Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:25:49 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đường tới toàn thắng  (Đọc 16928 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #50 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:47:03 am »

Kho bom Bình Ý nằm sâu trong vùng địch chiếm, được xây dựng gần với tổng kho Long Bình. Tất nhiên không quy mô bằng Long Bình, nhưng vào được đến đó, phải qua 16 lốp rào kẽm gai và bãi mìn khác nhau, chưa kể một loạt hệ thống đồn bốt dày đặc bao quanh.


Là một trong những kho quan trọng, nên ngay từ nàm 1968, đặc công Tỉnh đội Biên Hoà đã đặt vấn đề tiến công phá hủy mục tiêu này. Nhưng vì địch phòng thủ khá cẩn mật, việc nắm địch của ta gặp nhiều khó khăn vì thế mà kế hoạch đánh rồi lại hoãn, hoãn rồi lại đánh, cứ thế hoãn liên tục kéo dài trong 5 năm liền. Trong suốt thời gian đó bộ đội đặc công tỉnh Biên Hòa đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Bùi bám địch để nắm địch. Theo các đồng chí Tỉnh đội Biên Hòa kể lại, Bùi vừa cần mẫn, dũng cảm và mưu trí tìm cách thực hiện bằng được nhiệm vụ trên giao. Có lúc hàng tháng trời đồng chí Bùi nằm giữa rừng chồi, có lúc nằm giữa bãi mía rậm rạp ngứa ngáy khó chịu, nhưng nhiệm vụ vẫn chưa hoàn thành. Không hề nản chí, đồng chí Bùi lại nghĩ kế khác, trồng dây leo kết thành tán trên cây cao để làm chòi canh quan sát địch, nhưng như thế mới chỉ thấy được hình thù bên ngoài của mục tiêu, còn bên trong nó bố trí cụ thể ra sao: khu nào để bom, đạn, khu nào để xăng nhớt và đâu là sở chỉ huy bảo vệ kho... thì vẫn chưa nắm được. Cuối cùng đồng chí Bùi đóng vai cán bộ dân vận, tuyên truyền giáo dục gây cơ sở chính trị trong quần chúng, từ đó mới có điều kiện nắm địch một cách cụ thể.


Sự kiên trì bám địch ấy của đồng chí Bùi đã mang lại kết quả, nhờ đó mà ngày 3 tháng 6 năm 1972, một bộ phận của tiểu đoàn đặc công Tỉnh đội Biên Hòa do đồng chí Thanh phụ trách đã bí mật đột nhập vào kho bom Bình Ý gây tiếng nổ dữ dội trước sự kinh ngạc của kẻ địch: “đặc công Cộng sản có phép xuất quỷ nhập thần!”.


Ba năm trôi qua, tình hình đã có nhiều thay đổi, kế hoạch đánh kho bom Bình Ý lần này tất nhiên có nhiều điểm khác, nhưng số liệu ban đầu về mục tiêu này chúng tôi vẫn phải dựa vào kết quả nắm địch trước đây của đồng chí Bùi. Và đồng chí Bùi vẫn là người góp công đầu vào chiến thắng hôm nay của chúng tôi. 


Đánh kho bom Bình Ý do đại đội 53 trinh sát của Trung đoàn đảm nhiệm, nhưng lực lượng đánh trực tiếp chí cần một tổ ba người do đồng chí Hồ Văn Sinh chỉ huy (đồng chí Sinh sau này được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) chứ không dùng tới hai tiểu đoàn như lúc đầu sư đoàn giao cho Trung đoàn. Đánh kho, nhất là trong điều kiện đó, phương thức hiệu nghiệm nhất vẫn là dùng mật tập, bằng kỹ thuật đặc công. Lối đánh này tiết kiệm được rất nhiêu lực lượng mà lúc ấy lực lượng càng dôi ra nhiều càng tốt vì khối lượng công việc rất lớn.


Trên cơ sở nắm chắc địch tình và địa hình, tổ trinh sát ba người: Sinh, Quỳnh, Lương lại làm nên chuyện bất ngờ trong lúc quân địch đang hoang mang, bối rối. Tiếng nổ của các đồng chí đã đánh chí tử vào chỗ mạnh của địch là vũ khí. 250.000 tấn bom đạn bị nổ, những bồn xăng bị cháy sáng rực một góc trời. Cú đánh bồi này gây hiệu quả rất lớn, càng dồn quân địch vào thế bí vốn đã rất bí.


Riêng với chúng tôi, bài học rút ra ở chiến thắng này chính là một lần nữa khẳng định: đã là bộ đội đặc công thì phải thực hiện nghiêm túc phương thức chiến đấu của binh chủng mình - ít mà tinh, dùng lực lượng nhỏ đột nhập vào căn cứ của địch bằng kỹ thuật đặc công, gây thiệt hại lớn cho địch, nếu khác đi, thì không còn gọi là đặc công nữa. Thực hành “cường tập” đòi hỏi phải có sức mạnh ưu thế. Điều ấy với đặc công hoạt động sau lưng địch, nằm giữa vòng vây của quân địch phải hết sức tránh nếu điều kiện chưa cần thiết.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #51 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:48:31 am »

Thời điểm lịch sử đã đến!

Thời điểm phải đánh chiếm, chốt giữ các cầu trên trục lộ lớn, đón các binh đoàn chủ lực của ta tiến vào đánh chiếm mục tiêu cuối cùng của chiến dịch đã đên.


Chính vì thế trong mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch có nhấn mạnh: các lực lượng đặc công miền Đông Nam Bộ bằng bất cứ giá nào cũng phải chiếm và giữ được cầu...


Cái thiêng liêng của thời điểm, cái nghiêm túc của nhiệm vụ đã nâng trách nhiệm trong chúng tôi lên, có sức thôi thúc chúng tôi phải ráng hết sức mình mà vươn tới!


Đây vừa là trách nhiệm vừa là vinh dự đối với lực lượng đặc công.

Trong cuộc họp Đảng ủy Trung đoàn, không ai có ý so sánh nặng nhọc giữa các nhiệm vụ, nhưng tất cả chúng tôi đều hiểu rằng đánh chiếm và chốt giữ cầu là mục tiêu then chốt. Quyết tâm của Đảng ủy và ban chỉ huy Trung đoàn là: cần phải đánh chiếm cầu sớm hơn, ngăn chặn không để địch phá cầu xảy ra đồng thời với việc các binh đoàn chủ lực của ta vừa vận động tới, như vậy đội hình sẽ ùn tắc lúc này là ảnh hưởng đến tốc độ tiến công, đến kế hoạch hợp điểm chung của chiến dịch.


Đây là một quyết tâm mang tư tưởng tiến công rất cao, một ý thức trách nhiệm rất nghiêm túc, vượt rất xa khả năng thực tế của Trung đoàn lúc đó, bởi vì các cầu của địch đều nằm trong lưới lửa dày đặc, lọt vào giữa vành đai phòng thủ có trọng điểm của chúng. Mặt khác chốt giữ không phải là lối đánh sở trường của đặc công, lực lượng để làm nhiệm vụ này cũng quá ít, cả về người và vũ khí.   


Đã là mục tiêu then chốt thì phải tập trung lực lượng cho nó. Dàn mỏng sẽ hỏng việc, mà hỏng việc giữ cầu là ảnh hưởng đến nhiệm vụ chung của chiến dịch, vẫn biết đó là nguyên tắc của việc sử dụng lực lượng, nhưng đi vào cụ thể cũng có nhiều ý kiến khác nhau, chỗ này co chỗ kia kéo, thành ra lại bị phân tán. Vấn đề là phải vì lợi ích chung.


Cuối cùng Trung đoàn quyết định: Tiểu đoàn 23 được tăng cường hai đại đội của tiểu đoàn pháo binh có nhiệm vụ đánh chiếm và chốt giữ cầu Ghềnh (cầu Biên Hòa) và cầu Mới (tức là cầu Hóa An).

Đồng chí Đoàn Tập - Chính ủy, thay mặt Đảng ủy và Ban Chỉ huy Trung đoàn gặp các cán bộ phụ trách Tiểu đoàn 23 động viên và giao nhiệm vụ. Giống như các lần giao nhiệm vụ trước vừa thân mật vừa nghiêm túc, vừa thuyết phục vừa ra lệnh, nhưng lần này có cái gì trang nghiêm khác thường:

- Trước đây các đồng chí làm nhiệm vụ phá cầu, không hoàn thành nhiệm vụ thì bị kỷ luật. Nay thì khác - đồng chí Đoàn Tập như tăng âm lượng, miệng cười tươi nói tiếp - Nay ngược lại, không giữ được cầu cũng bị kỷ luật, nhưng nhớ là kỷ luật còn nặng hơn!

Bằng một giọng ấm áp, vừa dứt khoát mà cũng rất tình cảm, pha đôi chút dí dỏm, đồng chí Đoàn Tập so sánh:

- Cùng một chiếc cầu, thời gian phải phá, phá bằng được; thời gian phải giữ, giữ bằng được! Nhưng phá hay giữ cũng đều vì mục đích: đánh thắng kẻ thù!


Nhiệm vụ thông suốt. Phía trước - phía đang có tiếng súng như một nam châm có sức hút mọi người phấn khởi lên đường. Nhưng sử dụng lực lượng ở hướng này cũng chưa thật thống nhất. Có ý kiến cho rằng chia đôi lực lượng, mỗi bộ phận chịu trách nhiệm một cầu.


Thoạt nghe tưởng hợp lý nhưng phân tích kỹ lại thấy làm như vậy sẽ khó có điều kiện hiệp đồng, hỗ trợ nhau trong quá trình chiến đấu, mà hai cầu lại cách nhau không xa.


Dựa vào đặc điểm địa hình và địch tình cụ thể, Ban chỉ huy Trung đoàn đã quyết định tổ chức lực lượng và tổ chức chỉ huy trận đánh như sau:

- Một, sẽ tổ chức thành hai lực lượng chính làm nhiệm vụ đánh chiếm cầu; chiếm xong phải khẩn trương triển khai bố trí chốt giữ, không cho địch phản kích lấy lại.

- Hai, tổ chức một lực lượng chuyên làm nhiệm vụ dọn đường, tiễu trừ bọn thám báo, bọn phục kích hoạt động lẻ.

- Ba, để đảm bảo hiệp đồng hỗ trợ cho nhau trong quá trình chiến đấu, ngoài sở Chỉ huy chung, còn lập thêm sở Chỉ huy tiểu đoàn tăng cường, chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ huy ba lực lượng chiến đấu...


Trong những ngày này chiến sự diễn ra vô cùng ác liệt và khẩn trương, việc chỉ huy thật sát sao xuống các đơn vị có bị hạn chế. Các mũi, các hướng sau khi đã có kế hoạch thống nhất của Trung đoàn, đều phát huy tinh thần làm chủ mà đề ra các biện pháp cụ thể để thực hiện tốt mệnh lệnh được giao.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #52 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:51:10 am »

Tối ngày 1 tháng 5, Đảng ủy Trung đoàn họp mở rộng ở căn cứ Hốc Bà Thức để nghe các mũi, các hướng báo cáo diễn biến cụ thể về địa bàn mình đảm nhiệm.

Tiểu đoàn 9 đánh chiếm căn cứ Hốc Bà Thức.

Đại đội 53 trinh sát của Trung đoàn đánh phá kho bom Bình Ý.

Diễn biến cụ thể về hai trận đánh này tôi đã kể ở phần trên.

Dưới đây xin kể tiếp về các trận đánh chiếm và chốt giữ cầu Biên Hoà và cầu Hòa An.

Đồng chí Đoàn Tập là người trực tiếp chỉ huy ở hướng này, nhưng trong cuộc họp Đảng ủy hôm nay, đồng chí đã giới thiệu đồng chí Dĩ - một cán bộ tiểu đoàn duy nhất còn lại sau trận đó kể lại với hội nghị.


Tất cả chúng tôi đều hướng về phía Dĩ với tấm lòng cảm phục và chờ đợi. Còn Dĩ, trông anh hôm nay rạng rõ một niềm tụ hào về đồng chí, đồng đội mình, nhưng rất khiêm tốn và phảng phất của nét buồn thương những đồng đội mình đã ngã xuống, không có mặt ở đây để đón chào chiến thắng chung của dân tộc.


Dĩ rụt rè đưa mắt nhìn anh Đoàn Tập như muốn nhường anh kể lại mới đúng cương vị, vì anh theo dõi chung, nắm đầy đủ các mũi. Hiểu ý Dĩ, anh Đoàn Tập chủ động:

- Đồng chí Dĩ xứng đáng kể lại trận đánh hôm qua cho chúng ta nghe.

- Nhất trí! Đề nghị đồng chí Dĩ bắt đầu - Một đồng chí cán bộ ngồi gần anh Đoàn Tập hưởng ứng.


Đồng chí Dĩ bắt đầu kể. Không cần sách vở, không cần đề cương, nhưng chuyện Dĩ kể lại đã thu hút người nghe. Không khí cuộc họp trật tự và yên lặng, chỉ còn có tiếng đồng chí với giọng trầm ấm:

- ... Sau khi Trung đoàn duyệt quyết tâm chiến đấu lần cuối, đêm 24 rạng 25 tháng 4, chúng tôi rời hậu cứ, hành quân vượt sông Đồng Nai sang phía nam thị xã Biên Hòa. Toàn bộ đội hình dừng lại ở một làng nhỏ cách hai cầu khoảng 1 ki-lô-mét. Tại đây các đơn vị sơ bộ đào công sự, triển khai sẵn sàng chiến đấu. Và để thuận tiện cho việc điều hành trận đánh, chúng tôi quyết định lấy nơi đây để đặt Sở chỉ huy, tạo thành đội hình chiến đấu theo hình tam giác. Nhân dân ở đây thật tốt, sau những phút niềm nở đón tiếp ban đầu, bà con cô bác liền đưa gỗ, cuốc xẻng cho bộ đội đào công sự; có gia đình tháo cả cánh cửa của mình ủng hộ bộ đội lát hầm...


Thực hiện mệnh lệnh chiến đấu của Trung đoàn, chúng tôi phân chia cụ thể lực lượng như sau:

- Ba đại đội của Tiểu đoàn 23 đảm nhiệm đánh chiếm cầu và chốt giữ cầu: đại đội 1 đảm nhiệm cầu Ghềnh; đại đội 3 đảm nhiệm cầu Mới; đại đội 2 đảm nhiệm khu Nhà Ga và ngã ba đường số 1 và đường 22, có nhiệm vụ đánh địch từ Thủ Đức lên, tạo thuận lợi cho hai đại đội 1 và 3 giữ cầu.

- Hai đại đội pháo đảm nhận bảo vệ sở chỉ huy, đồng thời làm nhiệm vụ chính của mình là đánh địch phản kích chiếm lại cầu.


Như thế là chúng tôi đã hình thành đủ ba lực lượng: lực lượng tiến công - chốt giữ, lực lượng chốt giữ kiêm đánh viện, lực lượng đánh địch phản kích. Biết rằng chiếm cầu tuy khó nhưng có thể làm được, nhưng giữ cầu thì khó, bởi kẻ địch không cam chịu mất mục tiêu then chốt, vì thế chúng tôi đã để gần 50 phần trăm lực lượng làm nhiệm vụ đánh địch phản kích.

Thế bố trí như vậy là hiểm và kín.

Tất cả cán bộ chiến sĩ rất phấn khởi và sẵn sàng chờ đến giờ được nổ súng.

Bản thân chúng tôi - những người chỉ huy càng vững tin ở mình, ở đồng đội và ở thế trận đã bày.

Đứng giữa nơi bốn bề đang ầm ầm tiếng súng, tiếng động cơ xe các loại và tiếng xe tăng, xe bọc thép gầm rú mà chúng tôi thấy mình thanh thản, không vấn vương một cái gì.

04 giờ 30 phút ngày 27 tháng 4, trận chiến đấu bắt đầu!

Mũi đại đội 1, bí mật “lót ổ” sát cầu trước, bất ngờ tập kích vào lực lượng địch phòng giữ ở đấy. Bọn địch hốt hoảng bỏ chạy, không kịp chống trả.

Mũi đại đội 3, gặp địch ngay từ Khu Chợ (cách cầu khoảng 500 mét) nổ súng tiến công đánh thốc lên.

Thế là chỉ trong vòng 30 phút, các mũi đã chiếm xong cầu. Địch không ngờ ta đánh sớm như thế!

Giai đoạn chiếm cầu kết thúc nhanh gọn, nhưng đúng như ta nhận định - giai đoạn giữ cầu mới thật gay go. Toàn bộ sức lực và trí tuệ của chúng tôi đều dồn cho giai đoạn này. Đổ máu và hy sinh đã xảy ra - nhưng chúng tôi cho đó là tất nhiên nên vui vẻ chấp nhận, miễn là giữ được cầu.


Bốn giờ sau đó, địch bắt đầu phản kích. Thoạt đầu là pháo - địch coi đây là át chủ bài để giải quyết tình huống gay cấn. Pháo từ Thủ Đức bắn lên, từ Châu Thới bắn sang, từ Biên Hoà - Long Bình bắn tới, rải dọc đường số 1, kéo dài gần tiếng đồng hồ. Sau đó là bộ binh địch từ nhiều hướng đánh vào, đạn các cỡ bắn loạn xạ. Hai tiểu đoàn biệt động đánh vào sườn trái sở chỉ huy. Dọc đường 22 từ Dĩ An lên, hai tiểu đoàn khác có xe tăng dẫn đi trước đánh thẳng vào đội hình của ta đang làm nhiệm vụ giữ cầu, hòng chiếm lại hai mục tiêu này.

Nhưng sau gần hai tiếng đồng hồ, các lực lượng phòng ngự của ta đã chiến đấu rất anh dũng, đánh bại đợt phản kích của địch.

Vừa tiến công vừa thăm dò lực lượng ta, địch cho máy bay L19 rà rà quan sát, hy vọng phát hiện được trận địa phòng ngự của ta để có biện pháp đánh phá. Nhưng dưới cánh bay trinh sát ấy là vạt cỏ cháy trụi, đất cày lên lở loét do chính bom đạn chúng gây nên.


Tiếng máy bay L19 vừa dứt thì một đợt pháo khác lại rộ lên. Pháo cỡ lớn từ xa bắn tới, cối 81, 61, M79 của địch ở tầm gần bắn vào cả ba mục tiêu ta đang chốt giữ... cả ngày 27 ta đã đánh thắng bốn lần địch phản kích. Đêm buông xuống. Tiếng súng tạm thời yên. Thần kinh chúng tôi bớt căng, các chiến thắng do chúng tôi tạo nên và tiếng súng chiến thắng của các cánh quân chiến dịch cứ mỗi lúc xích gần có sức cổ vũ mạnh mẽ, khiến chúng tôi quên đói và quên khát. Tranh thủ chút thời gian yên tĩnh quý báu này, toàn đơn vị xốc lại đội hình bố trí, củng cố công sự, lau chùi sửa chữa vũ khí để đón nhận những thử thách không xa, chỉ ngày mai thôi, khi mặt trời ló rạng là có thể ập tới...   


Không khí cuộc họp vẫn rất trật tự. Thời gian càng trôi, đêm càng chuyển vào chiều sâu của yên lặng. Ánh sáng điện sau chiến thắng từ thị xã Biên Hoà, từ Sài Gòn hắt lên, hòa vào nhau tạo thành khoảng sáng rộng, soi rõ không gian nơi chúng tôi đang họp.


Tất cả chúng tôi, ở nơi con tim mình bỗng đập lên những nhịp đập hồi hộp chờ nghe câu chuyện kể về giai đoạn giữ cầu.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #53 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:54:07 am »

Còn đồng chí Dĩ, vẫn nhớ đến từng chi tiết diễn biến, nhưng giọng sôi nổi hẳn lên:

- Ngày 28 mới mờ mờ sáng, năm máy bay lên thắng của địch từ phía Sài Gòn lao tới phóng tên lửa và xối đạn 12,8mm xuống các trận địa chốt của ta. Không gian sôi động từ đấy. Tiếp sau lại là trận mưa pháo từ các trận địa pháo quen thuộc của địch dội xuống. Mặt đất rung chuyển, nhà cửa, cây cỏ lại bị cày tung và bốc cháy. Lửa khói quyện vào nhau, làm vẩn đục một khoảng không gian rất rộng. Đợt phản kích này, địch kết hợp không phải chỉ là bộ ba (pháo tầm xa, xe tăng và bộ binh) mà thêm cả máy bay nữa. Nhưng chúng tiến quân rất dè dặt, vừa đi vừa nghe ngóng; số lính sống sót hôm qua, hôm nay tiếp tục bị đẩy đi thì lơ láo, sợ sệt, luôn ở tư thế “sẵn sàng chạy” nếu có tiếng nổ từ phía trước mặt. Đến 10 giờ địch mới mở đợt phản kích quyết liệt vào cả ba mục tiêu, đặc biệt là chúng tập trung đánh vào sở chỉ huy của ta.


Đúng là kẻ địch đã nhằm vào mục tiêu then chốt của ta mà tiến công. Mất sở chỉ huy rõ ràng là công việc điều hành trận đánh có ảnh hưởng. Chính vì thế, chúng tôi động viên nhau kiên quyết bám trụ, đảm bảo trận chiến đấu bảo vệ cầu không bị gián đoạn; mặt khác, rút một phần lực lượng chốt giữ cầu về tăng cường cho đơn vị đang làm nhiệm vụ bảo vệ sở chỉ huy.


Hai đại đội pháo, rút kinh nghiệm hôm trước, đã kịp thay đổi cách đánh. Một đại đội ngắm bắn trực tiếp, chờ địch vào gần mới nổ súng. Một đại đội lùi lại phía sau rồi dùng súng cối 82mm dập vào cuối đội hình địch. Bị đánh bất ngờ ở hai đầu, địch bỏ chạy tán loạn, để lại nhiều xác chết, ta thu được tại chỗ 20 khẩu súng. Số lượng tuy ít nhưng đối với chúng tôi, rất quý vì lúc này nguồn vũ khí đưa từ hậu cứ ra rất khó khăn.


Ngay đêm hôm đó (28 tháng 4) các lực lượng giữ cầu của Tiểu đoàn 23 lại bí mật luồn sát vào mục tiêu, bất thần nổ súng tiến công chiếm lại cầu vừa bị địch phản kích lấy lại hồi chiều.


Được tin này cả sở chỉ huy vô cùng phấn khởi. Chúng tôi như trút được gánh nặng đè lên vai, người thấy nhẹ nhõm, khoan khoái vì để mất cầu lúc này thì rất gay go, thời gian tổng công kích sắp đến rồi, đại quân ùn tắc bên kia cầu sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch hiệp đồng giữa các cánh quân lớn của chiến dịch. Nhưng chúng tôi cũng nhận định rằng địch chưa chịu từ bỏ hai mục tiêu này, trận chiến đấu sẽ còn xảy ra và còn ác liệt, địch vẫn tiếp tục phản kích, vì vậy cả đêm nay các cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 23 gần như thức trắng để củng cố hầm hào, chuẩn bị súng đạn đối phó với những trận phản kích nhất định sẽ xảy ra ngày mai.


Đúng như dự đoán của sở chỉ huy, 7 giờ sáng ngày 29 tháng 4 địch bắn pháo kéo dài một tiếng đồng hồ vào trận địa chốt của ta; tiếp đến có hai máy bay lên thẳng sà xuống thật thấp cố phát hiện lực lượng đối phương. Về phía ta, qua hai ngày quần nhau với địch, anh em thấm mệt nhưng khí thế vẫn giữ ở mức tốt. So với địch, lực lương ta rất hạn chế, người đã ít, súng đạn cũng không đủ. Trước tình hình đó, một mặt chúng tôi động viên anh em xốc tới, nếu không hoàn thành nhiệm vụ là lỡ đến kế hoạch lớn, nhưng mặt khác chúng tôi thay đổi cách đánh, đảm bảo đủ sức để chốt giữ dài ngày...


Khoảng 9 giờ 30 phút, địch huy động tổng lực đến 30 xe tăng gầm rú dắt bộ binh theo sau, chia thành hai mũi tiến đánh, quyết chiếm lại hai cầu, để sau đó tùy theo tình hình mà chúng giữ hay phá. Đại đội 1 giữ cầu Ghềnh đã lùi ra xa cách cầu 200 mét, nơi địa hình có lợi để đánh địch từ xa. Một đồng chí chiến sĩ của đại đội này đã bắn cháy tại chỗ năm xe tăng địch. Ban chỉ huy đại đội bị địch bao vây, chúng hò nhau bắt sống. Nhưng ở dưới hầm, các đồng chí đã chiến đấu hết sức ngoan cường, chia nhau đánh nhiều chỗ, nhiều hướng nghi binh lừa địch, kéo dài cuộc đọ sức giữa một bên có ba tay súng, một bên là tiểu đoàn địch có xe tăng yểm trợ. Cuộc chiến đấu cứ thế kéo dài cho đến lúc bóp cò, đạn không còn để nổ nữa đã đồng thanh hô to: “Kiên quyết không để sa vào tay địch!”.

Đến đây bỗng dưng đồng chí Dĩ nghẹn ngào không nói được nữa vì xúc động.

Phòng họp cũng trở nên trang nghiêm. Tất cả chúng tôi đều yên lặng và linh cảm thấy rằng một cái gì mất mát đã xảy ra!

Với giọng trầm xuống, đồng chí Dĩ tiếp tục kể:

- Sau tiếng hô kiên quyết đó, ba đồng chí trong Ban Chỉ huy đại đội 1 đã dùng quả lựu đạn cuối cùng còn lại để dành cho mình... Tiếng nổ và khói từ hầm bốc lên, làm cho đội hình quân địch lúc ấy đã vây sát phải chững lại. Từ xa nhìn, chúng tôi cứ ngỡ địch bị vấp mìn. Nhưng không, địch chững lại vì sửng sốt, vì thán phục sự chấp nhận hy sinh của các đồng chí trong Ban chỉ huy đại đội 1.


Cả đại đội chỉ còn lại bốn đồng chí ngoan cường chiến đấu, chống lại quyết liệt với địch. Các đồng chí đã nêu khẩu hiệu: “Còn người thì còn cầu!”. Với tinh thần dũng cảm và mưu trí, các đồng chí đó đã giữ được cầu.


Đại đội 3 chốt giữ cầu Mới, cũng chiến đấu giành từng tấc đất với địch để bảo vệ cầu, không cho chúng phá. Vì thế ở đây cũng diễn ra những trận đánh ác liệt.


Để tạo ra một đòn đánh quyết định chiếm lại cầu, địch dùng lực lượng lớn tiến công sở chỉ huy tiểu đoàn. Chúng thúc xe tăng vừa tiến vừa bắn từng loạt đạn ngắn về bốn phía để kiềm chế và thăm dò lực lượng ta suốt từ 11 giờ trưa đến 3 giờ chiều.


Về phần ta, lúc đầu im lặng, chờ địch vào thật gần. Nhưng cách khoảng 500 mét thì tự nhiên đội hình địch chững lại. Chớp thời cơ, ta dùng DKZ75, cối 82mm bắn vào giữa đội hình chúng. Đại đội 2 bắn cháy tại chỗ bốn xe tăng địch. Khi địch còn cách trận địa ta 100 mét, đồng chí Bảy, Trung đội trưởng và đồng chí Lê dùng B40, B41 tiến sát đón đầu, bắn hai phát diệt luôn hai xe tăng. Các xe còn lại hoảng hốt lùi về phía sau, dùng súng trên xe hạ thấp tầm, bắn xối xả vào đội hình quân ta. Quân ta tụt xuống hầm tránh đạn nhưng vẫn có bộ phận theo dõi địch. Tưởng ta hết sức chiến đấu, địch lại tiến vào nhưng lò dò từng bước, vừa đi vừa nghe ngóng động tĩnh. Đến 4 giờ chiều ngày 29, khi địch vào chỉ còn cách Sở chỉ huy 50 mét, quân ta mới nhất loạt nổ súng...


Đồng chí Dĩ chưa kịp nói tiêp, Chính ủy Đoàn Tập xen vào:

- Đây là trận quyết chiến cuối cùng trong ngày 29 và cũng là trận đánh hiệp đồng cuối cùng của bộ đội đặc công trong chiến dịch mang tên Bác.

Lời nhận xét của đồng chí Đoàn Tập càng làm tăng sự chăm chú của người nghe về trận đánh quan trọng này. Không ai muốn nghỉ giải lao, ai cũng thấy mình hứng khởi, muốn biết các đồng chí Tiểu đoàn 23 đã kết thúc trận đánh đó như thế nào.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #54 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:55:18 am »

Tất cả chúng tôi lại nhìn về đồng chí Dĩ.

Vẫn dáng vẻ khiêm tốn, nhưng giọng nói trở nên sôi nổi, hùng hồn, như muốn trút hết tình cảm của mình để ngợi ca những người đồng đội. Anh nói tiếp:

- Báo cáo với các đồng chí là từ giờ phút này trận đánh càng trở nên ác liệt. Trước mặt chúng tôi chỉ thấy đất đá tung lên, những đám cháy, những đụn khói đùn lên mờ mịt cả khoảng trời. Đạn các cỡ của địch thi nhau nổ, xen lẫn những tiếng nổ của các chiến sĩ ta tuy thưa nhưng là những tiếng nổ thận trọng, có cân nhắc, tính toán. Mỗi chiến sĩ ở hai đại đội pháo như những xạ thủ “lành nghề”, cùng lúc sử dụng được nhiều loại súng để đánh địch. Đồng chí Vũ Đức Huyền, chiến sĩ số 1 của cối 82mm, sau khi cùng đồng đội dùng súng bộ binh bắn gục nhiều tên địch hung hăng, liền đó dùng ĐKZ bắn cháy hai xe tăng địch. Sau đó mặc dầu đồng chí Huyền bị thương, nhưng vẫn vận động sang trái đón bắn cháy một xe nữa. Ở khẩu đội khác, khẩu đội trưởng Lã Văn Điều mới có một tuổi quân, chỉ còn lại một mình, bị vết thương vào trán chưa kịp băng bó, máu chảy tràn xuống sống mũi, đã nhảy khỏi công sự, hiên ngang kê khẩu ĐKZ lên vai, bình tĩnh bắn bốn phát cháy bốn xe tăng địch. Viên đạn thứ năm Điều lắp vào chưa kịp bắn đã bị trúng đạn địch nổ ngay trong nòng. Đồng chí Điều hy sinh trong một tư thế thật đẹp - tư thế ngẩng cao đầu, đối mặt với kẻ thù và nhìn về phía trước.


Sự anh dũng và mưu trí của các chiến sĩ hai đại đội pháo đã cản ngăn được đợt tiến công quyết liệt của kẻ địch. Chúng tôi đã thắng địch trong một điều kiện không cân xứng về cả lực lượng và thế trận cụ thể.


Địch đã thất bại. Cho đến khi mặt trời lặn, màn đêm đã xuống dần, chúng vẫn không thực hiện được âm mưu phản kích đánh chiếm sở chỉ huy đối phương. Biết đêm là của ta, nhưng cũng liền trong hai đêm 28 và 29 tháng 4, địch liều lĩnh cho máy bay đến Long Bình chở bọn sĩ quan cao cấp làm việc ở sở chỉ huy quân đoàn 3 ngụy và chuyển một số hàng chiến lược quý về Sài Gòn.


Đêm 29 trời đổ mưa. Mưa không to nhưng kéo dài, làm cho không khí thoáng mát, dễ chịu. Nhưng tiếng súng tiến công của quân ta ở các nơi dội về vẫn nghe rõ - nổ đều và nổ rộ. Những tiếng súng làm ấm lòng chúng tôi, những người giữ cầu, như nhắc nhở chúng tôi phải giữ vững tinh thần chiến đấu đến mức cao nhất để giữ lấy cầu.

Chúng tôi vui mừng, khấp khỏi chờ đón đại quân vượt qua cầu này để tiến về Sài Gòn!

Đêm nay sao cảm thấy dài ghê! Chỉ mong trời chóng sáng! Bởi lẽ lúc đó chúng tôi nghĩ không phải chỉ có đêm mới là của ta mà ngày cũng là của ta.

Sự mong đợi của chúng tôi đã thành sự thật.

Sáng 30 tháng 4, khi mặt trời mới ló rạng, tiếng súng tiến công của các binh đoàn chủ lực tham gia chiến dịch từ bốn hướng nổ rất nhịp nhàng và mỗi lúc mỗi gần.

Cả đại đội 1 chốt giữ cầu Ghềnh chỉ còn lại bốn đồng chí!

Thật là căng thẳng và gay cấn. Bốn người liệu có giữ nổi cầu không? Đến bây giờ mới là thời điểm cần phải trả lời dứt khoát, không được chần chừ do dự.

- Phải giữ!

- Bằng bất cứ giá nào cũng phải giữ, thà hy sinh tất cả chứ không để địch phá cầu.

7 giờ 30 phút, đồng chí Minh được giao nhiệm vụ cảnh giới ở ngay lô cốt đầu cầu. Bỗng đồng chí thấy những khối đen ngạo nghễ bám lên đầu cầu bên kia rồi nối đuôi nhau vượt lên.

Theo đồng chí Minh kể lại, mồ hôi đồng chí vã ra, đầu óc căng nhão vì câu hỏi:

- Đơn vị giữ đầu cầu bên kia không hoàn thành nhiệm vụ hay sao?

- Nhưng tại sao xe địch đã đến cầu mà không thấy chúng phá cầu? Chúng vẫn còn hy vọng đánh thắng chúng ta hay sao?

Đầu óc Minh cứ luẩn quẩn với những câu hỏi đó, phần vì mải chăm chú theo dõi hành động địch ở bên kia cầu. Mãi khi xe tăng đi đầu vào gần đến giữa cầu, đồng chí Minh mới nhố đến nhiệm vụ của mình, vội báo cho ba đồng chí phía sau chuẩn bị chiến đấu. Hai tay Minh cầm hai quả lựu đạn sẵn sàng...
Như không tin ở mắt mình, Minh chớp liền mấy chớp và giương to, rồi reo lên:

- Xe tăng ta các cậu ơi!

- Phải cảnh giác đấy! - Có tiếng từ phía sau vọng lên.

- Không, thật mà! Xe tăng ta đang đi, có in hình cờ đỏ sao vàng.

Xe dừng lại, một chiến sĩ ra khỏi buồng lái, nét mặt tươi tỉnh đi về phía Minh với dáng điệu khẩn trương, phấn khởi:

- Cảm ơn các đồng chí!

- Xe tăng của ta các đồng chí ơi! - Minh reo to và ngoái lại phía sau như gọi tất cả những người sống sót làm nhiệm vụ giữ cầu lên mà đón chào, mà mừng vui.

Giây phút gặp nhau trên cầu đầy xúc động, ai cũng khóc vì được gặp mặt nhau sau những năm tháng dài mong chờ. Các chiến sĩ lái xe tăng ôm ghì các chiến sĩ đặc công, các chiến sĩ đặc công cầm tay các chiến sĩ lái xe tăng lắc mạnh, nhìn chằm chặp vào những khuôn mặt lấm bụi dường và thuốc súng mà không nói nên lời.


Minh đứng sững bên thành cầu, hai tay vẫn nắm chặt hai quả lựu đạn giơ lên cao vẫy chào đoàn xe đi qua...


Trong những giây phút thật yên tĩnh này, tôi lại chong mắt không sao ngủ được vì xúc động. Tôi nghĩ đến sông Đồng Nai, một dòng sông quen thuộc như dòng sông Cầu quê tôi, nó đã gắn bó thiết tha từ ngày đặt chân lên đất miền Đông; nghĩ đến thác Trị An ngày đêm tung bọt trắng xóa như vẫy chào chúng tôi trong mọi cuộc hành quân; nghĩ đến những cuộc chiến đấu đầy gian khổ mà lạc quan trên dòng sông này... Mỗi khúc sông đã để lại những dấu ấn không thể phai mờ trong tâm khảm những chiến sĩ đặc công chúng tôi. Đã có một đêm trăng hành quân qua một đoạn của dòng sông này, cảnh vật thật đẹp giữa bốn bề là đồn bốt giặc đã thúc giục tình cảm tôi nảy ra mấy vần thờ:

Đồng Nai ơi! Dòng sông bất khuất
Bao chiến công hiển hách còn ghi...

Làm xong nhiệm vụ ém quân “lót ổ", thực hiện từ trong đánh ra phối hợp với từ ngoài đánh vào, Trung đoàn 113 được Bộ Chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ tiếp quản thị xã Biên Hoà và một số địa bàn xung quanh.

Biên Hòa! Cái tên thân thương và gần gũi ấy đã gắn liền với cuộc đời của các chiến sĩ đặc công Trung đoàn 113.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #55 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:55:52 am »

Từ Hốc Bà Thức tiến vào Biên Hòa

Đi trên đường phố nằm trên hai bên bờ sông Đồng Nai với rừng cờ sao đỏ rực vào một sáng tháng Năm mà chúng tôi vẫn cứ ngỡ ngàng, tất cả vẫn cứ tưởng như mình đang sống trong mơ! Nhưng không phải mơ mà thật! Từng dòng người gồm đủ trẻ, già, trai, gái trong bộ quần áo mới đủ màu sắc với nét mặt rạng rỡ đang vẫy chào đoàn quân chiến thắng trở về...


Trong niềm cảm xúc không bò bến này “tâm hồn thơ” của tôi bỗng từ cõi lòng sâu kín dâng lên. Nhưng lúc này đâu phải lúc làm thơ? Làm thơ không thể kịp! Tôi không đủ tài năng để sắp xếp ngôn ngữ, không thể dùng từ chính xác để thể hiện sự kiện vĩ đại này của dân tộc, sự hy sinh cao cả và những công việc phi thường mà đồng đội đã làm... mà chỉ còn kịp đọc mấy vần thơ của Tố Hữu:

   "... Các anh chị, các em ơi, có phải
   Mỗi khi lòng ta xao xuyến rung rinh
   Môi ta thầm kêu Bác: Hồ Chí Minh...''.

Đó là mấy câu thơ trong bài "Sáng tháng Năm" ông đã viết từ năm 1951. Nhẩm đọc, ta thấy tiếc: giá lúc này Bác còn sống? Ừ, nếu Bác còn sống, Bác biết một trung đoàn đặc công hoạt động ở miền Đông, nơi cửa ngõ phía bắc Sài Gòn này đã làm được những việc mà Bác hằng mong muốn, căn dặn chúng cháu trong ngày chính thức thành lập binh chủng. Không, Bác có mất đâu! Bác vẫn đang sống! Bác biết tất cả những việc chúng cháu làm, Bác vẫn đang cùng chúng cháu hành quân; chúng cháu đang theo chân Bác đi cùng trời cuối đất để cùng Bác thực hiện ước mơ: Độc lập, tự do cho dân tộc mình!


Năm tháng sẽ qua đi, mỗi chúng tôi, do nhu cầu xây dựng quân đội, bảo vệ Tô quốc xã hội chủ nghĩa, đã và sẽ chuyển đi đơn vị khác sang mặt trận chiến đấu mới, nhưng chẳng ai có thể quên được Trung đoàn 113 đặc công miền Đông, nơi mình đã tham gia chiến đấu và trưởng thành ở đó. Mỗi chúng tôi mãi mãi có quyền tự hào về Trung đoàn mình đã góp phần xứng đáng vào nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Mỗi chiến sĩ đặc công của Trung đoàn 113 chúng tôi đều có nhiều kỷ niệm trong cuộc đời chiến đấu của mình, nhưng miền Đông Nam Bộ vẫn là nơi đọng lại nhiều kỷ niệm sâu sắc nhất. Chính ở nơi ấy chúng tôi đã trưởng thành, đã lớn lên về mọi mặt cả trong chiến đấu và xây dựng. Truyền thống tốt đẹp cùng những kinh nghiệm chiến đấu xây dựng của Trung đoàn đặc công 113 vẫn còn nguyên giá trị trong nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của đơn vị và lực lượng vũ trang nhân dân ta hiện nay.


NGUYỄN THÀNH TOÁN ghi
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #56 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:57:25 am »

BIÊN HÒA - MỘT THỜI KỶ NIỆM


NGUYỄN THÀNH LỘC
Nguyên Trung đoàn trưởng Đoàn đặc công 113 - đại tá, nay đã nghi hưu


Từ những năm 1968 đến tháng 10 năm 1971, tôi là Tỉnh đội phó Tỉnh đội Biên Hòa, anh Hai Cà (Trần Công An) - Tỉnh đội trưởng, chúng tôi đã cùng với các đồng chí trong Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, bám sát chiến trường nắm vững tình hình địch để phối hợp các lực lượng đẩy mạnh tiến công cách mạng. Khoảng cuối tháng 10 năm 1971, tôi được gọi về Miền chờ công tác ở Bộ Tham mưu. Sau đó ít lâu được bổ nhiệm làm Phó trung đoàn trưởng Đoàn Đặc công 113, tham gia kế hoạch “Chồm lên”.


Thời kỳ ấy, anh Nguyễn Thanh Tùng - Trung đoàn trưởng, xuống địa bàn cùng đơn vị trực tiếp chỉ đạo thực hiện kế hoạch “Chồm lên”, còn tôi trực ở sở chỉ huy tại cứ đóng ở Bàu Hàm. Hiệp định Pa-ri là một thắng lợi có ý nghĩa vô cùng quan trọng của cách mạng Việt Nam, nhưng chưa phải là thắng lợi cuối cùng. Bởi vì kẻ thù còn nhiều mưu sâu kê hiểm tìm mọi cách để phá hoại. Nhận rõ dã tâm của chúng, các lực lượng vũ trang giải phóng phải đề cao cảnh giác, mài sắc ý chí chiến đấu để đánh bại kẻ thù, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hoại nhiều phương tiện chiến tranh của chúng ngay từ trong căn cứ, hậu cứ mà chúng không thể chống đỡ.


Để làm được điều đó, Đảng ủy - Ban Chỉ huy Trung đoàn lãnh đạo học tập về chính trị, quán triệt sâu sắc cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ về tình hình nhiệm vụ cách mạng miền Nam. Mặt khác, tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ từ phân đội, đại đội đến tiểu đoàn thay phiên nhau từ một tháng rưỡi đến ba tháng tại bên kia sông Đồng Nai, gần khu vực đường Lệ Xuân. Đồng thời Đoàn cử cán bộ cùng trinh sát đi chuẩn bị chiến trường hướng đông - bắc sân bay Biên Hòa, kho bom Bình Ý và tổng kho Long Bình... Sau khi chuẩn bị cơ bản xong các mục tiêu, khoảng tháng 4 năm 1973 có lệnh điều anh Nguyễn Thanh Tùng - Trung đoàn trưởng lên làm Sư đoàn phó Sư đoàn 2 đặc công Miền; anh Mai Văn Thoạn làm Chủ nhiệm chính trị sư đoàn này; anh Đỗ Văn Ninh, anh Vũ Quớ - Trung đoàn phó. Các anh Đỗ Thịnh - Chính ủy, Bí thư Đảng ủy; anh Trương Bá Triệt - Phó chính ủy. Sau khi nhận các cương vị công tác, ổn định tổ chức, tháng 7 năm 1973 chúng tôi tổ chức một tổ đặc công đánh kho bom Bình Ý. Tổ đánh này đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Kết hợp với những chiến công cả trước và sau này, tổ có 2 đồng chí được tuyên dương danh hiệu Anh hùng đó là Hồ Văn Sinh và Ngô Văn Sơn. Sau đó chúng tôi chuyển về đóng cứ ở Hiếu Liêm, nơi ngã ba sông Bé và sông Đồng Nai. Trong thời gian này vừa tập trung xây dựng căn cứ ở đây và một bộ phận bám sát chuẩn bị chiến trường, chủ yếu vẫn là sân bay Biên Hòa, trận địa pháo, địa điểm ém quân và tập kết quân. Đoàn ém quân dựa vào trục lộ 24 nhưng chủ yếu là hai khu vực Bùng Binh (Thiện Tân - Vĩnh Cửu) và Nhà Nai, Tân Uyên chờ thời cơ mới. Đến tháng 5 năm 1973, Đoàn cử tôi báo cáo về trận đánh phân khu 53, tổng kho Long Bình do Bộ Tư lệnh Đặc công tổ chức ở Hà Nội. Đây là một trận đánh mật tập theo chiến thuật đặc công, sử dụng lực lượng đông trên 60 người, vào một căn cứ lớn, canh phòng cẩn mật, đạt hiệu suất chiến đấu rất cao. Được đại biểu nhiệt liệt hoan nghênh và nghiên cứu, học tập. Đến tháng 2 năm 1975, tôi mới trở lại Miền rồi về công tác ở Sư đoàn 2 đặc công.


Trong thời gian tôi ra Bắc, anh Ba Ninh - quyền Trung đoàn trưởng; anh Trương Bá Triệt - Chính ủy thay anh Đỗ Thịnh ra Bắc dưỡng bệnh; anh Đinh Xuân Nghiêm - Trung đoàn phó và anh Tư Trang - Phó chính ủy.


Tại hội nghị tổng kết ở miền Bắc, tôi đã được gặp nhiều đại biểu ưu tú từ các chiến trường ba nước Đông Dương. Sau khi trực tiếp nghe các trận đánh điển hình, đạt hiệu quả cao, những tấm gương dũng cảm trong chiến đấu càng thêm yêu mến, cảm phục và học tập ở bạn nhiều điều quý giá. Đặc biệt có dịp tiếp xúc gặp gỡ với các đồng chí Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Đặc công, tôi rất phấn khởi tin tưởng. Kết thúc hội nghị, tôi càng nôn nóng được vào nhanh tới chiến trường để sát cánh cùng anh em đơn vị. Vào thời điểm ấy, không khí trên miền Bắc cũng thật rộn ràng náo nức mỗi khi nghe tin chiến thắng dồn dập từ miền Nam. Tuy nhiên tôi tiếc mãi vì không có dịp tiếp xúc nhiều với những người mẹ, người chị có chồng, con đang ở tuyến đầu chống Mỹ đã lâu lắm bặt tin. Trong số đó, chắc hẳn có người vì hoạt động, chiến đấu bận rộn, lại ở chiến trường xung yếu khó có dịp gửi thư. Nhưng chắc chắn không ít người đã ngã xuống trên các chiến trường! Nghĩ đến đó tôi như thấy mình còn mắc nợ các mẹ, các chị quá lớn. Cái nợ ấy, có lẽ không bao giờ chúng tôi trả được... Tổ quốc, nhân dân mãi mãi ghi nhớ ơn nặng, nghĩa dày với những người con trung hiếu ấy bằng những việc làm cụ thể, thiết thực nhằm bù đắp lại phần nào nhỏ nhoi cho người thân của họ vậy.


Tiễn tôi trở lại Trung đoàn, lúc ấy anh Chín Mây - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 đặc công vừa thay anh Đặng Ngọc Sĩ lên làm Phó tư lệnh Quân khu; anh Tống Viết Dương - Sư đoàn phó, anh Bảy Dũng - Chính ủy, anh Lê Bá Ước - Phó chính ủy bắt tay tôi tỏ vẻ phấn chấn và căn dặn:

- Chiến trường đang chuyển biến mau lẹ, có thể tính từng ngày, từng tuần. Về phải bắt tay ngay để hành động đấy “Bọ” nhé! “Bọ” có nghĩa là Bố - các anh đùa vui, vì tôi là dân Can Lộc, Hà Tĩnh mà. Tất cả được một trận cười vang đầy chất hài hước của lính. Tuy bọn tôi đều trải hai mùa kháng chiến, nhưng cái chất trẻ trung gần như còn nguyên vẹn.


Đúng như các anh căn dặn, khi tôi bước chân về tới cứ Trung đoàn bắt gặp những ánh mắt, nụ cười của mọi người tươi trẻ lạ. Họ vui vì mấy tháng xa nhau, giờ gặp lại, hỏi thăm đủ chuyện trên miền Bắc trăm mến ngàn thương. Và một cái vui hiện hữu là khí thế chiến trường đang dồn dập nở hoa chiến thắng. Tất cả đã ở trên “Bệ phóng”, đội hình Trung đoàn đã vào tư thế, các mục tiêu, lực lượng đều đã xong xuôi. Đầu tháng 4 năm 1975, ta đã khỏi đánh Xuân Lộc, địch đang điên cuồng chống cự, tình hình sôi động khác thường.


Lúc này căn cứ Trung đoàn vẫn ở đường Lệ Xuân, Hiếu Liêm. Một buổi chiều, như mọi buổi chiếu, trời vừa nhạt nắng, những vầng sáng sót lại nhuộm thẫm những cánh rừng. Chim ríu ran gọi nhau về tổ. Nếu không có những tiếng bom rền, đạn nổ từ xa vọng lại thì nơi đây quả là chốn yên bình.

- Báo cáo thủ trưởng, có điện!

Tôi đang vui chuyện trên bàn trà ghép bằng cây rừng với anh em cơ quan, nghe báo cáo ngoái lại tiếp nhận bức điện “Thượng khẩn” từ tay anh cơ yếu. Nội dung ghi:

- Trung đoàn Đặc công 113 tăng cường cho Quân đoàn 4 để sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ!

Tôi đọc đi đọc lại mấy lần, rồi chuyển bức điện cho các anh trong Ban Chỉ huy đọc để nhận định tình hình.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #57 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:58:50 am »

Kể từ ngày thành lập, mấy năm qua Trung đoàn hoạt động theo phương thức đánh sâu, đánh hiểm kể cả xung lực, hoặc hỏa lực pháo binh, sử dụng lực lượng gọn. Đánh lớn như mở đầu bằng pháo kích vào sân bay Biên Hòa đầu tháng 8 năm 1972 của Tiểu đoàn pháo 174, tính ra lực lượng phục vụ khá đông. Nhưng lúc trực tiếp tác chiến cũng chỉ gọn nhẹ mà đạt hiệu quả rất cao. Nay huy động toàn Trung đoàn ra quân, chắc đánh lớn đây? Tôi nhận định thế nhưng còn cụ thể... thú thực chưa nắm chắc được, vì còn chờ chủ trương của trên.


Sáng hôm sau, tôi - Trung đoàn trưởng; anh Vũ Quớ - Trung đoàn phó cùng tiểu đội trinh sát "khăn gói quả mướp" lên đường. Tắt rừng, nhiều chặng theo lối mòn nhưng đều phải cảnh giác biệt kích, thám báo phục kích hoặc cài mìn. Chiều tối tới thượng nguồn sông La Ngà, vào trạm khách Quân đoàn 4. Cơm nước, tắm rửa thật khoan khoái, ngủ đêm sáng hôm sau vào gặp đồng chí Hoàng Cầm - Tư lệnh Quân đoàn 4 nhận nhiệm vụ.


Qua một ngày lội bộ đường rừng khá mệt, đáng ra phải được chìm sâu vào giấc ngủ ngon lành, song với tôi thì ngược lại, giấc ngủ chập chờn bởi theo linh cảm của một người lính trận mạc, người chỉ huy cấp chiến thuật, qua diễn biến của chiến trường có thể phán đoán ngày thắng lợi đã tới gần. Trong thời khắc lịch sử ấy, mỗi người lính ngã xuống trước giờ toàn thắng thì niềm đau thân nhân họ theo cấp số nhân, và... ai dám khẳng định điều sẽ xảy ra... Miên man suy nghĩ đưa tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay. Tôi chợt tỉnh bởi giòn giã những chú tắc kè đua nhau lên tiếng râm ran cả cánh rừng.


Mãi tới khi bước vào làm việc với Tư lệnh Quân đoàn, những gì dồn nén trong tôi mới được hóa giải. Trung đoàn Đặc công 113 được giao nhiệm vụ:

Một là, đánh chiếm, bảo vệ cầu Ghềnh và cầu Hóa An (cầu Mới) chốt giữ để Sư đoàn 7 cùng Quân đoàn 4 tiến về giải phóng Sài Gòn.

Hai là, đánh chiếm căn cứ chiến đoàn 15 thiết giáp Hốc Bà Thức để mở cửa cho Sư đoàn 7 tiến công sân bay Biên Hòa và bộ tư lệnh quân đoàn 3 ngụy. Sau khi đánh chiếm cầu, đón đại quân tiến vào Sài Gòn, đơn vị vẫn tiếp tục chốt giữ căn cứ Hốc Bà Thức và giữ vững hai cầu.


Nhiệm vụ cụ thể là vậy, nhưng giờ “G” và ngày “N” đều chưa được trên cho hay, nên bản thân tôi vẫn băn khoăn.

Đây là lần đầu tiên trong đời cầm quân của mình tôi cảm thấy vừa phấn chấn xen lẫn sự hồi hộp trước một sự kiện sắp diễn ra mang nhiều ý nghĩa đến như vậy.

Sau khi nhận nhiệm vụ, cũng trên chặng đường ấy, nhưng lúc trở về chúng tôi thấy quãng đường như ngắn lại, chỉ hơn nửa ngày là tới cứ. Đến nơi, chúng tôi tiến hành họp Đảng ủy trung đoàn ngay để triển khai lãnh đạo. Tiếp đó, một hội nghị quân chính cũng được tiến hành.


Tiểu đoàn 9, đại đội trinh sát 53 cùng một bộ phận cơ quan Trung đoàn tham gia đánh chiếm căn cứ thiết giáp Hốc Bà Thức; Tiểu đoàn 23 đặc công và Tiểu đoàn pháo binh 174 - bố trí trận địa gần bãi khai thác đá Hóa An để hỗ trợ đánh chiếm cầu Ghềnh và cầu Mới. Phân công chỉ huy gồm: anh Ninh - Trung đoàn phó; anh Ba Triệt - Chính ủy đi với Tiểu đoàn 9 đánh chiếm Hốc Bà Thức; Tôi Nguyễn Thành Lộc - Trung đoàn trưởng; anh Hai Nghiêm - Tham mưu trưởng; anh Tư Trang - Phó chính ủy đi với Tiểu đoàn 23 và Tiểu đoàn 174 hướng cầu Mới và cầu Ghềnh.


Ngày 22 tháng 4 năm 1975, Tiểu đoàn 9, đại đội 53 cùng bộ phận Trung đoàn bộ từ căn cứ Tân Uyên hành quân tới căn cứ Bùng Binh, xã Thiện Tân, Vĩnh cửu để ém quân. Còn Tiểu đoàn 23 và 174 vẫn ỏ vị trí cũ. Sau khi tập kết xong đội hình, ngày 26 tháng 4 năm 1975 mới được phổ biến thời gian cụ thể là: sáng ngày 26 rạng 27 tháng 4, các đơn vị tập kết xong lực lượng. Đúng 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4 chờ lệnh. 4 giờ 30 phút sáng nổ súng chiến đấu.


Đây không phải lần đầu tiên vào trận, sao hôm nay có cái gì đó vừa hồi hộp, bồn chồn, vừa rạo rực tin tưởng trong sự chờ đợi theo nhịp đập của thời gian.

Đến giờ quy định, các mũi xung lực ở cả cầu Mới và cầu Ghềnh đột nhập, chiếm lĩnh khá dễ dàng. Bị bất ngờ, bọn lính bảo vệ chống cự yếu ớt và bị đánh bật khỏi cầu mà chưa cần tới hỏa lực pháo chi viện.

Song, như chúng ta đã biết, cả cầu Ghềnh và cầu Mới nằm ngay trung tâm thị xã Biên Hòa, có vị trí cực kỳ quan trọng với địch cả về giao thông cũng như cơ động binh khí, kỹ thuật nên không dễ gì địch để rơi vào tay đối phương. Vì vậy, từ khoảng 10 giờ sáng ngày 27 tháng 4, một chiến đoàn thuộc sư đoàn 18 ngụy tổ chức phản kích chính diện để lấy lại cầu. Anh em dùng B40 - B41, lựu đạn, súng trang bị tự có, lợi dụng địa hình, địa vật chống trả quyết liệt. Ta vẫn giữ vững hai cầu, địch bị chết rất nhiều. Tối hôm ấy, ta tranh thủ tăng cường đạn dược, củng cố ý chí quyết tâm chiến đấu và lường trước những khó khăn ác liệt bội phần. Đúng vậy, tiếp đó ngày 28 và 29 tháng 4, một tiểu đoàn của sư đoàn 18 được tăng cường thêm một tiểu đoàn dù ở sau cầu Hang chia làm hai hướng đánh vào Sở chỉ huy Tiểu đoàn 23 của ta, đặt tại làng gốm Bửu Hòa. Với cuộc đọ sức khá chênh lệch về người và phương tiện, địch tưởng sẽ đè bẹp đối phương và làm chủ tình thế. Nhưng, một mặt anh em lợi dụng địa hình, tiêu diệt những tốp lính gần nhất. Mặt khác, pháo binh ta đặt cách đó vài ba cây số bắn trực tiếp xuống đội hình và kiềm chế trận địa pháo địch đặt ở núi Châu Thới. Đội hình địch rối loạn, nhiều tên bỏ mạng. Tuy vậy, sáng ngày 29, lực lượng Tiểu đoàn 23 tổn thất nặng nề, có đại đội cả Ban chỉ huy ba đồng chí đều hy sinh. Tới trưa, trận địa ta bị địch chọc thủng và cầu Mới bị chúng phá sập hai nhịp (trước đây hai nhịp cầu này đã bị tổ đặc công ta đánh sập, địch bắc lại nhưng chưa chắc chắn). Riêng cầu Ghềnh ta vẫn bám trụ và giữ vững cho đến ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975. Tối 27 và 28, số anh em thương binh được đưa về trạm phẫu Trung đoàn đặt tại lô cao su giáp giữa Dĩ An và Tân Uyên cấp cứu, để sáng ngày 29, anh Ba Triệt dùng xe ô tô của dân đưa về bệnh viện Biên Hòa.


Do cầu Hóa An bị sập hai nhịp, cầu Ghềnh yếu, xe tăng loại T54 không đi được, nên Sư đoàn 7 chỉ tổ chức một số bộ phận cùng với xe tải nhẹ hành quân qua hướng Thủ Đức và cầu Bình Phước. Hai sư đoàn còn lại của Quân đoàn 4 cùng xe tăng theo xa lộ qua cầu Sài Gòn và tiếp tục đánh chiếm các mục tiêu được phân công như bộ quốc phòng ngụy cùng một số địa điểm khác dọc đường tiến quân cho tới dinh Độc Lập, tòa Bố chánh Sài Gòn.


Trong những ngày chiến đấu ở đây, mặc dù bom đạn, hy sinh, nhưng đêm đêm cán bộ, chiến sĩ vẫn nhận được tiếp tế cơm, nước của nhân dân địa phương. Tôi còn nhớ có một thanh niên còn khá trẻ trực tiếp tới cung cấp những thông tin về địch để đơn vị nắm và có phương án đối phó. Đặc biệt, số liệt sĩ cũng nhờ cô bác chôn cất để sau này có điều kiện quy tập về nghĩa trang cùng đồng đội yên nghỉ đời đời.


Sau khi Biên Hòa được hoàn toàn giải phóng, Trung đoàn triển khai làm nhiệm vụ quân quản tại đây. Ít lâu sau được lệnh hành quân về thành Quan Năm ở huyện Hóc Môn, Sài Gòn truy quét bọn tàn quân, và lần lượt làm nhiệm vụ khác.


Trước không khí chiến thắng với niềm vui tràn ngập, ngày 8 tháng 9 năm 1975, Trung đoàn tổ chức đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ nhất. Và tháng 10 năm ấy, theo lệnh của Bộ, Tiểu đoàn 9, đại đội trinh sát 53, đại đội thông tin lại bổ sung về các đơn vị, và tôi xa Trung đoàn từ đó.


Trải qua những năm tháng chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ trên mảnh đất Biên Hòa, được Đảng bộ, nhân dân tỉnh nhà che chở, đùm bọc Trung đoàn như con em ruột thịt. Tình cảm sâu nặng ấy chúng tôi không bao giờ quên được...


Năm tháng sẽ qua đi, song trang sử vàng truyền thống của Trung đoàn 113 đặc công - đơn vị ba lần Anh hùng, sẽ mãi mãi gắn với lịch sử đấu tranh cách mạng của Biên Hoà - Đồng Nai như một nét son thắm đỏ. Được biết, qua phát hiện và đề nghị của anh Phan Văn Trang - nguyên Bí thư Tỉnh ủy U1 (Biên Hòa) và Bí thư tỉnh ủy Đồng Nai khóa 5 cùng Ban Liên lạc truyền thống Trung đoàn, đề nghị với lãnh đạo tỉnh và lãnh đạo thành phố Biên Hòa, sẽ khảo sát, xây dựng một bia tưởng niệm tại đầu cầu Ghềnh để khắc ghi tên, tuổi 52 liệt sĩ của Tiểu đoàn 23 đặc công của Trung đoàn đã anh dũng ngã xuống trước giờ toàn thắng.


Làm được điều đó, hồn thiêng các anh hẳn ngậm cười, và chúng tôi - những đồng đội thân yêu cũng lấy làm mãn nguyện. Để một ngày nào đó dòng sông Đồng Nai trong xanh nước biếc soi bóng những Anh hùng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #58 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2021, 06:45:11 am »

NGHĨ CÀNG THÊM NHỚ


TRƯƠNG BÁ TRIỆT
Nguyên Chủ nhiệm chính trị đầu tiên Đoàn Đặc công 113,
đại tá nay đã nghỉ hưu



Trong mấy mươi năm cuộc đời quân ngũ, có ai chỉ ở trong một cơ quan hay một đơn vị. Vậy mà trong tâm tưởng của tôi luôn dành một khoảng đáng kể để nhớ về Trung đoàn Đặc công 113 mà tôi hằng yêu mến dù chỉ ở mấy năm.


Ngày 3 tháng 6 năm 1972, Trung đoàn Đặc công 113 được thành lập ở suối Bà Hào, tôi được cấp trên phân công làm Chủ nhiệm chính trị - Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn. Trước đó tôi đã là chính trị viên Tiểu đoàn 10, Đoàn Đặc công 429 cơ động của Miền. Sau Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, anh Tư Lập - Chính ủy Trung đoàn về Sư đoàn 2 đặc công, tôi nhận nhiệm vụ của anh, đồng thời là Bí thư Đảng ủy Trung đoàn.


Những kỷ niệm tôi còn nhớ mãi trong những ngày đầu thành lập đơn vị đó là nhận chỉ thị cấp trên chỉ qua bức điện ngắn mà cán bộ các hướng từ Phân khu 4, Phân khu 5 ở mãi Thủ Dầu Một kịp thời có mặt tại ngã ba suối Bà Hào, bất chấp khó khăn nguy hiểm.


Thứ nữa là, năng lực công tác tổ chức của Ban Chỉ huy Trung đoàn như Trung đoàn trưởng Nguyễn Thanh Tùng và Chính ủy Mai Văn Thoạn cùng ở cơ quan chuyên trách. Tinh thần, ý thức tổ chức kỷ luật chấp hành mệnh lệnh của cán bộ, chiến sĩ thật là tuyệt vời.


Phát huy truyền thống quý báu của Binh chủng Đặc công anh hùng, đơn vị thích ứng nhanh khi đặt chân tới một địa bàn mới, khai thác triệt để kinh nghiệm của tập thể, cá nhân từ các chiến trường hợp thành. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ, chiến sĩ đặc công U1 (Biên Hòa), bổ sung về đơn vị, là những người từ nhiều năm trước đã bám trụ thông thạo địa hình, nắm chắc đối phương nên phục vụ đắc lực, kịp thời cho Trung đoàn triển khai tác chiến được ngay, mà không mất nhiều thời gian làm quen tìm hiểu ở một hướng chiến trường mới.


Đoàn đã quan hệ tốt với Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh, huyện và các cơ sở vùng sâu, vùng xa nơi phong trào cách mạng còn mỏng và yếu. Ngay từ khi đến và trải suốt quá trình bám trụ, hoạt động chiến đấu, lúc nào đơn vị cũng nhận được sự giúp đỡ chí tình chí nghĩa của ban lãnh đạo từ Tỉnh ủy Biên Hòa (U1) cơ quan Tỉnh ủy, các cơ sở cách mạng cả về tinh thần và vật chất. Điển hình nhất là lãnh đạo tỉnh đã huy động một lực lượng đáng kể anh chị em cán bộ cơ quan tham gia vận chuyển hàng trăm quả đạn pháo ĐKB để kịp thời phục vụ cho đơn vị mở đầu trận đánh lớn vào sân bay Biên Hòa, đêm 2 rạng ngày 3 tháng 8 năm 1972 đạt hiệu suất cao. Đây là đòn giáng trả đích đáng của một đơn vị đặc công vừa mới thành lập đã lập được chiến công vang dội theo cách đánh mới “nối dài cánh tay đặc công”.


Đơn vị đã xây dựng được căn cứ vững chắc giữa lòng dân mà kẻ thù không sao phá vỡ nổi. Căn cứ Bùng Binh của Tiểu đoàn 9 là một minh chứng. Sát các căn cứ của địch là một “vùng lõm” được xây dựng đủ cho vài ba đại đội sinh hoạt nhiều ngày liền. Lương thực, thực phẩm, thuốc nổ, đạn dược được tập kết an toàn đáp ứng kịp thời cho các cuộc tiến công địch mà không tốn thời gian phải tiếp cận từ xa tới.


Trận đánh chiếm cầu Ghềnh và cầu Hoá An như một dấu ấn tạc vào tâm trí, không thể nào phai nhạt trong tôi. Đó là sáng ngày 27 tháng 4 năm 1975, lực lượng ta nổ súng tiến công đánh chiếm cầu. Bị bất ngờ, địch toán loạn tháo chạy. Nhưng khi hoàn hồn, chúng tập trung mọi lực lượng pháo binh, máy bay chi viện liều lĩnh xông lên. “Ba đánh một không chột cũng què”, đằng này mình một, địch có thể gấp hàng chục lần, ta lại ở vào thế bất lợi. Qua ngày đầu chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ ta rất kiên cường nhưng khả năng thì có hạn, nên hy sinh là điều khó tránh. Ngày 28 tháng 4 nhờ hoả lực ĐKB, ĐKZ Trung đoàn tăng cường chi viện có hiệu quả, phần nào đó giảm áp lực quân địch tập trung từ Biên Hoà đánh ra, Sóng Thần, Dĩ An đánh về, tôi đề nghị anh Ba Lộc - Trung đoàn trưởng để tôi cùng mấy anh em trinh sát trực tiếp xuống trận địa cầu Hang để thăm hỏi, động viên bộ đội.


Gặp tôi, anh em mừng rỡ hết chỗ nói nhưng bản thân mình không nén nổi xúc động khi đại đội giữ cầu Ghềnh đã anh dũng hy sinh gần hết trước sự phản kích điên cuồng của địch. Lòng tôi như se lại khi lực lượng còn lại rất mỏng mà nhiệm vụ tiếp theo khá nặng nề. Song nhiều dấu hiệu cho thấy địch đang có biểu hiện nao núng. Qua máy điện đàm, tôi trực tiếp báo cho anh Ba Lộc ở chỉ huy sở. Anh nói lại: rất có thể là như vậy, và khả năng còn tồi tệ hơn nhiều. Đúng thế, sáng ngày 29 tháng 4, địch thất thủ Biên Hòa, nhốn nháo, nhiều tên lột hết quần áo, vứt súng tháo chạy thoát thân. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đại quân ta tràn về thành phố Sài Gòn, báo hiệu giờ cáo chung của chế độ bán nước.


Giữa trận địa còn vương mùi khói đạn, bom khét lẹt, bản thân tôi cùng một số anh em, dùng xe ô tô của dân thu gom số thương binh đưa đi cấp cứu, điều trị tại nhà thương Biên Hòa. Còn tử sĩ được cô bác địa phương đưa vào yên nghỉ tại khu nghĩa trang nhân dân ấp Tân Bản, xã Bửu Hòa dưới chân núi Châu Thới.


Đất nước đã hoàn toàn giải phóng gần 30 năm. Ngần ấy thời gian đủ cho một thế hệ trưởng thành và vững vàng trong sự nghiệp cống hiến sức lực, tài năng cho đất nước. Còn thế hệ chúng tôi cũng như bản thân mình lùi về chốn yên bình, lo toan tuổi già. Nhưng chưa hẳn hoàn toàn như thế, còn vương vấn như một duyên nợ chưa thể trả, nói đúng hơn là không thể nào trả cho đặng.


Nhớ lại, lúc khói đạn còn khét lẹt, tôi gặp anh Lê Bá Ước - Phó chính ủy Sư đoàn 2 đặc công nói rằng:

- Anh Bảy, sau ngày đất nước sạch bóng quân thù, non sông liền một dải hát khúc khải hoàn. Nơi đây cần dựng bia kỷ niệm các liệt sĩ đã ngã xuống trước ngày toàn thắng, như một nghĩa cử để các thế hệ đời đời nhớ ơn và tri ân họ vậy.

Anh Bảy ước rất đồng tình với ý nguyện ấy của tôi.

Nghe nói, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phan Văn Trang, một đồng chí lãnh đạo đã có nhiều công lao đóng góp với phong trào cách mạng địa phương, rất gần gũi gắn bó với Trung đoàn đặc công 113 từ khi mới thành lập và đi suốt cuộc kháng chiến cứu nước đã nhắc nhiều lần ý tưởng cao đẹp này.


Mong sao ý tưởng ấy của anh Năm Trang, của tôi và đông đảo cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đặc công 113 quý mến sớm trở thành hiện thực. Đó cũng là biểu hiện sự tri ân các Anh hùng liệt sĩ hy sinh cho dân tộc trường tồn.


TP. Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2003
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #59 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2021, 06:46:36 am »

CÓ NGÔI MIẾU THỜ CÁC LIỆT SĨ ĐẶC CÔNG
TẠI DINH BÀ CHÚA XỨ


Theo lời kể của ông
HUỲNH QUANG SAO


Nét mặt phúc hậu, người tầm thước, nước da hồng hào, giọng nói nhỏ nhẹ gợi cảm, dẫu lần đầu mới gặp cũng đã thấy gần gũi và dễ mến... Đó là ông Huỳnh Quang Sao, nhà ở làng Mỹ Khánh xưa, nay là ấp Tân Mỹ, phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai - đã có công kế thừa, chăm sóc, tôn tạo ngôi miếu để hương khói các liệt sĩ bộ đội đặc công đã anh dũng hy sinh tại nơi này. Mỗi lần có dịp nhắc lại sự kiện này, với riêng tôi và chắc mỗi người chúng ta không khỏi rưng rưng cảm động.


Một buổi sáng cuối tháng 3 năm 2003, sau nhiều lần tìm kiếm, tôi may mắn gặp được ông Huỳnh Quang Sao (Sáu Sao) đang phụ giúp vợ bán hàng trang trí nội thất tại đường Nguyễn Trãi, chợ Biên Hòa. Sau khi nghe tôi trình bày lý do tìm gặp, ông Sáu Sao lần lượt kể lại đầu đuôi sự kiện của gần 30 năm về trước, ông nói:

- Tôi nguyên là một công nhân của Nhà máy BIF Tân Mai (nay là Nhà máy gỗ Tân Mai). Cơ sở sản xuất công nghiệp nay có từ thời Pháp thuộc. Nhà tôi từ mấy đời nay đều ở làng Mỹ Khánh. Sau giải phóng, Nhà nước đổi tên là ấp Tân Mỹ, thuộc xã Bửu Hòa (nay là phường Bửu Hòa - thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Sinh ra và lớn lên ở đây từ thuở nhỏ, bởi vậy, địa hình nơi đây tôi thuộc làu như lòng bàn tay. Vào một ngày cuối tháng 4 năm 1975, trên đường từ nhà máy trở về nhà, lúc đó trời vừa mờ sáng. Dinh Bà chúa xứ, cách nhà tôi khoảng một trăm thước. Khác với vẻ tĩnh mịch mọi ngày, chỉ vọng ra tiếng chim chích ríu ran gọi nhau rời khỏi tổ đi tìm mồi. Nhưng hôm nay thật khác thường chưa từng thấy bao giờ.


Là một công nhân chân chính, chỉ biết làm ăn để nuôi đàn con nhỏ. Hơn nữa với môi trường lao động có dịp tiếp xúc với nhiều đối tượng, phần nào đó giúp tôi hiểu biết về những người hoạt động cách mạng và cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh của họ. Khi đi qua Dinh Bà, bất chợt thấy người thấp thoáng ở quanh đó, linh cảm tôi mách bảo: có thể sự kiện gì sắp diễn ra ở đây chăng? Tôi dừng chốc lát để trấn tĩnh lại mình rồi từ từ tiến lại gần thì thấy không chỉ một người mà cả một tốp bán tiểu đội súng ống, trang phục đầy mình hướng dần về phía tôi - tất cả đều hoàn toàn xa lạ. Một anh lại gần cất tiếng hỏi vừa đủ để tôi nghe:

- Xin lỗi, ông đi đâu về vào thời gian này?

Tôi chưa trả lời ngay nội dung câu hỏi, mà thật bình tĩnh nói một câu để các anh ấy an lòng, không bận tâm e ngại đến mức phải bối rối giữa lúc tranh tối tranh sáng này, tôi chậm rãi nói:

- Tôi là người dân làm ăn lương thiện, nhưng biết các ông là ai rồi. Xin anh em hãy nghe tôi - Tôi đổi cách xưng hô có vẻ nhẹ nhàng hơn "anh em" thay vì "các ông" như lúc đầu. Tôi hối thúc:

- Các anh nên phân tán ra, tập trung như thế này nguy hiểm lắm, trời lại sáng rõ rồi. Quanh đây lính quốc gia rần rần, tôi sợ... cho các anh lắm đó.


Biết được tâm trạng của một người “khách” không mời mà tối như thế này nhưng dù sao cũng đã có chút lòng tin, một anh thật thà biểu lộ:

- Bọn tôi về đây để giúp dân cướp chính quyền. Trước mắt là đánh chiếm và bảo vệ cầu Ghềnh nên phải ở lại, không thể khác được, cảm ơn ông đã chỉ bảo những gì chúng tôi chưa biết.

- Nhiệm vụ của các anh tôi không có ý kiến. Nhưng theo tôi, các anh nên nghe tôi tản ra đi tìm nơi ẩn nấp cho kín đáo. Tốt nhất xuống dọc mé sông, có đụng độ lính quốc gia còn có đường thoát hiểm.

Nói đoạn, xét thấy mình ở lại không giúp gì được hơn cho họ và còn nguy hiểm nữa nên tôi chào từ biệt, ra về. Tắm rửa, ăn sáng xong tính đi nghỉ nhưng, tôi không thể nào chợp mắt, lòng dạ cứ bồn chồn khi nghĩ tới số phận các anh sẽ ra sao khi quân lính quốc gia, súng đạn rần rần phát hiện? Bất chợt lại thấy mình như người có lỗi, bởi chẳng còn cách nào khác để kéo các anh ra khỏi vòng tử chiến cực kỳ nguy hiểm có thể ập đến lúc nào! Sự nhận định của tôi quả không sai. Ngay sáng hôm ấy, bọn chó săn quanh đó đã cung cấp mọi động thái mà chúng thu thập được báo tiểu khu Biên Hòa. Lập tức bọn quân cảnh, lính dù, sư đoàn 18 kéo đến bao vây toàn bộ khu vực miếu, ở hai đầu cầu Ghềnh anh em đã đánh chiếm hồi hôm đang giữ hai bốt gác cũng bị máy bay trực thăng vũ trang phóng rốc-két và xả đại liên như mưa giông. Cuộc chiến đấu diễn ra không cân sức ấy, mặc dầũ anh em ta đã kiên quyết chống trả, nhưng cuối cùng lần lượt hy sinh một cách đau đớn. Giữa lúc bom rơi đạn lạc không ai dám đến tận hiện trường để thị sát nên thực hư thế nào chẳng biết được. Ngày 29 tháng 4 năm 1975, khi phía ngoài bị ta tấn công, địch thất thủ nhốn nháo dao động thành dây chuyền nên cả quan lẫn lính chủ yếu tìm mạng sống. Chiều hôm ấy, được tin cho hay, đội mai táng Thánh thất Cao Đài phường Bửu Hòa xuống khâm liệm tử thi và đưa đi an táng tại nghĩa địa ấp Tân Bản. Sau năm 1980, khi tỉnh Đồng Nai xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, Phòng Lao động Thương binh - Xã hội thành phố Biên Hòa đã tổ chức đưa hài cốt anh em về tập trung cùng đồng chí của mình.


Cảnh thương tâm là 14 anh em hy sinh ngay tại Dinh Bà và quanh khu vực trong tổng số 47 người của đơn vị này (Tiểu đoàn 23 Trung đoàn đặc công 113). Nghe nói tính cả ở mạn cầu Hóa An thì có tới 52 cán bộ, chiến sĩ đã vĩnh viễn nằm lại mảnh đất này trước ngày toàn thắng.


Ông Sáu Sao kể trong nước mắt: Xót thương anh em không để đâu cho hết. Chỉ ngày một, ngày hai là đất nước sạch bóng quân thù. Vậy mà những trai trẻ này không còn nhìn thấy ngọn cờ sao vàng tung bay trong nắng mới. Những ngày sau đó, Ban quý tế đền Nguyễn Tri Phương lập nên một cái miếu tại nơi anh em ngã xuống, có lư hương để bái vọng. Bước đầu miếu cũng đơn sơ thôi, chỉ một tấm tôn gấp lại, tránh mưa gió. Sau này tôi kiếm thêm vật liệu, được anh chị em Ban quý tế giúp sức, mới tôn tạo khá hơn. Gần đây phường Bửu Hòa dựng bia ghi danh 150 liệt sĩ địa phương qua các thời kỳ chống Pháp, Mỹ và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Theo chỉ đạo của chính quyền, Ban tổ chức rước lư hương và linh hồn anh em cùng về trên đó nên mới tháo gỡ ngôi miếu này, nhưng tôi thấy bài “TRUY NIỆM CHIẾN SĨ TRẬN VONG” còn ngay ngắn quá nên để làm lưu niệm - như anh thấy đó.


Nghĩ giây lát, ông Sáu Sao kể tiếp: từ ngày lập ngôi miếu, sáng tối nào khói hương cũng nghi ngút. Đó là chưa kể mỗi năm có hai lần dân làng tổ chức tế lễ lớn là ngày 16 tháng Giêng và 23 tháng Ba cúng vía bà Ngũ Hành, cỗ bàn đề huề lắm. Cả hai lễ trọng này, Ban quý tế dành đầy đủ lễ vật để dâng hương hồn các liệt sĩ. Và không riêng gì số liệt sĩ đặc công quê miền Bắc, cha mẹ, người thân ở xa ít có điều kiện đến thăm viếng mà cả những người mẹ, người vợ tại địa phương có chồng con ngã xuống trên khắp các chiến trường, họ như thấy trong ngôi miếu này có cả linh hồn người thân của mình vậy. Nhiều bà mẹ tới đây khóc thương đến nao lòng...


Năm nay tôi đã 70 tuổi, song nhờ ơn phúc đức vẫn mạnh khỏe, tỉnh táo, lại là trưởng Ban quý tế với 14 - 15 vị đều hết sức tâm huyết với công việc. Mỗi lần ra dâng hương Dinh Bà, tôi như thấy hình ảnh các anh hiện về trước ngày toàn thắng của 30 năm trước.


NGUYỄN QUỐC HOÀN ghi
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM