo anh lại có điện mới của bọn “Trung tâm”. Ông vội đỡ lấy, đọc ngay: “Di chuyển ngay - Trung tâm xem xét lại thấy nơi này chưa thật an toàn - Hãy cố gắng chấp hành chỉ thị cho tốt - Tất cả vì Tổ quốc, anh em cố gắng hơn nữa - Hãy đến ngay tọa độ VVV và lập căn cứ mới”. Ông trố mắt: - Thế nào? Lại di chuyển ư? - Vâng, báo cáo anh, ta lại phải đi thôi! - Đây là lần thứ... - Vâng, lần thứ tư nó bắt phải thế! Gió bỗng nổi lên ào ào. Lá khô thi nhau trút xuống như mưa vàng đầy rừng. Đã tàn thu rồi sao? Anh em sẽ còn phải vật lộn với núi rừng này cho tới tận bao giờ?... Ông Thạc không thể giấu một tiếng thở dài.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 10:39:49 pm gửi bởi bodoibienphong »
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #52 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 10:42:23 pm » |
|
12 Vẫn tiếp tục bị điều đi. Khi lên, khi xuống, mỗi địa điểm cách xa nhau hàng ba bốn chục cây số đường rừng hiểm trở, đèo cao, suối sâu vô cùng vất vả. Vẫn chỉ những bức điện với câu sáo mòn rỗng tuếch: “Anh em hãy cố gắng hơn nữa... Anh em hãy tin tưởng ở Trung tâm - Hãy hết lòng vì Tổ quốc”. Lòng kiên nhẫn có lẽ sắp tới giới hạn cuối cùng rồi chăng? Tết Tân Sửu gần tới rồi. An được ông Thạc, ông Trường cho về Hà Nội lĩnh thêm tem phiếu và lấy thêm quần áo rét cho anh em. Anh về Cục trước khi về nhà. Vốn người nhạy cảm, lần này về An bỗng như “ngửi” thấy một không khí khác lạ mà lần về trước anh đã hơi cảm nhận được. Ấy là vẻ lạnh nhạt, nhẹ hơn là thờ ơ của không ít cán bộ và nhân viên trong Cục và cả trong Bộ. Trước đây về lĩnh quần áo, tem phiếu anh còn được những câu thăm hỏi khá nồng nhiệt, ân cần: “Khỏe cả chứ? Làm ăn vẫn tốt đấy chứ?” Hoặc: “A, phải ưu tiên cho cánh này! Chiến sỹ tiền tuyến đấy!”... Tất nhiên theo nguyên tắc bí mật, thật ra họ không được biết cụ thể bọn anh đang làm gì, ở đâu mà chỉ mang máng là đi xa, đánh địch, và vất vả lắm. Lần này trở về không thấy còn những ánh mắt thân mật, những nụ cười hân hoan và những lời chúc tốt đẹp như thế nữa. Có lẽ chỉ có cô trung úy nhỏ nhắn, xinh xắn người của văn phòng là vẫn dành cho anh sự niềm nở. Cô lại gặp anh ở hành lang văn phòng. Nhưng lần này cô kéo anh sát lại gần, nói nhỏ như thì thầm: - Này, anh biết không, nhiều người trong đó có cả một vài vị có trách nhiệm, nay có vẻ như... chán các anh rồi thì phải. Nói một cách cụ thể hơn: họ đang nghi ngờ hiệu quả công việc của các anh. An gặng lại: - Ví dụ? Cô gái nhìn trước nhìn sau, rồi ghé sát tai An: - Em có nghe một vị nói cụ thể thế này: Công toi mất! Lão Trường, lão Thạc và cả thằng An khéo bị tụi Mỹ nó xiếc, mà cứ tưởng mình đang xiếc chúng nó! 11 giờ. An nhảy lên xe, cắm đầu đạp về bãi Phúc Xá. Thùy đang chờ anh ở nhà với một mâm cơm thịnh soạn ít thấy: có thịt gà. Chà! Quà Tết! An cố reo lên để làm cho Thùy vui lòng. Cu Toàn cũng được mẹ đón cho dự bữa cơm đặc biệt để mừng bố về. Nó vui như sáo. Nhưng khi An bưng bát cơm lên, Thùy khẽ hỏi: - Anh, có chuyện gì thì phải...? An vờ ngơ ngác: - Sao em lại hỏi vậy? Thùy gắp miếng thịt bỏ vào bát cho chồng: - Em thấy... anh có vẻ buồn lắm! An giật mình. Trời ơi, một nhân viên phản gián lại để lộ ra mặt những nỗi vui buồn, lo nghĩ của mình như thế này thì... giải nghệ đi cho rồi! Anh vội vàng cười to để khỏa lấp: - Ôi, em quả là tinh ý! Có gì đâu, thấy mình được ăn bữa cơm ngon thế này nghĩ lại thương anh em ở trên đó... Bữa cơm trở lại vui vẻ. An luôn luôn pha trò làm cho hai mẹ con cu Toàn cười như nắc nẻ. Bỗng có tiếng xe ô tô gầm lên và như tới gần nhà. An đặt bát cơm xuống, nhìn ra: Quả nhiên một chiếc com măng ca tung bụi mù lao tới, đầy vẻ hối hả và phanh kít lại, đỗ ngay trước cửa nhà An. Cả hai vợ chồng cùng ngạc nhiên, vội đứng dậy. Từ xưa tới nay chưa bao giờ có vị cán bộ cao cấp nào đi xe con tới nhà như thế này. Một anh thiếu tá, người của Văn phòng Bộ từ trên xe nhảy phóc xuống, chạy thẳng vào nhà: - Chào anh chị! Anh An ơi, Cục mời anh lên họp có việc gấp. An chưa hiểu chuyện gì: - Vậy hả? Nhưng ăn xong miếng cơm đã chứ?... Anh thiếu tá nói: - Các anh ấy bảo anh lên ngay, sớm phút nào hay phút ấy. An càng ngạc nhiên, không hiểu chuyện gì mà khẩn cấp đến như vậy. Nhưng đã nói thế thì phải đi ngay rồi! An vội mặc áo, tay này còn cài khuy, tay kia đã cầm chén nước uống tạm một ngụm tráng miệng. Rồi cố tươi cười, nói vui với vợ: - Vậy hai mẹ con ở nhà nhé! Anh phải đi đây! “Quân lệnh như sơn” mà! Công an hay bộ đội đều phải thế tất! Thùy chỉ còn biết đứng như trời trồng. Mắt chị thoáng như rớm lệ nhìn xuống mâm cơm còn bỏ dở. Cu Toàn ngây thơ không biết gì, thấy ô tô là thích, cứ nhảy lên đòi bố cho đi theo... Ngồi trên xe rồi, An mới thử hỏi anh thiếu tá văn phòng. Đã quá quen biết nhau từ lâu, anh cũng chẳng ngại ngần gì: - Việc gì mà gấp thế ông? - Nào tôi có biết. Chỉ thấy các “cụ” không nghỉ trưa, nhào vào làm việc hết: Chiếc xe như lồng lên, chạy rất nhanh. Chỉ lát sau đã tới Bộ. Anh thiếu tá đưa An đi thẳng tới phòng họp và giao ban của Bộ trưởng với cán bộ cấp Cục, nơi mà nửa năm về trước An từ Quảng Ninh về đã được đặc cách mời tới để trực tiếp báo cáo vụ tên Xuyên - Argus. Tới cửa phòng, anh thiếu tá hết nhiệm vụ lui ra. Một mình An rụt rè bước vào. Anh thấy không phải chỉ có Cục trưởng Công Năng mà có cả Bộ trưởng Quốc ngồi sẵn đấy rồi. Ngoài ra còn có cả ông “văn” chánh văn phòng Bộ cùng mấy thư ký của Bộ trưởng. Thì ra tất cả đang chờ có một mình An... Anh toan bước vội tới một góc bàn phía xa. Ông Quốc giơ tay chỉ ngay chiếc ghế chưa có ai ngồi ở ngay trước mặt ông: - Mời ngồi! Ngồi đây! Ngồi đây! An lúng túng, chưa dám. Ông Quốc mỉm cười: - Bàn việc của các anh, anh phải ngồi đây, còn định “chạy” đi đâu? Rồi ông lật tay áo xem đồng hồ: - Bây giờ là 12 giờ 20 phút. Ta làm việc luôn hả? Phải tính từng phút chứ không từng giờ được nữa. Nào, đồng chí Năng!
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #53 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 10:46:04 pm » |
|
Ông Năng, con người vốn rất kiệm lời, hết sức chặt chẽ trong công việc, xin phép Bộ trưởng thông báo tóm tắt lại cho mọi người cùng biết: hồi 11 giờ 30 Cục nhận được điện khẩn của Ban chuyên án SL06 đánh về: Địch mới điện ra hồi 11 giờ, báo rằng 22 giờ 30 tối nay chúng sẽ có máy bay ra. Phải đốt lửa làm hiệu và toán trưởng Cầm Diêu phải trực tiếp tường trình tình hình toán bằng phoni với phái viên của Trung tâm ngồi trên máy bay. Đó! Chỉ vắn tắt thế thôi, nhưng rõ ràng là một bức điện chưa từng có! Bộ đã có nhận định sơ bộ như sau: địch bắt đầu chuyển sang một giai đoạn (hoặc thời kỳ) kiểm tra mới, cao hơn, gắt gao hơn. Tuy nhiên sự việc này cũng không phải hoàn toàn là xấu, vì nó hé lộ ra: địch có thể đã tin ở toán Goblin này hơn. Thật vậy, có thể nó thử thách cao hơn. Nếu hết tin nó đã bỏ, hoặc cứ kéo dài việc điều đi điều lại. Vì vậy, Bộ trưởng đã cho ý kiến là đồng ý cho Cục đưa tên Cầm Diêu lên ngay tối nay để “tiếp chuyện” bọn Trung tâm. Nhưng Bộ cũng chỉ thị: để thực hiện việc này phải có hai điều kiện cốt yếu: trước hết phải xem xét lại và chuẩn bị tư tưởng cho tên Diêu thật tốt, dự kiến cho nó mọi tình huống khi bị địch kiểm tra để khỏi lúng túng, sơ hở. Làm được thế, mới cho đi. Hai là nếu quyết định cho đi thì không tài nào đi bằng xe hơi lên cho kịp. Phải dùng máy bay. Một là trực thăng hai là máy bay thả dù. Muốn có máy bay, Bộ phải gấp rút báo cáo lên Ban Bí thư và liên hệ với bên quốc phòng mới được. Nay cũng theo chỉ thị Bộ trưởng, Cục mời An là người của chuyên án, cũng là người sát tình hình nhất, để tham khảo ý kiến, đồng thời trao cho anh nhiệm vụ kiểm tra lại và bồi dưỡng cho tên Diêu. An cũng có trách nhiệm trực tiếp đi cùng, để giám sát chặt chẽ mọi hành động và mọi lời nói của nó, đề phòng phản bội, phá hoại... An ngồi nghe vừa vui vừa lo, mồ hôi muốn toát ra. Cục trưởng báo cáo xong, ông Quốc hất hàm về phía An: - Nghe rõ chưa, chàng trinh sát? Chúng nó yêu cầu 22 giờ tối nay! Ý đồ của Bộ là chấp nhận cuộc chơi này. Nhưng quá gấp. Vậy vẫn còn muốn nêu lại câu hỏi: Liệu ta có thể chuẩn bị kịp mọi mặt để đưa tên Diêu đi không? Nếu tính lại không thể được thì phải nghi cách gì, trì hoãn thế nào với tụi Mỹ cho thật hợp lý. Cậu thử nói đi xem nào? An ngồi im tới mươi phút, rồi mạnh dạn cất tiếng: - Báo cáo Bộ trưởng và các anh, tôi rất vinh dự được cấp trên cho phép đóng góp ý kiến như thế này... Ông Quốc cười, xua xua tay: - Thôi thôi, bớt giáo đầu! Nói luôn! An hăng hái hơn: - Báo cáo, vậy tôi xin trình bày: có thể cho tên Diêu trực tiếp đối thoại với chúng được. Tôi đã hiểu hắn như hiểu tên Páo. Tất nhiên tôi sẽ phải tranh thủ dặn dò hắn mọi mặt như trên đã chỉ thị. Còn phương tiện, thưa đúng là phải máy bay, không có cách gì khác. Vậy tôi trân trọng đề nghị Bộ trưởng cứ xin bên quốc phòng giúp cho một trực thăng. Như vậy lúc lên, lúc xuống ta có thể kiểm soát tên Diêu được chặt chẽ. Ông Quốc gật đầu: - Cũng có lý! Thôi được, để tôi cân nhắc lại thêm một chút nữa. Bây giờ, tôi hỏi lại mọi người một lần cuối: ta có thể chấp nhận cho tên Diêu trực tiếp đối thoại với địch chứ? Mọi người cùng thanh “Nhất trí!”. Ông Quốc quay lại nói với ông Công Năng tiếp tục đi vào các việc cụ thể. Con người có tiếng là sắc sảo và nhanh nhẹn ấy đã có chuẩn bị rồi, không phải cân nhắc gì hết. Ông giao cho An: đi ngay sang trại giam Thanh Đồng gặp tên Diêu, tranh thủ thời gian, tập trung hết sức vào việc chuẩn bị tư tưởng cho nó. Việc thông báo lên cho các đồng chí Thạc và Trường trên Sơn La, ông đề nghị bên văn phòng điện càng nhanh càng tốt... Còn bản thân ông sẽ tháp tùng Bộ trưởng trực tiếp lên báo cáo với Ban Bí thư và trực tiếp sang liên hệ bên quốc phòng xin máy bay...
Cuộc hội ý chớp nhoáng chỉ có 30 phút. Sau đó ai vào việc nấy. Giờ xuất phát quy định: đúng 16 giờ, nếu không có gì trục trặc xảy ra về máy bay hoặc về tên Diêu. Theo lệnh ông Quốc, mọi người cùng lấy lại đồng hồ cho thống nhất: Bây giờ là đúng 12 giờ 38 phút. An như bay ra khỏi phòng họp, suýt nữa xô phải cô trung úy trẻ của văn phòng đang ôm một cặp tài liệu dầy cộp đi qua hành lang. An vội xin lỗi. Vẫn là cô trung úy nhỏ nhắn xinh xắn. Cô lại ghé tai An tiếp tục thì thào mách: - Này, buổi sáng em chưa nói hết: “ở nhà” thậm chí đã có ông kiến nghị nên kết thúc cái SL-06 vô bổ này đi cho rồi... An chỉ còn biết mỉm cười cám ơn cô, rồi cắm đầu chạy thẳng xuống sân xi măng. Chiếc xe con ban nãy vẫn còn chờ đấy để đưa anh sang trại giam Thanh Đồng... Tất cả mọi việc đều đã suôn sẻ. Khó khăn nhất là máy bay thì Bộ Tổng tham mưu đã đồng ý giúp cho một chuyến trực thăng. Cũng rất may là ở sân bay Gia Lâm đang có đợt huấn luyện bay của loại này, nên bên quân đội có thể giải quyết hết sức mau lẹ: máy bay đã có sẵn, lại luôn luôn nạp đủ cơ số nhiên liệu, không phải chờ đợi đi lấy ở đâu xa. Đúng 16 giờ, chiếc trực thăng cất mình lên, theo hướng Sơn La bay thẳng một mạch. Nó cố tình bay thấp cho mọi người dưới mặt đất nom rõ hình cờ đỏ sao vàng in rất to dưới bụng, mặc dầu tất cả các đơn vị phòng không, tất cả các đơn vị quân đội, các đơn vị dân quân tự vệ... trên suốt hành lang bay của “chú chuồn chuồn” này đã được lệnh tuyệt đối không được nổ súng. Lần đầu tiên được ngồi trên trực thăng của “Cộng sản”, lại bay giữa buổi chiều còn sáng sủa như thế này, Cầm Diêu không giấu được vẻ thích thú và hân hạnh. Y vẫn mặc bộ quần áo nâu. Bộ đồ biệt kích bỏ trong một túi vải để bên cạnh, chỉ đến khi vào việc, có lệnh mới được mặc lại. Hôm nay lần đầu y mới nhìn rõ được các thành phố và nhất là các cánh đồng phì nhiêu của đồng bằng Bắc Bộ mà y chỉ biết chút ít khi chưa chạy vào Nam. Nay như khác hẳn. Các thửa ruộng được chăm sóc đẹp vô cùng. Mảng xanh xen lẫn mảng vàng, mảng nâu... Kênh mương ngang dọc như bàn cờ. Ruộng được quy vào từng vùng từng thửa đâu ra đấy như gấm thêu, như lụa dệt... Nó thấy khác xa đồng ruộng trong kia. Ở trong đó có thể rộng lớn hơn nhiều, nhưng xem ra không có sự tổ chức, quy hoạch khoa học và tỉ mỉ, chu đáo vào hợp lý như thế này... Vậy mà có những tên vượt tuyến chạy vào gần đây cứ rêu rao là ngoài Bắc ruộng đồng bị bắt vào hợp tác xã, dân chúng chán nản bỏ hết, nay hoang hóa như rừng... Nguyễn Nguyên An ngồi bên y, anh im lặng tiếp tục suy nghĩ về tất cả những gì có thể xảy ra đêm nay. Thằng Mỹ sẽ vặn vẹo những gì? Sẽ lừa bẫy ra sao? Liệu thằng Diêu có đối đáp được trôi chảy? Đều có hai khả năng: tốt, xấu và tỉ lệ ngang nhau... Vậy An còn phải nhắc nhở, lưu ý nó những gì nữa đây? Bây giờ nếu không tranh thủ nói thêm ngay trên máy bay này, xuống đất chỉ còn có độ hai ba giờ đồng hồ, lại đông cán bộ chỉ huy, lãnh đạo, sẽ rất rối, không thể nào “nhét” gì thêm cho nó được! Nghĩ vậy, An cất tiếng: - Thế nào, chuẩn bị đầy đủ cả rồi chứ? Cầm Diêu thôi không ngắm nhìn các cánh đồng, các dòng sông, quay lại như trở về với thực tại: - Thưa cán bộ, tôi đã sẵn sàng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #54 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 10:49:28 pm » |
|
- Chắc nó sẽ hỏi đủ thứ, nhưng hẳn là sẽ hỏi nhiều về toán Goblin hiện nay với quân số, sức khỏe, vũ khí, trang bị... - Vâng, chắc thế. - Rồi có thể nó sẽ hỏi tới tình hình địa bàn, với các hoạt động quân sự, chính trị trong vùng... qua đó nó có thể hỏi cả tin tức về những nhân vật cũ của Pháp khi trước... - Vâng, tôi cũng nghĩ như vậy ạ... - Và tôi tin là nó sẽ kiểm tra lại chính anh về đủ thứ ám, tín hiệu... - Vâng đúng thế. Thưa cán bộ, hồi tập bên Philippin tụi nó thường kiểm tra rất kỹ toán trưởng... - Vậy anh vẫn nhớ đầy đủ các ám, tín hiệu đấy chứ?
- Thưa, nhớ ạ. Tất cả những cái đó tôi đã khai hết với các cán bộ. Nhưng, thưa cán bộ hôm nay tôi mới nhớ ra là: nếu tụi nó hỏi tới tên vợ tên con, tên chỉ huy cũ, chỉ huy mới, thì đã có một quy ước là phải trả lời ngược lại tất cả... - Hả? - An hết sức ngạc nhiên - Ngược lại tất cả? Tên Diêu gật đầu: - Vâng, thưa cán bộ, ví dụ nó hỏi tên vợ tôi, thì tôi phải đáp là: Nhạn Thị Lò. Nếu đáp là: Lò Thị Nhạn thì đó là tôi đã mật báo cho nó biết tôi đang bị khống chế! - Chà! Lại thế nữa cơ đấy! Ừ, hôm nay anh nhớ ra được chuyện này quả là quan trọng. Còn gì nữa không? - Thưa cán bộ, tôi chỉ còn lo một cái... - Lo cái gì?
- Thưa, lo nó kiểm tra súng, mà súng tụi tôi đã nộp hết rồi. Vậy khi nó bảo giơ súng lên cho nó coi. Vậy thì làm sao đây, thưa cán bộ? An nhíu mày lại, rồi hỏi lại: - Nhưng ban đêm nó trông thấy thế nào được mà hỏi? - Thưa không! Nó có kính hồng ngoại tuyến nhìn được trong đêm, lại có máy khuếch đại ánh sáng nữa, thì có thể nom khá rõ tôi. Nếu giơ khẩu súng lên, nó cũng có thể nom rõ được nếu không trăm phần trăm thì ít ra cũng năm mươi... - Thôi được, việc này, tôi sẽ xin ý kiến cán bộ Thạc và cán bộ Trường. Nhưng riêng tôi nghĩ: có lẽ xuống là phải đẽo ngay cho anh một khẩu súng sáu dởm cũng nên. Cả hai cùng bật cười vui vẻ. - Còn gì nữa không? - An hỏi tiếp.
- Thưa cán bộ, tôi nghĩ rằng có thể nó đòi phải đưa ra thêm một số tên nữa để nó kiểm tra... - Không! Cái này thì tôi có thể trả lời anh dứt khoát là không! Nếu nó đòi, anh hãy nổi cáu lên, phản đối lại nó: điện gọi toán trưởng ra tiếp chuyện, chứ không thấy gọi mấy đứa kia! Chúng đang ở căn cứ cả. Nếu muốn, Trung tâm phải có lệnh hẳn hoi, thì toán mới chấp hành được. Anh nên nhớ: bay ra đây, tôi cho rằng giỏi lắm là một tên đại tá ngụy nào đó thôi; Mỹ, cho kẹo cũng chưa dám ra. Vụ C47 chúng tôi còn đang làm ầm khắp thế giới về việc Mỹ ngang nhiên vi phạm Hiệp định Geneve, vi phạm luật quốc tế, đưa người ra Bắc phá hoại. Chúng nó ngang ngược nổi tiếng toàn cầu mà cũng đang phải chối đây đẩy. Vậy ra đây hôm nay chỉ là ngụy, tôi dám chắc như thế. Mà có khi ngụy còn dưới cơ cả Ngô Thứ Lân - trưởng phòng P54 nữa... Cầm Diêu rất tâm đắc: - Cán bộ phân tích hay quá! - Vậy, đối đáp với những tên phái viên ấy, anh cứ đàng hoàng.
- Rõ! Cán bộ nói như cởi được cho tôi bao nhiêu là băn khoăn... Sau hơn một giờ bay, chiếc trực thăng đã nom thấy hai dải vải trắng khá lớn đặt chéo nhau giữa một bãi cỏ tranh khá bằng phẳng. Lượn một vòng rất đẹp, “con chuồn chuồn” ấy từ từ hạ độ cao rồi đỗ xuống đúng giữa hai dải vải trắng. Cánh quạt còn đang đà quay tròn thổi rạp các ngọn tranh xuống như có gió bão, thì từ trong khu rừng rậm kế bên năm sáu người đã chạy ùa ra, vừa cười vừa vẫy rối rít. An nhận ra ngay người dẫn đầu là ông Trường. Mọi người trên máy bay cùng nhảy xuống. An ôm chầm lấy ông Trường, ông đã trở về từ bệnh viện tỉnh vì cái bệnh kiết lỵ kinh khủng. Hôm nay nom ông vẫn quá gầy. Hai gò má ông nhô cao, đôi tai càng dảnh lên, vầng trán thì gồ ra. Chỉ có đôi mắt là vẫn tinh tường, sắc sảo, đầy sức sống. Và vẫn vui tính, ông ghé tai An thì thào: - Thế nào, về ngủ với “con Thùy” chỉ được có một đêm, rồi lại phải cút ngay thế này à? An cười, không đáp vào chuyện ấy mà ân cần hỏi lại: - Vậy cái kiết lỵ của anh đã dứt hoàn toàn chưa?
Ông Trường khẽ nhún vai: - Trước mắt thì coi như khỏi. Nhưng bệnh viện nó cũng nói thật: đường ruột của tớ coi như đi tong rồi. Mà đúng như vậy, bây giờ ăn cái gì tanh, lạnh, hoặc rau cỏ vớ vẩn là lại ôm bụng bằng chết... An ngắm nhìn ông. Một tình cảm gì vừa như xót xa vừa như yêu kính xen lẫn tràn ngập tâm hồn anh... Cả hai nhóm người cùng nhập vào nhau, quay trở vào rừng. Đi bộ, leo đèo, vượt suối tới gần một giờ sau mới tới các lán trại của Ban chuyên án. Ông Thạc hết sức phấn khởi vì mọi việc đều rất ăn khớp, và mau lẹ. Tên Páo cũng mừng reo lên khi gặp lại Cầm Diêu. Thật vậy, từ đêm nhảy xuống đây, đã hơn 5 tháng trời nay hai đứa mới lại được trông thấy mặt nhau. Vừa qua cùng ở Thanh Đồng, nhưng mỗi đứa phải giam riêng một nơi. “Trung úy” - tên Páo reo lên. An cười, nhẹ nhàng nhắc nó: “Bây giờ Cầm Diêu không còn là trung úy ngụy nữa. Bây giờ cũng như Páo thôi, cũng đang quyết tâm lập công chuộc tội”. Tên Páo e thẹn: - Em xin lỗi cán bộ, em vẫn còn dốt quá!
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #55 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 10:52:05 pm » |
|
Trời bắt đầu đổ tối. Ông Thạc gọi ông Trường và An tới hội ý, chủ yếu để nghe An báo cáo lại tất cả những gì mà Cục và Bộ căn dặn, đồng thời cũng nghe An báo cáo về tình hình tư tưởng và thái độ của Cầm Diêu cho tới giây phút này... Khi An trình bày xong, ông Thạc cũng cho anh biết trên này đã được đồng chí Trần Tâm, Giám đốc Công an khu và Công an tỉnh giúp đỡ chuẩn bị xong mọi mặt cần thiết: Công an khu đã cấp tốc cho một đại đội Công an vũ trang về bảo vệ, đề phòng địch phá hoại. Tỉnh thì cho quân canh gác vòng ngoài, và đi lấy củi, xếp thành ba đống lớn theo hình tam giác cân giữa một bãi tranh cách đây khoảng 4 cây số đường rừng theo hướng tây tây bắc. Còn về phía Bạn, các máy móc, điện đài cũng đã sẵn sàng, có thể liên lạc tốt với máy bay đã đành, còn để cho các cán bộ chỉ huy ngồi ẩn trong bìa rừng có thể nghe và kiểm soát được toàn bộ cuộc đối thoại giữa bọn địch trên máy bay và Cầm Diêu dưới đất... - Bây giờ, các anh ạ - ông Thạc nói - Ta phải bàn thêm để dự kiến những tình huống xấu sẽ có thể xảy, và cách đối phó của ta. Ông Trường gật đầu:
- Đồng ý với anh Thạc. Tôi xin có ý kiến thế này: Chuyện nó bất ngờ đổ quân xuống tin chắc là không có rồi. Mình đề phòng thì cứ đề phòng thôi. Tôi chỉ thấy khả năng có thể có là: tên Diêu đối đáp sơ hở, không có lợi cho ta. Tất nhiên chuyện nó cố tình nói lộ ra, cũng vẫn cứ phải đặt ra để cảnh giác. Nhưng khả năng phản bội xem ra rất ít, thậm chí không thể xảy ra... Ông Thạc đồng ý với ông Trường. Nhưng hỏi lại: - Vậy những sơ xuất bất lợi thì ta phải xử trí, đồng ý rồi. Nhưng xử trí thế nào? Ông Trường chỉ luôn vào An: - Đây, tay “chuyên viên tù binh” này sẽ phải lo ứng phó trực tiếp tại chỗ chứ còn ai. - Như vậy anh An phải ra đứng cùng với nó sao?- Ông Thạc hỏi - Còn nếu ẩn giấu trong bìa rừng như anh và tôi thì cứ phải la hét om sòm lên à? Ông Trường còn đang nghĩ, An xin phép nói:
- Bằng mọi cách tôi phải ở gần tên Diêu mới xử lý kịp thời mọi việc, kể cả tình huống xấu nhất. Báo cáo hai anh, tôi sẽ hóa trang ngồi lẫn trong đống củi khô, ngay bên cạnh nó. - Hay! Ông Trường vỗ đùi đánh đét một cái - Nhưng nhỡ... trên tàu bay nó phát hiện được cậu thì sao? - Không dễ anh ạ! Dù có kính hồng ngoại, dù có máy khuếch đại ánh sáng, tôi tin là chúng vẫn không nhìn được thật rõ đâu. Máy móc gì cũng phải thua con người hết. Các anh cứ yên tâm. Ông Thạc nhìn An vô cùng âu yếm: - Yên tâm chứ sao lại không yên tâm! Vậy gắng sao cho khéo léo nhé! Thời khắc trôi đi khá mau. Ông Thạc cầm phoni gọi đại đội công an vũ trang của Khu, hỏi lần cuối về việc bố trí sẵn sàng chiến đấu. Từ xa, viên đại đội trưởng mạnh mẽ báo cáo: toàn đại đội đã tới vị trí, đã làm xong mọi hầm hố cần thiết chống bom cháy và cả bom nổ. Các phương án tác chiến đã được xác định lại xong xuôi, tốt đẹp. Tất cả sẵn sàng chỉ còn chờ lệnh của Trưởng ban chuyên án.
22 giờ. Cả ba đống lửa làm hiệu báo cho máy bay bắt đầu được đốt lên. Máy picơn cũng bắt đầu mở để sẵn sàng hướng dẫn máy bay tới đúng hướng. Ông Thạc, ông Trường cùng ba chiến sỹ bảo vệ rời khu lều lán của Ban từ 19 giờ 30, tới “cắm” sở chỉ huy dưới một gốc cây lớn trong rừng, chỉ cách bãi trống hơn 200 mét, lúc này có thể nhìn ra rất rõ cả ba đống lửa đang bốc cháy sáng lòa. Nom thấy cả một đống củi khô khá to ở sát ngay đó, nhưng tuyệt nhiên không thấy An đâu. Ông Trường khoái lắm, quay lại hỏi tên Diêu lúc ấy cũng đã được đưa tới chỗ hai ông: - Này, cậu có nhìn thấy anh An ở đâu không? Tên Diêu chăm chú nhìn quanh, ông Trường vỗ vào vai nó: - Anh An đang ở ngoài bãi trống kia kìa, cậu thử nhìn xem có thấy không. Tên Diêu lại căng mắt nhìn ra, rồi lắc đầu: - Thưa, không thấy cán bộ An đâu cả!
Ông Trường cười khà khà: - Có đấy! Chút nữa, cậu cứ bình tĩnh ra nói chuyện với tụi nó. Cán bộ An sẽ luôn luôn ở bên cạnh cậu đấy! Nói đoạn, ông lại cười, ngắm nhìn bộ đồ biệt kích mà tên Diêu đã được phép mặc lại gật gù. 22 giờ 20 đã nghe thấy tiếng máy bay và liên tiếp, các đài quan sát của Công an Khu, công an tỉnh báo về cho ông Thạc: “Chúng đang tới... Chúng sắp tới...”. Không khí tựa như đông cứng lại, không phải vì càng khuya gió rừng càng thêm lạnh, mà vì hồi hộp. “Lạy trời, đừng có lại bục, bục hai tiếng nổ, rồi tất cả rơi vào vực thẳm như vụ C47 hồi trước!” Ông Thạc vẫy tay một cái, giọng nghiêm như vào trận: - Cầm Diêu! Cho phép anh tiến ra! Hãy vững vàng! Có chúng tôi ở đây. Không sợ hãi gì hết!
- Tuân lệnh! - Tên Diêu đáp vang. Cũng rất quân sự, y đứng nghiêm lại, giơ bàn tay đặt chéo ở đuôi lông mày phải chào hai vị chỉ huy, đoạn chạy như bay ra bãi tranh phía ngoài. Bên hông y xệ một bao da đựng súng sáu. Đó là một bao súng có súng thật của ông Trường vừa cho mượn nhưng tất cả đạn đã bị tháo hết. Không cần phải đẽo súng gỗ như An đã nói đùa trên máy bay khi chiều... Tên Diêu chạy ra đứng giữa ba đống củi đang tiếp tục ngùn ngụt bốc cháy sáng rực. Mặt y đỏ lên. Bộ áo quần biệt kích nom càng quái đản. Quang cảnh y hệt như xinê đang dàn một “pha” trong một bộ phim hành động nào đó.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #56 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 10:54:15 pm » |
|
Một tay cầm máy bộ đàm phoni, tay kia y lăm lăm chiếc đèn pin tín hiệu... Tiếng máy bay đã gần như ở trên đỉnh đầu rồi. Vì trời đêm không nom rõ hình thù, chỉ thấy đèn nhấp nháy dưới bụng, nhưng nghe tiếng động cơ tên Diêu nhận ra ngay: một chiếc trực thăng. Y giơ cao chiếc đèn pin lên, quay tròn liền năm vòng: báo hiệu y có mặt ở chỗ này. Đoạn y ngồi xuống đặt chiếc máy điện đài hai chiều chếch theo hướng máy bay, và hét lên: - Sài Gòn! Sài Gòn! Đây Hồng Hoa, đây Hồng Hoa! Nghe rõ không, trả lời!. (Nếu y nói xuôi: đây Hoa Hồng gọi thì tức là tín hiệu mất an ninh, chiếc máy bay nọ sẽ chuồn luôn, hoặc có thể liệng bom nếu như có rồi bỏ chạy). Ngay lập tức, Cầm Diêu nghe thấy từ trong máy vang lên một thứ âm thanh lẹt xẹt: - Hoa Hồng! Hoa Hồng! Sài Gòn đây, tôi nghe anh rất rõ. Xin vui mừng chào anh cùng tất cả toán. - Sài Gòn! Sài Gòn! Hồng Hoa cũng thay mặt anh em gửi lời chúc mừng phái viên của Trung tâm tới úy lạo và chỉ thị... - Hoa Hồng! Hoa Hồng! Rất tốt. Tôi mang tới cho các anh lời ngợi khen nồng nhiệt của cố vấn, của Trung tâm và thượng cấp... Cầm Diêu đã nhận ra tiếng của tên đại úy Quýnh, viên lý trưởng nhà quê thời Pháp này thay thầy đổi chủ, làm sĩ quan tình báo, trợ lý cho Ngô Thứ Lân ở cái P54 đáng nguyền rủa ấy. - Hoa Hồng! Hoa Hồng! Anh vẫn nhớ tín hiệu an toàn của anh chứ?
À, bắt đầu cuộc kiểm tra cá nhân rồi đấy! Cầm Diêu nhếch miệng cười gằn, rồi đáp rất rành rẽ từng lời: - Sài Gòn! Sài Gòn! Hồng Hoa vẫn nhớ chứ! G44400 1 A. - Tốt lắm! Hoa Hồng! Hoa Hồng! Đã xa nhà khá lâu, vậy anh còn nhớ tên vợ anh không? - Sài Gòn nghe đây: Làm sao mà không nhớ: Nhạn Thị Lò! - Tốt lắm. Vậy còn tên các con anh? “Thằng chó, bố láo! Nó thừa biết mình đã có con với Nhạn đâu, nhưng bẫy nhau thế nào được?” - Sài Gòn nghe đây: Có hai mươi con, vừa trai vừa gái, chưa đặt tên. Phái viên biết quá rồi còn phải hỏi! Cầm Diêu nghe tiếng thằng Quýnh, bật cười ha ha.
- Hoa Hồng! Hoa Hồng! Anh vẫn còn khẩu súng sáu lãnh hôm ra đi chứ? - Nó còn đây! - Vừa làm vẻ kiêu hãnh đáp, Cầm Diêu vừa rút khẩu súng ra, huơ lên rất nhanh rồi cũng bỏ vào bao da rất nhanh, không cho thằng trên máy bay kịp nhận ra kiểu súng gì. Nhưng thật bất ngờ, từ trên máy bay lại hỏi: - Hoa Hồng! Hoa Hồng! Nhưng số súng của anh là bao nhiêu? An đang ngồi thu mình trong đống củi khô chụm ở gần bên tên Diêu, nghe qua máy thu của mình gần như hoảng lên. Chết cha! Thằng Diêu mà quên thì có lẽ hỏng to... Nhưng cũng không ngờ, tên Diêu đã như gắt lên: - Sài Gòn! Vặn vẹo chi quá trời! Đ. mẹ, súng của mình sao lại không nhớ: R. 21. 210.096. Có muốn hỏi cả nơi sản xuất không?: Browning Canada - sản xuất năm 1959. Trong đống củi khô, An thở phào và phải thầm khen thằng Diêu có trí nhớ quá tốt.
Chiếc trực thăng vẫn lượn tròn đều đều trên đầu. Lại có tiếng hỏi tiếp: - Hoa Hồng! Hoa Hồng! Lại muốn hỏi anh có nhớ mụ phù thủy ở Chợ Lớn vẫn tẩm quất cho khách giang hồ không? Một lần nữa, An lại phát hoảng. Chuyện số súng đã bất ngờ, đến chuyện quá vớ vẩn này thì nay bố ai biết mà dặn trước được tên Diêu. Nhưng cũng không ngờ y đã đáp hết sức trôi chảy, lại có ý giỡn cả ngài phái viên nữa: - Sài Gòn! Xin nghe đây! Té ra phái viên cũng đã từng trải qua hai bàn tay kinh khủng của mụ Síu Voòng ở 409 đường Khổng Tử. Đã lâu rồi, tôi cũng muốn về nhờ mụ bẻ xương cho đây! Tiếng cười ha ha lại cất lên trong máy: - Hoa Hồng! Vui quá! Thôi, bây giờ anh cho biết về tình hình toán của anh.
- Sài Gòn nghe tôi tường trình đây: Ngay từ tháng 6 khi còn được liên lạc hai chiều, chúng tôi đã thường xuyên điện vô tường trình đầy đủ với Trung tâm. Khi đó đã báo là một tên chết ngay tại chỗ vì dù không mở. Nó là G6. Toán phó G2 thì bị sốt rét triền miên. Nay hoạt động được chỉ còn 4, là tôi Gl, và tên G3 chuyên về điện đài. Tên này sức khoẻ khá nhất không ốm đau gì đáng kể, nhưng vì thiếu ăn, suy dinh dưỡng nên khá gầy yếu. Còn hai tên kia G4 và G5 là nhân viên phá hoại, tình báo cũng yếu đuối, suy nhược vì quá kham khổ. - Còn 8 tên mới tuyển mộ? - Chèng đéc ơi! Từ khi Trung tâm cắt liên lạc hai chiều, thiếu thốn trăm bề, lại còn di chuyển liên tục vô cùng cực khổ, làm sao mà đem chúng đi cùng? Việc giữ liên lạc chặt chẽ với chúng cũng còn khó, vì Trung tâm cứ điều đi như đèn cù còn thì giờ đâu và sức đâu mà liên lạc. Bao giờ có liên lạc hai chiều, có tiếp tế, mới có thể tiếp tục huấn luyện chúng được. - Hoa Hồng! Chuyện đó hãy tạm biết thế. Hỏi tiếp: tình hình quân sự chính trị trong vùng hiện nay ra sao?
- Sài Gòn hãy nghe tôi tường trình: vẫn do bị điều đi như điên, vẫn do thiếu ăn thiếu thuốc muốn chết, nên còn đâu thì giờ và sức lực để tìm hiểu sâu mọi việc. Tuy nhiên cũng biết sơ qua: miền Bắc rất mạnh, không như người Mỹ và chúng ta tưởng. Quân đội Cộng sản rất thiện chiến đã đành, còn có một tinh thần tựa như bên Thiên chúa giáo gọi là “tử vì đạo”. Họ phối trí lực lượng rất khoa học: Khắp nơi hiểm yếu đều có đơn vị mạnh trấn giữ, lại còn có địa phương quân, dân vệ phối hợp... - Thôi được, có muốn đề nghị gì với Trung tâm không? Tên Diêu nói, giọng trở nên cáu kỉnh, thậm chí phẫn nộ: - Trình ông phái viên, đề nghị thì có nhiều, nhưng trước hết chỉ mong Trung tâm: hãy thực sự tin và hãy tiếp tục gửi đồ tiếp tế cho tụi tôi! Gần sáu tháng qua Trung tâm đã bỏ rơi chúng tôi như đem con bỏ chợ, mặc cho sống, chết tự lo liệu. Xin nói thật: Nếu Trung tâm không còn tin tưởng, không tiếp tế cho nữa, tụi tôi không đầu hàng Cộng sản đâu, nhưng sẽ tìm đường qua Lào, về Nam. Sau đó ném trả quân tịch, trở về với vợ con, gia đình, thề sẽ không nhận bất cứ nhiệm vụ gì nữa. Chúng tôi đã cố gắng trung thành, kiên tâm đến mức này là tột đỉnh rồi...
Thêm một lần nữa, An lại phải thầm khen tên Diêu rất nhớ những gì anh đã gợi ý cho nó, không những thế nó còn “thể hiện tình cảm” một cách rất đạt. Quả nhiên tên trên máy bay như cuống quýt vỗ về ngay: - Hoa Hồng! Hoa Hồng! Chớ vội trách Trung tâm nhiều như vậy. Trung tâm cũng có rất nhiều cái kẹt của Trung tâm. Muốn mà không được. Vậy xin cứ bình tâm tiếp tục gan góc đợi chờ, rồi thế nào Trung tâm cũng tìm cách tiếp tế ra cho anh em để thực thi thắng lợi trách vụ vì Tổ quốc. - Sài Gòn! Sài Gòn! Vậy từ nay tụi tôi sẽ được tiếp tục liên lạc hai chiều chứ? - Hoa Hồng! Điều này có thể là như thế. Nhưng hãy chờ điện chính thức của Trung tâm. Điện gửi vô vẫn như cũ, cứ thế mà thi hành. - Sài Gòn! Tôi xin được nhấn mạnh: Nếu còn kéo dài tình trạng này quá một tháng nữa, chỉ một tháng nữa thôi, dứt khoát là chúng tôi sẽ bán hết mọi thứ rồi qua Lào để rồi trở vô Nam. Hết chịu đựng nổi rồi!
- Hoa Hồng! Hoa Hồng! Đã bảo cứ yên tâm. Hết sức mừng rỡ và tin tưởng ở anh em. Cuộc thăm hỏi đã hết và rất tốt đẹp. Bye bye! See you again! Thế là chiếc trực thăng bốc lên cao hơn và quay đầu bay khá nhanh rồi biến mất trong trời đêm mỗi lúc một thêm lộng gió.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #57 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 10:57:14 pm » |
|
13 Đã qua Tết hơn một tháng. Mùa xuân đang mở ra với những biến động mới khá dồn dập: Trước hết, “Trung tâm” địch đã cho Goblin được nối lại liên lạc hai chiều. Sự việc đó tuy chưa có gì đáng kể nhưng cũng đủ làm cho tất cả mọi người từ Ban tới Bộ khá hài lòng. Cuộc đấu trí qua “kênh” kiên trì mai phục cho thấy ta đã bước đầu thắng lợi. Tuy nhiên, vẫn chưa có sự tiếp tế nào về hàng hoặc người. Chúng mới chỉ một mực yêu cầu báo cáo tỉ mỉ lại tất cả mọi công việc và tình hình đã xảy ra của toán trên 8 tháng qua... Cũng rất may, ông Thạc và ông Trường đã hết sức cẩn thận, chu đáo bắt anh em phải ghi chép nhật ký đều đặn, bây giờ chỉ cần điều chỉnh ít nhiều cho thật phù hợp với tình hình mới... Bọn “Trung tâm” hàng ngày vẫn nhận báo cáo, và điện ra. Lần nào chúng cũng khen đồng thời hứa như “đinh đóng cột”: “Anh em hãy yên tâm. Trung tâm sẽ gửi ra ngay mọi thứ theo yêu cầu của anh em “...Trong khi đó, tin từ Bộ báo xuống: đang còn giữa tháng giêng, một toán gián điệp biệt kích 4 tên mang bí danh Eurasio nhảy xuống một địa điểm thuộc tỉnh Hoà Bình. Ta đã tóm được cả. Qua tháng hai âm lịch, lại một toán nữa mang bí danh Attillion nhảy xuống vùng biên giới Nghệ An giáp Lào. Ta cũng đã tóm gọn... Hai vụ này đã làm cho Ban chuyên án SL-06 không khỏi thêm suốt ruột. Bộ đã kịp thời nhận định: Goblin vẫn được chúng coi là toán lớn và nòng cốt. Chúng hết sức thận trọng trong việc sử dụng lại. Nhưng đến khi sử dụng lại, có thể sẽ có những chuyện lớn hơn những toán nhỏ như hai toán Eurasio và Attillion vừa xảy ra. Có phương hướng rồi, ông Thạc mới có thể tạm yên tâm nhận nhiệm vụ với tư cách trưởng phòng của Cục I đi giới thiệu kinh nghiệm SL-06 và tham gia góp ý chỉ đạo vụ Eurasio, khoảng độ một, hai tuần. Ông Trường cũng vậy, theo chỉ định của trên, với tư cách phụ trách hệ Mỹ cũng “chạy” vào Nghệ An ít ngày để giúp anh em trong đó một tay trong vụ Attillion. An trực ở “nhà”. Tới đầu tháng 3 (1962) ông Trường mới trở lại. Riêng ông Thạc còn phải ghé qua Hà Nội dự hội nghị, đồng thời kết hợp giải quyết dứt điểm việc chuyển vợ con từ Hải Phòng lên. Trong khu lều lán bên sông Đà, chỉ có ông Trường và An cùng một nhóm nhân viên đã được rút rất gọn. Cuộc sống đều đều đã quá quen thuộc từ hơn nửa năm nay lại tái diễn một cách tẻ nhạt. Tuy nhiên cũng đã đến lượt An được đi. Khu Công an Tây Bắc mở Hội nghị triển khai công tác năm 1962, gửi giấy mời. Trong người hãy còn mệt, ông Trường cử An đi thay. Bản tính vốn rất ngại các cuộc họp, nhất là các hội nghị lớn dài ngày, nhưng lần này được dịp “xê dịch”, anh hoàn toàn vui vẻ nhận nhiệm vụ. Sau ba ngày ở Thuận Châu, dự hội nghị xong, An quay về. Lần này anh qua lối Quỳnh Nhai. Anh có ý định ghé thăm lại gia đình Cầm Diêu. Hồi đó bà mẹ và cô em Cầm Diêu về Hà Nội gặp hắn, vì công việc quá gấp rút, tinh thần còn căng thẳng, An chưa trò chuyện được nhiều với họ. Cũng chưa có điều kiện để đón bà và cô gái về Hà Nội chơi như đã hứa. Lần nay anh qua thăm họ như muốn ngỏ một lời cáo lỗi, mong được cảm phiền, đồng thời cũng muốn qua cuộc gặp này để ít nữa về Hà Nội gặp lại Cầm Diêu, với một ý nghĩa nào đó, cũng như mang lại được phần nào những tình cảm ấm áp của gia đình về cho hắn... Chiếc ba lô nhỏ khoác ngoài chiếc áo bông dày cộp, chiếc mũ “tai chó” ấn chặt trên đầu, hai ống quần luôn xắn cao, chân mang dép lốp, An đi băng băng trên các con đường mòn, xuyên qua những cánh rừng lớn. Xế chiều, anh tới một bản nhỏ đầy hoa ban trắng ở cách bờ sông Đà chỉ một thôi đường. Không trông thấy được dòng sông, nhưng cũng nghe rõ tiếng những con thác triền miên tấu lên bản đại hợp xướng hoang sơ, cổ kính và huyền bí. Không phải hỏi thăm ai, quanh co mấy lối nhỏ, An tới trước một căn nhà sàn ở giữa bản. Trên sàn phơi, bà Cầm Inh đang lúi húi thu nhặt những bắp ngô. Chợt nhìn xuống, bà reo lên mừng rỡ: - Úi! Cán bộ An! Lập tức từ trong nhà chạy xô ra sàn phơi hai thiếu nữ nữa. An nhận ra ngay một người là cô cháu gái đã ở cùng bà từ lâu, còn người kia là Cầm Sa. Ô, Cầm Sa? An cũng không khỏi ngạc nhiên và vui vẻ. Cứ tưởng rằng cô vẫn còn đang ở trên trường Cao đẳng Sư phạm của Khu. An bỏ dép dưới chân cầu thang, bước lên nhà. Vẫn căn nhà nhỏ nhưng khá ngăn nắp mà anh đã về cách đây bảy, tám tháng. Then, cô cháu gái rối rít chạy đi báo cho mấy ông chú, bà bác biết có cán bộ An “trên Bộ Văn hóa” ghé về chơi. Cầm Sa cùng mẹ ngồi trò chuyện với An. Không khí trong căn nhà thoắt trở nên ấm cúng. Bà mẹ cho biết cô gái đã tốt nghiệp Trường sư phạm, nay được về trường của bản, phụ trách lớp ba. Vẫn theo lời bà mẹ, gần như không hôm nào không có các phụ huynh học sinh đến chơi và khen cô giáo bản dạy hay, hát giỏi và rất thương yêu các em... Lần này về, thư thả, An đã có thì giờ để chú ý tới Cầm Sa hơn. Càng nhìn anh càng thấy đúng là cô khá giống anh trai với những đường nét cứng cỏi. Tuy nhiên gương mặt vẫn rất... nữ tính. Vì vậy cô có một vẻ đẹp hơi khác lạ, có thể nói là có cá tính. Lần này còn có điều khác trước nữa: anh như không còn thấy đâu cô gái, quá quyết liệt, quá ích kỷ như hồi vừa qua. An vẫn chưa quên cái cảm giác vừa khó chịu vừa ngạc nhiên của mình trước thái độ của cô hôm đó khi được yêu cầu về gặp Cầm Diêu. Khi đó, An đã phải thầm tự hỏi “Con người ta có thể chỉ vì sợ bị liên lụy mà trở nên hết nhân tính rồi sao?” Và anh hết sức buồn rầu: “Chúng ta đâu có muốn tạo nên những con người vững lập trường hoặc trong sạch kiểu như thế?...” Bữa nay, ngồi ngắm lại cô gái trẻ trung với nụ cười rất tươi, với cặp mắt nhỏ, dài, long lanh như luôn luôn có nắng kia, An đã phải thầm nghĩ lại: “Vậy điều gì đã đổi thay ở người con gái này?” Anh không biết. Tất nhiên, dịp tháng 7 ấy, cuối cùng trước thái độ của bà mẹ, cô cũng đã phải bằng lòng gặp anh trai để góp lời khuyên nhủ... Nhưng dẫu sao cho tới hôm nay dường như ở cô đã có những gì đó khác trước rất nhiều, nếu không muốn nói là hoàn toàn. Có lẽ chỉ có bà mẹ mới hiểu được chăng? Vui chuyện, nhất là vắng mặt đứa cháu còn mải đi lấy nước làm cơm, bà mẹ đã nói nhỏ cho anh biết: ở nhà hai mẹ con đã rất nhiều đêm thì thầm cùng nhau bàn tới cái ngày mà mẹ con bà biết là cũng còn khá xa xôi, ngày Cầm Diêu sẽ được trở về sau khi đã lãnh một hình thức án tội nào đó, cho dù đã được hết sức khoan dung. Bà cùng Cầm Sa đã tính tới việc trước tiên là cầu xin Cách mạng tiếp tục cứu giúp bằng cách nào đó đưa được Nhạn từ trong ấy ra đây cho vợ chồng nó được đoàn tụ. Sau đó tính đến chuyện làm ăn, xây lại cuộc đời. Theo bà biết ta đang chuẩn bị khởi công làm nhà máy thủy điện sông Đà... Như vậy theo bà: nó có thể xin vào làm công nhân xây dựng, hoặc làm thợ cơ khí... Còn ở mường ở bản cũng đang cần rất nhiều thanh niên có văn hóa, có sức, có tay nghề trong các việc như: làm mương phai, thủy lợi, lập các tổ máy xay xát, lập trại chăn nuôi gia súc, gia cầm theo kỹ thuật mới cho dân... Như vậy không có lo, công việc nhiều, nhiều lắm!... Ngồi lắng nghe những dự kiến, mà cũng là những giấc mơ vô cùng tươi đẹp của bà mẹ và cô em gái Cầm Diêu, An thấy mình cũng như lây lan một niềm vui, kể cả ít nhiều hy vọng nào đó, dù mới chỉ như khói bay, gió thoảng... Đưa Nhạn từ Nha Trang ra ư? Nghe như chuyện huyền thoại. Nhưng trong nghề, An biết ở dưới Quảng Ninh, ta cũng đã có tổ chức thắng lợi việc đưa ra bằng đường biển vợ con một tên gián điệp ra đầu thú và đang làm việc rất đắc lực cho ta. Vậy trường hợp của Cầm Diêu nếu có nghĩ tới, đâu phải là hoang tưởng! Tuy nhiên An hiểu: chuyện đời đâu có giản đơn... Hãy cứ nỗ lực đi đã, hỡi tất cả những con người lương thiện và có nhiều mơ ước ở trên đời này! Thật vậy, nỗ lực phi thường của bản thân đã đành, còn cần có cả... một chút mỉm cười của những cơ may nữa!... Nhưng dẫu sao, những niềm vui và hy vọng của mẹ con bà vẫn làm cho anh thực sự xúc động. Anh hiểu: nếu không lầm, bọn anh đã không phải làm cái “nghề”, cái công việc đặc biệt của mình chỉ với tất cả sự lạnh lùng, tỉnh táo và sắt đá, mà còn có cả những ngọn lửa có thể đem đến sự ấm áp cho mọi người. Thật vậy, làm bất cứ việc gì, thi hành bất cứ biện pháp gì, bao giờ bọn anh cũng chỉ muốn cuối cùng là làm sao cho con người được tốt hơn lên, và chỉ mong sao đem được tới cho họ những niềm vui và hy vọng hơn là sợ hãi... Bữa cơm chiều có khá đông bà con trong họ cùng tới dự. Ai ai cũng hết sức niềm nở khi có “Cán bộ văn hóa trên Trung ương” ghé qua thăm gia đình. Đủ mọi thứ chuyện vui bung ra khi rượu đã vào lời đã ra. Tuy nhiên tuyệt nhiên không một ai nhắc tới Cầm Diêu. Chắc chắn cho tới nay vẫn không một ai trong họ biết thêm một chút tin gì về hắn. Hai mẹ con bà Cầm Inh theo lời dặn của An vẫn giữ tuyệt mật chuyện tên Diêu bị ném ra Bắc và đang ở trong nhà giam cạnh Hà Nội. Mặt khác, An hiểu những con người lương thiện, chất phác này không hề đả động gì tới Cầm Diêu, vì họ có ý muốn bày tỏ một thái độ dứt khoát đối với tội lỗi, đồng thời muốn nói lên sự đồng tình, ủng hộ của mình với sự nghiệp chung của đất nước.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #58 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 10:59:43 pm » |
|
Bữa cơm khá thịnh soạn. Có thịt lợn thái mỏng trộn với lá chua xổm lổm, có chả băm, lòng lợn xào măng tươi, có canh cải, có cá xát răm, hành, lùi nướng trên than củi... Tất cả được bày trên các tầu lá chuối trải làm mâm, mỗi mâm có hai chai rượu. Riêng mâm thượng khách có thêm món gà luộc... An cũng biết “công trình” này do hai bàn tay rất dẻo, rất mau mắn của Cầm Sa là chủ yếu. Có lẽ cũng giống như nhiều cô gái khác, khi trong nhà có khách quý, gương mặt Cầm Sa bừng sáng lên trong những nét duyên dáng và một niềm vui ít thấy. Cô luôn luôn liếc nhìn An với cặp mắt đen dài ngập nắng. Cái nhìn như luôn luôn muốn hỏi: “Anh thấy em làm cơm có nhanh, có khéo không?” và cũng như luôn luôn muốn nói: “Em cố làm một bữa thật ngon, thật đặc biệt, dành cho anh đấy”... Đôi mắt của cô bữa nay rõ ràng hoàn toàn khác hẳn với cặp mắt đầy sợ hãi, đau khổ và giận dữ hồi tháng 7. Đến tối, bữa ăn mới kết thúc. Mọi người lục tục ra về hể hả. Cầm Sa cùng Then dọn dẹp lại nhà cửa. Sau đó, cô lại ngồi vào khung cửi dệt thổ cẩm. Còn Then thì lấy vở ra học lại những bài vỡ lòng đầu tiên trong đời cô bé. Bà Cầm Inh đi nghỉ sớm, vì đã có tuổi, hay đau lưng. An vẫn ngồi bên bếp lửa, nói chuyện cùng Cầm Sa. Đến khuya anh giục cô đi ngủ. Cầm Sa vẫn không rời khung dệt. Gương mặt cô càng hồng lên dưới ánh lửa. Cô mỉm cười trả lời anh bằng một câu ca dao, nghe rất gần với ca dao dưới đồng bằng: Cầm bằng thức hết đêm nay Sáng mai ta sẽ lấy ngày làm đêm... ... An không khỏi ngạc nhiên. Cô gái vẫn thoăn thoắt đưa thoi, vừa luôn luôn ngắm nhìn anh với cặp mắt nồng nàn, yêu quý. Bây giờ cô không còn thấy trước mặt mình là một anh công an xa lạ. Thật vậy, khi còn ở bản cô đã thấy mấy anh công an xã sao mà đáng ngại. Mỗi lần gặp, hai con mắt họ nhìn cứ như xoáy vào mặt mẹ cô và cô, như muốn hỏi: “Thế nào? Thằng Diêu có bí mật liên lạc ra hay không”. Hoặc: “Thế nào, mẹ con bà có định chuồn vào Nam nốt với thằng Diêu không đấy?”... Lên đến Khu gặp anh công an nào cô cũng vẫn có cảm giác như vậy, thậm chí còn nặng nề hơn. Từ khi có chuyện Cầm Diêu nhảy ra và bị bắt, Cầm Sa mới được biết thêm những người công an khác, rất khác so với mấy ông ở mường, ở bản. Một trong những anh công an ấy là An... Bữa nay anh trở lại nhà, chỉ có một buổi chiều và một buổi tối trò chuyện, cô đã thấy rõ hơn: anh là một con người... Tóm lại, anh cũng y như mọi con người tốt bụng và hiểu khác: cũng biết giận nhưng cũng biết thương, cũng biết nghiêm nhưng cũng biết khoan dung, độ lượng... Anh thật đáng mến. Cầm Sa cứ thầm ước sẽ còn được dịp gặp anh nhiều, nhiều nữa. Và không hiểu sao giờ đây cứ sớm nghĩ đến sáng mai anh phải ra đi, cô đã thấy lòng mình buồn vô hạn. Đêm ấy, nằm bên bếp lửa, nhưng An không sao ngủ được ngay. Anh đã trải qua một đêm hết sức ấm áp, không phải vì bếp than hồng, mà còn vì tình cảm thân thiết, tin cậy của tất cả những con người trong nhà này, mặc dầu đây không phải lần đầu tiên được nghỉ lại trên một căn nhà của đồng bào miền núi. Anh cứ lan man nghĩ mãi về số phận khác nhau của mỗi con người, nghĩ về niềm vui và hạnh phúc, cũng như mọi nỗi khổ đau mà có lẽ sự giống nhau chẳng bao giờ có thể có được trên thế gian này... Mãi quá khuya, anh mới chợp mắt. Trong giấc ngủ chập chờn anh lại thấy Thùy và cu Toàn của anh đang ngụp lặn trong căn nhà cấp 4 ngoài bãi sông ngập nước... Sáng hôm sau, An dậy sớm, từ biệt mẹ con Cầm Sa để trở về đội. Cầm Sa đưa tiễn anh một thôi đường dài đầy hoa ban trắng xóa. Tới bờ sông Đà, cô mới chịu dừng lại. Khi một con thuyền độc mộc từ bên kia lướt sang đón anh, Cầm Sa mới rớm lệ, cô rút đôi vòng bạc nơi cổ tay đưa cho anh làm kỷ niệm. An không khỏi ngạc nhiên, lặng đi, rồi lắc đầu. Anh cám ơn cô và nói rằng không dám nhận... Tuy nhiên cũng không khỏi buồn, một nỗi buồn thật đẹp, anh cầm lấy tay cô và hứa sẽ luôn luôn nhớ tới cô, coi cô như một người em gái ruột thịt... Con thuyền rời bến, xa mãi, nhìn lại An chỉ còn thấy một chấm trắng lẫn trong màu hoa ban trắng, trắng suốt một đoạn sông dài... Về tới đội, chỉ hai hôm sau anh lại được ông Trường cử vào Mường Sang dự hội nghị tổng kết của đồn Công an vũ trang nơi đó. Từ “Đội khảo sát địa chất sông Đà” vào Mường Sang mất đúng một ngày rưỡi đường rừng. An phải trải áo mưa nằm ngủ lại lưng chừng một ngọn đèo có tên đèo Nai. Nai chẳng thấy đâu chỉ thấy toàn dĩn đốt tịt hết cả mặt mày, tay chân... Nhưng dẫu sao chuyến đi này cũng sẽ có những niềm vui khác, anh tin như thế. Ở Mường Sang, An cũng có hai người khá quen biết trong vụ đón hụt chiếc C47 hồi trước. Đó là đồn phó Nết và cô xã đội phó xinh đẹp và rất “quân sự”: Lò Thị Én. Vào tới Mường Sang, An thấy phong cảnh ở đây cũng rất đẹp. Thung lũng tương đối rộng. Việc tổ chức, quy hoạch ruộng, nương cùng việc sắp xếp nhà cửa, dân cư, cơ quan, mường bản, chợ búa rất hợp lý, tạo nên một quang cảnh khá đông vui, trù phú. Lên tới đồn, An đã thấy không khí hội hè với cờ, với khẩu hiệu và người ra kẻ vào tấp nập. Người ra tiếp An là Mờng, người anh hùng đã “tay không bắt giặc” hồi nọ. Mờng mới được đề bạt lên chỉ huy trung đội cơ động. Anh Lầm trung đội trưởng cũ lên làm đồn phó thay cho Nết. Nết lên làm đồn trưởng thay cho Mão mới nghỉ mất sức. Lầm có việc đi đón cán bộ tỉnh, còn Nết cũng đi vắng. Từ mờ sáng nay, tuy đang bận chuẩn bị cho cuộc họp tổng kết ngày mai, Nết đã phải cấp tốc đưa một lực lượng lên bản Huổi Si của người Mông kiểm tra tình hình. Có tin báo xuống: tên Vừ A Lùng, một đối tượng mà ta phải để ý đã lâu, vờ ốm, tổ chức cúng ma, đã triệu tập từ nhiều nơi về gần trăm khách, ăn uống rượu chè tùm lum hai, ba hôm liền. Không rõ có ý đồ gì. Chắc phải tối trưa, Nết mới trở về đồn được. Mờng pha trà mời An, rồi vui vẻ chỉ lên một bức tranh nhỏ vẽ mành tre trên tường khoe: - Bác Lý Quang Giong vừa mừng đồn đấy!
An vui mừng hỏi lại: - Bác Giong Mặt trận Tổ quốc tỉnh phải không? - Chứ còn ai! Ây dà, cụ này tác phong sâu sát lắm! Cụ mới vừa ở đây đi xong. Đêm qua ngủ với anh Nết, chuyện tới khuya. Ông cụ thật quá nhiệt tình. Cứ bảo hưu rồi nhưng trí không hưu. Còn sức còn đi, để góp phần giáo dục thanh niên và nhắc nhở các cụ lão thành phải cảnh giác. Bây giờ với thằng Mỹ càng phải cảnh giác. Lơ mơ là mất nước như chơi. Có lẽ cũng hơi lẩm cẩm một tí nhưng ông cụ quả thật đáng quý, anh Nết bảo thế! - Mai cụ có về đây dự tổng kết không? Không hiểu anh có biết: nếu anh Mờng là “người hùng” trong vụ bắt Cầm Diêu thì cách đây dăm năm ông cụ là một trong ba người hùng trong vụ lừa bắt được cả bọn phản động Cầm Ngọc Lủ định nổi loạn ở vùng giáp ranh Yên Bái đấy! - Biết! Biết! Nhưng cụ bảo không quay lại đâu. Cụ bảo hôm nay còn phải đi thăm nhiều đồng chí lão thành. Cụ bảo ở đây cụ cũng có nhiều bà con họ hàng. Cô Én cũng là cháu họ cụ, tuy xa. Cụ bảo đời ông nội của cô Én vốn ở Văn Chấn quê cụ. Ông nội cô thời trẻ kết nghĩa anh em với bác ruột của cụ. Sau ông nội cô về Mường Sang lấy vợ, ở rể, và từ đấy “cắm sào” luôn ở đây... Mờng nói tới Én, An hỏi luôn: - Thế nào, dạo này cô Én hẳn vui lắm, vì được giải phóng tư tưởng hoàn toàn rồi mà? Mờng còn chưa hiểu An muốn nói gì. An hỏi lại: - Ở đây, hẳn các anh và có lẽ cả nhân dân đều biết chuyện tên Sạ dân Mường Sang ta đã bị tan xác trên chiếc C47 ở Ninh Bình hồi tháng 7 vừa rồi chứ? Mờng hiểu ra, gật đầu: - A, biết! Biết! Đáng đời thằng phản quốc ấy!
- Vậy chắc là cô Én... phải vui lắm. Vì thế là không còn sợ… liên lụy gì nữa. Thằng Sạ chết rồi, như vậy về chính trị thế là coi như cô được hoàn toàn giải phóng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
bodoibienphong
Thành viên

Bài viết: 828
|
 |
« Trả lời #59 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 11:01:22 pm » |
|
Cũng không ngờ, Mờng lại lắc đầu, thở dài: - Không đâu, đồng chí An ơi! Ai cũng tưởng như đồng chí. Nhưng lại không phải thế. Chính cái tin thằng Sạ định về hoạt động lại càng làm cho dân chú ý tới cô Én hơn và thì thào nhiều điều không hay, dù nó đã chết. Người ta bảo chắc cô Én có thế nào nó mới tìm về để liên lạc. An vội cắt ngang lời Mờng: - Sao lại có thể nói thế? Sao lại bảo rằng nó về mục đích để bắt liên lạc với cô Én? Bằng chứng đâu? Cứ suy diễn như thế thì chết hết cả thôi... Mờng vẫn buồn rầu:
- Nhưng dân họ cứ nói vậy, biết làm thế nào. Họ xa lánh cô thật sự. Cô lo phiền đến phát ốm. Đến nỗi cô đã xin từ bỏ mọi công tác... - Xin từ bỏ mọi công tác? - Vâng. Nhưng cũng còn may, Đảng ủy xã và huyện không đồng ý. Bảo cứ làm, cứ vững tâm. Cây ngay không sợ chết đứng. Đảng tin là được. Nhưng cô Én vẫn cứ khóc, nói là có Đảng nhưng vẫn phải đến dân. Biết đến bao giờ, và biết nhờ cậy ai minh oan cho, khéo đến chết già vẫn bị sống trong nghi ngờ, oán trách của bản, mường. - Còn thái độ của... anh Nết? - Cũng rầy rà, đồng chí ạ. Anh Nết thì cũng như đồng chí thôi, không có nghi ngờ gì cô Én hết. Thậm chí còn bày tỏ tình cảm rõ hơn trước. Nhưng cô đã như thu mình vào rồi. Cô đã mất hết tinh thần, đến mức như... chán đời. Thêm nữa, thật phức tạp: mẹ anh Nết ở quê lên tháng trước cứ một mực bắt anh phải về quê cưới vợ. Cưới xong, muốn đi đâu thì đi. Cụ không đồng ý cho anh lấy người trên này vì sợ con dâu không chịu về ở dưới xuôi để trông nom cụ lúc tuổi già sức yếu. Thế đấy. Hai mẹ con cứ găng nhau. Được ông anh, cái ông gầy còm nhom ấy, nghe đâu làm ở nông trường Ninh Bình, lại cứ đứng về phe bà cụ. Thế rồi bà cụ bỏ về. Thật là khổ! Thương anh Nết, thương cả cô Én quá, mà không biết làm thế nào. Vừa lúc ấy, Én rụt rè bước vào phòng khách. Cả An, cả Mờng cùng vội đứng dậy, mừng rỡ chào đón. Én lên đồn để đưa mấy bản kê khai thành tích của dân quân xã về mặt giữ gìn an ninh trật tự cho đồn bổ sung vào bản báo cáo ngày mai. An ngồi ngắm nhìn cô: quả là một con người đang sống trong bão táp tâm hồn. Gương mặt võ vàng, u uẩn, cặp mắt như vô cảm luôn luôn nhìn đi chỗ khác hoặc nhìn xuống đất. Tóc biếng chải. Đôi môi khô nẻ. Áo quần xộc xệch... Không còn đâu cô gái son trẻ, tươi đẹp ngày nào với chiếc mũ biên phòng, chiếc quần quân đội, rắn rỏi, nhanh nhẹn mà vẫn uyển chuyển duyên dáng... - Cô Én ạ - An thân mật nói - tôi vừa được đồng chí Mờng cho nghe đôi điều về ... hoàn cảnh của cô hiện nay... Én chỉ cúi đầu, thở dài, không đáp lại.
- Cô Én ạ - An tiếp - tôi được quen biết cô và cả anh Nết từ vụ đón hụt chiếc C47 hồi nọ. Tôi rất quý trọng cả hai người. Tôi cũng xin thành thực góp với cô một vài lời trong chuyện này... Én vẫn hoàn toàn im lặng. An tiếp tục: - Đồng chí Mờng có cho biết Đảng ủy xã và cả trên huyện nữa, các đồng chí ấy bảo là: Đảng tin là được. Đúng đấy cô ạ! Không có gì phải e ngại hết. Tôi xin mạnh dạn nói rõ thêm ý này: Đảng vẫn tin, thì rồi sớm muộn dân cũng tin. Thế đấy, cô ạ, xin cứ vững tâm... Bấy giờ Én mới ngẩng lên. Một nụ cười buồn héo như thoáng lướt qua gương mặt cô. Cứ tưởng cô sẽ nói một điều gì. Nhưng cô vẫn chỉ im lặng với nụ cười héo trên môi, nụ cười vừa như một lời chối bỏ, vừa như một lời chấp nhận... An ngồi ngắm cô mà lòng không khỏi buồn. Anh cảm thấy cái bóng đen của chiến tranh, nói cho thật rõ hơn: của bọn Mỹ, quả thật là kinh khủng. Nó đã phủ lên bao nhiêu số phận của con người trong cuộc đời này từ gần tới xa, thậm chí tới tận những xó rừng heo hút, xa lắc xa lơ này, cứ tưởng như chẳng hề có gì liên quan tới chúng...
An trở về tới đội thấy quang cảnh gần như khác hẳn với hôm anh ra đi. Anh em trong đội tươi tỉnh, rối rít ra vào, người này việc nọ. Ngoài suối, có lẽ đang mổ lợn, tiếng kêu eng éc. Khói đun nước (hẳn để làm lông) đang bay lên nghi ngút. Thấy có lợn An đã ngờ ngợ. Nhìn vào lán của ông Trường, quả nhiên thấy ông Trần Vạn phó Công an Khu kiêm ủy viên chuyên trách hậu cần của Ban chuyên án đã tới từ hồi nào đang ngồi vắt chân, đôi mắt kính long lanh, cười cười nói nói sảng khoái, cây súng săn vẫn dựng bên cạnh. Nom thấy An, ông Trường mừng rỡ reo lên: - Hắn đã về đây rồi! Ông Vạn cũng xiết chặt tay An, nói vui: - Cậu về chậm một ngày nữa khéo lão Trường phải cho người đi khiêng về đấy. Ông Trường gật đầu:
- Đúng! Đang mong cậu quá! Có việc rồi! Có việc rồi! Nói đoạn, ông móc xà cột, lấy ra một bức điện đã được giải mã, đưa cho An. Anh vội đỡ lấy, hai mắt sáng lên. Đó là bức điện của bọn Trung tâm, mới gửi ra chiều hôm qua. Nội dung viết: Trung tâm chỉ thị cho G. Hãy vượt mọi khó khăn tìm 5 bãi thả dù - Trung tâm sẽ toan tính - Hẹn sau 5 ngày phải báo cáo kết quả - Chúc anh em thành công. Tin tưởng ở anh em! Khi An đọc xong, cả hai ông Trường và Vạn cùng vỗ đùi cười kha khá, vô cùng khoan khoái: - Thấy chưa! Bõ công chưa! Anh em có người mừng đến phát khóc lên được; vì đã quá khổ. Vì thấy cuối cùng ta đã thắng! Rồi ông Trường cho biết: đã báo cáo về Bộ rồi. Đang chờ chỉ thị. Cũng đã kịp thời báo cho “bác” Vạn. Cho nên hôm nay “bác” mới kịp có mặt ở đây và có ngay một con lợn và một tạ gạo. Ông Vạn tươi cười: - Này, hôm nay ăn mừng, cứ cho chén hết đấy nhá! Thiếu đâu, tớ sẽ lo!
Ông Trường kiêu hãnh: - Nhất định là phải thế rồi! Một bữa thật túy lúy! Cho bõ 8 tháng trời gian truân khổ ải. Tôi đã cho anh em đi mời tất cả các cán bộ trong bản cùng ra đánh chén, lấy cớ mừng ngày 1 tháng 5. Có mấy vị cán bộ công an tỉnh vừa xuống huyện, cũng sẽ cho mời tất. Ngày quốc tế lao động mà lị! Có phải không nào? Tất cả lại cùng cất tiếng cười vang, hết sức vui vẻ, hể hả. Đúng như lời ông Trường: Bữa cơm liên hoan của “Đội khảo sát địa chất sông Đà” mừng “Ngày quốc tế lao động” không những có gần đông đủ anh em trong đội (trừ ông Thạc còn ở Hà Nội chưa về kịp), còn có thêm khá đông khách: từ cán bộ bản mường gần đó, tới một số cán bộ công an tỉnh và huyện cùng tới dự. Và cũng đúng như dự kiến: cả con lợn đã hết veo cùng với hai hũ rượu lớn của mấy ông cán bộ trong bản đem ra cho. Ai cũng ngà ngà, ai cũng vui, nhưng đặc biệt nhất có lẽ là Tráng A Páo. Vui quá, hắn cứ nhảy nhót như trẻ con. Mượn được chiếc khèn bè trong bản, hắn vừa thổi vừa nhảy múa khắp nơi. Ông Vạn khoái lắm, chỉ tay, gật gù: “Đó! Đó mới thực là con người được giải phóng!”
|
|
|
|
|
Logged
|
Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
|
|
|
|