Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:40:26 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Yêu tinh  (Đọc 28301 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #60 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 11:03:28 pm »

Sáng hôm sau, ông Trần Vạn trở về Khu, còn ông Trường cùng An đem theo 3 chiến sỹ bảo vệ và tên Páo, đi tìm bãi thả cho “Trung tâm”. Hồi nửa đêm đã có điện của Bộ chỉ thị: cũng như hồi đón hụt chiếc C47, chỉ cần tìm hai bãi, còn kệ thây chúng, bảo rằng địa hình khó khăn, thêm nữa Cộng sản luôn đi tuần rừng gây không ít trở ngại. Bộ cũng dặn: cần nói có sự canh phòng cẩn mật của ta, tuy nhiên cũng không nên nói quá, chúng sợ sẽ không dám nhảy nữa. Ngược lại nói canh phòng sơ sài, chúng lại nhảy nhiều, nhảy bừa, thì ta xử lý cũng không xuể. Tóm lại, phải luôn luôn biết tính toán, luôn luôn biết suy nghĩ thật tỉ mỉ và tinh tế.
   
Do có thịt lợn băm nhỏ kho với củ riềng và mắm tôm làm “pho mát và bơ Việt Nam” đem theo cùng gạo nếp để nấu cơm lam ăn dọc đường, nên cả đoàn lần này đi tìm bãi rất khỏe, rất vui, khác hẳn những lần trước. Bốn ngày liền, anh em lăn lộn trong hầu khắp các khu rừng cách xa căn cứ của đội, cả bên này, cả bên kia sông Đà. Cuối cùng mọi người cùng nhất trí chọn hai bãi khá ưng ý. Bãi bên này sông Đà cách đội 20 km đường rừng, ở gần bản Khang Kha, gần bãi có một bản nhỏ nằm lọt giữa một vùng rừng nguyên sinh, có xen kẽ những ngọn đồi tranh khá lớn. Bãi bên kia sông Đà cách đường số 41 (đường quốc lộ Hà Nội - Hòa Bình - Sơn La) khoảng 15 km đường rừng, nằm trong một thung lũng hoang, có một con suối nhỏ chảy qua. Địa thế nơi đây hơi chật hẹp một chút nhưng cũng rất kín đáo, xa dân, xa mọi kho lẫm, xa các nông trường của Nhà nước.
   
Tìm được bãi rồi, ông Trường lại cho An trực để ông cấp tốc về Bộ báo cáo xin chỉ thị, đồng thời xin lực lượng lên cho kịp tham gia đón “hàng”. Lần này chẳng lẽ lại hụt nữa! Trước khi ra về, ông Trường như vểnh râu đùa với An:
   
- Này, lần này mà lại phèo nữa, dứt khoát tớ sẽ bỏ cha nó cái nghề này đấy! Xin chuyển sang quân đội, đi B! Choảng thẳng vào mặt thằng Mẽo cho nó bõ tức cậu ạ!
   
An cũng đế theo:
   
- Được! Quan bác mà đi, em cũng xin nối gót bác đi liền!
   
Ông Trường về Hà Nội được hai hôm thì điện của “Trung tâm” chính thức báo chấp nhận bãi Khang Kha. Chúng còn cho biết rõ: “Trung tâm sẽ cử một toán 8 người đến bổ sung cho G, với lương thực và phương tiện theo yêu cầu. Chúc thành công” và hẹn ngày, giờ, cùng các ký hiệu, ám hiệu đón ở bãi.
Dịch và đọc xong bức điện, An như nóng bừng cả người. Đúng là lớn rồi! Anh lập tức cho điện báo bổ sung ngay về Hà Nội.
   
Chỉ hai hôm sau “quân, tướng” đã ùn ùn kéo nhau tới, nhưng vẫn rất bí mật theo nhiều hướng, nhiều đường và chủ yếu di chuyển trong đêm. Ông Thạc, ông Trường cùng hai đại đội công an vũ trang của Bộ tăng cường cũng đã tới. Đặc biệt, khác mọi lần, Bộ còn cử thêm một số cán bộ, trinh sát xuống để sẵn sàng tham gia việc hỏi cung tù binh, cho kịp thời, hạn chế việc phải đưa chúng về ngay Hà Nội. Các lực lượng tỉnh, huyện cũng kịp thời đến đúng hẹn. Trưởng Khu Công an Trần Tâm cũng cử một số cán bộ tới hỗ trợ.
   
Kế hoạch “đón khách” được vạch ra hết sức mau lẹ do đã có không ít kinh nghiệm từ dạo lùng bắt lũ Goblin, qua vụ chờ đợi hụt chiếc C47, tới cuộc “đón tiếp phái viên Trung tâm” ra đối thoại thẩm tra tên toán trưởng...
   
Kế hoạch quy định: dù địch cho biết chúng chấp nhận bãi thả ở gần bản Khang Kha bên này sông Đà, nhưng ta vẫn cứ phải bố trí lực lượng đón bắt ở cả hai bãi cho chắc ăn. Cũng khác với trước một chút, lần này ta lập những chòi trên các cây cao ở xung quanh khu vực, để có thể quan sát được từ xa và đầy đủ khi địch tới thả dù, khỏi sót và thất lạc. Riêng việc sử dụng lực lượng thì không có gì khác: các đơn vị dân quân xã vẫn bố trí chốt chặt ở vòng ngoài. Công an huyện ở vòng giữa với các chòi quan sát, còn các phân đội công an vũ trang của tỉnh và Bộ vẫn bố trí ở vòng trong cùng với đầy đủ công sự phòng bom cháy, rocket, sẵn sàng bắt tù binh và trực tiếp tác chiến khi địch phản trắc đổ bộ quân đông xuống...
   
Cũng khá đặc biệt: cả một vùng núi rừng sôi sục như vậy, mà bên ngoài vẫn cứ vắng lặng như không. Những dòng suối mùa xuân vẫn trong vắt, rì rào chảy êm đềm. Những con đường mòn ngang dọc vẫn hết sức vắng vẻ. Những cánh rừng đại ngàn vẫn vang tiếng vượn hú, chim kêu... Trong khi ấy, ở khu lán di chuyển cách bản Khang Kha không bao xa, ông Thạc, ông Trường cùng các sĩ quan chỉ huy công an vũ trang, các cán bộ công an Khu, tỉnh, các trinh sát viên mới được phái xuống, trao đổi ý kiến lần cuối về kế hoạch tác chiến, sau đó cùng tiếp tục luận bàn về hai từ “bổ sung” trong bức điện mới nhất của địch. Bổ sung có nghĩa không phải một toán mới, mà đây là một lực lượng tăng cường theo yêu cầu của Goblin? Bổ sung cũng có nghĩa Goblin đúng là một toán có tính nòng cốt mà địch có ý đồ sử dụng lâu dài, như ta đã phán đoán? Và bổ sung cũng báo hiệu: sắp bắt đầu một thời kỳ hoạt động, phá hoại mới của địch, mà chắc chắn sẽ còn rộng lớn...?

Thời gian trôi đi như rất chậm chạp. Nhưng rồi ngày D cũng đã tới. Từ 5 giờ chiều, tất cả mọi lực lượng ém sẵn đều đã ăn cơm xong xuôi. Sau đó mỗi người còn giắt lưng một gói nếp xôi, một ống bương hoặc một bi đông nước, để có thể hoạt động, tác chiến suốt đêm, thậm chí qua cả ngày hôm sau. Ông Thạc cứ đi đi lại lại, gương mặt trang nghiêm và luôn luôn lật cổ tay áo xem đồng hồ... Nắng chiều của mùa xuân vàng như mật ong dần dần ngả dài, chia những cánh rừng thành hai nửa sáng tối đầy gợi cảm...

 
*
 *    *
   
Trong phòng làm việc của Ngô Thứ Lân, ngoài chiếc đồng hồ treo trên tường còn có một chiếc nhỏ mầu đen luôn luôn đặt ngay trên bàn giấy của hắn. Chiếc này đặc biệt được lấy giờ theo đúng giờ miền Bắc, có nghĩa là sớm hơn giờ Sài Gòn một tiếng. Ngô Thứ Lân thường chỉ chiếc đồng hồ này khoe vui với mọi người “Tôi là người ngồi ở Nam, nhưng lại ngày đêm chiến đấu ở Bắc; không có chiếc đồng hồ này, không được”!... Lúc này chiếc đồng hồ theo giờ miền Bắc đã chỉ 14 giờ. Chiều nay Ngô Thứ Lân chính thức trao nhiệm vụ và cổ vũ tinh thần một toán sẽ nhảy ra Bắc đêm nay nhằm bổ sung, tiếp sức cho toán Goblin. Còn sớm. Hắn ngồi một mình tư lự. Hắn phải thầm tự thú với mình: cho tới giờ phút này, trong đáy lòng hắn vẫn không khỏi còn phảng phất một cái gì đó tựa như một nỗi lo âu, nghi ngại. Thật vậy. Mặc dầu mọi ngón thử thách cũng như mọi thứ đòn phép kiểm tra đã được tiến hành hết sức đầy đủ đối với Goblin, và đáp số đều tốt, nhưng không hiểu sao, có lẽ do mặc cảm nào đó, hắn vẫn thầm cảm thấy hình như chưa ổn. Chỉ âm thầm thế thôi, chứ tuyệt nhiên không dám hé ra với bất cứ ai. Tấm gương của Raphter còn sờ sờ ra đó. Viên đại tá CIA tuyệt đối tin tưởng ở mọi sự nghiệp và đường lối Mỹ, y như một con chó trung thành đến chết với chủ, vậy mà đã bị trả về Mỹ tháng 1 năm 1962 vừa rồi, chỉ vì đã thật thà và thẳng thắn thốt ra: “Tôi thực sự đau đầu cảm thấy hình như, nếu không nói là tất cả thì cũng phần lớn các toán của chúng ta đều đã bị đón sẵn, bị bắt và nhất là bị khống chế để phục vụ cho Cộng sản đánh lại ta”... Viên đại tá ấy hết sức buồn. Buổi ra đi, anh ta có nói nhỏ với Ngô Thứ Lân một câu khá chua chát: “Tôi đã ngu ngốc không hiểu rằng ở đây người ta không ai thích nói tới thất bại”. Ngô Thứ Lân hiểu: chẳng phải William Colby quá kiêu căng, quá chủ quan, đến nỗi không biết gì hết, nhưng ông ta là một viên quan, mà lại là ông quan đang còn nhiều tham vọng thăng tiến. Ông ta không muốn bất cứ ai biết rằng trong công việc của ông ta cũng có không ít trục trặc, thậm chí đổ bể. Bởi vậy, ông ta chỉ cần những báo cáo màu hồng. Ngô Thứ Lân không lạ. Bây giờ thay thế cho Rapher là Senaghi, một con người chuyên hoạt động ở Âu châu nay mới sang Việt Nam, chưa hiểu mô tê gì hết. Nhưng anh ta lại là tay táo bạo, dám làm liều, rất khác với Raphter trước đây thường quá thận trọng. Senaghi quen Colby từ cuối thế chiến thứ hai. Nay Senaghi biết Cobly đang rất sốt ruột về việc đánh gián điệp biệt kích ra Bắc để có thêm thành tích báo cáo về Washington, nhất là vào thời điểm này, khi kế hoạch Staley - Taylor vừa được Washington chính thức thông qua... Bởi vậy, vừa nhậm chức, viên đại tá mới này đã tung ngay hai toán Eurasio và Attillia trong tháng 2 và tháng 3 (1962) vừa rồi. Senaghi báo cáo là rất tốt, mặc dù điện báo viên đã mật báo về là đang bị khống chế làm việc cho đối phương. Chuyện này Senaghi đã giấu nhẹm Colby. Y nói với Lân là để y lo, sẽ xác minh sau. Và chưa làm được bất cứ điều gì với hai nhóm nọ, Senaghi đã tung tiếp ngay trong tháng 4 một nhóm nữa, mang tên Rimos. Toán này ném xuống Tuần Giáo - Lai Châu. Đã có vài lần báo cáo về. Cũng chưa biết thực hư ra sao, nhưng Ngô Thứ Lân cũng phải thầm chịu là tay này biết cách gây ấn tượng mạnh.
   
Toán Rimos vừa được tung đi đúng một tháng, nay đã đến lúc sẽ tung đi tiếp một toán nữa. Nhưng đây không phải là ý đồ của viên đại tá mới, mà theo một kế hoạch đã được soạn thảo từ khi Raphter còn đương nhiệm. Toán sắp được tung đi mang tên Storm, nhằm bổ sung cho toán Goblin đã được xác nhận là vẫn tồn tại và tồn tại tốt.

Chiếc đồng hồ màu đen đã chỉ 15 giờ 30. Ngô Thứ Lân đứng dậy, ra cửa. Một chiếc Jeep đã đợi sẵn ở đó...
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #61 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 11:07:03 pm »

Lát sau Lân đã tới phòng họp, một căn phòng không quá 30 mét vuông, trần thấp, các cửa đều đóng kín. Bốn bức tường màu vàng khè. Không khí ngột ngạt. Bọn biệt kích gián điệp 8 tên đã có mặt đầy đủ. Tất cả cùng đứng dậy chào. Lân liếc mắt: chưa thấy Senaghi tới. Y vẫy tay ra hiệu cho cả bọn ngồi xuống. Viên đại úy Quýnh “lý toét” chạy lại ghé tai Lân thì thào trình là đã gặp riêng tên Vi Văn Giống, điện báo viên để hướng dẫn sử dụng điện đài và trao tận tay cho nó bộ mã của toán. Lân gật đầu. Quýnh phàn nàn:
   
- Trình sếp, thằng này cứ thắc mắc rằng mã này cũ, mã một tầng của quân đội, nó đã sử dụng mấy năm nay. Tôi đã phải giải thích cho nó đây cũng là mã của hạm đội 7 đang dùng, các căn cứ Mỹ ở Phi Luật Tân, Mã Lai cũng vậy, không sợ đối phương dễ phát hiện...
   
Lân lại gật đầu:
   
- Thằng này người Thổ - Yên Bái. Hơi gàn gàn một tí, nhưng chịu khó và giỏi tay nghề, không kém thằng Páo của Goblin là mấy.

Vừa nói Lân vừa nhìn về phía gần cuối phòng, nơi có một tên tầm vóc vừa phải, tóc húi ngắn, mặt lại dài như mặt ngựa, có đôi mắt lấc láo. Đó chính là tên Giống. Ngồi trên nó là tên thiếu úy toán trưởng Quách Rinh người Thái trắng Lai Châu, cùng tên chuẩn úy toán phó Hoàng Văn Biếng người Mường ở Sơn La. Quách Rinh to con, ngăm ngăm đen, có bộ mặt của một dân phu bốc vác nhiều hơn là một sĩ quan. Lân biết khá rõ tên này: Nó vốn là một trung đội trưởng thuộc một đại đội của quân Liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống. Tên đại úy chỉ huy đại đội này là Lê Quang Liêm em ruột Lê Quang Tung. Liêm chỉ huy đại đội nhưng kiêm chức chánh văn phòng Liên binh, tức là một thứ tham mưu trưởng của anh hắn. Quách Rinh do tính ngổ ngáo và uống rượu như hũ chìm nên thường được Liêm, cũng là một “sâu” rượu gọi tới nhậu. Hai đứa khá thân nhau. Tên Rinh là đứa “ruột để ngoài da” hay bô bô, bép xép, trong khi tên Liêm do vị thế của nó biết khá nhiều chuyện “triều đình” lại hay khoe khoang “ta đây gần mặt trời, biết lắm chuyện quốc gia đại sự”. Có lẽ vì thế, tên họ Quách mới đây đã bị đưa ra khỏi Liên binh, chuyển về lực lượng gián điệp biệt kích và được phong làm toán trưởng toán Storm. Hắn có biết Cầm Diêu...
   
Ngồi ngay phía sau Quách Rinh là tên đứng đầu nhóm chuyên phá hoại và tình báo. Tên hắn là Võ Văn Nghi, thượng sỹ. Đặc biệt toán này chỉ có tên Nghi là dân Kinh xen vào. Nghi là người Quảng Bình, đồng hương với Lân. Nghi là người theo đạo Thiên chúa, di cư. Y có bộ mặt cằn cỗi, đầy dấu vết sóng gió của dân biển. Thuở nhỏ y cũng khổ, vì nhà nghèo. Học chưa hết lớp 4, y đã phải thôi học vào nhà thờ nấu cơm, quét nhà... hầu hạ cha cố. Lớn lên, y ra ngoài lấy vợ. Cha đạo bảo vào thanh niên công giáo để thờ Chúa được tốt hơn. Rồi cũng chính vị cha cố đó lại khuyên y đi lính cho Pháp “để bảo vệ Chúa được mạnh mẽ hơn”. Cứ thế, Nghi trôi mãi theo cuộc đời lính. Rồi vào Nam, y tình nguyện đi biệt kích gián điệp, cũng vẫn do một số cha cố “yêu thương” khuyên bảo “vào biệt kích gián điệp vừa được nhiều tiền vừa được thỏa sức bảo vệ Chúa và chống Cộng sản vô thần”...
   
Senaghi đã tới. Đi theo hắn vẫn là Hampton, nhân viên CIA chuyên trách phân tích tình hình. Senaghi bước vào, dáng vẻ rất nhanh nhẹn. Hắn mặc thường phục, người nhỏ thó, không hơn gì một người Việt Nam trung bình. Hình như hắn người gốc Ý hoặc Hy Lạp gì đó thì phải. Hắn có một bộ mặt khá đáng sợ với đôi mắt to xanh lè, xanh khác hẳn với nhiều người Âu khác. Đôi mắt của hắn xanh lè và sáng một cách ghê rợn như mắt cú. Thêm một cái miệng nhẵn thín không một sợi râu, luôn luôn như phảng phất một nụ cười vừa như ngạo mạn vừa như bí hiểm. Không cần hỏi một câu, vừa đặt đít ngồi xuống ghế, Senaghi đã hất hàm ra hiệu cho Lân bắt đầu làm việc luôn.

Tất nhiên Ngô Thứ Lân cũng trở nên hết sức nhanh nhẹn. Hắn xin phép “ông cố vấn” rồi bắt đầu công việc “cổ xúy tinh thần”. Nếu có gì mới, khác với các buổi nói với các toán đi trước là bữa nay Lân luôn luôn nhấn rất mạnh: “Toán Goblin đang đợi các anh... Mọi thứ đều an toàn... Goblin đang ở đó. Goblin sẽ bảo vệ các anh...”. Lân nói những điều này hết sức say sưa, làm như hắn đang vô cùng tin tưởng, thậm chí tin tưởng mãnh liệt nhất ở sự tồn tại của Goblin, mà không hề bợn một chút hồ nghi, phấp phỏng.
   
Nói xong, hắn tươi cười tự vỗ tay trước một cách hết sức quê và lố. Bọn gián điệp biệt kích bất đắc dĩ phải lẹt đẹt vỗ tay theo. Thế rồi khúm núm quay lại phía Senaghi, Lân xin “ông cố vấn” chỉ giáo cho vài lời. Cũng rất khác với Raphter, viên đại tá mắt cú mèo chỉ phẩy tay một cái ra hiệu từ chối, rồi đẩy ghế đứng dậy đi ra...
   
Đúng giờ H đêm ấy (21 giờ 30) chiếc máy bay không số, không cờ, bắt đầu cất cánh. Hai giờ sau, nó bắt đầu từ biển bay vào đất liền. Tránh đường bay của chiếc C47 cách đây 8 tháng, qua vùng trời Ninh Bình nay nó chéo xuống phía Thanh Hóa, rồi ngược lên Sơn La. Một lúc sau, nó đã bay tới gần tọa độ đã được chỉ định. Từ dưới mặt đất, qua máy picơn, tiếng Cầm Diêu bắt đầu vọng lên: “Ban Hoa đây! Ban Hoa gọi Long Cửu! Nghe rõ, trả lời!...” Rồi cứ thế tiếng nói ấy nồng nhiệt tiếp tục cất lên để hướng dẫn cho chiếc máy bay đột nhập hướng bay đúng phía bãi thả lướt tới. Chẳng mấy chốc từ trên máy bay bọn phi hành đoàn mừng rỡ nhìn thấy rõ ba luồng ánh sáng trắng xanh từ dưới mặt đất, hẳn ánh đèn pin cực mạnh, chiếu hắt lên, rất chụm...
   
Dưới ánh mắt thượng tuần mờ mờ, chiếc máy bay đen sì hiện ra to dần, rồi bắt đầu hạ độ cao, sau đó lập vòng lượn thứ nhất. Gió rừng hôm nay thổi khá mạnh suốt từ ban chiều, lúc này dường như càng mạnh hơn. Chiếc máy bay phải lập vòng lượn thứ hai mới bắt đầu thả được các dù hàng. Tám chiếc dù đeo tám kiện hàng khá lớn lần lượt tách ra khỏi máy bay và bung ra, rơi tự nhiên xuống vùng bãi tranh bên dưới, nơi có ba ngọn đèn vẫn chiếu hắt lên sáng xanh...
   
Đến vòng lượn thứ ba, chiếc máy bay như con quạ khổng lồ lại “đẻ” ra tiếp tám cục đen đen dài dài, sau đó bung ra thành tám chiếc dù người bay lơ lửng. Nhưng có lẽ vì nhẹ hơn các dù hàng, gần như cả tám chiếc dù này cứ dạt dần ra xa theo chiều gió và trở nên tản mát. Trong khi ấy, hoàn tất nhiệm vụ, chẳng cần biết điều gì xảy ra nữa, chiếc máy bay liền cất lên cao rồi hối hả bay trong vùng không khí loãng dọc theo hướng nam, cố thoát nhanh ra khỏi vùng trời rất đáng e ngại, mặc dầu ở Sài Gòn người ta đã nói rằng chỉ có Goblin đang chờ đón ở dưới đó.
   
Khi chiếc máy bay đã mất dạng, trên bầu trời mờ mờ ánh trăng, tám chiếc dù đã dần dần bay lạc đi đâu mất tiêu tới bảy chiếc. Chỉ còn độc một chiếc lùng nhùng mãi rồi cũng đáp được xuống gần đúng chỗ có ba ánh đèn chiếu lên làm tín hiệu. Đó là chiếc dù của tên điện báo viên Vi Văn Giống. Nó vừa ngã lăn queo xuống đất, nhỏm dậy được, chưa kịp gỡ dù thì trong bìa rừng ba bóng người đã lao ra, chĩa thẳng tiểu liên vào đầu nó. Một người thét lên:
   
- Giơ tay lên! Mày đã bị bắt!
   
Còn đang mắt nhắm mắt mở, chưa nhìn rõ ai với ai, tên Giống gượng đứng dậy, tay còn xoa xoa hai đầu gối, miệng cười cười, mừng rỡ:
   
- Ôi, anh em. Các anh em cứ đùa! Ngã đau thấy ông nội đây! Đói nữa! Có gì cho ăn không?
   
Một trong ba người lại thét:

- Thằng gián điệp biệt kích! Mày đã bị bắt! Đưa tay đây! Anh em, xích nó lại!
   
Lập tức người kia xông tới. Hai tay tên Giống bị bẻ quặt ngay ra phía sau và một chiếc khóa số 8 bập đánh tách. Tên Giống vẫn chưa hiểu ra sao cả, miệng cứ “ớ ớ!”. Nhưng rồi nó đã nhìn rõ hơn: ba người đều mặc quân phục màu xanh lá cây, đầu đội mũ có quân hiệu công an Việt Nam. Nó sợ hãi, giãy giụa và gào lên như điên: “Mẹ ơi! Thôi, thế là... chết rồi!”...
   
Cùng lúc đó những người chỉ huy cuộc đón hàng, bắt tù binh hội ý cấp tốc, cùng nhận định: do gió lớn và có lẽ cũng do kỹ thuật nhảy của bọn này rất kém nên đã bay tản mát hầu hết. Vậy phương án hành động được quyết định thay đổi: từ đón bắt tại chỗ, chuyển sang truy tìm.
   
Chỉ khoảnh khắc sau, tất cả mọi lực lượng đều được triển khai, từ dân quân cho tới công an vũ trang tỉnh, huyện và Bộ cùng tỏa ra tràn ngập khắp các hướng, các nẻo rừng, các khe suối... Chó nghiệp vụ cũng bắt đầu được tung ra, sủa vang động. Cả một vùng sôi sục thâu đêm. Qua ngày hôm sau cuộc truy tìm lớn vẫn như cày xới không sót một khoảnh nào. Cho tới gần tối mịt thì lần lượt bắt được 7 tên. Có tên bay lạc tới gần 10 cây số. Riêng tên thứ tám đã bị bắn chết tại trận. Đó là tên Võ Văn Nghi, tên gốc bần cố nông ở Quảng Bình đã “được hưởng” quá nhiều sự dạy bảo về chống cộng và bảo vệ Chúa. Bị đuổi tới một tử địa, không còn lối thoát, nhưng nó không hàng. Lợi dụng những tảng đá lớn, nó bắn trả rất quyết liệt. Một chó nghiệp vụ xông lên, bị nó bắn chết liền. Một chiến sỹ Công an vũ trang tỉnh là tân binh còn thiếu kinh nghiệm vừa bò lên cũng dính đạn của nó luôn. Giận sôi lên, nhóm chiến sỹ Công an vũ trang tỉnh có mặt nơi đó đã bắn như đổ đạn. Nhưng vì có vật che đỡ quá tốt, tên Nghi vẫn tiếp tục chống cự. Cứ phát một nó tỉa ra hết sức hiểm ác. Nguyễn Nguyên An đi theo hướng này. Anh lẳng lặng tiến lên, đề nghị anh em không bắn ồ ạt, tốn đạn vô ích. Anh đề nghị các chiến sỹ ta cũng bắn tỉa, nhưng chủ yếu bắn tập trung vào cánh trái nơi các tảng đá thưa và thấp, có vẻ như ta dễ tiếp cận... Thế rồi nghiến răng lại, khẩu súng sáu cầm chặt tay, như một con thằn lằn anh bắt đầu thoăn thoắt bò trườn qua những đám cỏ rối, những bụi cây rậm phía cánh phải... Cuối cùng, khi anh từ bên sườn phải của tảng đá lớn vừa nhớm nhô ra thì cùng đúng lúc tên khốn kiếp kia ló mặt với mũi súng rất độc của nó. Với tất cả lòng căm giận, chỉ nhanh hơn nó có nửa giây, An xiết mạnh cò súng. Thằng giặc ngã vật ngửa, ngực trào máu. Nó không kịp kêu một tiếng...
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #62 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 11:09:16 pm »

Bảy chiếc lán nhỏ, riêng biệt, đã được làm sẵn từ mấy hôm trước để làm nơi hỏi cung tù binh. Nhóm cán bộ trinh sát của Bộ, của Khu, của tỉnh cử xuống tăng cường cùng một lúc tập trung vào công việc hỏi cung bước đầu. Trong khi đó những người khác cùng nhau vui vẻ, tấp nập mở các kiện hàng để kiểm thu các vũ khí, điện đài, thuốc nổ, bản đồ, thuốc men, lương thực... Đủ bảy, không thiếu một kiện nào. Chỉ có một kiện rơi bị vỡ, nhưng hàng đã thu lại được hết. Toàn loại chất lượng cao của Mỹ và Tây Âu.
   
Khác với lần đầu, vụ này hai ông Thạc và Trường không phải trực tiếp ngồi chất vấn và giảng giải cho tên tù binh nào. Đã có các cán bộ trinh sát các nơi rồi. Hai ông chỉ đi qua từng lán để theo dõi diễn biến công việc. Nếu có chú ý hơn và trực tiếp góp sức thì chỉ tập trung trước hết vào hai tên: toán trưởng và điện báo viên, theo kinh nghiệm của Goblin.
   
Qua ngày thứ hai, cán bộ trinh sát đều tập trung hội ý. Mọi người cùng có một nhận xét: không gặp sự chống đối hoặc ngoan cố nào đáng kể, trừ đôi chút quanh co ban đầu do sợ tội mà che giấu. Dường như đã sớm xuất hiện một hiện tượng: sau các vụ đánh người ra Bắc năm 1961 vừa rồi và tới quý I năm 1962 này, dù cái P54 và các nơi khác như Liên đội quan sát I, văn phòng Liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống bịt bùng tin tức thế nào, cũng ít nhiều hé lộ ra những chuyện như “hầu hết bị khống chế”, “hầu hết như bị đón sẵn...” cho nên tinh thần bọn gián điệp biệt kích bị ném ra lần này có vẻ như sớm bị dao động, nếu không muốn nói là gần như sẵn sàng đầu hàng nếu được tuyên bố tha chết. Mọi người cũng đều có một nhận xét: những gì ta đã biết về loại “binh chủng đặc biệt” này, nay thực tế đã thêm một lần nữa chứng minh cơ bản là rất đúng: dẫu được huấn luyện, nhồi sọ đến đâu, căn bản chúng vẫn là tụi đánh thuê, chém mướn, tất cả chỉ là vì tiền và gái, nếu có thêm thì chỉ là chút ít công danh hão. Có vậy thôi! Không hề có một tí ý thức chính trị nào, một tí khí tiết nào ở bọn này. Tất nhiên cá biệt cũng có một đôi đứa cuồng tín, sẵn sàng nhắm mắt lao vào lửa như con thiêu thân. Nhưng loại này rất ít.
   
Tổng hợp sơ bộ bước đầu các lời cung khai của chúng, đặc biệt lời khai của tên toán trưởng Quách Rinh, Ban chuyên án đã biết một số tin khá quan trọng và khá mới:
   
Trước hết là tình hình chung của “vương quốc họ Ngô Đình”. Từ sau vụ Nguyễn Chánh Thi đảo chính hụt, Diệm vừa sợ vừa thầm căm Mỹ, vì biết có bàn tay của Mỹ trong vụ này. Do đó Diệm Nhu càng ra tay xiết chặt an ninh, thậm chí mở rộng việc do thám cả Mỹ, đề phòng Mỹ lại giở trò đảo chính tiếp. Trong khi đó quân giải phóng đã phát triển mạnh đánh chiếm được một số quận lỵ giải phóng một số địa bàn trên các vùng núi chiến lược. Cơ sở quần chúng từ nông thôn đã bắt đầu mở rộng vào tới các thành phố... Diệm chưa đổ vì Nguyễn Chánh Thi là tướng xoàng, chuẩn bị lại quá hấp tấp và chủ quan, trong khi Diệm vẫn còn nắm được một số sư đoàn với một số tướng lĩnh “cơm nặng áo dầy” với ông ta. Nay Mỹ phải tiếp tục tạm dùng Diệm, nhưng mâu thuẫn đôi bên không những không ngừng mà còn âm ỉ tăng lên. Washington đã đi tới quyết định mới, không thể giữ mãi cái vỏ che đậy bên ngoài nữa, phải trực tiếp vào cuộc mới hòng xoay chuyển được tình thế. Cụ thể: tháng 2 - 1962 Washington đã cho thành lập một Bộ Tư lệnh dã chiến Mỹ ở Nam Việt Nam (MACV) để điều hành cuộc “chiến tranh đặc biệt” theo kế hoạch Staley - Taylor. Một viên đại tướng được cử cầm đầu Bộ Tư lệnh này: tướng Harkin. Trên thực tế đây là một cơ quan chỉ huy tối cao của Mỹ, trùm lên tất cả các phái đoàn viện trợ quân sự (MAAG) và trùm lên cả Bộ Tổng tham mưu quân đội Diệm... Dưới quyền Bộ Tư lệnh này (MACV) có một lực lượng gồm 30 vạn quân Cộng hòa của Diệm, 8.000 lính chiến đấu Mỹ... Và Diệm đã phải đồng ý với MACV nhận cố vấn Mỹ xuống tới từng đại đội... Giới báo chí quốc tế đã có nhiều tờ bình luận mà một trong những bài sắc sảo nhất là bài của một nữ ký giả tên là Diana. Bài báo đã viết: “Thế là ông Kennedy đã có một chiến lược mới với một kế hoạch chiến lược cụ thể (Staley - Taylor), và một Bộ chỉ huy mạnh thừa hành ở Nam Việt Nam (MACV). Như vậy ông ta (Kennedy) rõ ràng đã đi tới một quyết định cơ bản về Việt Nam, tức là chính thức lao vào một cuộc chiến tranh ở đây với cái tên “cuộc chiến tranh đặc biệt”.
   
Cũng vì những thay đổi lớn ấy mà CIA cũng có những đổi thay theo: Raphter con người quá thận trọng ra đi, Senaghi con người táo tạo tới thay. Và những vụ ném người ra Bắc đã tăng nhanh hơn trước. Sẽ còn tăng hơn nhiều. Hiện nay Liên đội quan sát I đã tuyển mộ được tới hàng ngàn tên, đang huấn luyện ráo riết. Các trung tâm huấn luyện lớn sẽ được xây dựng ở Thủ Đức, Long Khánh, không dấm dúi, bí mật quá như trước nữa. Tụi này sẽ được tiếp tục cung cấp cho P54 thành lập các toán ném ra Bắc, quyết thực hiện khâu chống phá miền Bắc nhằm ngăn cản và hạn chế việc Hà Nội đưa quân vào Nam, đồng thời xây dựng cơ sở, cả chính trị cả vũ trang, để sẽ yểm trợ cho các cuộc không kích, tiếp đó là chuẩn bị mở chiến tranh lớn “Bắc tiến...”
   
Trước mắt, theo Quách Rinh biết thì có một toán khá quan trọng đã được Senaghi ném ra Bắc trước bọn nó. Chừng một tháng. Nghe nói vùng Tuần Giáo, Lai Châu gì đó. Cũng nghe nói CIA có ý đồ muốn toán này sẽ làm nòng cốt ở bên hữu ngạn (sông Đà và đường 41) giống như toán đầu tiên đã ném ra Bắc ở vùng tả ngạn, trên đất Sơn La. CIA hy vọng trên cơ sở hai toán này, sẽ ném liên tiếp nhiều toán khác xuống cả hai vùng. Như vậy cả miền Tây Bắc Việt Nam sẽ dần dần bị “phủ sóng CIA” hết. Tin nghe mà muốn giật mình.
   
Có đúng vậy không? Có đúng là có một toán đã nhảy xuống vùng tả ngạn sông Đà và đường 41.
   
Hay là tên Rinh đã nghe chuyện tầm phào?...

- Thưa cán bộ, tôi nói láo, xin chặt đầu tôi! Lê Quang Liêm đã khoe với tôi mà.
   
Tên Rinh đã mạnh dạn thề thốt.
   
Cuộc hội ý xôn xao. Nhưng rồi mọi người cũng gần như đi tới nhất trí: Có thể có một toán nào đó đã thoát lưới của ta bên phía Tây đường số 41, hữu ngạn sông Đà. Nơi ấy quả là ta ít nhiều chưa chú ý bằng khu vực bên này đang nóng bỏng; và Bộ chưa nắm được?
   
Ngay đêm ấy một bức điện tối khẩn được gửi ngay về Bộ qua đài đối A20 vẫn luôn luôn trực 24/24 giờ không một giây phút ngơi nghỉ : “Có một toán quan trọng đã nhảy xuống bên hữu ngạn đường 41, cách đây chừng gần 2 tháng, theo lời khai và cam đoan của tên toán trưởng mới bị bắt...”
   
Cũng rất nhanh, chỉ sáng hôm sau đã có điện trả lời của Bộ: “... về việc này, Bộ cũng mới có một số tin tức ban đầu do khu Công an Tây Bắc báo cáo. Đang tìm hiểu, xác định...”.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #63 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 11:14:42 pm »

14

Quách Rinh đã xin nhận cộng tác với ta để lập công chuộc tội. Vi Văn Giống cũng vậy, không có khó khăn gì lắm. Chưa có thời gian để phân tích, nhưng Ban chuyên án cùng các cán bộ ở trên xuống hỗ trợ cũng sơ bộ nhận định: ngoài thái độ nhân đạo, và sự giải thích tốt chính sách khoan hồng của ta, có lẽ còn có thể do tác động mạnh về việc chúng được biết Cầm Diêu và Tráng A Páo cùng tất cả những tên khác của toán Goblin, đã hoàn toàn quy thuận và làm việc cho Cách mạng... “Ui, trung úy Diêu! Dạ ! Có ! Tôi có biết. Anh ấy là người cứng đầu cứng cổ đã nổi tiếng, không bao giờ sợ chết. Vậy lẽ nào thằng em như tôi lại không mở mắt, thưa cán bộ!” Quách Rinh đã thốt lên như vậy. Và Vi Văn Giống nữa: “Tôi cũng có biết Páo, hắn lơ ngơ lắm. Vậy mà bây giờ cũng hiểu ra là phải chuộc tội. Cứ xem hắn sử dụng điện đài từ tám tháng nay hoàn hảo đến nỗi các chuyên viên Mỹ cũng không phát hiện được gì hết, thì tôi tin quả là hắn đã hết mình rồi. Thưa cán bộ, tôi cũng xin được như hắn...”.

Bức điện đầu tiên “của Storm” đánh trở vào Sài Gòn, được “Trung tâm” trả lời ngay: ''Trung tâm hết sức vui mừng được biết hai toán đã gặp nhau an toàn và vui vẻ. Trước hết Trung tâm gửi lời nhiệt liệt khen ngợi cả hai toán. Sẽ có hình thức và tiền khen thưởng xứng đáng. Trung tâm quyết định: Storm tạm sáp nhập với Goblin. Toán trưởng Goblin làm toán trưởng chung. Nhiệm vụ trước mắt: nhanh chóng ổn định căn cứ trú quân, đặc biệt chú ý bảo đảm bí mật và an toàn. Sẽ có chỉ thị tiếp”.
   
Mọi việc tại trận đã “hòm hòm”. Đội nhận được lệnh cho cả toán Storm về Thanh Đồng. Riêng tên Vi Văn Giống vẫn ở lại tiếp tục làm nhiệm vụ, và cử Nguvễn Nguyên An đến Khu Công an vũ trang Tây Bắc để tham gia công tác đột xuất, không phải việc gì khác, đó là đi giới thiệu kinh nghiệm của vụ Goblin và tham gia truy tìm toán biệt kích gián điệp đã nhảy xuống hữu ngạn sông Đà cách đây gần 2 tháng, theo lời khai cam đoan của Quách Rinh.
   
An ngồi ngẩn. Quả thật anh cũng đã khá mệt sau vụ Storm. Hơn nữa, anh đang thầm nghĩ: chắc sẽ được tranh thủ về thăm nhà một chút. Là cán bộ cấp dưới, anh ít khi có việc về Hà Nội, hoàn toàn không giống với hai ông sếp. Nhưng nay đã có lệnh thế này thì phải đi thôi.

Ngay sáng hôm sau An lên đường. Nhờ thuyền dân, anh qua sông Đà, sang đất Quỳnh Nhai rồi ra đường 41 ngược lên Khu. Nhưng lần này, anh không có thì giờ để ghé qua nhà mẹ con Cầm Sa. Công việc của anh đang khá gấp.
   
Lại phải ngủ giữa rừng một đêm, hôm sau An mới tới được Ban chỉ huy công an vũ trang Khu. Quần áo còn xộc xệch, lấm láp, nhưng An đã được đưa ngay vào gặp ông Đinh Vân - Chỉ huy trưởng. Ông vui mừng xiết chặt tay An và cám ơn Cục đã cử anh về giúp sức cho Khu. Ông đã biết An từ khá lâu qua mấy vụ tiễu phỉ trên này. Ông tranh thủ phổ biến tình hình cho An: Cách đây một tuần lễ, trước khi Storm bị bắt, anh em trinh sát ngoại biên của công an vũ trang biên phòng ta ở phía tây đường 41, vùng giáp biên giới Việt Lào được ông Lò Văn Luông một người dân Lào là cơ sở của Bạn cho biết: Có một chiếc mảng lạ không rõ của ai bỏ lại ở sông Nậm Tắc, con sông nhỏ chảy dọc trên đường biên giới hai nước. Một chiếc mảng bỏ không bên bờ sông, trên thượng nguồn cũng thường thấy. Nhưng lúc đó đồng chí chỉ huy phó tiểu khu 95 của Công an vũ trang biên phòng đang đi kiểm tra tại chỗ đã lệnh cho anh em tìm hiểu xem sao. Đồn biên phòng chấp hành, cử một tổ trinh sát do đồn phó Phạm Cận trực tiếp phụ trách đi ngay. Qua một ngày len lỏi ngược dòng sông không thấy gì, tối anh em ngủ rừng. Sáng hôm sau tiếp tục đi, tới trưa mới thấy chiếc mảng. Đầu mảng gác lên một tảng đá lớn giữa dòng. Nứa trên mảng đã hơi khô, lại có nhiều vết sờn, dập. Phạm Cận cho hai chiến sỹ thử kéo chiếc mảng. Thấy không nhúc nhích. Phạm Cận suy nghĩ: nước khúc sông này chảy không mạnh lắm, chưa có lũ lớn, vậy vì sao mảng lại trượt mạnh lên, đến nỗi khó kéo ra thế kia? Anh cho hai chiến sỹ đẩy ngược trở lại. Chiếc mảng vẫn không ra khỏi tảng đá lớn. Cận cùng anh em bàn, và có thể hiểu: nhất định phải có người kéo, không phải một hai, mà bốn năm người mới kéo nổi chiếc mảng lớn này ghếch lên tảng đá cho khỏi trôi đi... Nhưng sao lại sợ nó trôi đi? Lại bàn. Và lại phán đoán: nếu chiếc bè này trôi xuôi về tới khu vực đông dân cư, sẽ dễ lộ... Tuy nhiên ý kiến này chưa thật vững. Cận lại đưa tổ đi quan sát dọc bên bờ sông một quãng nữa. Bỗng một chiến sỹ reo lên khi nhìn thấy một vệt cỏ bị đạp nghiêng chéo chạy dài vào trong rừng. Cả tổ mừng rỡ theo vết cỏ không bình thường ấy tiến sâu vào phía trong thì quả nhiên thấy có ba cái bếp bắc bằng các hòn đá. Nhưng sao lòng bếp lại hẹp thế? Còn đang phân vân thì một chiến sỹ đi quanh quan sát lại reo lên:
   
“Nó nấu bằng cà mèn, nên bếp mới nhỏ. Mà nó nấu bằng gạo sấy !”. Vừa nói anh chiến sỹ vừa chạy lại hớn hở đưa ra hai ba cái bao ni lông còn sót lại mấy hạt gạo sấy... Thế là rõ rồi. Cả tổ cùng Phạm Cận quay về cấp báo với tiểu khu 95. Ban chỉ huy tiểu khu họp bàn ngay trong đêm: Trước hết xác định lại: đúng là có địch. Nhưng chúng là ai? Phản động Lào, hay biệt kích Mỹ - Diệm? Và chúng đang ở đâu trong vùng này?

Ban chỉ huy 95 phân tích: bọn gián điệp biệt kích Lào thường đi lẻ thông qua các mối liên hệ gia tộc, họ hàng ở hai bên biên giới. Chúng thường qua lại mượn cớ thăm viếng, hoặc mua bán, đổi chác, khi cao khỉ, khi mật ong, có khi cả thuốc phiện... Chúng sang, gặp đối tượng xong là về Lào luôn. Nếu có hoạt động vũ trang thì chúng cài mìn, mai phục tập kích xong cũng chuồn luôn, rất ít khi dám tập hợp thành nhóm sống lưu trú và di chuyển trong rừng của ta... Vậy hiện tượng đóng mảng và nấu ăn bên sông Nậm Tắc đã chứng tỏ có một toán gián điệp biệt kích đang hoạt động di chuyển. Bọn này chắc chắn là của Mỹ - Diệm đánh ra. Và chúng phải là người địa phương mới thạo rừng núi, sông suối như vậy. Là người địa phương, chắc chắn chúng sẽ không chui rúc ở quanh sông, mà có thể chọn núi Pú Chài, ngọn núi cao hiểm trở, rậm rạp, hoang vắng nhất vùng để trú ẩn. Tất cả những nhận định và phán đoán ấy đã được báo ngay về Khu. Khu cũng đã cấp báo về Bộ...
   
Tiểu khu đã phán đoán đúng. Bộ đồng ý như vậy và có một nhận xét khá đặc biệt: Nếu đúng là gián điệp biệt kích thì bọn này rất khác mọi bọn trước, không vào bằng máy bay qua đường biển, mà đây có thể là chúng mới thay đổi phương thức, qua Lào dừng lại chuẩn bị rồi mới đột nhập. Ông Đinh Vân kết thúc việc phản ánh tình hình cho An bằng chi tiết bổ sung quan trọng ấy. Rồi ông cho biết tiếp chủ trương của Ban Chỉ huy khu Công an vũ trang:
Trước mắt tăng cường mọi biện pháp trinh sát, nhằm tìm cho ra nơi ẩn náu của địch, đồng thời cho chốt chặn tất cả các điểm nghi địch có thể đi qua. Khi nắm chắc tình hình, sẽ kiên quyết tập trung lực lượng bao vây, truy bắt.
   
- Vậy, bây giờ anh An đi tiểu khu 95 ngay chứ? Anh em ở đó sẽ hoan nghênh lắm đấy! Họ đang rất cần những kinh nghiệm truy bắt bọn Goblin năm ngoái và đón bắt bọn Storm mới đây...
   
Nửa giờ sau, ông Đinh Vân đã trực tiếp ngồi com măng ca đưa An đi tiểu khu 95 ở gần sát biên giới Việt - Lào thuộc địa phận Tây Trang.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #64 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 11:16:13 pm »

Ngay tối hôm đó, ba mũi truy tìm đã được lệnh cấp tốc lên đường. Mũi thứ nhất gồm đại đội cơ động của Khu và một trung đội của tiểu khu có nhiệm vụ mật phục, ngăn chặn phía tây lòng chảo Điện Biên Phủ, đề phòng địch xâm nhập vào hướng này. Mũi thứ hai gồm trung đội cơ động đồn biên phòng Mường Khuông và Tây Trang phối hợp với dân quân của ta và của bạn Lào chốt chặn hướng Mường Khoa, Sốp Nạo (Lào). Mũi thứ ba gồm 20 cán bộ, chiến sỹ đồn biên phòng Mường Khuông và một trung đội cơ động của tiểu khu 95 chia thành 4 tổ: 3 tổ mai phục, 1 tổ trinh sát tiến vào vùng núi Pú Chài. Mũi này do Phan Long, một đại đội trưởng của tiểu khu trực tiếp chỉ huy. Tổ trinh sát do Phạm Cận, đồn phó đồn Mường Khuông trực tiếp phụ trách. Tóm lại, mũi thứ ba coi như mũi chính diện, trực tiếp tiến vào vùng núi Pú Chài, nơi hoang rậm nhất đang có nhiều nghi vấn.
   
Đã quen đi xuống cơ sở, An xin được đi cùng tổ trinh sát của mũi Pú Chài này. Tổ có ông Mung, phó chủ tịch xã dẫn đường.
   
Qua đèo, vượt dốc, cắt lá, xuyên rừng... đến tối mịt, thở không ra hơi nữa, cả tổ mới leo được lên tới một trong mấy ngọn của núi Pú Chài. (Quả núi hùng vĩ, hiểm trở này có tới 7 ngọn liên tiếp với nhau). Nơi mà cả tổ trinh sát lên được là ngọn cao nhất, ông Mung vừa thở vừa tự hào giới thiệu: đứng ở ngọn này có thể quan sát đủ 6 ngọn kia. Thế là cả tổ chốt lại và cắt gác đêm để theo dõi từng tiếng động lạ, từng ánh lửa nếu có... Nhưng một đêm khá yên tĩnh qua đi. Hết sức gan góc và kiên nhẫn đến mức An cũng phải ngạc nhiên và thầm bái phục: Phạm Cận kiên quyết bắt tổ cứ phải tiếp tục chốt trên núi, mặc cho bất cứ ai bàn lùi muốn rút đi nơi khác. Qua tới 5 ngày 5 đêm tiếp theo, vẫn không có động tĩnh gì lạ. Lương thực đem theo đã gần cạn, phải dè xẻn từng nắm gạo. Năm ngày cũng là năm đêm gần như mất ngủ. Tinh thần toàn tổ xuống trông thấy. Nhiều anh đã ngáp dài nói ra miệng: “Phèo rồi!” An phải cố nghiến răng lại chịu đựng. Cái thế một phái viên của trên không cho phép anh tỏ ra mệt mỏi chứ đừng nói tới xuống tinh thần. Do đó An càng thấy “sợ” Phạm Cận, một thanh niên nông thôn, nom bình dị chẳng có gì đáng chú ý hết, vậy mà lại là một con người có một ý chí đáng gọi là như núi. Và sự kiên nhẫn “khủng khiếp” của anh đã được đền đáp rất xứng đáng: Tới đêm thứ 6 từ phía tây nam, một chiếc máy bay vận tải C47 đen sì xuất hiện. Qua ánh trăng mờ mờ, An cùng các chiến sỹ nom thấy khá rõ: chiếc máy bay ấy sà dần xuống thấp, hướng về một trong 7 ngọn của Pú Chài. Báo động! Cả tổ sẵn sàng chiến đấu. Nhưng tất cả gần như run cả lên vì quá xúc động, hồi hộp... Rồi thấy từ ngọn xa nhất về phía bạn Lào, chợt lóe lên ánh lửa... Tín hiệu rồi! Đúng như vậy. Chiếc máy bay đảo lại liền. Từ bụng nó lần lượt phụt ra bốn cụm dù, nom khá rõ: mỗi cụm ba chiếc... Sau đó chiếc máy bay đột nhập vòng ra xa rồi biến dần...
   
Ngay tức khắc Phạm Cận cho một chiến sỹ cùng Phó chủ tịch Mung băng xuống núi tìm lực lượng do đại đội trưởng Phan Long chỉ huy đang mai phục dưới đó.
   
Mờ sáng hôm sau, cũng tương tự như Mẩu Tu ở Nà Lang đi báo đồn Mường Sang về toán Goblin năm ngoái, khi tìm được Phan Long, anh chiến sỹ nọ và phó chủ tịch Mung chỉ còn thiếu chết ngất vì quá mệt...

Không chậm trễ, chỉ đến khoảng 10 giờ sáng, cả ba tổ mai phục của Phan Long đã cùng lên tới hợp điểm trên đỉnh Pú Chài. Và ngay buổi chiều, các chiến sỹ đi trinh sát về đã báo cáo cụ thể: địch thả dù đêm qua ở ngọn Pú Chài 7. Leo lên các cây cao, các chiến sỹ ta đã nom rất rõ nhiều hòm đồ còn vướng dù nằm rải rác khắp các bãi tranh trên đỉnh ngọn, giữa rừng già dày đặc. Đại đội trưởng Phan Long quyết định: Cho thu hàng, đồng thời tổ chức truy lùng ngay. Nhất định bọn địch ở cách đây không quá xa.
   
An can lại. Theo anh: Cứ để nguyên trạng và vẫn giữ kín lực lượng ta. Nhử cho địch tới lấy hàng, sẽ đón bắt hết. Thu hàng ngay và tổ chức lùng sục lúc này sẽ không khác gì báo động cho địch biết và xua cho chúng cao chạy xa bay. Đại đội trưởng Phan Long không nghe. Anh là người trực tiếp có quyền cao nhất ở đây, lúc này... Nhưng cuối cùng Phạm Cận, con người kiên nhẫn đến “kinh hồn” ấy đã ủng hộ ý kiến của An. Kế hoạch được đổi lại: Bí mật bao vây khu đổ hàng. Tiếp tục kiên trì đến cùng chờ giặc đến...
   
Không phải chờ lâu. Chỉ ngay đêm sau, bọn địch sốt ruột phải mò tới lấy hàng, đúng như dự kiến của ta. Ba tên vừa mò vào tới bãi đã bị quân ta phục sẵn xông ra bắt gọn, không tốn một phát đạn. Ta bắt chúng phải đưa ngay tới nơi cả bọn đang trú ẩn... Thì ra đó là ngọn Pú Chài số 5. Khi quân ta ập tới, tên toán trưởng Đèo Văn Chính đang ngồi cắt gọt cái gì đó bằng một con dao găm. Thấy động, và vốn tinh khôn cảnh giác, tên này kịp phóng con dao ra, rồi bỏ chạy cùng đồng bọn. Nhưng chạy đâu cho thoát ta đã bắt gọn ngay. Hai tên ở phía sau kịp lao ra rừng rồi nhào xuống suối sâu trốn thoát sang bên kia biên giới. Nhưng cũng rất may, theo chỉ thị Ban bí thư Trung ương Đảng về bảo vệ an ninh phòng chống gián điệp biệt kích, Bộ Công an đã hướng dẫn cho các lực lượng biên phòng sớm tổ chức các toán trinh sát ngoại biên phối hợp với lực lượng vũ trang và an ninh cách mạng của bạn Lào trong nhiệm vụ này. Khi hai tên gián điệp biệt kích nọ chạy được qua đất Lào mới có hai hôm, đói quá, chủ quan cho rằng bên này an toàn rồi, nên mò vào nhà dân xin ăn. Nào ngờ dân bản vừa cho ăn vừa mật báo cho an ninh Bạn và trinh sát ngoại biên của ta đến bắt.
   
Thế là toàn bộ toán gián điệp biệt kích mang tên Rimos đã bị tóm gọn do ta đã biết vận dụng các biện pháp tổng hợp linh hoạt, hoạt động vũ trang, trinh sát bí mật, vận động quần chúng, và phát huy được cả ở nội, ngoại biên có hiệu lực, thực hiện “lùng trong vây ngoài” làm cho địch không còn đường nào thoát...
   
An chỉ ở lại theo dõi thêm mấy ngày khai thác khẩu cung, rồi trở về Cục báo cáo...

Tổng hợp lại tất cả những lời khai ban đầu của cả bọn Rimos, có thể thấy rõ mấy điều: Trước hết bọn này do Senaghi, viên đại tá CIA mới hung hăng và bạo phổi trực tiếp đánh đi. Và đúng như ta dự đoán: chúng có tham vọng: nếu như đã có toán Goblin bên phía đông đường 41, toán Rimos sẽ làm toán nòng cốt ở phía tây đường này, để rồi mở rộng các căn cứ và lực lượng ra toàn vùng. Nhưng khác với tất cả các toán trước: Bọn Mỹ bắt đầu thay đổi phương thức đột nhập: bỏ vào đường biển, vì đã lộ, nay dùng trực thăng đưa bọn biệt kích gián điệp qua Lào, dừng chân ở đó ít lâu nghe ngóng, chuẩn bị mọi mặt rồi mới xâm nhập vào Việt Nam bằng đường bộ. Như thế vừa bí mật vừa an toàn. Cũng vì thế đúng như bọn Storm đã khai: tụi Rimos này đã được đánh đi trước đó chừng hơn một tháng và tụi này đã có điện liên lạc về Sài Gòn hai, ba lần. Chỉ có điều là khi ấy tất cả vẫn còn ở trên đất Lào. Cũng vì thế, bây giờ mới rõ vì sao Bộ Công an Việt Nam chưa có tin gì để báo sớm cho các cơ sở đối phó...
   
Nhưng cũng qua lời khai của tên toán trưởng Đèo Văn Chính mà An cùng trực tiếp khai thác khẩu cung với một cán bộ Công an Khu, anh đã nhận được một tin khá đặc biệt khác, chưa biết rõ thực hư.
   
Sau khi hỏi hết mọi điều chính ngay tại trận, An đã vui miệng hỏi thêm tên Chính (toán trưởng Rimos):

- Có biết Cầm Diêu không?
   
Tên Đèo Văn Chính tỏ ra khá ngạc nhiên. Nó ngập ngừng hỏi lại:
   
- Vậy, thưa ông, thưa ông... Cầm Diêu đã... đã...
   
An gạt đi:
   
- Tôi chưa muốn nói điều gì về người này. Tôi chỉ hỏi anh có biết Diêu không?
   
- Dạ, thưa tôi có biết, thậm chí là bạn nữa...
   
- Vậy anh có biết cô Lò Thị Nhạn chứ? Cô ấy khỏe chứ! (Ý anh muốn hỏi để thử nghĩ xem nếu có thể tìm cách đưa cô ta ra Bắc được không?)
   
- Dạ, có, có chớ! Cô ấy là vợ Cầm Diêu mà, thưa ông. Cô ta vẫn mạnh giỏi.

- Cô ấy vẫn ở 389/112 đường Yersin Nha Trang chứ?
   
Tên Chính càng ngạc nhiên hơn nữa:
   
- Dạ, thưa đúng đó là nhà bố mẹ cô ấy. Cô ấy lấy Cầm Diêu, nhưng Diêu luôn đi vắng. Cô ấy ở cùng gia đình. Nhưng nay đi mất tiêu rồi.
   
Đến lượt An ngạc nhiên:
   
- Đi đâu?
   
- Thưa, đi theo thằng Quyến sang Thái Lan. Thằng này là một trong những đầy tớ của ông Nhu nên được sang làm tùy viên quân sự bên đó.
   
- Hả? Nhưng sao vậy? Sao cô Nhạn lại đi theo nó? - An không khỏi sửng sốt.

- Thưa ông, thằng Quyến nó mê con Nhạn, cứ anh nuôi em nuôi suốt, o bế đủ điều, lại còn cưỡng bức... Nhưng con vợ Cầm Diêu thật ra cũng chẳng ra gì. Vào Nam chỉ đua ăn diện, bao nhiêu tiền chồng gửi về chỉ ăn chơi bằng hết lại còn mang công mắc nợ, người ta bảo thế. Thế là theo luôn cái thằng lắm tiền quỷ quái, dâm dê kia!
   
- Bây giờ có tin gì về... cô ta nữa không? - An gặng.
   
- Dạ không! Tụi anh em bè bạn Cầm Diêu đều rất giận cả hai đứa khốn kiếp nọ.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #65 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 11:18:33 pm »

Chuyện này có lẽ chẳng cần báo cáo tỉ mỉ với Cục. Nhưng với Cầm Diêu thì sao đây? Có nên nói ra hay không? Lợi hại sẽ ra sao? Quả là về mặt này anh chưa hề có một tí teo kinh nghiệm nào hết. Thôi được, lại phải dựa vào các “lão tướng” may ra mới xong! An thầm thự nhủ.
   
An trở về tới Ban. Đã khác trước: từ sau vụ đón nhận toán Storm, Ban chuyên án đã được chuyển địa điểm, rời bỏ khu lán hoang vắng đầy muỗi, dĩn bên sông Đà, để vào ở trong bản Khang Kha. Được ở nhà dân, anh em bây giờ đỡ khổ hơn. Thấy An về, anh em tay bắt mặt mừng khoe luôn tin vui mới nhất: Ông Thạc đã được đề bạt lên Cục phó, trở về Hà Nội để giúp sức cho ông Công Năng. Và ông Trường đã được trên quyết định thay ông Thạc làm Trưởng ban chuyên án.
   
- Vậy Trưởng ban đâu? - An tươi cười hỏi.
   
Anh em cho biết ông Trường có việc đi gặp các cán bộ trong bản.
   
- Vậy còn thằng Páo đâu?- An nhìn quanh, không thấy nó.
   
- À, nó đang hờn, bỏ cả cơm trưa, nằm trong lán ngoài kia! - Một người đáp.
   
An ngạc nhiên:
   
- Chuyện gì vậy?
   
Thậm, cậu cấp dưỡng, kể lại tóm tắt. Khi An đi, ở đội có nhiều thay đổi, ngoài việc ông Thạc về Cục, ông Trường lên thay, còn có việc thay phiên cho tiểu đội cảnh vệ. Nhóm cũ của tỉnh phái đến do một tiểu đội trưởng rất “hắc” và có lẽ cũng... hơi hâm hâm chỉ huy. Anh này rất hay bắt bẻ, hay phê bình qui kết người khác về các khuyết điểm, thậm chí các “tội” về tư tưởng và chính trị. Xem ra anh ta còn nghiêm hơn cả hai ông Thạc và Trường. Cũng vì thế Nữu, anh tiểu đội trưởng ấy, đã sớm đụng với khá nhiều anh em trong đội. Gần đây, Nữu đã “cạo” tới tên Páo. Một hôm nói chuyện có nhắc tới Diệm, Nhu, tên Páo quen miệng vẫn cứ gọi là “các ông ấy”, khi nói tới Kennedy tổng thống Mỹ, Páo cũng gọi là “ông ấy”. Nữu tỏ ra rất giận. Anh phê luôn: gọi kẻ thù như thế là mất lập trường, không có quan điểm! Phải gọi chúng bằng “thằng”, như thế mới tỏ rõ mình vừa có lập trường vững vàng vừa rất căm thù chúng. Tên Páo không chịu. Nữu càng nổi sùng, càng lên mặt cán bộ, lên án nó khá thô bạo, nào là: “ngụy binh vẫn còn nhớ chủ cũ”, nào là “phí công Cách mạng giáo dục”. Tên Páo cãi càng hăng... Anh em đã phải báo cáo ông Trường. Ông đã giải thích cho cả đôi bên. Nhưng xem ra chưa thật thông cho lắm. Tên Páo nói nó sẽ bỏ việc, từ nay không lên phiên điện đài nữa, bị nghi oan như thế ức lắm, nó chỉ muốn chết, nó sẽ chết...
   
- Vậy, thủ trưởng Trường đã biết cặn kẽ tất cả như thế chưa?
   
- Chắc cũng biết, nhưng “bác” phải đi gặp trưởng bản có việc gì đó. Bác hẹn tối nay sẽ lại gặp cả đôi bên lần nữa. Bác có vẻ cũng lo: ngày kia đã đến phiên liên lạc với bọn trong ấy rồi. Thằng Páo mà nghỉ thì... gay. Không khéo sẽ hỏng tiệt mọi việc. Chán thế!
   
Nghe xong, chính An cũng thấy chán. Không ngờ đội đang bắt đầu có đà “làm ăn” lại xảy ra chuyện hết sức vớ vẩn nhưng lại thực sự nguy hiểm này. Cậu Thậm cấp dưỡng nói không phải là vu vơ: đúng là không khéo sẽ hỏng hết mọi chuyện! An kéo Thậm cùng tới lán của Páo. Vừa đi được mấy bước đã thấy một hạ sỹ rảo bước đi ngang qua. Thậm giật khẽ tay Àn: “Đấy, tay Nữu đấy!” An nhìn theo: đó là một hạ sĩ to béo có một bộ mặt cháy nắng, vẻ nông dân chất phác nhưng khá cứng cỏi. An đã có kinh nghiệm, là một tuýp người ít học, khá thiển cận, nhưng trung thành thì tuyệt đối. Bảo nhảy vào lửa vì cách mạng, anh ta sẵn sàng nhảy ngay, không hề do dự...
   
An và Thậm đi tiếp tới chiếc lán của Tráng A Páo. Quả là hắn ta đang nằm trên sàn nứa, mặt quay vào trong vách hậu không rõ đang ngủ hay thức. An và Thậm vừa bước vào, Páo quay ra nheo nheo mắt nhìn. Khi nhận ra An, Páo ngồi dậy, lí nhí chào. An ghé ngồi xuống. Anh ngắm nhìn nó: quả là hốc hác, rầu rĩ khá nhiều. Hắn ngồi co hai chân lên, gục mặt xuống hai đầu gối. An cũng ngồi im lặng một lúc sau mới khẽ đặt tay lên vai nó:

- Páo! Mình vừa về, được nghe sơ qua mọi chuyện rồi. Nhưng thấy không có gì quan trọng cả. Mà thủ trưởng Trường đã giảng giải và phê bình cả hai bên rồi, phải không? Vậy còn điều gì phải áy náy nữa, Páo?
   
Tên Páo ngẩng mặt lên. Hai mắt nó đỏ ngầu. Mặt nó nhăn nhúm lại như muốn khóc:
   
- Cán bộ mới về, biết sao được!
   
- Vậy còn điều gì chưa vui, nói cho mình nghe!
   
- Còn chứ! Tôi chỉ muốn chết thôi, cán bộ ạ.
   
- Sao lại như vậy ?
   
- Cán bộ Trường nói thì nói, cán bộ đi khỏi, anh Nữu vẫn thù tôi lắm. Tôi biết.
   
- Thù thế nào?

- Tôi không biết nói. Nhưng tôi cũng không sợ anh ấy đâu. Tôi buồn lắm. Bao nhiêu công sức của tôi, tất cả gan ruột tôi... đều đem ra hết cho cách mạng, mà bây giờ anh ấy vẫn chửi tôi là ngụy, ngụy vẫn nhớ chủ cũ. Thế là anh ấy muốn giết tôi đấy cán bộ An ơi!
   
- Nóng giận thì nói quá đi thế thôi. Chắc anh Nữu cũng đã thấy mình sai rồi. Vậy có gì quan trọng đâu. Anh em tôi ở với nhau đôi khi cũng có câu này câu kia không đúng, nhưng rồi thông cảm nhau, quên hết ngay.
   
- Nhưng anh Nữu không quên đâu. Tôi biết. Mà tôi cũng không quên. Chưa có ai chửi tôi như anh Nữu chửi thế. Tôi xin thôi không làm việc nữa. Các cán bộ cứ đem trả tôi về nhà giam. Muốn bỏ tù tôi đến suốt đời tôi cũng vui lòng, còn hơn hàng ngày trông thấy mặt anh Nữu.
   
Càng nói, tên Páo càng như đau hơn và quyết chí hơn. Không còn nghi ngờ gì nữa: nó đã bị xúc phạm khá nặng. Biết nói với nó lúc này chưa thể giải quyết được gì hơn, An vỗ vai nó bảo cứ nghỉ đi, anh sẽ gặp lại nó sau. Cũng lạ, đang vùng vằng, giận dữ như vậy, nhưng khi An đứng dậy đi ra, tên Páo vội ngẩng đầu lên. Bộ mặt nó dịu hẳn đi, nếu không muốn nó là rất buồn. Nó nói với theo anh:

- Cán bộ An ơi, tha thứ cho tôi nhá! Tôi làm việc với cán bộ An gần một năm nay. Tôi rất quý cán bộ. Tôi chỉ muốn ai cũng như cán bộ cả. Bây giờ tôi làm cán bộ buồn, tôi có lỗi quá. Nhưng tất cả mọi chuyện này không phải tôi gây nên, cán bộ hiểu cho tôi...
   
An khẽ gật đầu, đưa bàn tay lên lắc lắc ra hiệu cho nó cứ yên tâm, anh không giận nó.
   
Một lúc sau, ông Trường về. An đứng nghiêm lại, đưa tay lên trán chào vui:
   
- Xin chào trưởng ban - đội trưởng!
   
Ông Trường ngồi xuống, phanh áo, cầm chiếc quạt lá cọ quạt lấy quạt để, cười khà khà:
   
- Cái thằng tớ mang tiếng hay cãi bướng, lại hay ăn nói văng tê,... vậy mà cũng được đoái hoài thế này cũng là... được lượng trên rủ xuống đấy cậu ạ! Các cậu còn trẻ tinh xảo hơn thế hệ tớ, chắc sớm thấy được: ở đời này tài năng và kết quả cống hiến cụ thể đã là quan trọng, nhưng té ra: biết ứng xử cũng là điều không hề thua kém.

An chỉ cười và thầm nói vui: “Bố này vẫn cứ thế, có lẽ suốt đời vẫn cứ thế không thay đổi được, hoặc chẳng cần thay đổi!” Rồi tranh thủ thời gian, anh báo cáo luôn việc tham gia vụ truy tìm toán Rimos của anh trong tháng vừa qua bên phía tây đường 41. Ông Trường gật đầu:
   
- Tốt. Nhưng cậu cũng máy móc bỏ mẹ! Cứ về thẳng Hà Nội báo cáo với ông Công Năng có phải nhanh, và lại có dịp tranh thủ ghé qua nhà ngó vợ con một tí không! Công việc, Cục giao cho cậu, chứ có phải bọn tớ đếch đâu!
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #66 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 11:22:29 pm »

An thừa nhận mình có máy móc thật. Cứ nghĩ đơn giản và rất có ý thức tổ chức rằng: lệnh của Cục gửi cho Ban. Ban cử mình đi, mình phải về Ban báo cáo trước, như thế là đúng. Vậy phải chăng mình đã sớm có điều gì đó như bắt đầu trở nên... ít ra là xơ cứng? Nhưng rồi bỏ qua chuyện đó, anh hỏi về chuyện giữa tên Páo và Nữu:
   
- Anh biết tên Páo vẫn rất giận và định bỏ việc không?
   
- Có! Biết! Định đêm nay sẽ giải quyết dứt điểm. Ông Trường nghiêm chỉnh đáp.

An chăm chú:
   
- Anh sẽ giải quyết cách nào? Tôi thấy cũng không dễ lắm đâu. Hai đứa đều găng cả. Về Nữu, tôi chưa hiểu cậu này, Páo thì tôi biết quá rõ. Nó đâu có phải thằng hai lòng mà xỉ nhục nó như vậy?
   
- Thằng Páo thì đồng ý là biết thế rồi. Còn tay Nữu này, thật ra tớ cũng chưa hiểu nó lắm. Nhưng có thể tin nó là người tốt thôi. Nó quá hăng, và quá cực đoan đi chăng nữa thì nó vẫn là người bảo vệ lập trường quan điểm của ta. Chẳng có lý gì để trách nó. Chỉ có điều là trong hoàn cảnh này, việc này, nó xử sự như vậy là chẳng ra làm sao; máy móc và ấu trĩ quá sức. Ấy, vẫn là cái chuyện ứng xử mà tớ vừa nói với cậu đấy...
   
- Anh nói lại cho tôi nghe đi!
   
- Ở đời này ứng xử cho đúng đã là cái khó, còn đúng mà thích hợp nữa lại càng khó. Cậu đừng có tưởng rằng cứ đúng mà được cả đâu! Không! Phức tạp lắm... Nhưng thôi, không nói nhiều. Tối nay tôi sẽ điện về tỉnh xin trả cậu Nữu về đơn vị cũ của nó. Xin một cậu khác lên thay.

Thật bất ngờ. An không khỏi ngạc nhiên:
   
- Vậy anh không kiên trì giải thích, dàn hòa hai đứa hay sao?
   
- Chúng ta không còn nhiều thời gian. Công việc đang gấp rút. Ngày kia có phiên làm việc với bọn trong kia rồi...
   
- Vậy anh đã tính, đã nghĩ kỹ chưa?
   
Ông Trường lại cười khà khà:
   
- Tớ biết thế nào cậu và các cậu khác sẽ hỏi tớ như thế, có thể có cậu còn muốn hỏi rõ hơn: Này, anh không sợ bị mọi người đánh giá là bênh thằng biệt kích, sa thải đồng chí mình ư? Thế đấy. Nhưng tớ cứ làm. Tớ tin là hoàn cảnh này hai thằng này không thể cùng ở với nhau. Nếu không, ta chỉ còn có việc là bù đầu dàn hoà, còn thì giờ đâu mà đối phó, đánh địch? Đó là chưa nói tới nguy cơ là có thể còn đổ bể cả việc lớn đang trên đà thắng lợi nếu mất tên điện báo viên kia. Vậy, phải dứt khoát và nhanh chóng tách ra mỗi đứa một nơi. Có đuổi ai đâu nhỉ? Còn nếu có ai thích nói ngược nói xuôi thì... tùy!

An lại hỏi:
   
- Nhưng anh có tin là trên sẽ đồng ý với anh không?
   
- Cũng không biết. Nhưng tớ có trách nhiệm ở đây, tớ cứ đề nghị như vậy. Này, bây giờ đến lượt tớ hỏi cậu: Cậu có tán thành ý kiến của tớ hay không, cứ nói thực. Đừng có uốn lưỡi nhé! Cứ nói thực, tớ thích thế!
   
An cười nhẹ nhàng:
   
- Anh căng quá!...
   
- Thì cứ nói đi!
   
- Vậy... Xin được nói thực: tôi cũng đã... thầm nảy ý kiến tương tự như thế.
   
- Hả? Thật hay đùa đấy? - Ông Trường bật cười vang, mở to mắt vui vẻ.

- Nhưng quả thật, dám xin nói là vấn đề khá tế nhị, và khá căng đấy anh ạ! Xin nhắc lại: những anh cơ hội, buôn bán lập trường phen này sẽ có khối chuyện để đàm tiếu.
   
- Không sao hết! Đã bảo ai muốn nói gì cứ nói! Quá lắm thì tớ về vườn là cùng chứ gì? Chẳng lẽ thấy phải, mà lại lùi?
   
Nói đoạn ông Trường phất tay một cái như cắt đứt: Thôi, không bàn nữa...
   
Khi tiểu đội trưởng cảnh vệ Nữu khoác ba lô trở về tỉnh, một tiểu đội trưởng khác là Bưởi, tới thay thế, thì cũng đúng lúc “Trung tâm” ở Sài Gòn lệnh cho Cầm Diêu bàn với Quách Rinh tổ chức trinh sát lại tám mục tiêu trên đường số 41 và phải báo cáo gấp. Tám mục tiêu này gồm các cầu cống quan trọng, mấy ngọn đèo hiểm, cùng một nông trường lớn bên đường nghi là doanh trại quân đội giả danh. Quách Rinh đã trực tiếp nhận những mục tiêu này từ Senaghi và Ngô Thứ Lân, trước khi nhảy ra Bắc.
   
Thế là không khí trong đội lại nóng hẳn lên: Kiểm tra lại tám mục tiêu trên đường 41. Đó là tín hiệu của một giai đoạn mới: từ làm tình báo, âm thầm, bí mật xây dựng cơ sở, nay kẻ địch đã muốn tiến lên triển khai cả các hoạt động mang tính võ trang. Rõ ràng tính quyết liệt của cuộc chiến tranh gián điệp biệt kích đã tăng lên, nói cách khác đã có chuyển biến về chất.
   
Một mặt báo cáo ngay về Bộ, một mặt ông Trường trực tiếp nắm một tổ trinh sát đi xem lại các mục tiêu ấy. Phải đi kiểm tra lại thực sự, y như mọi lần trước, không thể cứ ngồi nhà điện trả lời bọn Mỹ một cách qua loa chiếu lệ. Đấy là một trong những kinh nghiệm không thể coi nhẹ đã có từ “8 tháng gian truân” vừa qua.
   
Trước khi lên đường đi trinh sát lại 8 mục tiêu, ông Trường không quên dặn An:
   
- Ở nhà nhớ nhắc thằng Bưởi! Coi bộ thằng này nhẹ nhàng, hiểu biết khá, lập trường thì ai mà chẳng phải lập trường, nhưng chớ có cái thứ lập trường kiểu thằng Nữu, chối tỷ lắm!
   
Hai ngày sau, nhóm của ông Trường trở về. Cùng vừa dịp nhận được chỉ thị của Bộ “Phải hết sức thận trọng. Địch có ý kiến gì cụ thể thêm, phải trực tiếp về Bộ nhận chỉ thị”. Càng thấy rõ thêm tầm quan trọng của sự việc mới.

Thế rồi mệnh lệnh cụ thể của “Trung tâm” đã được điện ra như một phát súng nổ: ''Trước hết là mục tiêu số 3: Hãy đánh sập cầu Tà Vài!”
   
Ô, cầu Tà Vài?

Ông Trường và An cùng nhận ra: Thằng Mỹ cũng khá tinh. Nó đã chọn một cây cầu khá hiểm yếu, bắc qua một con suối lớn. Thời chống Pháp, trong chiến dịch giải phóng Tây Bắc năm 1952, quân của Đại đoàn 308 anh hùng đã truy đuổi quân Pháp qua cây cầu này để rồi đánh thốc lên Mai Châu, Thuận Châu... Quân Pháp đã bố trí lực lượng chốt chặn ở đây. Một trận kịch chiến diễn ra. Cả một đại đội Âu Phi của Pháp tan vỡ, tháo chạy tả tơi trong khoảnh khắc. Các chiến sỹ 308 như những thiên thần, mũ lá, súng lắp lưỡi lê, rùng rùng chạy qua cầu, đuổi giặc đến kiệt cùng... Đến nay, Mỹ muốn làm ngược lại Pháp: ra lệnh cho âm binh phá cây cầu này, hòng cắt đứt con đường giao thông chủ yếu của cả vùng Tây Bắc chiến lược. Ông Trường lại cười kha kha:
   
- Nhưng có tinh mà chẳng có khôn! Chúng nó ngồi trên tầu bay có nom thấy rõ gì đâu: cây cầu này là cầu sắt dã chiến kiểu Belley, Pháp làm từ lâu. Nay hư hỏng, mọt hết cả một nhịp rồi. Quân ta đã làm một đường ngầm để đi vòng, vượt qua suối. Vậy bây giờ muốn phá, thì phá, có ảnh hưởng đếch gì đâu!
Tuy nhiên Bộ đã dặn: cần phải về Hà Nội để trực tiếp báo cáo và nhận chỉ thị tỉ mỉ, ông Trường sửa soạn ba lô để đi luôn. Trước khi ông đi, An giữ ông lại một lúc:
   
- Có một việc có thể là quan trọng, tôi đã định báo cáo anh ngay từ hôm đi tham gia vụ Rimos về, nhưng gặp ngay chuyện cậu Nữu và tên Páo... Nay anh về Hà Nội có thể gặp lại tên Diêu. Tôi báo cáo lại và xin ý kiến anh...
   
- Sao? Chuyện gì vậy? Vui hay buồn?
   
An kể tóm tắt lại chuyện Nhạn, vợ tên Diêu đã bỏ đi theo tên đại úy Quyến mà bọn Rimos đã nói cho biết. Ông Trường chau mày:
   
- Nhưng có thực thế không?
   
- Bọn nó cam đoan là có nghe đồn rất rộng về chuyện này. Tôi phân vân quá. Không biết có nên cho tên Diêu biết không? Sẽ lợi hoặc hại ra sao?

Ông Trường mím môi suy nghĩ, rồi khoát tay:
   
- Theo tớ: Khoan đã! Dẫu sao vẫn cứ phải thẩm tra lại! Mặt khác để còn cân nhắc: nói ra tên Diêu có thể xuống tinh thần, chán nản không thiết làm gì nữa. Thằng này xem ra yêu vợ vào loại “cuồng tín” đấy!
   
An hoàn toàn đồng ý với ông.
   
Ông Trường về tới Hà Nội khi đồng hồ chỉ 13 giờ 30. Các công sở bắt đầu buổi làm việc chiều. Lưỡng lự một chút, ông tặc lưỡi, rẽ vào Bộ trước. Bước lên hành lang của văn phòng, ông gặp ngay cô trung úy xinh xắn mà ông biết rất có cảm tình với “Mã Siêu” của ông. Cô gái rất niềm nở, thân thiết, ghé tai ông:
   
- Này, cái việc cậu tiểu đội trưởng Nữu ấy mà, đã lên tới Bộ rồi đấy! Người đồng ý với chú, người lại bảo là chú không biết lãnh đạo quần chúng... Nhưng rồi cũng may cho chú, xong xuôi cả.
   
Ông Trường chỉ nhếch mép cười. Cô gái mách tiếp:

- Còn hôm vừa rồi, buồn cười quá, sau thắng lợi vụ Storm “Cụ” cho mời ông Hoàng Thự bên tham mưu Công an vũ trang sang, cái ông vẫn dè bỉu các anh, các chú là “Công an hành chính, lừa sao được tụi Mỹ” ấy mà! Ông Thự tưởng có chuyện gì lớn, vội vàng sang. “Cụ” mời ngồi, rồi thong thả nói: Này, cái bọn “Công an hành chính” chúng nó vừa lừa được Mỹ, câu bắt được một toán lớn với hàng tấn vũ khí, thuốc men, lương thực đấy”! Nói xong, “Cụ” bảo: “Thôi, báo tin vui cho biết thế. Về đi!” Chú biết thế nào không, ông Hoàng Thự ra về mặt cứ đỏ như gấc chín, gặp ai cũng phàn nàn là chỉ nói vui vậy thôi mà “cha nào” đã bô báo để Bộ trưởng gọi lên “xát xà phòng” cho một trận nên thân...
   
Tới lúc ấy thì ông Trường không thể mỉm được nữa mà ngửa cổ lên cười kha kha hết sức sảng khoái.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #67 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 11:24:08 pm »

Lát sau ông được mời vào làm việc với Cục trưởng Công Năng và ông Thạc - Cục phó mới. Với ông Công Năng, bao giờ ông Trường cũng rất trọng tài năng, nhất là sự thông minh, sắc sảo. Nhưng với ông Thạc, anh em gắn bó cùng chia sẻ ngọt bùi đã lâu nay gặp lại nhau ông Trường thực sự cảm động xiết chặt tay bạn. Ông Thạc cũng ôm choàng lấy ông Trường, và hỏi ngay: “Đã ghé về nhà chưa? Tụi tớ vừa kéo ra chơi hôm chủ nhật, thấy khỏe mạnh cả, cũng mừng!” Ông Trường thấy lòng mình ấm lại. Thế đấy, cấp trên hoặc bạn bè lắm khi chẳng cần phải cho nhau cái gì hết, chỉ cần một câu thăm hỏi, một chút quan tâm tới gia đình vợ con cho nhau thôi... cũng đủ quý, đủ làm cho người ta có thể sẵn sàng và tiếp tục chịu đựng mọi nỗi gian lao, vất vả.
   
Ba người bắt đầu làm việc. Ông Trường báo cáo lại mọi việc vừa qua, đặc biệt ông được hai vị Cục trưởng, Cục phó yêu cầu báo cáo rất tỉ mỉ về cây cầu Tà Vài... Rồi ông Công Năng thong thả nói, và cũng như tất cả mọi bận, ông nói những gì mang tính tổng hợp trước:
   
- Bộ trưởng lẽ ra cũng nghe anh báo cáo hôm nay. Nhưng anh ấy phải họp Bộ Chính trị. Tôi được biết Bộ trưởng rất vui khi thấy công việc tiến triển như thế này. Bộ trưởng có nhấn mạnh rằng: địch bắt đầu mở rộng các hoạt động mang tính vũ trang, như thế có nghĩa là cuộc chiến sẽ nóng hơn lên, đúng như Đội các anh nhận xét. Nhưng Bộ trưởng có nói thêm: như vậy cũng phải thấy đây là một dấu hiệu cho ta biết: sự tín nhiệm của chúng với Goblin đã tăng lên. Đúng như thế! Vậy điều này cũng chứng minh mọi chủ trương, mọi đối sách của ta đã thắng. Và địch đã vào tròng! Bây giờ đề nghị anh Trường cho biết ý kiến: Việc phá cây cầu này ta chấp nhận hay không chấp nhận?
   
Ông Trường ngồi thẳng lưng lại. Vấn đề quả là không đơn giản. Nhưng vốn là tay quen suy nghĩ nhanh và dám quyết đoán, ông trả lời không khó khăn lắm:

- Báo cáo, theo tôi cứ cho phá!
   
- Để làm gì?
   
- Báo cáo, tôi nghĩ rất dễ hiểu: để tiếp tục gây tín nhiệm với bọn “Trung tâm” tiếp tục câu nhử, “moi gan móc ruột” chúng những cú lớn hơn nữa.
   
- Nhưng phá như vậy có ảnh hưởng tốt xấu thế nào?
   
Câu hỏi có vẻ chưa rõ ràng. Ông Trường có ý muốn đề nghị nhắc lại. Ông Công Năng hiểu:
   
- Tôi muốn đề nghị đồng chí cho biết ý kiến của mình: Nếu ta phá, đồng ý là đối với địch như thế sẽ làm cho chúng tin ta hơn. Nhưng với dân ta? Nên nhớ ta đang hoà bình, ổn định thế này mà để cho biệt kích phá một cây cầu khá lớn trên con đường chiến lược ấy, thử xem dân tình có xao xuyến, lo ngại không? Còn nếu ta lại thông báo cho dân biết chính ta phá, thì uổng! Gián điệp mặt đất nó báo về Sài Gòn ngay, lộ hết!...

Ông Trường đáp lại không phải suy nghĩ gì nhiều lắm:
   
- Báo cáo, theo tôi, tất nhiên là không dại gì thông báo cho dân là ta vờ phá cầu để lừa địch. Phải làm y như thật. Đó là nguyên tắc tình báo. Nhưng để dân khỏi xôn xao, thì cũng có cách: Thật ra nơi đó rất xa dân, vắng vẻ. Có tiếng nổ cũng ít có chấn động. Hơn nữa, cây cầu đã bỏ hoang. Nay nó sụp, người qua kẻ lại có thể tin là lâu ngày thì nó đổ. Nhưng cẩn thận hơn, nếu đánh ta nên chọn một đêm mưa gió có sấm sét...
   
Các ông Công Năng và Thạc đều cho ý kiến của ông Trường tạm nghe được, có thể báo cáo lên Bộ trưởng. Ông Công Năng tiếp:
   
- Tuy nhiên muốn gì thì gì đây vẫn là chuyện không nhỏ, không thể coi thường. Bộ trưởng đã sơ bộ có ý kiến là: trước hết phải báo cáo và xin chỉ thị của Bác. Sau nữa phải xin thêm ý kiến các đồng chí Phạm Văn Đồng và Lê Duẩn nữa. Thật vậy, nếu không, xảy ra chuyện gì, Bộ ta sẽ lãnh đủ.
   
Đến lúc ấy, nghe thấy phải xin cả ý kiến Bác Hồ và đồng chí Phạm Văn Đồng, đồng chí Lê Duẩn nữa thì ông Trường bắt đầu thấy nhột:

- Vậy, vâng, xin chờ! Tầm cỡ cơ sở điếc không sợ súng như chúng tôi chỉ dám có ý kiến như vậy thôi!
   
Và phải chờ thật. Không phải một ngày, mà tới ba hôm sau ông Trường mới được gọi vào Cục. Vẻ mặt vui vẻ khác mọi khi, ông Công Năng thông báo đã có quyết định: cho phá! Ông Trường trút ra một hơi thở rõ dài. Ông Công Năng cho biết thêm: Sau khi nghe Bộ trưởng báo cáo, Bác nói: “Các chú tính toán cho kỹ, thấy có lợi cho Cách mạng thì cứ làm”. Các đồng chí Phạm Văn Đồng và Lê Duẩn cũng có ý kiến tương tự.
   
Thế là ngay tức khắc ông Trường sang trại giam Thanh Đồng. Kế hoạch của ông đã được duyệt: lấy đi theo ông hai tên gián điệp biệt kích của toán Goblin chuyên việc phá hoại để giao cho chúng tính toán lượng thuốc nổ, và trực tiếp cài, đánh cho đúng với những gì chúng đã được học tập. Tất cả phải như thật. Phương châm ấy ông vẫn luôn luôn quán triệt.
   
Trại Thanh Đồng bây giờ đã “đông vui” khác hẳn những ngày tháng 6 năm ngoái (1961), hồi đó mới chỉ có toán Goblin. Tới nay 10 toán nhảy ra đều bị tóm hết. Trừ những tên đã chết, còn phần đông lần lượt được đưa về khu trại giam đặc biệt này. Ngồi nói chuyện với viên thiếu tá trại trưởng, nhìn ra sân vận động nhỏ, ông Trường thấy bọn tù đang chơi bóng chuyền khá sôi nổi. Chúng cũng hò reo, cũng vỗ tay rộn rã, rất hồn nhiên. Thể thao cũng lạ! Nó có thể tạo được những giây phút hoàn toàn sảng khoái, vô tư cho cả những con người đang đau khổ hoặc trầm uất. Ông nhìn thấy Cầm Diêu. Hắn đang chơi, có cả tên toán phó cũ Lò Văn Sính “Mặt chảo gang” bị đạn ghém của Keng (dân quân) vào đầu và mông (nay đã lành hẳn) cũng đang ở đó. Ông biết: Cầm Diêu cũng như nhiều tên khác đều được giữ hoàn toàn bí mật về việc tự nguyện cộng tác với ta đánh địch. Đứa nào chỉ được biết riêng mình đứa ấy. Đó là nguyên tắc. Trông thấy tên Diêu, ông Trường lại sực nhớ tới chuyện vợ nó - cô Nhạn - mà An mới nói cho ông biết. Không khỏi thở dài, nhưng ông đang cần phải đi ngay, chưa có thì giờ để gặp hắn...
   
Mờ sáng hôm sau, hai tên Hoàng Văn Lanh - răng vàng - G4 và Lò Văn Chơm, tóc rễ tre G5 đã được bí mật đưa tới địa điểm tập trung để cùng đi với ông Trường. Một tổ cảnh vệ có nhiệm vụ canh giữ hai tên này. Có thêm hai cán bộ trinh sát mới được điều từ địa phương về, cùng đi theo để tăng cường cho Đội trong nhiệm vụ mới. Được gặp lại ông Trường và theo ông đi làm nhiệm vụ (dù chưa biết nhiệm vụ gì), cả hai tên Lanh răng vàng và Chơm tóc rễ tre đều tỏ ra hết sức mừng rỡ, vui thích. Ông cười, vỗ vai hai đứa. Ít nhất ông cũng hiểu được: cứ được ra khỏi trại giam một buổi đối với chúng đã như “lên tiên” rồi, chưa nói tới vinh dự gì khác...

- Chúng mày khỏe cả chứ?
   
- Dạ bẩm cán bộ, khỏe ạ!
   
- Tốt. Nhưng có sốt ruột không?
   
- Dạ, bẩm... - Tên răng vàng lại gãi đầu gãi tai - bẩm thú thật là... cũng có. Nhưng tụi em hiểu là phải phấn đấu lâu dài...
   
- Tốt! Thôi, nào ta đi!
   
Chiếc xe Rumani “vừa đi vừa chữa” bắt đầu nổ máy, phụt ra một đám khói mù mịt rồi phành phành phóng đi một cách đầy vui vẻ, kiêu hãnh... Vừa ngồi lên xe, ông Trường đã phải móc túi lấy ra một bọc thuốc, bỏ vào miệng mấy viên liền. Chủ yêu vẫn là các thứ thuốc về tim và đường ruột. Từ mấy hôm nay ông lại thấy “cỗ lòng mình bất ổn”. Uống thuốc xong, ông thầm điểm qua lại việc nhà: nhìn chung vợ con đều khoẻ mạnh. Mấy đứa trẻ học cũng được, tất nhiên chẳng có đứa nào vào loại khá, giỏi, vì có ai kèm cặp? Vợ ông vốn là nông dân chỉ mới lớp hai, lớp ba. Bây giờ suốt ngày, kể cả gần như suốt đêm bà phải ôm lấy chiếc máy may để kiếm sống. Bà thở than riêng với ông: túng bấn quá. Nhà chẳng còn cái gì để bán nữa. Tiền công may quần áo tù cũng rẻ mạt y như ở các cơ sở may gia công, hoặc quốc doanh. Chỉ đủ hạt gạo ăn... Mà con người ta sống còn cần biết bao nhiêu thứ khác nữa... Không trông vào đâu được!
   
Ông chỉ còn biết an ủi: “Nước nhà còn chiến tranh mà!”. Rồi lại khoác ba lô ra đi, cố tự giấu mình một nỗi buồn, và cứ cảm thấy mình y như một kẻ vô trách nhiệm! Dịp này ông cũng ghé qua nhà An. Cũng khổ! Thằng Toàn lại ốm, lại phải vào viện. Thằng bé quặt quẹo quá! Nhưng Thùy, vợ An cứ khẩn khoản: “Em xin bác, nếu có gặp nhà em, chớ có cho anh ấy biết. Anh ấy lại đứt ruột đứt gan mất”... Thế đấy, không hiểu có nên nói hay nên theo lời Thùy?... Nhưng rồi rất nhanh chóng, ông đã phải quay về với công việc trước mắt. Cần có một lịch làm việc sao cho thật gọn, thật nhanh và có hiệu lực. Việc thông báo tối mật chủ trương này với Bộ Giao thông, với bên Quân khu (quân đội), với Khu công an với tỉnh nữa, đã có Bộ trực tiếp lo. Còn huyện và xã, thì sao? Lẽ cố nhiên tỉnh sẽ phải làm việc này theo hệ thống ngành dọc của họ, nhưng Đội của ông sẽ phải làm gì, chẳng lẽ cứ cắm đầu bí mật chuẩn bị, rồi đùng một cái cha con kéo nhau ra, cho nổ luôn cây cầu mà không cần liên hệ trước với ai hết, không chủ động chuẩn bị trước một tí gì cho dư luận dân chúng? Và ngày giờ sẽ phải chọn ra sao? Lẽ cố nhiên bọn “Trung tâm” không thể máy móc quy định cứng nhắc chuyện này... Rồi còn những việc phải làm sau đó như theo dõi tư tưởng của nhân dân địa phương, để liệu bề giải thích sao cho thật thích hợp mà vẫn giữ được tuyệt mật? Đó là chưa kể việc phải theo dõi chặt chẽ phản ứng của “Trung tâm”, xem chúng có tin là “đã có một vụ phá hoại ngoạn mục” không hay lại nửa tin nửa ngờ?
   
Năm hôm sau. Một đêm mưa có sấm chớp nhoáng nhoàng, vang động cả núi rừng. Bên con đường 41 cắt dọc suốt miền Tây Bắc bao la, bỗng xuất hiện những bóng đen từ các bụi rậm ở dưới một con suối khá rộng. Những bóng đen ấy cứ theo dọc suối tiến rất nhanh về phía cây cầu sắt Tà Vài đã bỏ hoang từ lâu vì trụ vỡ, một nhịp đã rỉ mòn sắp gãy. Tới đây những bóng đen lại thoắt biến mất trong các bụi cây ở hai bên đầu cầu và dọc hai bên taluy. Con đường trải nhựa xưa nay đã xuống cấp, gần như chỉ còn trơ lại toàn sỏi đá. Chỉ lát sau lại thấy hai bóng người thoắt hiện lên trên cây cầu. Nhanh nhẹn một cách khác thường, cả hai lúi húi làm những việc gì đó trên mặt cầu, rồi còn luồn cả xuống dưới gầm các nhịp sắt... Chỉ khoảnh khắc sau cả hai lại biết mất. Tất cả mọi vật lại chìm trong mưa rơi tơi tả và ánh chớp thi thoảng lóe lên sáng rực cả một vùng trời, cùng tiếng sấm vang động.
   
Khoảng 30 phút sau bỗng hai cột lửa lớn đỏ khé vụt bùng lên từ cây cầu, tiếp liền là hai tiếng nổ như hai tiếng sét rung chuyển cả núi rừng. Khi ánh lửa vụt tắt, dư âm của hai tiếng “sét” còn lăn dài mãi trên dọc hai triền núi. Cây cầu đã gãy gục hoàn toàn ở giữa lòng suối. Hai khung ở sắt hai đầu cầu gần như dựng đứng lên. Bầu trời tiếp tục tối tăm và nhòe nhoẹt mưa rơi...
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #68 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 11:27:19 pm »

15

 Không phải chỉ có điện từ ngoài Bắc báo về, mà còn có cả không ảnh máy bay trinh sát đã chụp được khá rõ, kể cả các cơ sở của CIA ở bên Lào cũng cho biết là mới được các nhân viên ở biên giới báo là có “một lực lượng nào đó” đã phá sập một cây cầu quan trọng trên đường 41 bên Bắc Việt... Những nguồn tin và chứng cứ nóng bỏng ấy đã hoàn toàn khẳng định, xác minh liên toán Goblin - Storm, đã phá được cây cầu Tà Vài đúng theo khẳng lệnh của “Trung tâm”.
   
Tất cả mọi nhân viên CIA, và cả một số nhân viên phía Diệm, Nhu có nhiệm vụ liên can tới việc này đều hết sức vui mừng. Nhưng trong số những tên đó, tỏ ra vui mừng hơn cả là Senaghi. Anh ta đang vui vì vừa nhận được tin của tên Argus ở Quảng Ninh báo về đã tuyển mộ được 5 nhân viên, thì có thêm tin về cây cầu Tà Vài này nữa. Anh ta lập tức mở ngay một cây Whisky thượng thặng tự thưởng cho mình vài ly thật “đã”. Nếu so sánh thì tin về cây cầu còn có phần quan trọng và nổi bật hơn chuyện tuyển mộ người của Argus khá nhiều. Vui quá! Vui và tự hào nữa. Tự hào là thay Raphter, anh ta đã góp phần quyết định sử dụng lại toán Goblin sau 8 tháng thử thách, và cũng chính anh ta đã quyết tâm bổ sung cho nó toán Storm cùng một số vũ khí và phương tiện đáng kể, để rồi liên toán Goblin - Storm đã lập được chiến công xuất sắc: lần đầu tiên phá hoại được một cây cầu quan trọng, cắt đứt đường giao thông chiến lược trên toàn vùng Tây Bắc Việt Nam. Colby và đại tướng Harkins Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy tối cao Mỹ ở Nam Việt Nam (MACV) đã được nghe báo cáo. Cả hai đều khen Liên toán này, và bảo Diệm phải tặng cho chúng “Anh dũng bội tinh”, tặng riêng tên Cầm Diêu “Huân chương bảo quốc”. Tất nhiên Senaghi cũng thầm hiểu: công trạng về phía anh ta cũng sẽ được CIA ghi nhận là cái chắc.
   
Tin vui nhận chưa bao lâu, tụi Goblin - Storm lại vừa có điện xin tiếp tế để chúng tiếp tục chuẩn bị đánh phá các mục tiêu tiếp theo.
   
Tuy nhiên, lần này chúng yêu cầu một khối lượng khá lớn. Đúng là khá lớn! Xét cho cùng cũng được thôi, miễn là chúng phải tiếp tục đánh thắng! Chỉ có điều đặc biệt đáng chú ý là lần này chúng xin cả Rocket 3.5 và 4.5! Đây là hai loại vũ khí hiện đại, mới nhất mà Mỹ lần đầu đưa sang chiến trường Việt Nam. Vậy mà tụi này đã sớm xin như thế có vội quá không? Phải xin ý kiến sếp Colby đã đành. Có lẽ còn phải xin phép cả tư lệnh tối cao của MACV là tướng Harkins nữa.
   
Mọi băn khoăn của Senaghi đã được giải toả sau có ba ngày trình lên Colby để Colby trình lên Harkins. Đã có trả lời: đồng ý tiếp tế đủ những gì mà Liên toán yêu cầu. Không những thế, Colby còn dặn Senaghi yêu cầu phía Diệm Nhu, kịp thời cho gửi kèm theo hàng những huân chương tặng thưởng cho bọn Liên toán và Cầm Diêu, như vậy chúng sẽ càng thêm phấn chấn, hăng hái.
   
Quyết định ấy như cởi ruột cởi gan Senaghi. Sáng nay anh ta chủ động sang gặp bọn Lê Quang Tung và Trần Khắc Tính (phó của Tung) để làm việc, một là nghe bọn Tung tường trình về tình hình các lực lượng do Liên đội quan sát vừa tuyển mộ thêm đồng thời báo cho bọn Tung biết quyết định của MACV đồng ý cho tiếp tế cả hỏa tiễn 3.5 và 4.5.
   
Chiếc xe của Senaghi vừa lướt tới đường Lê Lợi thì phải dừng lại. Một cuộc biểu tình lớn đang kéo dài từ chợ Bến Thành tới trước cửa tòa nhà Quốc hội. Gần như toàn là màu vàng nghệ chói sáng dưới ánh mặt trời gay gắt. Tiếng hò hét vang động. Băng rôn, biểu ngữ nhan nhản. Lại Phật tử! Senaghi nhún vai, thở phù. Từ mấy tháng nay những cuộc biểu tình của giới tăng ni Phật tử luôn nổ ra chống chính quyền Diệm. Báo hại thay, Lệ Xuân, vợ Ngô Đình Nhu, người đàn bà ấy đã không giúp gì cho anh em ông chồng dẹp đi những chuyện rắc rối ấy, ngược lại như đổ thêm dầu vào lửa. Bà ta luôn điên khùng tuôn ra những lời lẽ hết sức vô lễ, ngang ngược. Bà ta và cả Diệm, Nhu có lẽ chưa hiểu hết, vấn đề Phật tử ở đây hôm nay đâu chỉ là vấn đề tôn giáo! Có thể Diệm Nhu đã bấn lên, đến mức gần như mất hết bình tĩnh và tỉnh táo. Họ mất tỉnh táo có lẽ còn vì các hoạt động chống đối, đòi dân chủ, đòi cải thiện dân sinh và công bằng xã hội của sinh viên, học sinh trí thức và các giới khác. Rất lạ là vụ việc nào Diệm, Nhu cũng đều cho là có Việt cộng đứng đằng sau. Thì cứ tạm cho là như vậy đi, nhưng CIA biết: trước hết là thái độ bất mãn thực sự của đông đảo dân chúng, trước kia chỉ thấy nổi lên ở nông thôn thì bây giờ bắt đầu lan vào các đô thị. Dân chúng quả là đã quá ớn anh em nhà họ Ngô rồi. Mà cả Mỹ cũng vậy. Mỹ đã thấy cỗ xe chống Cộng mà mình tốn công tạo dựng nên rõ ràng đã đến lúc cần phải sớm thay cặp ngựa đã già nua lại bệnh tật và hay ương bướng vặt nữa, thì mới hòng tiếp tục được cuộc hành trình theo ý muốn.
   
Đợi gần một giờ sau, chiếc xe mới thoát đi được.

 
*
*     *

Lê Quang Tung và Trần Khắc Tính đang kiên nhẫn ngồi đợi.
   
Senaghi đã tới. Vẫn tác phong quen thuộc, không rề rà chào hỏi hoặc dăm ba câu chuyện xã giao tào lao, Senaghi vừa nghiêm trang vừa hào hứng thông báo luôn quyết định của MACV: đồng ý cho xuất cả 3.5 và 4.5. Lê Quang Tung và Khắc Tính đều rất mừng:
   
- Quá hay! Xin cảm ơn đại tướng và tất cả các ông! Tụi Liên toán hẳn là sẽ hết sức phấn chấn.
   
Senaghi nói tiếp:
   
- Đại tá Colby yêu cầu các ông cho lãnh ngay các thứ Huân chương như đã hứa thưởng cho tụi nó để gửi cùng chuyến hàng này. Gọi Cầm Diêu bảo nó phải tự ra nhận hàng, cũng là nhận Huân chương khen thưởng của thượng cấp, cho thêm phần ý nghĩa và phấn khởi.
   
Lê Quang Tung liếc nhìn Khắc Tính một cái rồi dè dặt:

- Thưa đại tá, theo như tôi biết... Không thể lãnh kịp mấy thứ đó. Kinh nghiệm của chúng tôi là phải vài tháng nữa là nhanh.
   
Senaghi trố đôi mắt xanh lè:
   
- Hả? Sao vậy, ông đại tá?
   
Lê Quang Tung nhăn nhó:
   
- Vậy đó thưa đại tá. Ở nơi chúng tôi thường là như vậy. Đại tá mới qua nên chưa rõ: Dù đã có quyết định rồi nhưng đến khi lãnh được bằng và huân chương thì còn lâu!. Vì còn phải đủ thứ giấy tờ, còn phải qua hết phòng này tới vụ khác... theo thủ tục.
   
Senaghi vẫn chưa hết ngạc nhiên:
   
- Có phải là các vấn đề như tài chính, hoặc nhân sự trọng yếu đâu mà phải cẩn thận, lằng nhằng đến thế nhỉ? Đây chỉ đơn giản là việc khen thưởng, mà đã quyết rồi. Hơn thế nữa tôi tưởng ai cũng phải hiểu: khen thưởng càng mau lẹ chỉ càng có hiệu quả tốt, phải không đại tá?
   
- Vậy đấy, đại tá! - Lê Quang Tung vẫn tiếp tục nhăn nhó và lúng túng đáp.
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #69 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2017, 11:29:10 pm »

Senaghi nhún vai. Thảo nào trước khi sang xứ sở này anh ta đã được một vài người bạn từng làm việc ở đây cho biết: chính quyền ở đây là một chính quyền độc tài, gia đình trị tham nhũng kinh khủng vào loại hàng đầu thế giới mà quan liêu, vô dân chủ vào loại bậc nhất hoàn cầu... Nay thấy quả là họ không nói ngoa.
   
- Thôi được! Tôi sẽ trình tướng Harkins! Các ông cứ lệnh P54 cho tiếp tế ngay trong tuần này. Rồi sẽ có lệnh cụ thể cho chúng về các mục tiêu tiếp theo.
   
- Rõ, thưa đại tá!
   
Sau đó tới phần bọn Tung báo cáo về việc tuyển mộ thêm lính cho cái gọi là Liên đội quan sát: Tổng số lính mới (không kể cũ) đã lên tới 1500 tên, chủ yếu lấy những tên thuộc GCMA (biệt kích nhảy dù cũ của Pháp), một bộ phận khác là các phần tử gọi là “tình nguyện” lấy trong quân đội hiện nay, nhưng chủ yếu là dân thiểu số ở miền Bắc. Do các loại nói trên nay đã cạn, nên bắt đầu phải mở rộng ra lấy cả người trong đám dân di cư, nhưng vẫn chú trọng chọn người theo Thiên chúa giáo... Nhìn chung, bọn mới được tuyển mộ đều khỏe mạnh. Nhưng tinh thần bọn này khá phức tạp, không được như những đợt đầu tuyển mộ trong những năm 1959, 1960, 1961. Tụi mới càng lộ rõ đầu óc: tất cả chỉ vì tiền. Chậm phát tiền một ngày là đã la lối. Không những thế tính côn đồ, lưu manh cũng rõ hơn các tụi trước: Có tiền thì ăn xài, nhậu nhẹt, đĩ điếm lung tung. Rồi trộm cắp của cả sĩ quan chỉ huy, trộm cắp của cả dân và đánh lộn nhau thì như cơm bữa... Nói chung là khá ô hợp. Bọn Tung, Tính đang hết sức vất vả. Sĩ quan phụ trách ở các nơi tập trung càng vất vả hơn. Bọn Tung đề nghị CIA tác động mạnh tới anh em Diệm Nhu, nhất là xin MACV tài trợ thêm để xây dựng các trại huấn luyện hẳn hoi thì mới quản lý được bọn này.
   
Senaghi ngồi lắng nghe. Rồi anh ta kết luận: dẫu sao bằng mọi giá vẫn phải phát triển thêm lực lượng gián điệp biệt kích. Vì chủ yếu theo lệnh trên phải tăng cường đánh ra Bắc đã đành, mà nay ở miền Nam còn phải luôn luôn tung các đội biệt kích đi cứu nguy, giải vây cho các đồn bốt lẻ bị tấn công, hoặc các đơn vị đi càn quét bị vây hãm. Thêm nữa còn phải tung vào các vùng mà Việt cộng gọi là giải phóng đang ngày càng mở rộng như ở Cao Nguyên... Như vậy, tình hình ngày càng khó khăn phức tạp. Nhưng Senaghi hứa sẽ tường trình đầy đủ với Colby và mạnh mẽ ủng hộ đề nghị của bọn Tung. Nói xong, lại rất nhanh, Senaghi đứng dậy ra về.
   
Anh ta có ý muốn tranh thủ thời gian buổi sáng nay còn ghé qua bệnh viện Graal để thăm Hampton đang nằm ở đó. Tuy không thích anh chàng trẻ tuổi quá thông minh này, nhưng dẫu sao Senaghi biết vẫn còn phải quan hệ làm việc lâu dài với nhau. Hiện nay CIA được lệnh: dù đang phải lo tăng cường chiến tranh gián điệp biệt kích ra Bắc, nhưng vẫn phải theo dõi và hỗ trợ mạnh hơn nữa về công cuộc xây dựng hệ thống ấp chiến lược - cái xương sống của kế hoạch Staley - Taylor. Tướng Harkins đã hối thúc phải hoàn thành về cơ bản kế hoạch này trong năm 1962, nếu không theo ông ta, kế hoạch sẽ coi như sụp đổ. Hampton đã được Colby chỉ thị phải đi sâu hơn vào mặt này, nên mối quan hệ của anh ta với bên Senaghi, bên đánh người ra Bắc nay có tạm giảm đi.
   
Senaghi vào tới phòng của Hampton thấy một phụ nữ Âu khá trẻ đẹp, ngồi ở đó rồi. Hampton đang nằm trên chiếc giường nệm trải drap trắng tinh, thấy Senaghi, vội gượng nhỏm dậy chào, rồi hướng về Diana:

- Tôi hân hạnh xin được giới thiệu với ông: đây là Diana nhà báo Thụy Điển. Còn đây là ngài Senaghi một trong những quan chức USIS (cơ quan thông tin Hoa Kỳ) kính mến của tôi.
   
Senaghi miễn cưỡng đưa tay ra bắt tay Diana, người mà anh ta biết không có mấy cảm tình với Mỹ. Mặt khác, anh ta không vui còn vì có mặt người thứ ba ở đây thì chẳng có thể nói chuyện gì riêng với Hampton. Nhưng dẫu sao Senaghi vẫn phải miễn cưỡng ngồi xuống để nghe Hampton kể lại về trường hợp bị ngã trẹo đầu gối, giãn dây chằng của anh ta.
   
Hampton vừa được cử đi cùng một số cố vấn Mỹ về Kiên Hòa dự buổi “khánh thành” ấp chiến lược Hòa An. Đây là một trong những ấp lớn trầy trật mãi mới lập được. Dân chết không ít mà lính và sĩ quan Diệm cũng đã đổ máu ở đây tới hàng đại đội. Sau phải đưa tới mấy tiểu đoàn về càn mới gom được dân, rào được ấp. Vì thế tỉnh mới chủ trương làm lễ khánh thành trọng thể để biểu dương chiến tích. Hôm đó đã rất trễ mà buỗi lễ vẫn chưa bắt đầu được, viên thiếu tá tỉnh trưởng Kiến Hòa hết sức sốt ruột. Khách trên “Trung ương và cố vấn” đã tới đủ mà mãi vẫn chỉ thấy lèo tèo vài chục người hầu hết là đàn bà trẻ nhỏ. Cuối cùng anh ta vẫn phải miễn cưỡng lên đọc diễn văn khai mạc. Lúc đó bọn đàn bà trẻ con càng nói chuyện, càng cãi nhau om sòm, hết sức mất trật tự. Lính, sĩ quan gào thét thế nào cũng không được. Đúng lúc ấy, có một tốp đàn ông nông dân như đi làm đồng về, quần áo bê bết bùn đất, cuốc xẻng lăm lăm trong tay. Rồi một con trâu lực lưỡng không rõ từ đâu bỗng chạy thẳng vào đám lính đang đứng làm hàng rào danh dự trước lễ đài. Bọn lính tức giận la lên: “Bắt lấy nó! Bắt lấy nó! Con trâu này vô lễ thiệt!” Con vật sợ, càng lồng lên như điên. Bọn lính vỡ hàng, chạy tan ra. Con trâu đang đà húc đổ luôn cả lễ đài. Quan khách đến lượt mình hoảng hồn cũng tung lên tháo chạy. Viên tỉnh trưởng bèn nổ súng thị uy. Lập tức tất cả đám đông cùng trào lên, hô lớn: “Đả đảo quốc sách ấp chiến lược!”, “Đế quốc Mỹ cút đi!”... Rồi trong đám đông hỗn loạn ấy có tiếng la: “Giải phóng tới! Giải phóng quân tới đó! Chạy đi!” Thế là tung tóe hết, chẳng biết có Giải phóng quân thực hay không, cứ mạnh ai nấy chạy, cả quan khách, cả lính tráng. Cũng may, mấy chiếc xe hơi của nhóm cố vấn đỗ gần đó nên những người Mỹ chạy được hết. Tuy nhiên, khi gần tới xe Hampton chẳng may bị thụt một chân xuống cái hố khá sâu ngã còng queo. May có người kéo lên và dìu được anh ta lên xe phóng chạy thục mạng...
   
- Thế đấy, thưa ông, một vở bi hài kịch khá đẹp đối với tôi đã đành mà có lẽ còn cả với tỉnh Kiến Hòa nữa!

Hampton kết thúc câu chuyện của mình bằng một nụ cười gần như trào lộng. Liếc nhìn ánh mắt rất thông minh và đầy hài hước của cô phóng viên ngồi đối diện, Senaghi biết cô ta cũng đang nghĩ gì. Senaghi cảm thấy khá nặng nề trong đầu. Dẫu sao, anh ta cũng là một sĩ quan cao cấp của CIA Mỹ. Người Mỹ vốn quen kiêu hãnh...
   
Đã toan thăm hỏi mấy câu chiếu lệ rồi rút, nhưng Senaghi vẫn phải nán lại vì Diana đột ngột hỏi:
   
- Thưa ông, rất hân hạnh và may mắn được biết ông cũng quen biết Hampton, nhất là được may mắn gặp ông ở đây, mong ông vui lòng cho biết đôi nét về tình hình chung công cuộc xây dựng ấp chiến lược với các chiến thuật “Trực thăng vận”, “Thiết xa vận” và cả công việc ném biệt kích gián điệp ra Bắc của các ông hiện nay, có được không ạ?
   
Mở to đôi mắt xanh lè, Senaghi mím môi im lặng mấy giây chừng như để cố nén sự bực dọc, khó chịu hơn là để nghĩ câu trả lời. Rồi khó nhọc và mệt mỏi anh ta cất tiếng hỏi lại:
   
- Nếu tôi không lầm, thưa cô, cô định phỏng vấn tôi hay sao đây?

Diana tươi cười, vẻ rất hồn nhiên:
   
- Ồ không! Không, thưa ông! Tôi đã nói rồi: rất quý trọng ông vì ông cũng quen biết Hampton bạn tôi, lại được biết ông là quan chức của USIS nên tin là ông biết nhiều. Hơn thế nữa, quan chức USIS theo tôi biết rất dễ dàng cởi mở trong việc cho dân chúng hỏi về mọi điều muốn biết mà!
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM