Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:47:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Xta-lin-grát trận đánh của thế kỷ  (Đọc 25057 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #120 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2019, 05:43:35 am »


        Tám xe tăng địch tiến công vào chiếc xe tăng Liên Xô do Khát-xan I-am-bê-cóp lái trong khu vực thị trấn của những phi công. Anh giao chiến với địch và phá hủy được bốn chiếc, nhưng rồi xe của anh bị một phát đạn bắn cháy. Các tên lính tiểu liên bao vây quanh xe, đợi cho tổ lái nhảy ra là bắt sống. Nhưng các chiến sĩ Xô- viết quyết tâm không hàng, đã chiển đẩu đến viên đạn cuối cùng. Khi khỏi lửa đã bắt đầu bao trùm toàn xe, đài thường trực của đơn vị xe bỗng nhận được trên làn sóng tiếng nói quen thuộc của người chỉ huy xe tăng I-am-bê-cốp: « Từ giã các đồng chí! Đừng quên chúng tôi!». Rồi vang lên tiếng hát: «Vùng lên! Tổ quốc bao la của ta! Đứng lên trong trận sống mái với quân thù!». Các chiến sĩ xe tăng đã hát như vậy, những chiến sĩ Xô-viết Khát-xan I-am-bê-cốp, thợ máy—lải xe Ăng-đrây Ta-ra-ba-xốp, báo vụ viên Vát-xi-li Mu-chi-lốp, và khẩu đội trưỏng Xéc-gây Phô-đen-cô, đã anh dũng hy sinh và rất đáng tự hào như vậy.

        Những đoàn viên thanh niên cộng sản từ khắp miền đất nước Liên Xô đến chiến đấu ở pháo đài sông Vôn- ga đã tỏ ra xứng đáng là những người con của Tổ quốc Xô-viết.

        Chúng ta không quên được anh trung sĩ trẻ I-a-cốp Páp-lốp, người «chủ» của «ngôi nhà Páp-lốp» nổi tiếng. Chúng ta cũng không quên được trung úy trẻ Ti-mô- phây Xê-mát-cô anh hùng trong trận đánh ở sông nhánh Mét-chét-ca ẩm ướt. Trong chiến đấu, những đoàn viên thanh niên cộng sản trở thành lính hồn của các toán xung kích nổi tiếng lợi hại và đã giữ một vai trò to lớn trong chiến thuật chiến đấu trên đường phố.

        Hiện nay chúng ta còn giữ được những bảo vật thiêng liêng, các thẻ đoàn viên thanh niên cộng sản còn nhuộm máu các chiến sĩ bảo vệ thành phố, thu lượm được trên trận địa. Đây là thẻ số 13145761 bị một mảnh đạn xé rách. Một đoàn viên của thành phố Xa-ra-tốp, binh nhì Ni-cô-lai Bô-cô-đu-chin, 19 tuổi, đã xông lên tiến công với tấm thẻ này ở trong túi và đã hy sinh rất anh hùng.

        Và đây nữa là tấm thẻ đoàn khác, xung quanh bị cháy, của chiến sĩ xe tăng quê vùng U-cra-i-na, Pi-ốt Vlát- xen-cô. Người chiến sĩ trẻ này ra nhập đoàn thanh niên cộng sản mới được vài ngày trước khi hy sinh. Anh nhận thẻ đoàn ngay trên trận địa. Trong trận đánh ác liệt với quân thù, xe tăng của anh bị bắn cháy. Vlát- xen-cô đã chiến đấu đến cùng. Xung quanh xe anh nằm la liệt hàng chục xác tên lính Đức bị chết.

        Đoàn viên thanh niên cộng sản người Ca-dắc là Kít-xim A-man-giơ-lốp, đã giữ thẻ đoàn của mình như một bảo vật thiêng liêng. Bị trúng đạn địch trên đường phố của một thị trấn công nhân, Kít-xim đã ngã xuống còn nắm chặt thẻ đoàn trong tay. Đó là ngọn cờ của anh. Anh chiến đấu và hy sinh cùng với nó.

        Còn đây là các tấm thẻ bị đạn bắn thủng của Vát-xi- li Bu-tốp và A-lếch-xăng ô-lê-nhi-chép. Hai đoàn viên này đã ngã xuống trên quảng trường Giéc-din-xki, ở hàng đầu của những người chiến sĩ xung phong đánh chiếm lại nhà máy Máy Kéo có bọn lính tiểu liên Đức phục kích trong các phân xưởng nhà máy.

        Trong thời gian giao tranh trên bờ sông Vôn-ga không phải hàng chục, hàng trăm, mà là hàng ngàn người trẻ tuổi được để bạt làm chỉ huy trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, khẩu đội pháo binh. Những cán bộ chỉ huy này đã củng cổ cho đơn vị vững chắc. Đó là những đảng viên trẻ, tinh hoa của đoàn thanh niên cộng sản.

        Tinh thần dũng cảm chưa từng thấy, tinh thần kiên cường không gì sánh nổi, đã làm cả thế giới phải kinh ngạc, bắt nguồn từ đâu vậy? Lòng dũng cảm và quyết tâm, những đạo đức cao quý ấy của thanh niên Xô-viết là tài sản truyền thống của đảng bôn-sê-vích. Những đạo đức đó được tôi luyện trong những năm của kế hoạch 5 năm, qua lao động quên mình trên các công trường nhà máy thủy điện trên bờ sông Đơ-nhi-ép, trên sông A-mua, các nhà máy ở sông Vôn-ga và U-ran, U- cra-i-na và Xi-bê-ri, ở miền Bắc và miền Nam.

        Các đảng viên và đoàn viên thanh niên cộng sản của tập đoàn quân 62, chỉ một ưu tiên trong hàng ngũ của minh là đứng ở hàng đầu và chiến đấu giỏi hơn tất cả.

        Sự kết đoàn trong tình bạn chiến đấu là kết quả của công tác Đảng đã được tiến hành liên tục và sâu sắc. Các chiến sĩ yêu mến và tôn trọng các cán bộ chỉ huy của mình, che chở và bảo vệ họ. Các cán bộ chỉ huy luôn luôn đi sát các chiến sĩ và trực tiếp chiến đấu như chiến sĩ. Mối tình anh em chiến đấu ấy đã củng cố được kỷ luật và trật tự.

        Làm sao lại có thể khác được ? Chiến sĩ và sĩ quan Xô-viết đều xuất xứ từ cùng một chỗ đứng duy nhất. Tiếc thay! đó là điều mà các sử gia tư bản chuyên nghiên cứu về nguyên nhân thất bại của nước Đức trên mặt trận phía Đông không thể hiểu được.

        Bị lửa đạn và sông lớn cắt rời khỏi hậu phương lớn, chúng tôi toàn tâm toàn ý gắn chặt với toàn thể nhân dân Liên Xô lúc nào cung chăm lo đến chúng tôi. Không một ngày nào chúng tôi cảm thấy bị lãng quên. Chúng tôi nhận được thư, bưu phẩm, điện báo, không kể đến đạn dược, vũ khí. Và sự quan tâm đó đã động viên các chiến sĩ của tập đoàn quân 62 nỗ lực lập chiến công, vì các chiến sĩ đều biết rằng chiến công của mình sẽ mãi mãi được nhân dân nhớ đến.

        Và họ đã trụ lại!

        Trên đỉnh đồi Ma-mai-ép đã xây dụng một đài kỷ niệm các chiến sĩ bảo vệ Xta-lin-grát. Nơi này trở thành chốn thăm viếng của hàng triệu người từ khắp nơi trên thế giới.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #121 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2019, 05:44:41 am »


2

        Tôi đã nói đến điều chủ yếu, đến những động lực trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, đến lòng yêu nước, yêu Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, lòng trung thành với lý tưởng cộng sản, đến ý thức đảng của người chiến sĩ. Nhưng tất cả những cái đó sẽ trở thành vô nghĩa nếu trong quá trình diễn biến của cuộc chiến tranh, chúng tôi không làm chủ được nghệ thuật chiến đấu để giúp chứng tôi, với những lực lượng kém hơn địch lại có thể chống đỡ được các đòn tiến công của chúng, chặn chúng lại và rồi đánh đuổi chúng về phía tây.

        Mặc dù các điều kiện cơ động đặc biệt gian khổ, các đơn vị của tập đoàn quân 62 cũng vẫn hành binh và ban đêm đến tăng cường cho những hướng xung yếu. Bọn Đức thường bị bất ngờ. Ở những nơi mà ngày hôm trước chưa có và hầu như không có gì, thì hôm sau chúng đã vấp phải sức chống cự mạnh mẽ, có lúc cả những cuộc phản kích nữa.

        Chiến thuật của bọn tướng tá Hít-le chiến đấu trong thành phố đã bị phá sản. Trong các cuộc chiến đấu trên đường phố, các mũi nhọn của chúng bị nghiền nát và mất sắc nhọn. Ưu thế về số lượng phương tiện, đặc biệt về không quân của chúng cũng không đem lại cho chúng được kết quả quyết định nào trong cuộc chiến đấu trên đường phố. Âm mưu dùng không quân để hủy diệt tất cả và mở đường cho bộ binh, không thực hiện được. Các toán xung kích của chúng tôi áp sát quân địch, chỉ cách một tầm lựu đạn ném tay, đặt các phi công Đức trước một vấn để hắc búa: làm thể nào để ném bom xuống người Nga mà không đụng đến quân của họ ? Và thường thường khi họ cố oanh tạc các toán xung kích của chúng tôi thì bom của họ lại rơi vào chính đầu lính Đức.

        Đây là một ví dụ. Trong khu vực mặt trận của sư đoàn Xmê-khốt-vô-rốp, các chiến hào của chúng tôi rất gần quân Đức, có một ngôi nhà đã bị tàn phá. Gần ngôi nhà đó hai bên đánh nhau bằng lựu đạn. Không quân Đức được gọi đến chi viện bắt đầu oanh tạc các vị trí của chúng tôi và của quân chúng, không phân biệt được đâu là chiến hào của bên này, đâu là của bên kia. Để tránh bom, quân ta cũng như quân Đức phải ẩn núp trong các tầng hầm dưới nhà. Họ ở trong đó chừng 20 phút, lúc ngồi, lúc nằm để giữ cho đầu khỏi bị mảnh bom văng phải. Khi cuộc oanh tạc chấm dứt, họ tranh luận nhau xem bên nào bị bắt làm tù binh. Và kết thúc cuộc tranh cãi là quân ta dem về được 17 tù binh Đức.

        Chúng tôi đánh lại quân Đức bằng chiến thuật chiến đấu trên đường phố không có khuôn mẫu trước, mà sáng tạo ra trong thực tế và luồn luôn được hoàn thiện. Vấn đề quan trọng nhất, chúng tôi học tập được trên bờ sông Vôn-ga là không dung thứ việc sao chép công thức. Chúng tôi luôn luôn căn cứ vào tình hình cụ thể mà tìm ra những biện pháp tổ chức và chỉ đạo chiến đấu mới.

        Như tất cả các thành phố hòa bình của chứng tôi, Xta- lin-grát không được chuẩn bị trước cho một cuộc phòng ngự, và lại càng không được chuẩn bị trước cho một cuộc chiến đấu lâu dài trong điều kiện bị vây hãm. Chúng ta không xây dựng trước các công trình phòng ngự trong các phố, mà chỉ đến khi các cuộc chiến đấu bắt đầu mới buộc phải xây dựng. Đó cũng là một đặc điểm tác chiến của tập đoàn quân 62.

        Những trung tâm đề kháng, trong đó có các điểm tựa là các vị trí phòng ngự chủ yếu của chúng tôi. Những công sự trong thành phố, những ngôi nhà xây bằng gạch hay bằng đá chắc chắn nhất được dùng làm điểm tựa phòng thủ và nối liền với các ngôi nhà khác bằng các đường hào giao thông. Các khoảng cách giữa các điểm tựa được bảo vệ bằng hỏa lực và các vật cản do công binh tạo ra.

        Nói chung, một số ngôi nhà hoặc một nhóm công trình trên các hướng chủ yếu đều được sửa thành các điểm tựa. Bộ đội ta thường chọn các nhà xây bằng đá đã bị dốt cháy, vì quân địch trước khi xung phong không thể lại đốt các ngôi nhà đó và hun ngạt những người phòng thủ ở bên trong, Mỗi điểm tựa, tùy theo kích thước và sự quan trọng của tòa nhà, được một tiểu đội, một trung đội, một đại đội và đôi khi có cả một tiểu đoàn phòng thủ. Các điểm tựa đều sửa sang lại để có thể chống giữ được bốn phía và có thể đơn độc chống giữ được trong nhiều ngày. Một nhóm điểm tựa được hợp lại thành một hệ thống hỏa-lực và cố thủ dưới sự chỉ huy thống nhất, tạo thành một trung tâm đề kháng. Các phân xưởng lớn của các nhà máy có các ngôi nhà kiên cố bằng sắt và bê tông cốt thép có hệ thống cống ngầm giúp ta có thể phòng ngự được lâu dài và kiên cường.

        Lần đầu, chúng tôi ít sử dụng đến các công trình ngầm của nhà máy, như các rãnh đặt dây điện và điện thoại, đặt ống dẫn nước, vì chúng tôi không biết đến các đường cống rãnh đó. Nhưng trong quá trình chiến đấu, khi đã liên lạc được với ban quản trị nhà máy và các tổ chức Đảng ở các quận, thì tất cả đều được lợi dụng để chiến đấu chống quân thừ. Nhằm làm cho địch cơ động khó khăn, các đường phố và các quảng trường trong thành phố đều đặt các vật cản đủ loại. Các lối di đến gần các vật cản đó đều nằm trong phạm vi hỏa lực được bố trí làm nhiều tầng, thành nhiều hỏa điểm, ở các ngôi nhà gần đó, đan thành mạng như bàn cờ. Bộ đội giữ các điểm tựa hoặc các trung tâm đề kháng đó gần người ở đủ các binh chủng. Họ được tăng cường các súng phun lửa, các trọng, đại liên, súng chống tăng, đại bác, súng cối, xe tăng và được các khẩu pháo ngụy trang kỹ yểm hộ. Đó là chưa kể đến các chai xăng đặc, hoặc lựu đạn chống tăng mà chúng tôi Cố gắng trang bị đến từng chiến sĩ.

        Các điểm tựa cũng có các nhà thiện xạ bắn tỉa, các chiến sĩ công binh, hóa học và một đại diện quân y có đủ thuốc men, bông băng.

        Chỉ huy các đơn vị bộ binh đồng thời là chỉ huy các điểm tựa (các ổ đề kháng). Các trạm quan sát pháo binh bắn từ các trận địa bắn che khuất, bao giờ cũng ở sát bèn họ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #122 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2019, 05:45:01 am »


        Cảc phương tiện hỏa lực của một tòa nhà phòng thủ thay đổi tùy theo sự kiên cố và vị trí của tòa nhà trong thành phố. Các tòa nhà nhiều tầng, việc phòng thủ cũng được chia làm nhiêu tầng. Các vị trí chỉ huy bắn dọc theo đường phố, đều đặt ở các tầng hầm dưới và tầng một hay tầng hai, để bắn vào các xe tăng địch, các phố, các sân, các nhà kế cận, còn với các mục tiêu xa thì đặt ở các tầng cao và sát nóc các kho. Các khẩu pháo bắn thẳng và một số trọng liên, kể cả súng máy bắn gần, đều bố trí ở các tầng thấp, còn các trọng liên bắn xa và các súng máy cỡ lớn được đặt ở các tầng cao, các xạ thủ đều bô trí rải rác ở khắp tòa nhà. Các khẩu pháo bắn thẳng, các xe tăng, các trọng liên dùng giữ lối vào nhà, các đầu hồi và các khoảng cách giữa các nhà đều bố trí ra ngoài nhà theo nhiều lớp có chiều sâu hoặc ở bên sườn.

        Đặc điểm chiến đấu trong thành phố buộc phải trang bị cho các đơn vị bộ binh súng tự động, lựu đạn và các chai xăng đặc. Một mạng lưới hỏa điểm dự bị và lâm thời được thiết lập cho tất cả các lực lượng, để tạo ra khả năng cơ động hỏa lực được rộng rãi theo mọi hướng. Trong tổ chức hệ thống hỏa lực, phải dùng đến nhiều phương tiện hỏa lực tầm gần, không những bằng súng bộ binh mà cả những khẩu pháo bắn trực tiếp và nhất là súng cối, có thể bắn vào địch qua các vật cản cao thẳng đứng.

        Việc chống xe tăng trong thành phố cũng có những đặc điểm riêng. Chống xe tăng phải tiến hành ở gần. Các chiến sĩ săn tăng vũ trang bằng chai xăng đặc, súng và lựu đạn chống tăng, đã giữ một vai trò quan trọng bậc nhất. Chiến thuật thông dụng là phục kích, lợi dụng các khe hở trong các hàng rào, tường, cổng ra vào, cửa vào và cửa sổ của các nhà. Việc phòng thủ vòng cung chống xe tăng ở một điểm tựa và một trung tâm đề kháng, được bảo đảm bằng cách bố trí các hỏa lực bắn thẳng và hỏa lực của các xe tăng, để có thể đẩy lui được các cuộc tiến công của xe tăng địch từ mọi phía, kề cả từ phía sau lưng. Vì thiếu pháo nên phải cấu trúc những lối đi cần thiết cho các nhóm cơ động qua lại dễ dàng và các công sự có hàng, rào mìn và súng chống tăng bảo vệ. Các trận địa hỏa lực của các khẩu đội độc lập được trang bị như các điểm tựa chống tăng. Một số các điểm tựa này bảo vệ trên một hướng quan trọng chặn đường tiến của các xe tăng địch, hợp thành một khu vực chống tăng.

        Vị trí các cơ quan tham mưu, cho đến cả cơ quan thám mưu của tập đoàn quân, các sở chỉ huy, các trận địa hỏa lực pháo binh cũng được trang bị như các điểm tựa. Tóm lại, việc phòng ngự được tổ chức thành nhiều dải theo chiều sâu, từ tiền duyên cho đến tận bờ sông Vôn-ga. Tất cả các cơ quan hậu cần và các cơ quan khác cũng tổ chức thành các đơn vị chiến đầu và đều có khu vực phòng ngự của mình.

        Việc trinh sát, do chính các sĩ quan các cấp tự đảm nhiệm, có một vai trò quan trọng đối với việc tổ chức phòng ngự. Người chỉ huy trung đoàn bộ binh nhờ tự bản thân mình tiến hành trinh sát mà có thể xác định được tiền duyên của các trận địa phòng ngự, mức độ quan trọng của công tác công trình cần thiết phải làm để củng cố công sự phòng ngự ở các hướng quan trọng. Chính người trung đoàn trưởng đó mới tổ chức được tốt việc hiệp đồng hỏa lực, cấu trúc công sự phòng ngự ở tiền duyên và trong khu vực phòng ngự, tổ chức tốt việc bảo vệ các khu đệm giữa các tiểu đoàn, các trung đoàn, các trung tâm đề kháng và các điểm tựa, chỉ ra được hướng phản kích của các lực lượng dự bị và các biện pháp bảo đảm cho các đơn vị cơ động.

        Chỉ huy các tiểu đoàn và đại đội bộ binh cũng tự mình trinh sát và tổ chức việc phòng ngự ở các điểm tựa và các trung tâm đề kháng, cũng như các khu đệm. Họ chỉ huy hoạt động của các phân đội đóng xung quanh các điểm tựa và chọn các vị trí bắn gần cho súng máy và pháo, chọn các hướng phản kích và chuẩn bị các đường giao thông hào cho bộ đội cơ động, chỉ định cho các thiện xạ khu vực và nhiệm vụ phòng ngự.

        Việc tổ chức phòng ngự được hoàn thiện trong quá trình chiến đấu, và những khi cuộc giao tranh tạm lắng thì lại tranh thủ củng cố các vật cản và tăng cường hệ thống hỏa lực. Việc phòng ngự được chú ý một cách đặc biệt. Chúng tôi cố gắng thanh toán các chỗ bị địch chọc sâu vào vị trí của chúng tôi, bằng hỏa lực và các cuộc phản kích, và thường bất ngờ đánh vào sườn và sau lưng quân tiến công. Những cuộc phản kích ấy thường làm cho địch bị thiệt hại nặng và buộc chúng phải từ bỏ các cuộc tiến công trên hướng đã chọn, mất thời gian tìm ra các điểm yếu trong hệ thống phòng ngự của chúng tôi và làm chậm bước tiến của chúng. Một hình thức hoạt động của chứng tôi là đánh vào sườn hoặc đánh vỗ mặt vào cụm quân đang chuẩn bị tiến công. Mục đích không chỉ để gây thiệt hại cho địch mà còn sử dụng bộ binh và xe tăng, có pháo binh và không quân yểm trợ, đánh thọc vào các vị trí xuất phát tiến công của chúng, làm rạn vỡ đội hình, khiến cuộc tiến công của chúng bị thất bại và phải kéo dài thêm thời gian.

        Nếu quân địch chọc thủng được tiền duyên phòng ngự của chúng tôi, thì chúng cũng vấp phải một hệ thống phòng ngự có chiều sâu, có thể trong suốt cuộc giao tranh luôn phản kích vào các chỗ yếu và các sườn bị hở của chúng trong hành tiến.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #123 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2019, 05:45:21 am »


        Chúng tỏi không sợ khi quân địch thọc sâu qua tiền duyên đánh vào dải phòng ngự của chúng tôi, vì bên trong đã có các ổ chiến đấu và các vật cản chống xe tăng. Đồng thời, bộ đội sẽ cố gắng dùng hỏa lực cắt bộ binh địch ra khỏi xe tăng của chúng, buộc chúng phải nằm dán xuống đất ngoài tiền duyên. Xe tăng địch có thọc sâu được thì cũng bị các tay súng chống tăng và săn tăng tiêu diệt. Đôi khi chúng còn bị rơi vào các túi và vấp phải các ổ chống xe tăng, các trận địa pháo đã được chuẩn bị trước để đánh xe tăng. Ưu thế của chúng tôi là được ẩn nấp trong các công sự che khuất, còn quân địch bị phơi trần ngoài phố, tạo thành những chiếc bia sống. Hỏa lực của các thiện xạ bộ binh và các xạ thủ pháo binh giội xuống đầu quân xâm lãng, và nhiều lúc, cả những bức tường, mái nhà, trần nhà cũng được làm nổ tung rơi xuống đầu chúng.

        Khi quân địch chiếm được một ngôi nhà trong công trình nào thì các thê đội hai và các đội dự bị sẽ đánh bật chúng ra và tổ chức phản kích để khôi phục lại tình hình. Các thê đội hai bố trí ở các điểm tựa bên trong dải phòng ngự, ngăn chặn quân địch trên các hướng dự kiến chúng sẽ tiến công và luôn sẵn sàng phản kích bằng toàn bộ hoặc một phần lực lượng của mình. Trường hợp không đủ lực lượng và phương tiện để phản kích thì đội hình chiến đấu được tổ chức để các đội dự bị bố trí trong các tòa nhà quan trọng và kiên cố nhất. Gặp tình huống bất lợi, các thê đội hai và lực lượng dự bị sẽ chuyển sang phòng ngự ở các điểm tựa đã được chuẩn bị sẵn trên các hướng bị uy hiếp. Đi đôi với việc cấu trúc các trận địa phòng ngự, các thê đội hai (đội dự bị) còn chuẩn bị các hướng phản kích trong phạm vi khu vực của mình cũng như để chi viện cho các đơn vị bạn. Việc chuẩn bị đó gồm tổ chức hiệp đồng và mở đường cơ động, có nghĩa là dọn đường qua các sân, các mảng tường đồ, thiết bị các đài quan sát và các trận địa bắn của pháo binh.

        Ngay lúc bắt đầu các cuộc chiến đấu trong nội thành, đã thấy ngay là các phương pháp chỉ huy chiến đầu ở dã ngoại không thể áp dụng được. Các công sự của địch đặt trong các nhà xây bằng đá và hỏa lực dày đặc của chúng làm cho các cuộc phản kích của ta gặp nhiều khó khăn và bị nhiều thiệt hại. Trong quá trình chiến đấu và tiến hành phản kích, hai bên đều bị hở sườn và đội hình chiến đấu của hai bên đều bị các tòa nhà được củng cố để phòng ngự chia cắt. Phòng ngự tích cực trong các điều kiện như vậy có nghĩa là bộ đội khi tiến hành phản kích, phải đánh chiếm các ngôi nhà có quân Đức cố giữ ở bên trong khu phòng ngự của chúng tôi, hoặc phải tiến công vào các khu nhà mà quân Đức đã biến thành các điểm tựa ở phía trước tiền duyên.

        Khi bắt đầu giao tranh, các phân đội nhỏ dễ lọt được vào các khu đệm giữa các điểm tựa và các ổ đề kháng của địch, và hoạt động có kết quả hơn cả. Họ bao vây địch, lọt sâu vào các khu phố và xung phong chiếm lấy các tòa nhà, rồi nhanh chóng biến các tòa nhà ẩy thành vị trí phòng ngự của mình.

        Các phân đội bộ binh nhỏ không thể vượt qua được mọi chướng ngại trong thành phố bằng hỏa lực riêng của mình và cũng không dập tắt được các hỏa điểm của địch. Mặt khác, hỏa lực pháo binh từ các trận địa bắn che khuất không có tác dụng lắm. Vì thế cho nên, muốn phá hủy các tòa nhà và các bức tường, trong có quân địch , phải tăng cường thêm pháo và xe tăng để yểm hộ cho bộ binh. Muốn phá vỡ các bức tường, vượt qua các vật cản và đánh bật quân địch ra khỏi các điểm tựa, phải tăng cường các chiến sĩ công binh và chiến sĩ hóa học cho các phân đội nhỏ. Bởi vậy đã thành lập ra các phân đội nhỏ, gọi là các đội xung kích, tùy theo mục tiêu tiến công mà bố tri người và phương tiện cho thích hợp. Chi huy và cơ quan tham mưu của các đội này, tổ chức việc xung phong chiếm các điểm kiên cổ của địch. Mỗi đội xung kích thường gồm một trung đội hoặc một đại đội bộ binh (từ 20 đến 50 tay súng) được tăng cường thêm hai hoặc ba khẩu pháo bắn thẳng, một hay hai tiểu đội công binh và chiến sĩ hóa học. Toàn đội được trang bị tiểu liên và rất nhiều lựu đạn. Hoạt động của các đội xung kích này tạo nén sức mạnh phòng ngự làm cho thần kinh quân địch luôn luôn bị căng thẳng. Trước các đòn tiến công của các đội xung kích này, quân địch buộc phải bỏ lại các tòa nhà, kề cả các điểm tựa của chúng. Các cuộc tiến công ấy thường không có pháo bắn chuẩn bị. Thời cơ tiến công tùy thuộc vào tình hình, thái độ của quân địch và thời gian chúng nghỉ ngơi, ăn uổng hoặc thay phiên. Tranh thủ các thời cơ đó, chúng tôi thường bắt sống được cả toàn bộ đơn vị của địch trong các hầm ngầm.

        Kinh nghiệm cho thấy các đội xung kích và các điểm tựa đã giữ vai trò rất quan trọng trong chiến đấu phòng ngự. Các đơn vị của tập đoàn quân đã đẩy lui các cuộc tiến công của quân địch, phản kích lại chúng, xuất kích táo bạo và nắm quyền chủ động. Sức mạnh của các chiên sĩ ta ở chỗ vừa phòng ngự, lại vừa liên tục tiến công.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #124 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2019, 05:58:20 am »


        Các đội xung kích cũng giữ một vai trò to lớn trong khi tiến hành phản kích. Bằng những đòn táo tạo và bất ngờ, họ cướp lại các tòa nhà, các khu phố mà quân địch đã chiếm được. Các đơn vị của tập đoàn quân 62 đã lập ra các nhóm chiến đấu: nhóm xung phong, nhóm yểm trợ và nhóm dự bị. Cả ba nhóm chiến đấu này thực hiện cùng một nhiệm vụ duy nhất, tạo thành một đơn vị gọi là đội xung kích chiến đấu trong thành phố. Lực lượng và thành phần của mỗi đội xung kích tùy thuộc vào mục tiêu tiến đánh. Đội trưởng sẽ xác định lực lượng và thành phần trong quá trình chuẩn bị hành động, dựa vào các tin tức do quân báo cung cấp, vào tính chất và tầm quan trọng của vị trí định chiếm. Các nhóm xung phong có từ 10 đến 12 người là lực lượng chính của đội. Họ là những người đầu tiên đột nhập vào các tòa nhà, các lô cốt, và chiến đấu độc lập trong đó. Mỗi nhóm cố nhiệm vụ riêng. Họ được trang bị nhẹ như: tiểu liên, lựu đạn, dao găm, cuốc xẻng. Việc chỉ huy các nhóm được giao cho một người chỉ huy thống nhất đem theo pháo sáng, dôi khi có cả điện thoại.

        Nhóm yểm trợ thường chia làm nhiều tổ, xông vào nhà cùng lúc và từ nhiều hướng, theo các nhóm xung phong sau khi người chỉ huy đã bắn tín hiệu « có mặt». Khi vào được trong nhà và chiếm được các hỏa điểm của địch, họ tổ chức ngay việc phòng ngự và bố trí ngay hệ thống hỏa lực bắn vào đối phương và làm tê liệt mọi cố gắng của địch đến cứu viện cho số quân bị tiến công. Các nhóm yểm trợ được trang bị vũ khí nặng như: trọng liên và trung liên, súng chống tăng, súng cối, kích, cuốc và thuốc nổ. Mỗi nhóm thường có các tay thiện xạ và các chiến sĩ chuyên môn khác có khả năng sử dụng thích hợp vào việc tiêu diệt quân địch.

        Nhóm dự bị dùng tăng cường cho các nhóm xung phong, để đánh lại các mũi phản kích tạt sườn của địch và trong trường hợp cần thiết sẽ làm nhiệm vụ bao vây địch. Khi cần, có thể lấy ngay các nhóm dự bị đó để lập những nhóm xung phong bổ sung.

        Kinh nghiệm của chúng tôi là nhất thiết phải lập các đội xung kích với những người cùng một đơn vị. Mỗi trung đội, mỗi tiểu đội, mỗi chiến sĩ đều phải biết cách đánh đó.

        Thời cơ và sự bất ngờ, là hai yếu tố thiết yếu cho tác chiến thắng lợi của đội xung kích. Mỗi người chỉ huy được giao nhiệm vụ đánh chiếm một điểm tựa hay một trung tâm đề kháng, trước hết phải biết lợi dụng yếu tố thời cơ và yếu tố bất ngờ. Trong các cuộc cận chiến trong phố, các yếu tố đó càng có ý nghĩa quyết định quan trọng.

        Lựu đạn là vũ khí không thể thiếu được của các chiến sĩ xung kích. Lựu đạn quyết định cho cự ly xuất phát tiến công. Vị trí xuất phát tiên công càng gần địch bao nhiêu càng có lợi bấy nhiêu. Từ đó, thắng lợi của các đội xung kích của tập đoàn quân 62 phần lớn tùy thuộc vào việc bí mật tiếp cận quân địch. Kinh nghiệm của các chiến sĩ Xô-viết cho thấy nếu bò đến gần địch, biết lợi dụng các hố đại bác, ban đêm đào hào giao thông và ngụy trang các hào đó ban ngày, rồi bí mật lặng lẽ tập trung trước khi lao lên xung phong, với tiểu liên quàng ở cổ cùng 10—12 quả lựu đạn đeo trên người, thì chắc chân là đã nắm được thời cơ và bất ngờ.

        Chiến thuật của các đội xung kích dựa vào những hành động nhanh chóng, sáng tạo và dũng cảm của mỗi chiến sĩ. Tôi đã đúc kết về chiến thuật đó như sau: người lính xung kích và quả lựu đạn, cả hai đều phải xông vào trong nhà ; cả hai phải nhẹ gọn — người không đeo bạc đà, lựu đạn không để nắp; cùng ập vào nhà, lựu đạn đi trước, người theo sau; và cứ như thế xông vào khắp khu nhà — lựu đạn đi trước, người đi sau.

        Chiến đấu trong một tòa nhà bị địch chiếm, thường đầy những tình huống bất ngờ. Ở đây xuất hiện một quy luật khắt khe: phải biết ngoái lại ! Mối nguy hiểm rình mò người chiến sĩ từng bước. Không được mất tỉnh táo ! Ném lựu đạn vào mỗi góc phòng và tiến lên! Lia một tràng tiểu liên lên mảng trần còn lại, nếu thế chưa đủ thỉ lại ném một quả lựu đạn nữa và lại tiến lên! Sang phòng tiếp theo lại lựu đạn! Đến chỗ ngoặt, lại ném lựu đạn và lia ngay một tràng tiểu liên nữa! Mà không được chậm trễ, trù trừ.

        Ngay khi anh đã vào đến trong nhà, quân địch vẫn có thể phản kích. Đừng có sợ! Anh đã giữ được chủ động trong tay. Ném lựu đạn dữ hơn, dùng cả tiểu liên, dao găm và xẻng nữa! Chiến đấu trong nhà là một cuộc vật lộn điên cuồng. Cho nên phải sẵn sàng đối phó với những sự bất ngờ. Đừng có nghếch mắt lên trời mà nguy!

        Trong các đơn vị của tập đoàn quân 62, một điều đã trở thành quy luật, là nếu hỏa lực của địch tập trung trong một tòa nhà đã biến thành điểm tựa thì việc xung phong đánh chiếm phải bất ngờ và không có pháo bắn chuẩn bị. Đội xung kích đồng thời được vài khẩu pháo và xe tăng bắn trực tiếp qua các khe tường nứt yểm trợ, hoặc phá hủy tòa-nhà để cho việc xung phong nhanh chóng và mãnh liệt hơn.

        Việc tiến công bằng đường ngầm và bộc phá cũng rất có hiệu quả và được sử dụng khi tiếp cận các tòa nhà bằng các phương tiện khác có thể gây ra thiệt hại nặng.

        Biết sử dụng các đội xung kích và các hình thức cùng phương tiện chiến đấu khác, đã giúp chúng tôi giữ vững và chiến thắng.

        Tập đoàn quân 62 đã chiến đấu trên dọc dường từ sông Vôn-ga đến Béc-lin. Tập đoàn quân đã tập kích đánh chiếm được nhiều thành phố, trận địa, khu vực phòng ngự kiên cố, và chiếm Béc-lin. Tôi phải nói rằng, các cuộc giao tranh ấy chỉ giống nhau về tên gọi, còn về quan niệm, theo sự chuẩn bị và thực hiện các trận đánh ấy, thực ra đều khác nhau. Chúng ta cũng có thể nói như vậy về các đội xung kích. Các đội xung kích ở Xta-lin-grát không giống như các đội xung kích Da- pô-rô-giê, ô-đét-xa, Béc-lin và các thành phố khác, không giống các đội đã đánh vào pháo đài Pô-dơ-nan và khu vực phòng ngự kiên cố Mê-xê-rét. Nhưng tập đoàn quân 62, sau này trở thành tập đoàn quân Cận vệ thứ 8, dù đánh chiếm thành phố, hay khu vực phòng ngự kiên cố nào khác, đều không quên Xta-lin-grát, nơi đã ra đời ,các đội xung kích.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #125 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2019, 05:59:05 am »

        
3

        Tôi muốn nói máy lời về sự tham gia của các chiến sĩ gái trong việc bảo vệ Xta-lin-grát.

        Trong quân đội Xô-viết có những đơn vị như các đội cao xạ, các trung đoàn máy bay ném bom đêm U.2, trong đó các pháo thủ, tổ lái đã số là nữ. Và phải nói rằng các đơn vị đó thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu của mình xuất sắc, không kém gì các đơn vị có đã số là nam.

        Trong quân đoàn cao xạ của Xta-lin-grát, phần lớn người nạp đạn hoặc thành viên trong các tổ chiếu đèn pha là nữ. Họ không bao giờ rời vị trí chiến đấu và tiếp tục bắn, ngay khi hàng chục trái bom rơi xuống đầu họ, khi không thể chỉnh được đường bắn chính xác nếu không ở lại bên các khẩu pháo đó.

        Tháng mười, tôi có dịp gặp năm cô gái nạp đạn, tuồi đời còn trẻ mãng nhưng, đã dày dạn trong khói lửa chiến đấu. Tôi không bao giờ quên được nét mặt bực bội của một cô trắc thủ, tóc vàng màu đồng thau. Cô đã bắn một tốp chín máy bay ném bom của địch đang bổ nhào, và chỉ bắn rơi có một chiếc, trong khi theo ý các cô bạn cùng khẩu đội, thì có thể hạ được hai hay ba chiếc.

        Các trung đội thông tin của tập đoàn quân 62 cũng chủ yếu gồm các cô gái trẻ. Khi ta nhìn thấy họ làm việc ở trạm thông tin liên lạc trung gian, ta có thể đoán chắc rằng liên lạc sẽ được bảo đảm. Dầu trạm có bị pháo binh và sủng cối địch bắn phá, dầu bom trút xuống dữ dằn nhằm vào trạm, dầu trạm bị địch bao vây, các cô gái ấy vẫn không bao giờ rời trạm mà không có lệnh trên, mặc dầu những hành động như thế là đùa rỡn với cái chết

        Tôi biết một trưởng hợp ở trạm thông tin liên lạc trung gian trong khu đường tránh tàu Bát-xác-ghi-nô. Trạm chỉ còn lại một cô gái trẻ làm điện thoại viên tên là Na-đi-a Cli-men-cô. Tất cả các cô đồng nghiệp khác đã hy sinh hay, bị thương nằm quanh, cô ta, nhưng Cli- men-cô vẫn không rời vị trí và cho đến phút cuối cùng vẫn báo cáo về sở chỉ huy tình hình diễn ra trên trận địa. Đây là những lời cuối cùng của cô, nhận được ở trung tâm thông tin liên lạc của tập đoàn quân: « Cả trạm không còn một người nào của ta cả. Tôi chỉ còn lại một minh. Đạn nổ xung quanh tôi... Phía bên phải, tôi trông thấy các xe tăng địch, có sơn cờ chữ thập ngoặc trên thành xe, đang tiến đến và có bộ binh theo sau. Tôi không còn biết đi đâu được nữa. Chắc chúng sẽ hạ được tôi. Tôi sẽ báo cáo thêm. Chú ý nghe!... Một xe tăng tiến đến gần trạm của tôi, hai tên nhảy ra khỏi xe. Chúng sục. sạo xung quanh. Hình như chúng là sĩ quan. Chúng tiến lại phía tôi...». Đến đây thì liên lạc bị dứt.

        Trong những năm năm mươi, tôi gặp lại một chị nguyên là điện thoại viên, cựu chiến sĩ của tập đoàn quân 62, bây giờ là bí thư quận ủy Xim-li-an-xcơ, đồng chí Ra-du-mê-ê-va. Tôi biết chị lần đầu tiên ngày 13 tháng chín năm 1942 trên đồi Ma-mai-ép. Trạm thông tin liên lạc bị bom đạn phá hủy nhưng chị vẫn ngồi bên máy điện thoại gọi bắt liên lạc với chỉ huy các đơn vị. Ra-du-mê- ê-va tình nguyện gia nhập bộ đội và đã dành tất cả sức lực cùng kiến thức của mình cho việc bảo vệ Tổ quốc. Năm 1943 chị gia nhập Đảng. Sau khi phục viên, chị làm giáo viên và từ năm 1949, chị làm công tác Đảng.

        Trước mặt tôi là một phụ nữ khiêm tốn, nghiêm túc, nói về các bạn gái chiến đẩu của mình thì nhiều, nhưng chỉ nói về mình khi tôi hỏi chị những câu trực tiếp và yêu cầu chị nói chi tiết hơn về những việc gì chị đã tự làm:

        — Nói cho đồng chí nghe về tôi ư? — Chị nhún vai một cách ngạc nhiên — Nhưng chính là tôi nói về tôi đấy chứ. Lúc đó, trên đồi Ma-mai-ép, bên cạnh tôi có Ma- ri-a Gu-li-ai-ê-va, một cô gái nhỏ quê ở Ca-mi-chin, đã cùng với tôi đào một hầm để máy trong ngày 12 tháng chín năm 1942 giữa lúc máy bay địch ném bom liên tục. Cùng với Ma-ri-a Gu-li-ai-ê-va và Xu-ra Chê-chê-ni-a, tôi đã ngồi thưởng trực ở tổng đài. Cũng trong thành phố nhưng ở một số nơi khác, có Tai-a Vđô-vi-na, Li- u-ba Xtu-ca-lô-va, Cláp-đi-a Chờ-tông-đa, Lê-na Pê-rê- tôn-chi-na và một số chị em khác nữa... Tôi còn nhớ ngày 31 tháng tám 1942, ở khe I-a-blô-nê-vai-a có Pha-ni-a Ra-đơ-nhích, người nhỏ nhẵn, da rám nắng, tóc quăn màu hạt dẻ, ngồi với một cô bạn đồng nghiệp cạnh điện dài trong chiếc lều vải ở chỗ trống trải, kề bên một hố bom. Các cô nghe thấy tiếng máy bay ném bom của địch gầm rít và đến, gần. Nhưng các cô không rời vị trí vì cần phải phát di một tin tức khẩn về cuộc tiến công của quân Đức, báo cho sở chỉ huy biết là xe tăng địch đã chọc thủng phía sau lưng của một đơn vị. Một nguyên tắc đối với các cô gái báo vụ vô tuyến điện là không bỏ rơi đồng đội bất kể nguy hiểm đến mức nào.

        Quan sát đường bay và nghe tiếng bom rít, các cô gái đã phán đoán được gần đúng nơi bom nổ. Máy bay bay qua lần thứ nhất, rồi lần thứ hai. Họ vẫn phát điện. Nhưng máy bay quay lại lần thứ ba, và bây giờ ở chỗ lều vải chỉ còn là một hố bom sâu hoắm.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #126 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2019, 05:59:53 am »


        Sự kiện xảy ra trong những ngày này biến động nhanh đến nỗi người ta không có thì giờ chôn cất những cô gái. Và họ nằm vĩnh viễn ở khe I-a-blô-nê-vai-a, những ngôi mộ chiến sĩ vô danh trong hàng ngũ Hồng quân đã ngã xuống trong khi làm nhiệm vụ. Chiều tối hôm đó, Ra-du- mê-ê-va còn nói chuyện với tôi về cô bạn tốt Xu-ra Chê-chê-ni-a của mình. Trước chiến tranh cô ta công tác trong một nhà trẻ. Khi được tin phòng động viên gọi đến mấy nữ đoàn viên thanh niên cộng sản có nguyên vọng gia nhập Hồng quân, thì A-ỉếch-xăng-đra Chê-che-ni-a, gọi thân mật là Xu-ra, đã đến gặp ngay đồng chí giám đốc nhà trẻ và cho biết là cô cũng muốn ra mặt trận. Rồi ngày vui mừng đó đã đến. Cuối tháng tư 1942, Xu-ra lúc này đã là đảng viên dự bị cùng với năm nữ đoàn viên thanh niên cộng sản khác nữa, đến phòng tuyển quân. Mọi thủ tục đều làm xong trong một ngày và ngày 2 tháng năm, bè bạn tiễn sáu cô gái lên đường nhập ngũ. Sau một tháng thực tập ở lớp điện thoại viên mở tại Át-xtra-khan, Xu-ra được điều tới đại đội đặc biệt của khu vực phòng thủ kiên cố 115 và làm việc ở tổng đài. Sự kiện đó vào tháng bảy 1942 ở trên sông Đông. Từ ấy, ngay trong những hoàn cảnh gay go nhất, Xu-ra cũng không bao giờ rời tổng đài của mình. Ngày 13 tháng chín, trên đồi Ma-mai-ép thiết lập trạm liên lạc giữa chỉ huy khu vực phòng thủ kiên cố và thiếu tướng Pô-giác-xki. Ngày hôm đó, ở đấy không có lấy được một phút, lắng dịu nào. Đạn pháo và súng cối bắn không lúc nào ngớt. Dĩ nhiên là khó mà giữ được liên lạc, nhưng cũng vẫn giữ được. Đến ba giờ chiều chỉ còn lại một mình Xu-ra ở trạm liên lạc, còn các người khác đều đi nối đường dây. Không còn ai để phái đi sửa lại dường dây dứt, Xu-ra đã nói với đại đội trưởng:

        — Cho phép tôi đi nối lại chỗ đứt. Tổng đài không có tôi người ta cũng mầy mò cắm được phích liên lạc.

        — Đạn địch bắn dữ dội lắm, đồng chí không thể đến chỗ dây đứt đâu, nói gì đến nối dây.

        — Tôi đi được và làm được, đồng chí trung úy ạ. Chỉ cần đồng chí cho phép tôi — Xu-ra năn nỉ.

        Đại đội trưởng đồng ý, và Xu-ra từ biệt chui ra khỏi hầm đặt tồng đài.   «

        Xu-ra nối được dây và gọi được về nhiều lần. Số ít người c6 mặt trên đồi Ma-mai-ép lúc đó đều nhớ ngày 14 tháng chín, buổi trưa liên lạc lại bị đứt và từ đó họ không nghe thấy tiếng Xu-ra nữa.

        Tôi vẫn luôn nhớ các cô điện thoại viên sống và làm Việc trong các điều kiện khó khăn như thế nào. Không ai làm hầm, làm chỗ nấp cho các cô gái ấy trong thành phố đang chiến đấu. Họ tự đào lấy hào giao thông để ẩn nấp, cho cá nhân hay tập thể, rồi vớ được cái gì thì che bằng cái ấy, và ở trong hào hàng tháng trời, ngủ ngay tại nơi làm việc.

        Tháng mười, khi quân địch đã phá hủy hết tất cả các hầm của cơ quan tham mưu, các điều kiện sinh hoạt và công tác lại còn gay go hơn nhiều đối với nữ quân nhân ở bên hữu ngạn. Họ phải làm việc trong các đường hào chật hẹp, thiếu không khí, phả ngủ ngoài trời và hàng tháng không biết đến nước nóng là gì.

        ... Ta-ma-ra Chơ-ma-cô-va phục vụ ở sư đoàn của Ba-chi-úc. Tôi biết cô rất rõ. Cô nổi tiếng vì đã cõng được các thương binh nặng từ tuyến đầu về, trong khi hình như không thể giơ nổi một bàn tay lên khỏi mặt đất mà không bị ăn đạn địch. Ta-ma-ra trườn, bò đến gần người bị thương và nằm ngay bên cạnh anh để băng bó cho anh. Tùy theo vết thương nặng nhẹ mà cô quyết định cách xử trí. Nếu không thể để thương binh tại trận địa thì Ta-ma-ra luồn xuống dưới người anh và tập trung, hết sức lực của mình, cố gắng cõng thương binh đôi khi nặng gấp rưỡi cô về trạm cứu thương. Và khi nào không nâng được thương binh lên để cõng thì cô trải áo mưa ra, đặt thương binh lên và vừa bò vừa kéo thương binh đi.

        Ta-ma-ra Chơ-ma-cô-va đã cứu được nhiều người. Nhiều thương binh được sống sót luôn biết ơn cô đã cứu sống mình. Nhưng thường những chiến sĩ mà cô đã cứu thoát, thậm chí cũng không biết được tên cô nữa. Hiện nay cô là y sĩ ở khu Đồi.

        Những chiến sĩ anh hùng như Ta-ma-ra không phải là hiếm trong tập đoàn quân 62. Hơn một ngàn phụ nữ đã có tên trong danh sách được khen thưởng, của các đơn vị ở lập đoàn quân. Trong số này có Ma-ri-a U-li- a-nô-va, suốt từ ngày đầu đến ngày cuối của cuộc chiến đấu  phòng ngự làm việc trong ngôi nhà «Ráp-lốp»; Va- li-a Pa-khô-mô-va đã đưa từ trận địa về trạm hơn trăm thương binh; Na-đi-a Giác-khich được tặng thưởng huân chương Cờ đỏ; y sĩ Ma-ri-a Vô-li-a-mi-dô-va ở hỏa tuyến đã băng bó hàng trăm binh sĩ, sĩ quan, và nhiều người khác nữa. Cô Li-u-ba Nét-xte-ren-cô đã ở vị trí bị địch bao vây của trung úy Đra-gan và đã băng bó cho hàng chục chiến sĩ Cận vệ bị thương, rồi hy sinh bên cạnh một thương binh, người đẫm máu, tay vẫn còn căm cuộn băng. Như thế, phải chăng không là nữ anh hùng?
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #127 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2019, 06:00:10 am »


        Trong nửa sau của tháng mười, tình hình trong thành phố trở nên phức tạp, khoảng cách giữa tiền duyên với sông Vôn-ga rút hẹp lại đến nỗi Hội đồng quân sự buộc phải đưa một số đơn vị chuyên môn sang tả ngạn để tránh tổn thất vô ích. Hội đồng quyết định cho phụ nữ sơ tán đi trước. Đã có lệnh cho các sĩ quan và các chỉ huy đơn vị, phải cho các chiến sĩ gái sang tả ngạn để nghỉ ngơi vài ngày rồi mới trở lại hữu ngạn.

        Hội đồng quân sự ra quyết định ngày 17 tháng mười nhưng sáng ngày 18, một đoàn đại biểu nữ chiến sĩ thông tin, đứng đầu là Vi-Ii-a Tô-ca-rê-va đã đến gặp tôi. Va- li-a đặt vấn để thẳng thắn, dứt khoát:

        — Đồng chí tư lệnh, tại sao đồng chí lại đưa chúng tôi sơ tán khỏi thành phố? Chúng tôi muốn hoặc cùng chết với mọi người, hoặc phải đánh tháng quân thù đáng nguyền rủa. Tại sao đồng chí lại có sự phân biệt giữa nam và nữ? Phải chăng chúng tôi thực hiện nhiệm vụ tồi hơn nam giới ? Đồng chí nghĩ thế nào thì nghĩ, nhưng chúng tôi nhất định không qua bên kia sông đâu.

        Cuộc trao đổi này xảy ra ngày 18 tháng mười, là ngày chúng tôi chuyển sang sở chỉ huy mới, tôi phải trả lời chị em là chúng tôi chưa thể tổ chức được đầy đủ các phương tiện liên lạc và tình hình buộc chúng tôi phải dùng đến các phương tiện nhẹ, đến các đài vô tuyến xách tay để bảo đảm chỉ huy các đơn vị, và chính vì ly do duy nhất độ mà tôi phải cho các chị em về bên kia sông, chừng nào chưa cấu trúc được các công trình để hoạt động bằng các phương tiện thông tin nặng. Đoàn đại biểu chị em nhận chấp hành đúng chỉ thị của Hội đông quan sự, nhưng yêu cầu tôi phải lấy danh dự hứa là khi nào các điều kiện công tác cần thiết đã có thi lập tức cho chị em trở lại hữu ngạn.

        Chị em qua sông Vôn-ga ngày 18 tháng mười, nhưng từ ngày 20, cứ mỗi lần Crư-lốp, Gu-rốp, hay tôi liên lạc điện thoại tới tả ngạn là y như rằng các cô gái không để chúng tôi yên. Họ nói: «Chúng tôi đã nghỉ ngơi rồi. Khi nào thì đồng chí cho chúng tôi trở lại thành phố ? », hoặc « Đồng chí tư lệnh, bao giờ thì đồng chí giữ lời hứa ? ». Chúng tôi đã phải giữ lời hứa. Cuối tháng mười tôi phải  cho các cô ấy cùng với phương tiện chuyển sang hữu ngạn, vào các hầm đã được chuẩn bị sẵn.

        ... Tôi còn nhớ các nữ trinh sát đặc biệt nổi danh ở Xta-lin-grát, trong đó có Ma-ri-a Vê-đô-nhê-ê-va, Li-đã Grê-lô-va, Ma-ri-a Mô-lô-ri-na, đã nhiều làn bò trườn qua những đống đô vỡ, những hầm ngầm, qua các khe và các đường ống để vượt qua tiền duyên của mặt trận, tiến sâu vào hậu phương địch. Một chị đã viết về các hoạt động ở giữa các đơn vị địch như sau : «Một ngày tháng chín, chị bạn Grê-lô-va và tôi ngỏ ý muốn tình nguyện đi trinh sát ở sau lưng quân Đức. Chúng tôi được gọi đến hầm ban tham mưu trên bờ sông và chúng tôi nhận được các chỉ thị chi tiết về công việc phải làm và những điều phải chú ý. Chúng tôi nhận được nhiệm vụ phải điều tra địa điểm của cơ quan tham mưu quân Đức, vị trí đóng quân, các trận địa bắn, khu sơ tán dân chúng, chúng tôi phải tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra ở kho thóc, và sẽ đột nhập vào khe Vích-nhi-ô-vai-a bằng cách nào. v.v. Tôi nhớ, trong một đêm tối trời tháng chín, chúng tôi ra khỏi ngôi nhà "Páp-lốp», đồng chí Vô-lô-đi-a Pi-mê- nốp đi theo để chỉ cho chúng tôi cách vượt qua quảng trường « Mồng chín tháng giêng ». Chúng tôi cẩn thận qua được quảng trường, tới một ngôi nhà một tầng bị phá hủy gần ga tránh tàu và chúng tôi ở bèn cạnh đống gạch ngói đổ vỡ cả một đêm. Sáng hôm sau, để thực hiện nhiệm vụ, chúng tôi từ thành phố ra đi. Đến nơi đóng quân của bộ chỉ huy Đức thấy có đám đông đang tập trung và biết được là bộ chỉ huy Đức đang chuẩn bị đưa dân đi Ca-lát- chơ trên sông Đông. Trong phố Pút-kin, chúng tôi thấy rất nhiều xe đậu trước cửa một ngôi nhà có các sĩ quan Đức ra vào. Chúng tôi ghi nhận kỹ lưỡng ngôi nhà này. Dó là cơ quan tham mưu của một sư đoàn Đức. Ở gần nhà tắm Xuốc-xcai-a, chúng tôi được biết là các sĩ quan Đức thường đến tắm vào ngày thứ bảy và chúng tôi cũng ghi nhớ cẩn thận chi tiết này. Trên đường đi tới nhà ga, chửng tôi gặp dân chúng báo cho biết là quân Đức đang chuẩn bị tiến công ngay từ chiều hôm đó. Chúng tôi quyết định ra ga để xem sự thể ra sao, nhưng bọn Đức không cho chứng tôi vào ga. Đến khu vực nhà máy băng truyền cao ở kho thóc, chúng tôi được biết là hàng ngày quân Đức vẫn dùng tàu và xe tải chở thóc lúa đi. Trên đường ra khe Vích-nhi-ô-vai-a gần thị trấn nhà máy Tháng Mười Đỏ, chúng tôi nhận thấy các trận địa hỏa lực, nhưng đó là những khẩu pháo mới đưa đến, còn nằm trên đường ray và xa hơn có các khẩu pháo sáu nòng. Ở khu vực nhà máy Tháng Mười Đỏ có rất nhiều lính Đức, nhưng chúng không cho chúng tôi vào khu này. Sau khi đã thu lượm được trong hai ngày các tin tức quy định, ban đêm chúng tôi trở lại quảng trưởng «Mồng chín tháng giêng », và đi qua quảng trường này chúng tôi đến cái cối xay gió ở gần ngôi nhà « Páp-lốp ». Mọi người đều vui mừng thấy chúng tôi đã trở về và mời chúng tôi xuống hầm cơ quan tham mưu, để nghe chúng tôi báo cáo lại chi tiết công việc. Sau đó, chúng tôi được dẫn đến một cái hầm lát nắp. Ở đấy tư lệnh tiếp chúng tôi, chăm chú nghe chúng tôi báo cáo và ghi chép các ký hiệu trên bản đồ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #128 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2019, 06:00:29 am »


        Có người nói là các tin tức xuất phát từ nguồn tin của hai nữ trinh sát viên chỉ có giá trị nhỏ nhoi về mặt chiến thuật chứ không có giá trị chiến dịch, càng không có giá trị chiến lược được. Như vậy, thật không đúng. Tập đoàn quân 62 có nhiều nguồn tin và nhiều hình thức quân báo khác nhau. Chúng tôi cố gắng nắm được hậu phương quân địch, để phán đoán những gì sẽ chờ đợi chúng tôi ngày hôm sau và các ngày sau nữa. Đối với chúng tôi, những người bảo vệ một thành phố trái dài hàng chục ki-lô-mét dọc theo sông Vôn-ga, chiều ngang từ 3 đến 5 ki-lô-mét, thì điều đặc biệt quan trọng là nắm được những gì đang xảy ra ở ngay sau lưng quân Đức, bên sau tuyến phòng ngự thứ nhất. Nhận được các tin tức như vậy, qua nhiều nguồn và nhiều phương tiện khác nhau, sẽ giúp cho tư lệnh tập đoàn quân có cơ sở để quyết định dùng pháo binh, súng cối và đạn ca-chiu-sa để đè bẹp hoặc vô hiệu hóa sự chỉ huy của nhiều cơ quan tham mưu trung đoàn và sư đoàn của địch và giáng những đòn đích đáng vào các vị trí pháo binh, súng cối và các kho đạn dược của chúng, hướng dẫn cho không quân ta ban đêm tập kích vào các nơi tập trung quân và đập tan những đội quân địch đang chuẩn bị tiến công

        Thông tin liên lạc là bộ dây thần kinh mà không có nó  thì không thể chỉ huy được bộ đội trong chiến tranh hiện đại.

        Trong các trận đánh trên sông Vôn-ga, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến việc thông tin liên lạc, bởi lẽ số phận việc bảo vệ thành phố tùy thuộc vào công tác thông tin liên lạc có được chính xác và liên tục hay không. Nếu ở dã ngoại, các báo cáo chiến sự từ hỏa tuyến gửi về có lâu, mất trên một tiếng mới qua được cơ quan tham mưu sư đoàn để về đến cơ quan tham mưu tập đoàn quân, thì trong cuộc chiến đấu trong thành phố sự chậm trễ đó lại không thể chấp nhận được.

        Ở dã ngoại, trong một tiếng đồng hồ chiến đấu, đối phương dẫu có tiến được hai, ba ki-lô-mét cũng chỉ có thể làm sứt mẻ hộ thống phòng ngự ít thôi. Nhưng ở trong thành phố, nơi chiều sâu phòng ngự ở một số khu vực có khi chỉ chừng vài trăm mét thôi mà để quân địch tiến được như vậy sẽ là một thảm họa rồi. Chúng tôi cần nắm được tin trước về ý đồ của quân địch để không cho chúng đánh bất ngờ. Muốn được như vậy, người và vũ khí phải luôn luôn sẵn sàng để từng phút có thể bước vào chiến đấu ngay, và nhanh chóng giáng trở lại địch. Vì vậy, sẽ không thể giải quyết được các vấn đề đó nếu không tổ chức liên lạc tốt với quân báo, với các đơn vị phía trước, các đài quan sát, các khấu đội pháo bố trí bên kia sông Vôn-ga, các chỉ huy đơn vị và đội dự bị, các tổ chức hậu cần tiếp tế cho bộ đội. Chỉ có thông tin liên lạc chính xác và liên tục bằng vô tuyến và hữu tuyến, và tổ chức tốt việc bắn tín hiệu pháo sáng mới có thể  bảo đảm được chỉ huy tác chiến, thông báo kịp thời cho bộ đội về cuộc tiến công địch đang chuẩn bị, đế họ đón đánh khi chúng tiếp cận các vị trí của quân ta, hay khi chủng đang tập trung người và phương tiện ở nơi trống trải. Không có thông tin liên lạc, chúng tôi không thể chỉ huy được bộ đội, không thể nã đại bác hay súng cối, hướng dẫn máy bay và phương tiện chiến đấu khác vào khu vực bị quân tiến công uy hiếp.

        Các sở chỉ huy của các sư đoàn và của tập đoàn quân đều ở bên hữu ngạn sông Vôn-ga, cách tiền duyên từ 300 đến 1000 mét. Cơ quan chỉ huy ở gần bộ đội cho phép người chỉ huy các cấp theo dõi được diễn biến trận đánh, nắm được mọi thay đổi của tình hình và đề ra các quyết định đúng lúc. Phương pháp chỉ huy tốt nhất, có hiệu quả nhất, là liêu lạc trực tiếp giữa cấp trên và cấp dưới. Tuy nhiên, điều đổ không có nghĩa là các đài vô tuyến điện và điện thoại mất ý nghĩa quan trọng. Trái lại, chúng tôi luôn chú ý đến các phương tiện đó. Nhưng tổ chức cho hệ thống vô tuyến điện và điện thoại hoạt động liên tục được, không phải là việc dễ dàng. Những cuộc bắn phá, oanh tạc liên miên, nhất là của không quân địch vào các sở chỉ huy và các khu vực có trạm thông tin, đã làm cho dây điện thoại bị cháy và bị đứt luôn và bộ đội thông tin bị thiệt hại nặng nề. Tập đoàn quân bị cắt làm ba đoạn, cho tới tận sông Vôn-ga, và cùng lúc phải chiến đẩu ở ba khu vực biệt lập nhau. Do hỏa lực mạnh của địch bắn vào sở chỉ huy của tập đoàn quân, nên không thể dùng được các đài vô tuyến điện lớn. Dải sông ở đằng sau bộ đội cũng là một trở ngại đáng kể. Tôi vẫn luôn nhìn thấy bộ mặt căng thẳng của tham mưu trưởng N.Crư-Iốp và của chủ nhiệm thông tin, đại tá, sau này là thiếu tướng M.I-u-rin, đã qua nhiều đêm cắm cúi trên bản đồ và sơ đồ, củng cố các phương án tổ chức thông tin liên lạc cũ để chỉ huy bộ đội, và nghiên cứu đề xuất những phương án mới. Cơ quan tham mưu tập đoàn quân đã phải thay đổi vị trí chỉ huy tới năm lần, điều đó có nghĩa là mạng liên lạc với bộ đội đã phải năm lần tổ chức lại dưới các trận phi pháo liên tục.

        Không hiếm những trường hợp mà hai hay ba sư đoàn phải nối song song vào một đường dây, và để bảo đảm liên lạc thường xuyên, các sư đoàn phải nối với các trạm phụ, phải thực hiện liên lạc bằng mạng dây vu hồi.

        Các tổ sửa chữa làm việc ở các trạm kiểm soát chính và ở tất cả các trạm phụ.

        Mạng liên lạc bằng đường dây nói chung thường được vô tuyến điện bổ sung, tăng cường, và các chiến sĩ thủy quân còn dùng liên lạc bẳng tín hiệu.   

        Trung tâm vô tuyến điện cơ bản của tập đoàn quân chỉ được trang bị các máy phát yếu và ở sát sở chỉ huy. Nhưng chúng tôi đã tổ chức một trung tâm phụ, với các máy có công suất lớn, ở bên kia sông Vôn-ga, cách cơ quan tham mưu tập đoàn quân chừng 10 ki-lô-mét. Qua trung tâm phụ này, chúng tôi giữ được liên lạc với bộ tham mưu phương diện quân, không quân và các đơn vị hậu cần.

        Để đảm bảo cho các máy vô tuyến điện làm việc có hiệu quả hơn, cần thiết phải cải tiến các máy phát vô tuyến điện để có thể làm việc được bằng mi-crô Như vậy, dĩ nhiên phải hết sức thận trọng giữ bí mật, để quân địch không phát hiện được các hoạt động của chúng tôi.

        Vô tuyến điện là phương pháp liên lạc chắc chắn nhất và trong một số trường hợp là duy nhất (như liên lạc với cụm quân của Gô-rô-khốp và với sư đoàn 13 hoàn toàn bằng vô tuyến điện). Chúng tôi cũng phải nói đến một phần việc, có lẽ là phức tạp nhất của các chiến sĩ thông tin tập đoàn quân 62: việc đặt đường dây điện thoại dưới lòng sông Vôn-ga. Tập đoàn quân không có thiết bị, dụng cụ gì đặc biệt và các chiến sĩ thông tin, để đảm bảo liên lạc giữa sở chỉ huy tập đoàn quân với tả ngạn sông Vôn-ga, buộc phải dùng loại dây điện thoại thường. Bên kia sông, có sở chỉ huy phụ của cơ quan tham mưu tập đoàn quân để chỉ huy các đơn vị bố trí ở các sườn, chỉ huy pháo binh và các đơn vị hậu cần. Trong tháng mười, lúc xảy ra những trận chiến đấu dữ dội nhất, sở chỉ huy phụ đó đã thực hiện được việc chỉ huy các đơn vị chiến đấu ở trong nội thành và ở khu vực các nhà máy. Đường dây được buộc theo vật đủ mức nặng cần thiết, thả xuống nước và neo lại dưới đáy sông. Nhưng chỉ dùng được ba hay bốn ngày là các chiến sĩ thông tin liên lạc lại phải thay đường dây mới. Và cứ như vậy, suốt từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc các trận chiến đấu trong thành phố!
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #129 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2019, 06:56:55 am »


5

        Những người ở ngành quân báo: Những con người dũng cảm này đã thực hiện được biết bao chiến công oanh liệt! Họ đã viết nên tiết bao trang rực rỡ trong những thiên thần thoại về lịch sử quang vinh của các chiến sĩ bảo vệ pháo đài sông Vôn-ga! Biết được chính xác tất cả những gì về quân địch, vị trí, ý đồ của chúng - điều đó có nghĩa là hình dung được diễn biến của trận đánh, tạo được khả năng quyết định đúng đắn trong mỗi tình huống, và như vậy sẽ bảo đảm được thắng lợi trong chiến đấu. Đó là lý do tại sao trong những ngày chiến đấu ở Xta-lin-grát, ngành quân báo phải có được tất cả các tin tức giúp chúng tôi biết được quân địch định làm gì, không phải chỉ ngày mai hay trong một tuần sau, mà bất cứ lúc nào, để không bị bất ngờ, và có thì giờ tiến hành những biện pháp phá vỡ và làm tê liệt các ý đồ của quân địch.

        Đạt được những kết quả đó, trong các điều kiện của chúng tôi lúc bấy giờ, là một nhiệm vụ khó khăn, gần như không thể thực hiện được - Hệ thống bố phòng dày đặc một cách khác thường của địch; số quân cảnh sát và mật thám giét-ta-pô đông quá mức của Hít-le ở khắp mọi nơi, sự kiềm soát rất chặt chẽ, gắt gao đối với nhân dân các làng mạc, thị trấn nơi quân Đức chiếm đóng, cũng như các khu phố nắm trong tay chúng — bấy nhiêu yếu tố làm cho công tác của các chiến sĩ quân báo của chúng tôi ở trong các khu tạm bị chiếm thật là khó khăn phức tạp.

        Trong những điều kiện ngặt nghèo như vậy, khó mà tổ chúc được việc trinh sát trên bộ, và cả việc trinh sát trên không cũng lại càng khó khăn hơn. Ưu thế của địch về không quân, nếu ta không khắc phục được sẽ không cho phép máy bay của ta bay nhiều trên các vị trí của quân địch. Các cố gắng bay lại vòng thứ hai thường kết thúc bằng việc mất cả máy bay lẫn tổ lái.

        Tròng thành phố, các cuộc chiến đấu đã diễn ra năm tháng liền tại chỗ, trận tuyến kéo dài không những qua các khu đông dân mà qua các tầng gác, các phân xưởng nhà máy, đòi hỏi phải tiến hành trinh sát một cách đặc biệt. Nhưng nhiệm vụ của các chiến sĩ trinh sát dù khó khăn đến đâu, họ vẫn tìm được các con đường và các phương tiện bảo đảm cho chúng tôi những tin tức đáng tin cậy. Về mặt này, tôi muốn nhắc đến trưởng phòng, quân báo của tập đoàn quân 62, đại tá Ghéc-man, phụ tá chính trị là Vôi-ga-chép, các sĩ quan quân báo của tập đoàn quân, họ rất đoàn kết nhất trí, đầy sáng kiến và nhiệt tình. Những con người quả cảm, gương mẫu, có sức lôi cuốn và có hiệu suất công tác cao, tất cả đều là quân báo của tập đoàn quân chúng tôi.

        Đại tá Ghéc-man ngay buổi đầu gặp gỡ đã làm cho tôi quý mến về tính tập trung và chín chắn của đồng chí. Đồng chí ít nói, nhưng mỗi lời nói ra đều cân nhắc thận trọng. Nếu đồng chí báo cáo tin tức gì về quân địch, thì chính đồng chí đã tự kiểm tra và bảo đảm là tin chính xác. Ghéc-man không bao giờ chờ phải có chỉ thị mới biết được minh phải tổ chức trinh sát ở địa điểm và thời gian nào. Thông thường, đồng chí báo về các kết quả của sự chủ động của đồng chí, cung cấp những tin tức có ích cho chúng tôi, hoặc xem chỉ huy cần biết những gì, và bằng mọi cách thu thập bằng được các tin tức cần thiết. Đồng chí là một sĩ quan quân báo hiểu sâu nghiệp vụ và luôn luôn nắm vững tinh hình.

        Các chiến sĩ quân báo của chúng tôi có thể hoạt động trong thành phố với kết quả tốt nhất. Họ luồn sâu vào hậu phương và hệ thống bố phòng của quân địch, quan sát và thu lượm các tin tức cần thiết cho việc chỉ huy. Nhưng do hỏa lực dày đặc của các tuyến phòng thủ của địch, các toán đông không thể vượt qua các tuyến đó nên chỉ phái được vào trinh sát bậu phương địch các toán nhỏ không quá ba đến năm người. Những con người gan dạ này vũ trang bẵng tiểu liên và lựu đạn, đem theo ống nhòm và điện dài, lọt sâu vào phòng tuyến địch ba đến năm ki-lô-mét và ngụy trang kỹ càng, quan sát mọi việc xảy ra. Các trinh sát viên chỉ lọt vào hậu phương địch ban đêm và chủ yếu theo đường các khe từ sông Vôn-ga về phía tây. Các khe nước chảy vào sông nhánh Xa-rít-xa đã giúp ích cho chúng tôi rất nhiều. Các khe này là các đường ra vào của các toán trinh sát của chứng tôi. Nhưng cũng thật khó khăn. Ban đêm, địch kiểm soát rất gắt gao, pháo bắn liên tục, nên phải có lòng can đảm, sự bình tĩnh và một số đức tính khác chỉ riêng những người quân báo mặt trận mới có. Không phải cứ ai can đảm, tự nguyện đi trinh sát là có thể phái vào hậu phương quân địch được. Chỉ có những người can đảm nhất, tháo vát nhất, mới được lấy vào các toán quân báo, và trong những người dũng cảm, tháo vát ấy thường có các đoàn viên thanh niên cộng sản, những con người được rèn luyện về lý tưởng, khỏe mạnh cả về thể lực lẫn tinh thần. Xa đơn vị, xa các bạn chiến đấu, họ vẫn dũng cảm hoàn thành được nhiệm vụ.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM