Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:58:18 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Xta-lin-grát trận đánh của thế kỷ  (Đọc 25016 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #30 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2019, 09:10:37 pm »


        Trong thời gian này, quân địch đã tổ chức một lực lượng hỏa lực mạnh đánh vào bộ binh và xe tăng ta. Không quân địch hoạt động rất tích cực, liên tục ném bom và xả liên thanh điên cuồng vào các đơn vị của ta đang hành tiến, làm cho họ ban ngày không thể chuẩn bị để tham chiến một cách có tổ chức được.

        Các cuộc phản kích của các lực lượng bên sườn trái tập đoàn xe tăng 4 và các lực lượng sườn phải tập đoàn quân 62 để tiến ra tả ngạn sông Đông, trong khu vực Ni-giơ-ne-gơ-ni-lốp-xki, Véc-ti-át-chi, Pét-scốp-ca, không có kết quả. Các lực lượng dự bị của Bộ Tông tham mưu tăng viện cho mặt trận này mãi ngày 23 tháng tám mới bắt đầu tới ga đổ quân Phô-rố-lô-vô và Lốc cách chiến trường l00 ki-lô-mét và không đủ thời gian kịp đến tham chiến vào lủc gay go nhất.

        Đặc biệt cần phải nói đôi lời về tình hình thông tin liên lạc trong những ngày gay go đó. Vấn đề thông tin liên lạc, ngay sang đến năm thứ hai của chiến tranh, vẫn là điểm yếu của ta. Bọn Híl-ỉe dùng vô tuyến điện thoại ở các cấp, còn bên ta thì chủ yếu là thông tin hữu tuyến: Các đường dây luôn luôn bị hư hỏng và phải cử các sĩ quan liên lạc đi khắp mọi hướng để đồn đốc sửa chữa. Điều đó làm cho việc chỉ huy bộ đội bố trí rải rác trong đồng cỏ bao la, rất khó khăn. Không có thời gian và phương tiện để truyền đạt nhanh chóng các chỉ thị của bộ tư lệnh phương diện quân đến các đơn vị phải thi hành. Do thông tin liên lạc không tốt nên các tin tức chính xác ở tuyến một về tới bộ tư lệnh cũng chậm.

        Chiến tranh cơ giới đòi hỏi các cấp chỉ huy phải cơ động hơn nhiều, so với điều kiện có thể có của chúng tôi hồi đó. Chứng tôi phải lùi trước sức ép ngày càng mạnh của quân địch. Các mệnh lệnh có chú thích «thi hành ngay » thường khi đến được các đơn vị thì các địa điểm ghi trong mệnh lệnh đã phải bỏ không giữ được nữa rồi, hoặc đôi khỉ đến được các đơn vị phải thi hành lệnh đó, thì đơn vị đã mất sức chiến đấu.

        Trong những ngày nguy nan đó, tổ chức Đảng của thành phố làm việc với một tinh thần tích cực đặc biệt. Ủy ban bảo vệ thành phố, dưới sự lãnh đạo của .đồng chí bí thư Khu ủy A. Chui-a-nốp, đã thành một tổ chức chiến đấu của Hội đồng qụân sự phương diện quân. Trong các khu nhà máy, đã thành lập các tiểu đoàn công nhân để bảo vệ nhà máy. Các tiểu đoàn công nhân của xưởng Máy Kéo, Tháng Mười Đỏ, Chiến Lũy và nhiều xí nghiệp khác đã hình thành như một chiến tuyến bảo vệ thành phố.

        Các tổ chức Đảng của thành phố và của khu, của quân đội, dưới sự lãnh đạo của Hội đồng quân sự phương diện quân và Cục Chính trị, tiến hành công tác rộng íớn và liên tục trong quần chúng để bảo đảm đánh bại địch càng nhanh càng tốt. Hàng trăm đảng viên ra mặt trận, ra hỏa tuyến. Đồng thời một cuộc đấu tranh không khoan nhượng đã diễn ra, chống mọi biểu hiện hoang mang và khiếp nhược. Đảng viên cộng sân luôn đi đầu trong những khu vực trọng yếu nhất.

        Tôi chép lại ở đây một vài tài liệu có ý nghĩa rất quan trọng đói với việc bảo vệ thành phố.

        LỜI KÊU GỌI CỦA ỦY BAN BẢO THÀNH PHỐ.

         « Các đồng chí thân mến ! Các công dân Xta-lin-grát thân mến! Lại một lần nữa, nhu cách đây 24 năm, thành phố của chúng ta sống những ngày khủng khiếp. Bọn khát máu Hít-le đang đổ xô về Xta-lin-grát chói chang ánh sáng mặt trời, về sông Vôn-ga, con sông lớn của nước Nga. Các công dân Xta-hn-grát! Chúng ta sẽ không để cho quân Đức làm ô uế thành phố thân yêu. Chúng ta hãy đứng lên, triệu người như một, để bảo vệ thành phố thân yêu, bảo vệ quê hương, gia đình chúng ta. Chúng ta hãy biến mỗi căn nhà, mỗi khu, mỗi phố trở thành một pháo đài không thể hạ được. Tất cả chúng ta hãy đi xây dựng các chiến lũy trong từng đường phố. Trong năm khủng khiếp 1918, cha, anh chúng ta đã bảo vệ được Txa-rít-xin1. Chúng ta cũng vậy, chúng ta sẽ bảo vệ được thành phố Xta-lin-grát đó năm 1942 này.

        Tất cả chúng ta hãy đi xây dựng chiến lũy ! Tất cả những ai cầm được súng hãy đứng lên bảo vệ thành phố quê hương, bảo vệ ngôi nhà nơi chúng ta đã sinh trưởng !


        Trong những khu phố rực lửa, các đơn vị phòng không, y tế, các đội cứu hỏa đã tỏ ra rất anh dũng. Các phụ nữ không sản xuất, trẻ em, người già, thương binh được chuyển sang tả ngạn sông Vôn-ga. Mặc dù bị thiệt hại nặng, các tầu của cảng sông và thủy đội Vôn-ga đã thực hiện việc di tản dưới làn đạn địch, chuyển từ tả ngạn sang hữu ngạn bộ đội, quân cụ, và thủy đội còn giáng những đòn hỏa lực dày đặc vào quân địch đang thọc lên vành đai phía bắc thành phố.

--------------------
        1. Txa-rít-xin: tên cũ của Xta-lin-grát dưới thời Nga hoàng. N.D.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #31 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2019, 08:49:55 pm »


        Các tổ chức Đảng của khu và của thành phố làm tốt công tác chính trị và công tác tổ chức đối với các đơn vị mới đến tăng viện. Từng giờ, từng phút, các tổ chửc này đã phối hợp với tổ chức Đảng trong quân đội, bảo đảm việc hiệp đồng giữa các đơn vị công nhân và các đại đội, tiểu đoàn của quân đội. Xta-ỉin-grát bị bao vây đã trở thành một thành phố — pháo đài đang chiến đấu. Dưới sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng, tất cả đều được huy động để đẩy lùi quân địch. Các đơn vị từ hậu phương  xa xôi đến thảnh phố, đều thấy rõ sự gắn bó chiến đấu mật thiết giữa bộ đội với nhân dân, và càng thêm quyết tâm chiến đẩu đến cùng.

        Các cuộc phản kích của quân ta không thể chặn được bộ máy chiến tranh của Hít-le đang lao hết tốc lực vào khúc ngoặt rộng của sông Đông và dải đất giữa sông Đông và sông Vôn-ga. Nhưng các thời hạn đề ra trong các kế hoạch tiến công của Hít-le đều bị sai lệch. Qua khói lửa của các trận chiến đấu tháng bảy vả tháng tám, bóng đen thất bại đã chờn vờn trên đầu các đám quân của Hít-le.

        Từ ngày 21 tháng tám, khi tập đoàn quân 62 và tập đoàn quân xe tăng 4 đẩy lùi cuộc tiến công của tập đoàn quân Vôn Pao-luýt vào Xta-lin-grát từ phía tây và phía bắc (khu vực A-ca-tóp-ca — Oóc-lốp-ca), các đon vị của tập đoàn quân 64 và 57 giao chiến kịch liệt với đại bộ phận lực lượng quân đoàn xe tăng 4 của Hốt. Tập đoàn quân Hốt, được các sư đoàn thuộc tập đoàn quân Ru-ma-ni 6 bảo vệ sườn trái, dùng quân đoàn xe tăng 48 và quân đoàn 4 dốc sức tiến công dọc theo đường sắt trên hướng Crát-xnô-ác-mê-it-xcơ. Sau các cuộc tiến công của địch, các đơn vị của các tập đoàn quân 57 và 64 đã tổ chức phân kích ngay. Chiến trường mở rộng đến các ga đường sắt Tun-du-tô-vô và Áp-ga-nê-rô-vô ở phía tây và các hồ Xái-xa, Xác-pa ở phía đông. Về phía địch, có khoảng 250 xe tăng tham chiến. Ngày 24 tháng tám, các sư đoàn xe tăng 14 và 21 và sư đoàn cơ giới 29 của Đức từ phía nam thọc được tới thị trấn Xô- li-an-ca, nhưng không tiến xa hơn được. Cuộc phòng ngự anh dũng và các cuộc phản kích của các sư đoàn bộ binh 122, 244 và sư đoàn Cận vệ 15 đã chặn được cuộc tiến công của tập đoàn quân của Hốt. Các trung đoàn chống tăng cùng các trung đoàn pháo và súng cối của quân Cận vệ từ sông Đông điều đến, đã giữ một vai trò tích cực không ai chối cãi được.

        Các đơn vị pháo binh, phá hủy và bắn cháy chừng 60 xe tăng địch, đã đặc biệt nổi lên trong chiến đấu. Sau khi không quân oanh tạc dữ dội để dọn đường, địch cho 20 xe tăng có lính tiểu liên theo sau, tiến công vào các vị trí của một trung đội thuộc trung đoàn pháo binh Cận vệ 43.

        Trung đội trưởng, chuẩn ủy M. Khơ-vát-tan-xép, để cho các xe tăng địch đến gần tầm súng bắn thẳng mới nổ súng và ngay loạt đạn đầu đã phá hủy hai xe tãng địch. Các chiếc khác vừa tháo lui, vừa bắn rời rạc. Không quân địch tức thì ập đến oanh kích trung đội. Các xe tăng lại tiếp tục tiến công, vừa tiến vừa bắn. Nhiều pháo thủ bị thương. Khơ-vát-tan-xép ra lệnh cho họ lui về phía sau, còn anh và năm người nữa vẫn tiếp tục bắn với một khẩu pháo duy nhất còn nguyên vẹn. Bằng mẩy phát đạn, anh phá hủy thêm một xe tăng nữa. Đạn sắp sửa cạn. Các xe tăng địch bao vây vị trí chiến đẩu của trung đội từ hai phía. Các pháo thủ đều bị trúng đạn. Khơ-vát-tan-xép sử dụng súng chống tăng và bằng một phát đạn bắn thẳng, hạ thêm một xe tăng nữa. Các xe khác vẫn tiếp tục tiến tới ụ pháo. Khơ-vát-tan-xép nhảy ra khỏi hào, ném lựu đạn vào chiếc xe đi đầu nhưng không kết quả. Anh vừa kịp xuống hào thì xích xe đã bắt đầu nghiến lên miệng hào. Nhưng khi xe địch lùi lại, Khơ-vát-tan-xét liền nhỏm dậy ném thêm một quả lựu đạn. Anh không kịp thấy được quả lựu đạn của mình rơi trúng chỗ nào vì một loạt đạn tiểu liên đã quật anh ngã xuống. Chiến công của Khơ-vát-tan-xép được Chính phú Xô-viết ghi nhận. Anh được truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô.

        Đây chỉ là một chiến công anh hùng của các pháo thủ Cận vệ trong hàng chục, hàng trăm chiến công như vậy.

        Trong khoảng một tuần, tập đoàn quân xe tăng của Hốt tiến công không kết quả lại bị thiệt hại nặng về người và trang bị, nên buộc phải ngừng đánh vào Crát- xnô-ác-mê-ít-xcơ để tiến ra sông Vôn-ga. Những gọng kìm mà bộ chỉ huy Đức chuẩn bị lẽ ra phải tiến đến sông Vôn-ga rồi khép lại trên hữu ngạn sông từ bắc xuổng nam, qua Rư-nốc, Xpác-ta-nốp-ca, xưởng Máy Kéo của Xta-ỉin-grát, và từ nam lên bắc qua Crát-xnô-ác-mê-ít- xcơ và Bê-kê-tốp-ca, nhưng cuộc kháng cự của các tập đoàn quân 62, 64, và 57 cùng với những người lao động Xta-ỉin-grát, đã làm cho âm mưu địch thất bại.

        Ngày 27 và 28 tháng tám, bộ chỉ huy Hít-le bí mật tiến hành tập hợp lại lực lượng, từ sườn phải đến trung tâm, trong khu vực Áp-ga-nê-rô-vô — Cáp-kin-xki. Các sư đoàn xe tăng 14 và 24, sư đoàn cơ giới 29 cùng các sư đoàn bộ binh Ru-ma-ni 6 và 20 được điều đến khu vực này, tăng viện cho tập đoàn quân 6 của Vôn Pao- luýt. Như vậy, các đơn vị của tập đoàn quân 62 và 2 sư đoàn của tập đoàn quân 64 có nguy cơ bị hợp vây.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #32 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2019, 08:50:12 pm »


        Những hoạt động của địch đã bị tình báo của ta phát hiện kịp thời và tư lệnh phương diện quân ra lệnh cho các tập đoàn quân 62 và 64 rút về lập tuyến phòng ngự mới : Rư-nốc — Oóc-lốp-ca — nông trường quốc doanh « Hy vọng mới » — Băm-xai-a và Ma-lai-a Rốt-xốt-ca —  bờ đông sông Tréc-vlê-nai-ca — Nô-vô Rô-gát-chích — I-va-nốp-ca.

        Trong đêm 30 tháng tám, tôi cùng với I. Boóc-di-lốp-xki kỹ sư trưởng hạng nhất của tập đoàn quân 64 đi thị sát phòng tuyến ở quãng sông Tréc-vlê-nai-a. Đến sáng, chúng tôi thấy ở khu Nô-vô Rô-gát-chích, các đơn vị của tập đoàn quân 62 đang rút, nhưng ở khu vực Các-pốp-ca thì đang diễn ra các cuộc giao chiến: Các đơn vị của tập đoàn quân 64 ở cách đó 30 đến 50 ki-lô-mét. Tôi rất lo, không biết họ có rút được kịp thời về phòng tuyến mới không, và có thể rút lui êm thấm, không làm địch chú ý như cánh quân Nam đã rút thành công trong ngày 17 tháng tám.

        Đến trưa, chủng tôi gặp tướng F.Gô-li-cốp cũng đi thị sát phòng tuyến này theo lệnh của tư lệnh phương diện quân. Đồng chí vui mừng thấy đã tìm được người để giao cho phụ trách khu vực này, và tôi phấn khởi được đồng chí giao cho ngay một trung đoàn pháo chống tăng lấy trong lực lượng dự bị của phương diện quân. Với trung đoàn pháo này tôi có thể yểm hộ được các bến sông Tréc-vlê-nai-a.

        Chiều 30 tháng tám không quân Đức phát hiện ra vị trí này và thả mấy trái bom xuống các khẩu pháo của trung đoàn.   

        Tôi báo cáo với đồng chí Xu-mi-lốp về cuộc thị sát và tình hình ở trên phòng tuyến mới cũng như về tập đoàn quân 62 bạn. Suốt đêm và cho đến tận trưa ngày 31 tháng tám, chúng tôi không chợp mắt được, phấp phỏng chờ đón các đơn vị phải rút về phòng tuyến mới này. Sáng ngày 31 tháng tám mới rõ là các đơn vị của ta không thể rút qua khỏi mắt địch được. Việc rút lui của tập đoàn quân xe tăng 64 trùng hợp với việc mở đầu một cuộc tiến công mới của tập đoàn quân xe tăng 4 có không quân yểm trợ. Sau khi vượt qua sông Tréc-vlê-nai-a, các trung đoàn của tập đoàn quân 64 phải triển khai chiếm lĩnh các vị trí chiến đấu ngay. Các đơn vị bảo vệ sườn của các tập đoàn quân 62 và 64 đã liên lạc được với nhau ở gần Nô-vô Rô-gát-chích. Sườn bên trái tập đoàn quân 64 cũng liên lạc được với tập đoàn quân 57 của đồng chí Tôn-bu-khin. Quân địch không dám mạo hiểm tiến công bừa vào các vị trí mới của chúng tôi.

        Ngày 1 tháng chín, sườn phải của tập đoàn quân 6 của Vôn Pao-luýt nối được với sườn trái của tập đoàn quân xe tăng 4 của Hốt, trong khu vực Xta-rô Rô-gát-chích vùng sông Tréc-vlê-nai-a. Lúc đó, đại bộ phận lực lượng của các tập đoàn quân 62 và 64 đã rút về phía đông và chiếm các vị trí phòng thủ bên sông Rốt-sá-ốt-chơ-ca và Tréc-vlê-nai-a. Quân địch đã khép được gọng kìm không phải trên sông Vôn-ga để bao vây cả thành phố Xta-lin-grát, mà ở phía tây thành phố. Các đơn vị của ta không còn ở đây nữa.

        Từ lúc đó, đại bộ phận lực lượng của tập đoàn quân của Vôn Pao-luýt và tập đoàn quân xe tăng của Hốt tập trung mọi nỗ lực tiến công vào trung tâm thành phố dọc theo đường sắt Ca-lát-chơ — Xta-Iin-grát và Xta-lin- grát — Cô-ten-ni-cô-vô.

        Ngày 2 tháng chín, bọn Đức ném bom dữ dội vào các vị trí pháo binh và các đầu mối giao thông phía sau quân ta. Trung tâm thông tin dự bị của chúng tôi ở vùng khe La-gổt-nai-a bị phá hủy.

        Từ sáng sớm ngày 3 tháng chín, sau trận ném bom điên cuồng và trận bắn pháo chuẩn bị, quân Đức tiến công trên khắp mặt trận. Đến trưa, chúng qua được sông Tréc-vlê-nai-a ở sườn trái của tập đoàn quân 64. Tư lệnh phương diện quân đòi hỏi chúng tôi phải khôi phục lại ngay tình thế. Tướng Xu-mi-lốp được lệnh phải đến ngay tại chỗ để đích thân chỉ huy cuộc phản kích. Còn tôi và ủy viên Hội đồng quân sự A-bra-mốp ở lại sở chỉ huy  đặt ở khe Ca-ra-vát-ca, gần xóm Pô-pốp, với các phương tiện thông tin. Tướng Gô-li-cốp đến chỗ chúng tôi vào quãng trưa. Sau khi nắm tình hình và truyền đạt miệng một sổ chỉ thị của Hội đồng quân sự phương diện quân, đồng chí tiếp tục đi thị sát dọc chính diện. Nhưng nửa giờ sau, không quân địch lại bắt đầu ném bom. Chắc là máy bay thám thính địch đã phát hiện ra sở chỉ huy của chúng tôi. Chúng tôi không có quyền rời đi chỗ khác: ở đây có thông tin liên lạc, chi huy được bộ đội, vả lại không thể di chuyển trong thảo nguyên trơ trọi dưới bom đạn địch. Do đó bắt buộc chúng tôi phải ở lại và làm việc dưới các hầm lát nắp bằng một lớp thân cây và đất dày độ 25 phân. Trên bàn làm việc nhỏ  của tôi đặt đầy máy điện thoại; trước mặt là bàn của đồng chí ủy viên Hội đồng quân sự A-bra-mốp. Một gian hầm rộng có sáu thước vuông, trần thấp, vách đất. Không khí oi bức, ngột ngạt, đầy bụi bậm. Đất rơi lả tả qua các cây gỗ và các tấm ván ghép không khít.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #33 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2019, 08:52:15 pm »


        Sau vài giờ làm việc dưới bom đạn, chúng tôi cũng quen đi và không để ý đến tiếng động cơ máy bay gào thét và tiếng bom nổ nữa.

        Bỗng nhiên hầm của chúng tôi như tung lên trời. Một tiếng nổ điếc tai. Đồng chí A-bra-mốp và tôi không hiều vì sao bị hất ngă lăn ra đất, bàn ghế đổ lung tung. Phía trên chúng tôi, trời mù mịt đây bụi, đất đá văng ra tứ phía xung quanh tiếng rên la cất lên.

        Khói bụi đã tan đi một chút, chúng tối thấy cách hầm chừng sáu, bảy mét, một giếng sâu đường kính tới 12 — 15 mét. Xung quanh, vài thi hài mặt mày méo mó, những xe tải bị lật đồ. Đài vô tuyến điện không dùng được nữa. Đường dây điện thoại cũng bị đứt.

        Trung tâm liên lạc trung chuyển ở gần thị trấn I-a- gốt-nưi, cách sở chỉ huy chính vừa được khôi phục lại hai ki-lô-mét về phía nam. Tôi quyết định đến đó liên lạc với các đơn vị.

        Tôi lên ô tô với đồng chí sĩ quan tùy tùng Cli-mốp và đồng chí lái xe Ka-li-mu-lin. Nhưng xe vừa ra khỏi khe, không quân Đức đã lại đến oanh tạc sở chỉ huy. Những chiếc JU-88 bay sát mặt đất, thả hàng loạt 10 —12 trái bom xuống khe rồi đi săn đuổi những chiếc xe đi lẻ. Một chiếc Gioong-ke săn xe của chúng tôi. Và lúc đó, thú thật, chỉ có sự bình tĩnh và khôn khéo mới giúp chúng tôi thoát nạn.

        Không rời mắt khỏi chiếc Gioong-ke, tôi hét lên với người lái xe:

        — Chạy thẳng, không chệch hướng!

        Khi trông thấy trái bom thứ nhất rơi khỏi máy bay, tôi lệnh cho lái xe ngoặt gẩp sang phải. Xe đang chạy nhanh ngoặt ngay 90 độ và, trước khi bom tới đất, chúng tôi đã ở cách chỗ bom rơi một trăm mét.

        Chiếc Gioong-ke thả độ 12 trái bom, nhưng không ai trong chúng tôi bị thương cả. Chi có bình ắc-qui của xe bị thủng, nước át-xít chảy ra, và không thể khởi động máy được nữa. Sự cố xảy ra cách sở chỉ huy của chúng tôi chỉ 300 — 500 mét.

        Trong khi đồng chí lái xe chăm chú sửa xe, tôi trèo lên một mô đất cao và trông thấy các xe tăng Đức từ xóm Xi-ben-cô tiến ra. Một chục chiếc đi mở đường, theo sau là những chiếc khác nối thành hàng dọc, tất cả đến một trăm xe từ thung lũng Tréc-vlê-nai-a tới. Chúng tập hợp dọc theo đường cái, hướng về phía bắc tới ga tránh tàu Bát-sác-ghi-nô.

        Lúc đó mới biết là trong khi không quân ném bom xuống các đon vị và sỏ chỉ huy của tập đoàn quân thì các xe tăng địch đã vượt qua được phòng tuyến của chúng tôi ở khu vực Vác-va-rốp-ca — Xi-ben-cô. Các xe tăng địch bây giờ chỉ cách sở chỉ huy của chúng tôi hai ki-lô-mét. Pháo binh ta lập tức bắn vào chúng và tôi quyết định không xuống trung tâm liên lạc trung chuyển nữa. Tôi đi bộ trở lại sở chỉ huy đã bị phá hủy và được gặp đại tướng Gô-li-cốp. Chắc là đồng chí xuống xem sở chỉ huy còn lại được những gì. Liên lạc với cơ quan tham mưu tập đoàn quân đã được nối lại, và chúng tôi được biết là quân Đức đã chọc thủng phòng tuyến của tập đoàn quân 64 không những gần Xi-ben-cô mà còn cả ở gần Na-ri-man nữa.

        Tình hình ở khu vực phòng ngự của tập đoàn quân 62 cũng không khá hơn. Quân Đức đã qua được sông Rốt- xốt-ca và tiến về ga Bát-sốc-ghi-nô.

        Tôi ở lại sở chỉ huy cho đến chiều tối, và đến đêm đồng chí Xu-mi-lốp triệu tập tất cả chúng tôi về sở chi huv mới đặt trong rừng, cách Bê-kê-tốp-ca năm ki-lô-mét.

        Các đơn vị của các tập đoàn quân 62 và 64 bị thiệt hại nặng phải lùi về các vị trí phòng thủ cuối cùng, về Xta-lỉn-grát.

        Những dòng người vô tận chảy trên các con đường. Nông trang viên, công nhân nông trường quốc doanh cùng với cả gia đình đi tản cư. Họ vội vã đi về các bến qua sông Vôn-ga, đem theo gia súc, dụng cụ nông nghiệp tất cả những thứ gì quý giá đối với họ, không để còn lại tí gì cho quân thù.

        Tôi ghi lại vài dòng nhật ký của đồng chí Đờ-mi-tơ- ri I va-nô-vich Xô-lô-vi-ép, giám đốc nông trường chăn nuôi. Dòng công nhân viên nông trường của đồng chí tản cư từ các vùng xung quanh Khác-cốp đã dừng tạm ở ga Prút-bôi trên cánh đồng của nông trường Ma-ri-nốp-xki, cách sông Vôn-ga 57 ki-lô-mét về phía tây. Đồng chí Xô- lô-vi-ép viết:

        « Để nắm được tình hình mặt trận, chúng tôi liên lạc với các đơn vị bộ đội và hỏi xem chúng tôi với tất cả tài sản của nông trường quốc doanh có nguy cơ rơi vào tay quân phát xít không. Ban tham mưu của đơn vị xe tăng mà chúng tôi vẫn liên lạc đã rút đi đâu không ai rõ. Máy bay phát xít ném bom và rải truyền đơn trên dọc đường và sà thấp xuống bắn vào mọi người...

        Trong đêm 28 tháng tám, đoàn người của nông trường rời Prút-bôi. Đường đi không một bóng người và không thể nhận định được tình hình ra sao.

         Khỏi ga Prút-bôi, chúng tôi gặp đồng chí Các- pen-cô chỉ huy một đại đội công binh. Sau khi bộ đội ta rút đi, đồng chí đã cho gài mìn các đường và các cầu. Tôi được đồng chí cho biết chỉ còn một con đường có thể đi được an toàn là đường đi nông trường quốc doanh Rô-gát-chin-xki. Nhưng đêm mùa hè ngắn, và cho đến tảng sáng, chúng tôi mới đi được 15 ki-lô-mét. Ban ngày chúng tôi ẩn trong các bó lúa mì mới cắt và các đống rơm trong các khe. Máy bay địch luôn luôn xả súng vào đoàn chúng tôi, không cho chúng tôi nghỉ ngơi lấy một phút. Nạn nhân thứ nhất là bác đánh xe Ốt-xíp Xê-ri-cốp đã dùng súng trường nhặt được trên đường bắn trả lại chúng.

        Buổi chiều, tôi dừng ô tô đi trinh sát tình hình đường sá, đến ga tránh tàu Bát-sác-ghi-nô, là nơi mà một nông dân cho biết không có quân Đức. Thật thế ga tránh tàu này chưa bị địch chiếm.

        Sáng ngày 31 tháng tám chúng tôi dừng lại trong một cái khe, ở quá Bát-sác-ghi-nô. Trong ngày, chúng tôi mất một phụ nữ và hai trẻ em bị trúng đạn liên thanh của máy bay địch.

        Buổi chiều, đoàn người lại tiếp tục đi về phía ga Vô-rô-pô-nô-vô. Ban đêm9 trên đường đi tôi gặp một chiếc ô tô chở các sĩ quan ta. Các đồng chí nói, nếu chúng tôi đỉ rảo chân lên thì có thể đến thành phố kịp trước sáng.

        Tảng sảng ngày 1 tháng chín, đoàn người dừng lại trong một khu rừng bao quanh thành phố. Chúng tôi thế là thoát, không bị thiệt hại gì và tất cả chúng tôi đều hân hoan vì đã qua được cơn nguy hiểm.

         Tôi đi bộ dò đường. Thành phố đang bốc cháy. Phố sá đầy những cột đèn đổ dây thép và mảnh tường vỡ. Công viên, nơi những người cộng sản đến mít tinh trước khi ra trận, đầy hố bom. Không có một cây nào không bị cháy ra than.

         Trong một căn lều nhỏ gần cửa sông Tsa-rít-xa, tôi gặp một cư dân thành phố Khác-cốp là Đem-chen-cô. Bác ta hứa sẽ đưa chúng tôi qua sông Vôn-ga. Chúng tôi phải tự chọn lấy đường trong thành phố để cho các xe tải, xe máy kéo và xe ngựa có thể đi được. Công việc này ngốn của chúng tồi mất hết hai mươi bốn giờ.

        Đoàn chúng tôi phải chờ ba ngày ở bến chỉnh mới có thể qua được sông VÔn-ga. Địch nèm bom không lúc nào ngớt, và mọi người luôn phải ngồi trong hầm trú ẩn.   

         Ngày 6 tháng chín, đoàn người dừng ở gần cầu ác-tu-bin-xcơ. Ở đây, chúng tôi gặp các công nhân của nông trường đi áp tải đàn gia súc bị thương nằm lại. Đàn gia súc bị một trận bom tiêu diệt ở ga tránh tàu Ac-tu-bin-xcơ. 14 công nhân hy sinh, 8 người khác bị thương trong khi cố gắng cứu đàn gia súc».


        Những dòng nhật ký ấy đã nói rõ tình hình lúc đó gay go đến thế nào và nêu lên tinh thần của những người Xô-viết không từ hy sinh tính mệnh đã cố gắng hết sức mình để giúp quốc gia trong cuộc chiến đấu chống quân thù.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #34 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2019, 08:53:27 pm »


3

        Ngày 5 tháng chín, quân địch chiếm được nhà ga Vô- rô-pô-nô-vô và sử dụng đến lực lượng dự bị, định phát triển tiến công liên tục từ ga Xa-đô-vai-a. Nguy cơ có cuộc tiến công của địch trên hướng này lại càng tăng, vì nơi đây là chỗ tiếp giáp giữa các tập đoàn quân 62 và 64. Với một nhóm sĩ quan tham mưu của tập đoàn quân, chúng tôi đi ba xe ô tô đến làng nhỏ Pét-chan-ca, cách ga Vô-rô-pô-nô-vô hai ki-lô-mét. Chúng tôi có nhiệm vụ đến củng cố khu vực này.

        Từ phía tây-bắc làng Pét-chan-ca, chúng tôi nhìn thấy rất rõ nhà ga Vô-rô-pô-nô-vô. Ở đây có súng cao xạ, bộ binh và xe tăng địch. Một phi đội bảy chiếc máy bay I-li- u-sin xuất hiện. Chúng tôi thấy các máy bay bổ nhào ném bom vào các khẩu cao xạ và các bãi tập trung xe tăng địch.

        Đang mải theo dõi trận oanh tạc, chúng tôi không để ý thấy một số máy bay Gioong-ke đang từ phía nam bay tới, đã phát hiện ra xe của chúng tôi và lao xuống tiến công liền.

        May thay, có một hầm trú ẩn tốt ở kề bên, giúp chúng tôi có chỗ ẩn nấp kịp thời. Khó mà nói được bao nhiêu máy bay đã oanh tạc phía tây rìa làng này, nhưng chứng tôi cảm thấy hình như tất cá các trái bom đều nổ ở gần xung quanh. Cuộc ném bom bắn phá kéo dài l0 phút. Khi bụi, đất đã tan di, chúng tôi thấy một nửa hầm trú ẩn đã bị sập. Thật là lạ lùng, không một ai trong nhóm chúng tôi bị mảnh bom hay mảnh nóc hầm văng phải.

        Ra khỏi hầm, chúng tôi thấy xe tăng địch đang tiến công các vị trí quân ta. 25 xe tăng có bộ binh theo sau xung phong lên. Chúng vấp phải hỏa lực các xe tăng ta được ngụy trang rất khéo ở các vị trí dấu xe trong làng Vec-khơ-ne En-chan-ca, và các đơn vị bộ binh bố trí trước các xe tăng đã tiếp đón chúng một trận ra trò. Sau những loạt đạn đầu, bảy xe địch bốc cháy, các chiếc khác quay ngoắt ngay lại, vội vã phóng thật nhanh về các vị trí xuất phát.

        Tôi xin nhường lời cho một chiến sĩ tham gia trận chiến đấu ấy là đồng chí M. Ki-ri-chen-cô, hiện nay là thiếu tá dự bị. Ở Xta-lin-grát hồi đó, đồng chí chỉ huy một trung đội của trung đoàn 101, sư đoàn bộ binh Cận vệ 35.

        « Sau những trận chiến đấu gay go ở gần ga Cốt-lu-ban và làng Ma-li-ô Rốt-xốt-ki, trung đoàn 101 của chúng tôi nhận được lệnh lùi về Xta-Iin-grát. Suốt đêm, các đơn vị của trung đoàn vừa đánh vừa lùi, mở đường máu qua các vị trí án ngữ của những toán nhỏ địch đã lọt vào sau lưng ta.

        Sáng 5 tháng, chín, tới được vùng phụ cận Xta-lin-grát, trung đoàn được lệnh khẩn cấp đến ngay khu vực ga Vô-rô- pô-nô-vô để chặn các xe tăng địch đã chọc thủng được phòng tuyến của ta ở phía đó. Đại đội 1 làm nhiệm vụ đi đầu đã đến vị trí quy định và bắt đầu đào công sự chiến đấu.

        Trong khu vực phòng ngự của đại đội, trước khi chúng tôi đến, đã có một lữ đoàn pháo binh trang bị pháo 76 ly, nhưng sau đó lữ đoàn rút về phía sau đường sắt, nơi các phân đội nhỏ khác của trung đoàn đang lập các vị trí phòng ngự. Theo lệnh của đại đội trưởng, tôi bố trí trung đội của mình ở trong các hầm hào của một khẩu đội pháo vừa rút lui bỏ lại. Phía sau chúng tôi, ở vành đai phía tây làng Véc-khơ-ne. En-chan-ca, các xe tăng ta được ngụy trang tốt để che mắt địch, bố trí trong các khu vườn trái cây phía nam.

         Lúc đó, trước trận địa phòng ngự của đại đội xuất hiện 25 đến 30 xe tăng địch, tập trung ở một cái khe cách chúng tôi bảy, tám trăm mét, bắt đầu chuẩn bị tiến công.

        Chúng tôi vừa kịp chiếm lĩnh xong các vị trí phòng ngự thì xe tăng địch đã lao đến dưới sự yểm trợ của pháo binh. Để cho chúng tới gần, cách 200 — 300 mét, tôi hô: « Bắn! ». Cùng, lúc đó xe tăng ta cũng từ các vị trí giấu xe bắn ra. Ngay từ loạt đạn đầu, năm chiếc xe địch đã bị trúng đạn, có hai chiếc bốc cháy. Loạt đạn của chúng tôi và các xe bị phá hủy đã làm đội hình địch rối loạn. Chúng không dè lại bị bắn bất ngờ như vậy.

         Bị mất năm xe tăng và vài chục lính tiểu liên, địch buộc phải lui về vị trí xuất phát. Trận địa yên tĩnh được một lúc, sau đó địch lại cho xe tăng tiến công, lần này thì có pháo binh và không quân yểm trợ. Đầu tiên xuất hiện các máy bay «nhạc sĩ» (máy bay có mắc còi rú), từng tốp chín chiếc bổ nhào xuống các vị trí của ta và rìa làng Véc-klìơ-ne— En-chan ca.

        Cuộc tiến công này cũng bị đẩy lùi, nhưng chúng tôi chịu thiệt hại nặng. Đại đội chỉ còn lại vài người. Thêm bốn chiếc xe Đức bị chúng tôi và xe tăng ta phá hủy, bốc cháy trước chiến hào; Trung đội còn lại bảy người, kể cả tôi. Đơn vị hết cả phương tiện chống tăng và không còn gì để đẩy lùi xe tăng địch. Tôi quyết định lùi về rìa tây làng Véc-khơ-ne En-chan-ca. Trong trung đội ai còn sống sót trong trận này, tôi không biết được. Tôi bị chấn thương và đất vùi kín. Khi tỉnh lại tôi thấy mình ở tiểu đoàn quân y».

        Mặc dù chúng tôi bị thiệt hại nặng, nhất là ở các phân đội bộ binh, nhưng mọi cuộc tiến công của địch đều bị đập tan. Trong trận này, các chiến sĩ xe tăng của ta đã lập công xuất sẳc, phá hủy và bắn cháy khoảng 15 xe tăng địch bằng các loạt đạn rất chính xác».   


        Đi qua nông trường quốc doanh «Đất núi» để trở về cơ quan tham mưu, chúng tôi trông thấy mấy chiếc Gioong-ke Đức đang lượn vòng và bổ nhào xuống một cánh rừng. Chắc chúng đã phát hiện ra có bộ đội và xe tập trung. Vài khẩu trọng liên phòng không nhả đạn vào máy bay địch. Trong một vườn rau gần dường có một chiếc xe tải trên đặt súng máy. Một chiếc JU-88 bay tách khỏi tốp và tiến công chiếc xe ấy. Hai chiến sĩ súng máy bình tĩnh bắn trả. Đạn xuyên trúng thân con quái điểu. Nó cố gắng thoát khỏi thế bổ nhào và ngóc lên nhưng vô ích, máy bay rơi xuống đất, vỡ tan cách xe không đầy 100 mét.   
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #35 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2019, 08:59:16 pm »


4

        Sau khi đã thọc được vào tuyến phòng ngự ở ngoài, buộc chúng tôi phải lùi về tuyến trong (trong thành phố), địch tung đại bộ phận lực lượng tiến công vào nơi tiếp giáp các tập đoàn quân 62 và 64, dọc theo đường xe lửa từ ga Các-pốp-ca đến ga Xa-đô-vai-a. Chúng muốn bằng mọi giá chiếm bằng được thành phố.

        Trước chính diện tập đoàn 62 và sườn phải tập đoàn quân 64, một cánh quân địch có từ 10 đến 12 sư đoàn bộ binh, 3 sư đoàn xe tăng và 3 sư đoàn cơ giới tham chiến. Cánh quân này có tới 600 xe tăng, được hơn một ngàn máy bay của không đoàn 4 yểm trợ. Số lần xuất kích của máy bay trong khu vực này lên tới ngàn lần chiếc mỗi ngày, không kể các trận đánh vàơ thành phố.

        Quân địch đông hơn ta gấp nhiều lần. Bộ đội của phương diện quân Tây — Nam bảo vệ Xta-lin-grát lúc đó chỉ gồm những đơn vị đã bị suy yếu. Một số sư đoàn của tập đoàn quân 62 và 64 chỉ còn từ 500 đến 1.000 người. Mười lữ đoàn xe tăng tác chiến trong khu vực của tập đoàn quân 62 và 64 chỉ có tất cả 146 xe tăng. Ưu thế về quân số của địch thật rõ rệt theo bảng so sánh sau đây:

So sánh                            Tập đoàn quân 62ĐịchTỷ lệ
Người45.00080.0001/1,8
Pháo 76 ly và lớn hơn856301/7.5
Súng chống tăng2604901/1,5
Súng cối 82 ly và lớn hơn1507601/5
Xe tăng1083901/3,6


        Thấy tình thế ở Xta-lin-grát nghiêm trọng, Đại bản doanh trong chỉ thị ngày 3 tháng 9 đã đòi hỏi đại tướng G. Giu-cốp, đại diện của Đại bản doanh, phải có những hành động kiên quyết hơn. Đại bản doanh chỉ thị: « Tình thế ở Xta-lin-grát nghiêm trọng. Quân thù chỉ còn cách thành phố vài ki-lô-mét. Thành phố có thể mất hôm nay hay ngày mai nếu các đơn vị cánh quân phía bắc không chi viện ngay. Đồng chí buộc chỉ huy các đơn vị bố trí ở phía bắc và tây-bắc Xta-lin-grát phải tiến công ngay quân địch... Do dự trong lúc này là một tội ác ».

         Lúc đó, ở phía bắc thành phố tập trung 3 tập đoàn quân của phương diện quân Xta-lin-grát; tập đoàn quân 24 dưới quyền chỉ huy của thiếu tướng D. Cô-dơ-lốp, có 5 sư đoàn bộ binh và 1 lữ đoàn xe tăng, tập đoàn quân 66 dưới quyền chỉ huy của trung tướng R.Ma-ni-nốp-xki, có 6 sư đoàn bộ binh và 4 lữ đoàn xe tăng.. Ngoài ra, cũng vừa tổ chức và tập trung xong tập đoàn quân Cận vệ 1 của đồng chí K. Mốt-xca-len-cô có 8 sư đoàn bộ binh; 3 quân đoàn xe tăng (4,7 và 16) cũng ở sát mặt trận.

        Không đoàn 16 với 100 máy bay được điều cho mặt trận Xta-lin-grát. Theo đúng chỉ thị của Đại bản doanh, không đoàn này dùng để yểm trợ cho bộ đội phản công địch ở phía bắc và tây-bắc.

        Để thực hiện chỉ thị của Đại bản doanh, tư lệnh phương diện quân Xta-lin-grát quyết định, ngoài ba tập đoàn quân trên, dùng thêm lực lượng sườn trái của tập đoàn quân xe tăng để phản công địch. Các không đoàn 8 và 16 được lệnh bảo vệ cho các đơn vị của mặt trận đang tập trung và tập kích vào quân địch, để bảo đảm cho cuộc tiến công của quân ta.

        Mục đích cuộc phản công là tiêu diệt các lực lượng địch ở giữa sông Đông và sông Vôn-ga, bảo đảm cho quân ta tiến ra tả ngạn sông Đông và sông Dôn-xca-a Xa-rít-xa.

        Chúng tôi biết ở phía bắc Xta-lin-grát, giữa sông Vôn-ga và sông Đông, đang tập trung các lực lượng mạnh để phản công, cắt hành lang quân địch giữa Vét-ti-át-chi và sông Vôn-ga, đánh bật chúng ra khỏi thành phố và liên lạc với bộ đội của tập đoàn quân 62.

        Tôi cũng phải nói luôn là, tuy quân Đức có chọc thủng được tuyến phòng ngự và sông Rốt-xốt-ca và Tréc-vlê- nai-a ở vành đai trong, nhưng nhịp độ tiến quân của chúng đã chậm lại. Chúng phải kiểm lại và tập họp lực lượng trong hành tiến, chuẩn bị để đánh chiếm thành phố.

        Chúng tôi, những người bảo vệ thành phố, nghĩ rằng Đại bản doanh và bộ tham mưu phương diện quân sẽ chọn thời cơ thuận lợi để đánh tạt sườn quân Đức, khi tập đoàn quân của Vôn Pao-luýt bị mắc chân trong các trận chiến đấu trên đường phố. Đến bây giờ thì chúng ta biết rõ chuyện gì đã xảy ra hồi đó ở bắc Xta-lin-grát.

        Cuộc tiến công của tập đoàn quân Cận vệ 1 của tướng Mốt-xca-len-cô trước ấn định vào ngày 2 tháng chín, nhưng các đơn vị không sao đến kịp các vị trí cơ bản của mình vào ngày đó được.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #36 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2019, 09:00:35 pm »


        Đại diện của Đại bản doanh trên mặt trận Xta-lin-grát lúc đó là đồng chí G. Giu-cốp, với tư cách là Phó Tổng tư lệnh tối cao đồng chí có đủ toàn quyền quyết định. Đại bản doanh luôn luôn nhắc đồng chí phải đưa 3 tập đoàn quân vào hoạt động.

        G. Giu-cốp ghi lại trong hồi ký cuộc nói chuyện bằng điện thoại của đồng chí với Tổng tư lệnh tối cao. Khi đồng chí để nghị hoãn cuộc phản công trong một thời gian cần thiết để hoàn tất việc tập trung lực lượng và tăng cường phương tiện chiến đấu, Xta-lin nói :

        — Đồng chí tưởng rằng đối phương sẽ chờ cho đến khi các đồng chí nhúc nhích ư? Ê-rê-men-cô đoán chắc rằng địch có thể chiếm Xta-lin-grát ngay trong đòn đầu, nếu đồng chí không tiến công chúng từ phía bắc.

        G. Giu-cốp viết tiếp: «Tôi trả lời là không nhất trí với nhận định đó và xin phép triển khai tiến công ngày 5 tháng chín như đã dự kiến trước. Còn về không quân, tôi sẽ ra ngay lệnh phải oanh tạc địch bằng tất cả các lực lượng của mình».

        Hồi đó, tôi không được phép nói chuyện với Tổng tư lệnh tối cao và nói về hoạt động của cơ quan tham mưu tối cao, nhưng tôi hoàn toàn công nhận ý kiến của đồng chí Giu-cốp là đúng. Quân địch đã bị chặn lại ở tuyến phòng thủ bên trong. Nhịp độ tiến công của chúng chậm lại và không có hướng rõ rệt. Thọc được vào thành phố là một việc, chiếm được thành phố lại là một chuyện khác. Ở ngoại vi thành phố, quân ta chiến đấu rất kiên cường và quân địch chỉ có thể sa lầy thêm trong các trận chiến đấu trên đường phố.

        Nhưng Đại bản doanh đã nôn nóng.

        Tập đoàn quân Cận vệ 1 bước vào tiến công ngày 3 tháng chín. Nhưng thiếu sự chuẩn bị, thiếu sự yểm trợ đúng mức của pháo binh và không quân, thiếu cả thời gian đưa các đơn vị đến vị trí xuất phát. Cuộc tiến công thất bại ngay từ những phút đầu dưới làn đạn của pháo binh và không quân địch.

        Trong lúc đó, trên vành đai phòng thủ bên trong, quân địch tiến hành tập hợp lại lực lượng và chưa tiến công vào thành phố. Tình hình phía chúng tôi cũng không có gì thay đổi cho đến ngày 5 tháng chín.

        Ngày 5 tháng chín, chấp hành lệnh của Đại bản doanh, tập đoàn quân Cận vệ 1, các tập đoàn quân 24 và 66 mở cuộc tiến công. Nhưng lần này nữa, cuộc tiến công vẫn không được chuẩn bị. G. Giu-cốp viết trong hồi ký là mật độ hỏa lực pháo binh không đáng kể, không chế áp được hỏa lực địch, không đem lại được kết quả mong đợi. Các đơn vị của ta lại phải chững lại.

        Những trận đánh gay go tiếp tục ở phía bắc thành phố cho đến ngày 15 tháng chín. Các đơn vị thúc phải tham gia hoạt động sau một cuộc hành quân bộ 50 ki-lô-mét, nhưng không tiến được và cũng không đánh bật được địch ra khỏi vị trí để có thể thọc xuống phía nam, tới thành phố.

        Ngày 12 tháng chín, phó Tổng tư lệnh tối cao G. Giu-cốp và đại điện ủy ban Quốc phòng Nhà nước G. Ma- len-cốp gửi tài liệu sau đây cho Đại bản doanh:

         « Gửi đồng chí Xta-lin, Mát-xcơ-va,

        Chúng tôi vẫn tiếp tục tiên công không ngừng bằng các lực lượng của các tập đoàn quân 1, 24, và 66. Trong cuộc tiến công này, như đã báo cáo với đồng chí, chúng tôi đã tung ra tất cả lực lượng và tất cả các phương tiện có trong tay, nhưng không thể thực hiện được việc hội quân với bộ đội bảo vệ Xta-lin-grát, vì chúng tôi yếu hơn địch Về pháo binh và không quân. Tập đoàn quân Cận vệ 1 bước vào tiến công trước tiên không được tăng cường một trung đoàn pháo nào, một trung đoàn chống tăng và một trung đoàn cao xạ nào.

        Tình thế ở Xta-lin-grát buộc chúng tôi phải đưa vào tham chiến các tập đoàn quân 24 và 66 ngày 5 tháng chín, không chờ tập trung đủ và có pháo binh đến tăng cường. Các sư đoàn bộ binh đã tham gia chiến đấu ngay sau một cuộc hành quân bộ 50 ki-lô-mét.

        Với sự tham chiến của các tập đoàn quán không có phương tiện tăng cường như vậy, chúng tôi không thể nào chọc thủng được phòng ngự của địch và liên lạc được với bộ đội ở Xta-lin-grát. Nhưng bù lại cuộc tiến công bất ngờ của chúng tôi đã buộc địch phải rút đại bộ phận lực lượng của chúng đang tiến công Xta-lin-gát để chống với các lực lượng của chúng ta, làm giảm bớt khó khăn, nguy hiểm cho các chiến sĩ bảo vệ Xta-lin-grát. Nếu không có cuộc hành binh này, thành phố có thể bị quân địch chiếm mất ».


        Tôi nghĩ rằng, trong những ngày đó, cả Giu-cốp lẫn Ma-len-cốp đều thiếu số liệu đầy đủ nên không thể đánh giá đúng mức số lực lượng mà Vôn Pao-luýt đã rút ra để đối phó với cuộc tiến công của ta từ phía bắc xuống. Cho nên trong văn kiện có khẳng định là « đại bộ phận » lực lượng địch đã phải rút từ Xta-lin-grát ra. Bây giờ thì chúng ta biết chắc chắn, theo các nguồn tin của ta cũng như của Đức, là Pao-Iuýt chỉ rút có hai sư đoàn ở mạn tây-bắc thành phố thôi, tại Xta-lin-grát vẫn còn 12 sư đoàn địch đang chuẩn bị tiến công thành phố.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #37 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2019, 09:01:10 pm »


5

        Quân địch trong khi đẩy lui cuộc phản công của các đơn vị phương diện quân Xta-lin-grát từ phía bắc, đồng thời cũng chuyển nỗ lực chính của chúng từ phía tây vào thành phố. Chúng đánh theo ba hướng: hướng Gum- rắc — Gơ-rô-dít-chê với lực lượng của quân đoàn 51, hướng Các-pốp-ca — Vô-rô-pô-nô-vô — Cu-pô-rốt- snôi-ê vào chỗ tiếp giáp tập đoàn 62 và 64, đánh đòn mạnh nhất với lực lượng của quân đoàn xe tăng 48, và hướng Bê-kê-tốp-ca để tiến ra sông Vôn-ga với lực lượng của quân đoàn 4.

        Các đơn vị của tập đoàn 62 và 64 trong 10 ngày, vừa đẩy lui các cuộc tiến công của địch, vừa từ từ rút về vành đai bảo vệ bên trong. Có lúc phải đánh giáp lá cà. Một số đơn vị đánh đến cùng, quyết không chịu để cho địch chiếm khu phòng thủ của mình.

        Bộ tư lệnh phương diện quân lo ngại quân Đức có thể thọc được ra sông Vôn-ga và vượt qua sông, đã để ra các biện pháp cần thiết để bảo đảm việc phòng thủ tả ngạn sông Vôn-ga, trong khu vực Pô-grom-nôi-ê — Xviết- li-i-a. Năm lữ đoàn của quân đoàn xe tăng 2 triển khai ở khu vực này, nhưng các lữ đoàn lại không có xe tăng. Ngoài ra, phía tả ngạn còn tổ chức cụm pháo binh mặt trận, chia ra làm bốn đội: đội phía bắc có 86 khẩu pháo và súng cối yểm trợ cho tập đoàn quân 62, đội phía nam có 64 khẩu pháo và súng cối yểm trợ cho tập đoàn quân 64, đội của thủy đội sông Vôn-ga có 16 pháo chiến đấu trên sông và một đội pháo cao xạ.

        Tới ngày 12 tháng chín, các đơn vị của tập đoàn quân 62 và 64, sau khi đã chống cự rất anh dũng, trước áp lực của quân địch đông hơn, buộc phải lui về tuyến bảo vệ thành phố. Lúc đó, quân địch đã thọc được ra sông Vôn- ga ở khu vực Cu-pô-rốt-xnôi-ê, cô lập tập đoàn quân 62 với các đơn vị của mặt trận. Tập đoàn quân 62 nhận nhiệm vụ bảo vệ khu trung tâm Xta-lin-grát và các khu nhà máy. Tuyến phòng ngự của tập đoàn quân kéo dài từ hữu ngạn sông Vôn-ga gần Rư-nốc qua Óoc-lốp-ca, phía tây Gô-rô-dit-chê và Ra-dơ-gu-li-ai-ép-ca, trạm thí nghiệm, ga xe lửa Xa-dô-vai-a, Cu-pô-rốp-xnai-a. Chỗ xa nhất từ bờ sông Vôn-ga đến Oóc-lổp-ca chừng 10 ki-lô-mét. Các cuộc chiến đấu ngay trong thành phố bắt đầu từ ngày 13 tháng chín.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #38 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2019, 09:02:06 pm »


6

        Một tháng rưỡi của cuộc sống chiến đấu đã cho tôi học tập được rất nhiều. Tôi có điều kiện nghiên cứu địch trong chiến đấu, phân tích các ý đồ chiến đấu, chiến thuật của chúng.

        Thủ đoạn chiến thuật và chiến đấu cơ bản của các tướng lĩnh Đức là đánh các mũi thọc sâu hội tụ vào một điểm. Nhờ vào ưu thế về không quân và xe tăng, bọn xâm lược có thể vượt qua được phòng tuyến của ta tương đối dễ dàng, thọc sâu bằng những mũi giao nhau, tạo ra hình thái bề ngoài bao vây và buộc quân ta phải lui. Nhưng chỉ cần chống cự ngoan cường, chặn đứng hoặc đánh tan một mũi là mũi thứ hai dao động lúng túng.

        Ở, chiến trường bên kia sông Đông cũng vậy. Khi mũi nhọn của quân đoàn 51 Đức bị chặn ở sông Tria-rơ, thì mũi xung kích thứ hai bị chững lại ở khu vực Véc-khơ- ne Bu-di-nốp-ca. Ở chiến trường phía nam cũng như thế. Tháng tám, khi tập đoàn quân 64 và 57 đẩy lui được các cuộc tiến công của địch ở mặt trận phía tây và tây- nam thì cụm quân thứ hai của chúng, đã tiến tới sông Vôn-ga ở phía bắc thành phố, buộc phải nằm bất động hơn tuần lễ.

        Chiến thuật của địch có thể nói là rập khuôn theo một kiểu. Bộ binh chi dám mạnh dạn xung phong khi các xe tăng đã tiến tới mục tiêu. Và xe tăng thường chỉ tiến công khi nào không quân đã bay trên đầu các đơn vị ta. Chỉ cần làm sai lệch trình tự này là cuộc tiến công của địch sẽ bị chững lại và các đơn vị của chúng sẽ quay lại phía sau.

        Ở sông Đông cũng vậy, khi sư đoàn 112 đánh thắng trong nhiều ngày liền các cuộc tiến công ở khu vực Véc- khơ-ne Triếc-xcai-a và Nô-vô-mắc-xi-mốp-xki, không quân địch đã không dám bay trên các vị trí của ta vì có một đội phòng không mạnh ở gần đó bảo vệ cầu xe hỏa qua sông Đông.

        Ở sông Ác-sai cũng diễn ra tương tự: xe tăng địch không kịp yểm trợ cho bộ binh, và bộ binh bị đánh lui.

        Ở Plô-đô-vi-ti, Áp-a-nê-rô-vô và các khu vực khác cũng luôn luôn như thế.

        Quân xâm lược không chịu nổi các cuộc tiến công bất ngờ của ta, đặc biệt là các cuộc tiến công của pháo binh và súng cối. Chúng ta chỉ cần tổ chức tốt hỏa lực pháo binh, giã vào nơi tập trung quân địch là thấy ngay binh lính Hít-le rối loạn và hoảng hốt chạy trốn.

        Chúng cũng không chịu được đánh gần. Vũ khí tự động của chúng bắn từ xa trên một ki-lô-mét, trong khi đạn của chúng không đi được nửa cự ly đó. Chúng bắn để giữ vững tinh thần và cố gắng uy hiếp quân ta. Chúng cũng không chịu nổi các cuộc phân xung phong của ta, và lập tức nằm rạp xuống hoặc rút lui. Liên lạc giữa bộ binh, xe tăng và không quân được tổ chức tốt, nhất là nhờ pháo hiệu và không quân. Chúng báo hiệu nhận nhau cho không quân bằng hàng chục, hàng trăm pháo hiệu, do đó làm lộ vị trí và trận địa. Các chiến sĩ và sĩ quan của ta khám phá ra cách báo hiệu đó và đã tranh thủ lợi dụng, làm cho dối phương nhiều lân bị lầm lẫn.

        Nghiên cứu, phân tích thủ đoạn chiến thuật và chiến đấu của địch, tôi cố gắng tìm ra các biện pháp, thủ đoạn đối phó. Tôi suy nghĩ nhiều nhất về cách loại trừ hay làm giảm ưu thế của không quân đích và tác động tinh thần của chúng đối với bộ đội ta trên chiến trường. Tôi nhớ lại các trận chiến đấu chống bọn bạch vệ và bọn phản động Ba-lan trong thời kỳ nội chiến 1918—1920, khi phải tiến công dưới làn đạn đại bác vầ súng máy của địch mà mình không có pháo binh yểm trợ. Lúc đó, chúng tôi chạy rất nhanh tiếp cận địch không để cho pháo binh địch có thời gian chỉnh lại tầm bắn. Tiếng thét « xung phong » nổi lên đồng loạt giúp quyết định trận đánh, và địch không thể nào ngăn chặn được cuộc tiến công của cluing ta.

        Tôi đi đến một kết luận chung là thủ đoạn chiến đấu tốt nhất chống quân xâm lược là đánh gần, ngày cũng như đêm, dưới những dạng phong phú. Phải bám càng sát địch càng tốt, cho không quân địch không oanh tạc được tuyến một hoặc các hào tiền tiêu của ta. Phải làm cho mỗi tên lính Đức cảm thấy chúng trở thành cái bia, vũ khí Nga lúc nào cũng sẵn sàng đãi chúng một chầu đạn chết người.

        Những ý kiến trên đây xuất hiện trong đầu óc tôi trong những lúc suy nghĩ về số phận thành phố, mục tiêu của các cuộc chiến đấu ác liệt. Tôi nghĩ rằng phải lợi dụng các trận đánh trên đường phố để buộc địch phải đánh gần, làm cho chúng không phát huy được con chủ bài chính của chúng là không quân.

        Ngày 11 tháng chín năm 1942, tôi được triệu tập đến Hội đồng quân sự chung cho cả hai phương diện quân Xta-lin-grát và Tây-Nam.

        Sau khi bắt tay tạm biệt các đồng chí Xu-mi-lốp, A- bra-mốp và các đồng chí khác, tôi đi đến bộ tham mưu mặt trận ở I-a-mi trên tả ngạn sông Vôn-ga.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #39 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2019, 10:03:54 pm »


        Đường đi về tuyến sau đầy chướng ngại. Các đường ngang đều chen chúc bộ đội đang rút hoặc người tản cư. Máy bay địch tiến hành những cuộc tiến công kẻ cướp vào thường dân đang đi về hướng đông. Các bến qua sông đều bị ùn người. Các phà qua các nhánh sông Vôn-ga hoạt động thất thường và lúc nào cũng phải chở đầy người.

        Trên bờ sông Vôn-ga, các xe ngựa kéo và xe tải chở thương binh dồn cục lại. Một cảnh thật đau lòng. Nhưng lúc đó, chúng tôi cũng không thể nào giúp đỡ họ được chút gì. Thấy tôi đeo quân hàm cấp tướng, nhân dân xúm vào hỏi: « Tình hình trong thành phố thế nào ? », « Chúng ta có thể để mất Xta-lin-grát không ? », « Bao giờ chấm dứt cuộc rút lui ? ».

        Tôi không biết kế hoạch của Đại bản doanh, nhưng tôi tin chắc rằng chúng ta sẽ bảo vệ Xta-lin-grát bằng tất cả sức lực của mình. Tôi nói cho thương binh yên tâm: «Chúng ta sẽ không bỏ Xta-lin-grát cho địch. Không thể được... Không còn chỗ nào để rút lui nữa ».

        Nhưng khi họ hỏi tôi bao giờ họ được sơ tán thì tôi chịu không trả lời được.

        Các thương binh nằm ngay ngoài trời. Băng gạc thấm đầy máu và bụi gióng như vỏ cây phong nhuộm. Ăn uống thất thường. Bác sĩ và y tá mệt nhoài.

        Bệnh viện đã chiến đặt ở gần một bến qua sông. Tôi bước vào phòng phẫu thuật. Bác sĩ đang mổ cho một chiến sĩ bị thương ở mông. Mặt các bác sĩ và y tá còn trắng bệch hơn cả áo choàng trắng của họ. Mọi. người đều kiệt sức vì làm việc nhiều và thiếu ngủ. Người bị thương rên rỉ. Dưới chân bàn một chậu đầy miếng gạc đẫm máu. Bác sĩ phẫu thuật liếc nhìn tôi rồi lại tiếp tục làm việc. Mổ ca này xong lại mổ ngay ca khác. Ngày hôm nay không biết đã là ca thứ mấy mươi rồi ?

        Người ta đặt lên bàn một chiến sĩ bị thương ở đầu. Anh ta lầm bầm mê sảng, lúc tháo băng, chắc là đau đớn lắm, nhưng anh ta không hét mà chi rên rỉ thôi. Ở các bàn mổ khác, quang cảnh cũng như vậy. Tôi thấy ngột ngặt, một dư vị cay đắng khó chịu trong miệng. Ở đây cũng là mặt trận.

        Đêm đến, tôi vượt qua được sông Vôn-ga.

        Bờ phía tây đang bốc cháy. Ánh lửa soi sáng cả mặt sông lẫn bờ phía đông. Không cần bật đèn pha nữa. Đường quanh co, mấp mô, nhiều lúc tôi suýt bắn xuống sông. Đạn đại bác Đức có lúc bay qua thành phố, bay qua sông và nổ bên tả ngạn. Bọn phát xít bắn như đồ đạn vào «các đường đi từ phía đông sang thành phố. Người chưa có kinh nghiệm chiến đấu tưởng như trong thành phố rực lửa không còn chỗ để mà sống nữa, tưởng như tất cả đã bị phá hủy, cháy trụi. Nhưng tôi biết rằng trên bờ bên kia cuộc chiến đấu vẫn tiếp tục, một cuộc giao tranh khổng lồ đang diễn ra.

        Ban đêm, chúng tôi tới I-a-mi, nói đúng hơn là đến nơi trước đây còn là làng I-a-mi. Quân địch đã phá hủy hoàn toàn làng này bằng pháo tầm xa và bom, và quân ta lại lấy nốt những gì còn lại để làm hầm và làm chất đốt. Ở đấy, tôi không tìm thấy Bộ tham mưu mặt trận, cũng chả gặp được ai có thể cho tôi biết hiện nay Bộ tham mưu ở đâu.

        Sau khi đi lang thang đến tận hai giờ sáng, cuối cùng tôi đến được hầm của tướng A-lếch-xăng-drốp, phụ trách hậu cần của tập đoàn quân 64. Đồng chí liền dẫn tôi đến Bộ tham mưu.

        Bộ tham mưu mặt trận làm việc dưới hầm, được ngụy trang phía trên bằng các bụi cây nhỏ. Sĩ quan thường trực bảo cho tôi biết là các ủy viên Hội đồng quân sự và đồng chí tham mưu trưởng vừa mới đi nằm nghỉ. Đồng chí ấy không rõ về lý do triệu tập tôi đến Bộ tham mưu và đề nghị tôi cũng nên đi nghỉ, chờ đến sáng, và tôi đành phải ngủ đêm đó ở chỗ tướng A-lếch-xăng-drốp. Đây là lần đầu tiên trong suốt thời gian chiến đấu, tôi ngủ được một đêm yên ổn. Giao tranh ở cách đây 8 —10 cây số, quân địch ở bên kia sông Vôn-ga và tôi không lo bị bất ngờ.

        Mười giờ đúng ngày 12 tháng chín, tôi đến Bộ tham mưu mặt trận và được Tư lệnh mặt trận, đồng chí A. E-rê-men-cô và ủy viên Hội đồng quân sự, đồng chí N. Khơ-rút-xốp tiếp ngay.

        Các đồng chí báo cho tôi biết là tôi được chỉ định làm tư lệnh tập đoàn quân 62 và phổ biến nhiệm vụ cho tôi như sau: Quân Đức đã quyết định chiếm thành phố bằng mọi giá. Không thể để Xta-lin-grát rơi vào tay chúng, không thể lùi xa hơn về phía nào được. Tư lệnh tập đoàn quân 62 cho rằng tập đoàn quân không thể giữ được thành phố.

        Cuối cùng, Tư lệnh mặt trận hỏi tôi: «Đồng chí Trui- cốp. Đồng chí hiểu nhiệm vụ như thế nào ? ».
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM