Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:26:39 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đường tới toàn thắng  (Đọc 16867 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #30 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:25:39 pm »

Đà Nẵng là một căn cứ quân sự liên hợp lớn thứ hai ở miền Nam Việt Nam, có sân bay cấp 1, có bốn cảng lớn, có khu tổng kho chứa hàng vạn tấn bom đạn, là nơi đứng chân của nhiều bộ máy quân sự đầu não Mỹ - ngụy. Đến 25 tháng 3 năm 1975 lực lượng quân sự ngụy ở Đà Nẵng được tăng thêm khoảng 6-7 ngàn tên tàn binh từ Trị - Thiên chạy vào, từ Quảng Nam chạy ra, nâng tổng quân số lên tới 10 vạn, gồm 15 tiểu đoàn cộng hòa, 15 tiểu đoàn bảo an, 240 trung đội dân vệ, khoảng ba vạn phòng vệ dân sự có vũ trang và cảnh sát, 373 máy bay, 114 khẩu pháo từ 105mm trỏ lên, 70 xe tăng, xe thiết giáp. Lực lượng quân sự của địch đông nhưng ô hợp, sức chiến đấu không đáng kể, tướng tá chỉ lo cứu lấy bản thân và gia đình mình, bỏ mặc lính, tình trạng hỗn loạn ngày càng phát triển.


Nắm được tình hình đó, ngay chiều 24 tháng 3, khi trận tiến công giải phóng Tam Kỳ chữa kết thúc, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã mệnh lệnh sơ bộ cho các đơn vị phát triển hướng tiến công về Đà Nẵng và đêm 24 tháng 3, Bộ Tư lệnh Quân khu đã hạ quyết tâm giải phóng Đà Nẵng theo phương án tiến công phát triển nhanh. Quyết tâm đó hoàn toàn phù hợp với ý định của cấp trên.


Ngày 25 tháng 3 Quân khu nhận được điện của Bộ Tổng Tham mưu: “Tấn công nhanh Đà Nẵng bằng lực lượng tại chỗ có thể huy động được, không chờ lực lượng trên tăng cường. Vấn đề mấu chốt là diệt quân đoàn 1 ngụy và sư đoàn lính thủy đánh bộ không cho chúng rút co cụm vê Sài Gòn”.


Ngày 27 tháng 3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Mặt trận Đà Nẵng, chỉ định hai đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh và đồng chí Chu Huy Mân làm Chính ủy. Mặc dù chưa gặp nhau nhưng hai đồng chí đã thống nhất qua điện đài:


Quân đoàn 2 (thiếu) đảm nhiệm hướng chủ yếu từ bắc và tây bắc đánh vào Đà Nẵng. Lực lượng vũ trang Quân khu 5 đảm nhiệm hướng quan trọng từ phía nam đánh ra. Sư đoàn 304 đảm nhiệm hướng phối hợp từ Thượng Đức theo đường 14 đánh xuống. Thời gian tiến công là ngày 28 tháng 3.


Trong thực hành tấn công đã có hai tình huống chiến dịch cần đến sự xử lý kiên quyết và táo bạo. Tình huống thứ nhất là, khi địch thấy lực lượng chủ lực của ta tiến sát sông Thu Bồn, bọn chỉ huy quân ngụy vội vã cho máy bay đánh sập hai cầu Bà Rén và Câu Lâu hòng ngăn cản tốc độ tiến công của ta, xe pháo ta không qua được sông lớn. Quân khu đã xử trí: “Không ỷ lại vào xe, pháo, không được giảm tốc độ tấn công. Dùng pháo, cối mang vác làm hỏa lực đi cùng để phát triển tấn công nhanh”. Nhân dân hai bên bờ sông đã huy động hàng trăm thuyền chở bộ đội qua sông nhanh chóng và an toàn, quân ta cố giữ vững tốc độ tiến công.


Một tình huống lớn nữa là thấy quân ta vượt sông, quân địch hình thành nhiều chốt chặn dọc đường hòng ngăn chặn bước tiến công của ta. Quân khu đã để một bộ phận nhỏ lực lượng đánh địch chốt chặn dọc đường, còn đại bộ phận lực lượng phải vòng và vượt qua các mục tiêu thứ yếu, thọc sâu vào trung tâm Đà Nẵng nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu là chỉ huy sở quân khu 1, sân bay, khu hành chính, cảng Sơn Trà.


Với hành động thọc sâu táo bạo của ta càng làm cho kẻ địch rối loạn, không có cách đối phó, bắn giết lẫn nhau để tẩu thoát ra biển. Nhân dân ở nhiều khu vực trong thành phố, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy đã nổi dậy làm chủ nhiều khu vực và huy động hàng trăm xe ra đón bộ đội vào. Nhờ đó ta đánh chiếm nhanh các mục tiêu chủ yếu; lúc 12 giờ ngày 29 tháng 3 tiểu đoàn 40 của Trung đoàn 1 Ba Gia và Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 31 đã gặp nhau và làm chủ sân bay Đà Nẵng. Cũng 12 giờ trong ngày, Tiểu đoàn 40 của Trung đoàn 1 Ba Gia đã cắm lá cờ chiến thắng của quân ta lên trung tâm chỉ huy của tên tư lệnh quân khu 1 kiêm tư lệnh quân đoàn 1 ngụy. Trong lúc đó Trung đoàn 96 địa phương tỉnh Quảng Đà, Tiểu đoàn 491 đặc công và đại đội biệt động Lê Độ đã đánh chiếm tòa thị chính và đài phát thanh, Trung đoàn bộ binh 97 Quảng Đà đánh chiếm thị xã Hội An, Non Nước, sân bay Nước Mặn. Lực lượng Quân đoàn 2 từ phía bắc đánh vào đã nhanh chóng chiếm Thủy Tú, Nam Ô, cảng Phú Lộc, vượt ngã ba Huế, ngã ba Cai Lan, tiến thẳng qua cầu Trịnh Minh Thế, đánh chiếm các mục tiêu trên bán đảo Sơn Trà. Phía tây, Sư đoàn 304 đánh chiếm Sơn Trà, thị trấn Ái Nghĩa, trường huấn luyện Hòa Cầm, hội quân với Trung đoàn bộ binh 1 Ba Gia tại sân bay Đà Nẵng. Đến 15 giờ cùng ngày, cuộc tấn công giải phóng Đà Nẵng đồng thời cũng là trận then chốt tiêu diệt toàn bộ quân đoàn 1 ngụy kết thúc thắng lợi.


Cho đến hôm nay, nhớ lại và suy nghĩ về những sự kiện lịch sử của Xuân 1975 nói chung và ở Khu 5 nói riêng, chúng tôi thấy những thắng lợi to lớn, trọn vẹn của quân và dân Khu 5 đã giành được trước hết là nhờ có sự lãnh đạo và chỉ đạo vô cùng đúng đắn, sáng suốt của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, sau đó là có sự chuẩn bị tương đối đầy đủ về nhiều mặt, trên cơ sở thế trận chiến tranh nhân dân đã được quân và dân Khu 5 dày công xây dựng hàng chục năm trước đó để tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ cho đánh lớn, diệt lớn chủ lực ngụy. Nhưng chuẩn bị chu đáo đến đâu cũng chỉ đảm bảo thắng lợi được một phần ba, còn lại là do sự nhạy bén phán đoán tình hình đưa ra quyết định đúng trong đối chọi tình huống ta, địch ở chiến trường của Bộ Chỉ huy và cơ quan tham mưu chiến dịch mà ở đây, chính là nghệ thuật tổ chức chỉ huy nghi binh, căng, kéo, kìm giữ địch, điểu địch theo ý định, là nghệ thuật tạo thế chiến dịch, tạo ưu thế hơn hẳn địch trong từng trận đánh then chốt, là nghệ thuật tranh thủ thời cơ chung, tạo ra thời cơ trực tiếp để phát triển tấn công giành thắng lợi lớn nhất cho chiến dịch của lực lượng vũ trang Quân khu 5.


Người thể hiện
ĐÀM QUANG THÁI
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #31 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:27:03 pm »

KỶ NIỆM KHÓ QUÊN TRONG
CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN NĂM 1975


Đại tá VŨ THANG
Nguyên Tham mưu trưởng Sư đoàn 341 Quân đoàn 4


Trung đoàn tôi có đến ba tên gọi, tên gọi nào cũng gắn vào từng giai đoạn lịch sử. Đầu tiên là Trung đoàn 36 vì đợt đó lấy quân ở các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh... về huấn luyện ở Trung đoàn 36 Sư đoàn 308. Tháng 11 năm 1972 Bộ quyết định thành lập Sư đoàn 341, Trung đoàn được điều động về đội hình sư đoàn và mang tên Trung đoàn 1. Giai đoạn huấn luyện chuẩn bị đi chiến trường lại mang tên Trung đoàn 273 đứng chân ở đất Quảng Bình, Vĩnh Linh với gió và nắng nóng như câu thơ "Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình" (Tô Hữu). Chuẩn bị cho đơn vị lên đường vào chiến trường, chúng tôi gấp rút huấn luyện đổi súng để chiến sĩ sử dụng thành thạo vũ khí trong phân đội, học tập, quán triệt về tình hình Nam Bộ. Qua đài, báo chí anh em chúng tôi được biết ở miền Đông Nam Bộ Quân đoàn 4 mới giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, quân Mỹ - ngụy không dám phản ứng. Nghe đâu trong đội hình Quân đoàn 4 có Công trường 9 (Sư đoàn 9) do đồng chí Sáu Khâm chỉ huy, năm 1965 tập kích một cụm quân Mỹ ở Trảng Bàng diệt cả ngàn tên Mỹ, bắn cháy mấy chục xe táng. Chúng tôi kháo nhau: Công trường 9 họ có phép lạ lắm, họ đi qua trước mặt quán Mỹ cả tiểu đoàn mà bọn Mỹ không phát hiện được. Họ lúc ẩn lúc hiện ghê lắm, họ là gốc Nam Bộ đấy! Nghe nói Công trường 9 được thành lập là từ ngày 2 tháng 9 năm 1965, do ông Hoàng Cầm làm sư đoàn trưởng đầu tiên. Có phải là ông Hoàng Cầm nghĩ ra bếp anh nuôi giảm khói tránh địch phát hiện không? Không phải! Ông Hoàng Cầm này là Trung đoàn trưởng đánh Điện Biên Phủ, được Bác Hồ khen đấy! Còn ông Lê Chân (Lê Văn Tưởng) là Chính ủy. Các ông đầu đã bạc, đã có mặt từ thời kỳ đầu cuộc chiến tranh cả nên đất trời Việt Nam các ông rành lắm, đánh giặc quen như đi cày cuốc, chúng mình vào Nam Bộ mà được đứng cạnh các ông thì mới sướng.


Điều mơ ước được đi chiến đấu của chúng tôi đã đến, Trung đoàn 273 là đơn vị đi đầu của Sư đoàn 341 vào chiến trường Nam Bộ. Sau ba tuần hành quân bằng cơ giới, đầu tháng 3 năm 1975, chúng tôi đã đến rừng Minh Hòa. Đón chúng tôi là một người đàn ông trán hói, cao to và ba người nữa, người nào cũng mang khẩu AK có hai băng đạn trở đầu và cái võng dù mỏng dính. Sau này chúng tôi mới biết đó là đồng chí Năm Nhạc - Trưởng phòng quân lực Quân đoàn 4, ba người còn lại là Sáu Cọc, Tư Dẹp, Hai Hưng là cán bộ tác chiến Quân đoàn 4 ra đón Trung đoàn 273. Hành quân vào đến nơi, Trung đoàn chúng tôi mỗi tiểu đội đủ chín người, trung đội là 35 người, đại đội là 125 người, trang bị mới 100 phần trăm. Thấy quân số đông, vũ khí mới, đồng chí Nàm Nhạc gật đầu tỏ vẻ phấn khởi. Sau khi nắm lại tình hình, ông ra tín hiệu hành quân. Chúng tôi, quân tư trang mang trên vai, ở trên xe thì chỉ thấy lắc lư, đi bộ mỗi người mang khoảng 28 ki-lô-gam nhưng sao nặng thế? Được cái tinh thần bộ đội hăng hái, mong sớm gặp được Công trường 9 để có thời gian học hỏi kinh nghiệm chiến đấu. Ngày 2 tháng 3 năm 1975, Trung đoàn nhận nhiệm vụ chốt đường 13, đoạn Chơn Thành - Bầu Bàng thay Trung đoàn 3 Sư đoàn 9. Cơ quan Quân đoàn có đồng chí Ba Bì - Tham mưu phó Quân đoàn, đồng chí Sáu Cọc - cán bộ tác chiến và đồng chí Lê Hải Anh - tác chiến Sư đoàn 341 đi theo dõi giúp đỡ Trung đoàn tổ chức chiến đấu. Đồng chí Ba Bì rất vui vẻ hòa nhã nên gặp ông, anh em hết cả mệt nhọc. Các đồng chí cơ quan Quân đoàn và sư đoàn đã cùng với đồng chí Hoàng Trung Trực - Trung đoàn trưởng và đồng chí Nguyễn Văn Giáp - Trung đoàn phó lần lượt đưa các tiểu đoàn vào chiếm lĩnh. Đồng chí Nguyễn Văn Giáp đi theo Tiểu đoàn 3, có nhiệm vụ đưa đại đội 11 do đồng chí Chính - Đại đội trưởng, đồng chí Vũ Quang Đản - Đại đội phó, đồng chí Nguyễn Văn Phúc - Chính trị viên vào chốt nam Xóm Rót, phía đông đường 13 khoảng 800 mét, thay cho một đại đội của Trung đoàn 3 Sư đoàn 9. Khi vào nhận bàn giao thì đại đội của Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 chỉ còn 17 đồng chí. Bàn giao xong rồi họ trở ra đi ô tô, có đồng chí đi xe đạp, loáng một cái họ đã đi mất tiêu không cần ai dẫn đường. Trong khi đó đại đội 11 của Trung đoàn 273 quân số đông, trang bị nặng nề, cả đêm đào hầm hào dưới tầm pháo bắn cầm canh. Sáng mùng 3 tháng 3 năm 1975, các bộ phận đứng lên thành hào, bị địch chốt ở cầu Xóm Rớt bắn. Thế là cả ngày hôm đó ta và địch bắn tỉa nhau; cứ nhô đầu cao mũ cối để lộ trên thành hào là nó bắn. Tốc độ đào hầm hào tăng nhanh rõ rệt, vũ khí lau chùi sạch sẽ. Đến 15 giờ chiều, pháo địch các nơi bắn vào chốt đại đội 11, địch của chốt ở Xóm Rớt ra tiến công vào trận địa. 18 giờ, địch chiếm được 15 mét hào và ba hầm chiến đấu của đại đội 11. Đồng chí Vũ Quang Đản - Đại đội phó sau khi băng bó cho bốn đồng chí bị thương đã chỉ huy xuất kích nhỏ chiếm lại đoạn hào bị mất. Đồng chí Nguyễn Văn Giáp - Trung đoàn phó theo dõi diễn biến đã lệnh cho đồng chí Tâm - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 cho đại đội 10 gần đó đánh sang, nhưng do dây điện thoại vòng vèo nên khi đại đội 10 do đồng chí chuẩn úy Trúc chỉ huy gồm 21 đồng chí đánh sang đã vào gần quá, bị hỏa lực của đại đội 11 bắn cản, đồng chí Trúc la to: Đản ơi sao mày bắn vào tao? Sau đó mũi tiến công của đồng chí Trúc vòng rộng sát mép suối Xóm Rớt đánh vào sau lưng địch. Do trời tối, tốp của đồng chí Trúc đi mãi, khi đến mục tiêu đã gần 2, 3 giờ sáng, trên trận địa chỉ có pháo sáng và pháo bắn cầm canh, tiếng súng bộ binh đã im bặt, bọn địch lăn ra ngủ do căng thẳng, mệt mỏi. Đồng chí Trúc đi theo lối mòn vào Xóm Rớt thấy hai tên lính gác đang ngủ, đồng chí nổ súng tiêu diệt và chỉ huy bộ đội đánh vào bên trong. Địch ở các hầm tỉnh giấc bắn ra xối xả, đồng chí Trúc tổ chức bộ đội đánh bằng lựu đạn, bắn găm, bắn gần đến khi bị thương, mới tìm đường ra thì đã bị chúng bịt hết lối ra. Bên ngoài, đại đội 11 Tiểu đoàn 3 biết có lực lượng ta nổ súng nhưng không liên lạc được. Một số đồng chí của đại đội 10 mở đường ra; đi lạc gặp đồng chí Giáp, đồng chí Thanh Thản, đồng chí Nguyễn Văn Viện ra đón về. Trong chốt địch còn lại bảy đồng chí bị thương, trong đó có đồng chí Trúc - Đại đội trưởng. Ngày hôm sau địch bỏ chốt và bắt số bị thương của đại đội 10 đi theo về Hố Nai - Cần Thơ, coi như số đó mất tích.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #32 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:27:36 pm »

Ngày 12 tháng 3 năm 1975, trận chiến đấu ở Dầu Tiếng rất gay go, Quân đoàn điều Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 273 đi làm dự bị cho Sư đoàn 9 tiến công tiêu diệt các ổ đề kháng địch, giải phóng chi khu quân sự Trị Tâm. Ở khu đồn tam giác địch ngoan cố chống cự, Quân đoàn sử dụng ba xe tăng T54 và hai khẩu pháo 85mm chi viện cho Trung đoàn 3 đánh chiếm từng đoạn hào, góc phố, đập tan các đợt phản kích của địch. Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 273 được sử dụng tảng cường sức đột kích cho Sư đoàn 9. Thế là chúng tôi có dịp chiến đấu bên cạnh Sư đoàn 9, được phát huy tác dụng huấn luyện khi ở Quảng Bình, của súng đạn mới. Bộ đội đánh rất hăng nhưng các đồng chí Công trường 9 cứ nhắc phải tiết kiệm đạn. Ở một hướng khác của Tiểu đoàn 1 bị một ổ đê kháng địch ngăn chặn, các đồng chí Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 lại nhắc Tiểu đoàn trưởng Hùng: “Tiểu đoàn trưởng sao không cho B41 diệt ngay?". Lúc này Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 mới cho hai khẩu B40, một khẩu B41 tiêu diệt ổ đề kháng và phát triển chiến đấu. Kết thúc trận đánh, Quân đoàn điều Trung đoàn 273 về ngay đoạn Bầu Bàng - Chơn Thành. Khi thu quân, kiểm tra quân số lại mất tích đồng chí giữ B41. Như vậy mới có 15 ngày chiến đấu đã có đến hai vụ mất tích. Chúng tôi cứ kháo nhau: thế mới biết Công trường 9 họ giỏi... Ngày 16 tháng 3 năm 1975, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 273 phối hợp với một tiểu đoàn của Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 diệt gọn cánh quân của địch chạy từ hướng Bình Long về, bắt 60 tên, thu 67 súng các loại, ở hướng khác phát hiện địch là chiến đoàn 315 có thiết giáp ở Bầu Xa Mách đang bị Trung đoàn 1 Sư đoàn 9 vây diệt, Trung đoàn 273 được dịp đánh địch tháo chạy, có nơi địch chạy cả vào cả chỗ trú quân của ta. Khi gặp lại các đồng chí Sư đoàn 9 mới biết sự phối hợp của Trung đoàn 273 đã diệt gần hết chiến đoàn này. Ngày 20 tháng 3 năm 1975, Trung đoàn 273 nhận nhiệm vụ tiến công Chơn Thành trên hướng thứ yếu cùng với Công trường 9. Giải phóng Chơn Thành, Trung đoàn 273 được lệnh theo đường 14 về trong đội hình Sư đoàn 341 tiến công Xuân Lộc - Long Khánh. Thế là chúng tôi phải chia tay với Công trường 9, nhưng bù lại về tiến công Xuân Lộc, chúng tôi có dịp sát cánh với Công trường 7 (Sư đoàn 7) do đồng chí Lê Nam Phong chỉ huy. Nghe nói ông Nam Phong cũng là một cán bộ đại đội trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Sư đoàn 7 do ông chỉ huy được thành lập năm 1966, đã tham gia nhiều trận đánh nổi tiếng. Hồi còn ở miền Bắc, chúng tôi được nghe nói đến Sư đoàn 7 chốt chặn Tàu Ô - Xóm Ruộng 150 ngày đêm kiên cường trong chiến dịch Nguyễn Huệ.


Sau gần 12 ngày đêm chiến đấu, Trung đoàn chúng tôi đã cùng với các đơn vị bạn giải phóng Xuân Lộc - Long Khánh. Tiếp sau Xuân Lộc, Trung đoàn tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, tiến công giải phóng Trảng Bom, Biên Hòa, Sài Gòn - Gia Định. Sài Gòn - Gia Định được giải phóng, đơn vị bước vào làm nhiệm vụ quân quản thì tôi được điều động về Quân đoàn bộ. Rời khỏi Sư đoàn trong lòng tôi vẫn canh cánh về những đồng chí mất tích, về Quân đoàn bộ một thời gian, tôi được Quân đoàn điều về Trường Quân chính làm nhiệm vụ đào tạo cán bộ. Một thời gian sau tôi lại được Quân đoàn điều về Trường Hạ sĩ quan làm nhiệm vụ đào tạo tiểu đội trưởng, khẩu đội trưởng. Đang làm hiệu trưởng Trường Hạ sĩ quan, tôi lại được Quân đoàn điều về Sư đoàn 7, lúc này Sư đoàn 7 đang vượt phà Niếc Lương để tiến công vào Phnôm Pênh. Cứ như vậy, liên tục những nhiệm vụ tiếp theo, tôi không còn thời gian nào nghĩ tới hai vụ mất tích. Mãi đến năm 1983, tôi mới có dịp gặp lại các anh ở Sư đoàn 341. Anh Nguyễn Sĩ Quê cho biết: “Cậu không được dự tổng kết của Sư đoàn nên không biết, các đồng chí mất tích hồi đó đã về đủ. Đồng chí bắn B41 là Trần Quyết Chiến, quê ở Thái Bình, được khen thưởng về thành tích bắn bốn quả B41 diệt nhiều địch, góp công hoàn thành nhiệm vụ cùng với Sư đoàn 9 ở Dầu Tiếng. Chuyện mất tích vì bị cháy quần do bắn B41, được một cô gái 14 tuổi và gia đình cô ta cứu sống, nuôi dưỡng sau một tháng và đưa về Sài Gòn trả đơn vị”...


Bây giờ những con người ấy đã ở vào tuổi trung niên, tuy đã rời quân ngũ, nhưng những kỷ niệm vẫn còn mãi trong ký ức. Trung đoàn tôi bây giờ có một số anh em ở lại miền Nam lập nghiệp. Số ở Thành phố Hồ Chí Minh, hàng năm cứ đến ngày 30 tháng 4 lại gặp mặt nhau, đi viếng nghĩa trang liệt sĩ. Số ở Đồng Nai thì họp mặt ngày 1 tháng 5, sau Thành phố Hồ Chí Minh một ngày để còn mời hẹn nhau. Năm 2000, tôi và anh Trịnh Hồng Phát đi xe máy về nhà đồng chí Bình bán thuốc bắc ở Tam Hiệp, Biên Hòa để họp mặt. Với tác phong người lính, tôi hỏi ngay: Ở đây có bao nhiêu hộ? Các em trả lời có 37 hộ, rải khắp Long Khánh, Trảng Bom, Biên Hòa. Hỏi có hộ nào đói? Tất cả đều không còn đói nghèo. Hỏi có hộ nào hiếm muộn? Trả lời không! Người nào cũng có hai đến ba con, có cháu vào đại học, chỉ còn một người nay đã 52 tuổi, chưa lấy được vợ. Lòng tôi như chùng xuổng, bởi nhớ đến đồng chí Sư đoàn trưởng Trần Văn Trân - người đã chữa thành công cho Chính ủy Sư đoàn Trần Nguyên Độ bệnh hiểm con bằng thuốc đông y, nay cả hai đều đi xa rồi.


Sực nhớ đến người mất tích trước đây, tôi hỏi người nào trong trận đánh ở Dầu Tiếng bị cháy quần chạy vào nhà dân? Một người ở dưới bếp lau tay chạy lên: Thưa thủ trưởng em ạ! Tôi hỏi tại sao lại thế? Đồng chí ấy kể lại: Báo cáo thủ trưởng em bắn ba quả B41 điếc tai, trời nóng, em hoa cả mắt, hướng Sư đoàn 9 có một hỏa điểm bắn cản, em thấy gần nơi em nên quay súng sang bắn viên đạn thứ tư, thân người em nằm dọc thân súng, lửa phụt lại em cháy cái mông và cả cái quần Tô Châu hãy còn mới. Em vội chạy vào nhà dân gần đó, thấy cô gái tuổi còn trẻ ngó ra rồi ném cho em cái quần đen. Em che tạm, khi vào nhà em bị sốt, đành ở lại đó, đơn vị đánh qua em không liên lạc được nữa. Tháng sau gia đình cô gái đưa em về đường Tô Hiến Thành gặp thủ trưởng Quế. Tôi mừng quá nhưng cũng gặng, hỏi lại: Thế từ đó đến giờ em ở đâu? Có đi lại tử tế với người ta không? Trả lời: Dạ, báo cáo thủ trưởng, em được giải quyết chính sách về quê 5 năm trời không tìm được việc làm, em buồn, em nhớ đơn vị quá. Khi em vào tìm đơn vị thì đớn vị đang ở Cam-pu-chia. Em tìm đến gia đình đã cứu em thi cô bé ấy đã 19 tuổi, còn em đã 25. Chúng em tìm hiểu rồi cưới nhau và có hai cháu trai, bây giờ một cháu vào đại học, một cháu lớp 10 ạ!


Từ đây trong ký ức tôi đã xóa đi hai từ “mất tích”, chỉ còn lại những tình cảm yêu thương, kính trọng đồng bào, đồng chí khắp hai miền Nam - Bắc. Nhân kỷ niệm 30 năm thành lập Quân đoàn 4 (20.7.1974 - 20.7.2004), kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam (30.4.1975 - 30.4.2005) tôi xin kể lại một trong muôn vàn kỷ niệm khi còn là cán bộ, sống chiến đấu trong Quân đoàn 4 anh hùng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:29:28 pm »

THEO BƯỚC CHÂN TIẾN QUÂN THẦN TỐC


Đại tá NGUYỄN ĐỨC TOẠI
Nguyên phóng viên báo Quân đội nhân dân


Tin giải phóng Huế làm trang nhất báo Quân đội nhân dân đã xếp chữ phải thay bài, thay ma-két. Khi bước vào Chiến dịch giải phóng miền Nam, tôi được điều về Phòng Thư ký Tòa soạn, làm nhiệm vụ trực xử lý các bài tường thuật của phóng viên gửi từ chiến trường về. Thiếu bài thì phải tường thuật qua tin điện mật của Tổng cục Chính trị, của Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, của Bản tin nhanh tham khảo đặc biệt, qua tin ảnh của Thông tấn báo chí phương Tây phát sóng vô tuyến đường không mà ta thu thập được. Để đáp ứng yêu cầu của bạn đọc quá gắn bó với chiến trường miền Nam, tin chậm là có thể mất bạn đọc mà còn gây nên sự tức giận, phê phán gay gắt.


Báo Quân đội nhân dân phải chấp nhận một hình thức tin thuật qua điện đài, nhưng phải xử lý sao cho kịp thời, có chi tiết thông tin mới mà phải bảo đảm sao cho chính xác, không lộ bí mật! Lộ bí mật có thể bị kỷ luật mất “sao gạch” trên quân hàm như chơi, mà quan trọng hơn là không còn được tiếp tục vào “bệ kiến sân rồng” để xin tư liệu qua điện đài. Vì các bộ phận cho tin này đóng ở khu A “kín cổng cao tường” của Thành cổ Thăng Long, nơi gần cái sân có tượng đá rồng chầu của cung vua chúa cũ.


Thức khuya viết tường thuật, sáng dậy còn ngái ngủ thì nghe có tiếng gọi của anh Công Bằng - Trưởng phòng Thư ký Tòa soạn từ lầu 2 của nhà số 7 Phan Đình Phùng, Hà Nội - nơi giao ban buổi sáng, vọng tới gác xép, nơi tôi ngủ trực đêm.

- Có máy bay đi Huế giải phóng, anh có đi thì qua sân bay Gia Lâm ngay...

Được ra mặt trận theo các mũi tiến quân, lúc đó có một sức hấp dẫn kỳ lạ đối với các phóng viên báo Quân đội nhân dân. Với riêng tôi, được “ân tứ” thoát khỏi cái công việc tường thuật qua con mắt người khác để đi ra chiến trường là một phần thưởng rất lớn của anh Trần Công Mân - lúc đó phụ trách Thường trực Tổng biên tập, đối với tôi.


Anh chị em báo Quân đội nhân dân đã quen cái nếp có lệnh là lên đường ngay. Chợt nhớ việc tối thiểu phải có, tôi liền hỏi:

- Ai chuẩn bị giấy tờ giúp cho tôi?

- Anh phải tự đi sang sân bay mới kịp!

Gặp mấy anh em cùng ở khu tập thể Kim Liên - nơi bà xã nhà tôi là Đặng Thị Minh Đức đang công tác tại Khách sạn chuyên gia Kim Liên, tôi điện nhờ bà xã mang ra sân bay cho thêm ít tiền đi đường. Tôi cũng muốn căn dặn vợ vài điều trước khi lên máy bay đi vào vùng chiến sự. Ai có thể lường trước được cái sự may rủi trên chiến trường! Năm 1968, đi chiến trường Quảng Trị trong Tổng tiến công Mậu Thân, ba anh em phóng viên cùng đi là Lê Đình Dư (tức Hồ Thừa), Ngọc Nhu và tôi. Những sau đó hai anh đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường Quảng Trị. Năm 1972, trong một chuyến đi chiến trường Lào, có năm phóng viên và một lái xe thì lái xe và hai phóng viên Ngô Văn Uyển, Lê Thu bị thương phải vào viện Quân y, còn các anh Tô Ân, Trần Tuấn hy sinh tại chỗ!


Lần này quá gấp vội, chẳng được gặp vợ con trước lúc lên đường, dù chỉ cách nhau trong giây phút.

Ra sân bay nhìn thấy trên đường băng có các anh Lê Văn Tri - Tư lệnh Phòng không - Không quân, anh Nguyễn An - Cục Vận tải Tổng cục Hậu cần, tôi yên tâm được xét duyệt một chỗ ngồi trên máy bay.


Chiếc IL2 bay từ sân bay Gia Lâm đến sân bay Đồng Hới - Quảng Bình thì hạ cánh, chuyển sang máy bay lên thẳng. Từ đây máy bay lên thẳng bay theo tuyến quốc lộ A1, bay ở độ cao 500 mét - một độ cao rất thấp để cho quân ta làm chủ ở bên dưới nhìn rõ hình lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng sơn đậm ở dưới thân máy bay. Dù đã cẩn thận nhưng vẫn bị đạn súng trường bắn lên, may mà không trúng buồng lái máy bay và khoang để xăng!


Đáp xuống sân bay Phú Bài - Huế, một đồng đội cũ ở Tỉnh đội Quảng Trị nay là chỉ huy đoàn pháo cao xạ, chạy đến ôm chầm lấy tôi:

- Sao mạo hiểm thế này, các trận địa pháo cao xạ 37mm đều hướng nòng về tốp máy bay của các ông, chờ có lệnh là bắn đấy. May mà thấy máy bay bay hiền quá nên mình chưa cho lệnh bắn. Bay thấp quá chỉ một băng đạn 37mm là cũng đủ đi đời cả đoàn!

Huế về đêm, mưa như trút nước. Bài vở gửi về Tòa soạn báo Quân đội nhân dân phải có trước 5 giờ sáng để máy bay cất cánh bay trở lại Hà Nội. Đã quá khuya trong đêm, chỉ còn 3 giờ. Một bạn cũ nay đang công tác tại mặt trận Huế điều một chiếc xe Jeép đưa tôi đi len lỏi qua các nơi để viết xong bài, kịp đến sân bay Phú Bài - Huế trước 5 giờ sáng, để gửi máy bay mang bài về Tòa soạn.


Sau Huế là Đà Nẵng giải phóng. Lần này máy bay không dám mạo hiểm vượt đèo Hải Vân đành phải bám theo xe của bộ đội ta. Nhiều cầu bị phá hủy đang phải làm tạm. May mắn lại gặp Bộ chỉ huy giải phóng Đà Nẵng đang vào Đà Nẵng. Trong số người chỉ huy và khuân vác các tấm gỗ để sửa cầu, có cả Tướng Lê Trọng Tấn. Vào Đà Nẵng giải phóng đã gặp ngay phóng viên báo Quân đội nhân dân đi từ các hướng khác vào đây: anh Mạnh Hùng, anh Hoàng Như Thính. Chỉ mấy hôm sau, một số anh em khác lại vào thêm, tìm đường đi về phía Nam theo bước tiến của quân ta.


Lúc được tin quân ta đang truy kích về giải phóng Quy Nhơn, cũng là lúc tôi nhận được thư của Tòa soạn gọi về. Chắc là ở nhà thiếu người. Nhưng lại về lúc chiến sự đang rộ lên phía trước thì gay go quá. Trong đời làm phóng viên báo Quản đội nhân dân, biết còn dịp nào sôi sục chiến trường thê này để đi lên phía trước. Suy nghĩ và cân nhắc, tôi quyết định tiếp tục chuyến đi, lấy hiệu quả chuyến đi để “tạ tội” với Ban biên tập! Và tôi nói với phóng viên mang “mệnh lệnh thư”: Nếu như anh ủng hộ việc tiếp tục lên phía trước của tôi thì coi như anh chưa gặp để đưa thư cho tôi”.


Lúc này, quân ta đang truy kích địch và tiến về giải phóng Quy Nhơn. Tôi rủ thêm anh Hoàng Như Thính - phóng viên nhiếp ảnh, cùng đi vào Quy Nhơn. Anh ấy đồng ý và từng người bám xe đi riêng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #34 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:30:17 pm »

Đến Quy Nhơn một đêm, ngày, vừa lấy được một ít tư liệu và chụp ít ảnh thì đã thấy phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí của các báo bạn đi vào.


Chuyến đi vô kỷ luật có thể tạ tội với người chỉ huy ở nhà nếu mang kịp về chút ít tin, ảnh. Phải trở ra Hà Nội ngay trong đêm nay thì tin, ảnh mới có giá trị. Tôi đem mọi chuyện ra trình bày với Tỉnh đội trưởng tỉnh Bình Định lúc đó, muốn xin đi xe ra Đà Nẵng. Là người chỉ huy đã từng cung cấp cho tôi tài liệu viết ký sự nhiều kỳ "Cơn lốc rừng dừa" nói về sự quật khởi phi thường của người dân rừng dừa Bình Định đăng trên báo Quân đội nhân dân tháng 6 năm 1972, rất thông cảm với yêu cầu của tôi. Sau một lúc suy nghĩ, cân nhắc anh nói: “Bây giờ anh cứ vào Phòng Chính trị của Tỉnh đội ngủ cho lại sức, tôi sẽ tổ chức một chuyến xe đi truyền lệnh” đề phòng biệt kích bờ biển, “xe nổ máy tôi sẽ “à, à...” gọi nhà báo ra cho lên xe đi nhờ. Cái lệnh này là giúp anh có nhanh bài, ảnh đưa ra Tòa soạn báo Quân đội nhân dân, nếu có ai phát hiện ra cái sai của tôi thì người ta thương báo Quân đội nhân dân, chắc cũng sẽ không bắt lỗi...”.


Tôi nằm ngủ nhưng thực sự có ngủ được đâu, chỉ chờ nghe cái tiếng “à, à...” "vào gọi cho nhà báo quân đội đi cùng” để ra xe! Mọi việc diễn ra như cách sắp xếp của Tỉnh đội trưởng.


Nhưng chuyến đi không trót lọt. Xe phóng như bay trong đêm. Đến Hoài Nhơn, đồng chí lái xe không kịp phát hiện ra một hào chắn đường của du kích mới đào để chặn biệt kích nên xe bị sập hai bánh trước, hất tung mọi người ra hai bên đường. May mà có người chỉ bị thương nhẹ. Tôi đành vào Huyện đội Hoài Nhơn xin xe đi tiếp; nhưng vào đó thì được chỉ chỗ vào nằm chung với một nhà báo quân đội đang ngủ nhờ ở đó. Vén màn lên thì thấy anh Nguyễn Thanh - phóng viên báo Quân đội nhân dân - được phái đi trước cách ba, bốn tháng nay cũng tìm đường ra Hà Nội.


Sáng hôm sau, hai chúng tôi bám xe đi Đà Nẵng. Vừa tới sân bay Đà Nẵng, rất mừng, nhưng đến gần thì thấy cánh quạt máy bay đang quay tít và máy bay từ từ lăn bánh! Những ý nghĩ thất vọng cứ len lỏi trong đầu làm cho người nhiểu lúc mất thoải mái nhưng vẫn không mất hết hy vọng. Hai anh em với hai khẩu súng cạc bin vác vai đi tìm phương kế mới. Và may thay khi đến một đường băng khác thì tìm thấy một tổ lái, có cả Thiếu tướng Hoàng Phương - Chính ủy Phòng không - Không quân, đang ở đây. Sau khi chúng tôi trình bày việc muốn ra Hà Nội mang kịp bài, ảnh cho báo Quân đội nhân dân, anh Hoàng Phương liền quay lại nói với tổ lái và các chiêu đãi viên đang có mặt ở đó:

- Các anh bay ra nhớ cho các phóng viên Quân đội đi cùng cho kịp tin, ảnh...

Liền sau đó hai chúng tôi trở thành khách quý của buổi liên hoan, và vài giờ sau được lên máy bay trở về Hà Nội.

Chỉ hôm sau, ngồi vào bàn viết đã có bạn đến rỉ tai:

- Cậu vô kỷ luật gớm, đã nhận được ý kiến của cấp trên chưa?

Tôi đã sẵn sàng chịu kỷ luật, hơn nữa đang tập trung hết sức để viết bài cho kịp. Và chỉ một lúc sau đã thấy đại tá Trần Công Mân - Phó Tổng biên tập thường trực, người đã gửi “mệnh lệnh thư” gọi về, đến bên bàn viết, hỏi thăm và thúc giục: “Đi về có khỏe không, tranh thủ viết và làm ảnh nhanh lên...”.


Lỗi của tôi thế là đã qua nhanh, nhưng tôi khá sốt ruột với anh bạn phóng viên Hoàng Như Thính, vì tôi rủ rê mà phải bán cả chiếc đồng hồ đeo tay để có tiền đi đường mà nay chưa thấy về. Anh mà chậm thì tính hiệu quả giảm giá trị. Nhưng chỉ hai hôm sau, anh ta về.

- Sao chậm thế!

Hoàng Như Thính vỗ vỗ vào túi đựng máy ảnh:

- Ảnh Nha Trang, ảnh Cam Ranh giải phóng đây này. Đã có báo nào đưa chưa?

Tôi ôm lấy anh xúc động vì ngươi phóng viên nhiếp ảnh trẻ kế tục được phong cách đội ngũ phóng viên ảnh báo Quân đội nhân dân, nhưng trong đầu tự nhiên hiện lên cái hình ảnh chiếc đồng hồ đeo tay của anh phải bán để có tiền cho chuyến đi...


Cũng chỉ mấy hôm sau thì Tổng biên tập Nguyễn Đình Ước vừa đi chuyến công tác từ miền Nam ra. Anh gặp tôi và nêu ý kiến:

- Tôi và anh Khánh Vân đang viết nhanh ký sự “Từ núi Bà Đen đến Thành cổ Quảng Trị” nhưng đoạn từ Quy Nhơn đến Đà Nẵng, đường bị phá phải đi lên phía trên, anh viết bổ sung đoạn này cho ký sự rồi muốn đi tiếp giải phóng Sài Gòn thì đi, Sáng 28 tháng 4 lên đường.

Lại nhận được một “ân tứ” mới nhưng có điều kiện!

Thế là viết và viết. Cả con người phóng viên như đang ở phía Nam - Thành đồng Tổ quốc - nhưng tay vẫn viết cho kịp. Vội nhưng phải đạt yêu cầu của ký sự. Và tôi đã hoàn thành đoạn viết với nhiều đêm thức trắng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #35 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:31:11 pm »

Sáng 28 tháng 4 năm 1975, một chiếc xe Bắc Kinh mới toanh lấy từ kho ra, lốp còn bóng nhẵn, được điều tới Tòa soạn. Anh em ra tiễn khá đông, có Tổng biên tập Nguyễn Đình Ước, Phó tổng biên tập Trần Công Mân. Trên xe có hai lái xe, nhà báo Phú Bằng, nhà nhiếp ảnh Vũ Ba và tôi.

Vài lời đưa tiễn của Tổng biên tập:

- Các anh đi chuyến này theo “kế hoạch thời cơ”, có hai lái xe thay nhau lái liên tục ngày đêm không nghỉ để đi cho kịp với diễn biến tình hình. Có khả năng giải phóng Sài Gòn vào ngày 7 tháng 5 - ngày giải phóng Điện Biên, nếu chậm là ngày 19 tháng 5 - kỷ niệm sinh nhật Bác.

Đến Thanh Hóa, dừng lại ăn cơm, nửa chừng mờ đài nghe tin “quân ta đã tiến sát Biên Hòa”!

- Thôi, không ăn nữa, lên đường ngay cho kịp...

Bắt đầu từ giờ phút đó, hai lái xe thay nhau đưa chúng tôi đi ngày đêm, chỉ dừng lại ăn dọc đường, có khi mua bánh trái, hoa quả đưa lên xe, ăn trong lúc xe chạy.


Các nhóm phóng viên bám theo các mũi tiến quân đã đi trước, liệu chúng tôi có đến kịp trước lúc Sài Gòn giải phóng? Đoạn đường từ Quảng Ngãi vào Bình Định có nhiều nơi tổ chức đón tiếp bộ đội dọc đường nhưng không dám ghé vào sợ mất thời gian. Một số cầu dọc đường bị đánh mìn nhưng xe chúng tôi được lực lượng vũ trang địa phương và bà con giúp vượt qua kịp thời.


Đến trước cửa ngõ Xuân Lộc, một cầu lớn bị đánh sập, công binh đang sửa chữa, xe cộ bị ùn tắc lại hàng dãy dài. Chúng tôi lên cầu tìm gặp các chiến sĩ công binh và khi biết chúng tôi là nhà báo Quân đội, anh em bắc tạm mấy tấm ghi sắt cho xe chúng tôi qua trước.


Chiều 30 tháng 4 chúng tôi vào tới Biên Hòa đi tiếp đường vào Sài Gòn. Xe đột ngột dừng lại khi xuất hiện một nhóm quân nhân mũ tai bèo đứng ra chắn đường.

- Sài Gòn ra sao rồi các bạn ơi!

- Đã giải phóng lúc trưa nay rồi!

Anh Phú Bằng lấy giấy tờ ra trình bày xin đi tiếp. Tôi sờ túi thấy còn bao thuốc lá lấy ra mời. Một anh cầm lấy xem xem...

- Các bạn ơi! Điện Biên đây rồi... Thuốc lá Điện Biên của Hà Nội đây rồi. Ta xin mỗi người một điếu rồi mời các anh đi cho kịp thời gian...


Đêm 30 tháng 4 - đêm tập kêt phóng viên báo Quân đội tại Dinh Độc Lập, chúng tôi được các sĩ quan tiếp quản dẫn đi các phòng, nơi làm việc của tống thông, nơi tiếp khách, nơi bài trí các tặng vật, các con thú quý hiếm, đầu trâu rừng, ngà voi, đầu ngựa rừng, tê giác.., hộp đựng đá mặt trảng - quà tặng của tổng thống Mỹ gởi tổng thống Thiệu vào lúc còn "tuần trăng mật chính trị". Trên bàn làm việc của Thiệu, bên cạnh cuốn "Kinh thánh Tân ước" của Hội Gi-đê-ôn quốc tế xuất bản, có cuốn "Tóm lược tư tưởng quân sự" của Mao Trạch Đông bìa đỏ và cuốn "Mấy vấn đề chiến lược quân sự” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Thì ra viên tổng thống ngụy quyền này cũng có đọc chút đỉnh về nghệ thuật quân sự của đối phương.


Hôm sau, các phóng viên báo Quân đội nhân dân từ các hướng về đây càng nhiều. Có cả những phóng viên “nằm vùng’" từ trước ở các quân khu, các binh đoàn Quân giải phóng miền Nam cũng nhảy vào. Phóng viên trẻ Thiều Quang Biên từ Quân khu 8 cũng có mặt.


Chúng tôi quyết định đi Cà Mau. Cái ý nghĩ cần có bài, ảnh về mảnh đất tận cùng của Tổ quốc có sức hút thời sự, có ý nghĩa chính trị đối với người làm báo. Với đồng bào cả nước, hình ảnh về mảnh đất Cà Mau nói lên sự toàn vẹn, sự toàn thắng của đất nước thống nhất từ Đồng Văn đến mũi Cà Mau.


Thế là, tất cả nhóm phóng viên chúng tôi lên xe rời Sài Gòn trong cái khung cảnh náo nức chưa từng thấy của những ngày đầu Sài Gòn giải phóng.


Đến Cà Mau, nhóm nhà báo chúng tôi được tiếp đón với một tình cảm nồng hậu hết sức đặc biệt. Trong cuộc gặp gỡ, các anh ở đây giới thiệu chúng tôi là “phái đoàn của Trung ương” vào thăm. Chúng tôi đề nghị cải chính nhưng không được. Một anh cán bộ tỉnh phản ứng lại: “Thì các anh chẳng phải là người ở ngoài Trung ương vào đến đây trước tiên hay sao?”.


Theo yêu cầu của chúng tôi muốn được đến Đầm Dơi, Tỉnh đội phó Tỉnh đội đã tự mình đứng ra trực tiếp dẫn đoàn đi. Một tiểu đội đặc công nước đi theo bảo vệ các nhà báo. Toàn tỉnh, chính quyền cũ đã nghiêng ngả, quân ngụy tan rã nhưng nhiều nơi chưa ai tiếp quản, trong đó có Đầm Dơi.

Đây là căn cứ thủy bộ lớn của Mỹ - ngụy ở Cà Mau. Vừa cho tàu cập bến, chúng tôi và Tỉnh đội phó bước lên cầu nổi đã thấy một sĩ quan ngụy quân phục chỉnh tề chạy tới, đứng nghiêm đưa tay lên chào:

- Tôi, đại úy quân đội chính quyền cũ, tình nguyện ở lại bàn giao căn cứ cho cách mạng... Cơ sở, trang bị, vũ khí gồm...

Chính trị viên Tỉnh đội cho phép viên đại úy bỏ tay chào xuống và ra lệnh dẫn chúng tôi đi thăm căn cứ.

Cái ý nghĩ làm sao có được tấm ảnh với lời chú thích “Cờ Tổ quốc đã phần phật bay từ Đồng Văn đến Cà Mau” đã giúp chúng tôi tìm được vị trí chụp ảnh. Tôi mời Tỉnh đội phó leo lên chòi gác, treo lá cờ lên và chụp ảnh, phía bên dưới và xa xa là khung cảnh căn cứ sông nước Đầm Dơi. Đứng ở Đầm Dơi nhưng tôi còn muốn nói đến những mảnh đất xa trên các đảo phía Nam. Tôi đã tìm được tổ điện đài, yêu cầu bắt liên lạc cho được nói chuyện với một đảo xa. Thế là, chờ đến “giờ hẹn liên lạc đất liền và đảo xa”, tôi nói chuyện với các chiến sĩ đang có mặt ở đảo Thổ Chu.


Phóng viên chúng tôi chưa đặt chân đến đảo này nhưng tiếng nói của chiến sĩ ta từ đó vọng về, xác nhận qua tin thuật trên báo là một vùng biển đã trở về trong quyền kiểm soát của cách mạng. Tin và ảnh được đăng lên báo, phản ánh kịp thời về một chiến công, ống kính thông tin thời sự có tác dụng như “chứng nhân một thời điểm lịch sử”. Riêng bức ảnh “Cờ Tổ quốc bay trên mảnh đất Cà Mau” được Hội nhà báo Việt Nam trao tặng giải thưởng.


Khi trở lại Sài Gòn tìm hiểu để có một chuyến đi đảo Phú Quốc thì mới hay là hòn đảo lớn nằm về mạn bờ biển tỉnh Kiên Giang này mới được giải phóng và tàn quân Khơ-me đỏ gồm mấy tiểu đoàn vừa rút chạy khỏi nơi đây. Nhưng một lực lượng của chúng còn chiếm giữ mấy hòn đảo xa.


Lúc này, anh Nghiêm Túc - Phó Tổng biên tập báo Quân đội nhân dân - cũng từ Hà Nội bay vào. Anh Nghiêm Túc và tôi bay ngay về Cần Thơ - Tây Đô. Lúc xuống sân bay Trà Nóc, gặp gỡ một số anh ở Bộ Tổng tham mưu thì được biết trận đánh sắp bắt đầu.


Một sự kỳ lạ đang diễn ra nơi đây. Toàn bộ khung phục vụ sân bay Trà Nóc cũ được gọi trở lại làm việc để bảo đảm các chế độ chăm sóc, ăn uống cho các phi công chế độ cũ tình nguyện trở lại tham gia trận đánh đảo xa. So với bữa ăn của cán bộ, chiến sĩ ta thì đây là những bữa ăn thịnh soạn, các món ăn đặc sản được thay đổi trưa chiều với tài nấu nướng của các đầu bếp có tay nghề. Anh em phi công và khung phục vụ cũ của sân bay được các sĩ quan quân đội ta đi sát động viên, ai cũng bất ngờ và phấn khởi. Cánh sĩ quan ta và nhà báo Quân đội nhân dân tất nhiên cũng được ăn theo chế độ lái máy bay!


Tôi bay ra đảo Phú Quốc trên chiếc máy bay trực thăng trước đây là chuyên cơ dùng cho phó tổng thống Trần Văn Hương và đến ngay sở chỉ huy trận đánh đặt tại căn cứ hải quân Phú Quốc - một căn cứ hải quân lớn của hải quân Mỹ - ngụy trước ngày giải phóng. Từ đây, qua diễn biến trận đánh trình bày trên bản đồ tác chiến và quan sát tàu hải quân ta xuất kích trên biển, máy bay tiêm kích, trực thăng vòng lượn trên bầu trời, cũng có thể hình dung ra trận đánh hiệp đồng quân binh chủng khá ngoạn mục. Sau những đợt tập kích bằng pháo từ hạm tàu, từ máy bay các loại, bộ binh và đặc công nước đã xông lên chiếm đầu cầu trên đảo, từ đây họ dùng hỏa lực xua đuổi lính Khơ-me đỏ, cho đến lúc chúng tháo chạy bằng thuyền.


Gặp lại các tay lái trực thăng sau trận đánh, chúng tôi được biết nhiều anh em có chung tâm sự: “Lái máy bay trực thăng chiến đấu trên biến phải rất thận trọng, bầu trời mặt biển dễ hòa lẫn nhau có thể gây tai họa. Được cách mạng đối xử như vậy mà phụ lòng thì buồn lắm. Có điều càng gần gũi càng hiểu các anh cách mạng hơn. Khi chúng tôi phát hiện và đuổi theo để bắn vào bọn tháo chạy bằng thuyền thì lệnh của cấp chỉ huy không cho bắn mà cho chúng tháo chạy an toàn. Cấp chỉ huy cách mạng rất nhân đạo...”.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #36 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:35:13 pm »

TỪ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN
CHÚNG TÔI ĐI VÀO CHIẾN DỊCH Hồ CHÍ MINH


LƯU TRỌNG LÂN
Nguyên Phó phòng Cao xạ, Phó phòng Tác huấn
thuộc Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân


Sau chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” cuối tháng 12 năm 1972, từ một trung đoàn trương, tôi được điều lên cơ quan Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân, làm Phó phòng Cao xạ. Ngoài công việc bộn bề trong phạm vi quân chủng, tôi còn được giao thêm nhiệm vụ nắm và theo dõi các lực lượng phòng không ở chiến trường phía Nam. Qua liên hệ với phòng Quân lực và phòng Tác chiến, nhất là với các đoàn công tác ở trong Nam ra, dần dà tôi đã nắm được những điều cơ bản về tình hình lực lượng và hoạt động của các đơn vị cao xạ trên các Mặt trận Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên, Nam Bộ và Đoàn 559. Việc có vẻ ít liên quan ấy không ngờ lại trở thành thuận lợi cho tôi, khi tôi được đi B2 (Đi B: đi vào miền Nam) công tác vào năm sau.


Tháng 1 năm 1975, ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, quân ta đánh to thắng lớn. Báo, đài đưa tin: ngày 6 tháng 1, quân giải phóng miền Nam đã làm chủ toàn tỉnh Phước Long. Tôi rất phấn khởi, nhưng thật ra, trong nhận thức khi đó, tôi chưa hiểu được gì nhiều về ý nghĩa của chiến thắng nói trên.


Thế rồi tôi nhận được lệnh chuẩn bị đi B và may mắn làm sao, sáng 25 tháng 1 năm 1975, tại hội trường Quân chủng Phòng không - Không quân, cán bộ trung cao cấp của Quân chủng vinh dự được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thảm và nói chuyện. Hôm ấy, Đại tướng nói không nhiều, nhưng phân tích tình hình rất sâu sắc.


Lắng nghe lời đồng chí Tổng tư lệnh, Bí thư Quân ủy Trung ương, lòng chúng tôi vô cùng phấn chấn. Tối hôm đó đến thăm anh Lê Văn Tri - Tư lệnh Quân chủng Phòng không, tại nhà riêng, tôi được anh nói rõ thêm tình hình và động viên: “Cậu được đi B kỳ này là một vinh dự rất lớn, cũng giống như hồi 1954 cậu được đi chiến dịch Điện Biên Phủ. Chắc chắn cậu sẽ được gặp lại mẹ và các em ở Sài Gòn1 (Bố mẹ tôi vào Sài Gòn làm ăn từ những năm bốn mươi. Năm 1974, bố tôi mất; còn lại mẹ và 3 em. Anh Lê Văn Tri là anh rể tôi) trong một ngày không xa”. Anh giơ hai ngón tay, nói nhỏ: “Hai năm!”.


Sáng 27 tháng 2 năm 1975, đoàn đi B chúng tôi, với đầy đủ thành phần của một sở chỉ huy tiền phương, gồm bốn cơ quan, do đại tá Trần Quang Hùng - Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân chỉ huy, lên đường. Riêng bộ phận tác chiến chúng tôi có khoảng 15 anh em, do trung tá Phạm Sơn làm trưởng phòng, và tôi, thiếu tá, làm phó phòng, trực thuộc Bộ tham mứu tiền phương quân chủng, do trung tá tham mưu phó Lê Thanh Cảnh phụ trách.


Sau Tết Ất Mão khoảng nửa tháng, chúng tôi rời Hà Nội. Đoàn xe chúng tôi theo quốc lộ số 1 vào Quảng Bình, Vĩnh Linh, Đông Hà rồi rẽ phải, theo đường 9 lên hướng Khe Sanh. Vùng giải phóng tỉnh Quảng Trị từng là chiến trường ác liệt nhất năm 1972, hôm nay thanh bình quá đỗi. Các đơn vị pháo cao xạ, tên lửa của các sư đoàn phòng không 673 và 377 vẫn luôn luôn trực ban sẵn sàng chiến đấu, nhưng trên bầu trời kia không còn bóng dáng những pháo đài bay B52 của Mỹ đêm ngày đến “rải thảm”, cùng hàng đàn hàng lũ máy bay cường kích A6, F4... thay nhau lồng lộn, bắn phá, ném bom...


Tuy nhiên, đó là dáng vẻ bên ngoài. Mấy hôm sau tôi được biết, bên trong khung cảnh bình yên ấy, vùng giải phóng Quảng Trị đang là một trong những điểm nóng tích cực chuẩn bị cho một trận quyết chiến chiến lược kết thúc cuộc chiến tranh kéo dài ba mươi năm của dân tộc ta. Khắp nơi dưới những tán rừng rậm, trong những kho hậu cần đầy ắp hàng hóa, trùm kín ni lông, đang ẩn mình, đợi chờ đến lượt đi về phương Nam.


Cơ quan Tiền phương Quân chủng tạm thời đặt bên cạnh cơ quan Sư đoàn Phòng không 377, thuộc Bộ Tư lệnh Đoàn 559. Sau khi triển khai xong sở chỉ huy, trừ một bộ phận nhỏ trực ban, hầu hết cán bộ chúng tôi được tung đi xuống các đơn vị cao xạ, tên lửa, ra-đa có mặt trong vùng, để nắm lại thực lực và công tác chuan bị hành quân.


Đến Trung đoàn 263, còn gọi là đoàn Quang Trung - đơn vị tên lửa phòng không duy nhất có mặt ở vùng giải phóng lúc đó, chúng tôi được ban chỉ huy trung đoàn chiêu đãi một bữa cơm thật ngon, bằng những món ăn “rau nhà, gà vườn”.


Sau khi làm việc với Ban chỉ huy Trung đoàn, chúng tôi phân công nhau, kẻ xuống Làng Vây; người trở ra Động Toàn, Cam Lộ; ngươi đi ngược lên Tà Cơn, Nguồn Rào để đến với các tiểu đoàn hỏa lực và kỹ thuật tên lửa SAM2.


Ở Tiểu đoàn 43, chúng tôi gặp thượng úy Nguyễn Hải Đăng - một tiểu đoàn trưởng trẻ, đẹp trai. Đăng báo cáo: “Đơn vị hiện có 26 xe các loại, đủ để cơ động toàn tiểu đoàn. Nhưng chúng tôi lo nhất là thiếu phụ tùng thay thế, đặc biệt là lốp dự phòng và càng kéo. Tinh thần cán bộ chiến sĩ rất cao, sẵn sàng nhận nhiệm vụ bất cứ lúc nào. Có vài chiến sĩ bị sốt rét đang tiếp tục điều trị”.


Chúng tôi còn đến với hai trung đoàn pháo cao xạ 221 và 226. Hai đơn vị này đã nhận được lệnh đi B3 và B21 (B3 là chiến trường Tây Nguyên, B2 là chiến trường Nam Bộ). Ở Trung đoàn 226, tôi gặp trung đoàn trưởng Trần Bảo Lược, bạn chiến đấu cũ, tính tình cởi mở, dễ mến. Anh Lược báo cáo tình hình quân số, vũ khí, xe cộ, khả năng bảo đảm hành quân và những khó khăn của đơn vị.


Những ý kiến đề xuất của các đơn vị lập tức được báo cáo lên Phó tư lệnh Quân chủng. Đại tá Quang Hùng đã chỉ đạo các cơ quan kịp thời giải quyết, về công tác tham mưu, chúng tôi đã tìm đến cơ quan Bộ Tham mưu Đoàn 559 để nhờ giúp đỡ một số việc. Anh Trần Bút - bạn thân của tôi thời Điện Biên Phủ, đã giúp tôi sao chép một số sơ đồ các tuyến đường có liên quan, để cấp cho các đơn vị hành quân. Trong các sơ đồ đều ghi rõ địa chỉ từng cung chặng, khoảng cách mỗi đoạn đường, đặc điểm địa hình, đường sá vị trí các điểm tiếp xăng dầu... rất tỉ mỉ.


Bộ Tư lệnh Đoàn 559 còn cấp cho mỗi đơn vị hành quân chúng tôi một số giấy giới thiệu để liên hệ dọc đường. Phòng thông tin hướng dẫn cho chúng tôi biết một số hệ thống đường dây, để khi đến các điểm dừng, nếu cần, chúng tôi có thể liên lạc được với nhau bằng điện thoại.


Sau khi Tiểu đoàn 43, đơn vị hỏa lực đầu tiên của trung đoàn tên lửa rời Làng Vây, sở chỉ huy tiền phương của chúng tôi cũng “nhổ neo” lên đường. Anh Phạm Sơn được phân công đi cùng Trung đoàn tên lửa 263. Còn tôi, đi cùng xe với Tham mưu phó Lê Thanh Cảnh, theo hướng đông. Lái xe tên là Chiến, đồng chí công vụ tên là Cường.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #37 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:36:10 pm »

Xe chúng tôi qua Sa Trầm, Ly Tôn, ngã ba Lan Nam rồi tiến vào A Lưới. Một cảnh tượng nhức nhối đập vào mắt tôi. Lần đầu tiên tôi hiểu được thế nào là chất độc hóa học của Mỹ. Cả một cánh rừng bạt ngàn toàn những cây cao lớn, nhưng trụi lá trơ cành. Những hàng cây chết đứng cứ như chạy trốn về phía sau, khi xe chúng tôi tiến nhanh lên phía trước. Nghe nói vùng này xưa kia sầm uất lắm. Vậy mà dưới bàn tay tàn bạo của giặc Mỹ, cây cối ở đây đang lụi tàn, cảnh vật biến thành một màu đen xám.


Đang miên man suy nghĩ, tôi chợt nghe anh Cảnh quay lại nói như reo: “Ông Lân ơi! Buôn Ma Thuột giải phóng rồi!”. Anh vặn to âm thanh chiếc đài bán dẫn để chúng tôi cùng nghe rõ. Trừ cậu Chiến cầm vô lăng, cả ba chúng tôi cùng vỗ tay đôm đôp: “Trời ơi! Phấn khởi quá!”. Bài xã luận của báo Quân đội nhân dân về chiến thắng Buôn Ma Thuột ngày 11 tháng 3, được Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi trên làn sóng nghe sao rạo rực lòng người. Anh Cảnh nói:

- Chúng mình vào, may ra còn kịp tham gia giải phóng Tây Nguyên. Sau Buôn Ma Thuột còn Kon Tum, Plây Ku, thủ phủ của quân khu 2 và quân đoàn 2 ngụy nữa.

Đến ngã ba đường 73, chúng tôi dừng xe. Một đoàn xe xích kéo những khẩu pháo nòng dài 122mm đang chuẩn bị rẽ vào lối đi Nam Đông. Một vị chỉ huy pháo binh nhìn tôi ngờ ngợ:

- Lưu Trọng Lân phải không?

Tôi chợt nhận ra người bạn cũ hồi ở Việt Bắc năm 1952.

- Hoàng Tuấn hả? Không ngờ gặp cậu ở đây!

Chúng tôi ôm chầm lấy nhau mừng rỡ. Tôi cho Tuấn biết hiện nay tôi đang công tác ở Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân và đang trên đường vào Tây Nguyên. Tuấn cười, vẫn chiếc răng khểnh dễ thương như ngày nào:

- Đơn vị mình được lệnh hành quân gấp vào hướng Nam Đông, Mũi Trâu, chuẩn bị áp sát phía tây bắc Đà Nẵng. Buôn Ma Thuột thất thủ. Tây Nguyên sắp giải phóng đến nơi. Đà Nẵng chắc đang đợi bọn mình đấy, Lân ạ! Thôi chia tay nhé! Hẹn gặp lại nhau ở Sài Gòn!


Chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình trên chặng đường Trường Sơn Đông. Những địa danh A Sầu, Bù Lạch, Xưởng Giấy, A Vương, Trao, Bung... lần lượt lùi lại phía sau.


Khi sắp qua bến Giàng, chúng tôi gặp một đơn vị pháo cao xạ 37mm đậu sát bên đường. Hỏi ra thì biết đó là Tiểu đoàn 106 thuộc Trung đoàn 545 Sư đoàn 377. Một cán bộ trạc tuổi bốn lăm, khuôn mặt trắng hồng, râu quai nón đang giơ tay chỉ trỏ. Thấy quen quen, tôi nhìn kỹ, hóa ra đó là Hà Văn Lực, người dân tộc Tày, đại đội trưởng cũ của tôi trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Tôi lên tiếng gọi. Anh quay lại, ngỡ ngàng:

- Lân đấy à! Đã lâu lắm bây giờ mới gặp lại nhau. Lâu nay trung đoàn mình bảo vệ bến Giàng. Trung đoàn 227 của Nguyễn Văn Chí ở Bi Hiên, Trung đoàn 528 của ông Tùng “Trố" ở A Lưới. Còn Trung đoàn 594 của cậu Chính, Trung đoàn 218 của cậu Toàn hiện cũng đang di chuyển vào phía trong. - Anh nắm tay tôi thật chặt: - Thôi! Cậu đi mạnh khỏe! Đừng quên tớ nhé!

Tôi cười:

- Quên sao được Hà Văn Lực, đại đội trưởng xuất sắc nhất của Trung đoàn pháo cao xạ 367 trong chiến dịch Điện Biên năm xưa.

Chúng tôi đến Khâm Đức trong một ngày đẹp trời. Tin giải phóng Phước An, Kon Tum, Plây Ku dồn dập bay tới. Rồi tin hàng vạn tên địch kinh hoàng tháo chạy khỏi Tây Nguyên, đang bị quân ta đuổi và chặn đánh ở Cheo Reo, Phú Túc. Niềm hân hoan tràn ngập trên ánh mắt mỗi người. Đâu đâu cũng thấy xe ta đậu kín đường, kín bãi. Các quán ăn tấp nập người vào ra, cả bộ đội, cán bộ dân chính, cả đồng bào Kinh, Thượng, nhìn ai cũng vui như Tết.


Từ Khâm Đức, chúng tôi còn phải đi hơn một trăm ki-lô-mét nữa để đến Đắc Công, ở ngay ki-lô-mét “không” đường 14B. Lẽ ra phải đi hướng Sa Thầy, nhưng do bắc Tây Nguyên đã được giải phóng, chúng tôi chuyển hướng đi Kon Tum. Trên đương nhựa trơn láng của đường 14, xe chúng tôi lướt nhanh qua Đắc Tô, một địa danh nổi tiếng.


Bên đường, chúng tôi thấy một xe tải đổ kềnh, bốn bánh chổng lên trời, bẹp dúm. Được biết đó là chiếc xe từ Khâm Đức vào, đường xấu chuyển sang đường tốt, lái xe cho xe chạy quá nhanh nên mới xảy ra tai nạn. Đây là một kinh nghiệm mà sau đó chúng tôi đã phải phổ biến cho đội ngũ lái xe của mình.


Anh Quang Hùng chỉ thị cho chúng tôi phải liên lạc gấp với các đơn vị đi đầu của Trung đoàn tên lửa 263 từ cánh tây Trường Sơn xuống. Được giao nhiệm vụ này, tôi lập tức tìm đường tắt sang thẳng Sa Thầy. Ở đây là khu vực ngã ba biên giới, đường sá chằng chịt. Đến nam Plây Khốc, khi đang lớ ngớ tìm đường, tôi gặp một cán bộ đứng cạnh một chiếc xe con. Đến gần, tôi đang định hỏi anh đường ra Xê Sụ, thì chợt nhớ ra, tôi mừng rỡ:

- Anh Phan Biên! Chính ủy Binh trạm 31... - Thấy anh còn phân vân, tôi nói tiếp: - Chắc anh quên tôi! Cách đây ba năm, đúng ngày mồng 5 Tết âm lịch, các anh đã chiêu đãi bọn tôi, đoàn cán bộ pháo cao xạ đi tìm trận địa bị lạc đường một bữa bánh chưng no nê ở nam Ka Vát. Anh còn nhớ không? Chính anh đã tặng riêng tôi một lạng cao Canh-ki-na nữa.

- A! Nhớ ra rồi. Hồi đó anh là trung đoàn phó Trung đoàn 227. Bây giờ anh đi đâu đây?

- Tôi đi ngược Trường Sơn Tây, đón đơn vị tên lửa.

- À! Mình vừa ở ngoài đó vào. Tiểu đoàn đi đầu của các ông có lẽ đang qua ngầm Xê Sụ, chuẩn bị vượt đèo Ăm Pun.


Nói rồi, anh Biên hướng dẫn đường đi cho tôi, tỉ mỉ. Được biết: nay anh là chính ủy Sư đoàn xe 471, phụ trách quãng đường này, vào tận B2.


Tôi gặp anh Phạm Sơn và tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 43 Trần Đăng Trạm ở chân đèo AWm Pun lầy lội, sau mấy trận mưa đầu mùa. Phạm Sơn kể cho tôi nghe cuộc hành trình vượt Trường Sơn khá gian nan của tên lửa ta. Đường nói chung tốt, nhưng do khí tài tên lửa vừa cao, vừa dài, vừa nặng, rất cồng kềnh, nên khi vào cua hoặc lên xuống dốc, rất khó khăn.

Tôi nói với Phạm Sơn:

- Anh Quang Hùng chỉ thị: ông về ngay Sở Chỉ huy tiền phương Quân chủng ở Plây Ku để báo cáo tình hình. Trung đoàn 263 không dừng lại ở Tây Nguyên nữa mà vào thẳng B2 luôn. Đoàn nặng đi tiếp đường 14B. Đoàn nhẹ, gồm xe kéo đạn và cơ quan, rẽ Plây Ku đi thẳng đường 14. Hai đoàn sẽ tập kết ở Đức Lập, chờ lệnh mới.


Sau khi truyền đạt mệnh lệnh cho trung đoàn trưởng Tích, anh Phạm Sơn và tôi lên xe về Plây Ku. Sau khi sở Chỉ huy Tiền phương Quân chủng được đặt xong ở căn cứ sư đoàn không quân chiến thuật số 6 của quân ngụy cũ, anh Lê Thanh Cảnh được phân công đi trước vào B2, để liên hệ với cơ quan Tiền phương Bộ ở địa điểm mới.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #38 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:37:29 pm »

Tình hình chiến sự diễn biến mau lẹ. Quân ta thắng như chẻ tre. Tin vui đến dồn dập.

Phó tư lệnh Trần Quang Hùng bảo chúng tôi:

- Thời cơ mở cuộc đại tiến công vào Sài Gòn sắp đến! Miền Nam sẽ được giải phóng sớm! Không phải kéo dài một năm nữa đâu. Anh Tuấn đã có lệnh cho chúng ta chuẩn bị vào B2.


Sáng ngày 9 tháng 4, đang đi trên đường Vạn Kiếp ở bắc thị trấn Plây Ku, tôi gặp xe của tiểu đoàn 8 ra-đa vừa tới. Tiểu đoàn trưởng Trần Quang Sáng, người cao to mạnh khỏe, nước da ngăm đen, đang tìm đường đến Tiền phương Quân chủng. Tôi dẫn Sáng về sở chỉ huy và nghe anh báo cáo với Phó tư lệnh Quang Hùng:

- Tiểu đoàn 8 gồm bốn đại đội ra-đa trinh sát, xuất phát từ Khe Sanh ngày 31 tháng 3, đi theo tuyến Tây Trường Sơn. Ngày 4 tháng 4 đến Khâm Đức, ngày 9 tháng 4 đến đây, gồm 47 xe, máy, đầy đủ an toàn.

Rồi hồn nhiên, anh hỏi:

- Tây Nguyên giải phóng rồi! Chúng tôi đi đâu bây giờ thủ trưởng?

Anh Quang Hùng nhìn Sáng, cười vui vẻ, nói:

- Mệnh lệnh tám chữ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa truyển đi khắp toàn quân: “Thần tốc - Táo bạo - Bất ngờ - Chắc thắng!”. Trên tinh thần đó, con đường của Tiểu đoàn 8 các cậu là hướng vào Sài Gòn đấy! Vắt chân lên cổ mà chạy! Hôm nay nghỉ ở Plây Ku. Ngày mai đi tiếp, để có mặt ở B2 trước 15 tháng 4.


Vài hôm sau, rời Plây Ku, qua các phố Lý Thái Tổ, Hoàng Diệu, chúng tôi trở lại đường 14, đi thẳng vào Buôn Ma Thuột rồi đi tiếp vào Đức Lập. Ở đây, anh Phạm Sơn cử một trợ lý tên lửa nằm lại chờ Trung đoàn 263, còn tất cả tiếp tục cuộc hành trình. Đến Tuy Đức, chúng tôi bỏ đường 14, rẽ lối Bù Gia Mập - Bù Đốp về thẳng Lộc Ninh. Bù Đốp và Lộc Ninh bạt ngàn rừng cao su. Đồng bào, bộ đội đi lại đông vui, xe cộ ngược xuôi nhộn nhịp. Có khá nhiều xe con, xe Hon-đa, loại xe mà lần đầu tiên tôi đã nhìn thấy ở Kon Tum tuần lễ trước.


Đến trạm tiếp đón, chúng tôi được hướng dẫn về cơ quan tham mưu phòng không B2 và được bố trí nơi làm việc bên cạnh Sở Chỉ huy Sư đoàn pháo cao xạ 77.

Tối hôm ấy, chúng tôi được nghe phổ biến nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến chiến dịch. Anh Phạm Sơn xem những ghi chép mà anh đã được cơ quan Cục Tác chiến hướng dẫn. Thời gian rất gấp rút. Chúng tôi phân công nhau xây dựng “Quyết tâm chiến đấu của lực lượng phòng không trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định”.


Riêng tôi, nhờ đã sơ bộ nắm được toàn bộ lực lượng phòng không phía Nam trước đây, nay được thông tin thêm về những bổ sung mới, những chuyển dịch mới, tôi có thể dễ dàng thể hiện lên sơ đồ tác chiến vị trí các đơn vị phòng không, trong đội hình tiến công của các quân đoàn chủ lực, từ năm hướng, xung quanh Sài Gòn.

Nhớ lại hồi Điện Biên Phủ năm 1954, lực lượng phòng không chúng tôi tham gia chiến dịch chỉ có một trung đoàn pháo cao xạ 37mm và năm tiểu đoàn súng máy 12,7mm.

Vậy mà hôm nay, trong trận đánh tổng lực vào sào huyệt cuối cùng của địch, lực lượng phòng không của chúng tôi - không tính gần ba chục trung đoàn cao xạ, tên lửa, ra-đa đang làm nhiệm vụ bảo vệ hậu phương miền Bắc và các vùng mới giải phóng từ Cam Ranh trở ra - lên tới: bốn sư đoàn và lữ đoàn pháo cao xạ hỗn hợp 57mm và 37mm trực tiếp nằm trong đội hình tiến công của các quân đoàn; một sư đoàn pháo cao xạ bảo vệ giao thông chiến dịch. Nếu tính cụ thể, tổng cộng tất cả có tới gần hai chục trung đoàn pháo cao xạ tham gia chiến dịch này.


Đó là chưa kể ở mỗi sư đoàn bộ binh còn có trong biên chế những tiểu đoàn pháo 37mm và nhiều đơn vị súng máy cao xạ 12,7mm riêng.

Tên lửa có một trung đoàn SAM2 bố trí ở bắc Sông Bé và một tiểu đoàn tên lửa vác vai A72 được chia làm nhiều mũi, đi cùng bộ binh và đặc công trên các hướng.

Ra-đa có một tiểu đoàn, gồm bốn đại đội, bố trí từ bắc Sông Bé lên bắc Biên Hòa.

Lực lượng phòng không tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn quả thật hùng hậu, thật sung sức. Đúng như lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ thị: “Quân chủng phải gấp rút tăng cường lực lượng tối đa cho miền Nam”.


Về phía không quân địch, tuy ta vẫn phải đề phòng khả năng Mỹ can thiệp bằng máy bay chiến lược B52, nhưng đối tượng tác chiến chủ yếu của bộ đội phòng không trong chiến dịch này là không quân chiến thuật ngụy. Lực lượng chúng có ba sư đoàn với hơn 1.000 máy bay các loại. Số máy bay tiêm kích, cường kích F5, A37 có hơn 100 chiếc, bố trí ở các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ. So với thời kỳ còn quân Mỹ ở Việt Nam, thật là một trời một vực, nhất là khi tinh thần của bọn phi công đã suy sụp, thì lực lượng so sánh ở mặt trận trên cao rõ ràng là có lợi cho ta rất nhiều. Tuy nhiên ta không thể chủ quan.


Nhiệm vụ của các đơn vị Phòng không - Không quân tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh được Bộ chỉ huy chiến dich giao cho như sau: Yểm hộ các binh đoàn làm nhiệm vụ bao vây, chia cắt, tiêu diệt địch ở vòng ngoài. Yểm hộ trực tiếp đội hình của các binh đoàn cơ giới thọc sâu. Bảo vệ các cầu phà quan trọng, trên đường hành tiến của bộ binh. Bảo vệ hậu phương và giao thông chiến dịch trên các hướng. Phối hợp với pháo binh mặt đất khống chế sân bay Biên Hòa và Tấn Sơn Nhất. Sử dụng không quân tập kích những mục tiêu có ý nghĩa chiến dịch đạt yếu tố táo bạo, bất ngờ.

Riêng nhiệm vụ sau cùng, chúng tôi chỉ biết vậy, còn tổ chức thực hiện ra sao thì không được rõ.

Tất cả những tình hình, nhiệm vụ và số liệu trên đây đều được chúng tôi thể hiện tổng quát lên sơ đồ tác chiến chiến dịch.

Xa nhà ai chẳng nhớ quê hương, gia đình, vợ con. Đêm nằm nhớ về Hà Nội, nhất là những ngày tháng này tôi nghĩ ở ngoài kia chắc đồng bào Hà Nội và miền Bắc đang hướng cả về miền Nam. Dịp may đến với tôi thật bất ngờ. Một anh bạn từ Hà Nội vừa vào, trao cho tôi một lá thư nhà. Bóc vội phong thư, tôi đọc ngấu nghiến những dòng chữ thân thương của vợ "... Tình hình ở nhà bình yên. Cả tháng nay Hà Nội vui như Tết. Em mua cho hai con một tấm bản đồ miền Nam, có in sẵn những lá cờ bé xíu ở phía dưới. Mỗi lần nghe tin miền Nam giải phóng đến đâu là chúng tranh nhau cắt cờ, dán cờ. Quân Giải phóng tiến nhanh quá! Chúng dán cờ không kịp... Anh hiện nay đang ở đâu, làm sao em biết ? Ngày thành phố Sài Gòn được giải phóng, chang phải là còn hai năm như anh dặn em trước khi ra đi, mà sắp đến nơi rồi phải không anh? Niềm vui được gặp lại mẹ và các em chắc chang còn xa, anh nhỉ! Chờ mong tin chiến thắng. Chờ mong tin anh mỗi ngày...". Tôi đút lá thư vào túi áo mà lòng dạ cứ nao nao, càng nhớ vợ con da diết, càng mong sao Sài Gòn sớm được giải phóng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #39 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:41:23 pm »

Một buổi chiếu trong căn lán nhỏ, khi tôi và anh Phạm Sơn đang cùng nhau hoàn chỉnh những chi tiết cuối cùng trên tấm sơ đồ “Quyết tâm chiến đấu”, thì anh Quang Hùng bước vào. Bằng một giọng nghiêm trang, anh nói:

- Tôi vừa ở Bộ Tư lệnh chiến dịch về. Báo các cậu một tin quan trọng: Bộ Chính trị vừa điện vào cho phép chiến dịch này mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Phạm Sơn và tôi đứng bật dậy, nói như reo:

- Thật thế hả anh? Ồi! Thích quá! - Tôi còn nhớ mãi nụ cười rạng rỡ của Phạm Sơn lúc đó.

- Chứ lại không thật à! Chính xác một trăm phần trăm! Đồng chí Lê Duẩn thay mặt Bộ Chính trị ký tên đấy! Anh Tuấn trực tiếp phổ biến mà! Thôi! Cậu Lân nét chữ tốt, viết ngay tên lên bản đồ chiến dịch. Còn Phạm Sơn chuẩn bị cùng tôi sáng mai lên Bộ Tổng Tham mưu thông qua kế hoạch tác chiến.


Lòng mừng vui khấp khởi, tôi nắn nót kẻ lên tấm sơ đồ cỡ lớn, một dòng chữ đậm: “Quyết tâm chiến đấu của bộ đội phòng không - Chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Tay cầm bút mà lòng tôi như trào dâng một niêm vui khó tả. Ôi! Chiến dịch được mang tên Bác. Thật là hạnh phúc cho những ai được tham gia chiến dịch này. 

Giờ đây thành phố thân yêu đang mong chờ đoàn quân tiến vào giải phóng. Các ba, các má, các anh chị em trong đó, giờ này chắc cũng đang chuẩn bị, sẵn sàng nổi dậy, phối hợp tác chiến với đại quân giành thắng lợi cuối cùng.


Sáng 23 tháng 4, rời Lộc Ninh, Phạm Sơn và tôi mỗi người đi một hướng. Phạm Sơn đi đốc chiến ở Trung đoàn 263 tên lửa. Còn tôi đi hướng Quân đoàn 3.

Theo đường liên tỉnh 17, quẹo sang lộ Trắng, vượt lộ Đỏ, qua suối Bà Chiêm, cầu Võ Tùng, tôi đến núi Ong - nơi trú quân của Bộ Tư lệnh Quân đoàn. Chủ nhiệm phòng không Quân đoàn 3 là trung tá Nguyễn Cần, vừa gặp tôi liền hỏi ngay:

- Phạm Sơn đâu?

Tôi đáp:

- Phạm Sơn xuống theo dõi Trung đoàn tên lửa 263. Còn mình được phân công sang đây với các cậu.

- Ôi! Thế thì còn gì bằng! Mày với tao sẽ cùng vào Sài Gòn nhé!

Nguyễn Cần, Phạm Sơn và tôi là bạn thân từ hồi ở chiến khu Việt Bắc, khi cùng là học viên dự khóa không quân, Đoàn 33.

Đi vào công việc, Nguyễn Cần rút tấm sơ đồ trong cặp ra, giới thiệu cho tôi biết nhiệm vụ của pháo cao xạ, tên lửa tầm thấp A72 trong đội hình Quân đoàn 3. Các trung đoàn 232, 234, 593 và đại đội tên lửa, vác vai đã sẵn sàng, đang bám sát các Sư đoàn bộ binh 316, 320 và Sư đoàn 10 ở vị trí tập kết. Nguyễn Cần nói thêm: tớ cũng vừa đi thực địa xuống các trung đoàn về đây. Khí thế lắm! 


Nhìn ra, thấy anh Luân và anh Như, hai cán bộ của cơ quan tham mưu quân chủng được tăng cường cho quân đoàn tuần trước, đang đi vào. Chúng tôi bắt tay nhau, chuyện trò vui vẻ. Nguyễn Cần lấy chiếc đài bán dẫn, bật công tắc. Bỗng nhiên vang lên tiếng nói của đài phát thanh ngụy quyền Sài Gòn, nghe oang oang: Mấy ổng biểu tôi làm cái việc mà mấy ổng, với nửa triệu lính, binh hùng tướng mạnh, xài gần 300 tỉ đô-la, trong bảy năm trời, nếu không nói là bị Cộng sản đánh bại thì có thể nói một cách khiêm nhường rằng mấy ổng không có thắng. Vậy mà bây giờ mấy ổng bắt tôi làm cái chuyện đội đá vá trời... Phi lý! Phi lý! Phi lý!... Việt Nam Cộng hòa yêu cầu Hoa Kỳ phải nhanh chóng can thiệp và chi viện cho chúng tôi vũ khí, đạn dược. - Tới tấp! Tối tấp! Tới tấp!...”.

Thì ra là “tổng” Thiệu đang chửi lại quan thầy Mỹ. Bốn chúng tôi phá lên cười thích thú.

Chiều 26 tháng 4, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Năm cánh quân của các Quân đoàn chủ lực 1-2-3-4 và Binh đoàn 232 dồn dập tiến công quân địch từ năm hướng. Quân đoàn 3 phụ trách hướng tây bắc: Đồng Dù, Củ Chi, Trảng Bàng, Hóc Môn đánh vào Tân Sơn Nhất.


Chiến sự trong hai ngày đầu chiến dịch, qua thông báo của quân đoàn, diễn ra trong thế thắng áp đảo của quân ta trên mọi hướng. Tuy nhiên, ở một số nơi quân ngụy đã chống đỡ khá quyết liệt trước khi bị quân ta đè bẹp, như tại căn cứ Đồng Dù, căn cứ Nước Trong, trên cầu Rạch Chiếc.... Chiều 28 tháng 4, các quân đoàn chủ lực ta cùng với bộ đội địa phương và lực lượng quần chúng nổi dậy đã bao vây chặt Sài Gòn. Tối hôm đó được tin thêm: một phi đội A37 do anh em ta lái đã ném bom khu để máy bay quân sự ở Tân Sơn Nhất. Sau đó là lệnh tổng công kích trên toàn mặt trận.


Đúng lúc ấy, tôi nhận được điện của anh Quang Hùng từ Sở chỉ huy chiến dịch bên Căm Xe gọi xuống. Anh chỉ thị cho tôi tìm mọi cách bám sát bộ binh, để vào Sài Gòn thật nhanh, tìm địa điểm lập sở chỉ huy mới của quân chủng tại Tân Sơn Nhất.

Tôi chia tay Nguyễn Cần. Cần trao cho tôi một lạng cao ban long và một gói sâm.

- Hôm nào gặp lại bà cụ, mày nói đây là quà của thằng Cần, bạn của con, biếu mẹ! Thôi, hẹn gặp lại ở Sài Gòn nhé!

Tôi cám ơn Cần, rồi lên xe.

Xe chúng tôi chạy về Chơn Thành, rồi rẽ phải, theo quốc lộ 13 đi xuống Bến Cát. Vừa đi được một quãng, chúng tôi bị một cây ba-ri-e sơn màu trắng đỏ, chặn ngang:

- Bến Cát còn địch. Đề nghị các đồng chí quay lại! - Đó là tiếng nói nghiêm túc của một chiến sĩ đội mũ tai bèo, đeo băng cờ Mặt trận. Không lẽ ngồi chờ, tôi đành bảo lái xe quay lại, mở bản đồ1 (Tấm bản đồ tỉ lệ 1/250.000, tôi lấy được ở Bộ tư lệnh quân đoàn 2 ngụy, tại Plây Ku) tìm lối khác. Thôi! Quay sang Đồng Xoài, rồi sẽ liệu.


Đồng Xoài, một ngã năm toàn màu đất đỏ. Cây cối hai bên đường phủ kín một lớp bụi dày, chẳng còn màu xanh nữa. Cạnh ngã năm có cắm một cột mốc to, treo chi chít những mũi tên chỉ đường. Đến bên một chiếc Jeép, tôi hỏi anh cán bộ ngồi trên xe. Anh là người của Quân đoàn 4, có việc trở ra Phước Long. Anh gợi ý tôi nên đi hướng Vĩnh An, gặp đường 20, về tây Xuân Lộc, rồi theo đường 1 về Biên Hòa. Tôi nghĩ bụng lối này xa quá, nhưng chẳng còn đường nào khác, đành quyết định đi theo hướng anh bạn vừa chỉ.


Xe qua Cầu Cây, đường trở nên xấu, vì là đường mới mở phục vụ chiến dịch. Bến phà Vĩnh An phía trước chật cứng hàng trăm xe chờ sang sông.

Tôi bỗng nghe hàng loạt đạn tiểu liên nổ giòn phía sau, tiếp theo là những tiếng hô: “Sài Gòn giải phóng rồi! Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng rồi!”. Tiếng la hét, tiếng reo mừng vang dội. Đạn liên thanh các cỡ nổ rầm trời. Chúng tôi cũng hò reo khản cổ. Những chiếc đài bán dẫn đâu đó vang vang tin chiến dịch toàn thắng.


Chạy khoảng mươi ki-lô-mét, chúng tôi gặp đường 20 ở ngã ba Túc Trưng. Thấy đường tốt, cậu lái xe mừng rơn: Đi lối nào thủ trưởng? Tôi cười: Nếu cậu muốn lên Đà Lạt nghỉ mát thì rẽ trái. Còn nếu muốn về Sài Gòn thì rẽ phải.

- Thủ trưởng tuyệt quá! Đường lạ mà sao thủ trưởng thành thạo thế!

- Cậu nên “khen" thằng Mỹ ấy. Đó là nhờ bản đồ của nó vẽ quá chính xác đấy thôi!

Đường tốt, xe chúng tôi lại bon bon. Đến Dầu Giây, gặp đường số 1, tôi cho xe chạy thẳng đến sân bay Biên Hòa. Đại tá Hoàng Ngọc Diêu - Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân, Chủ nhiệm Phòng không - Không quân chiến dịch cũng vừa có mặt ở đây. Theo chỉ thị của anh Diêu, sáng hôm sau, ngày 1 tháng 5, tôi đi tiếp về Sài Gòn.


Xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa rộng thênh thang, có những đường vạch sơn phân tuyến. Thỉnh thoảng có những “con lươn” bằng bê tông chạy dài chính giữa. Xe từ phía ngoài vào vẫn không ngớt. Có nhiều xe chở cán bộ dân chính vào tiếp quản. Xe nào cũng cắm cờ Mặt trận nửa đỏ nửa xanh. Xe tôi cũng cắm cờ. Cánh tay tôi cũng đeo băng xanh đỏ. Cờ giải phóng phần phật tung bay trong gió. Ôi! Náo nức và phấn khởi vô cùng.


Chiến sĩ ta trẻ măng, ngồi trên xe, vẻ mặt ai cũng hân hoan. Một chiếc xe khác, hình như chở đoàn văn công, chạy cùng chiều, cả nam lẫn nữ đều đội mũ tai bèo, nhưng hất tung về phía sau. Những cô văn công xinh đẹp, với mớ tóc dài bồng bềnh bay trong gió, đang hát vang bài ca: "Tiến về Sài Gòn".


Cầu Đồng Nai, cầu Sài Gòn thật đẹp! Và cả cầu Rạch Chiếc, vẫn còn nguyên vẹn cả. Tôi thầm nghĩ không biết có bao nhiêu chiến sĩ đặc công của mình đã ngã xuống những nơi đây, để cho đại quân ta tiến vào thành phố nhanh như cơn lốc? Hai bên xa lộ vắng vẻ. Nhưng trên đường thì đầy rẫy những áo quần, giày mũ của các sắc lính ngụy tháo chạy, vứt bỏ ngổn ngang. Có nhiều xe nhà binh vô chủ, đậu rải rác.


Qua ngã tư Hàng Xanh1 (Hồi đó nơi đây bà con gọi là Ngã tư Xa lộ), chúng tôi thấy người đông hẳn lên. Đồng bào thành phố, ăn mặc đủ kiểu, đứng chật ních trên vỉa hè, vẫy cờ, hoa chào các anh giải phóng. Trên các cổng nhà đều treo cờ, cả cờ Mặt trận và cò đỏ sao vàng. Xen vào dòng xe ôtô của bộ đội là những chiếc xe gắn máy của người dân thành phố chạy ngược xuôi.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM