Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:31:59 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đường tới toàn thắng  (Đọc 16853 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2021, 02:41:05 pm »

Bộ Tư lệnh Tây Nguyên giao nhiệm vụ

Ngày 24 tháng 1 năm 1975, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên chính thức giao nhiệm vụ cắt đường 19 chiến lược cho Trung đoàn bộ binh 95. Tôi, Lê An - Trung đoàn trưởng, đồng chí Trần Công Kiểu - Chính ủy trung đoàn và một số cán bộ cơ quan về Bộ Tư lệnh mặt trận để nhận nhiệm vụ. Buổi sáng hôm đó, tại văn phòng Bộ Tư lệnh, khi chúng tôi bước vào, đồng chí Vũ Lăng - Tư lệnh và đồng chí Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy đã ngồi ở đó. “Khỏe không An?”, anh Hiệp hỏi và cùng Tư lệnh Vũ Lăng bắt tay từng người chúng tôi. Tác phong cởi mở, chân tình làm cho căn phòng ấm áp hẳn lên. Trên bàn có nước trà Ba Đình, loại gói 100 gram, ngày chiến tranh có loại trà đó để dùng là hạng sang, dưới cơ sở chúng tôi chỉ uống thứ nước gạo rang mà thôi. Tôi nâng cốc trà còn nóng hổi, vị thơm có hương hoa nhài thoang thoảng uống một ngụm, rồi đặt cốc xuống, nhìn về phía đồng chí Vũ Lăng chờ đợi. Tư lệnh Vũ Lăng hình như vừa trải qua một cơn sốt rét rừng, nên khuôn mặt gầy, da xanh, nhưng giọng nói rõ và đanh. Đây là lần đầu tiên tôi gặp Tư lệnh nên có phần e dè. “Sắp tới, mặt trận sẽ mở chiến dịch xuân hè năm 1975 trên chiến trường Tây Nguyên” - Tư lệnh bắt đầu như thế, rồi đồng chí phân tích về xu thế, trạng thái trên chiến trường giữa ta và địch. Đồng chí nói sau Hiệp định Pa-ri, Mỹ và chính quyền Sài Gòn mặc dù đã thất bại nặng nề nhưng vẫn chưa muốn từ bỏ Việt Nam. Tuy vậy, bắt buộc Mỹ phải xuống thang, điều đó có lợi cho cách mạng Việt Nam, cũng như phong trào yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới. Trên chiến trường, ta đã chủ động tiến công địch để giành và giữ quyền làm chủ. Chiến dịch xuân hè Tây Nguyên tạo nên thế liên kết giữa Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, với miền Bắc. Khả năng ta sẽ mở rộng vùng kiểm soát, giải phóng được các thành phố vừa và nhỏ. Do đó Bộ Tư lệnh Tây Nguyên giao nhiệm vụ cho Trung đoàn bộ binh 95 đánh cắt đường 19 chiến lược. Dừng một lát, bất chợt Tư lệnh hỏi tôi: “Trung đoàn 95 có cắt đứt được đường không?”. Một thoáng bối rối, tôi trả lời: “Từ trước tới nay Trung đoàn bộ binh 95 từng đánh cắt đường 19 trong nhiều năm, nhưng mới giữ trong một thời gian ngắn, chứ chưa cắt đứt và giữ trong thời gian dài, thưa đồng chí Tư lệnh”. Tôi vừa dứt lời, đồng chí Vũ Lăng nói tiếp: “Trước đây chưa cắt và giữ, bây giờ phải cố gắng mà cắt và giữ. Giao cho Trung đoàn bộ binh 95 nhiệm vụ cắt đường 19 chiến lược, đoạn từ Măng Giang lên đến Plây Ku. Phía đông từ An Khê về Bình Định, đã có lực lượng của đơn vị bạn. Yêu cầu, cắt và phải giữ trong một thời gian dài, khi có điều kiện là cắt hẳn”. Tư lệnh Vũ Lăng nhận định, khi chúng ta cắt đường 19, địch sẽ phản ứng mạnh cả hai đầu nhất là từ hướng Plây Ku xuống, nên phải hết sức chú ý xây dựng công sự đề phòng thương vong, tổn thất lớn. Tiến hành diệt xe tăng địch, đánh máy bay và tiêu diệt quân phản kích giải tỏa mặt đất. Cuối cùng, đồng chí chỉ ra bốn biện pháp cần làm: Một: Trung đoàn bộ binh 95 tổ chức ngay huấn luyện bộ đội theo phương án cắt đường 19 và đánh quân giải tỏa, chú trọng phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Gia Lai. Hai: cử cán bộ đi chuẩn bị chiến trường, nghiên cứu nắm chắc tình hình địch, giữ bí mật tuyệt đối ý định của ta. Ba: Xây dựng phương án tác chiến của Trung đoàn, khi có lệnh lên báo cáo thông qua Bộ Tư lệnh mặt trận. Bốn: Chuẩn bị kho tàng để tiếp nhận cơ sở vật chất, số vũ khí trang bị mới của mặt trận đưa xuống. Tổ chức biên chê lực lượng được tăng cường, xây dựng và huấn luyện thành một trung đoàn mạnh, tuyệt đối không để địch đánh phá gây tổn thất người và trang bị. Tư lệnh Vũ Lăng còn nói vui: “Các anh không giữ được thì các anh đói và không hoàn thành nhiệm vụ, Bộ Tư lệnh không có cái bù”. Về công tác đảng, công tác chính trị, Chính ủy Đặng Vũ Hiệp chỉ thị: Trung đoàn bộ binh 95 cần phải làm tốt công tác tư tưởng đối với bộ đội, cán bộ đảng viên phải thực sự gương mẫu, thực hiện phương châm chỉ đạo của trên là: “Mạnh bạo, chắc thắng, cơ động, linh hoạt, bí mật, bất ngờ”. Hết sức chú ý giữ bí mật ý định tác chiến trong quá trình chuẩn bị chiến đấu. Đồng chí còn nhắc, cán bộ chính trị phải cùng đi chuẩn bị chiến trường với cán bộ quân sự. Sau này tôi mới hiểu sự chỉ đạo trên của Chính ủy là đúng đắn, nhờ cách làm đó nên các đồng chí Chính ủy và chính trị viên các đơn vị, khi xây dựng nghị quyết lãnh đạo, đã nêu lên được những nội dung, biện pháp lãnh đạo cụ thể, sát hợp, không chung chung, góp phần động viên tinh thần quyết tâm chiến đấu cao của toàn đơn vị.


Nhận nhiệm vụ xong, chúng tôi trở về Trung đoàn và việc đầu tiên là triển khai công tác chuẩn bị chiến trường. Phải nói đây là nhiệm vụ rất công phu và vất vả, tuy chiến trường quen thuộc nhưng chúng tôi đã đi lại nhiều lần để nắm tình hình địch, tình hình dân, ở các ấp ven đường. Trung đoàn cũng đã liên hệ được với địa phương nhằm phối hợp trong chiến đấu, nhất là với dân quân du kích và các đội công tác là người của các dân tộc Tây Nguyên. Họ là những người rất thành thạo địa hình địa vật, nắm chắc quy luật hoạt động của địch và trung thành với cách mạng, với Bác Hồ. Thời gian chuẩn bị chiến trường kéo dài hàng tháng mới xong, nhưng rất mừng vì đạt được kết quả tốt. Nội dung xây dựng quyết tâm chiến đấu của trung đoàn cũng được chuẩn bị nhanh chóng và tổ chức hội nghị đảng ủy thảo luận và thông qua quyết tâm chiến đấu, tất cả đều nhất trí cao. Tiếp theo là tổ chức hội nghị cán bộ để quán triệt quyết tâm, dự kiến của Trung đoàn và điện về Bộ Tư lệnh mặt trận xin thời gian thông qua.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #11 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2021, 02:43:05 pm »

Thông qua quyết tâm với Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên

Trung tuần tháng 2 năm 1975, tiết trời Tây Nguyên đang còn mùa Xuân; hoa cúc quỳ nở rộ trên các triền đồi và dọc theo hai bên các trục đường lộ. Loài hoa mộc mạc này không quyến rũ như các loài hoa khác, nhưng nhìn từ xa, màu hoa vàng ruộm như một tấm lụa tơ tằm chưa bị màu hóa gió thổi bay bay. Tôi nhận được điện của Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, triệu tập chỉ huy Trung đoàn bộ binh 95 lên thông qua quyết tâm tại sở chỉ huy Mặt trận. Chúng tôi lên đường gấp bằng chiếc xe con Bắc Kinh chở năm người, tôi và đồng chí Chính ủy Trung đoàn cùng một cán bộ tác chiến, một chiến sĩ bảo vệ. Để bảo đảm bí mật và an toàn, chúng tôi đêm đi ngày nghỉ, tính ra thời gian hết hai đêm. Ngày đó Bộ Tư lệnh mặt trận còn đóng sát biên giới gần đất bạn, nhưng khi đến nơi hai đồng chí Tư lệnh Vũ Lăng và Chính ủy Đặng Vũ Hiệp đã lên phía trước, nên việc thông qua quyết tâm cũng thay đổi. Bộ Tư lệnh ủy quyền giao cho các đồng chí Phí Triệu Hàm - Phó Chính ủy và đồng chí Hồng Sơn - Phó tham mưu trưởng mặt trận, cùng một số cán bộ thuộc cơ quan Bộ Tư lệnh thông qua. Nhưng lần báo cáo này phương án của Trung đoàn và các đồng chí đó không đạt đến sự thống nhất cao nên đành hoãn lại. Chúng tôi về nhà khách nghỉ và chờ ý kiên của cấp trên. Sáng hôm sau cơ quan văn phòng Bộ Tư lệnh cử người ra mời chúng tôi vào gặp, đồng chí Phí Triệu Hàm nói: “Tôi đã điện báo cáo với đồng chí Tư lệnh, đồng chí quyết định, các đồng chí vào trực tiếp thông qua quyết tâm tại Sở chỉ huy phía trước”. 16 giờ chiều hôm đó đoàn chúng tôi đi luôn, nhưng tâm trạng vừa mừng vừa lo, vì thời gian mỗi ngày càng eo hẹp. "Đường ra trận mùa này đẹp lắm”, tôi chợt nhớ đến câu thơ của nhà thơ Phạm Tiến Duật mà lòng xao xuyến lạ. Nhìn con đường rộng, được ngụy trang những đoạn trống trải, trên đường, tiếng động cơ của xe tăng, xe thiết giáp, xe vận tải, xe kéo pháo, xe chở bộ binh, tiếng nói cười của thanh niên xung phong đang sửa đường, tạo không khí thật rộn rã, khẩn trương. Tất cả đều tiến về hướng nam sẵn sàng xung trận...


Hai đêm sau, chúng tôi mới đến được cơ quan tiển phương của Bộ Tư lệnh mặt trận nằm gần sông Sê-rê-pổc, phía tây tỉnh Đắc Lắc. Người ra đón chúng tôi là đồng chí Khuất Duy Tiến - Trưởng phòng tác chiến mặt trận. Gặp  anh tôi lại nhớ đến chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1972 khi đó anh là Trung đoàn trưởng thuộc Sư đoàn bộ binh 320. Chiến công Đường 9 Nam Lào có một ý nghĩa chính trị, quân sự rất lớn, ta đã đánh bại học thuyết “Việt Nam hóa chiến tranh” của Ních-Xơn trên chiến trường miền Nam Việt Nam. Quân ngụy Sài Gòn lần đầu tiên đươc đưa ra thử lửa ở vùng chiến thuật I, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, nhưng chúng đã bị thất bại nặng nề. Trong chiến dịch đó, Trung đoàn do anh Khuất Duy Tiến chỉ huy đã bắt được tên đại tá Nguyễn Văn Thọ cùng ban tham mưu của chúng. Gặp tôi, anh nói vui: “Đoàn ông An nghỉ đây, Bộ Tư lệnh sẽ sắp xếp thời gian để các ông vào thông qua, vì công việc còn bận nhiều lắm”. Nghe vậy tôi đề nghị anh Tiến: “Nhờ anh báo cáo với Tư lệnh cho Trung đoàn 95 được thông qua càng sớm càng tốt vì chúng tôi ở xa”. Anh Khuất Duy Tiến cho biết: “Ngoài Bộ có ông Lê Ngọc Hiền - Phó tổng tham mưu trưởng mới vào, ông yên tâm, tôi sẽ đề nghị theo yêu cầu của ông”. Thế là trong khi chờ đợi, chúng tôi tranh thủ thời gian xem lại quyết tâm, chuẩn bị thêm nội dung, phương pháp báo cáo sao cho gọn, cho rõ và những ý kiến đề nghị. Đồng chí lái xe và đồng chí bảo vệ dùng lưới xuống sông Sê-rê-pốc bắt cá, bữa chiều hôm đó chúng tôi có được một bữa cơm ngon tuyệt vời. Bao nhiêu năm ngủ rừng, cơm gô, nước suối, gió mưa dầm dề, nhưng thật lạ, đêm đó sao tôi cứ trằn trọc không sao ngủ được. Tôi nghĩ về trận đánh sắp tới, Trung đoàn 95 và đơn vị bạn cắt đường 19 chiến lược, phục vụ cho hướng chủ yếu của chiến dịch là giải phóng hoàn toàn một vùng rộng lớn ở Tây Nguyên, thì lực lượng quân đoàn 2 ngụy ở Plây Ku, chúng sẽ rút chạy theo con đường nào? Và cuộc chiến khi đó sẽ quyết liệt đến mức nào? Cứ thế bao nhiêu câu hỏi khác ùa về. Ngoài kia trời tối mịt mờ, sương giăng dày đặc đọng trên cây lá rơi vào tấm tăng che võng nghe lộp độp mà lòng bâng khuâng. Nhưng rồi đến gần sáng tôi cũng thiếp đi chốc lát, khi vừa thức dậy, đã thấy Bộ Tư lệnh cho người ra báo: “Mời các anh Trung đoàn 95 vào làm việc”. Tôi nghĩ thế là nhanh rồi. Nhưng vào đến nơi, người tiếp và là người chúng tôi gặp đầu tiên lại là đồng chí Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam - Lê Ngọc Hiên. Thật bất ngờ và rất vui vì lần đầu tiên chúng tôi được gặp đồng chí. Đồng chí mời chúng tôi ăn kẹo Hải Hà, uống trà, hút thuốc lá Trường Sơn. Một lát, đồng chí nói: “Tớ từ Hà Nội mới vào chuẩn bị cho chiến dịch, bây giờ muốn nghe trước công tác chuẩn bị của Trung đoàn 95, thực hiện nhiệm vụ cắt đường 19 chiến lược, nào cậu nói đi”. Tôi giở bản đồ rồi báo cáo khoảng 15 phút, những vấn đề cơ bản và then chốt nhất của nội dung chuẩn bị. Nghe xong, đồng chí Lê Ngọc Hiền im lặng, nét mặt vẻ trầm ngâm, khoảng hai phút sau, đồng chí nói: “Nhiệm vụ chiến đấu cắt đứt đường 19 chiến lược là vấn đề lớn và cuộc chiến sẽ quyết liệt lắm vì nếu đường 19 bị cắt, quân đoàn 2 ngụy sẽ không giữ được Tây Nguyên, nên có một ý nghĩa chính trị rất quan trọng”. Đồng chí còn nói thêm, địch ở đây mạnh, nên thế trận cần bố trí một phương án hợp lý, mới đủ sức đánh bại chúng khi phản kích giải tỏa. Nghe đồng chí nói, tôi đã trình bày thêm: Trung đoàn bộ binh 95 tiến công căn cứ Azun là nhằm tiêu diệt địch, làm chủ căn cứ, ta đã diệt được một chỗ mạnh nhất của địch trên một đoạn đường dài, lực lượng phản kích sẽ chậm lại, ta có thêm thời gian triển khai thế trận đánh quân giải tỏa, trên cơ sở đó ta vừa chuẩn bị vừa tranh thủ mở rộng phạm vi làm chủ một đoạn đường dài hơn". Đồng chí Lê Ngọc Hiền nói tiếp: “Ý tôi là tìm đoạn sơ hở nhất giữa hai căn cứ, ban đêm bí mật tiếp cận, đưa bộ đội ra chốt làm công sự, sáng hôm sau quân ta còn sung sức nếu địch phản kích ta đánh, không cho chúng giải tỏa thông đường”. Tôi báo cáo thêm: “Giữa hai căn cứ Kông Từng và căn cứ Azun, ta ra thì dễ, nhưng trong một đêm không thể hoàn thành việc xây cất công sự vững chắc được? Và sẽ khó khăn hơn khi địch phát hiện chúng sẽ dùng máy bay, xe tăng, pháo binh bắn phá dữ dội, khả năng chúng ta trụ lại được cũng chỉ một thời gian ngắn và nhất định sẽ bị thương vong lớn”. Đồng chí Lê Ngọc Hiền nói tiếp: “Là tớ lo lực lượng của Trung đoàn 95 không đủ sức, vì căn cứ Azun vững chắc, lực lượng địch mạnh, nếu ta chủ trương đánh tiêu diệt và làm chủ ban đêm, tớ sợ không dứt điểm sẽ lùng nhùng, khi đó sẽ gặp nhiều khó khăn”. Thế là lần thứ hai, việc thông qua quyết tâm cũng chỉ dừng đến đó. Đồng chí Lê Ngọc Hiền nhắc tôi ăn kẹo, uống nước rồi nói: “Nghỉ một chút, lát nữa sẽ thông qua Bộ Tư lệnh cùng nghe, tớ chỉ mới nghĩ sơ bộ thế, Trung đoàn 95 là đơn vị có nhiều kinh nghiệm đánh cắt giao thông, các đồng chí cần chuẩn bị thật kỹ phương án quyết tâm đánh cho chắc thắng”. Tôi nhìn đồng hồ lúc đó là 9 giờ, Bộ Tư lệnh giao ban cũng vừa xong và chúng tôi được mời lên thông qua chính thức. Nơi làm việc, đó là ngôi nhà nửa chìm nửa nổi, lợp lá mùn kun, dưới bóng rừng cây cao vút. Không hiểu lá mùn kun có phải là lá trung quân như ở vùng Tây Nam Bộ hay không? Nhưng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên từ xưa vẫn ưa dùng lá mùn kun để lợp nhà. Ưu điểm lá nhẹ, không cháy và lại bền. Buổi thông qua có đầy đủ các đồng chí Vũ Lăng - Tư lệnh mặt trận, Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy, các Phó tư lệnh, các chủ nhiệm binh chủng và một số đồng chí cán bộ thuộc cơ quan Bộ Tư lệnh cùng dự. Sau lời giới thiệu của Tư lệnh Vũ Lăng, tôi kết hợp bản đồ báo cáo toàn bộ nội dung quyết tâm của Trung đoàn bộ binh 95. Sang phần đề nghị, tôi nêu hai ý kiến:

Một là: Trung đoàn tác chiến ở xa trên một hướng độc lập, xa sự chỉ huy, chỉ đạo của chiến dịch, đề nghị Tư lệnh tăng cường cho trung đoàn một bộ phận cán bộ đốc chiến để theo dõi và giúp đỡ Trung đoàn.

Hai là: đánh cắt đường 19, dứt khoát địch sẽ phản kích mạnh, dùng xe tăng, xe thiết giáp, pháo binh, không quân chi viện, vậy đề nghị Tư lệnh tăng cường cho Trung đoàn một đại đội xe tăng hoặc đại đội xe thiết giáp.


Sau phần báo cáo của tôi, đồng chí Kiểu - Chính ủy báo cáo thêm mấy nội dung chính của công tác đảng, công tác chính trị. Phần báo cáo của chúng tôi đã xong, đồng chí Vũ Lăng nhìn mọi người, rồi hỏi: “Có đồng chí nào ý kiến gì không?”. Chính ủy Đặng Vũ Hiệp nhìn sang tôi khẽ mỉm cười, còn tất cả đều im lặng. Tôi biết, giờ đây không ai khác là chờ đợi đồng chí Vũ Lăng phát biểu. Tư lệnh Vũ Lăng ngồi đối diện với tôi, người hơi đổ về phía trước, một lát đồng chí nói: “Trung đoàn bộ binh 95 cắt đường 19 chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng, tạo thế chia cắt cho chiến dịch và cho cả trên toàn mặt trận Tây Nguyên. Đồng thời Trung đoàn sẽ nổ súng trước chiến dịch, nên kéo sự chú ý của địch trên hướng Kon Tum và Gia Lai. Do đó quân đoàn 2 ngụy sẽ tập trung lực lượng mạnh có xe tăng, thiết giáp, pháo binh và không quân chi viện để phản kích giải tỏa trên hai hướng, nhưng chú ý nhất là hướng địch từ Plây Ku xuống. Cùng với Trung đoàn còn có một số đơn vị khác của ta hoạt động ở hướng bắc Tây Nguyên”. Đồng chí Vũ Lăng nhắc nhở: Trung đoàn bộ binh 95 mặc dù là trung đoàn có kinh nghiệm đánh giao thông, nhưng cần tiếp tục rút kinh nghiệm kể cả những trận đánh thắng và không đánh thắng. Lần này Bộ Tư lệnh yêu cầu trung đoàn đánh đường 19 phải cắt đứt và giữ được ít nhất từ 20 ngày trở lên, khi có thời cơ là cắt đứt luôn. Đồng chí phân tích, giao nhiệm vụ, cụ thể: cắt đường 19, từ An Khê trở xuống có Quân khu 5 đảm nhiệm, Trung đoàn bộ binh 95 chịu trách nhiệm từ An Khê trở lên Plây Ku. Như vậy khi ta tiến công, phản kích của địch từ hướng Plây Ku sẽ nhanh hơn. Plây Ku là đầu não của quân đoàn 2 ngụy, do đó cần có phương án đánh địch phản kích từ phía tây thật tốt, nhưng cũng không được sơ hở hướng An Khê lên. Đồng chí kết luận: “Cơ bản là Bộ Tư lệnh thông qua quyết tâm của Trung đoàn bộ binh 95”, đồng thời động viên: "Trung đoàn đã chuẩn bị tương đối kỹ, tốt và quyết tâm cao. Nếu thực hiện đúng quyết tâm, các đồng chí sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ”. Về đề nghị của Trung đoàn, đồng chí Vũ Lăng yêu cầu các cơ quan nghiên cứu giải quyết và cử ngay một số cán bộ tham mưu tác chiến đi theo dõi, giúp đỡ hướng dân Trung đoàn bộ binh 95. Nói tới đây đồng chí dừng một lát nhìn sang tôi, rồi tiếp: “Giờ đồng chí xin xe tăng không có đâu, hiện đang tập trung cho hướng chủ yếu, hơn nữa trung đoàn không đủ điều kiện bảo đảm kỹ thuật các mặt cho xe tăng hoạt động và cơ động”.


Phần công tác đảng, công tác chính trị, Chính ủy Đặng Vũ Hiệp nhân mạnh: “Tôi lưu ý trước đây trung đoàn đánh giao thông, giờ cũng đánh giao thông nhưng yêu cầu cắt đứt, nên cần quán triệt nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ, nhận thức đầy đủ, nếu không sẽ khó hoàn thành nhiệm vụ. Phải phối hợp với địa phương trong công tác thương binh liệt sĩ và công tác dân vận, địch vận. Cử một Phó chính ủy lo công tác dân vận, tổ chức đưa dân về phía sau khi ta nổ súng tiến công căn cứ và ổn định cuộc sống cho họ”. Đồng chí Đặng Vũ Hiệp nói tiếp: Bước vào chiến dịch, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh mặt trận phát động một cao trào thi đua với khẩu hiệu hành động: “Mừng Đảng mừng xuân, ra quân đánh thắng, quét sạch quân thù, giải phóng nhân dân”. Trung đoàn 95 cần lãnh đạo tốt phong trào thi đua này, giành thắng lợi thật giòn giã, góp phần giành thắng lợi quyết định chung của chiến dịch. Dừng một lát, chợt Chính ủy Đặng Vũ Hiệp hỏi: “Cơ quan tính sao? An đề nghị xin xe tăng thiết giáp, cơ quan giải quyết thế nào?”. Hỏi là vậy, nhưng đồng chí lại quay sang nói với tôi: "Thôi, trung đoàn đánh rồi lấy thiết giáp M.113 địch mà dùng”. Biết là đồng chí nói vui, nhưng tôi vẫn đề nghị: “Nếu không có xe thì cho tôi xin một tiểu đội lái, để bắt được xe là có người sử dụng ngay”. Nghe thế, cả phòng họp cười vang. Bấy giờ đồng chí Kỷ, chủ nhiệm xe tăng mới nói: “Ngày kia, mới có bộ đội lái bổ sung”. Đồng chí Đặng Vũ Hiệp nói tiếp: “Nếu có thì đề nghị anh Lăng cho phép, điều cho Trung đoàn 95 năm đồng chí lái xe tăng”. Tư lệnh Vũ Lăng nhìn tôi cười, rồi nói: “Anh nhớ nhé, xin người anh phải bắt được xe, nếu không là không được với tôi đó”. Buổi thông qua quyết tâm của Trung đoàn kết thúc trong không khí chân tình vui vẻ, chiều đó chúng tôi tiếp nhận luôn năm chiến sĩ lái và đồng chí Đặng Thềm, trợ lý tác chiến được cử đi trước. Sáng hôm sau khi trời còn mờ đất, mười anh em ngồi chen trên chiếc xe Bắc Kinh đít vuông trở về trung đoàn.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #12 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2021, 02:43:58 pm »

Tiến công căn cứ Azun, thực hiện chốt giữ cắt đường 19 chiến lược

Để thấy rõ tính chất quan trọng của đường 19, cần nhắc lại thời kỳ năm 1965 để ta hiểu có hệ thống. Khi Mỹ đổ quân vào Tây Nguyên, sư đoàn không vận số 1 của Mỹ đóng ở Tân Tạo, An Khê. Sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ đóng ở La Sơn, Hòn Rồng. Do đó Mỹ đã thiết kế một hệ thống phòng thủ chốt dọc hai bên đường 19 rất vững chắc, dùng chất độc hóa học rải phát quang hai bên trục đường sâu vào mỗi bên là 500 mét, có nơi rộng hơn. Ngoài ra địch còn thiết lập một đường ống dẫn dầu từ Quy Nhơn lên Plây Ku, để cung cấp nhiên liệu cho quân đội của chúng. Thiết lập một mạng lưới thông tin hiện đại, để trinh sát và cung cấp tình hình một khi có tình huống xảy ra. Bố trí các trận địa pháo trong thế linh hoạt chi viện cho nhau trên cùng khu vực. Thành lập các cụm xe tăng thiết giáp, cách nhau mỗi cụm trên dưới 10 ki-lô-mét, buổi sáng từng tốp ba chiếc cùng bộ binh chốt rải dọc đường. Trên không máy bay địch cảnh giới bắn phá thường xuyên.


Bước vào năm 1974, lực lượng ngụy quân trên toàn miền Nam còn một triệu ba trăm ngàn quân, trong đó có 495 ngàn quân chủ lực, hai ngàn xe tăng xe bọc thép, một ngàn năm trăm khẩu pháo, sáu sư đoàn chủ lực. Riêng chiến trường quân khu 2, bao gồm cả Tây Nguyên có hai sư đoàn chủ lực, bảy liên đoàn biệt động quân, 14 tiểu đoàn pháo binh (362 khẩu), năm thiết đoàn (mỗi thiết đoàn tương đương một trung đoàn), 13 chi đội xe tăng, xe bọc thép (477 chiếc), hai sư đoàn không quân (250 máy bay). Trên chiến trường Tây Nguyên, địch có quân đoàn bộ quân đoàn 2. Sư đoàn 23 gồm có ba trung đoàn 44, 45 và 53. Bảy liên đoàn biệt động quân (21, 22, 23, 24, 25, 4 và 6). 36 tiểu đoàn bảo an, 380 xe tăng xe bọc thép, 250 khẩu pháo, 150 máy bay. Nhưng do nhận định sai lầm là mùa khô năm 1975 “Việt cộng” sẽ mở chiến dịch đánh vào bắc Tây Nguyên, bao gồm Kon Tum và Plây Ku, do đó địch chỉ bố trí Trung đoàn 53 ở Buôn Ma Thuột còn lại gần như toàn bộ quân chủ lực của chúng đều bố trí ở Plây Ku và Kon Tum. Trên trục đường 19, chúng tăng cường lực lượng cứ khoảng 15 đến 20 ki-lô-mét có một căn cứ cỡ một tiểu đoàn bảo an, một trận địa pháo 155mm hoặc 105mm, một chi đội xe thiết giáp từ 11 đến 12 xe.


Đoạn đường từ Măng Giang đến ngã ba đường 19 và 14 do Trung đoàn 95 đảm nhiệm, địch bố trí:

- Căn cứ Hà Tam (làng Hà Tam): Có một tiểu đoàn bộ binh, một chi đội thiết giáp M.113 (12 xe), một trận địa pháo 105mm.

- Căn cứ Măng Giang (đèo Măng Giang): Có một đại đội bộ binh, một trung tâm thông tin.

- Căn cứ Azun: Có một tiểu đoàn bộ binh, một chi đội xe bọc thép M.113 (12 xe), một trận địa pháo 155mm (hai khẩu).

- Căn cứ Kông Từng: Có một tiểu đoàn bộ binh, một trận địa pháo 105mm (sáu khấu).

- Quận lỵ Lệ Thanh có một trận địa pháo 105mm (sáu khẩu).

- Tại ngã ba đường 19 và 14 cửa ngõ phía tây Plây Ku có một thiết đoàn 3, liên đoàn biệt động số 4 và số 6.

- Hai bên trục đường 19 chúng bố trí những ấp chiến lược bao gồm số dân ở đồng bằng bị dồn lên từ thời Ngô Đình Diệm và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên bị đẩy ra gần đường để làm hàng rào che chắn và tai mắt cho chúng. Ngoài ra sở chỉ huy quân đoàn 2 ngụy do tướng Phạm Văn Phú làm tư lệnh, bố trí ở thị xã Plây Ku gần sân bay Cù Hanh.


Mục tiêu tiến công đầu tiên của Trung đoàn bộ binh 95 là căn cứ Azun. Ngoài lực lượng như đã nêu, địch bố phòng xung quanh căn cứ sáu lớp rào dây kẽm gai, có gài mìn, có hệ thống báo động tinh vi và xây dựng công sự vững chắc. Về phía đông cách 1 ki-lô-mét, có ấp chiến lược ở ngay đầu cầu suối Azun. Dân trong ấp chủ yếu là người dân tộc thiểu số. Có tổ chức lực lượng bảo vệ cầu, bảo vệ ấp chiến lược, được trang bị súng cối, trung liên và đại liên. Phía tây căn cứ Azun cách gần 2 ki-lô-mét, có ấp chiến lược Plây Bôn, có một lực lượng bảo vệ ấp và cầu Suối Đôi. Trên đỉnh núi cao ở phía bắc đường 19 (cao điểm 1.007 và 1.010), địch bố trí quân chốt giữ.


Về lực lượng của Trung đoàn bộ binh 95: Có bốn tiểu đoàn 1, 2, 3, 4. Một đại đội đặc công, một đại đội trinh sát, một đại đội thông tin, hai khẩu pháo 105mm, một khẩu pháo chống tăng 85mm, một đại đội cối 120mm (hai khẩu), một đại đội cối 82mm (bốn khẩu), một đại đội ĐKZ 75mm (bốn khẩu) và hai khẩu ĐKZ 108,7mm, một bảng chống tăng có điều khiển B72, một đại đội súng máy cao xạ 12,7mm (bổn khẩu), một đại đội vận tải và một đại đội quân y. Trung đoàn còn được sự phối hợp của lực lượng dân quân du kích địa phương, lực lượng công tác quần chúng của huyện và xã trong khu vực hoạt động tác chiến của trung đoàn.


Căn cứ vào tương quan lực lượng giữa ta và địch, trung đoàn quyết định sử dụng lực lượng: dùng Tiểu đoàn bộ binh 3, tiến công hướng chủ yếu từ phía đông đánh vào. Tiểu đoàn bộ binh 2, tiến công trên hướng quan trọng 1 phía tây bắc vào. Tiểu đoàn bộ binh 4, bố trí một lực lượng ở phía nam căn cứ, hướng quan trọng 2 và hai khẩu ĐKZ 106,7mm. Một bảng tên lửa có điều khiển B72. Hỏa lực chi viện chung: Hai khẩu 105 và một khẩu 85mm nòng dài, được tháo đưa lên bình độ cao 800 phía tây và ở cách căn cứ Azun gần 800 mét, để ngắm bắn trực tiếp vào căn cứ. Hai khẩu súng cối 120mm của trung đoàn, làm hỏa lực chi viện chung. ĐKZ75 được tăng cường cho các tiểu đoàn bộ binh. Lực lượng Tiểu đoàn bộ binh 1, làm nhiệm vụ dự bị sẵn sàng tấn công vào căn cứ và đánh địch phản kích. Trung đoàn bố trí một trung đội bộ binh, một trung đội đặc công, một đại đội (thiếu) công binh, một khẩu cối 82mm, một khẩu ĐKZ 75mm. Sử dụng 800 ki-lô-gam thuốc nổ TNT và C4 đánh cầu Azun, mục đích nhằm loại trừ phần lớn lực lượng quân địch phản kích từ Măng Giang lên để trung đoàn tập trung đánh địch phản kích từ Plây Ku xuống là chủ yếu. Riêng cầu Suối Đôi, trung đoàn giao cho Tiểu đoàn bộ binh 4 ở phía nam đảm nhiệm (ở đây không có ý định phá cầu, nhưng sẵn sàng khi có lệnh cũng sẽ đánh sập), nhằm lừa địch vào khu tập trung tiêu diệt khi chúng phản kích.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #13 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2021, 02:45:27 pm »

Lệnh nổ súng

Ngày 1 tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 968 (thiếu một trung đoàn) từ phía Đức Cơ tây Plây Ku (mang phiên hiệu Sư đoàn 320), đã nổ súng tiến công một số vị trí ở ngoại vi thị xã Plây Ku, uy hiếp quận lỵ Thanh An, Thanh Bình, ven trục lộ 19 bis (Plây Ku đi Đức Cơ). Tư lệnh quân đoàn 2 ngụy Phạm Văn Phú lúng túng và bị động ra lệnh điều trung đoàn 53, sư bộ binh 23 từ Ea Hleo, Đắc Lắc, hành quân vội vã về tăng cường sức chống đỡ hướng Plây Ku. Trên trục đường 19 địch tăng cường lùng sục hai bên đường, rải quân cùng thiết giáp M.113 chốt các vị trí quan trọng trên trục đường, trực thăng quần lượn quan sát liên tục.


Đêm mùng 3 rạng ngày 4 tháng 3 năm 1975.

Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cắt đường 19; đến trưa ngày 4 tháng 3 Trung đoàn 95 đã thực hiện theo phương án được thông qua, tiêu diệt và làm chủ hoàn toàn căn cứ Azun. Tiêu diệt và bắt nhiều địch, thu toàn bộ vũ khí trang bị trong căn cứ, trong đó có: hai khẩu pháo lựu 155mm, trên 700 viên đạn, xe kéo pháo, xe chỉ huy (xe Jeép), đánh sập cầu Azun, làm chủ ấp Azun. Chớp thời cơ, Tiểu đoàn bộ binh 1 cơ động về phía đông diệt một đại đội bảo an địch, phá banh ấp Phú Yên, đánh sập cầu Phú Yên. Như vậy trong ngày 4 tháng 3, Trung đoàn 95 đã chiến đấu và làm chủ một đoạn đường dài gần 20 ki-lô-mét, từ ngã ba Plây Bôn đến cầu Phú Yên. Cùng ngày 4 tháng 3, Sư đoàn 3 Quân khu 5 đã đánh địch từ cầu Thượng An đến cầu số 13, trên đường 19 khu vực từ đèo An Khê về phía đông, tiêu diệt hai đại đội của tiểu đoàn 1, trung đoàn 47 ngụy. Tin đường số 19 bị cắt đứt, đã nhanh chóng truyền về Oa-sinh-tơn. Đêm 4 tháng 3, hãng thông tấn AP đã loan tin: “Đường số 19, con đường tiếp tế chủ yếu của cao nguyên đã bị cắt đứt. Các trận đánh đã tập trung ở Lệ Trung đông Plây Ku 16 ki-lô-mét và ở Bình Khê tây Quy Nhơn 40 ki-lô-mét, nhiều vị trí bị tiến công và mất liên lạc điện đài. Một số căn cứ pháo binh đã bị Cộng sản đánh chiếm”.


Trước tình thế con đường 19 chiến lược - con đường huyết mạch nối từ Quy Nhơn lên Plây Ku bị cắt đứt, Phạm Văn Phú, tư lệnh quân đoàn 2 ngụy đã ra lệnh cho liên đoàn biệt động quân số 4 và thiết đoàn kỵ binh 3 ra đông Plây Ku phối hợp với các căn cứ còn lại như Lệ Thanh, Kon Từng, có sự phối hợp của pháo binh và không quân yểm trợ, để phản kích Trung đoàn 95 hòng giải tỏa đường 19.


Sau ngày chiến đấu đầu tiên - ngày 4 tháng 3 thắng lợi lớn nhất của Trung đoàn 95 là cắt đứt được đường 19, bắt nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, trong đó có cả pháo 155mm, xe ô tô và nhiều thứ khác. Tuy nhiên, cán bộ chiến sĩ trung đoàn vẫn chưa thỏa mãn là năm đồng chí lái xe tăng do Bộ Tư lệnh chiến dịch tăng cương vẫn chưa có xe để lái, vì số thiết giáp M.113 trong căn cứ Azun bị pháo chống tăng các loại của ta bắn cháy, không còn một chiếc nào nguyên vẹn. Trong điện, Tư lệnh chiến dịch biểu dương tinh thần chiến đấu của cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 95, mở màn cho chiến dịch đã giành thắng lợi giòn giã, chúng tôi rất phấn khởi, nhưng vẫn cứ thấy lo sợ cấp trên hỏi, thu được mấy chiếcc xe tăng, thiết giáp rồi?


Ngày 5 tháng 3 đến ngày 10 tháng 3.

Các Tiểu đoàn 2, 3, 4 và các đơn vị trực thuộc vừa xây dựng công sự chốt chặn, vừa chiến đấu với quân phản kích có pháo binh, không quân của địch bắn phá ác liệt. Tiểu đoàn 1 tiếp tục phát triển đánh chiếm trạm thông tin trên đỉnh đèo Măng Giang, tạo thời cơ và chờ lệnh phát triển xuống An Khê bắt liên lạc với lực lượng Sư đoàn 3 của Quân khu 5. Từ ngày 5 đến ngày 8 tháng 3, lực lượng địch ra phản kích giải tỏa từ hướng Plây Ku xuống, gồm một tiểu đoàn biệt động quân của liên đoàn số 4. Một chi đội thiết giáp M.113 có 12 chiếc. Một đại đội pháo lựu 105 có sáu khẩu, lợi dụng căn cứ Kon Từng làm bàn đạp, được trận địa pháo của Kon Từng chi viện và có không quân yểm trợ. Đúng như dự kiến của trung đoàn, toàn bộ lực lượng phản kích lọt vào khu vực tập trung diệt địch ở tây ngã ba Plây Bôn. Tất cả các hướng tiến công đều đồng loạt nổ súng. Hỏa lực pháo binh của trung đoàn gồm cả hai khẩu pháo 155mm ta mới thu được, cùng tham gia với các loại pháo 105, cối 120, cối 82 của các tiểu đoàn bắn dồn dập phủ đầu. Súng cối của Tiểu đoàn 4 và pháo của trung đoàn kèm chặt trận địa pháo Kon Từng khiến chúng không hoạt động được. Trận địa pháo đi cùng tiểu đoàn biệt động quân cũng bị pháo ta phá hủy. ĐKZ, B72, B40, B41, tập trung diệt xe thiết giáp địch. Đặc biệt trên hướng Tiểu đoàn 2, bố trí từ trên dãy núi 1.010 và 1.007 phía bắc đường 19 cùng đặc công, công binh, do Trung đoàn phó Ma Thanh Toàn chỉ huy vừa tiến công diệt gọn hai tiểu đội chốt ở hai điểm cao và tiến đánh thẳng vào sườn của quân biệt động, làm cho chúng không kịp xoay xở đối phó. Súng máy cao xạ của trung đoàn cũng bắn rơi một máy bay A37. Lực lượng Tiểu đoàn 4, bố trí từ phía nam đường 19 tổ chức đánh thẳng vào trận địa pháo và phát triển lên. Bộ phận công binh đánh sập cầu Suối Đôi làm cho địch tiến không được và lùi cũng không xong. Như vậy từ 9 giờ đến 14 giờ ngày 7 tháng 3, ta đã tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn biệt động quân của liên đoàn biệt động số 4, phá hủy sáu khẩu pháo 105mm, bắn rơi một máy bay A37, đặc biệt là bắt sống được năm xe thiết giáp M.113, số còn lại bị bắn cháy. Năm chiến sĩ lái của ta nhanh chóng chạy ra khu chiến nhận năm chiếc xe tăng còn nguyên vẹn, đầy đủ súng đạn xăng dầu, rồi chỉ qua vài tiếng đồng hồ nghiên cứu anh em đã lái được xe đưa về nơi quy định, kiểm tra chuẩn bị cơ động tham gia chiến đấu. Cả trung đoàn vui mừng phấn khởi gần như quên hết mệt nhọc, hai khẩu pháo 155mm đã phát huy uy lực mạnh, bắn chính xác, là nhờ trung đoàn biết vận động tuyên truyền số tù binh địch ta bắt được ở căn cứ Azun, tình nguyện hướng dẫn kỹ thuật và cùng với chiến sĩ pháo binh của ta sử dụng. Những tù binh đó đã vui sướng và không kìm được xúc động, nói: “Cảm ơn Quân giải phóng, cảm ơn Cách mạng đã cứu cuộc đời tôi”, đó là lời nói chân tình của họ. Trận đánh kết thúc, trung đoàn khẩn trương giải quyết hậu quả chiến trường rất nhanh gọn, địch bị thua đau nên hành động đối phó của chúng chậm lại, trên bầu trời khu chiến lúc này chỉ còn một vài chiếc máy bay A37 quần lượn rất cao và ném bom vu vơ.


Ngày 10 tháng 3 năm 1975.

Quân ta thừa thắng xông lên. Tiểu đoàn bộ binh 1 báo cáo về, đã chiếm lĩnh được đỉnh đèo Măng Giang, diệt một đại đội truyền tin và thu toàn bộ máy móc trang bị của khu thông tin chuyển tiếp, đang xốc lại đội hình, bố trí một đại đội chốt giữ, lực lượng còn lại chuẩn bị cơ động thẳng về thị trấn An Khê. sở chỉ huy chiến dịch thông báo các Sư đoàn 316, 320 và Sư đoàn 10 đã tiến công vào Buôn Ma Thuột, đánh chiếm nhiêu mục tiêu quan trọng và đang tiếp tục phát triển thuận lợi. Trung đoàn cũng nhận được điện của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương khen ngợi cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 95 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cắt đường 19 chiến lược, tạo thế cho chiến dịch đánh chiếm mục tiêu then chốt (Buôn Ma Thuột). Bức điện còn nhắc nhở trung đoàn phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, nắm vững tình hình, chủ động linh hoạt, mưu trí sáng tạo liên tục tiêu diệt địch, không được chủ quan thỏa mãn, làm tốt công tác dân vận, địch vận, kiên quyết giữ vững trục đường 19, không để địch phản kích giải tỏa. Cuối điện ký tên “Tuấn”, cả trung đoàn không biết Tuấn là ai, mãi hai ba ngày sau chúng tôi mới biết đó là tên đồng chí Đại tướng Văn Tiến Dũng, hiện đồng chí đang trực tiếp theo dõi và chỉ đạo chiến dịch.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #14 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2021, 02:46:19 pm »

Ngày 12, 13, 14 tháng 3 năm 1975.

Trung đoàn bộ binh 95, đã nhanh chóng sử dụng Tiểu đoàn bộ binh 2, theo đường 19 bis qua Đắc Đoa ra đến trục đường 14 đoạn Kon Tum về Plây Ku. Tiểu đoàn bộ binh 1 để một đại đội chốt giữ đỉnh đèo Măng Giang, còn lại cơ động thẳng xuống giáp An Khê bắt liên lạc với đơn vị bạn. Hai Tiểu đoàn 3 và 4, cùng trung đoàn phát triển theo trục đường 19 từ ngã ba Plây Bôn lên Lệ Trung. Bao nhiêu năm ngủ hầm, đi bộ, nay lại được ngồi trên xe Jeép cơ động cùng bộ đội phát triến chiến đấu, tôi và đồng chí Ma Thanh Toàn cùng cán bộ tác chiến, trinh sát, có cả năm xe M.113 và các đơn vị khẩn trương cơ động về hướng Plây Ku thấy lòng náo nức niềm vui khôn tả. Đến Lệ Trung địch đã bỏ chạy, chỉ còn sáu khẩu pháo nhưng chúng đã tháo hết kim hỏa và đổ axít vào nòng pháo. Riêng ở Plây Ku địch còn nhiều, đội hình trung đoàn triển khai chiến đấu, trên khu vực cách ngã ba đường 14 và 19 khoảng năm trăm mét.


Sáng ngày 15 tháng 3.

Từ đài quan sát của trung đoàn báo cáo: Hướng sân bay Cù Hanh và quân đoàn 2 ngụy có lửa cháy, khói bốc lên nghi ngút. Từ Tiểu đoàn bộ binh 2 cũng báo cáo: Địch ở Kon Tum đã có một số tốp chạy bằng xe ô tô, có tốp chạy bộ, về hướng Plây Ku, Tiểu đoàn 2 đã chặn bắt được tên đại tá tỉnh trưởng Kon Tum Nguyễn Minh Hoàng và bộ sậu cơ quan chỉ huy của chúng. Cũng trong ngày đó địch dồn về Plây Ku rất đông, chúng chạy bằng nhiều phương tiện, ô tô, đi bộ, trong đó có cả lính cả dân hỗn loạn. Đồng chí Ma Thanh Toàn trực tiếp lên kiểm tra và triển khai Tiểu đoàn 3 và một bộ phận hỏa lực gồm cối 82, ĐKZ, súng 12,7mm đánh một trận tại khu vực ngã ba đường 14 và đường 19, phía tây thị xã Plây Ku, khu đồn trại của thiết đoàn 3 và liên đoàn biệt động quân số 4, diệt một số còn chủ yếu là bắt gần 400 tên, có cả một số sĩ quan cấp thiếu tá, trung tá.


Ngày 16 và 17 tháng 3.

Chúng tôi nhận được điện của Tư lệnh chiến dịch thông báo. Quân ta đã làm chủ hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột, tiêu diệt lực lượng sư đoàn 23 ngụy tăng viện phản kích bằng đường không trên khu vực Phước An và sân bay. Quân đoàn 2 ngụy có triệu chứng rút chạy khỏi Tây Nguyên, các đơn vị theo dõi nắm chắc tình hình và thừa thắng xông lên, truy đuổi tiêu diệt địch không cho chúng chạy thoát. Khả năng địch rút chạy theo đường số 7 về Phú Yên. Trung đoàn cho Tiểu đoàn bộ binh 4, cơ động bộ cắt đường từ Lệ Trung về hướng Chư Xê trên trục đường số 7 từ Thạch Mỹ đi Cheo Reo. Tiểu đoàn bộ binh 2, cơ động theo trục đường 14 truy kích địch về hướng Plây Ku. Tiểu đoàn bộ binh 3, cùng các đơn vị trực thuộc ngăn chặn truy bắt tàn quân chạy tán loạn về hướng đường số 7. Đồng chí Ma Thanh Toàn cùng một bộ phận tác chiến, trinh sát, ngồi trên xe M.113 thọc thẳng vào trung tâm thị xã Plây Ku và sở chỉ huy quân đoàn 2 ngụy. Tôi và một số đồng chí cán bộ cơ quan trung đoàn ngồi trên một xe khác, tiên vào nhà tỉnh trưởng Plây Ku. Đến ngày 17 tháng 3 năm 1975, cơ bản Trung đoàn 95 cùng thị đội Plây Ku đã làm chủ hoàn toàn thị xã Plây Ku và sở chỉ huy quân đoàn 2 ngụy. Trung đoàn 95 đã cắm cò Mặt trận Dân tộc giải phóng và cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc lên nóc sở chỉ huy quân đoàn 2 ngụy, nóc nhà tỉnh trưởng Gia Lai, tiến hành quân quản thị xã Plây Ku. Nhân dân trong thị xã hò reo vui mừng đón chào Quân giải phóng, rất nhiều người dân hăng hái chỉ đường cho bộ đội vào kiểm tra nhà của binh lính và sĩ quan ngụy quân ngụy quyền. Từ đó, hàng năm Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Gia Lai lấy ngày 17 tháng 3 là ngày kỷ niệm giải phóng hoàn toàn tỉnh nhà.


Trong Tổng kết chiến dịch xuân hè nàm 1975, đoạn viết về các nhân vật chóp bu trong dinh tổng thống chế độ Sài Gòn, nói rất rõ tin Buôn Ma Thuột thất thủ, đường 19 chiến lược bị cắt đứt hoàn toàn. Ngày 14 tháng 3 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu cùng đại tướng Trần Thiện Khiêm, đại tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng quân đội ngụy và trung tướng Đặng Văn Quang, bay từ Sài Gòn ra Cam Ranh để nghe tướng Phạm Văn Phú - tư lệnh quân đoàn 2 Tây Nguyên báo cáo tình hình. Mở đầu cuộc họp tướng Phú báo cáo: “Trình tổng thống, tôi đã cho hai trung đoàn 44 và 45 giải tỏa Buôn Ma Thuột... ở phía đông trên quốc lộ 19, Trung đoàn 95 Cộng sản đánh mạnh vào liên đoàn biệt động quân số 4 và thiết đoàn 3 kỵ binh, đã có 12 thiết giáp bị bắn cháy... Khả năng đường 19 đã bị cắt đứt”. Nghe xong, Thiệu hỏi Phú: “Trước sự kiện đó anh nghĩ sao?”. Phú trả lời: “Tôi sẽ ở lại sống chết với Tây Nguyên để cứu vãn quân khu 2, với điều kiện tổng thống cho quân tăng viện”. Thiệu quay sang hỏi Cao Văn Viên: “Có còn quân trù bị tăng cường cho quân khu 2 không?”. Viên: “Thưa tổng thống không còn”. Dừng hồi lâu, Nguyễn Văn Thiệu nói: “Để bảo toàn lực lượng, phải rút bỏ Cao Nguyên, lấy quân về giữ đồng bằng ven biển”. Thiệu hỏi Viên: “Rút theo đường 19 có được không?”. Viên: “Thưa tổng thống, trong lịch sử chiến tranh ở Đông Dương, chưa có lực lượng nào rút theo đường 19 mà không bị tiêu diệt”. Đúng là quá khứ đã nói lên điều đó, năm 1954 GM-100 của quân đội Pháp từ Nam Triều Tiên đưa về, trong chiến dịch Át Lăng cũng đã rút chạy theo đường 19 từ An Khê về Quy Nhơn đã bị lực lượng vũ trang Quân khu 5 tiêu diệt hoàn toàn, không một tên chạy thoát, ta thu được 250 xe ô tô và thiết giáp các loại. Sau đó Nguyễn Văn Thiệu quyết định cho rút quân theo đường số 7 (Mỹ Thạch - Tuy Hòa).


Ngày 24 tháng 3, Chính ủy Đặng Vũ Hiệp từ Sở chỉ huy chiến dịch đến Trung đoàn 95 đang làm nhiệm vụ tại Plây Ku để kiểm tra và giao nhiệm vụ tiếp theo cho trung đoàn. Ngày 29 tháng 3, toàn bộ trung đoàn cơ động bằng cơ giới đến khu vực đèo An Khê để hiệp đồng chiến đấu, được Quân khu 5 giao nhiệm vụ đánh sư đoàn 22 ngụy đang chốt chặn tại Núi Một và thị trấn Phú Phong. Sau ba ngày đêm chiến đấu quyết liệt, ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Núi Một và giải phóng hoàn toàn huyện lỵ Phú Phong, tỉnh Bình Định. Trung đoàn tiếp tục cơ động xuống đường số 1 vào Tuy Hòa rồi vào Nha Trang, tiếp tục chiến đấu phối hợp với các đơn vị khác trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Một tiểu đoàn bộ binh đánh chiếm và làm chủ đảo Hòn Tre. Một tiểu đoàn bộ binh vượt biển ra đánh chiếm các đảo phía nam Trường Sa. Một tiểu đoàn bộ binh vượt biển ra giải phóng Cù Lao Thu, cách Phan Thiết hơn một trăm ki-lô-mét, nay là huyện đảo Phú Quý, thuộc tỉnh Bình Thuận.


Trận đánh cắt đường 19 chiến lược của Trung đoàn 95 có ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ chiến dịch Tây Nguyên năm 1975. Việc đánh lạc hướng địch, kéo sự chú ý của chúng về hướng bắc Tây Nguyên là hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum đã tạo điều kiện thuận lợi, góp phần làm nên chiến thắng Buôn Ma Thuột Xuân 1975. Ảnh hưởng của trận đánh như tiếng sấm vang rền trên khắp chiến trường miền Nam, có tác động dây chuyền như những con bài đô-mi-nô kỳ diệu, báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn, tất yếu của chế độ Sài Gòn tay sai bán nước và đế quốc Mỹ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.


Người thể hiện
ĐỖ VIẾT NGHIỆM
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #15 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2021, 08:45:54 am »

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA 30 NĂM CHỜ ĐỢI


Thiếu tướng PHÙNG ĐÌNH ẤM (BA CUNG)
Phó trưởng Phòng Dân vận Tiền phương -
Cục chính trị Miền trong Chiến dịch Hồ Chí Minh Xuân 1975


1. Niềm vui tột đỉnh

Tháng 10 năm 1974, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đánh giá tình hình và hạ quyết tâm chiến lược, khẳng định là ta đang đứng trước thời cơ lớn để hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà và đề ra kế hoạch chiến lược cơ bản để giành thắng lợi hoàn toàn trong hai năm. Cụ thể: năm 1975, tranh thủ bất ngờ ta tiến công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện đầy đủ để sang năm 1976 thực hành tổng tiến công và tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn miền Nam (Theo "khu 6 chống Mỹ, cứu nước", Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, trang 365).


Căn cứ vào quyết tâm và kế hoạch chiến lược của Bộ Chính trị, được sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tham mưu nghiên cứu và xây dựng kế hoạch tác chiến năm 1975 ở miền Nam, gồm ba đợt:

Đợt 1: Đẩy mạnh hoạt động ở chiến trường Nam Bộ và Khu 6.

Đợt 2: Là đợt chủ yếu của toàn Miền, lấy Tây Nguyên làm chiến trường chính.

Đợt 3: Tiếp tục phát triển thắng lợi1 (Theo Khu 6 chống Mỹ, cứu nước, Sđd...).

Đến tháng 12 năm 1974, Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền triển khai kế hoạch của Bộ Chính trị, hạ quyết tâm đẩy mạnh đánh phá bình định ở đồng bằng sông Cửu Long, chủ yếu mở rộng vùng sông Hậu, đồng thời mở chiến dịch của quân chủ lực phối hợp với địa phương ở chiến trường miền Đông Nam Bộ và ở miền núi Khu 6. Quyết tâm trên được nhất trí cao trong Hội nghị cán bộ toàn Miền của Trung ương Cục được tổ chức tại căn cứ Xa Mát (Tây Ninh). Từ những chủ trương lớn được thống nhất tại hội nghị này, các kế hoạch hoạt động tiếp tục được đẩy mạnh, làm dấy lên tình hình sôi động khắp chiến trường B2.


Ở Khu 6, chiến dịch Tánh Linh - Hoài Đức được mở ra, dưới sự phối hợp giữa lực lượng chủ lực Khu 6 và Khu 7, do đồng chí Nguyễn Minh Châu - Tham mưu trưởng Miền trực tiếp đốc chiến. Từ 10 tháng 12 năm 1975 đến ngày 5 tháng 1 năm 1975 ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 2.300 tên địch, gỡ 48 đồn bốt, có một chi khu quân sự, giải phóng hoàn toàn huyện Tánh Linh và bốn xã của huyện Hoài Đức với 44.387 dân1 (Theo Miền Đông Nam Bộ kháng chiến, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993, trang 565).


Cuối tháng 12 năm 1974, ta mở chiến dịch đường 14 - Phước Long liên tục giành thắng lợi. Ngày 14 tháng 12 năm 1974, ta giải phóng Bù Đăng. Ngày 26 tháng 12 nàm 1974, ta giải phóng Đồng Xoài. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, ta đánh chiếm, làm chủ chi khu quân sự Phước Bình. 19 giờ ngày 6 tháng 1 năm 1975 ta tiêu diệt tiểu khu quân sự Phước Long, lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng bay phấp phối trên nóc dinh tỉnh trưởng. Quân ta giải phóng và hoàn toàn làm chủ tỉnh Phước Long.


Tin Phước Long thất thủ làm cho cả Mỹ lẫn ngụy bàng hoàng, cánh cửa ngăn chặn quân ta ở phía bắc Sài Gòn của Mỹ - ngụy bị đập tan. Một tỉnh đầu tiên ở miền Nam được hoàn toàn giải phóng đã động viên sĩ khí của quân dân ta cao độ. Chiến thắng Phước Long là một đòn trinh sát chiến lược, mở ra cho ta một thế mới, lực mới trên con đường tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam.


Sau chiến thắng Phước Long, vùng giải phóng của ta được mở rộng, nhân dân thoát khỏi ách kìm kẹp của địch ngày càng nhiều và gặp những khó khăn ban đầu. Công tác dân vận của các lực lượng vũ trang, nhất là bộ đội địa phương càng thêm nặng nề, từ việc góp phần tuyên truyền giáo dục nhân dân, sắp xếp chỗ ăn ở, phòng chống máy bay oanh tạc, đến vận động kêu gọi chồng, con em là binh sĩ rời bỏ hàng ngũ địch, trở về với cách mạng v.v... Những ngày này, Phòng Dân vận chúng tôi thật bận rộn. Theo sự chỉ đạo của Cục Chính trị Miền, Phòng phân công cán bộ xuống các địa phương vừa được giải phóng để góp ý kiến và cùng tham gia công tác vận động quần chúng ở những nơi khó khăn, cần thiết. Với cương vị Phó trưởng phòng, tôi và đồng chí Hoặc công vụ kiêm lái xe Honda, trực tiếp xuống vùng Thanh An (Bến Cát), Trảng Sa (Tây Ninh),  đến Trung đoàn 16 đơn vị chủ lực của 14, để thực hiện nhiệm vụ theo chỉ đạo của Cục.


Tình hình miền Nam chuyển biến rất nhanh. Sau giải phóng Phước Long, ngày 8 tháng 1 năm 1975, Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm chiến lược “tiến hành rất khẩn trương, hoàn thành chuẩn bị về mọi mặt, tạo điều kiện chín muồi giải phóng hoàn toàn miền Nam”.


Thực hiện ý đồ chiến lược nói trên, quân dân ta nỗ lực tiến vào bước hai, mở ra chiến dịch Tây Nguyên là đòn đầu tiên trong kế hoạch cơ bản của cuộc tiến công chiến lược. Ngày 10 tháng 3 năm 1975, quân ta đánh chiếm Buôn Ma Thuột, tiếp tục vây hãm Plây Ku - Kon Tum, ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn hốt hoảng, hoang mang dao động đến cực độ. Thiệu vội vã ra lệnh rút khỏi Tây Nguyên. Cuộc tháo chạy tán loạn, hỗn quân hỗn quan, báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ ngụy quyền Sài Gòn.


Khác với ý định ban đầu, tình hình diễn biến mau lẹ như các lãnh tụ ta thường nói “một ngày bằng hai mươi năm”. Sau Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và các tỉnh ven biển miền Trung lần lượt được giải phóng. Nắm bắt thời cơ mới, Bộ Chính trị hạ quyết tâm chuyển cuộc tiến công chiến lược thành cuộc tổng tiến công chiến lược, hoàn thành kế hoạch hai năm (1975-1976) ngay trong năm 19751 (Dẫn theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng hành dinh trong mùa Xuân Đại thắng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, trang 226). Một cuộc hành quân “thần tốc” của các binh đoàn thiện chiến, quân ta ào ạt tiến về hướng Sài Gòn như vũ bão.


Các đơn vị chủ lực của Miền (B2) cũng lần lượt triển khai áp sát Tây Ninh, đánh chiếm quốc lộ 20 tiến về Xuân Lộc. Các lực lượng vũ trang địa phương toàn B2 với tinh thần nỗ lực vươn lên: xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, làm chủ từng vùng, đã liên tục tiến công địch đều khắp. Tình hình trên thôi thúc toàn quân, toàn dân. Công tác đảng, công tác chính trị trên chiến trường B2 đặt lên vai Cục Chính trị Miền hết sức nặng nề. Việc hiệp đồng tác chiến giữa các phòng chuyên môn trong Cục chặt chẽ và sôi nổi hơn bất cứ lúc nào. Tất cả đều nhằm mục tiêu thiêng liêng nhất: “Giải phóng hoàn toàn miền Nam trong thời gian nhanh nhất”, nhất là sau khi đồng chí Lê Đức Thọ - đại diện Bộ Chính trị bên cạnh Trung ương Cục miền Nam đến thăm Cục Chính trị Miền. Linh tính mách bảo chúng tôi rằng thời cơ hoàn toàn giải phóng miền Nam đã đến rất gần. Riêng Phòng Dân vận chúng tôi lúc bấy giờ hầu như bỏ trống. Đồng chí Thìn - Phó trưởng phòng được phân công ở hậu cứ cùng một số nhân viên nắm tình hình chung, còn tất cả đều bung ra hoạt động. Đồng chí Trưởng phòng Trần Chính, được Bộ Chỉ huy Miền điều ra đơn vị tác chiến, giữ chức Phó chủ nhiệm chính trị Đoàn 232 (tương đương cấp quân đoàn). Tôi phụ trách Phòng Dân vận tiền phương, phục vụ chiến dịch giải phóng Sài Gòn (sau này được đặt tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh), cùng các đồng chí trợ lý: Lê Quốc Hùng, Lê Châu Ba, Lê Văn Thuân, Nguyễn Hoàng Giao, Nguyễn Nam, Nguyễn Văn Lập, v.v...
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #16 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2021, 08:46:35 am »

Để phục vụ chiến dịch, theo chỉ đạo của Thủ trưởng Cục, tôi tổ chức cuộc hội nghị, phổ biến chỉ thị và công tác dân vận cho các đồng chí trưởng, phó phòng trong Cục để có sự hiệp đồng chặt chẽ trong thời gian chiến dịch. Xong, thủ trưởng Cục phân công tôi xuống Đồng Xoài trực tiếp báo cáo tình hình nhân dân B2 nói chung và nhân dân nội đô Sài Gòn nói riêng, phương hướng công tác dân vận tiếp quản vùng mới giải phóng cho các đơn vị của Bộ mới đến chiến trường B2. Trên đường đi đến Đồng Xoài, chiếc Jeép của tôi và Hoặc như ngập chìm trong làn sóng bụi đường. Dọc quốc lộ 14, từng đoàn xe tăng, thiết giáp, pháo xe kéo, xe vận tải chuyển quân, vũ khí, đạn dược, khí tài nối đuôi nhau chạy về hướng Nam, xe nào cũng kẻ khẩu hiệu bằng sơn trắng: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa”. Câu khẩu hiệu đó theo tôi biết là trích trong điện “mệnh lệnh” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; theo tinh thần của bức điện là khẩu hiệu này được quán triệt xuống cho từng người chiến sĩ tham gia chiến dịch.


Lúc này, nhìn đoàn xe trùng trùng tiến về Nam, lòng tôi bồi hồi nhớ lại cách đây 16 năm, từ Hà Nội, Đoàn B90 chúng tôi, lúc đó tôi là Phó trưởng đoàn, nhận lệnh của Bộ Quốc phòng và Ban Thống nhất Trung ương giao cho, trở về miền Nam phối hợp với Đảng bộ tỉnh Đắc Lắc mở con đường hành lang đoạn cuối dãy Trường Sơn, nối liền hai chiến trường Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, góp phần xây dựng tuyến chi viện chiến lược Bắc-Nam - đường Hồ Chí Minh - con đường huyền thoại trong kháng chiến chống Mỹ. Hồi đó, ở đây là một vùng trắng, địch kềm kẹp nặng nề, chúng tôi mò mẫm xây dựng từng cơ sở chính trị trong nhân dân, lặng lẽ vạch lá, soi đường, từng bước nhích dần về Nam. Đến giờ, không còn cái cảnh “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” như xưa, mà quân ta đã trùng trùng điệp điệp hiên ngang như trẩy hội trên đường quốc lộ, lòng tôi lâng lâng cái khoan khoái của người chiến thắng. Cuộc ra quân lớn chưa từng thấy ở chiến trường B2.


Đến Đồng Xoài, nơi bộ đội tạm dừng để làm công tác tổ chức. Quân ta nằm chật dưới gốc cao su của các đồn điền, người thì tranh thủ ngủ sau một chặng hành quân đường dài, người đang lau chùi súng đạn, im lặng và nghiêm trang. Tôi đi giữa rừng người và tìm được đại bản doanh của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 vừa mới hành quân đến. Chính ủy Hoàng Minh Thi đón tiếp tôi rất niềm nở và hoan nghênh sự có mặt của tôi đúng lúc. Chính ủy chỉ thị cho Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn Thái Bá Nhiệm làm việc với tôi. Đồng chí Chủ nhiệm triệu tập một số cán bộ nghe tôi báo cáo tình hình và phương hướng nhiệm vụ. Chúng tôi làm việc trong không khí hào hứng, phấn khởi, tin tưởng rằng việc đánh chiếm Sài Gòn chỉ còn là vấn đề thời gian.


Ngày 7 tháng 4 năm 1975, đồng chí Lê Đức Thọ thay mặt Bộ Chính trị công bố quyết định thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn (về sau là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử) và đặt đại diện Bộ Chính trị bên cạnh Bộ Chỉ huy chiến dịch có các đồng chí Lê Đức Thọ, Phạm Hùng và Văn Tiến Dũng. Bộ Chỉ huy chiến dịch gồm đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh. Đồng chí Phạm Hùng - Bí thư Trung ương Cục miền Nam làm Chính ủy. Các đồng chí Thượng tướng Trần Văn Trà - Tư lệnh B2, Trung tướng Lê Trọng Tấn, Trung tướng Đinh Đức Thiện, Trung tướng Lê Đức Anh làm Phó tư lệnh. Đồng chí Lê Quang Hòa làm Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị. Căn cứ đầu tiên của Bộ Chỉ huy chiến dịch đóng ở sóc Tà Thiết, sau chuyển ra phía trước, đóng ở Căm Xe (Bến Cát). Bộ Chỉ huy chiến dịch sử dụng các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của Bộ Chỉ huy Miền (B2) để làm việc, phục vụ cho chiến dịch, có tăng cường cán bộ của Bộ, Đoàn A75 vừa ở Tây Nguyên đến và Bộ Tổng tham mưu phái vào.


Hoàn thành nhiệm vụ ở Đồng Xoài, trở về hậu cứ thì Tiền phương Cục Chính trị đã triển khai ra phía trước, tôi và đồng chí Hoặc - chiến sĩ bảo vệ và công vụ cấp tốc hành quân theo bằng xe mô tô. Đến Căm Xe, tôi choáng ngợp trước quy mô của sở chỉ huy chiến dịch. Những đường dây điện thoại chằng chịt như lưới nhện, những khẩu cao xạ sẵn sàng nhả đạn bảo vệ sở chỉ huy. Trong kháng chiến chống Mỹ, tôi đã sống, chiến đấu và công tác ở một số chỉ huy sở tiền phương của Quân khu, của Miền nhưng chưa từng thấy quy mô của sở chỉ huy nào lớn như lần này, chứng tỏ toàn quân ta đã dốc sức tập trung cho một trận quyết chiến chiến lược để đi đến kết thúc chiến tranh. Theo chỉ dẫn của lực lượng thông tin liên lạc, tôi đến sở chỉ huy của tiền phương Cục Chính trị, gặp đồng chí Nguyễn Văn Tòng - Phó chủ nhiệm Cục Chính trị Miền phụ trách tiền phương. Đồng chí cho tôi biết: chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã được Bộ Chính trị đồng ý đặt tên là “Chiến dịch Hồ Chí Minh” và ngày 26 tháng 4 năm 1975, năm cánh quân hùng mạnh của ta đang trên đường tiến công vào Sài Gòn, sẵn sàng cho trận “quyết chiến chiến lược" giải phóng miền Nam, lòng tôi vui như mở hội. Tôi đề nghị anh cho biết tình hình của hai cánh quân chủ lực của B2. Anh nói: theo nghe giao ban cập nhật, tình hình mỗi ngày đều có sự phát triên thuận lợi. Ở hướng mặt trận Xuân Lộc, địch chống cự quyết liệt. Chúng quyết tâm xây dựng “cánh cửa thép” để ngăn chặn quân ta tiến về Sài Gòn. Trước tình thế khó khăn, Bộ Chỉ huy chiến dịch cử đồng chí Trần Văn Trà - Tư lệnh B2, Phó tư lệnh chiến dịch xuống tận nơi cùng với Quân đoàn 4 và Quân khu 7 rút kinh nghiệm và thay đổi cách đánh. Lực lượng được tăng cường và bổ sung pháo lớn, thực hiện quyết tâm mới, quân ta đã tiến công tiêu diệt chiến đoàn 52 ngụy và một chi đoàn thiết giáp, đánh chiếm Dầu Giây, Núi Thị, Túc Trưng, đánh và tiêu diệt làm thiệt hại nặng các đơn vị phản kích của địch. Mất Dầu Giây, quốc lộ 1 bị cắt đứt, lực lượng bị tổn thất nghiêm trọng, trong thế bị bao vây uy hiếp, đêm 20 tháng 4 địch phải rút chạy khỏi Xuân Lộc, quân ta đang tiến về Biên Hòa. Ở hướng tây, Đoàn 232 (tương đương cấp quân đoàn) do đồng chí Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà)1 (Khi triển khai Chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Minh Châu được Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền phân công về Sở Chỉ huy cơ bản của Miền phục vụ chiến dịch. Đồng chí Lê Đức Anh làm Tư lệnh, đồng chí Lê Văn Tưởng - Chính ủy cánh quân hướng Tây - Tây Nam do Đoàn 232 làm nòng cốt) và Lê Văn Tưởng (Hai Chân) trực tiếp chỉ huy chuẩn bị đánh chiếm Mộc Hóa và đưa lực lượng xuống cắt đứt đường số 4, kết hợp với chủ lực của Quân khu 8 diệt sư đoàn 7 và sư đoàn 9 ngụy...


Tình hình phát triển rất thuận lợi, 17 giờ 40 phút ngày 28 tháng 4 năm 1975, một phi đội A37 của ta vừa lấy được của địch ở sân bay Thành Sơn (Phan Rang) do Nguyễn Thành Trung dẫn đường đã ném bom xuống Tân Sơn Nhất. Tối 28 tháng 4 năm 1975, Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh ra lệnh cho các cánh quân tổng công kích, đánh chiếm Sài Gòn, hang ổ cuối cùng của Mỹ - ngụy.


Đồng chí Sáu Tòng cho tôi biết tình hình nội đô Sài Gòn, tinh thần ngụy quân, ngụy quyền dao động cực độ, nhất là sau khi mặt trận Xuân Lộc vỡ, bọn bại binh chạy về gieo thêm nỗi kinh hoàng, ở đó đang diễn ra cuộc di tản của bọn tướng lĩnh, ngụy quyền đầu sỏ và nhân viên đại sứ quán Mỹ, gây ra cảnh rối loạn trong thành phố. Đồng chí chỉ thị tôi điện nhắc các cánh quân đặc biệt chú ý công tác dân vận của bộ đội khi vào vùng mới giải phóng (đã có kế hoạch hướng dẫn trước khi bước vào chiến dịch) và chỉ thị cho tôi đến Thanh An, ở đó đang có nhiều đồng bào nội thành tản cư “ngược” ra vùng giải phóng để tránh bom đạn, khi họ biết rằng chiến tranh đã áp sát nội đô, để nắm chắc tình hình và biết rõ hơn về tâm lý cũng như mặc cảm của họ, những con người nhiều năm bị kềm kẹp trong vùng địch kiểm soát. Sáng 30 tháng 4 năm 1975, chiếc Honda 90 do đồng chí Hoặc lái chở tôi đến Thanh An. Chúng tôi ghé lại nhà bác Tám - một cơ sở lâu nay tôi thường ở, nghỉ mỗi khi về đây công tác, có lúc cùng tránh máy bay oanh tạc chung hầm với bác. Bác Tám thường theo dõi tin tức ở cả đài phát thanh của ta và của địch, nên biết nhiều tình hình. Tôi thường gọi bác là “ông già thời sự”. Xe chúng tôi vừa vào đến sân, từ trong nhà bác Tám đang dán tai vào chiếc đài bán dẫn, thấy tôi bác kêu to:

- Thằng Ba, mau vào nghe Dương Văn Minh đang tuyên bố sẵn sàng thương lượng với Mặt trận giải phóng đây nè!

Tôi nói với bác:

- Năm cánh quân của ta đang tấn công vào Sài Gòn. Chúng sắp mất hết rồi, còn gì nữa mà thương lượng!

Vừa nói, tôi vừa chạy vào nhà. Bác Tám vẫn khư khư chiếc đài trên tay. Từ đó phát ra lời của Dương Văn Minh - tổng thống cuối cùng của chế độ Sài Gòn, tay sai Mỹ trịnh trọng tuyên bố đầu hàng cách mạng vô điều kiện, kêu gọi các chiến hữu ở những nơi còn lại nhanh chóng hạ vũ khí, nộp cho quân giải phóng...

- Thắng rồi! Chúng ta thắng rồi, bà con ơi!

Bác Tám ôm chiếc đài ra đứng giữa sân, la to. Rồi ùn ùn như sóng dậy, từ các nhà bên cạnh loan ra cả xóm. Ở đâu cũng nghe tiếng reo hò “Ta thắng rồi!”, “Bọn ngụy đầu hàng rồi!” và không ai bảo ai, đồng bào đổ ra đường ngày một đông, vui mừng chiến thắng. Họ tranh nhau nói, tranh nhau cười và có người sụt sùi khóc, vì quá xúc động trước chiến thắng được mong đợi suốt từ 30 năm nay đã đến. Một niềm vui tột đỉnh trong trái tim mỗi người!
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #17 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2021, 08:47:37 am »

2. Đường về Sài Gòn

Chia sẻ chớp nhoáng niềm vui với đồng bào Thanh An, chúng tôi bon về Sở chỉ huy chiến dịch. Quang cảnh Sở Chỉ huy chiều hôm ấy vui như ngày hội. Gió rừng nghe như hát. Các chiến sĩ thông tin tất bật thu hồi dây điện thoại, thỉnh thoảng "bắn trộm" vài phát súng chỉ thiên, để chào mừng chiến thắng. Toàn sở chỉ huy được lệnh Bộ Chỉ huy nhanh chóng về Sài Gòn phối hợp với các đơn vị đã đánh chiếm tiếp quản thành phố. Các đồng chí Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt - Bí thư và Phó bí thư Trung ương Cục đã đưa cơ quan tiển phương Trung ương Cục vào Sài Gòn từ chiều 30 tháng 4. Ôi! Cái ngày đặt chân lên mảnh đất Sài Gòn thân yêu “đi trước về sau” của Tổ quốc đối với chúng tôi không còn là những ước mơ, mà đã trở thành sự thật. Tiếc rằng, là một cán bộ phục vụ ở cơ quan chỉ đạo công tác đảng, công tác chính trị, tôi không được cùng các chiến sĩ của đoàn quân “thần tốc, táo bạo” có mặt giữa Sài Gòn, đúng vào cái giờ phút thiêng liêng của chiến thắng lịch sử. Trận quyết chiến chiến lược của Chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã đem lại cho chúng tôi niềm vui tột đỉnh. Đêm 30 tháng 4, năm 1975, nhằm vào đêm 20 tháng 3 năm Ất Mão, đối với chúng tôi là một đêm không ngủ, thức trắng cùng ngọn đèn dầu tự tạo leo lét với gió rừng rầm rì thổi, bao nhiêu ký ức của 30 năm chiến tranh đẫm máu và nước mắt cùng với những kỷ niệm buồn, vui trong cuộc sống và chiến đấu giữa lòng dân, khắp chiến trường hiện ra, rồi hình ảnh đồng bào Thanh An cùng với đồng bào Sài Gòn tản cư reo mừng chiến thắng, bất giác mắt tôi nhòa lệ vì niềm vui quá lớn. Cuộc Trường Chinh 30 năm đã đến đích. Chúng tôi mong sao mau đến giờ hành quân.


Và, 5 giờ sáng ngày 1 tháng 5 nàm 1975, với đoàn xe hàng trăm chiếc chở chúng tôi rời Căm Xe, tạm biệt núi rừng đã che chở chúng tôi suốt 30 năm kháng chiến. Qua Dầu Tiếng đến Trảng Bàng, dọc theo quốc lộ 22 tiến về Củ Chi. Đến đâu chúng tôi cũng được đồng bào vẫy chào như đón người thân. Những rừng cờ nền nửa đỏ nửa xanh, sao vàng rực rõ ở những khu đông dân cư, những tiếng hô “Hoan hô quân giải phóng” vang trời dậy đất. Đặc biệt có những chiếc xe đò cùng chiều, chở đầy hành khách, cả ở trên mui xe, nhiều người không mặc áo. Thấy chúng tôi họ vỗ tay hoan hô Quân giải phóng ríu rít. Theo nhân dân cho biết, đó là những toán binh sĩ ngụy quân Sài Gòn đã trút bỏ quần áo lính, tháp tùng xe đò tìm về quê hương, thoát khỏi cuộc chiến tranh phi nghĩa, họ mừng vui ra mặt.


Đến Củ Chi, đoàn xe dừng mấy phút, đồng bào ùa ra bắt tay Quân giải phóng. Họ chỉ lá cờ “nửa đỏ nửa xanh" bay phấp phới trên nóc nhà chi khu và bảo đó là lá cờ do một cán bộ phụ nữ biệt động cắm trước giờ phút Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Đoàn xe tiếp tục lăn bánh và tạm dừng ở Hóc Môn nghỉ trưa. Tôi nghỉ trong nhà một đồng bào không quen biết, nhưng chủ nhà rất mến khách, đã bưng cơm, thức ăn, nước uống ra mời chúng tôi như với người thân đi xa mới về. Một chú bé mân mê chiếc mũ Quân giải phóng và khen:

- Bộ đội giải phóng hiền quá, tốt quá! Đêm qua bộ đội chiếu phim cho đồng bào coi. Phim hay dễ sợ...

Tôi hỏi chú bé phim hay sao lại dễ sợ? Chú bé bẽn lẽn đáp: là phim hay quá xá đó mà!

Đoàn xe tiếp tục đưa chúng tôi vào nội đô Sài Gòn, đến ngã tư Bảy Hiền xe tạm dừng. Mấy chiếc xe xích lô cắm cờ nền nửa đỏ, nửa xanh, sao vàng, người phu xích lô cánh tay đeo băng đỏ, chở đầy một xe cơm vắt, thịt kho và nước, chạy đến dừng xe và tự giới thiệu mình là đại diện ủy ban quân quản, mời chúng tôi với thái độ ân cần niềm nở. Tiếp nhận cơm, thức ăn và nước uống của đồng bào thành phố vừa mới giải phóng, lòng chúng tôi vô cùng xúc động. Ngay trong đêm, bộ phận tiền phương Phòng Dân vận của chúng tôi được cấp trên phân công về tiếp quản cục xã hội của ngụy quân đóng tại Đồn Đất. Ở đó có bộ phận trung đoàn của ta đã đánh chiếm từ trưa 30 tháng 4. Thế là chúng tôi đã ung dung đứng giữa Sài Gòn. Theo chỉ thị Cục Chính trị, chúng tôi tranh thủ nắm chắc tình hình, chuẩn bị cho một cuộc hội nghị công tác dân vận trong tình hình mới, nhiệm vụ mới của chiến trường B2.


Tình hình thành phố những ngày mới giải phóng nảy sinh nhiều vấn đề khá phức tạp. Công tác dân vận thật bận rộn. Một mặt làm công tác đăng ký binh sĩ, sĩ quan, ngụy quyền rã ngũ. Tiếp quản cơ sở vật chất của ngụy quân v.v... Một mặt vận động quần chúng giữ gìn trật tự trị an, vận động thanh niên, sinh viên, học sinh đứng ở các tuyến phố làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự giao thông. Một vấn đề đặt ra lúc bấy giờ là trên đường tháo chạy về Sài Gòn từ Tây Nguyên và các tỉnh ven biển miền Trung, sĩ quan và binh sĩ ngụy mang theo vợ con và hù dọa cưỡng ép đồng bào đi theo hiện nằm la liệt trên các vỉa hè, đường phố, đặc biệt là trên đường Hồng Thập Tự, dày đặc lều chõng của những người chạy loạn. Trước tình hình đó, một ủy ban vận động hồi hương được thành lập, bên cạnh ủy ban Quân quản thành phố. Tôi được Cục Chính trị phân công và giới thiệu làm ủy viên thường trực của ủy ban vận động hồi hương.


Mải cuốn hút theo công việc, một tuần sau tôi mới được tranh thủ về Củ Chi, thăm bà con, họ hàng gia đình bên vợ và gặp lại hai đứa con thân yêu. Vợ tôi là dược tá còn ở hậu cứ tận Lộc Ninh chưa về kịp. Thấy tôi, hai con trai: đứa lớn 7 tuổi, đứa nhỏ 5 tuổi ríu rít gọi “Ba... Ba” và òa khóc. Tôi cũng không cầm được nước mắt. Vì chiến tranh, các con tôi phải sống xa cha mẹ. Vợ chồng tôi gặp nhau, yêu nhau và tiến đến hôn nhân vào mùa xuân 1966 ở chiến khu, căn cứ của Tỉnh ủy Quảng Đức, dưới chân núi Nam Nung (Nam Tây Nguyên). Năm 1972, tôi được điều về công tác Cục Chính trị Miền, vợ tôi chuyển nghề theo về làm nhân viên ở Phòng Dân vận, vừa công tác vừa nuôi con. Cha mẹ vợ tôi - ông bà Trần Văn Lao, thương con gái một nách hai con lại phải lo công tác nên bắt cô con gái lớn phải tìm cho được em, để đưa cháu về nuôi. Và chị phải làm theo ý của mẹ. Từ vùng địch, chị lặn lội một mình thân gái dặm trường, vào tận Lộc Ninh. Chị em gặp nhau và chị đã bồng hai đứa cháu về Củ Chi nuôi, để mẹ chúng rảnh rang công tác. Có cháu, ông bà ngoại cũng khuây khỏa nỗi nhớ con và bà thương cháu hết chỗ nói. Tiếc thay, ngày đại thắng huy hoàng của Tổ quốc, mẹ không còn nữa. Bà đã vĩnh viễn đi xa, sau một cơn bạo bệnh. Bà được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý: “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.


Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, Cục Chính trị Miền đã hoàn thành nhiệm vụ trong giai đoạn lịch sử vẻ vang, làm tròn sứ mệnh của cơ quan công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang miền Nam (B2) trong đó có Phòng Dân vận đóng góp một phần quan trọng trong truyền thống oai hùng của Quân giải phóng và Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước oanh liệt.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #18 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2021, 08:48:54 am »

CHIẾN TRƯỜNG ĐỒNG BẰNG VEN BlỂN KHU 5
TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975


Theo lời kể của
Đại tá TRẦN NGỌC QUẾ
Nguyên Bí thư của Đại tướng Chu Huy Mân
thời kỳ chống Mỹ tại chiến trường Khu 5
   

Chiến dịch tiến công tại đồng bằng ven biển Khu 5 trên hướng Tam Kỳ, Quảng Ngãi của một bộ phận chủ lực quân khu và lực lượng vũ trang địa phương ở ba tỉnh Đà - Nam - Ngãi Xuân 1975 lúc đầu mới chỉ trong phạm vi địa phương nhằm giành thắng lợi quân sự cục bộ, với mục tiêu hạn chế, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ cho các chiến dịch tiến công chiến lược tiếp theo. Nhưng nhờ chiến dịch giành thắng lợi trong thời gian ngắn, đồng thời tranh thủ thời cơ thuận lợi từ chiến dịch tấn công địch ở hướng Tây Nguyên nên đã chuyển thành một hướng quan trọng của chiến dịch tiến công chiến lược Huê - Đà Nẵng - một trong ba đòn tiến công chiến lược Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


Từ kế hoạch quân sự hai năm giải phóng miền Nam, rút xuống còn một năm và được thực hiện nhanh gọn trong 49 ngày đêm tấn công liên tục (riêng Khu 5, từ ngày nổ súng tấn công Buôn Ma Thuột (10-3) đến khi giải phóng Nha Trang, Cam Ranh (4-4) chỉ vẻn vẹn 25 ngày đêm) đã làm cả thế giới ngạc nhiên. Chúng tôi1 (Gồm một số cán bộ trong cơ quan Bộ Tham mưu chiến dịch, khi đó đồng chí Trần Ngọc Quế mang hàm thượng tá (NTH)) - những người trong cuộc, cũng không thể dự kiến hết sự phát triển vô cùng nhanh chóng của tình hình. Biết bao sự kiện được coi là ngẫu nhiên đều bị chi phối bởi những quy luật khắt khe của chiến tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng, chiến tranh nhân dân và chiến tranh hiện đại. Nhưng thắng lợi giành được hoàn toàn không phải do ngẫu nhiên mà có, nguyên nhân chủ quan vẫn là nguyên nhân chính quyết định thành, bại của chiến dịch. Tuy nhiên, để thấy rõ hơn vai trò, vị trí và ý nghĩa của cuộc tiến công và nổi dậy ở chiến trường đồng bằng ven biển Khu 5 trong toàn cục cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 và trong chiến dịch tiến công chiến lược Huế - Đà Nẵng, chúng ta cần nhìn lại bối cảnh chung khi đó.


Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết giữa chính phủ và đại diện bốn bên2 (Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Chính phủ Mỹ và đại diện ngụy quyền Sài Gòn). Quân, dân miền Nam nói chung, quân dân Khu 5 nói riêng nghiêm túc chấp hành lệnh ngừng bắn từ khi có hiệu lực theo quy định của Hiệp định Pa-ri từ 7 giờ ngày 28 tháng 1 năm 1973. Nhưng đế quốc Mỹ vẫn thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” theo công thức “ngụy quân + viện trợ kinh tế, quân sự và cố vấn Mỹ”. Tên Việt gian đầu sỏ Nguyễn Văn Thiệu theo lệnh quan thầy Mỹ, sáng 28 tháng 1 năm 1973 đã tuyên bố không tôn trọng ngừng bắn và ra lệnh cho quân ngụy thực hiện kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ" trên toàn miền Nam nhằm chiếm vùng giải phóng của ta. Trên chiến trường, chiến tranh vẫn tiếp diễn, “lấn chiếm” và chống “lấn chiếm” giữa địch với ta vẫn đang diễn ra trên diện rộng ngày càng quyết liệt. Vì chưa nhận rõ âm mưu địch, một số địa phương, đơn vị hy vọng vào thiện chí của kẻ địch, mất cảnh giác, buông lỏng tay súng, để địch lấn đất giành dân, gây ra không ít khó khăn, lúng túng.


Tháng 7 năm 1973, sau khi Thường vụ Đảng ủy Khu 5 đưa ra chủ trương: “địch lấn chiếm vùng ta, ta kiên quyết vừa phản công, vừa tấn công lại”, nhiều địa phương, đơn vị đã giữ được đất, giành lại được dân, củng cố vùng giải phóng nhưng vẫn ở thế giằng co với địch.


Tháng 10 năm 1973, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 ra Nghị quyết chỉ rõ: Địch không thi hành hiệp định, tiếp tục Việt Nam hóa chiến tranh thực chất là chiến tranh thực dân kiểu mới hòng chiếm cả miền Nam. Ta không còn con đường nào khác là phải tiến hành chiến tranh cách mạng, tiêu diệt chúng, giải phóng miền Nam...”.


Dưới ánh sáng Nghị quyết Trung ương lần thứ 21, được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy Khu 5 đã thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo toàn Quân khu “Vừa sử dụng lực lượng cần thiết để đánh bại lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng, vừa tập trung sức chuẩn bị điều kiện và thời cơ cho đánh lớn, diệt lớn, thực hành nhiều chiến dịch tiến công chiến lược góp phần cùng toàn miền Nam đánh cho ngụy nhào, kết thúc chiến tranh”.


Phương hướng chiến lược đề ra trên là vô cùng đúng đắn nhưng vận dụng cụ thể vào thực tiễn lại vô cùng khó khăn. Bởi nếu không đủ sức làm tốt nhiệm vụ trước mắt sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chuẩn bị cho lâu dài. Hoặc chỉ vì nhiệm vụ trước mắt mà không chuẩn bị tạo thế, tạo lực chuẩn bị cho lâu dài thì khi thời cơ đến, chúng ta sẽ không có cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật cũng như lực lượng cho đánh lớn, diệt lớn quân chủ lực ngụy. Thực tế trên chiến trường đồng bằng ven biến Khu 5 cho thấy, từ mùa thu 1972, trên hướng Cấm Dơi, Quế Sơn (tây Quảng Nam) tuy Quân khu đã tổ chức trận đánh hiệp đồng binh chủng, sử dụng vào tấn công một tiểu đoàn pháo nòng dài 130mm, một tiểu đoàn cao xạ 37mm đánh máy bay địch bảo vệ đội hình chiến đấu và một đại đội xe tăng, xe thiết giáp. Nhưng vì thiếu đường giao thông nên không thể cơ động lực lượng đi các hướng được. Rõ ràng là vào giai đoạn quyết định của chiến tranh giải phóng, muốn đánh hiệp đồng binh chủng lớn, có pháo mặt đất xe kéo, có pháo cao xạ, có xe tăng, thiết giáp thì việc mở đường cơ giới là một đòi hỏi cấp bách. Bởi vậy ngay từ đầu năm 1973 Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã chỉ đạo: trong khi tích cực đánh địch lấn chiếm, bảo vệ vùng giải phóng phải đồng thời tích cực khéo léo tập trung sức lực để tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ cho đánh lớn, diệt lớn quân chủ lực cơ động của ngụy, đồng thời tập trung lực lượng nhanh chóng mở đường cơ giới.


Chỉ tính riêng năm 1973, cả đồng bằng và Tây Nguyên, ta đã sử dụng 33,5 vạn ngày công của bộ đội và nhân dân vùng giải phóng mở xong 4 trục đường dọc và 11 trục đường ngang với tổng chiểu dài là 977 ki-lô-mét (bằng 1/2 chiểu dài đường bộ xuyên Đông Dương - Hà Nội - Sài Gòn). Đường cơ giới đã nối liền tây bắc Kon Tum đến bắc Buôn Ma Thuột, tây Quảng Đà, tây Quảng Nam, tây Quảng Ngãi xuống đến bắc Bình Định, qua đường bắc Kon Tum - Cô Xia - tây Quảng Nam, nối liền hai chiến trường lớn Tây Nguyên và đồng bằng. Con đường cơ giới vu hồi từ bắc Kon Tum, vòng qua tây thị xã Kon Tum về Đắc Đoa, tiếp giáp với đường 19 cũng được hoàn thành trong thời gian này.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #19 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2021, 08:49:39 am »

Có đường cơ giới là có vận chuyển lớn. Cũng trong năm 1973, Trung ương đã chuyển vũ khí và thuốc men cho Khu 5 bằng khối lượng chi viện cả bốn năm (1969-1972) cộng lại, số hàng đó được phân phối xuống tận sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn, và đến bắc Bình Định. Hệ thống kho tàng, trạm sửa chữa ô tô, trạm quân khí, các bệnh viện, bệnh xá, trạm phẫu cũng dựa theo các trục đường cơ giới để triển khai trên toàn tuyến chiến dịch. Có mạng đường cơ giới thì lực lượng vận tải bằng gùi, thồ được giải phóng, một số lượng khá lớn tay súng chiến đấu kỳ cựu được bổ sung cho các đơn vị chiến đấu. Nếu như cuối năm 1972, một đại đội bộ binh chiến đấu chỉ có 10-15 tay súng thì đến giai đoạn này đã có 40-45 tay súng, tiểu đoàn bộ binh có 200-250 tay súng, sức chiến đấu tăng lên rõ rệt. Lực lượng binh chủng của Quân khu đến cuối năm 1973 đã có hai trung đoàn pháo binh cơ giới, một trung đoàn tăng, thiết giáp, một trung đoàn pháo cao xạ, một trung đoàn thông tin, hai trung đoàn công binh được phân chia thành nhiều cụm và triển khai sẵn thế trận trên các hướng bắc, trung, nam.


Một hình ảnh mà chúng tôi khó quên khi trục đường dọc theo sát tây đường quốc lộ 1 xuống bắc Bình Định được mở, đồng chí Chu Huy Mân khi đó là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 với chiếc compa pháo binh trong tay đứng hàng giờ trước tấm bản đồ quân sự tỷ lệ 1/100.000, suy nghĩ về cách đánh tới trong điều kiện có thể tổ chức những trận đánh hiệp đồng binh chủng. Có lúc vui quá, đồng chí lớn tiếng gọi chúng tôi: “Này các cậu, lại đây xem pháo ta trùm Tam Kỳ, Chu Lai, Quảng Ngãi rồi. Phen này chúng chết với ta”.


Lúc này đường ống dẫn dầu và đường thông tin dây trần, hệ thống thông tin vô tuyến tiếp sức cũng được phát triển. Đầu năm 1975, đường ống dẫn dầu đã đến Bên Giàng (tây Quảng Đà); việc liên lạc bằng thông tin hữu tuyến và vô tuyên tiếp sức từ Khu 5 ra Hà Nội được trực tiếp, cụ thể và thuận lợi hơn.


Sư đoàn 2, Sư đoàn 3, Lữ đoàn 52 của Quân khu được củng cố; sư đoàn có trung đoàn pháo cơ giới và tiểu đoàn cao xạ, đứng sẵn ở các hướng trọng điểm vừa có bộ phận tham gia đánh địch lấn chiếm bảo vệ vùng giải phóng vừa tập trung xây dựng huấn luyện. Sức chiến đấu của các sư đoàn, lữ đoàn tăng gấp 2-3 lần so với trước đây. Hỏa lực của các lực lượng vũ trang địa phương tỉnh có tiểu đoàn trợ chiến gồm ĐKZ75, cối 120mm và côi 82mm. Tuy phải bổ sung một phần cho chủ lực và bộ đội địa phương tỉnh, huyện, nhưng số lượng du kích toàn quân khu đến cuối năm 1974 tổ chức được 4 vạn 1 ngàn, có 120 trung đội du kích xã, 50 trung đội và 70 tổ du kích đặc công, 120 đội và tổ du kích công binh. Riêng du kích đồng bằng ven biển là 2 vạn rưỡi, phần lớn được trang bị vũ khí.


Đến cuối năm 1974 Quân khu 5 đã hoàn thành tốt chương trình huấn luyện chiến đấu với các chiẽn thuật chủ yếu: vây lấn tiêu diệt địch trong công sự vững chắc và đánh bao vây, tấn công liên tục, tiêu diệt địch ngoài công sự, tấn công hiệp đồng binh chủng lớn, nâng cao một bước trình độ tác chiến của sư đoàn, lữ, trung đoàn. Việc huấn luyện được gắn chặt với thực tiễn. Sau khi huấn luyện các đơn vị đưa bộ đội ra đánh địch lấn chiếm, thu hồi vùng giải phóng, cải thiện thế trận tiến công của ta. Mùa hè năm 1974, lực lượng vũ trang đồng bằng ven biển Khu 5 diệt và bức rút 300 cứ điểm, giải phóng Đức Phú tây Tam Kỳ. Thu 1974, ta tiêu diệt các cụm cứ điểm địch cắm sâu trong vùng giải phóng của ta như Thượng Đức (tây Quảng Đà), Nông Sơn, Trung Phước (tây Quảng Nam), giữ vững các bàn đạp để chuyển sang tấn công ở ba khu vực Châu Sơn, Hiệp Đức (Quảng Nam), Ba Tơ (Quảng Ngãi), Hoài An - An Lão (bắc Bình Định). Qua đợt hoạt động này, trình độ tác chiến đánh tiêu diệt lớn quân chủ lực ngụy của chủ lực ta có bước phát triển rõ: diệt gọn các cụm phòng thủ, chi khu quận lỵ địch và đánh bại từng trung đoàn ngụy đi giải tỏa, ứng cứu và quan trọng hơn, qua đó ta cũng thấy rõ sự hạn chế về khả năng ứng cứu, giải tỏa của địch.


Do chủ động kêt hợp chặt chẽ trước mắt và lâu dài, vừa đánh địch lấn chiếm, vừa tạo thế, tạo lực cho đánh lớn, diệt lớn quân chủ lực ngụy. Lúc này, quân dân Khu 5 đã sẵn sàng bước vào trận quyết chiến chiến lược.


Đầu năm 1975, chủ lực của địch ở quân khu 1 có năm Sư đoàn và bốn lữ đoàn biệt động. Tướng Ngô Quang Trưởng - tư lệnh quân khu 1 và quân đoàn 1 ngụy đã hạ quyết tâm giành ba sư đoàn và ba lữ đoàn biệt động quân để đối phó với hoạt động của chủ lực Quân khu 5 trên hướng Đà - Nam - Ngãi. Trong lúc đó, tập trung hai phần ba chủ lực quân khu trên hướng trọng điểm này ta cũng chỉ có một sư đoàn, một lữ đoàn, một trung đoàn bộ binh, một trung đoàn pháo binh, một trung đoàn pháo cao xạ, một trung đoàn tăng, thiết giáp, một trung đoàn công binh và lực lượng vũ trang địa phương của ba tỉnh trên. So sánh lực lượng tính theo đơn vị bộ binh thì địch hai ta một. Nếu tính binh khí kỹ thuật thì riêng tăng, thiết giáp, pháo của địch là ba đến năm còn ta chỉ có một.


Vấn đề đặt ra cho nghệ thuật chiến dịch ở đây là trong thực tế so sánh lực lượng như vậy, làm thế nào để có ưu thế chiến dịch, nhất là trong các trận đánh then chốt phải có ưu thế lực lượng hơn hẳn địch để đánh thắng địch nhanh gọn.


Nghiên cứu nhiều nguồn thông tin, từ nhiều hướng, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã đánh giá rất đúng tình hình: Khi bị đánh mạnh khắp nơi, khả năng tăng viện của quân ngụy từ nơi khác đến, kể cả lực lượng tổng dự bị là không có. Địch chỉ còn sử dụng được lực lượng hiện có của quân khu 1 và chỉ có thể tập trung vào khu chiến với bôn - năm trung đoàn bộ binh và một đến hai chi đoàn xe bọc thép. Nếu ở Huê bị quân ta đánh mạnh, chúng buộc phải điều sư đoàn dù ra chi viện, khi đó khả năng tập trung lực lượng cho khu chiến của địch còn ít hơn nữa. So sánh lực lượng địch, ta ở khu chiến cao nhất là 1/1. Những để tạo ra ưu thế hơn hắn địch ở hướng chủ yếu của chiến dịch (tây Tam Kỳ), Bộ Tư lệnh Quân khu 5 chỉ đạo toàn quân khu thực hiện hai biện pháp lớn:


Một là, từ N-7 cho mở các chiến dịch tiến công tổng hợp của chiẽn tranh nhân dân địa phương nhằm nghi binh, kìm chân địch, buộc chủ lực địch phải phân tán, đối phó với hoạt động của các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang ta ngay tại địa bàn đứng chân, tạo thuận lợi cho chủ lực ta tập trung trên hướng chủ yếu và bất ngờ tấn công địch.


Hai là, cũng từ N-7, dùng lực lượng vũ trang địa phương Quảng Ngãi cắt giao thông đoạn dốc sỏi nằm giữa Chu Lai - Quảng Ngãi, chặn đứng lực lượng sư đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra ứng cứu cho tây Tam Kỳ khi bị ta đánh, đồng thời khi có lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch thì mở ngỏ cho từng trung đoàn ngụy lọt vào khu chiến theo ý định của ta. Lực lượng vũ trang Quảng Nam có nhiệm vụ thọc sâu xuống vùng đông Thăng Bình, diệt địch giành quyền làm chủ, buộc địch phải để một bộ phận lực lượng chủ lực đối phó. Sau này khi có điều kiện nghiên cứu kỹ và bài bản hơn về một số trận đánh tiêu biểu của nhân dân ta, quân đội ta trong chiến tranh giải phóng vừa qua, chúng tôi càng nhận thấy rõ chiến dịch tiến công ở đồng bằng ven biển Khu 5 trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là một trong nhiều trận đánh tiêu biểu cho cách đánh đặc trưng của dân tộc ta. Trước hàng loạt các sự kiện thực sự của cuộc chiến, vấn đề quan trọng nhất là tìm ra khâu yếu nhất trong hệ thống tổ chức bố trí thế trận của địch, từ đó dự kiên các phương án tác chiến cho bộ đội, tổ chức một lực lượng “khêu ngòi”, chủ động tổ chức lực lượng khác giăng thế trận, nhử địch tới để “diệt viện” đã được lực lượng vũ trang Quân khu vận dụng hết sức sáng tạo trong thực tiễn cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện vừa qua ở Khu 5.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM