Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:35:43 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đường tới toàn thắng  (Đọc 16921 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #20 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2021, 08:51:25 am »

Theo đúng kế hoạch vạch ra, ngày 3 tháng 3 năm 1975, đặc công, công binh trên đèo Hải Vân, các đơn vị luồn sâu của Quảng Đà đánh phá khu kho Sủng Mây, bãi xe Xuân Thiều, đánh sập cầu Trắng, cắt giao thông qua đèo.


Lúc này, một bộ phận của Sư đoàn 304 chủ lực vào phối hợp tác chiến, tiêu diệt gần hết tiểu đoàn 2 trung đoàn 56 sư đoàn 3 ngụy và một bộ phận sư đoàn dù ngụy ở vùng B Đại Lộc, kìm chặt sư đoàn dù ngụy ở tây Quảng Đà, một bộ phận Lữ đoàn 52 của Quân khu đánh và kìm sư đoàn 2 ngụy ở tây Nghĩa Hành. Các tiểu đoàn đặc công 403, 406 đánh phá căn cứ Gò Hội và đốt cháy kho xăng tại sân bay Quảng Ngãi.


Các lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam đánh mạnh địch ở Trung Duy Xuyên, vùng B Đại Lộc, vùng A, B Điện Bàn, đông Thăng Bình và đông bắc Tam Kỳ buộc địch phải điều một số tiểu đoàn, trung đoàn ra đối phó.


Nhờ các hoạt động tích cực trên, địch không phán đoán được hướng tấn công chủ yếu của ta, chủ lực ngụy bị kìm giữ tại chỗ, giúp cho việc triển khai lực lượng chiến dịch trên hướng chủ yếu của ta giữ được bí mật, bất ngờ.


Đúng ngày 30 tháng 3 năm 1975, lực lượng vũ trang ta tấn công địch ở thị xã Buôn Ma Thuột, thì trên hướng tây Tam Kỳ, quân chủ lực cơ động của Quân khu 5 cũng bất ngờ tấn công cụm phòng ngự cơ bản của địch ở Tiên Phước - Phước Lâm. Đây là lá chắn bảo vệ trực tiếp cho thị xã Tam Kỳ có nhiều công sự vững chắc. Toàn cụm có khoảng 3.000 tên địch, sáu tiểu đoàn bảo an, hai đại đội biệt lập, 41 trung đội dân vệ, hai đại đội pháo có 10 khẩu 105 và 155mm đóng trên 77 cứ điểm lớn, nhỏ, kết hợp với một hệ thống kìm kẹp dân gồm 33 ấp chiến lược và 10 khu dồn. Trong trận mở màn này, ta đã tập trung một sư đoàn, một lữ, một trung đoàn và hỏa lực pháo binh mạnh để tiêu diệt dứt điểm. Chỉ trong 12 giờ tiến công, với ưu thế binh, hỏa lực hơn hẳn, ta đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, phá vỡ hoàn toàn hệ thống phòng thủ cơ bản của địch ở tây Tam Kỳ. Kẻ địch hoàn toàn bị động. Bộ đội chủ lực Quân khu 5 khống chế toàn bộ các cao điểm phía tây Tam Kỳ, tổ chức các trận địa sẵn sàng đón lõng các trung đoàn chủ lực ngụy vào ứng cứu. Tam Kỳ bị uy hiếp, bộ chỉ huy tiền phương sư đoàn 2 của ngụy từ Quảng Ngãi vội vã ra Tam Kỳ, chúng tung trung đoàn 5 ngụy ra phản kích ta ở Dương Leo, Dẫy Thám, điều liên đoàn biệt động 12 ở Cẩm Khê và lệnh điều trung đoàn 4 sư đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra, đồng thời điều trung đoàn 2 sư đoàn 3 ngụy từ Quảng Đà vào hòng lập phòng tuyến ngăn chặn ta ở tây thị xã Tam Kỳ.


Trong thời điểm này Bộ Tư lệnh Quân khu đã xử lý tình huống rất đúng đắn: tập trung lực lượng ưu thế, lợi dụng địa hình có lợi, tiêu diệt hoặc đánh thiệt hại nặng từng trung đoàn chủ lực cơ động của ngụy; chốt chặn Dốc Sỏi có nhiệm vụ điều địch vào khu chiến theo ý định của ta. Chủ trương của Quân khu là tiêu diệt và đánh cạn lực lượng chủ lực cơ động của ngụy đi ứng cứu sẽ tạo ra thời cơ trực tiếp để giải phóng Tam Kỳ, Quảng Ngãi, thực hiện được ý đồ chia cắt địch về chiến lược ở đồng bằng ven biển Khu 5. Trong lúc đó, tình hình chung lại đang phát triển rất thuận lợi. Trên hướng Tây Nguyên, ngày 11 tháng 3 ta làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột. Ngày 18 tháng 3 toàn bộ sư đoàn 23 ngụy lại bị tiêu diệt, ý đồ phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột của địch bị thất bại hoàn toàn. Toàn bộ quân ngụy phòng thủ bắc Tây Nguyên tháo chạy theo đường số 7 và ngày 19 tháng 3 đại bộ phận bị tiêu diệt ở Cheo Reo. Ngày 19 tháng 3 ta giải phóng thị xã và toàn bộ tỉnh Quảng Trị. Ngày 21 tháng 3 từ ba hướng bắc, tây và nam, lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 đã tiến công, vượt qua các tuyến phòng thủ của địch, bao vây Huế, cắt đứt Huế với Đà Nẵng. Trên hướng tây Tam Kỳ, thời cơ tiêu diệt sư đoàn 2 ngụy, giải phóng Tam Kỳ - Quảng Ngãi càng trở thành hiện thực và cấp bách.


Ngày 21 tháng 3 chủ lực Quân khu trên hướng chủ yếu đã tấn công vào toàn tuyến ngăn chặn của địch từ Chợ Cây Xanh, Dương Huê, Dẫy Thám đến núi Vàng, điểm cao 132, núi Mỹ, sử dụng một sư đoàn, một trung đoàn đánh hai trung đoàn ngụy (so sánh lực lượng ta hai địch một). Đến trưa 21 tháng 3 ta đánh thiệt hại nặng trung đoàn 5, lữ đoàn 12 biệt động quân của ngụy. Địch phải vét hết lực lượng có trong tay ra lập tuyến ngăn chặn mới là Cẩm Khê - Trà Gó - Chóp Chài - Tân Lợi.


Ngày 24 tháng 3, trên hướng chủ yếu, ta tung toàn bộ lực lượng, trên thế áp đảo tiêu diệt lực lượng sư đoàn 2 còn lại của ngụy và đột phá thị xã Tam Kỳ; hai tiểu đoàn 70 và 72 của tỉnh Quảng Nam làm chủ vùng Đông Thăng Bình đã trở thành mũi vu hồi lợi hại đánh mạnh vào Kỳ Phú, phía đông thị xã. Đúng 11 giờ ngày 24 tháng 3 năm 1975 quân ta làm chủ hoàn toàn thị xã Tam Kỳ.


Đến 23 giờ cùng ngày, lực lượng vũ trang Quảng Ngãi đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch co cụm ở bắc Quảng Ngãi chạy về Chu Lai, làm chủ thị xã và toàn tỉnh Quảng Ngãi.


Như vậy, bằng lực lượng tại chỗ, Quân khu lợi dụng thời cơ chung, biết nghi binh căng, kìm địch và điều địch theo ý định, trên hướng tấn công chủ yếu tây Tam Kỳ, từ đầu cho đến cuối chiến dịch, trong các trận then chốt quyết định, ta đều tạo ra được so sánh lực lượng ưu thế hơn hẳn địch và giành thắng lợi ngày càng lớn, từ tiêu diệt và phá vỡ hệ thống phòng thủ phía tây Tam Kỳ đến tiêu diệt và đánh cạn lực lượng chủ lực ngụy đi ứng cứu giải tỏa, tạo ra thời cơ trực tiếp đột phá Tam Kỳ, Quảng Ngãi, thực hiện ý đồ chia cắt địch về chiến lược trên chiến trường đồng bằng ven biển Khu 5, tạo thuận lợi cho chiến dịch tiến công chiến lược Huế - Đà Nẵng thắng lợi.


Đà Nẵng là một căn cứ quân sự liên hợp lớn thứ hai ở miền Nam Việt Nam, có sân bay cấp 1, có bốn cảng lớn, có khu tổng kho chứa hàng vạn tấn bom đạn, là nơi đứng chân của nhiều bộ máy quân sự đầu não Mỹ - ngụy. Đến 25 tháng 3 năm 1975 lực lượng quân sự ngụy ở Đà Nẵng được tăng thêm khoảng 6-7 ngàn tên tàn binh từ Trị - Thiên chạy vào, từ Quảng Nam chạy ra, nâng tổng quân số lên tới 10 vạn, gồm 15 tiểu đoàn cộng hòa, 15 tiểu đoàn bảo an, 240 trung đội dân vệ, khoảng ba vạn phòng vệ dân sự có vũ trang và cảnh sát, 373 máy bay, 114 khẩu pháo từ 105mm trỏ lên, 70 xe tăng, xe thiết giáp. Lực lượng quân sự của địch đông nhưng ô hợp, sức chiến đấu không đáng kể, tướng tá chỉ lo cứu lấy bản thân và gia đình mình, bỏ mặc lính, tình trạng hỗn loạn ngày càng phát triển.


Nắm được tình hình đó, ngay chiều 24 tháng 3, khi trận tiến công giải phóng Tam Kỳ chữa kết thúc, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã mệnh lệnh sơ bộ cho các đơn vị phát triển hướng tiến công về Đà Nẵng và đêm 24 tháng 3, Bộ Tư lệnh Quân khu đã hạ quyết tâm giải phóng Đà Nẵng theo phương án tiến công phát triển nhanh. Quyết tâm đó hoàn toàn phù hợp với ý định của cấp trên.


Ngày 25 tháng 3 Quân khu nhận được điện của Bộ Tổng Tham mưu: “Tấn công nhanh Đà Nẵng bằng lực lượng tại chỗ có thể huy động được, không chờ lực lượng trên tăng cường. Vấn đề mấu chốt là diệt quân đoàn 1 ngụy và sư đoàn lính thủy đánh bộ không cho chúng rút co cụm về Sài Gòn”.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #21 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2021, 08:52:15 am »

Ngày 27 tháng 3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Mặt trận Đà Nẵng, chỉ định hai đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh và đồng chí Chu Huy Mân làm Chính ủy. Mặc dù chưa gặp nhau nhưng hai đồng chí đã thống nhất qua điện đài:

Quân đoàn 2 (thiếu) đảm nhiệm hướng chủ yếu từ bắc và tây bắc đánh vào Đà Nẵng. Lực lượng vũ trang Quân khu 5 đảm nhiệm hướng quan trọng từ phía nam đánh ra. Sư đoàn 304 đảm nhiệm hướng phối hợp từ Thượng Đức theo đường 14 đánh xuống. Thời gian tiến công là ngày 28 tháng 3.


Trong thực hành tấn công đã có hai tình huống chiến dịch cần đến sự xử lý kiên quyết và táo bạo. Tình huống thứ nhất là, khi địch thấy lực lượng chủ lực của ta tiến sát sông Thu Bồn, bọn chỉ huy quân ngụy vội vã cho máy bay đánh sập hai cầu Bà Rén và Câu Lâu hòng ngăn cản tốc độ tiến công của ta, xe pháo ta không qua được sông lớn. Quân khu đã xử trí: “Không ỷ lại vào xe, pháo, không được giảm tốc độ tấn công. Dùng pháo, cối mang vác làm hỏa lực đi cùng để phát triển tấn công nhanh”. Nhân dân hai bên bờ sông đã huy động hàng trăm thuyền chở bộ đội qua sông nhanh chóng và an toàn, quân ta cố giữ vững tốc độ tiến công.


Một tình huống lớn nữa là thấy quân ta vượt sông, quân địch hình thành nhiều chốt chặn dọc đường hòng ngăn chặn bước tiến công của ta. Quân khu đã để một bộ phận nhỏ lực lượng đánh địch chốt chặn dọc đường, còn đại bộ phận lực lượng phải vòng và vượt qua các mục tiêu thứ yếu, thọc sâu vào trung tâm Đà Nẵng nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu là chỉ huy sở quân khu 1, sân bay, khu hành chính, cảng Sơn Trà.


Với hành động thọc sâu táo bạo của ta càng làm cho kẻ địch rối loạn, không có cách đối phó, bắn giết lẫn nhau để tẩu thoát ra biển. Nhân dân ở nhiều khu vực trong thành phố, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy đã nổi dậy làm chủ nhiều khu vực và huy động hàng trăm xe ra đón bộ đội vào. Nhờ đó ta đánh chiếm nhanh các mục tiêu chủ yếu; lúc 12 giờ ngày 29 tháng 3 tiểu đoàn 40 của Trung đoàn 1 Ba Gia và Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 31 đã gặp nhau và làm chủ sân bay Đà Nẵng. Cũng 12 giờ trong ngày, Tiểu đoàn 40 của Trung đoàn 1 Ba Gia đã cắm lá cờ chiến thắng của quân ta lên trung tâm chỉ huy của tên tư lệnh quân khu 1 kiêm tư lệnh quân đoàn 1 ngụy. Trong lúc đó Trung đoàn 96 địa phương tỉnh Quảng Đà, Tiểu đoàn 491 đặc công và đại đội biệt động Lê Độ đã đánh chiếm tòa thị chính và đài phát thanh, Trung đoàn bộ binh 97 Quảng Đà đánh chiếm thị xã Hội An, Non Nước, sân bay Nước Mặn. Lực lượng Quân đoàn 2 từ phía bắc đánh vào đã nhanh chóng chiếm Thủy Tú, Nam Ô, cảng Phú Lộc, vượt ngã ba Huế, ngã ba Cai Lan, tiến thẳng qua cầu Trịnh Minh Thế, đánh chiếm các mục tiêu trên bán đảo Sơn Trà. Phía tây, Sư đoàn 304 đánh chiếm Sơn Trà, thị trấn Ái Nghĩa, trường huấn luyện Hòa Cầm, hội quân với Trung đoàn bộ binh 1 Ba Gia tại sân bay Đà Nẵng. Đến 15 giờ cùng ngày, cuộc tấn công giải phóng Đà Nẵng đồng thời cũng là trận then chốt tiêu diệt toàn bộ quân đoàn 1 ngụy kết thúc thắng lợi.


Cho đến hôm nay, nhớ lại và suy nghĩ về những sự kiện lịch sử của Xuân 1975 nói chung và ở Khu 5 nói riêng, chúng tôi thấy những thắng lợi to lớn, trọn vẹn của quân và dân Khu 5 đã giành được trước hết là nhờ có sự lãnh đạo và chỉ đạo vô cùng đúng đắn, sáng suốt của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, sau đó là có sự chuẩn bị tương đối đầy đủ về nhiều mặt, trên cơ sở thế trận chiến tranh nhân dân đã được quân và dân Khu 5 dày công xây dựng hàng chục năm trước đó để tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ cho đánh lớn, diệt lớn chủ lực ngụy. Nhưng chuẩn bị chu đáo đến đâu cũng chỉ đảm bảo thắng lợi được một phần ba, còn lại là do sự nhạy bén phán đoán tình hình đưa ra quyết định đúng trong đối chọi tình huống ta, địch ở chiến trường của Bộ Chỉ huy và cơ quan tham mưu chiến dịch mà ở đây, chính là nghệ thuật tổ chức chỉ huy nghi binh, căng, kéo, kìm giữ địch, điểu địch theo ý định, là nghệ thuật tạo thế chiến dịch, tạo ưu thế hơn hẳn địch trong từng trận đánh then chốt, là nghệ thuật tranh thủ thời cơ chung, tạo ra thời cơ trực tiếp để phát triển tấn công giành thắng lợi lớn nhất cho chiến dịch của lực lượng vũ trang Quân khu 5.


Người thể hiện
ĐÀM QUANG THÁI
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #22 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2021, 08:55:00 am »

KỶ NIỆM KHÓ QUÊN TRONG
CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN NĂM 1975


Đại tá VŨ THANG
Nguyên Tham mưu trưởng Sư đoàn 341 Quân đoàn 4


Trung đoàn tôi có đến ba tên gọi, tên gọi nào cũng gắn vào từng giai đoạn lịch sử. Đầu tiên là Trung đoàn 36 vì đợt đó lấy quân ở các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh... về huấn luyện ở Trung đoàn 36 Sư đoàn 308. Tháng 11 năm 1972 Bộ quyết định thành lập Sư đoàn 341, Trung đoàn được điều động về đội hình sư đoàn và mang tên Trung đoàn 1. Giai đoạn huấn luyện chuẩn bị đi chiến trường lại mang tên Trung đoàn 273 đứng chân ở đất Quảng Bình, Vĩnh Linh với gió và nắng nóng như câu thơ "Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình" (Tố Hữu). Chuẩn bị cho đơn vị lên đường vào chiến trường, chúng tôi gấp rút huấn luyện đổi súng để chiến sĩ sử dụng thành thạo vũ khí trong phân đội, học tập, quán triệt về tình hình Nam Bộ. Qua đài, báo chí anh em chúng tôi được biết ở miền Đông Nam Bộ Quân đoàn 4 mới giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, quân Mỹ - ngụy không dám phản ứng. Nghe đâu trong đội hình Quân đoàn 4 có Công trường 9 (Sư đoàn 9) do đồng chí Sáu Khâm chỉ huy, năm 1965 tập kích một cụm quân Mỹ ở Trảng Bàng diệt cả ngàn tên Mỹ, bắn cháy mấy chục xe táng. Chúng tôi kháo nhau: Công trường 9 họ có phép lạ lắm, họ đi qua trước mặt quán Mỹ cả tiểu đoàn mà bọn Mỹ không phát hiện được. Họ lúc ẩn lúc hiện ghê lắm, họ là gốc Nam Bộ đấy! Nghe nói Công trường 9 được thành lập là từ ngày 2 tháng 9 năm 1965, do ông Hoàng Cầm làm sư đoàn trưởng đầu tiên. Có phải là ông Hoàng Cầm nghĩ ra bếp anh nuôi giảm khói tránh địch phát hiện không? Không phải! Ông Hoàng Cầm này là Trung đoàn trưởng đánh Điện Biên Phủ, được Bác Hồ khen đấy! Còn ông Lê Chân (Lê Văn Tưởng) là Chính ủy. Các ông đầu đã bạc, đã có mặt từ thời kỳ đầu cuộc chiến tranh cả nên đất trời Việt Nam các ông rành lắm, đánh giặc quen như đi cày cuốc, chúng mình vào Nam Bộ mà được đứng cạnh các ông thì mới sướng.


Điều mơ ước được đi chiến đấu của chúng tôi đã đến, Trung đoàn 273 là đơn vị đi đầu của Sư đoàn 341 vào chiến trường Nam Bộ. Sau ba tuần hành quân bằng cơ giới, đầu tháng 3 năm 1975, chúng tôi đã đến rừng Minh Hòa. Đón chúng tôi là một người đàn ông trán hói, cao to và ba người nữa, người nào cũng mang khẩu AK có hai băng đạn trở đầu và cái võng dù mỏng dính. Sau này chúng tôi mới biết đó là đồng chí Năm Nhạc - Trưởng phòng quân lực Quân đoàn 4, ba người còn lại là Sáu Cọc, Tư Dẹp, Hai Hưng là cán bộ tác chiến Quân đoàn 4 ra đón Trung đoàn 273. Hành quân vào đến nơi, Trung đoàn chúng tôi mỗi tiểu đội đủ chín người, trung đội là 35 người, đại đội là 125 người, trang bị mới 100 phần trăm. Thấy quân số đông, vũ khí mới, đồng chí Nàm Nhạc gật đầu tỏ vẻ phấn khởi. Sau khi nắm lại tình hình, ông ra tín hiệu hành quân. Chúng tôi, quân tư trang mang trên vai, ở trên xe thì chỉ thấy lắc lư, đi bộ mỗi người mang khoảng 28 ki-lô-gam nhưng sao nặng thế? Được cái tinh thần bộ đội hăng hái, mong sớm gặp được Công trường 9 để có thời gian học hỏi kinh nghiệm chiến đấu. Ngày 2 tháng 3 năm 1975, Trung đoàn nhận nhiệm vụ chốt đường 13, đoạn Chơn Thành - Bầu Bàng thay Trung đoàn 3 Sư đoàn 9. Cơ quan Quân đoàn có đồng chí Ba Bì - Tham mưu phó Quân đoàn, đồng chí Sáu Cọc - cán bộ tác chiến và đồng chí Lê Hải Anh - tác chiến Sư đoàn 341 đi theo dõi giúp đỡ Trung đoàn tổ chức chiến đấu. Đồng chí Ba Bì rất vui vẻ hòa nhã nên gặp ông, anh em hết cả mệt nhọc. Các đồng chí cơ quan Quân đoàn và sư đoàn đã cùng với đồng chí Hoàng Trung Trực - Trung đoàn trưởng và đồng chí Nguyễn Văn Giáp - Trung đoàn phó lần lượt đưa các tiểu đoàn vào chiếm lĩnh. Đồng chí Nguyễn Văn Giáp đi theo Tiểu đoàn 3, có nhiệm vụ đưa đại đội 11 do đồng chí Chính - Đại đội trưởng, đồng chí Vũ Quang Đản - Đại đội phó, đồng chí Nguyễn Văn Phúc - Chính trị viên vào chốt nam Xóm Rót, phía đông đường 13 khoảng 800 mét, thay cho một đại đội của Trung đoàn 3 Sư đoàn 9. Khi vào nhận bàn giao thì đại đội của Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 chỉ còn 17 đồng chí. Bàn giao xong rồi họ trở ra đi ô tô, có đồng chí đi xe đạp, loáng một cái họ đã đi mất tiêu không cần ai dẫn đường. Trong khi đó đại đội 11 của Trung đoàn 273 quân số đông, trang bị nặng nề, cả đêm đào hầm hào dưới tầm pháo bắn cầm canh. Sáng mùng 3 tháng 3 năm 1975, các bộ phận đứng lên thành hào, bị địch chốt ở cầu Xóm Rớt bắn. Thế là cả ngày hôm đó ta và địch bắn tỉa nhau; cứ nhô đầu cao mũ cối để lộ trên thành hào là nó bắn. Tốc độ đào hầm hào tăng nhanh rõ rệt, vũ khí lau chùi sạch sẽ. Đến 15 giờ chiều, pháo địch các nơi bắn vào chốt đại đội 11, địch của chốt ở Xóm Rớt ra tiến công vào trận địa. 18 giờ, địch chiếm được 15 mét hào và ba hầm chiến đấu của đại đội 11. Đồng chí Vũ Quang Đản - Đại đội phó sau khi băng bó cho bốn đồng chí bị thương đã chỉ huy xuất kích nhỏ chiếm lại đoạn hào bị mất. Đồng chí Nguyễn Văn Giáp - Trung đoàn phó theo dõi diễn biến đã lệnh cho đồng chí Tâm - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 cho đại đội 10 gần đó đánh sang, nhưng do dây điện thoại vòng vèo nên khi đại đội 10 do đồng chí chuẩn úy Trúc chỉ huy gồm 21 đồng chí đánh sang đã vào gần quá, bị hỏa lực của đại đội 11 bắn cản, đồng chí Trúc la to: Đản ơi sao mày bắn vào tao? Sau đó mũi tiến công của đồng chí Trúc vòng rộng sát mép suối Xóm Rớt đánh vào sau lưng địch. Do trời tối, tốp của đồng chí Trúc đi mãi, khi đến mục tiêu đã gần 2, 3 giờ sáng, trên trận địa chỉ có pháo sáng và pháo bắn cầm canh, tiếng súng bộ binh đã im bặt, bọn địch lăn ra ngủ do căng thẳng, mệt mỏi. Đồng chí Trúc đi theo lối mòn vào Xóm Rớt thấy hai tên lính gác đang ngủ, đồng chí nổ súng tiêu diệt và chỉ huy bộ đội đánh vào bên trong. Địch ở các hầm tỉnh giấc bắn ra xối xả, đồng chí Trúc tổ chức bộ đội đánh bằng lựu đạn, bắn găm, bắn gần đến khi bị thương, mới tìm đường ra thì đã bị chúng bịt hết lối ra. Bên ngoài, đại đội 11 Tiểu đoàn 3 biết có lực lượng ta nổ súng nhưng không liên lạc được. Một số đồng chí của đại đội 10 mở đường ra; đi lạc gặp đồng chí Giáp, đồng chí Thanh Thản, đồng chí Nguyễn Văn Viện ra đón về. Trong chốt địch còn lại bảy đồng chí bị thương, trong đó có đồng chí Trúc - Đại đội trưởng. Ngày hôm sau địch bỏ chốt và bắt số bị thương của đại đội 10 đi theo về Hố Nai - Cần Thơ, coi như số đó mất tích.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #23 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2021, 08:55:32 am »

Ngày 12 tháng 3 năm 1975, trận chiến đấu ở Dầu Tiếng rất gay go, Quân đoàn điều Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 273 đi làm dự bị cho Sư đoàn 9 tiến công tiêu diệt các ổ đề kháng địch, giải phóng chi khu quân sự Trị Tâm. Ở khu đồn tam giác địch ngoan cố chống cự, Quân đoàn sử dụng ba xe tăng T54 và hai khẩu pháo 85mm chi viện cho Trung đoàn 3 đánh chiếm từng đoạn hào, góc phố, đập tan các đợt phản kích của địch. Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 273 được sử dụng tảng cường sức đột kích cho Sư đoàn 9. Thế là chúng tôi có dịp chiến đấu bên cạnh Sư đoàn 9, được phát huy tác dụng huấn luyện khi ở Quảng Bình, của súng đạn mới. Bộ đội đánh rất hăng nhưng các đồng chí Công trường 9 cứ nhắc phải tiết kiệm đạn. Ở một hướng khác của Tiểu đoàn 1 bị một ổ đê kháng địch ngăn chặn, các đồng chí Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 lại nhắc Tiểu đoàn trưởng Hùng: “Tiểu đoàn trưởng sao không cho B41 diệt ngay?". Lúc này Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 mới cho hai khẩu B40, một khẩu B41 tiêu diệt ổ đề kháng và phát triển chiến đấu. Kết thúc trận đánh, Quân đoàn điều Trung đoàn 273 về ngay đoạn Bầu Bàng - Chơn Thành. Khi thu quân, kiểm tra quân số lại mất tích đồng chí giữ B41. Như vậy mới có 15 ngày chiến đấu đã có đến hai vụ mất tích. Chúng tôi cứ kháo nhau: thế mới biết Công trường 9 họ giỏi... Ngày 16 tháng 3 năm 1975, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 273 phối hợp với một tiểu đoàn của Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 diệt gọn cánh quân của địch chạy từ hướng Bình Long về, bắt 60 tên, thu 67 súng các loại, ở hướng khác phát hiện địch là chiến đoàn 315 có thiết giáp ở Bầu Xa Mách đang bị Trung đoàn 1 Sư đoàn 9 vây diệt, Trung đoàn 273 được dịp đánh địch tháo chạy, có nơi địch chạy cả vào cả chỗ trú quân của ta. Khi gặp lại các đồng chí Sư đoàn 9 mới biết sự phối hợp của Trung đoàn 273 đã diệt gần hết chiến đoàn này. Ngày 20 tháng 3 năm 1975, Trung đoàn 273 nhận nhiệm vụ tiến công Chơn Thành trên hướng thứ yếu cùng với Công trường 9. Giải phóng Chơn Thành, Trung đoàn 273 được lệnh theo đường 14 về trong đội hình Sư đoàn 341 tiến công Xuân Lộc - Long Khánh. Thế là chúng tôi phải chia tay với Công trường 9, nhưng bù lại về tiến công Xuân Lộc, chúng tôi có dịp sát cánh với Công trường 7 (Sư đoàn 7) do đồng chí Lê Nam Phong chỉ huy. Nghe nói ông Nam Phong cũng là một cán bộ đại đội trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Sư đoàn 7 do ông chỉ huy được thành lập năm 1966, đã tham gia nhiều trận đánh nổi tiếng. Hồi còn ở miền Bắc, chúng tôi được nghe nói đến Sư đoàn 7 chốt chặn Tàu Ô - Xóm Ruộng 150 ngày đêm kiên cường trong chiến dịch Nguyễn Huệ.


Sau gần 12 ngày đêm chiến đấu, Trung đoàn chúng tôi đã cùng với các đơn vị bạn giải phóng Xuân Lộc - Long Khánh. Tiếp sau Xuân Lộc, Trung đoàn tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, tiến công giải phóng Trảng Bom, Biên Hòa, Sài Gòn - Gia Định. Sài Gòn - Gia Định được giải phóng, đơn vị bước vào làm nhiệm vụ quân quản thì tôi được điều động về Quân đoàn bộ. Rời khỏi Sư đoàn trong lòng tôi vẫn canh cánh về những đồng chí mất tích, về Quân đoàn bộ một thời gian, tôi được Quân đoàn điều về Trường Quân chính làm nhiệm vụ đào tạo cán bộ. Một thời gian sau tôi lại được Quân đoàn điều về Trường Hạ sĩ quan làm nhiệm vụ đào tạo tiểu đội trưởng, khẩu đội trưởng. Đang làm hiệu trưởng Trường Hạ sĩ quan, tôi lại được Quân đoàn điều về Sư đoàn 7, lúc này Sư đoàn 7 đang vượt phà Niếc Lương để tiến công vào Phnôm Pênh. Cứ như vậy, liên tục những nhiệm vụ tiếp theo, tôi không còn thời gian nào nghĩ tới hai vụ mất tích. Mãi đến năm 1983, tôi mới có dịp gặp lại các anh ở Sư đoàn 341. Anh Nguyễn Sĩ Quê cho biết: “Cậu không được dự tổng kết của Sư đoàn nên không biết, các đồng chí mất tích hồi đó đã về đủ. Đồng chí bắn B41 là Trần Quyết Chiến, quê ở Thái Bình, được khen thưởng về thành tích bắn bốn quả B41 diệt nhiều địch, góp công hoàn thành nhiệm vụ cùng với Sư đoàn 9 ở Dầu Tiếng. Chuyện mất tích vì bị cháy quần do bắn B41, được một cô gái 14 tuổi và gia đình cô ta cứu sống, nuôi dưỡng sau một tháng và đưa về Sài Gòn trả đơn vị”...


Bây giờ những con người ấy đã ở vào tuổi trung niên, tuy đã rời quân ngũ, nhưng những kỷ niệm vẫn còn mãi trong ký ức. Trung đoàn tôi bây giờ có một số anh em ở lại miền Nam lập nghiệp. Số ở Thành phố Hồ Chí Minh, hàng năm cứ đến ngày 30 tháng 4 lại gặp mặt nhau, đi viếng nghĩa trang liệt sĩ. Số ở Đồng Nai thì họp mặt ngày 1 tháng 5, sau Thành phố Hồ Chí Minh một ngày để còn mời hẹn nhau. Năm 2000, tôi và anh Trịnh Hồng Phát đi xe máy về nhà đồng chí Bình bán thuốc bắc ở Tam Hiệp, Biên Hòa để họp mặt. Với tác phong người lính, tôi hỏi ngay: Ở đây có bao nhiêu hộ? Các em trả lời có 37 hộ, rải khắp Long Khánh, Trảng Bom, Biên Hòa. Hỏi có hộ nào đói? Tất cả đều không còn đói nghèo. Hỏi có hộ nào hiếm muộn? Trả lời không! Người nào cũng có hai đến ba con, có cháu vào đại học, chỉ còn một người nay đã 52 tuổi, chưa lấy được vợ. Lòng tôi như chùng xuổng, bởi nhớ đến đồng chí Sư đoàn trưởng Trần Văn Trân - người đã chữa thành công cho Chính ủy Sư đoàn Trần Nguyên Độ bệnh hiểm con bằng thuốc đông y, nay cả hai đều đi xa rồi.


Sực nhớ đến người mất tích trước đây, tôi hỏi người nào trong trận đánh ở Dầu Tiếng bị cháy quần chạy vào nhà dân? Một người ở dưới bếp lau tay chạy lên: Thưa thủ trưởng em ạ! Tôi hỏi tại sao lại thế? Đồng chí ấy kể lại: Báo cáo thủ trưởng em bắn ba quả B41 điếc tai, trời nóng, em hoa cả mắt, hướng Sư đoàn 9 có một hỏa điểm bắn cản, em thấy gần nơi em nên quay súng sang bắn viên đạn thứ tư, thân người em nằm dọc thân súng, lửa phụt lại em cháy cái mông và cả cái quần Tô Châu hãy còn mới. Em vội chạy vào nhà dân gần đó, thấy cô gái tuổi còn trẻ ngó ra rồi ném cho em cái quần đen. Em che tạm, khi vào nhà em bị sốt, đành ở lại đó, đơn vị đánh qua em không liên lạc được nữa. Tháng sau gia đình cô gái đưa em về đường Tô Hiến Thành gặp thủ trưởng Quế. Tôi mừng quá nhưng cũng gặng, hỏi lại: Thế từ đó đến giờ em ở đâu? Có đi lại tử tế với người ta không? Trả lời: Dạ, báo cáo thủ trưởng, em được giải quyết chính sách về quê 5 năm trời không tìm được việc làm, em buồn, em nhớ đơn vị quá. Khi em vào tìm đơn vị thì đớn vị đang ở Cam-pu-chia. Em tìm đến gia đình đã cứu em thi cô bé ấy đã 19 tuổi, còn em đã 25. Chúng em tìm hiểu rồi cưới nhau và có hai cháu trai, bây giờ một cháu vào đại học, một cháu lớp 10 ạ!


Từ đây trong ký ức tôi đã xóa đi hai từ “mất tích”, chỉ còn lại những tình cảm yêu thương, kính trọng đồng bào, đồng chí khắp hai miền Nam - Bắc. Nhân kỷ niệm 30 năm thành lập Quân đoàn 4 (20.7.1974 - 20.7.2004), kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam (30.4.1975 - 30.4.2005) tôi xin kể lại một trong muôn vàn kỷ niệm khi còn là cán bộ, sống chiến đấu trong Quân đoàn 4 anh hùng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #24 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:17:28 pm »

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA 30 NĂM CHỜ ĐỢI


Thiếu tướng PHÙNG ĐÌNH ẤM (BA CUNG)
Phó trưởng Phòng Dân vận Tiền phương -
Cục chính trị Miền trong Chiến dịch Hồ Chí Minh Xuân 1975


1. Niềm vui tột đỉnh

Tháng 10 năm 1974, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đánh giá tình hình và hạ quyết tâm chiến lược, khẳng định là ta đang đứng trước thời cơ lớn để hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà và đề ra kế hoạch chiến lược cơ bản để giành thắng lợi hoàn toàn trong hai năm. Cụ thể: năm 1975, tranh thủ bất ngờ ta tiến công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện đầy đủ để sang năm 1976 thực hành tổng tiến công và tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn miền Nam (Theo "khu 6 chống Mỹ, cứu nước", Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, trang 365).


Căn cứ vào quyết tâm và kế hoạch chiến lược của Bộ Chính trị, được sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tham mưu nghiên cứu và xây dựng kế hoạch tác chiến năm 1975 ở miền Nam, gồm ba đợt:

Đợt 1: Đẩy mạnh hoạt động ở chiến trường Nam Bộ và Khu 6.

Đợt 2: Là đợt chủ yếu của toàn Miền, lấy Tây Nguyên làm chiến trường chính.

Đợt 3: Tiếp tục phát triển thắng lợi1 (Theo Khu 6 chống Mỹ, cứu nước, Sđd...).


Đến tháng 12 năm 1974, Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền triển khai kế hoạch của Bộ Chính trị, hạ quyết tâm đẩy mạnh đánh phá bình định ở đồng bằng sông Cửu Long, chủ yếu mở rộng vùng sông Hậu, đồng thời mở chiến dịch của quân chủ lực phối hợp với địa phương ở chiến trường miền Đông Nam Bộ và ở miền núi Khu 6. Quyết tâm trên được nhất trí cao trong Hội nghị cán bộ toàn Miền của Trung ương Cục được tổ chức tại căn cứ Xa Mát (Tây Ninh). Từ những chủ trương lớn được thống nhất tại hội nghị này, các kế hoạch hoạt động tiếp tục được đẩy mạnh, làm dấy lên tình hình sôi động khắp chiến trường B2.


Ở Khu 6, chiến dịch Tánh Linh - Hoài Đức được mở ra, dưới sự phối hợp giữa lực lượng chủ lực Khu 6 và Khu 7, do đồng chí Nguyễn Minh Châu - Tham mưu trưởng Miền trực tiếp đốc chiến. Từ 10 tháng 12 năm 1975 đến ngày 5 tháng 1 năm 1975 ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 2.300 tên địch, gỡ 48 đồn bốt, có một chi khu quân sự, giải phóng hoàn toàn huyện Tánh Linh và bốn xã của huyện Hoài Đức với 44.387 dân1 (Theo Miền Đông Nam Bộ kháng chiến, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993, trang 565).


Cuối tháng 12 năm 1974, ta mở chiến dịch đường 14 - Phước Long liên tục giành thắng lợi. Ngày 14 tháng 12 năm 1974, ta giải phóng Bù Đăng. Ngày 26 tháng 12 nàm 1974, ta giải phóng Đồng Xoài. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, ta đánh chiếm, làm chủ chi khu quân sự Phước Bình. 19 giờ ngày 6 tháng 1 năm 1975 ta tiêu diệt tiểu khu quân sự Phước Long, lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng bay phấp phối trên nóc dinh tỉnh trưởng. Quân ta giải phóng và hoàn toàn làm chủ tỉnh Phước Long.


Tin Phước Long thất thủ làm cho cả Mỹ lẫn ngụy bàng hoàng, cánh cửa ngăn chặn quân ta ở phía bắc Sài Gòn của Mỹ - ngụy bị đập tan. Một tỉnh đầu tiên ở miền Nam được hoàn toàn giải phóng đã động viên sĩ khí của quân dân ta cao độ. Chiến thắng Phước Long là một đòn trinh sát chiến lược, mở ra cho ta một thế mới, lực mới trên con đường tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam.


Sau chiến thắng Phước Long, vùng giải phóng của ta được mở rộng, nhân dân thoát khỏi ách kìm kẹp của địch ngày càng nhiều và gặp những khó khăn ban đầu. Công tác dân vận của các lực lượng vũ trang, nhất là bộ đội địa phương càng thêm nặng nề, từ việc góp phần tuyên truyền giáo dục nhân dân, sắp xếp chỗ ăn ở, phòng chống máy bay oanh tạc, đến vận động kêu gọi chồng, con em là binh sĩ rời bỏ hàng ngũ địch, trở về với cách mạng v.v... Những ngày này, Phòng Dân vận chúng tôi thật bận rộn. Theo sự chỉ đạo của Cục Chính trị Miền, Phòng phân công cán bộ xuống các địa phương vừa được giải phóng để góp ý kiến và cùng tham gia công tác vận động quần chúng ở những nơi khó khăn, cần thiết. Với cương vị Phó trưởng phòng, tôi và đồng chí Hoặc công vụ kiêm lái xe Honda, trực tiếp xuống vùng Thanh An (Bến Cát), Trảng Sa (Tây Ninh),  đến Trung đoàn 16 đơn vị chủ lực của 14, để thực hiện nhiệm vụ theo chỉ đạo của Cục.


Tình hình miền Nam chuyển biến rất nhanh. Sau giải phóng Phước Long, ngày 8 tháng 1 năm 1975, Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm chiến lược “tiến hành rất khẩn trương, hoàn thành chuẩn bị về mọi mặt, tạo điều kiện chín muồi giải phóng hoàn toàn miền Nam”.


Thực hiện ý đồ chiến lược nói trên, quân dân ta nỗ lực tiến vào bước hai, mở ra chiến dịch Tây Nguyên là đòn đầu tiên trong kế hoạch cơ bản của cuộc tiến công chiến lược. Ngày 10 tháng 3 năm 1975, quân ta đánh chiếm Buôn Ma Thuột, tiếp tục vây hãm Plây Ku - Kon Tum, ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn hốt hoảng, hoang mang dao động đến cực độ. Thiệu vội vã ra lệnh rút khỏi Tây Nguyên. Cuộc tháo chạy tán loạn, hỗn quân hỗn quan, báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ ngụy quyền Sài Gòn.


Khác với ý định ban đầu, tình hình diễn biến mau lẹ như các lãnh tụ ta thường nói “một ngày bằng hai mươi năm”. Sau Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và các tỉnh ven biển miền Trung lần lượt được giải phóng. Nắm bắt thời cơ mới, Bộ Chính trị hạ quyết tâm chuyển cuộc tiến công chiến lược thành cuộc tổng tiến công chiến lược, hoàn thành kế hoạch hai năm (1975-1976) ngay trong năm 19751 (Dẫn theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng hành dinh trong mùa Xuân Đại thắng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, trang 226). Một cuộc hành quân “thần tốc” của các binh đoàn thiện chiến, quân ta ào ạt tiến về hướng Sài Gòn như vũ bão.


Các đơn vị chủ lực của Miền (B2) cũng lần lượt triển khai áp sát Tây Ninh, đánh chiếm quốc lộ 20 tiến về Xuân Lộc. Các lực lượng vũ trang địa phương toàn B2 với tinh thần nỗ lực vươn lên: xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, làm chủ từng vùng, đã liên tục tiến công địch đều khắp. Tình hình trên thôi thúc toàn quân, toàn dân. Công tác đảng, công tác chính trị trên chiến trường B2 đặt lên vai Cục Chính trị Miền hết sức nặng nề. Việc hiệp đồng tác chiến giữa các phòng chuyên môn trong Cục chặt chẽ và sôi nổi hơn bất cứ lúc nào. Tất cả đều nhằm mục tiêu thiêng liêng nhất: “Giải phóng hoàn toàn miền Nam trong thời gian nhanh nhất”, nhất là sau khi đồng chí Lê Đức Thọ - đại diện Bộ Chính trị bên cạnh Trung ương Cục miền Nam đến thăm Cục Chính trị Miền. Linh tính mách bảo chúng tôi rằng thời cơ hoàn toàn giải phóng miền Nam đã đến rất gần. Riêng Phòng Dân vận chúng tôi lúc bấy giờ hầu như bỏ trống. Đồng chí Thìn - Phó trưởng phòng được phân công ở hậu cứ cùng một số nhân viên nắm tình hình chung, còn tất cả đều bung ra hoạt động. Đồng chí Trưởng phòng Trần Chính, được Bộ Chỉ huy Miền điều ra đơn vị tác chiến, giữ chức Phó chủ nhiệm chính trị Đoàn 232 (tương đương cấp quân đoàn). Tôi phụ trách Phòng Dân vận tiền phương, phục vụ chiến dịch giải phóng Sài Gòn (sau này được đặt tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh), cùng các đồng chí trợ lý: Lê Quốc Hùng, Lê Châu Ba, Lê Văn Thuân, Nguyễn Hoàng Giao, Nguyễn Nam, Nguyễn Văn Lập, v.v...
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #25 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:19:16 pm »

Để phục vụ chiến dịch, theo chỉ đạo của Thủ trưởng Cục, tôi tổ chức cuộc hội nghị, phổ biến chỉ thị và công tác dân vận cho các đồng chí trưởng, phó phòng trong Cục để có sự hiệp đồng chặt chẽ trong thời gian chiến dịch. Xong, thủ trưởng Cục phân công tôi xuống Đồng Xoài trực tiếp báo cáo tình hình nhân dân B2 nói chung và nhân dân nội đô Sài Gòn nói riêng, phương hướng công tác dân vận tiếp quản vùng mới giải phóng cho các đơn vị của Bộ mới đến chiến trường B2. Trên đường đi đến Đồng Xoài, chiếc Jeép của tôi và Hoặc như ngập chìm trong làn sóng bụi đường. Dọc quốc lộ 14, từng đoàn xe tăng, thiết giáp, pháo xe kéo, xe vận tải chuyển quân, vũ khí, đạn dược, khí tài nối đuôi nhau chạy về hướng Nam, xe nào cũng kẻ khẩu hiệu bằng sơn trắng: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa”. Câu khẩu hiệu đó theo tôi biết là trích trong điện “mệnh lệnh” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; theo tinh thần của bức điện là khẩu hiệu này được quán triệt xuống cho từng người chiến sĩ tham gia chiến dịch.


Lúc này, nhìn đoàn xe trùng trùng tiến về Nam, lòng tôi bồi hồi nhớ lại cách đây 16 năm, từ Hà Nội, Đoàn B90 chúng tôi, lúc đó tôi là Phó trưởng đoàn, nhận lệnh của Bộ Quốc phòng và Ban Thống nhất Trung ương giao cho, trở về miền Nam phối hợp với Đảng bộ tỉnh Đắc Lắc mở con đường hành lang đoạn cuối dãy Trường Sơn, nối liền hai chiến trường Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, góp phần xây dựng tuyến chi viện chiến lược Bắc-Nam - đường Hồ Chí Minh - con đường huyền thoại trong kháng chiến chống Mỹ. Hồi đó, ở đây là một vùng trắng, địch kềm kẹp nặng nề, chúng tôi mò mẫm xây dựng từng cơ sở chính trị trong nhân dân, lặng lẽ vạch lá, soi đường, từng bước nhích dần về Nam. Đến giờ, không còn cái cảnh “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” như xưa, mà quân ta đã trùng trùng điệp điệp hiên ngang như trẩy hội trên đường quốc lộ, lòng tôi lâng lâng cái khoan khoái của người chiến thắng. Cuộc ra quân lớn chưa từng thấy ở chiến trường B2.


Đến Đồng Xoài, nơi bộ đội tạm dừng để làm công tác tổ chức. Quân ta nằm chật dưới gốc cao su của các đồn điền, người thì tranh thủ ngủ sau một chặng hành quân đường dài, người đang lau chùi súng đạn, im lặng và nghiêm trang. Tôi đi giữa rừng người và tìm được đại bản doanh của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 vừa mới hành quân đến. Chính ủy Hoàng Minh Thi đón tiếp tôi rất niềm nở và hoan nghênh sự có mặt của tôi đúng lúc. Chính ủy chỉ thị cho Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn Thái Bá Nhiệm làm việc với tôi. Đồng chí Chủ nhiệm triệu tập một số cán bộ nghe tôi báo cáo tình hình và phương hướng nhiệm vụ. Chúng tôi làm việc trong không khí hào hứng, phấn khởi, tin tưởng rằng việc đánh chiếm Sài Gòn chỉ còn là vấn đề thời gian.


Ngày 7 tháng 4 năm 1975, đồng chí Lê Đức Thọ thay mặt Bộ Chính trị công bố quyết định thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn (về sau là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử) và đặt đại diện Bộ Chính trị bên cạnh Bộ Chỉ huy chiến dịch có các đồng chí Lê Đức Thọ, Phạm Hùng và Văn Tiến Dũng. Bộ Chỉ huy chiến dịch gồm đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh. Đồng chí Phạm Hùng - Bí thư Trung ương Cục miền Nam làm Chính ủy. Các đồng chí Thượng tướng Trần Văn Trà - Tư lệnh B2, Trung tướng Lê Trọng Tấn, Trung tướng Đinh Đức Thiện, Trung tướng Lê Đức Anh làm Phó tư lệnh. Đồng chí Lê Quang Hòa làm Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị. Căn cứ đầu tiên của Bộ Chỉ huy chiến dịch đóng ở sóc Tà Thiết, sau chuyển ra phía trước, đóng ở Căm Xe (Bến Cát). Bộ Chỉ huy chiến dịch sử dụng các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của Bộ Chỉ huy Miền (B2) để làm việc, phục vụ cho chiến dịch, có tăng cường cán bộ của Bộ, Đoàn A75 vừa ở Tây Nguyên đến và Bộ Tổng tham mưu phái vào.


Hoàn thành nhiệm vụ ở Đồng Xoài, trở về hậu cứ thì Tiền phương Cục Chính trị đã triển khai ra phía trước, tôi và đồng chí Hoặc - chiến sĩ bảo vệ và công vụ cấp tốc hành quân theo bằng xe mô tô. Đến Căm Xe, tôi choáng ngợp trước quy mô của sở chỉ huy chiến dịch. Những đường dây điện thoại chằng chịt như lưới nhện, những khẩu cao xạ sẵn sàng nhả đạn bảo vệ sở chỉ huy. Trong kháng chiến chống Mỹ, tôi đã sống, chiến đấu và công tác ở một số chỉ huy sở tiền phương của Quân khu, của Miền nhưng chưa từng thấy quy mô của sở chỉ huy nào lớn như lần này, chứng tỏ toàn quân ta đã dốc sức tập trung cho một trận quyết chiến chiến lược để đi đến kết thúc chiến tranh. Theo chỉ dẫn của lực lượng thông tin liên lạc, tôi đến sở chỉ huy của tiền phương Cục Chính trị, gặp đồng chí Nguyễn Văn Tòng - Phó chủ nhiệm Cục Chính trị Miền phụ trách tiền phương. Đồng chí cho tôi biết: chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã được Bộ Chính trị đồng ý đặt tên là “Chiến dịch Hồ Chí Minh” và ngày 26 tháng 4 năm 1975, năm cánh quân hùng mạnh của ta đang trên đường tiến công vào Sài Gòn, sẵn sàng cho trận “quyết chiến chiến lược" giải phóng miền Nam, lòng tôi vui như mở hội. Tôi đề nghị anh cho biết tình hình của hai cánh quân chủ lực của B2. Anh nói: theo nghe giao ban cập nhật, tình hình mỗi ngày đều có sự phát triên thuận lợi. Ở hướng mặt trận Xuân Lộc, địch chống cự quyết liệt. Chúng quyết tâm xây dựng “cánh cửa thép” để ngăn chặn quân ta tiến về Sài Gòn. Trước tình thế khó khăn, Bộ Chỉ huy chiến dịch cử đồng chí Trần Văn Trà - Tư lệnh B2, Phó tư lệnh chiến dịch xuống tận nơi cùng với Quân đoàn 4 và Quân khu 7 rút kinh nghiệm và thay đổi cách đánh. Lực lượng được tăng cường và bổ sung pháo lớn, thực hiện quyết tâm mới, quân ta đã tiến công tiêu diệt chiến đoàn 52 ngụy và một chi đoàn thiết giáp, đánh chiếm Dầu Giây, Núi Thị, Túc Trưng, đánh và tiêu diệt làm thiệt hại nặng các đơn vị phản kích của địch. Mất Dầu Giây, quốc lộ 1 bị cắt đứt, lực lượng bị tổn thất nghiêm trọng, trong thế bị bao vây uy hiếp, đêm 20 tháng 4 địch phải rút chạy khỏi Xuân Lộc, quân ta đang tiến về Biên Hòa. Ở hướng tây, Đoàn 232 (tương đương cấp quân đoàn) do đồng chí Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà)1 (Khi triển khai Chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Minh Châu được Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền phân công về Sở Chỉ huy cơ bản của Miền phục vụ chiến dịch. Đồng chí Lê Đức Anh làm Tư lệnh, đồng chí Lê Văn Tưởng - Chính ủy cánh quân hướng Tây - Tây Nam do Đoàn 232 làm nòng cốt) và Lê Văn Tưởng (Hai Chân) trực tiếp chỉ huy chuẩn bị đánh chiếm Mộc Hóa và đưa lực lượng xuống cắt đứt đường số 4, kết hợp với chủ lực của Quân khu 8 diệt sư đoàn 7 và sư đoàn 9 ngụy...


Tình hình phát triển rất thuận lợi, 17 giờ 40 phút ngày 28 tháng 4 năm 1975, một phi đội A37 của ta vừa lấy được của địch ở sân bay Thành Sơn (Phan Rang) do Nguyễn Thành Trung dẫn đường đã ném bom xuống Tân Sơn Nhất. Tối 28 tháng 4 năm 1975, Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh ra lệnh cho các cánh quân tổng công kích, đánh chiếm Sài Gòn, hang ổ cuối cùng của Mỹ - ngụy.


Đồng chí Sáu Tòng cho tôi biết tình hình nội đô Sài Gòn, tinh thần ngụy quân, ngụy quyền dao động cực độ, nhất là sau khi mặt trận Xuân Lộc vỡ, bọn bại binh chạy về gieo thêm nỗi kinh hoàng, ở đó đang diễn ra cuộc di tản của bọn tướng lĩnh, ngụy quyền đầu sỏ và nhân viên đại sứ quán Mỹ, gây ra cảnh rối loạn trong thành phố. Đồng chí chỉ thị tôi điện nhắc các cánh quân đặc biệt chú ý công tác dân vận của bộ đội khi vào vùng mới giải phóng (đã có kế hoạch hướng dẫn trước khi bước vào chiến dịch) và chỉ thị cho tôi đến Thanh An, ở đó đang có nhiều đồng bào nội thành tản cư “ngược” ra vùng giải phóng để tránh bom đạn, khi họ biết rằng chiến tranh đã áp sát nội đô, để nắm chắc tình hình và biết rõ hơn về tâm lý cũng như mặc cảm của họ, những con người nhiều năm bị kềm kẹp trong vùng địch kiểm soát. Sáng 30 tháng 4 năm 1975, chiếc Honda 90 do đồng chí Hoặc lái chở tôi đến Thanh An. Chúng tôi ghé lại nhà bác Tám - một cơ sở lâu nay tôi thường ở, nghỉ mỗi khi về đây công tác, có lúc cùng tránh máy bay oanh tạc chung hầm với bác. Bác Tám thường theo dõi tin tức ở cả đài phát thanh của ta và của địch, nên biết nhiều tình hình. Tôi thường gọi bác là “ông già thời sự”. Xe chúng tôi vừa vào đến sân, từ trong nhà bác Tám đang dán tai vào chiếc đài bán dẫn, thấy tôi bác kêu to:

- Thằng Ba, mau vào nghe Dương Văn Minh đang tuyên bố sẵn sàng thương lượng với Mặt trận giải phóng đây nè!

Tôi nói với bác:

- Năm cánh quân của ta đang tấn công vào Sài Gòn. Chúng sắp mất hết rồi, còn gì nữa mà thương lượng!

Vừa nói, tôi vừa chạy vào nhà. Bác Tám vẫn khư khư chiếc đài trên tay. Từ đó phát ra lời của Dương Văn Minh - tổng thống cuối cùng của chế độ Sài Gòn, tay sai Mỹ trịnh trọng tuyên bố đầu hàng cách mạng vô điều kiện, kêu gọi các chiến hữu ở những nơi còn lại nhanh chóng hạ vũ khí, nộp cho quân giải phóng...

- Thắng rồi! Chúng ta thắng rồi, bà con ơi!

Bác Tám ôm chiếc đài ra đứng giữa sân, la to. Rồi ùn ùn như sóng dậy, từ các nhà bên cạnh loan ra cả xóm. Ở đâu cũng nghe tiếng reo hò “Ta thắng rồi!”, “Bọn ngụy đầu hàng rồi!” và không ai bảo ai, đồng bào đổ ra đường ngày một đông, vui mừng chiến thắng. Họ tranh nhau nói, tranh nhau cười và có người sụt sùi khóc, vì quá xúc động trước chiến thắng được mong đợi suốt từ 30 năm nay đã đến. Một niềm vui tột đỉnh trong trái tim mỗi người!
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #26 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:20:00 pm »

2. Đường về Sài Gòn

Chia sẻ chớp nhoáng niềm vui với đồng bào Thanh An, chúng tôi bon về Sở chỉ huy chiến dịch. Quang cảnh Sở Chỉ huy chiều hôm ấy vui như ngày hội. Gió rừng nghe như hát. Các chiến sĩ thông tin tất bật thu hồi dây điện thoại, thỉnh thoảng "bắn trộm" vài phát súng chỉ thiên, để chào mừng chiến thắng. Toàn sở chỉ huy được lệnh Bộ Chỉ huy nhanh chóng về Sài Gòn phối hợp với các đơn vị đã đánh chiếm tiếp quản thành phố. Các đồng chí Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt - Bí thư và Phó bí thư Trung ương Cục đã đưa cơ quan tiển phương Trung ương Cục vào Sài Gòn từ chiều 30 tháng 4. Ôi! Cái ngày đặt chân lên mảnh đất Sài Gòn thân yêu “đi trước về sau” của Tổ quốc đối với chúng tôi không còn là những ước mơ, mà đã trở thành sự thật. Tiếc rằng, là một cán bộ phục vụ ở cơ quan chỉ đạo công tác đảng, công tác chính trị, tôi không được cùng các chiến sĩ của đoàn quân “thần tốc, táo bạo” có mặt giữa Sài Gòn, đúng vào cái giờ phút thiêng liêng của chiến thắng lịch sử. Trận quyết chiến chiến lược của Chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã đem lại cho chúng tôi niềm vui tột đỉnh. Đêm 30 tháng 4, năm 1975, nhằm vào đêm 20 tháng 3 năm Ất Mão, đối với chúng tôi là một đêm không ngủ, thức trắng cùng ngọn đèn dầu tự tạo leo lét với gió rừng rầm rì thổi, bao nhiêu ký ức của 30 năm chiến tranh đẫm máu và nước mắt cùng với những kỷ niệm buồn, vui trong cuộc sống và chiến đấu giữa lòng dân, khắp chiến trường hiện ra, rồi hình ảnh đồng bào Thanh An cùng với đồng bào Sài Gòn tản cư reo mừng chiến thắng, bất giác mắt tôi nhòa lệ vì niềm vui quá lớn. Cuộc Trường Chinh 30 năm đã đến đích. Chúng tôi mong sao mau đến giờ hành quân.


Và, 5 giờ sáng ngày 1 tháng 5 nàm 1975, với đoàn xe hàng trăm chiếc chở chúng tôi rời Căm Xe, tạm biệt núi rừng đã che chở chúng tôi suốt 30 năm kháng chiến. Qua Dầu Tiếng đến Trảng Bàng, dọc theo quốc lộ 22 tiến về Củ Chi. Đến đâu chúng tôi cũng được đồng bào vẫy chào như đón người thân. Những rừng cờ nền nửa đỏ nửa xanh, sao vàng rực rõ ở những khu đông dân cư, những tiếng hô “Hoan hô quân giải phóng” vang trời dậy đất. Đặc biệt có những chiếc xe đò cùng chiều, chở đầy hành khách, cả ở trên mui xe, nhiều người không mặc áo. Thấy chúng tôi họ vỗ tay hoan hô Quân giải phóng ríu rít. Theo nhân dân cho biết, đó là những toán binh sĩ ngụy quân Sài Gòn đã trút bỏ quần áo lính, tháp tùng xe đò tìm về quê hương, thoát khỏi cuộc chiến tranh phi nghĩa, họ mừng vui ra mặt.


Đến Củ Chi, đoàn xe dừng mấy phút, đồng bào ùa ra bắt tay Quân giải phóng. Họ chỉ lá cờ “nửa đỏ nửa xanh" bay phấp phới trên nóc nhà chi khu và bảo đó là lá cờ do một cán bộ phụ nữ biệt động cắm trước giờ phút Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Đoàn xe tiếp tục lăn bánh và tạm dừng ở Hóc Môn nghỉ trưa. Tôi nghỉ trong nhà một đồng bào không quen biết, nhưng chủ nhà rất mến khách, đã bưng cơm, thức ăn, nước uống ra mời chúng tôi như với người thân đi xa mới về. Một chú bé mân mê chiếc mũ Quân giải phóng và khen:

- Bộ đội giải phóng hiền quá, tốt quá! Đêm qua bộ đội chiếu phim cho đồng bào coi. Phim hay dễ sợ...

Tôi hỏi chú bé phim hay sao lại dễ sợ? Chú bé bẽn lẽn đáp: là phim hay quá xá đó mà!

Đoàn xe tiếp tục đưa chúng tôi vào nội đô Sài Gòn, đến ngã tư Bảy Hiền xe tạm dừng. Mấy chiếc xe xích lô cắm cờ nền nửa đỏ, nửa xanh, sao vàng, người phu xích lô cánh tay đeo băng đỏ, chở đầy một xe cơm vắt, thịt kho và nước, chạy đến dừng xe và tự giới thiệu mình là đại diện ủy ban quân quản, mời chúng tôi với thái độ ân cần niềm nở. Tiếp nhận cơm, thức ăn và nước uống của đồng bào thành phố vừa mới giải phóng, lòng chúng tôi vô cùng xúc động. Ngay trong đêm, bộ phận tiền phương Phòng Dân vận của chúng tôi được cấp trên phân công về tiếp quản cục xã hội của ngụy quân đóng tại Đồn Đất. Ở đó có bộ phận trung đoàn của ta đã đánh chiếm từ trưa 30 tháng 4. Thế là chúng tôi đã ung dung đứng giữa Sài Gòn. Theo chỉ thị Cục Chính trị, chúng tôi tranh thủ nắm chắc tình hình, chuẩn bị cho một cuộc hội nghị công tác dân vận trong tình hình mới, nhiệm vụ mới của chiến trường B2.


Tình hình thành phố những ngày mới giải phóng nảy sinh nhiều vấn đề khá phức tạp. Công tác dân vận thật bận rộn. Một mặt làm công tác đăng ký binh sĩ, sĩ quan, ngụy quyền rã ngũ. Tiếp quản cơ sở vật chất của ngụy quân v.v... Một mặt vận động quần chúng giữ gìn trật tự trị an, vận động thanh niên, sinh viên, học sinh đứng ở các tuyến phố làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự giao thông. Một vấn đề đặt ra lúc bấy giờ là trên đường tháo chạy về Sài Gòn từ Tây Nguyên và các tỉnh ven biển miền Trung, sĩ quan và binh sĩ ngụy mang theo vợ con và hù dọa cưỡng ép đồng bào đi theo hiện nằm la liệt trên các vỉa hè, đường phố, đặc biệt là trên đường Hồng Thập Tự, dày đặc lều chõng của những người chạy loạn. Trước tình hình đó, một ủy ban vận động hồi hương được thành lập, bên cạnh ủy ban Quân quản thành phố. Tôi được Cục Chính trị phân công và giới thiệu làm ủy viên thường trực của ủy ban vận động hồi hương.


Mải cuốn hút theo công việc, một tuần sau tôi mới được tranh thủ về Củ Chi, thăm bà con, họ hàng gia đình bên vợ và gặp lại hai đứa con thân yêu. Vợ tôi là dược tá còn ở hậu cứ tận Lộc Ninh chưa về kịp. Thấy tôi, hai con trai: đứa lớn 7 tuổi, đứa nhỏ 5 tuổi ríu rít gọi “Ba... Ba” và òa khóc. Tôi cũng không cầm được nước mắt. Vì chiến tranh, các con tôi phải sống xa cha mẹ. Vợ chồng tôi gặp nhau, yêu nhau và tiến đến hôn nhân vào mùa xuân 1966 ở chiến khu, căn cứ của Tỉnh ủy Quảng Đức, dưới chân núi Nam Nung (Nam Tây Nguyên). Năm 1972, tôi được điều về công tác Cục Chính trị Miền, vợ tôi chuyển nghề theo về làm nhân viên ở Phòng Dân vận, vừa công tác vừa nuôi con. Cha mẹ vợ tôi - ông bà Trần Văn Lao, thương con gái một nách hai con lại phải lo công tác nên bắt cô con gái lớn phải tìm cho được em, để đưa cháu về nuôi. Và chị phải làm theo ý của mẹ. Từ vùng địch, chị lặn lội một mình thân gái dặm trường, vào tận Lộc Ninh. Chị em gặp nhau và chị đã bồng hai đứa cháu về Củ Chi nuôi, để mẹ chúng rảnh rang công tác. Có cháu, ông bà ngoại cũng khuây khỏa nỗi nhớ con và bà thương cháu hết chỗ nói. Tiếc thay, ngày đại thắng huy hoàng của Tổ quốc, mẹ không còn nữa. Bà đã vĩnh viễn đi xa, sau một cơn bạo bệnh. Bà được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý: “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.


Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, Cục Chính trị Miền đã hoàn thành nhiệm vụ trong giai đoạn lịch sử vẻ vang, làm tròn sứ mệnh của cơ quan công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang miền Nam (B2) trong đó có Phòng Dân vận đóng góp một phần quan trọng trong truyền thống oai hùng của Quân giải phóng và Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước oanh liệt.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #27 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:21:28 pm »

CHIẾN TRƯỜNG ĐỒNG BẰNG VEN BlỂN KHU 5
TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975


Theo lời kể của
Đại tá TRẦN NGỌC QUẾ
Nguyên Bí thư của Đại tướng Chu Huy Mân
thời kỳ chống Mỹ tại chiến trường Khu 5
   

Chiến dịch tiến công tại đồng bằng ven biển Khu 5 trên hướng Tam Kỳ, Quảng Ngãi của một bộ phận chủ lực quân khu và lực lượng vũ trang địa phương ở ba tỉnh Đà - Nam - Ngãi Xuân 1975 lúc đầu mới chỉ trong phạm vi địa phương nhằm giành thắng lợi quân sự cục bộ, với mục tiêu hạn chế, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ cho các chiến dịch tiến công chiến lược tiếp theo. Nhưng nhờ chiến dịch giành thắng lợi trong thời gian ngắn, đồng thời tranh thủ thời cơ thuận lợi từ chiến dịch tấn công địch ở hướng Tây Nguyên nên đã chuyển thành một hướng quan trọng của chiến dịch tiến công chiến lược Huê - Đà Nẵng - một trong ba đòn tiến công chiến lược Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


Từ kế hoạch quân sự hai năm giải phóng miền Nam, rút xuống còn một năm và được thực hiện nhanh gọn trong 49 ngày đêm tấn công liên tục (riêng Khu 5, từ ngày nổ súng tấn công Buôn Ma Thuột (10-3) đến khi giải phóng Nha Trang, Cam Ranh (4-4) chỉ vẻn vẹn 25 ngày đêm) đã làm cả thế giới ngạc nhiên. Chúng tôi1 (Gồm một số cán bộ trong cơ quan Bộ Tham mưu chiến dịch, khi đó đồng chí Trần Ngọc Quế mang hàm thượng tá (NTH)) - những người trong cuộc, cũng không thể dự kiến hết sự phát triển vô cùng nhanh chóng của tình hình. Biết bao sự kiện được coi là ngẫu nhiên đều bị chi phối bởi những quy luật khắt khe của chiến tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng, chiến tranh nhân dân và chiến tranh hiện đại. Nhưng thắng lợi giành được hoàn toàn không phải do ngẫu nhiên mà có, nguyên nhân chủ quan vẫn là nguyên nhân chính quyết định thành, bại của chiến dịch. Tuy nhiên, để thấy rõ hơn vai trò, vị trí và ý nghĩa của cuộc tiến công và nổi dậy ở chiến trường đồng bằng ven biển Khu 5 trong toàn cục cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 và trong chiến dịch tiến công chiến lược Huế - Đà Nẵng, chúng ta cần nhìn lại bối cảnh chung khi đó.


Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết giữa chính phủ và đại diện bốn bên2 (Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Chính phủ Mỹ và đại diện ngụy quyền Sài Gòn). Quân, dân miền Nam nói chung, quân dân Khu 5 nói riêng nghiêm túc chấp hành lệnh ngừng bắn từ khi có hiệu lực theo quy định của Hiệp định Pa-ri từ 7 giờ ngày 28 tháng 1 năm 1973. Nhưng đế quốc Mỹ vẫn thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” theo công thức “ngụy quân + viện trợ kinh tế, quân sự và cố vấn Mỹ”. Tên Việt gian đầu sỏ Nguyễn Văn Thiệu theo lệnh quan thầy Mỹ, sáng 28 tháng 1 năm 1973 đã tuyên bố không tôn trọng ngừng bắn và ra lệnh cho quân ngụy thực hiện kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ" trên toàn miền Nam nhằm chiếm vùng giải phóng của ta. Trên chiến trường, chiến tranh vẫn tiếp diễn, “lấn chiếm” và chống “lấn chiếm” giữa địch với ta vẫn đang diễn ra trên diện rộng ngày càng quyết liệt. Vì chưa nhận rõ âm mưu địch, một số địa phương, đơn vị hy vọng vào thiện chí của kẻ địch, mất cảnh giác, buông lỏng tay súng, để địch lấn đất giành dân, gây ra không ít khó khăn, lúng túng.


Tháng 7 năm 1973, sau khi Thường vụ Đảng ủy Khu 5 đưa ra chủ trương: “địch lấn chiếm vùng ta, ta kiên quyết vừa phản công, vừa tấn công lại”, nhiều địa phương, đơn vị đã giữ được đất, giành lại được dân, củng cố vùng giải phóng nhưng vẫn ở thế giằng co với địch.


Tháng 10 năm 1973, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 ra Nghị quyết chỉ rõ: Địch không thi hành hiệp định, tiếp tục Việt Nam hóa chiến tranh thực chất là chiến tranh thực dân kiểu mới hòng chiếm cả miền Nam. Ta không còn con đường nào khác là phải tiến hành chiến tranh cách mạng, tiêu diệt chúng, giải phóng miền Nam...”.


Dưới ánh sáng Nghị quyết Trung ương lần thứ 21, được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy Khu 5 đã thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo toàn Quân khu “Vừa sử dụng lực lượng cần thiết để đánh bại lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng, vừa tập trung sức chuẩn bị điều kiện và thời cơ cho đánh lớn, diệt lớn, thực hành nhiều chiến dịch tiến công chiến lược góp phần cùng toàn miền Nam đánh cho ngụy nhào, kết thúc chiến tranh”.


Phương hướng chiến lược đề ra trên là vô cùng đúng đắn nhưng vận dụng cụ thể vào thực tiễn lại vô cùng khó khăn. Bởi nếu không đủ sức làm tốt nhiệm vụ trước mắt sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chuẩn bị cho lâu dài. Hoặc chỉ vì nhiệm vụ trước mắt mà không chuẩn bị tạo thế, tạo lực chuẩn bị cho lâu dài thì khi thời cơ đến, chúng ta sẽ không có cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật cũng như lực lượng cho đánh lớn, diệt lớn quân chủ lực ngụy. Thực tế trên chiến trường đồng bằng ven biến Khu 5 cho thấy, từ mùa thu 1972, trên hướng Cấm Dơi, Quế Sơn (tây Quảng Nam) tuy Quân khu đã tổ chức trận đánh hiệp đồng binh chủng, sử dụng vào tấn công một tiểu đoàn pháo nòng dài 130mm, một tiểu đoàn cao xạ 37mm đánh máy bay địch bảo vệ đội hình chiến đấu và một đại đội xe tăng, xe thiết giáp. Nhưng vì thiếu đường giao thông nên không thể cơ động lực lượng đi các hướng được. Rõ ràng là vào giai đoạn quyết định của chiến tranh giải phóng, muốn đánh hiệp đồng binh chủng lớn, có pháo mặt đất xe kéo, có pháo cao xạ, có xe tăng, thiết giáp thì việc mở đường cơ giới là một đòi hỏi cấp bách. Bởi vậy ngay từ đầu năm 1973 Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã chỉ đạo: trong khi tích cực đánh địch lấn chiếm, bảo vệ vùng giải phóng phải đồng thời tích cực khéo léo tập trung sức lực để tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ cho đánh lớn, diệt lớn quân chủ lực cơ động của ngụy, đồng thời tập trung lực lượng nhanh chóng mở đường cơ giới.


Chỉ tính riêng năm 1973, cả đồng bằng và Tây Nguyên, ta đã sử dụng 33,5 vạn ngày công của bộ đội và nhân dân vùng giải phóng mở xong 4 trục đường dọc và 11 trục đường ngang với tổng chiểu dài là 977 ki-lô-mét (bằng 1/2 chiểu dài đường bộ xuyên Đông Dương - Hà Nội - Sài Gòn). Đường cơ giới đã nối liền tây bắc Kon Tum đến bắc Buôn Ma Thuột, tây Quảng Đà, tây Quảng Nam, tây Quảng Ngãi xuống đến bắc Bình Định, qua đường bắc Kon Tum - Cô Xia - tây Quảng Nam, nối liền hai chiến trường lớn Tây Nguyên và đồng bằng. Con đường cơ giới vu hồi từ bắc Kon Tum, vòng qua tây thị xã Kon Tum về Đắc Đoa, tiếp giáp với đường 19 cũng được hoàn thành trong thời gian này.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #28 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:22:11 pm »

Có đường cơ giới là có vận chuyển lớn. Cũng trong năm 1973, Trung ương đã chuyển vũ khí và thuốc men cho Khu 5 bằng khối lượng chi viện cả bốn năm (1969-1972) cộng lại, số hàng đó được phân phối xuống tận sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn, và đến bắc Bình Định. Hệ thống kho tàng, trạm sửa chữa ô tô, trạm quân khí, các bệnh viện, bệnh xá, trạm phẫu cũng dựa theo các trục đường cơ giới để triển khai trên toàn tuyến chiến dịch. Có mạng đường cơ giới thì lực lượng vận tải bằng gùi, thồ được giải phóng, một số lượng khá lớn tay súng chiến đấu kỳ cựu được bổ sung cho các đơn vị chiến đấu. Nếu như cuối năm 1972, một đại đội bộ binh chiến đấu chỉ có 10-15 tay súng thì đến giai đoạn này đã có 40-45 tay súng, tiểu đoàn bộ binh có 200-250 tay súng, sức chiến đấu tăng lên rõ rệt. Lực lượng binh chủng của Quân khu đến cuối năm 1973 đã có hai trung đoàn pháo binh cơ giới, một trung đoàn tăng, thiết giáp, một trung đoàn pháo cao xạ, một trung đoàn thông tin, hai trung đoàn công binh được phân chia thành nhiều cụm và triển khai sẵn thế trận trên các hướng bắc, trung, nam.


Một hình ảnh mà chúng tôi khó quên khi trục đường dọc theo sát tây đường quốc lộ 1 xuống bắc Bình Định được mở, đồng chí Chu Huy Mân khi đó là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 với chiếc compa pháo binh trong tay đứng hàng giờ trước tấm bản đồ quân sự tỷ lệ 1/100.000, suy nghĩ về cách đánh tới trong điều kiện có thể tổ chức những trận đánh hiệp đồng binh chủng. Có lúc vui quá, đồng chí lớn tiếng gọi chúng tôi: “Này các cậu, lại đây xem pháo ta trùm Tam Kỳ, Chu Lai, Quảng Ngãi rồi. Phen này chúng chết với ta”.


Lúc này đường ống dẫn dầu và đường thông tin dây trần, hệ thống thông tin vô tuyến tiếp sức cũng được phát triển. Đầu năm 1975, đường ống dẫn dầu đã đến Bên Giàng (tây Quảng Đà); việc liên lạc bằng thông tin hữu tuyến và vô tuyên tiếp sức từ Khu 5 ra Hà Nội được trực tiếp, cụ thể và thuận lợi hơn.


Sư đoàn 2, Sư đoàn 3, Lữ đoàn 52 của Quân khu được củng cố; sư đoàn có trung đoàn pháo cơ giới và tiểu đoàn cao xạ, đứng sẵn ở các hướng trọng điểm vừa có bộ phận tham gia đánh địch lấn chiếm bảo vệ vùng giải phóng vừa tập trung xây dựng huấn luyện. Sức chiến đấu của các sư đoàn, lữ đoàn tăng gấp 2-3 lần so với trước đây. Hỏa lực của các lực lượng vũ trang địa phương tỉnh có tiểu đoàn trợ chiến gồm ĐKZ75, cối 120mm và côi 82mm. Tuy phải bổ sung một phần cho chủ lực và bộ đội địa phương tỉnh, huyện, nhưng số lượng du kích toàn quân khu đến cuối năm 1974 tổ chức được 4 vạn 1 ngàn, có 120 trung đội du kích xã, 50 trung đội và 70 tổ du kích đặc công, 120 đội và tổ du kích công binh. Riêng du kích đồng bằng ven biển là 2 vạn rưỡi, phần lớn được trang bị vũ khí.


Đến cuối năm 1974 Quân khu 5 đã hoàn thành tốt chương trình huấn luyện chiến đấu với các chiẽn thuật chủ yếu: vây lấn tiêu diệt địch trong công sự vững chắc và đánh bao vây, tấn công liên tục, tiêu diệt địch ngoài công sự, tấn công hiệp đồng binh chủng lớn, nâng cao một bước trình độ tác chiến của sư đoàn, lữ, trung đoàn. Việc huấn luyện được gắn chặt với thực tiễn. Sau khi huấn luyện các đơn vị đưa bộ đội ra đánh địch lấn chiếm, thu hồi vùng giải phóng, cải thiện thế trận tiến công của ta. Mùa hè năm 1974, lực lượng vũ trang đồng bằng ven biển Khu 5 diệt và bức rút 300 cứ điểm, giải phóng Đức Phú tây Tam Kỳ. Thu 1974, ta tiêu diệt các cụm cứ điểm địch cắm sâu trong vùng giải phóng của ta như Thượng Đức (tây Quảng Đà), Nông Sơn, Trung Phước (tây Quảng Nam), giữ vững các bàn đạp để chuyển sang tấn công ở ba khu vực Châu Sơn, Hiệp Đức (Quảng Nam), Ba Tơ (Quảng Ngãi), Hoài An - An Lão (bắc Bình Định). Qua đợt hoạt động này, trình độ tác chiến đánh tiêu diệt lớn quân chủ lực ngụy của chủ lực ta có bước phát triển rõ: diệt gọn các cụm phòng thủ, chi khu quận lỵ địch và đánh bại từng trung đoàn ngụy đi giải tỏa, ứng cứu và quan trọng hơn, qua đó ta cũng thấy rõ sự hạn chế về khả năng ứng cứu, giải tỏa của địch.


Do chủ động kêt hợp chặt chẽ trước mắt và lâu dài, vừa đánh địch lấn chiếm, vừa tạo thế, tạo lực cho đánh lớn, diệt lớn quân chủ lực ngụy. Lúc này, quân dân Khu 5 đã sẵn sàng bước vào trận quyết chiến chiến lược.


Đầu năm 1975, chủ lực của địch ở quân khu 1 có năm Sư đoàn và bốn lữ đoàn biệt động. Tướng Ngô Quang Trưởng - tư lệnh quân khu 1 và quân đoàn 1 ngụy đã hạ quyết tâm giành ba sư đoàn và ba lữ đoàn biệt động quân để đối phó với hoạt động của chủ lực Quân khu 5 trên hướng Đà - Nam - Ngãi. Trong lúc đó, tập trung hai phần ba chủ lực quân khu trên hướng trọng điểm này ta cũng chỉ có một sư đoàn, một lữ đoàn, một trung đoàn bộ binh, một trung đoàn pháo binh, một trung đoàn pháo cao xạ, một trung đoàn tăng, thiết giáp, một trung đoàn công binh và lực lượng vũ trang địa phương của ba tỉnh trên. So sánh lực lượng tính theo đơn vị bộ binh thì địch hai ta một. Nếu tính binh khí kỹ thuật thì riêng tăng, thiết giáp, pháo của địch là ba đến năm còn ta chỉ có một.


Vấn đề đặt ra cho nghệ thuật chiến dịch ở đây là trong thực tế so sánh lực lượng như vậy, làm thế nào để có ưu thế chiến dịch, nhất là trong các trận đánh then chốt phải có ưu thế lực lượng hơn hẳn địch để đánh thắng địch nhanh gọn.


Nghiên cứu nhiều nguồn thông tin, từ nhiều hướng, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã đánh giá rất đúng tình hình: Khi bị đánh mạnh khắp nơi, khả năng tăng viện của quân ngụy từ nơi khác đến, kể cả lực lượng tổng dự bị là không có. Địch chỉ còn sử dụng được lực lượng hiện có của quân khu 1 và chỉ có thể tập trung vào khu chiến với bôn - năm trung đoàn bộ binh và một đến hai chi đoàn xe bọc thép. Nếu ở Huê bị quân ta đánh mạnh, chúng buộc phải điều sư đoàn dù ra chi viện, khi đó khả năng tập trung lực lượng cho khu chiến của địch còn ít hơn nữa. So sánh lực lượng địch, ta ở khu chiến cao nhất là 1/1. Những để tạo ra ưu thế hơn hắn địch ở hướng chủ yếu của chiến dịch (tây Tam Kỳ), Bộ Tư lệnh Quân khu 5 chỉ đạo toàn quân khu thực hiện hai biện pháp lớn:


Một là, từ N-7 cho mở các chiến dịch tiến công tổng hợp của chiẽn tranh nhân dân địa phương nhằm nghi binh, kìm chân địch, buộc chủ lực địch phải phân tán, đối phó với hoạt động của các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang ta ngay tại địa bàn đứng chân, tạo thuận lợi cho chủ lực ta tập trung trên hướng chủ yếu và bất ngờ tấn công địch.


Hai là, cũng từ N-7, dùng lực lượng vũ trang địa phương Quảng Ngãi cắt giao thông đoạn dốc sỏi nằm giữa Chu Lai - Quảng Ngãi, chặn đứng lực lượng sư đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra ứng cứu cho tây Tam Kỳ khi bị ta đánh, đồng thời khi có lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch thì mở ngỏ cho từng trung đoàn ngụy lọt vào khu chiến theo ý định của ta. Lực lượng vũ trang Quảng Nam có nhiệm vụ thọc sâu xuống vùng đông Thăng Bình, diệt địch giành quyền làm chủ, buộc địch phải để một bộ phận lực lượng chủ lực đối phó. Sau này khi có điều kiện nghiên cứu kỹ và bài bản hơn về một số trận đánh tiêu biểu của nhân dân ta, quân đội ta trong chiến tranh giải phóng vừa qua, chúng tôi càng nhận thấy rõ chiến dịch tiến công ở đồng bằng ven biển Khu 5 trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là một trong nhiều trận đánh tiêu biểu cho cách đánh đặc trưng của dân tộc ta. Trước hàng loạt các sự kiện thực sự của cuộc chiến, vấn đề quan trọng nhất là tìm ra khâu yếu nhất trong hệ thống tổ chức bố trí thế trận của địch, từ đó dự kiên các phương án tác chiến cho bộ đội, tổ chức một lực lượng “khêu ngòi”, chủ động tổ chức lực lượng khác giăng thế trận, nhử địch tới để “diệt viện” đã được lực lượng vũ trang Quân khu vận dụng hết sức sáng tạo trong thực tiễn cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện vừa qua ở Khu 5.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #29 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:24:57 pm »

Theo đúng kế hoạch vạch ra, ngày 3 tháng 3 năm 1975, đặc công, công binh trên đèo Hải Vân, các đơn vị luồn sâu của Quảng Đà đánh phá khu kho Sủng Mây, bãi xe Xuân Thiều, đánh sập cầu Trắng, cắt giao thông qua đèo.


Lúc này, một bộ phận của Sư đoàn 304 chủ lực vào phối hợp tác chiến, tiêu diệt gần hết tiểu đoàn 2 trung đoàn 56 sư đoàn 3 ngụy và một bộ phận sư đoàn dù ngụy ở vùng B Đại Lộc, kìm chặt sư đoàn dù ngụy ở tây Quảng Đà, một bộ phận Lữ đoàn 52 của Quân khu đánh và kìm sư đoàn 2 ngụy ở tây Nghĩa Hành. Các tiểu đoàn đặc công 403, 406 đánh phá căn cứ Gò Hội và đốt cháy kho xăng tại sân bay Quảng Ngãi.


Các lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam đánh mạnh địch ở Trung Duy Xuyên, vùng B Đại Lộc, vùng A, B Điện Bàn, đông Thăng Bình và đông bắc Tam Kỳ buộc địch phải điều một số tiểu đoàn, trung đoàn ra đối phó.


Nhờ các hoạt động tích cực trên, địch không phán đoán được hướng tấn công chủ yếu của ta, chủ lực ngụy bị kìm giữ tại chỗ, giúp cho việc triển khai lực lượng chiến dịch trên hướng chủ yếu của ta giữ được bí mật, bất ngờ.


Đúng ngày 30 tháng 3 năm 1975, lực lượng vũ trang ta tấn công địch ở thị xã Buôn Ma Thuột, thì trên hướng tây Tam Kỳ, quân chủ lực cơ động của Quân khu 5 cũng bất ngờ tấn công cụm phòng ngự cơ bản của địch ở Tiên Phước - Phước Lâm. Đây là lá chắn bảo vệ trực tiếp cho thị xã Tam Kỳ có nhiều công sự vững chắc. Toàn cụm có khoảng 3.000 tên địch, sáu tiểu đoàn bảo an, hai đại đội biệt lập, 41 trung đội dân vệ, hai đại đội pháo có 10 khẩu 105 và 155mm đóng trên 77 cứ điểm lớn, nhỏ, kết hợp với một hệ thống kìm kẹp dân gồm 33 ấp chiến lược và 10 khu dồn. Trong trận mở màn này, ta đã tập trung một sư đoàn, một lữ, một trung đoàn và hỏa lực pháo binh mạnh để tiêu diệt dứt điểm. Chỉ trong 12 giờ tiến công, với ưu thế binh, hỏa lực hơn hẳn, ta đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, phá vỡ hoàn toàn hệ thống phòng thủ cơ bản của địch ở tây Tam Kỳ. Kẻ địch hoàn toàn bị động. Bộ đội chủ lực Quân khu 5 khống chế toàn bộ các cao điểm phía tây Tam Kỳ, tổ chức các trận địa sẵn sàng đón lõng các trung đoàn chủ lực ngụy vào ứng cứu. Tam Kỳ bị uy hiếp, bộ chỉ huy tiền phương sư đoàn 2 của ngụy từ Quảng Ngãi vội vã ra Tam Kỳ, chúng tung trung đoàn 5 ngụy ra phản kích ta ở Dương Leo, Dẫy Thám, điều liên đoàn biệt động 12 ở Cẩm Khê và lệnh điều trung đoàn 4 sư đoàn 2 ngụy từ Quảng Ngãi ra, đồng thời điều trung đoàn 2 sư đoàn 3 ngụy từ Quảng Đà vào hòng lập phòng tuyến ngăn chặn ta ở tây thị xã Tam Kỳ.


Trong thời điểm này Bộ Tư lệnh Quân khu đã xử lý tình huống rất đúng đắn: tập trung lực lượng ưu thế, lợi dụng địa hình có lợi, tiêu diệt hoặc đánh thiệt hại nặng từng trung đoàn chủ lực cơ động của ngụy; chốt chặn Dốc Sỏi có nhiệm vụ điều địch vào khu chiến theo ý định của ta. Chủ trương của Quân khu là tiêu diệt và đánh cạn lực lượng chủ lực cơ động của ngụy đi ứng cứu sẽ tạo ra thời cơ trực tiếp để giải phóng Tam Kỳ, Quảng Ngãi, thực hiện được ý đồ chia cắt địch về chiến lược ở đồng bằng ven biển Khu 5. Trong lúc đó, tình hình chung lại đang phát triển rất thuận lợi. Trên hướng Tây Nguyên, ngày 11 tháng 3 ta làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột. Ngày 18 tháng 3 toàn bộ sư đoàn 23 ngụy lại bị tiêu diệt, ý đồ phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột của địch bị thất bại hoàn toàn. Toàn bộ quân ngụy phòng thủ bắc Tây Nguyên tháo chạy theo đường số 7 và ngày 19 tháng 3 đại bộ phận bị tiêu diệt ở Cheo Reo. Ngày 19 tháng 3 ta giải phóng thị xã và toàn bộ tỉnh Quảng Trị. Ngày 21 tháng 3 từ ba hướng bắc, tây và nam, lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 đã tiến công, vượt qua các tuyến phòng thủ của địch, bao vây Huế, cắt đứt Huế với Đà Nẵng. Trên hướng tây Tam Kỳ, thời cơ tiêu diệt sư đoàn 2 ngụy, giải phóng Tam Kỳ - Quảng Ngãi càng trở thành hiện thực và cấp bách.


Ngày 21 tháng 3 chủ lực Quân khu trên hướng chủ yếu đã tấn công vào toàn tuyến ngăn chặn của địch từ Chợ Cây Xanh, Dương Huê, Dẫy Thám đến núi Vàng, điểm cao 132, núi Mỹ, sử dụng một sư đoàn, một trung đoàn đánh hai trung đoàn ngụy (so sánh lực lượng ta hai địch một). Đến trưa 21 tháng 3 ta đánh thiệt hại nặng trung đoàn 5, lữ đoàn 12 biệt động quân của ngụy. Địch phải vét hết lực lượng có trong tay ra lập tuyến ngăn chặn mới là Cẩm Khê - Trà Gó - Chóp Chài - Tân Lợi.


Ngày 24 tháng 3, trên hướng chủ yếu, ta tung toàn bộ lực lượng, trên thế áp đảo tiêu diệt lực lượng sư đoàn 2 còn lại của ngụy và đột phá thị xã Tam Kỳ; hai tiểu đoàn 70 và 72 của tỉnh Quảng Nam làm chủ vùng Đông Thăng Bình đã trở thành mũi vu hồi lợi hại đánh mạnh vào Kỳ Phú, phía đông thị xã. Đúng 11 giờ ngày 24 tháng 3 năm 1975 quân ta làm chủ hoàn toàn thị xã Tam Kỳ.


Đến 23 giờ cùng ngày, lực lượng vũ trang Quảng Ngãi đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch co cụm ở bắc Quảng Ngãi chạy về Chu Lai, làm chủ thị xã và toàn tỉnh Quảng Ngãi.


Như vậy, bằng lực lượng tại chỗ, Quân khu lợi dụng thời cơ chung, biết nghi binh căng, kìm địch và điều địch theo ý định, trên hướng tấn công chủ yếu tây Tam Kỳ, từ đầu cho đến cuối chiến dịch, trong các trận then chốt quyết định, ta đều tạo ra được so sánh lực lượng ưu thế hơn hẳn địch và giành thắng lợi ngày càng lớn, từ tiêu diệt và phá vỡ hệ thống phòng thủ phía tây Tam Kỳ đến tiêu diệt và đánh cạn lực lượng chủ lực ngụy đi ứng cứu giải tỏa, tạo ra thời cơ trực tiếp đột phá Tam Kỳ, Quảng Ngãi, thực hiện ý đồ chia cắt địch về chiến lược trên chiến trường đồng bằng ven biển Khu 5, tạo thuận lợi cho chiến dịch tiến công chiến lược Huế - Đà Nẵng thắng lợi.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM