quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #60 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2021, 01:53:48 pm » |
|
TƯ THẾ ĐẶC CÔNG VĂN DĨ - VŨ CHIẾN Văn Dĩ - nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 23, Vũ Chiến - đại tá nghỉ hưu Tháng 4 năm 1975, đội hình Trung đoàn 113 ở khu vực Chiến khu Đ bắc sân bay Biên Hòa. Tiểu đoàn pháo 174 đảm nhiệm bắn phá sân bay Biên Hòa, khống chế đường băng không cho máy bay địch lên xuống. Trên các mặt trận ta đang thắng lớn. Phía đông bắc Sài Gòn mặt trận Xuân Lộc là một điểm nóng. Được lệnh của trên bàn giao nhiệm vụ kiềm chế sân bay cho đơn vị bạn, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới, cán bộ chiến sĩ đều náo nức chờ đón nhiệm vụ mới. Trong buổi giao nhiệm vụ cho các đơn vị, đồng chí Nguyễn Thành Lộc - Trung đoàn trưởng giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 9 lật cánh sang hướng đông sân bay. Tiếp sau là nhiệm vụ của chúng tôi, anh nói: - Đây là nhiệm vụ mà Tiểu đoàn 23 (đặc công nước) và Tiểu đoàn 174 (pháo) phải làm bằng được với bất cứ giá nào. Đó là: đánh chiếm và chốt giữ cầu Mới (Hóa An) và cầu Ghềnh bảo đảm cho đại quân ta cơ động. Đây là trận đánh có ý nghĩa lịch sử. Với giọng rất truyền cảm, sâu lắng anh nói tiếp: - Trước đây khi giao nhiệm vụ cho các đồng chí phá cầu, không hoàn thành nhiệm vụ thì bị kỷ luật. Nhưng giờ đây không phá, mà phải giữ bằng được! Nếu không sẽ ảnh hưởng lớn. - Và đến đây giọng anh trầm xuống gần như tâm sự với chính mình, anh nói: - Là những người lính không gì khổ tâm bằng khi không hoàn thành nhiệm vụ, và nhất là nhiệm vụ quan trọng trong thời điểm lịch sử. Do đó chúng ta phải tập trung mọi khả năng để hoàn thành bằng được! Chia tay nhau, trên đường về cứ anh Dĩ nói vui với tôi như sau: - Bọn mình đánh ở dưới nước nay lên cạn, còn các bạn sở trường đánh từ xa, nay đánh thiệt gần. Dù khó khăn, ác liệt thế nào chúng mình cũng không ngán. Cứ xáp vô, miễn là “chí cốt” phải không? - Chúng tôi cười vang và xiết chặt tay nhau. Về tới đơn vị sau khi hội ý cấp ủy và Ban Chỉ huy xong, chúng tôi quán triệt nhiệm vụ cho anh em. Một mặt tiến hành giao số súng ĐKB (hỏa tiễn 122mm) về kho quân giới, đồng thời lĩnh vũ khí mới gồm: ĐKZ 82mm, cối 82mm, cối 60, súng chống tăng B40, B41, trọng liên 12,7mm, trung liên, thủ pháo, lựu đạn ... Đi đối với việc huấn luyện cấp tốc để anh em nắm vững kỹ thuật sử dụng loại vũ khí trang bị mới, chúng tôi tranh thủ tổ chức sinh hoạt chính trị, quán triệt nhiệm vụ mới vì từ trước đến nay đơn vị quen sử dụng pháo ĐKB bắn ở cự ly xa tuy gay go ác liệt, nhưng lần này cùng đơn vị bạn đánh chiếm và chốt giữ cầu, mặt đối mặt với kẻ thù anh em không khỏi băn khoăn. Vấn đề đặt ra là phải động viên giải thích để mọi người đều thông suốt. Qua bàn bạc dân chủ anh em đều thống nhất: dù phải hy sinh cả tính mạng nhưng anh em chỉ bàn cách khắc phục, không có ý kiến bàn lùi. Đợt huấn luyện 5 ngày đạt kết quả tốt, ai nấy đã sử dụng thành thục các loại trang bị mới. Sẵn sàng bước vào trận đánh. Trận đánh trước buổi bình minh của ngày toàn thắng. Ngày 25 tháng 4 năm 1975, chúng tôi rời hậu cứ gần trảng Nhà Nai (Chiến khu Đ) bắc thị trấn Tân Uyên hành quân ra mặt trận; đêm 26 tháng 4, vượt lộ 16 tiếp tục tiến về hướng mục tiêu. Tiếng súng của các mặt trận dồn dập dội về, như giục giã chúng tôi bước gấp (sau này được biết là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử bắt đầu). Đến địa điểm quy định đã gần nửa đêm, gió từ sông Đồng Nai thổi về mát rượi, bên kia sông là thành phố Biên Hòa có căn cứ của quân đoàn 3 và quân khu 3 ngụy và căn cứ không quân chiến lược Biên Hòa, ánh điện vẫn sáng rực ... Toàn bộ đội hình dừng lại ở khu vực phía đông ấp Tân Bản (nay thuộc phường Bửu Hòa), Chỉ huy sở trận đánh cũng ở đây, cách hai cầu khoảng một cây số. Đơn vị tôi bố trí ven ấp gần ngã ba cầu Hang. Theo phương án tác chiến, nhiệm vụ cụ thể các đơn vị như sau: - Đại đội 1 Tiểu đoàn 23 và Đại đội 14 Tiểu đoàn 174 đánh chiếm cầu Ghềnh. - Đại đội 3 Tiểu đoàn 23 và Đại đội 13 Tiểu đoàn 174 đánh chiếm cầu Hóa An. - Các đơn vị còn lại bố trí gần sở chỉ huy làm lực lượng dự bị, đồng thời có nhiệm vụ ngăn chặn địch từ hướng Thủ Đức, Dĩ An đánh lên. - Hỏa lực chi viện trực tiếp cho các đơn vị đánh chiếm hai cầu bố trí gần cầu Hang. - Đại đội 8 bố trí phía sau sử dụng bổn khẩu ĐKB chi viện cho các lực lượng phía trước. Về vị trí và tầm quan trọng của hai cầu Ghềnh và cầu Hóa An mà chúng tôi có nhiệm vụ chiếm giữ. - Cầu Ghềnh là cầu sắt có từ hồi Pháp thuộc, bắc qua sông Đồng Nai ở đầu Cù Lao Phố, cầu tuy hẹp nhưng vẫn dùng cho xe lửa và xe hơi qua lại. - Cầu Hóa An (cầu Mới) dài 800 mét ở phía thượng nguồn cách cầu Ghềnh 1 ki-lô-mét, là cầu bê tông kiên cố. Hồi tháng 10 năm 1974 bị một tổ của Tiểu đoàn đặc công 23 đánh sập hai nhịp, địch đã sửa lại, xe vận tải có thể qua lại được. Đánh chiếm, chốt giữ hai cầu này hết sức quan trọng: Một là, không cho địch rút về co cụm ở Sài Gòn. Hai là, bảo đảm đường cơ động cho các binh đoàn chủ lực ta tiến vào giải phóng Sài Gòn. Sau khi nghiên cứu địa hình, chúng tôi triển khai cho đơn vị đào công sự chiến đấu. Đêm đã khuya bà con trong xóm vẫn chưa ngủ. Giữa lúc này một thanh niên đến gặp chúng tôi cho biết tên anh là Tân, anh nói: - Xã này đã thành lập ủy ban khởi nghĩa do cô Hai (tức chị Hai Não) và chị Tám (Tám Huệ) lãnh đạo phái em đến để liên lạc với đằng mình, cần gì các anh cứ nói. Các anh về tụi em mừng quá trời. - Thế thì hay quá - Tôi nói - Anh đến thật đúng lúc, đề nghị anh cho biết tình hình ở khu vực này. Sau khi nói một số tình hình, anh chỉ tay về phía trước mặt nói tiếp: - Hồi hôm ở xóm Chùa cách đây khoảng 1.000 mét có lính và cả xe tăng mới đến, nhưng số lượng bao nhiêu thì chưa rõ.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #61 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2021, 01:54:44 pm » |
|
Tôi nghĩ sơ bộ như vậy là quý lắm rồi. Thấy bộ đội đào công sự mấy bác trong xóm đem trà nước cho anh em uống, một bác nhỏ nhẹ nói:
- Nói thiệt với mấy chú, tụi tôi thấy các chú đến mừng lắm. Nhưng thế nào cũng đánh nhau to, mà đánh nhau thì...
Bác ngừng lời, tôi nhẹ nhàng nói:
- Có gì bác cứ nói, đừng ngại.
Một lát sau bác tiếp lời:
- Nói các chú đừng buồn, ý bà con muốn giao lại nhà cửa vườn tược cho các chú, để đưa sắp nhỏ lánh xa làn tên mũi đạn.
- Bà con định đi đâu? - Tôi hỏi.
- Vô trỏng chứ còn đi đâu nữa mấy chú!
- Tức là vô Biên Hòa hay xuống Sài Gòn?
Các bác không ai trả lời mà chỉ thở dài... Tôi lại nói:
- Không ổn rồi! Cô bác ơi! Những chỗ ấy bộ đội mình nay mai cũng tiến về đó cả thôi.
Cuộc trao đổi tạm ngưng vì tôi phải nhận lệnh của Ban Chỉ huy trận đánh là khẩn trương hoàn thành mọi công tác chuẩn bị trước 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4. Sau khi phổ biến mệnh lệnh trên cho đơn vị, chúng tôi trao đối với nhau: trước tình hình nhân dân lo lắng nên cử cán bộ cùng anh em du kích đến từng nhà động viên bà con bình tĩnh ở lại bám đất, nổi dậy làm chủ xóm ấp. Cần có kế hoạch sơ tán số người già yếu và các cháu nhỏ về phía sau, số còn lại thì đào hầm ngay trong nhà, ngoài vườn để ẩn nấp.
Khi đã hiểu ra, bà con cô bác không những tự đào hầm cho mình mà còn giúp đỡ anh em làm công sự chiến đấu. Có nhiều gia đình tháo cả cánh cửa, ván nằm đưa cho chúng tôi làm nắp công sự chiến đấu.
Tuy đất rắn nhưng với nỗ lực của anh em lại được bà con giúp đỡ, 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4 chúng tôi đã hoàn thành mọi công việc chuẩn bị chiến đấu. Đúng 4 giờ 30 phút trận chiến bắt đầu.
Tại cầu Ghềnh, một mũi của ta bí mật tiếp cận ém sát mục tiêu, bất ngờ tập kích vào lực lượng địch canh giữ cầu. Bọn chúng trở tay không kịp hốt hoảng bỏ chạy, ta chiếm cầu và tổ chức lực lượng chốt giữ.
Tại cầu Hóa An khi ta tiến quân, gặp địch chốt tại ngã tư Tân Mỹ cách cầu 500 mét, buộc ta phải nổ súng đánh thốc lên chiếm cầu.
Chỉ trong vòng 30 phút, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm hai cầu, về phía ta không ai thương vong.
Nhưng nhiệm vụ tiếp sau là giữ cầu mới thực sự diễn ra vô cùng quyết liệt. 8 giờ 30 phút ngày 27 tháng 4, địch tổ chức phản kích chiếm lại cầu.
Mở đầu, pháo của chúng từ Thủ Đức bắn lên, từ Long Bình, Biên Hòa bắn tới, Châu Thới bắn qua. Đứng ở sở chỉ huy quan sát thấy từng cụm khói bốc cao, lẫn trong tiếng nổ vang rền. Tuy đã quen với cảnh tượng này nhưng tim tôi như thắt lại với nỗi lo: Liệu anh em mình có sao không? Có trụ vững không?
Nhưng cái gì thế kia? Những tiếng nổ đanh dồn dập của đạn B40, B41, ĐKZ 82, xen lẫn những tràng tiểu liên, trung liên, trọng liên 12,7mm của hai cánh quân ta, đánh thẳng vào đội hình của địch, chặn đứng bọn biệt động quân và lính dù ngụy có xe tăng yểm trợ phản kích hòng chiếm lại cầu. Bị giáng trả quyết liệt, bọn phía trước không tiên lên được, đội hình phía sau ùn lại. Tận dụng thời cơ, trận địa cối 82 của chúng tôi bắn cấp tập vào đội hình địch, gây cho chúng tổn thất nặng nề, một số chết, một số bị thương, số còn lại chạy nhốn nháo. Nhìn cảnh tượng ấy có đồng chí bỗng thốt lên:
- Đánh cừ lắm! Rất bài bản.
Như để trả lời đồng chí ấy, tôi nói: Đúng bài bản đấy! Nhưng bọn chúng lại xông lên bây giờ đấy mà, chuẩn bị đi thì vừa.
Quả đúng vậy! Tiếng súng lại rộ lên từ phía hai cầu xen lẫn tiếng súng của ta và địch. Còn nghe rõ tiếng động cơ xe tăng địch gầm rú, không gian như vỡ ra, đợt phản kích thứ hai của địch lại bắt đầu.
Cứ như vậy, suốt ngày 27 tháng 4 qua bốn đợt dùng xung lực, dưới sự yểm trợ tối đa của pháo và xe tăng, tấn công quyết liệt nhằm đánh bật ta ra khỏi cầu, nhưng đều thất bại.
Ngày 28 tháng 4, mới mờ sáng các trận địa pháo của địch bắn liên tiếp vào các chốt của ta. Sau đó năm trực thăng vũ trang của chúng từ hướng sân bay Tân Sơn Nhất tới bắn hỏa tiễn và đạn 12,8mm xuống trận địa của ta, mở đầu cho các đợt tấn công của bộ binh kết hợp với xe tăng nhằm chiếm lại cầu.
Hồi 10 giờ sáng cùng lúc với việc đánh chiếm hai cầu, địch còn dùng một tiểu đoàn đánh vào sở chỉ huy của ta.
Được du kích phối hợp, nhân dân lo cơm nước, cứu chữa chăm sóc thương binh, lực lượng ta bám trụ kiên cường, giáng trả địch quyết liệt tiêu diệt nhiều tên, thu 20 súng buộc chúng phải tháo chạy.
Ở hướng cầu Ghềnh hôm đó do lực lượng không cân sức, địch tạm thời chiêm được cầu. Nhưng ngay đêm hôm đó (28-4) ta tổ chức lực lượng phản kích chiếm lại cầu.
Suốt đêm hôm đó tất cả các bộ phận lại củng cố công sự, chuẩn bị vũ khí, giải quyết hậu quả, sẵn sàng đánh trả các đợt tiến công của địch. Ngày 29 tháng 4, sau nhiều lần dùng máy bay L19 trinh sát thăm dò lực lượng ta, vẫn theo nếp cũ, pháo địch lại bắn phá điên cuồng vào các chốt của ta: lần này chúng sử dụng hai tiểu đoàn bộ binh kết hợp với xe tăng đánh vào hai cầu và chốt của ta ở cầu Hang.
Hướng cầu Ghềnh, Đại đội 1 Tiểu đoàn 23 và Đại đội pháo 174 chiếm lĩnh địa hình có lợi, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch diệt hàng trăm tên, bắn cháy năm xe tăng. Ba đồng chí trong Ban Chỉ huy đại đội 1 trong một lần tiến công của địch bị chúng bao vây chia cắt đội hình, không liên lạc được với anh em. Các đồng chí không nao núng, chiến đấu rất kiên cường, mưu trí, vừa nghi binh đánh lừa địch, vừa chiến đấu diệt nhiều tên, bằng mọi thứ vũ khí có trong tay nhằm kéo dài cuộc chiến đấu không cân sức với hàng trăm tên lính ngụy. Các đồng chí đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và anh dũng hy sinh tại trận địa.
Tại cầu Hóa An, các chiến sĩ ta ngoan cường giành đi giật lại từng tấc đất với địch để giữ cầu.
Ngoài lực lượng địch đánh chiếm hai cầu, chúng còn dùng lực lượng mạnh nhằm đánh bật chốt ở cầu Hang do đại đội pháo chiếm giữ.
Đây là một vị trí quan trọng vì không những chi viện trực tiếp cho lực lượng chốt giữ cầu, mà còn là một vị trí “yết hầu” nhằm án ngữ không cho địch rút chạy về Sài Gòn, đồng thời ngăn chặn các lực lượng của chúng từ Thủ Đức, Dĩ An lên chi viện cho lực lượng chúng đánh chiếm cầu.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #62 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2021, 01:55:29 pm » |
|
Trời vừa mờ sáng (ngày 29 tháng 4 năm 1975) tổ cảnh giới báo cáo: bộ binh địch từ hướng cầu Hóa An theo trục lộ tiến về phía ta. Khi tốp đi đầu cách trận địa ta 100 mét rồi 50 mét, lập tức các cỡ súng AK, trung liên, B40 nổ đồng loạt. Xác địch liên tiếp đổ xuống mặt lộ và rải rác ở các thửa ruộng ven lộ, số còn lại chạy toán loạn. Bị một đòn phủ đầu choáng váng, chúng không dám tiến lên nữa. Lợi dụng các bờ ruộng, mương cạn ẩn nấp, gọi pháo bắn vào chốt của ta.
Loạt pháo cuối cùng của chúng vừa dứt, trên trục lộ xuất hiện sáu xe tăng nối đuôi nhau chạy về hướng chúng tôi. Tiếng xích sắt và động cơ ầm ầm, mặt đất như rung chuyển. Chiếc đi đầu vừa chạy vừa bắn xối xả vào phía chốt. Lợi dụng các thửa ruộng khô hai bên lộ, chúng triển khai đội hình cách trận địa ta khoảng 300 mét.
Khẩu đội ĐKZ 82 của đồng chí Nghị ở gần chiếc đi đầu nhất, pháo thủ số 1 - Lã Văn Điều đề nghị khẩu đội trưởng cho bắn, nhưng đồng chí Nghị nhắc Điều cứ để thật gần mới bắn. Khi khối thép di động còn cách trận địa 100 mét thì khẩu ĐKZ chồm lên kèm theo hai tiếng nổ hầu như cùng một lúc, chiếc M41 trúng đạn bốc cháy. Chiếc thứ hai của chúng vượt lên thì cũng chịu chung số phận. Bốn chiếc còn lại bắn xối xả về phía ta và tiếp tục xông lên. Đồng chí Nghị hạ lệnh nạp đạn tiếp. Nhưng lúc này chân pháo bị mảnh đạn của địch tiện gãy. Khẩu đội trưởng hy sinh, một số đồng chí khác bị thương, đồng chí Điều cũng bị thương vào trán máu chảy tràn xuống sống mũi và một bên mắt chưa kịp băng bó. Chúng tôi định cho khẩu đội ngưng bắn lui về phía sau!
Nhưng thật bất ngờ! Đồng chí Điều bật khỏi công sự, đứng thẳng tư thế hiên ngang với nòng pháo còn nóng bỏng trên vai, động tác chính xác, dứt khoát giật cò. Chiếc xe tăng thứ 3 của địch bốc cháy, những chiếc còn lại đứng tại chỗ không dám tiến lên chỉ dùng hỏa lực bắn xối xả vào chốt của ta. Điều nạp tiếp quả đạn thứ 4. Nhưng... chưa kịp giật cò, thì đạn của địch trúng nòng pháo của Điều, quả đạn trong nòng nổ! Đồng chí Điều hy sinh trong tư thế ngẩng cao đầu “Nhằm thẳng quân thù bắn!”. Noi gương Điều, các khẩu khác tới tấp nã đạn vào quân địch. Những chiếc xe tăng còn lại quay đầu bỏ chạy, bộ binh của chúng hoảng sợ, bám theo xe tăng chạy thục mạng về hướng Xóm Chùa.
Ở một hướng khác, Nguyễn Tiến Huân - trinh sát viên của tiểu đoàn tăng cường cho đơn vị, khi xạ thủ B41 bị thương, Huân xin thay thế, đã bắn cháy hai xe tăng địch. Khi bị thương vẫn không rời trận địa đã cùng đại đội đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, diệt nhiều tên.
Khoảng 12 giờ trưa địch chuyển hướng tiến công từ chính diện sang tiến công cạnh sườn, chúng sử dụng chín xe tăng kết hợp với bộ binh tiến công phía sườn trái chúng tôi.
Xe tăng của chúng chạy băng băng trên các thửa ruộng tiến lên chiếm lĩnh dãy đồi cao cách chúng tôi 800 mét (nay là khu khai thác đá) dùng pháo trên xe bắn xối xả vào đội hình của ta. Hướng chính diện chúng dùng xe kéo hai khẩu pháo 105mm đặt ngay trên lộ bắn thẳng vào chốt của chúng tôi. Trận địa cối 106,7mm trên núi Châu Thới cũng bắn dồn dập vào đội hình phía sau và trận địa cối 82mm của ta. Đợt tập kích hỏa lực của chúng làm sập một số công sự, một số đồng chí ta hy sinh và bị thương. Trước tình hình đó chúng tôi hội ý cán bộ hạ quyết tâm: bất luận tình huống nào cũng phải giữ vững trận địa, với khẩu hiệu hành động là: “Còn người còn trận địa”. Một mặt điều chỉnh binh hỏa lực, củng cố công sự, bố trí đội hình hợp lý. Mặt khác cán bộ đi đến từng tổ chiến đấu động viên anh em, củng cố quyết tâm... Qua mạng thông tin báo cáo tình hình lên cấp trên và xin chi viện hỏa lực.
Từ sở chỉ huy, đồng chí Đinh Xuân Nghiêm - Tham mưu trưởng Trung đoàn động viên chúng tôi phải giữ được trận địa bằng mọi giá. Trung đoàn sẽ chi viện cho các đồng chí, cần hiệp đồng chặt chẽ với đại đội 8 quan sát hiệu chỉnh bắn cho tốt, sau cùng anh thông báo:
- Đại quân ta đã tiến gần tới chỗ các đồng chí rồi đấy! Thông báo cho anh em. Cần giữ vững quyết tâm. Chúc các đồng chí thắng lợi!
Chúng tôi phổ biến ngay lệnh của Trung đoàn và tin đại quân ta đang đến. Anh em rất phấn khởi như được tiếp thêm sức mạnh.
Sau khi hiệu chỉnh chính xác đạn bắn thử, thì từ trận địa phía sau, từng loạt, từng loạt hỏa tiễn ĐKB của đại đội 8 bắn cấp tập vào cụm bộ binh và xe tăng, trận địa cối của địch trên núi Châu Thới. Phối hợp với trận địa ĐKB, trận địa cối 82 của chúng tôi tới tấp nhả đạn vào hai khẩu pháo của địch đặt trên lộ. Đạn pháo và cối của ta trùm lên các mục tiêu của địch, phá hủy một khẩu pháo 105mm, trận địa cối trên núi Châu Thới phải câm họng, số còn lại phải bỏ chạy. Khi loạt đạn cuối cùng của ta vừa dứt, bộ binh và xe tăng địch chạy nhốn nháo.
Từ phía Tân Uyên, các cỡ súng nổ dồn dập (sau này được biết là cánh quân Quân đoàn 1 của ta đang đánh địch ở hướng đó).
Đội hình của địch lúc này càng nhốn nháo, cuối cùng chúng phải tháo chạy bỏ dở cuộc tiến công.
Mặt trời đã khuất sau rặng núi phía xa, những tia nắng cuối cùng tắt hẳn. Không gian như dịu lại khi màn đêm buông xuống, chúng tôi sơ bộ tổng hợp tình hình: Trong ngày đơn vị đã đánh lui năm đợt phản kích của địch, diệt hàng trăm tên; bắn cháy bảy xe tăng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhưng nhiệm vụ tiếp theo vẫn còn phải cố gắng nhiều. Chúng tôi lại bắt tay vào công việc chuẩn bị cho ngày mai...
Đến đây chúng tôi muốn nói về tấm lòng của nhân dân đối với đơn vị qua những ngày chiến đấu. Trong lúc anh em du kích phối hợp chiến đấu, thì một số bà con lo cơm nước cho chúng tôi.
Đối với người lính, trong công tác và chiến đấu, cảnh đói cơm khát nước là chuyện thường. Nhưng hoàn cảnh của chúng tôi lúc bấy giờ thật vô cùng khó khăn. Thời tiết vào cuối mùa khô, mặt trời như đổ lửa, mình phơi dưới cái nắng như nung, cộng thêm khói lửa mịt mù của mưa bom bão đạn. Không khí càng bị nung nóng thêm, ngột ngạt vô cùng. Áo quần ai nấy đều bê bết đẫm mồ hôi, khói bụi - mặt mũi sạm đen, môi nứt nẻ, cổ họng rát bỏng vì khát! Khát đến cực độ thì bà con cô bác bất chấp nguy hiểm, đem tới tận chiến hào cho chúng tôi những bình trà, ca nước. Lúc này quý giá biết chừng nào!
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #63 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2021, 01:56:33 pm » |
|
Trên các khu vực xảy ra chiến sự, bom pháo địch bắn bừa bãi bất chấp khu dân cư, mà nhiều nhất là ở khu chợ Đồn, Tân Bản nhiều nhà cửa bị sập, bị cháy. Ở Tân Bửu chiều 29 tháng 4, pháo địch bắn trúng nhà của các bác Sáu Tây, Hai Căn, Chín Thăm, lửa bốc cháy ngùn ngụt, chúng tôi điều động một số anh em đi cứu chữa tài sản cho dân, nhưng bà con ngăn lại và nói:
- Trước sau gì thì nhà cũng cháy rồi, may mà còn người. Các chú cứ lo đánh tụi nó đi (ý nói địch) nay mai yên bình rồi làm lại mấy hồi.
Tấm lòng của nhân dân đối với cách mạng, với các chiến sĩ thân yêu thật quý giá biết nhường nào! Việc chăm sóc thương binh, khâm liệm, mai táng tử sĩ được các bác Tư Minh, Hai Sớt, Năm Được, Tư Nhị và nhiều bà con cô bác làm rất chu đáo, tận tình. Họ làm mà nước mắt lưng tròng, nhiều người khóc ròng, trước tình cảm đó chúng tôi vô cùng xúc động. Tình cảm thân thương trìu mến mà bà con cô bác dành cho chúng tôi - những người đang sống cũng như người đã khuất, mãi mãi in sâu vào tâm trí chúng tôi.
Trên 60 cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn đã ngã xuống bên bờ sông Phố và ven sông Đồng Nai trước ngày toàn thắng, đã được nhân dân mai táng chu đáo, và đã trang trọng ghi tên các anh vào danh sách liệt sĩ của địa phương mình.
Hàng năm cứ đến dịp kỷ niệm chiến thắng 30 tháng 4 và 27 tháng 7, cấp ủy và chính quyền địa phương đều gởi thư thăm hỏi gia đình các liệt sĩ.
Nhân đây cũng xin nói thêm một kỷ niệm về các đồng chí lãnh đạo địa phương đối với đơn vị trong những ngày này.
Chiều 1 tháng 5 năm 1975, sau khi nắm tình hình giải quyết một số công việc cho các địa phương ở hướng tây, chúng tôi đi trên chiếc xe Jeép chiến lợi phẩm để qua căn cứ Hốc Bà Thức (đông thành phố) do Tiểu đoàn 9 chiếm giữ.
Xe chúng tôi đến cầu Ghềnh thì chốt cầu gồm bốn đồng chí còn lại của Đại đội 1 Tiểu đoàn 23 đón chúng tôi. Mặc dù rất mệt nhưng ánh mắt các đồng chí vẫn sáng ngời, với nụ cười rạng rỡ trong niềm vui chiến thắng. Đó cũng là những người đầu tiên đón chúng tôi. Dọc đường xe chúng tôi chạy qua ngổn ngang các thứ vũ khí, quân trang, quân dụng của địch bỏ lại làm cản trở giao thông.
Xe chúng tôi ghé qua tòa thị chính (dinh tỉnh trưởng ngụy) nay là trụ sở ủy ban nhân dân tỉnh gặp anh Năm Trang (Phan Văn Trang) và các anh trong Ban Quân quản. Gặp nhau tay bắt mặt mừng, trong không khí của ngày vui toàn thắng. Chúng tôi báo cáo tình hình và kết quả chiến đấu của đơn vị, các anh rất vui, anh Năm lại hỏi:
- Anh em mình thương vong có nhiều không? - Nén xúc động chúng tôi báo cáo tiếp:
- Số hy sinh nắm chưa đầy đủ nhưng khoảng 60 đồng chí. Số bị thương cũng gần như vậy!
Tất cả đều lặng đi. Lát sau bằng một giọng trầm hẳn xuống anh Năm hỏi tiếp:
- Số anh em bị thương giờ nằm ở đâu?
Đồng chí Nguyễn Thanh Lộc báo cáo:
- Đơn vị được bà con giúp đỡ đã đưa anh em về nhà thương Biên Hòa hồi chiều 30 tháng 4, chút nữa chúng tôi ghé thăm anh em.
Suy nghĩ giây lát và sau khi trao đổi với các anh lãnh đạo, anh nói:
- Tuy rất bận nhưng chúng tôi sẽ cùng các anh đến thăm anh em. Tôi sẽ làm “giao liên” vì tôi rành đường lắm.
Bệnh viện Biên Hòa tiếp nhận hầu hết thương binh của các đơn vị chiến đấu ở địa bàn thị xã và phụ cận, nhưng nhiều nhất vẫn là thương binh của Đoàn Đặc công 113. Anh em được các y bác sĩ giải phóng cùng với một số nhân viên y tế chế độ cũ tận tình cứu chữa.
Chúng tôi dành nhiều thời gian để thăm hỏi động viên anh em. Các đồng chí lãnh đạo địa phương còn muốn ở lại thêm nữa với anh em, nhưng công việc rất bận nên tạm chia tay.
Xe chúng tôi đến căn cứ Hốc Bà Thức, đây là căn cứ, hậu cứ của lữ đoàn kỵ binh thiết giáp số 15 ngụy và liên đoàn biệt kích 81 ngụy. Đêm 29 tháng 4 Tiểu đoàn 9 đã bí mật tập kích đánh chiếm và làm chủ hoàn toàn căn cứ này để bảo đảm thông đường tiến quân cho các cánh quân đánh chiếm sân bay Biên Hòa, bộ tư lệnh quân đoàn 3 ngụy, giải phóng thành phố Biên Hòa.
Tại sở chỉ huy tiểu đoàn (trước đây là bản doanh của chuẩn tướng Lê Quang Khôi - lữ trưởng lữ 15 ngụy), đồng chí Đỗ Văn Ninh - Trung đoàn phó, người chỉ huy đánh căn cứ Hốc Bà Thức và Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 9 vui mừng chào đón chúng tôi.
Mới xa nhau mấy ngày mà ai cũng tưởng như hàng năm mới gặp. Chúng tôi kể cho nhau nghe diễn biến chiến đấu của từng cánh, gương chiến đấu dũng cảm mưu trí của những tập thể và cá nhân các đơn vị, trong niềm tự hào nhưng không khỏi xót xa khi nghĩ đến nhiều đồng chí không còn nữa để chung vui ngày toàn thắng.
Kể về sự giúp đỡ của nhân dân trong đợt chiến đấu vừa qua, mọi người đều chung ý nghĩ, nếu như không được dân giúp đỡ thì nhiệm vụ của chúng tôi sẽ khó khăn biết chừng nào!
Sau câu chuyện hàn huyên, chúng tôi lại tiếp tục bàn kế hoạch triển khai công việc. Thắng lợi rồi nhưng chưa phải lúc nghỉ ngơi. Nhiệm vụ mới đang chờ!
Đã nhiều năm trôi qua, thời gian đã làm cho ai đó phai nhạt đi nhiều kỷ niệm và nhiều hình ảnh thân thương. Nhưng với chúng tôi, những cán bộ chiến sĩ Đoàn đặc công 113 quên làm sao được? Mỗi khi qua cầu Mới, cầu Ghềnh, nhìn những nhịp cầu soi bóng xuống dòng sông, và những dòng người, những đoàn xe tấp nập qua lại, lòng chúng tôi vô cùng xúc động nhớ lại bao kỷ niệm. Chính nơi đây qua ba ngày đêm, cán bộ chiến sĩ chúng tôi đã dũng cảm, mưu trí chịu đựng mọi thủ thách gay go, ác liệt, lập nên những chiến công hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ cầu, diệt hàng trăm tên địch, bắn cháy xe tăng, phá hủy và phá hỏng nhiêu khẩu pháo của địch. Chúng tôi không thể nào quên nơi đây trên 60 đồng chí đã ngã xuống và đã thấm máu biết bao nhiêu cán bộ, chiến sĩ thân yêu. Trận địa cầu Mới, cầu Ghềnh đã tô thắm thêm truyền thống của Trung đoàn 113. Và mãi mãi thắm đượm tình nghĩa quân, dân cá nước.
Qua bài viết này, xin nêu lên đôi điều cảm nghĩ của chúng tôi, mà cũng là cảm nghĩ của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Đoàn đặc công 113 về mảnh đất Biên Hòa với những tên làng, tên núi, tên sông, đều gắn liền với chiến công của đơn vị. Thân thương biết mấy, khi nhắc tới Thiện Tân, Đại An, Hưng Nghĩa, Bàu Hàm, Bình Sơn, An Viễn, Tân Hiệp, Tân Vạn, Bửu Hòa, Tân Phong, Tân Mai, Tân Bửu, Hóa An, Hiệp Hòa... Tuy nghèo nhưng giàu lòng yêu nước, chắt chiu từng lon gạo, hạt muối nuôi quân. Chăm lo cho các chiến sĩ như con em ruột thịt của mình. Từ lòng đất núi Bùng Binh, Giang Tới, Ông Tạ là áo giáp chở che cho đoàn quân tinh nhuệ. Và đây nữa những dòng sông quê mẹ Đồng Nai, sông Bé, sông Buông... đã bao lần đưa đón các đoàn quân xuôi ngược, từng chứng kiến những chiến công của quân ta trên sông nước của cảng Long Bình Tân, cầu Mới, cầu Ghềnh.
Sân bay chiến lược Biên Hòa, tổng kho liên hợp Long Bình - “mục tiêu điểm của chiến trường trọng điểm” bị đánh đi đánh lại nhiểu lần bằng những đòn đánh hiểm, những đòn sấm sét làm cho kẻ thù choáng váng, hoang mang.
Những tháng năm chiến đấu hào hùng, Đoàn Đặc công 113 chúng tôi sinh ra và lớn nhanh như Phù Đổng, mà cái nôi là mảnh đất Biên Hòa “miền Đông gian lao mà anh dũng” hun đúc bồi đắp hào khí Đồng Nai. Đảng bộ địa phương chăm sóc, nhân dân yêu thương đùm bọc, tạo điều kiện cho chúng tôi làm nên những chiến thắng diệu kỳ.
Ngày nay trong hòa bình, Đảng bộ và nhân dân đã dựng lên những tượng đài chiến thắng và dành vị trí trang trọng ghi tên những đơn vị đã từng chiến đấu trên mảnh đất Biên Hòa, trong đó có Đoàn Đặc công 113 chúng tôi.
Về phần mình, cán bộ, chiến sĩ các thế hệ của Trung đoàn từ vị tướng tới binh nhì dù còn tại ngũ hay đã về với đời thường, từ trái tim mình luôn luôn ghi nhớ những tình cảm mà Đảng bộ và nhân dân dành cho đơn vị. Xin nguyện giữ gìn và phát huy truyền thống của bộ đội đặc công: “Đặc biệt tinh nhuệ, anh dũng tuyệt vời. Mưu trí sáng tạo, đánh hiểm thắng lớn” và Đoàn Đặc công 113 ba lần được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Mãi mãi xứng đáng với niềm tin của Đảng bộ và nhân dân Biên Hòa, Đồng Nai trăm quý ngàn thương.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #64 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2021, 01:58:50 pm » |
|
ĐÊM TRƯỚC NGÀY TOÀN THẮNG NGUYỄN LONG HƯNG Nguyên cán bộ mũi trưởng Tiểu đoàn 9 - trung tá công an Thành phố Hồ Chí Minh Ngày họp mặt truyền thống các cựu chiến binh Đoàn đặc công 113, mặc dù địa bàn rộng gồm Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, vậy mà mới 8 giờ sáng, khuôn viên Bảo tàng lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ đã khá đông đại biểu, tiếng cười nói rộn ràng, tay bắt, mặt mừng, nhìn ai cũng thấy trẻ trung, hồn hậu, tựa như lúc ở căn cứ đóng quân trong ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975 vậy. Gặp lại bạn bè tóc đã điểm màu thời gian, lớp đàn anh nhiều ngươi đã bạc trắng, tất cả kỷ niệm xưa lại òa vào trong tôi và lần lượt hiển hiện như những thước phim tái hiện hình ảnh 28 năm về trước. Ngồi cùng với Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tùng - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Trung đoàn trưởng đầu tiên Đoàn đặc công 113, cùng các anh Nguyễn Quốc Hoàn, Đàm Chu Văn từ Đồng Nai lên, lòng tôi rộn ràng, xao xuyến nhớ lại cái không khí náo nức của đêm bước vào trận đánh cuối cùng để đi tới ngày bình minh toàn thắng. Đó là đêm 29 tháng 4 năm 1975, bầu trời đầy sao, trăng sáng lắm (dường như 14 hay rằm tháng 3 thì phải). Tiểu đoàn 9 đặc công chúng tôi được chia làm hai mũi, xuất phát từ căn cứ Bùng Binh, xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu. Nhiệm vụ của đơn vị là đánh theo yêu cầu (không có điều nghiên chuẩn bị trước) tập kích và đánh chiếm căn cứ lữ đoàn thiết giáp số 15 và lữ đoàn dù 81 của ngụy ở Hốc Bà Thức. Tôi có vinh dự được cấp trên tin tưởng phân công chỉ huy trung đội mũi nhọn, có nhiệm vụ mở cửa cho tiểu đoàn bí mật đột nhập vào căn cứ. Bên cạnh tôi là Hồng - tổ trưởng và Lợi - xạ thủ B40 cùng tham gia cắt rào. Dưới ánh trăng, sao, căn cứ thiết đoàn 15 hiện ra khá rõ với năm hàng rào kẽm gai và bờ đê bao quanh khá cao để bảo vệ. Mặt đê chúng đặt các bót canh, thân đê với hệ thống lô cốt đen ngòm các lỗ châu mai sẵn sàng nhả đạn. Khoảng cách từ chân hàng rào thứ nhất đến bờ đê tầm 300 mét. Đèn pha trên căn cứ quét lia lịa. Pháo sáng từ phi trường Biên Hòa hắt lên làm cho mọi vật đều thấy rõ mồn một. Lệnh nổ súng vào đúng 24 giờ, song vào thời điểm ấy cả đội hình mới qua được hai hàng rào. Hàng rào cũi lợn rộng khoảng 40 mét và hàng rào chữ A, xen giữa là hàng rào lưỡi lam với các loại mìn được bố trí cài cắm dày đặc. Nhìn đồng hồ đeo tay các chữ số màu dạ quang nổi lên chỉ rõ thời gian đã qua khá xa mà chướng ngại hãy còn nhiều, lòng tôi như lửa đốt, quên hết mọi hiểm nguy. Khi chỉ còn hàng rào cuối cùng là lọt được vào bên trong căn cứ thì bất chợt tên lính gác trên đê phát hiện. Lập tức chúng xả súng bắn về phía đội hình và nhảy xuống thân đê chui vào lô cốt. Tình thế thật cấp bách, để cứu toàn đội hình đang nằm kẹt giữa các chướng ngại, tổ đầu cầu vụt dậy nhảy qua lớp rào cuối cùng áp sát chân đê và dựa vào đê làm lá chắn, ném thủ pháo, lựu đạn vào lỗ châu mai. Khẩu súng B40 cũng kịp thời phóng được mấy quả vào phía trong đội hình địch. Do tác động chung của toàn chiến trường, đặc biệt tuyến phòng thủ cuối cùng của địch ở Xuân Lộc, Dầu Giây và nhiều nơi khác chúng đã nao núng, hoang mang. Khi xuất hiện những tiếng nổ lạ và đanh, biết chúng bị tấn công, sẵn đà cả căn cứ Hốc Bà Thức náo loạn, một số xe nổ máy theo trục đường chạy thoát thân. Nhưng để tránh sự truy kích của đối phương và bị tiêu diệt, nên chúng quay súng bắn xối xả ra phía sau và cả hai bên đường. Khoảng 4 giờ sáng, lực lượng ta đã chiếm lĩnh và làm chủ toàn bộ căn cứ. Nhưng cũng vừa lúc máy bay trực thăng võ trang địch từng tốp, từng tốp thay nhau tới bắn xối xả xuống căn cứ. Lợi dụng địa hình địa vật để bảo toàn lực lượng, nên ta hạn chế được thương vong. Khoảng 8 giờ sáng, xe tăng và bộ binh của đại quân ta tiến qua Hố Nai để về giải phóng Sài Gòn, bọn địch ở khu vực căn cứ Hốc Bà Thức cũng nháo nhác vứt bỏ mọi thứ tìm đường chạy thoát thân, một cảnh tượng diễn ra chưa từng thấy của đội quân bại trận. Quá trình lùng sục tảo trừ, anh em phát hiện và bắt được một tên địch ngay tại căn cứ. Tên này tướng mạo ngon lành nhưng rất ngoan cố, không khai cương vị gì. Bởi như nó nói: các ông làm gì mà chiếm được Sài Gòn! Hóa ra nó ngạo mạn và mù quáng đến như vậy. Tới khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, chúng mới hay toàn bộ chính quyền Sài Gòn đã hoàn toàn sụp đổ. Ngay lúc ấy tên này mới khai: hắn là trung tá, lữ đoàn trưởng chiến đoàn 15 ngụy, xin cúi đầu nhận hết tội lỗi và tha chết cho nó. Lá cờ cách mạng được giương cao tung bay trong nắng mới trên căn cứ thiết giáp của quân thù còn vương mùi thuốc súng. Trong trận này, anh Tam - cán bộ đại đội hy sinh, vết thương tuy không nặng nhưng bị nhiễm vi trùng uốn ván. Hình ảnh hy sinh của anh trước giờ toàn thắng, làm cho tất cả đơn vị ngậm ngùi thương tiếc. Ngay sau đó, chúng tôi tiếp tục nhận lệnh triển khai bảo vệ căn cứ, đề phòng tàn quân địch bắn lén nhằm trả thù. Những kỷ niệm không thể nào quên Trưa hôm ấy, cả tiểu đoàn dường như không ngủ được, nhìn cảnh ngổn ngang xe pháo địch vứt lại. Có những chiếc xe tăng còn khởi động nổ máy chúng chưa kịp tắt. Những chiếc xe Hon-đa của bọn chỉ huy còn nguyên nước sơn. Anh Tuyến, Tiểu đoàn phó hăm hở khởi động máy đi thử một chiếc để chạy quanh căn cứ, đắc chí lắm. Nhưng khốn nỗi không biết thao tác điều khiển nên xe cứ như chú ngựa bất kham. Bí quá anh nảy ra một “sáng kiến” cho xe chồm vào ụ mối, thế là cả người và xe ngã lăn ra. Khi lồm cồm dậy chỉ xây xát đôi chút, miệng cười như để chữa thẹn mà rằng: - May quá, không bận gì, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ. Nhân sự kiện ấy, anh em đơn vị đàm tiếu rằng: phi công khi thất thủ phải nhảy dù từ máy bay trên bầu trời bao la, còn anh Tuyến nhà ta, đi xe Hon-đa bí quá “nhảy dù” vào ụ mối, thật là một phát kiến kỳ diệu ... Kể từ giờ phút ấy, anh chưa dám dùng xe máy nhưng quyết tâm tập cho kỳ được để sử dụng nó. Buổi chiều ấy, tôi với anh hai người hai xe đạp phóng dọc lộ 24 trở về thăm bà con cô bác ở xã Thiện Tân. Gặp nhau giữa ngày toàn thắng, niêm vui không thể nói nên lời. Câu hỏi đầu tiên của những người thân quen tại đây là: - Trận đánh sau cùng đêm qua, anh em có ai hy sinh? Ai bị thương? Khi nghe tin anh Tam không còn cơ hội gặp lại người thân giữa ngày vui sum họp, nhiều mẹ, nhiều chị đã bật thành tiếng khóc thương xót cho anh như chính là thân nhân của mình.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #65 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2021, 01:59:23 pm » |
|
Nhớ lại những năm tháng bám trụ tại căn cứ Bùng Binh bốn bề là giặc, bom pháo rần rần, sống chết đến với mình từng giây, từng phút. Thế mà luôn lạc quan yêu đời bởi niềm tin tất thắng. Bên cạnh đơn vị còn có lãnh đạo địa phương, cô bác, anh chị sẵn sàng chia sẻ từng hạt gạo, củ khoai, mọi thứ sinh hoạt khác. Dân che chở yêu thương đùm bọc, nên kẻ thù dù có quỷ quyệt tàn bạo tới đâu cũng hoàn toàn bị bất lực.
Một lần khác đi trinh sát sân bay Biên Hòa, cả nhóm năm người gồm: Hưng, Chinh, Bảo, Khiêm (gù) dưới sự chỉ huy của anh Lũy - Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 9. Từ căn cứ Bùng Binh, xã Thiện Tân - chúng tôi ra đi do Bảo dẫn đường. Hướng đột kích là dọc suối Dầu, bởi con suối này dầu mỡ từ sân bay chảy ra rất nhiều. Tới khu vực tập kết, Bảo chỉ hướng, tôi chống rào và khắc phục mìn, cắm lỗ tiêu, Chinh, Khiêm tổ viên. Bảo cho biết chỗ này có năm hàng rào, một đường xe tuần tra cơ giới. Khu vực sân bay ban đêm ngoài hệ thống đèn cao áp, còn có pháo sáng từ máy bay và mặt đất bắn lên sáng rực. Bên cạnh các tốp lính đi tuần tra, chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể bị phát hiện. Tổ chúng tôi vượt qua ba hàng rào êm xuôi, chuẩn bị vượt hàng rào thứ tư, bỗng phát ra tiếng nổ rầm ở phía sau đội hình. Tất cả như nín thở để nghe ngóng động tĩnh. Nếu bị lộ thì chỉ có thể chấp nhận sự hy sinh, bởi lúc này chẳng khác nào những con chim đang bị nhốt trong lồng sắt vậy. Nhưng may thay, cái giây phút có thể đổi bằng cả sinh mạng ấy cũng qua đi. Chúng tôi lần lượt xóa dấu vết lui ra. Đến một quãng không xa thì gặp anh Lũy đang trong trạng thái hết sức nguy kịch. Một bàn chân bị nát vụn do dẫm phải quả mìn dip M14, chỉ còn dính chút da. Chúng tôi dùng dao găm cắt luôn và ga rô cầm máu, đưa anh ra ngoài. Lúc này mới sực nhớ là chỗ anh Lũy bị thương, vết máu và các mẩu thịt còn vương lại chưa được xóa dấu vết. Để vậy, hôm sau địch phát hiện, có thể rất nguy hiểm cho các đợt đi trinh sát sau này. Thế rồi tôi trở vào lần lượt làm mọi động tác để trả lại nguyên trạng ban đầu. Sau đó thay nhau cõng anh Lũy trở về căn cứ. Đến đây mới biết cả mấy anh em vẫn còn sống để tìm một cơ hội khác cho kế hoạch. Dọc đường tôi hỏi anh Lũy: nhiệm vụ anh là chỉ tới hàng rào ngoài cùng, điểm tập kết đầu tiên, cớ chi anh lại tự động chui vào lệch hướng để dẫm phải mìn, nó “xin” mất một bàn chân? Trong cơn đau vì vết thương lại cả phần thương anh em vất vả với mình, anh Lũy cho biết:
- Ở ngoài thấy bọn bay tiếp cận ngon lành quá. Tao cứ nghĩ vào thêm ít hàng rào rồi cùng ra với nhau khi công việc hoàn thành. Ngờ đâu sai một ly đi một dặm, nghiệt ngã thật. Anh còn tỏ ra ân hận: thế là từ nay tao không còn cơ hội cùng với tụi bay, với đơn vị đi tới ngày toàn thắng.
Nghe anh nói trong cơn đau rỉ máu mà chúng tôi thấy nghẹn ngào. Bởi anh là một cán bộ Tiểu đoàn có uy tín, biết thương yêu cấp dưới, đồng cam cộng khổ. Anh bị thương cũng chỉ vì trách nhiệm cao cả của người chỉ huy, chớ ai lại vào chỗ chết người mà làm gì...
Kể cũng lạ, một tiếng nổ khá giòn như thế mà bọn lính gác gần đó và cả lũ tuần tra không hề hay biết. Bởi lúc ấy gió thôi rào rào, trong sân bay nhiều âm thanh hỗn hợp cộng với tiếng động cơ máy bay nên chúng đánh bạt trộn lẫn tiếng mìn vậy. Lúc này tôi sực nhớ ra cái bàn chân nát vụn của anh Lũy được tôi gói vào trong chiếc xà líp đặc công thường dùng để đưa ra ngoài chưa kịp chôn cất, trở nên lạnh toát đến rợn người. Ôi phần thi thể mà tạo hóa ban tặng cho anh từ nay xa lìa thân chủ, mất mát này sẽ không thể bù đắp được, anh Lũy ơi. Chúng tôi dìu anh về tới căn cứ Bùng Binh, được y sĩ Nhu dùng lưỡi dao lam cắt bỏ phần dập nát và chăm sóc vết thương rồi chuyển tiếp về tuyến sau điều trị. Tưởng rằng chỉ dừng lại chừng đó, sự mất mát trong chiến tranh khó tránh đối với người lính, dần dần sẽ được bù đắp. Không ngờ chân anh bị hoại tử, hai lần bị cắt bỏ tháo khớp lên tới háng. Nay anh là một thương binh nặng, có tổ ấm gia đình, anh sống với vợ con tại quê hương Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Hơn một tháng sau, Bảo và Khiêm vào trinh sát trở lại. Lúc ấy tôi đang ở trên R để huấn luyện kỹ thuật đặc công cho số quân từ miền Bắc mới vào. Quỷ quyệt hơn, kẻ thù tăng cường cài mìn, cạm bẫy dày đặc. Một quả mìn định hướng phát nổ. Bảo - một chiến sĩ trinh sát của tiểu đoàn khá dày dạn kinh nghiệm đã anh dũng hy sinh, còn Khiêm bị thương nặng không còn khả năng chiến đấu.
Trước khi đi trinh sát lần đầu cách đó bốn ngày, vì trăng sáng quá, địch gác lại dày không thể vào được, đành tạm hoãn chờ dịp khác. Trên đường trở về qua cánh đồng Tân Phong phía đông sân bay, tình cờ gặp một bóng người hớt hải chạy qua. Với phản ứng mau lẹ của mình, tôi, Bảo, Khiêm, Bình hình thành thế bao vây. Trong chốc lát, bóng đen bị bắt, bị khóa chặt tay và giải về phía sau. Qua khai thác biết được, đó là viên trung úy phi công ngụy. Trong một buổi rời khỏi doanh trại, đi tranh gái với đám thanh niên ngoài phố, hắn bị truy đuổi chạy tạt qua đây để thoát nạn. Không thể ngờ rằng lại bị đối phương tóm cổ. Hắn được giải đi và giao cho Phòng Địch vận Miền.
Vào thời điểm đầu mùa mưa năm 1974, tôi bị một cơn sốt rét ác tính quật ngã. Được đơn vị chuyển dần lên điều trị tại trạm quân y Đoàn 841 Cục Hậu cần, nằm trên thượng nguồn sông Đồng Nai. Bị sốt cao, dẫn tới hôn mê và coi như đã bị chết về mặt lâm sàng. Một bộ phận làm công tác chính sách cử người ra đào huyệt để chuẩn bị chôn cất. Song, qua nhiều tháng nắng hạn, đất sỏi đá quá cứng, anh em chưa đào được bao nhiêu, vả lại lúc ấy trời đổ cơn mưa giông rất to nên ai nấy vứt cuốc xẻng tại chỗ để chạy lánh mưa. Với dụng ý, sau cơn mưa sẽ tiếp tục đào nốt phần còn lại để đặt thi thể tôi xuống đó cho mồ yên, mả đẹp. Nhưng, thật tình cờ một người trong số họ lật tấm đắp để nhìn mặt tôi lần cuối cùng mới khâm liệm cho tôi để về chốn cửu tuyền. Thế rồi không biết có phép màu nhiệm nào, làm cho con tim tôi đập trở lại. Nhịp thở từ thoi thóp yếu ớt đến tăng dần, cơ thể ấm lên. Mọi người xúm lại, các y bác sĩ tiếp tục xoa bóp với các thủ thuật của chuyên môn. Thế là tôi hoàn toàn thoát khỏi bàn tay tử thần trong giây lát. Tôi từ từ mở mắt, người quay cuồng sau một cơn mê lịm khá dài. Định thần lại biết mình vẫn còn sống, nước mắt giàn giụa lăn dài nóng hổi trên hai má. Chuyện thật mười mươi mà tôi cứ ngỡ như là mơ vậy.
Hơn 30 năm đã trôi qua, bao biến cố thăng trầm đến với dân tộc ta cũng như với mỗi con người. Bản thân tôi cũng thế thôi, từ một chàng trai tỉnh lẻ huyện Ý Yên, Nam Định rời cây bút để cầm súng diệt quân thù theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Trưởng thành nhờ sự giáo dục, rèn luyện của Đảng, của quân đội, nay là một sĩ quan cấp trung tá công an nhân dân. Từ sâu thẳm lòng mình, tôi tri ân bội phần tình dân, nghĩa Đảng, đồng chí anh em đã cho tôi một cuộc đời, một trái tim nhân hậu của người lính Cụ Hồ, người chiến sĩ của Đoàn đặc công 113 mà tôi hằng yêu quý.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #66 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2021, 02:00:15 pm » |
|
NHỚ VỀ TRẬN QUYẾT CHIẾN GIỮ CẦU GHỀNH, CẦU MỚI
Tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng miền Nam, Tiểu đoàn 23 đặc công chúng tôi nằm trong đội hình Trung đoàn 113 đánh chiếm, bảo vệ cầu Ghềnh và cầu Hóa An ở thị xã Biên Hòa. Lực lượng gồm hai đại đội 13 và 14. Lúc ấy tôi là Chính trị viên - Bí thư chi bộ đại đội 13.
Xuất phát từ căn cứ đóng quân cách đó không xa, từ ngày 20 đến 23 tháng 4 toàn đơn vị tập kết tại Nhà Nai, Tân Uyên tỉnh Biên Hòa. Đêm 25 tháng 4, đơn vị được lệnh hành quân tiếp cận làm công tác chuẩn bị. Chính thức đêm 26 rạng sáng 27 thì tiếp cận mục tiêu, xây dựng công sự để chuẩn bị chiến đấu. Đến khoảng 8 giờ sáng ngày 27 tháng 4 đã đánh nhau kịch liệt với địch.
Trong bối cảnh lực lượng của địch trong thị xã Biên Hòa và khu vực phụ cận gần như còn nguyên vẹn, mà xuất hiện một đơn vị của đối phương thì tất nhiên địch không để yên. Đúng vậy! Và ngay từ ngày đầu, địch huy động một trung đoàn của lực lượng dã chiến và tăng cường các loại hỏa lực pháo binh, xe tăng, máy bay trực thăng vũ trang yểm trợ bao vây như để “nuốt chửng” chúng tôi. Lúc này cả hai cầu, chúng tôi đều đã đánh bật địch và chiếm giữ được các mục tiêu. Đặc biệt, địch đã huy động bốn giàn pháo lớn ở bốn căn cứ: Hốc Bà Thức (Biên Hòa), căn cứ Nước Trong (Long Thành), Long Bình và trận địa pháo hỗn hợp dốc Ông Hoàng ở vành đai Biên Hòa tới tấp giã vào trận địa, nhằm đẩy chúng tôi ra khỏi khu vực để lực lượng chúng dồn về Sài Gòn khi bị thất thủ. Mặc dù bộ binh, pháo binh tập trung ở mức rất cao nhưng suốt ngày 27 tháng 4, tuy chúng có gây cho ta những tổn thất, song trận địa ta vẫn giữ vững, làm cho chúng thêm điên cuồng.
Tôi còn nhớ rất rõ, tiểu đoàn cùng với đại đội tôi chiếm giữ một quả đồi cạnh Cầu Hang để khống chế con đường từ Biên Hòa đi Thủ Đức. Đây là cái “đinh” như một sự trêu ngươi nên địch quyết tâm nhổ với bất cứ giá nào!
Qua hai ngày chiến đấu, ta thu được hơn 100 khẩu súng đã phản ảnh được phần nào số địch bị tiêu diệt. Suốt ngày 28 chúng tăng cường đánh phá các khu dân cư gần đó, vì chúng đoán quân ta lợi dụng địa hình làng mạc để ẩn nấp. Song trước đó, dân đã sơ tán nên sự tổn thất về người có phần hạn chế. Ngày 28, có thể nói là một ngày máu lửa đối với chúng tôi.
Khoảng 8 giờ sáng, một đoàn xe tăng nối đuôi nhau chuyển động ầm ầm, mặt đất như rung chuyển, cây cối ngả nghiêng. Tôi nép mình bên thành công sự đếm được trên dưới 30 chiếc bao gồm xe tăng, xe thiết giáp M113. Sau khi chiếm lĩnh triển khai đội hình trên những thửa ruộng cánh đồng ấp Tân Mỹ và Tân Bản xã Bửu Hòa, một số chiếc đột kích vào trận địa đại đội 13 và đại đội 14 chúng tôi. Nhưng một số chiếc lại bị trúng đạn chống tăng DKZ và B41 của ta, đã bốc cháy, làm cho đồng bọn cũng phải dè chừng. Song, bị bọn sĩ quan thúc ép, địch dựa vào thế đông và vũ khí mạnh đã bắn bừa bãi vào phía trận địa ta, mức độ thương vong lại tăng vọt lên.
Sáng ngày 29 tháng 4, dòng người di tản nối nhau nườm nượp, trong đó có những sĩ quan, binh lính địch mặc thường phục trà trộn nên chúng tôi không thể phát huy được hỏa lực mà chỉ bắn tỉa nếu xác định đó là sĩ quan hoặc cảnh sát ngụy tháo chạy. Mặc dầu đã đến ngày tàn, nhưng với bản chất ngoan cố, địch vẫn ra sức kháng cự. Tuy biết trận địa của chúng tôi cách 700 - 800 mét nhưng chúng chỉ nã pháo từ xe tăng chứ bộ binh không dám bén mảng vào. Chiều ngày 29, chúng mở đợt công kích cuối cùng vào đại đội 13 xung lực. Còn đại đội 14 hỏa lực 12,7mm phòng không thì còn rất dè chừng. Giằng co đến 5 giờ chiều thì gặp lúc trời đổ cơn mưa giông khá lớn, cũng là lúc chúng lui quân theo hướng Dĩ An và Sóng Thần. Trận địa trở lại yên ắng.
Qua mấy ngày giằng co quyết liệt, có lúc địch tạm thời chiếm được cầu nhưng ban đêm ta tổ chức tập kích đẩy chúng ra khỏi mục tiêu. Tuy nhiên, do bộc lộ lực lượng sớm, trong lúc đại quân ta còn ở xa nên địch đã tập trung đối phó rất quyết liệt, gây cho Tiểu đoàn 23 tổn thất nặng nề, nhiều anh em đã ngã xuống trước ngày toàn thắng.
Hàng chục năm đã đi qua, song giờ hồi tưởng lại, tôi vẫn thấy buốt nhói con tim và càng nhớ thương đồng đội vô ngần.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #67 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2021, 02:01:28 pm » |
|
BẠN TÔI - NGƯỜI LÍNH, NGƯỜI THẦY Theo lời kể của đồng chí NGUYỄN VĂN CHƯƠNG Nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn đặc công 23 Nguyễn Văn Chương, quê ở xã Hậu Bổng, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ - nơi bạt ngàn rừng cọ, đồi chè... Tháng 5 năm 1971, vừa học xong cấp III anh cùng bạn bè tòng quân lên đường chống Mỹ, cứu nước. Đơn vị đầu tiên của anh là đại đội 6 Tiểu đoàn 29 Trung đoàn 62, Bộ Tư lệnh Đặc công. Những ngày nắng nóng như đổ lửa trên thao trường của huyện Ba Vì, Hà Tây. Ngày ấy có làm mất đi cái dáng vẻ bề ngoài của cậu học trò với vóc người mảnh khảnh, hao gầy. Được bù lại là sự rắn rỏi cứng cáp của một anh lính đặc công thực thụ, với tinh thần hướng về tiền tuyến lớn miền Nam giết giặc lập công. Và ngày ấy cũng đã tới. Sau ba tháng vừa hành quân bằng cơ giới, vừa đi bộ hối hả trên tuyến đường Trường Sơn. Chặng cuối, đi thuyền trên sông Sê Công và Mê Công tới tỉnh Công Pông Chàm nước bạn Cam-pu-chia, đơn vị tạm dừng chân và tìm hiểu, làm quen với chiến trường. Song, khí thế chiến thắng đây đó cứ dồn dập cổ vũ. Quân thù càng thất bại càng điên cuồng phản kích quyết liệt; phía trước đang từng ngày từng giờ chờ tăng viện sức người, sức của. Tháng 3 năm 1973, anh cùng đồng đội tiếp tục hành quân về hướng đông bắc, tới điểm tập kết ở cứ Dâu Gia - nơi ngã ba sông Bé và sông Đồng Nai tiếp giáp với xã Bàu Hàm, huyện Trảng Bom, tỉnh Biên Hòa, cũng là nơi có nhiều căn cứ quân sự lớn của Mỹ - ngụy. Lúc này, đơn vị anh chính thức được mang phiên hiệu đại đội 3 Tiểu đoàn 23, nằm trong đội hình Trung đoàn đặc công 113 - đơn vị đã lập nhiều chiến công vẻ vang kể từ ngày thành lập (3-6-1972), do đồng chí Nguyễn Thanh Tùng làm Trung đoàn trưởng. Nhờ được huấn luyện kỹ trên miền Bắc, và khi vào chiến trường được anh em cũ dìu dắt, lại được truyền thống vẻ vang của đơn vị cổ vũ, số chiến sĩ mới vừa được bổ sung làm quen rất nhanh với cuộc sống chiến đấu. Vốn tính thông minh, lanh lợi, qua những lần thử thách, anh được chỉ huy đơn vị chọn làm trinh sát tiểu đoàn. Có tới vài ba lần vào, ra điều nghiên sân bay Biên Hòa, anh đều hoàn thành tốt nhiệm vụ. Điều đó đã khẳng định sự trưởng thành vượt bậc của chàng trai học trò quê hương đất Tổ - Vua Hùng và người lính đặc công Nguyễn Văn Chương. Hồi ấy, tôi ở cơ quan chính trị Trung đoàn, không thể nào nhớ hết từng cán bộ, chiến sĩ. Song, biết khá rõ những cán bộ, chiến sĩ có thành tích xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trong số đó, có Nguyễn Văn Chương. Hơn 28 năm đã đi qua, cuộc chiến tranh đã lùi sâu vào quá khứ. Sau giải phóng hoàn toàn miền Nam, đơn vị làm nhiệm vụ quân quản ở thị xã Biên Hòa, rồi thành phố Sài Gòn. Ít lâu sau lại trở ra miền Bắc, nhiều anh em được giải quyết chính sách trở về sum họp gia đình. Số còn lại, biên chế tổ chức, bổ sung thêm quân số, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu. Đồng đội một thời chung chiến hào, giờ đây trở về muôn nẻo quê hương tạo lập cuộc sống; có nhớ tới nhau chỉ là trong tâm tưởng, ký ức, mấy ai tới thăm được nhau trên quãng đường hàng trăm hay hàng ngàn cây số. Vì lẽ đó mà tôi thực sự không tin vào mắt mình, khi trước mắt tôi là một Nguyễn Văn Chương bằng xương bằng thịt. Hiện anh là giáo viên dạy toán trường phổ thông trung học Nam Hà thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Đồng Nai - đóng tại xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa - nơi đã diễn ra trận đánh khốc liệt cuối cùng vào ngày 28 tháng 4 năm 1975 giữa một đơn vị đặc công bảo vệ cầu Ghềnh với một bên là đủ loại sắc lính và phương tiện chiến tranh hiện đại của địch, nơi được coi là “hậu phương” của chúng. Trận ấy, Chương là một tay súng cừ khôi còn may mắn trở về. Trò chuyện với Chương tại nhà riêng vừa mới được xây dựng khá khang trang ở khu phố 9, phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa, tôi “chất vấn” Chương: duyên cớ nào đã “nhảy” về quê nơi chè thơm gió lộng Hạ Hòa, Phú Thọ, lại còn “nhảy” vào Đồng Nai, bỏ lại đằng sau những 2.000 cây số? Chương cười, nhìn ra xa xăm, mắt rớm lệ, như ẩn hiện một điểu gì đó thẳm sâu đã lâu lắm mới có bạn đồng ngũ để giãi bày... - Nếu anh hỏi duyên cớ nào thì cũng xin nói thật: tôi quá nhiều duyên nợ với mảnh đất Biên Hòa - Đồng Nai. Nơi mà một thời trai trẻ của mình từng gắn bó. Song, đó chỉ là điều nhỏ nhoi, có gì đáng nói. Cái thiêng liêng hơn là bao sinh linh đồng đội Tiểu đoàn 23, Trung đoàn đặc công 113 thân yêu đã từng kề vai chiến đấu. Vậy mà... các anh đã ngã xuống trước giờ phút bình minh của chiến thắng ở hai đầu cầu Ghềnh, giữa thị xã Biên Hòa. Chỉ sau đó ít giờ đồng hồ là đại quân tiến về giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn. Cả bầu trời rợp cờ hoa chiến thắng! - Lắng lại một lúc cho qua cơn xúc động, Chương kể tiếp: - Lúc ấy, cô bác hai bên cầu Ghềnh gồm xã Bửu Hòa và Cù Lao Phố cùng anh em đơn vị đi gom thi hài các liệt sĩ. Phải nhận dạng từng người rồi mới nhập áo quan để đi an táng tại chân núi Châu Thới. Nhìn thi thể đồng chí, đồng đội mà lòng dạ mình thắt lại. Da dẻ người nào cũng đen nhẻm vì khói đạn và cả lẫn thuốc ngụy trang. Toàn thân trần trụi độc chỉ chiếc quần xà lỏn. Anh Ba Thính - Đại đội trưởng; Hải - đội viên; anh Yên nguyên là giáo viên cấp I cũng quê Phú Thọ, có vợ, một con đều hy sinh ngay trên đất Cù Lao Phố. Cả tiểu đoàn khi xuất quân tối ngày 27 tháng 4 năm 1975, mờ sáng ngày 28 tháng 4 năm 1975 thì chiếm được cầu Ghềnh, làm chủ cả hai đầu cầu. Nhưng khi lực lượng ta xuất hiện, địch bu lại như ong. Trong lúc đại quân ta chưa vào tới, cứ vậy hơn một ngày quần nhau với giặc gồm: bộ binh, pháo binh, trực thăng vũ trang, bảo an, dân vệ. Ta quyết giữ chặt cầu, địch quyết đẩy ta ra, chiến trận khốc liệt không thể tưởng tượng nổi. Và... trên 50 cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống trước giờ bình minh chiến thắng như thế đó. Điển hình, có cậu Tuân - y tá, quê Bắc Ninh, từ bên này xã Bửu Hòa chạy qua cầu để băng bó cho thương binh. Tuân bị trúng đạn địch, cả người và túi thuốc rơi xuống giữa dòng sông Đồng Nai nước chảy xiết. Thế nên khi soát xét lại số hy sinh không ai tìm thấy Tuân đâu cả. Và... như anh biết đấy, cả tiểu đoàn vừa hy sinh, vừa bị thương hết hai phần ba quân số; một phần ba còn lại mấy ngày sau, tai vẫn điếc đặc, nói với nhau chỉ bằng động tác ra hiệu. Lúc ấy dù tôi không trực tiếp tại chỗ, nhưng vẫn theo dõi sát sao diễn biến của trận đánh. Ấy vậy mà giờ nghe Chương thuật lại, tôi như thấy quang cảnh chiến đấu đang tái hiện, hình ảnh đồng đội vun vút xông lên tiêu diệt quân thù. Thế rồi ngay năm 1976, Chương được đơn vị cho đi trại an dưỡng và giải quyết chính sách. Chiến tranh tuy đã kết thúc nhưng sự nghiệp xây dựng kiến thiết đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới đang bắt đầu. Nhận thức được điều hệ trọng ấy, nên Chương lao vào đèn sách ôn thi vào đại học Sư phạm. Sau bốn năm ở giảng đường đại học Sư phạm Việt Bắc tại thành phố Thái Nguyên, anh gác mọi riêng tư dành toàn tâm cho học hành. Kết quả, tốt nghiệp đạt loại ưu. Tiếp đó đã được Trường cấp III Đoan Hùng, Phú Thọ tiếp nhận, ở đây, vừa là giáo viên dạy bộ môn toán vừa là Bí thư đoàn trường, anh hoạt động nhiệt tình, sôi nổi. Hàng năm, thi đồng diễn thể dục và các loại hình khác do ngành giáo dục tỉnh tổ chức. Trường cấp III Đoan Hùng đều đoạt giải cao. Vui thì vui vậy, nhưng nhiều khi tâm tưởng người thầy còn mang đầy chất lính ở trong Chương muốn trở về nơi vùng đất mình chiến đấu, nơi đồng đội đã hy sinh. Ý tưởng ấy như lớn dần, lớn dần theo thời gian. Thế rồi, hè năm 1985 anh quyết định đi phép để có dịp vào Nam thăm lại cô bác ngày ấy tại xã Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa. Vẫn như ngày nào, cô bác đón anh như thân nhân gia đình vậy. Chương nhờ cô bác hướng dẫn ra chân núi Châu Thới tìm mộ đồng đội, để thắp nhang tưởng niệm. Nhưng nghe nói cơ quan chính sách Bộ Tư lệnh Đặc công và sở Lao động - Thương binh xã hội tỉnh Đồng Nai đã quy tập về nghĩa trang liệt sĩ. Thôi, thế cũng yên lòng các anh rồi. Được Đảng bộ, chính quyền thường xuyên hương khói, hương hồn các anh cũng đỡ phần lạnh lẽo. Nếu không ở lại chịu tang mẹ thì anh đã xin chuyển trường từ năm ấy. Tiếp đến lại người cha qua đời. Mãi tới tháng 11 năm 1985, ý tưởng trở về nơi mình chiến đấu để dạy học hay làm một việc gì đó để được gần đồng đội hơn trong Chương mới trở thành hiện thực. Lãnh đạo ngành giáo dục tỉnh Đồng Nai sẵn sàng đón nhận anh, không có điều gì trở ngại cả. Hiện nay trên cương vị là một giáo viên dạy toán, tuy đã ngoài 50 tuổi, Nguyễn Văn Chương vẫn đảm đương công tác Đoàn trường, hoạt động sôi nổi, hào hứng. Điều lý thú với anh là: Trường phổ thông trung học Nam Hà, nơi anh đang giảng dạy nằm bên cạnh cầu Ghềnh, trên Cù Lao Phố - xã Hiệp Hòa, đơn vị Anh hùng của thành phố Biên Hòa. Ngoài bộ môn chính của mình, giờ sinh hoạt ngoại khóa, hoạt động Đoàn trường, thầy Nguyễn Văn Chương còn kể mãi những câu chuyện cảm động về những người lính đặc công quả cảm đã ngã xuống trước giờ toàn thắng để các em có cuộc sống hòa bình tươi đẹp như hôm nay. Người thể hiện NGUYỄN QUỐC HOÀN
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #68 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2021, 02:02:51 pm » |
|
HÃY XỨNG ĐÁNG LÀ TRAI ĐẤT TỔ - VUA HÙNG NGUYỄN VĂN CHƯƠNG (Trân trọng kính tặng các đồng chí Tiểu đoàn 23 Trung đoàn 113 Anh hùng và các liệt sĩ đã hy sinh trong trận đánh ngày 27 tháng 4 năm 1975) Chiến tranh đã trôi qua gần 30 năm, nhưng hôm nay những hình ảnh về những năm tháng gian khổ, sống và chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc của các cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 23 Trung đoàn 113 vẫn còn in đậm trong ký ức của tôi và những đồng đội của mình. Cuối tháng 4 năm 1975, Đài Tiếng nói Việt Nam liên tục thông báo tin thắng lợi của quân và dân ta trên khắp các chiến trường miền Nam. Sự thất bại của chế độ ngụy Sài Gòn đã đến gần, càng làm chúng tôi náo nức được góp phần vào chiến thắng chung của quân dân ta giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Chính trong thời điểm này, ngày 26 tháng 4 năm 1975 chúng tôi được lệnh "Cả tiểu đoàn chuẩn bị đi chiến đấu". Không ai bảo ai nhưng chúng tôi đều hiểu rằng có lẽ đây sẽ là trận đánh cuối cùng của đời lính đặc công. Trận đánh này sẽ vô cùng gay go và tính chất ác liệt của nó chưa xác định được. Cả tiểu đoàn tập trung nghe Tiểu đoàn trưởng Ba Trạch và Chính trị viên trưởng Tư Dĩ phổ biến tình hình, nhiệm vụ cho các đại đội và các bộ phận. Điểm mà đơn vị chúng tôi phải đến là cầu Ghềnh giữa lòng thành phố Biên Hòa. Nhiệm vụ chúng tôi phải thực hiện là chiếm lĩnh và giữ bằng được cây cầu, đảm bảo đường cho các đơn vị quân chủng bạn đi qua cùng với các con đường khác cùng tiến về giải phóng Sài Gòn. Đêm 25 tháng 4, hầu như chúng tôi không ai ngủ được, mỗi người một việc ai nấy đều hăm hở bắt tay chuẩn bị cho trận đánh. Bộ ba Hải (Minh Côi, Hạ Hoà), Đát (Bản Nguyên, Lâm Thao) và tôi cùng quê Phú Thọ, sau khi chôn giấu toàn bộ hành trang gồm quần áo, sổ sách, thư từ trong chiếc hòm đạn đại liên, chúng tôi ngồi bên nhau ôn lại kỷ niệm những năm tháng đã qua và nói với nhau lời chia tay, bởi không biết ai còn ai mất trong cuộc chiến ác liệt này. Chúng tôi ôm nhau và thầm hứa với nhau hãy chiến đấu xứng đáng là trai đất Tổ - Vua Hùng. Ngày 26 tháng 4 năm 1975, từ sáng sớm cả căn cứ như sôi động, tất cả mọi công việc chuẩn bị được tiến hành một cách chu đáo, mỗi người được trang bị một khẩu AK với ba cơ số đạn, năm trái thủ pháo cầm tay, theo tinh thần được quán triệt của cán bộ tiểu đoàn thì chúng tôi chỉ cố gắng giữ cầu Ghềnh qua đêm 27 tháng 4 và sáng 28 tháng 4, đại quân của ta sẽ từ Xuân Lộc kéo qua giải phóng thành phố Biên Hoà, như vậy sự tổn thất của tiểu đoàn sẽ không đáng kể. Mọi người phấn khởi bước vào trận đánh đầy lạc quan, tin tưởng chiến thắng đã đến gần, rất gần. Mười bảy giờ (5 giờ chiều) chúng tôi vội vã ăn cơm và tất cả tiểu đoàn tập trung chuẩn bị xuất phát. Tiểu đoàn trưởng Ba Trạch nhắc lại lần cuối phương án nhiệm vụ của từng đơn vị, từng bộ phận. Chính trị viên Tư Dĩ động viên tư tưởng, toàn thể ai nấy thông suốt và hứa quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, với một khí thế náo nức lạ thường. Màn đêm buông xuống nhưng không có vẻ yên tĩnh như thường ngày. Xa xa tiếng súng, tiếng pháo ngày một nhiều vọng về và trong chiến khu giữa đất trời miền Đông Nam Bộ đã thấy xuất hiện bóng dáng của các khẩu pháo lớn của Quân đoàn 1 đang di chuyển, chuẩn bị công kích sân bay Biên Hòa, càng làm chúng tôi nôn nóng. Khẩu lệnh: "Xuất phát!" được truyền đi lặng lẽ. Tiểu đoàn 23 chúng tôi cùng với Tiểu đoàn pháo 174 người nọ nối người kia từ từ di chuyển ra khỏi căn cứ để lại sau lưng những kỷ niệm của những năm tháng ngủ rừng, mưa hầm, cơm vắt; để lại sau lưng những cánh rừng bạt ngàn của miền Đông Nam Bộ đã che chở và nuôi sống chúng tôi trong những năm tháng qua. Không ai nói gì nhưng chúng tôi đều hiểu rằng có lẽ chưa chắc sẽ có dịp quay trở lại. Mọi suy nghĩ đều dành cho trận đánh đêm nay. Tiểu đội trinh sát chúng tôi bảy người được chia xuống các đại đội. Tôi xuống cùng đại đội anh Thính người Bạch Hạc, Việt Trì, phía sau tôi là Yên người Hà Lộc, Phú Thọ. Toàn tiểu đoàn như con rắn trườn đi nhẹ nhàng trong đêm, vượt qua nhiều cánh đồng lúa đang phơi màu, qua nhiều xóm, ấp, thỉnh thoảng nghe những tiếng chó sủa. Tự nhiên thấy hình ảnh quê hương hiện về và lại trôi qua thật nhanh. Đáp lại với cảnh vật ấy, chúng tôi phải căng mắt ra bám vào người phía trước, giữ đúng cự ly. Cứ thế, dần dần thì ánh điện thành phố Biên Hòa cũng đã hiện ra trước mắt phần nào cũng giúp chúng tôi nhìn rõ đường đi hơn và đâu đó một vài loạt súng AR15, tiếng đạn M79 rời rạc cùng với ánh sáng của pháo dù bắn lên từ các đồn địch làm tốc độ di chuyển của chúng tôi cũng nhanh hơn. Phải nhanh chóng tiếp cận mục tiêu. Cầu Ghềnh - cái tên nghe vừa lạ vừa quen, tôi cố hình dung nhưng cũng không hiểu hình hài nó ra sao, chỉ biết rằng phải giữ nó không được để quân địch phá, sẽ ngăn cản bước tiến của quân ta. Kim đồng hồ đã chỉ 1 giờ sáng, Tiểu đoàn 174 đã tách khỏi đội hình đi về phía cầu Mới - cây cầu mà trước đây bốn chiến sĩ Thường, Thiết, Thưởng, Đệ của đại đội đặc công nước của tiểu đoàn tôi đã đánh sập hai nhịp, và nhiệm vụ của họ cũng phải bảo vệ bằng được nó. Chúng tôi đã đi vào giữa con đường dẫn tới cầu Ghềnh. Khi bước qua đoạn đường sắt cũng là lúc tôi hiểu chúng tôi đã đến mục tiêu, cây cầu đã hiện ra trước mắt huyền ảo lung linh in hình xuống dòng sông thơ mộng. Chúng tôi từ từ ém sát các chốt đầu cầu phía bên Chợ Đồn. Tôi chia tay anh Thính, Hải và một bộ phận bơi qua sông sang đầu cầu bên kia nằm giữa Cù Lao Phố như một hòn đảo nhỏ. Tôi cùng Yên nằm lại hồi hộp chờ giờ nổ súng. Đã nhiều lần vào trận nhưng có lẽ đây là trận đánh mà chúng tôi cảm thấy căng thẳng nhất. Có thể tôi hoặc đồng đội của mình sẽ ngã xuống trước ngày toàn thắng nhưng có hề chi. Chúng ta cùng tự hào vì đã anh dũng hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Đúng 2 giờ 30 phút sáng, một tiếng nổ của khẩu ĐKZ của Tiểu đoàn 174 làm hiệu lệnh mở đầu cho trận đánh. Tiếng nổ đã đánh thức toàn thành phố. Chúng tôi nhanh chóng phong toả các mục tiêu đã được phân công, những ánh chớp của các quả thủ pháo bùng lên và những tiếng nổ dồn dập khắp hai bên đầu cầu và cả phía trên kia nơi Tiểu đoàn 174 chiếm giữ. Tôi hiểu chúng tôi đã đạt yêu cầu ban đầu hiệp đồng với các đơn vị bạn. Trong trận này hầu như chúng tôi không gặp một sự kháng cự nào, chúng tôi nằm lại chờ trời sáng, chờ tin thắng lợi của các đơn vị.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #69 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2021, 02:03:36 pm » |
|
Chiến tranh vẫn tiếp diễn không lường hết, sau khi im tiếng súng, chúng tôi chờ tiếng pháo vào sân bay Biên Hòa nhưng chưa thấy đâu, mà chỉ có tiếng những động cơ máy bay lên xuống ngày càng nhiều hơn và đã có tiếng rít của đạn pháo địch rơi xuống lòng sông nơi chúng tôi đang chiếm giữ. Xung quanh nhiều tiếng la, tiếng gọi nhau của nhân dân hốt hoảng chạy xa nơi chiến sự. Lệnh của tiểu đoàn - bằng mọi giá phải ở lại giữ cầu. Đoán có sự chẳng lành, chúng tôi cùng tìm chỗ ẩn nấp để chuẩn bị đối đầu với cuộc chiến đấu mới. Đúng như dự đoán, mọi kế hoạch không suôn sẻ như chúng tôi tưởng. Khi mặt trời ló rạng, cả vùng ấp Chợ Đồn vắng lặng, một sự im lặng đáng sợ của chiến tranh, báo hiệu tính chất ác liệt của cuộc chiến đang đến gần. Chúng tôi bình thản chờ đợi, mọi sự sắp xếp chuẩn bị đối đầu với lực lượng ngụy quân đang cố giãy giụa trước ngày sụp đổ. Tôi nhìn quanh, hầu như đồng đội của tôi vẫn nguyên vẹn như khi bắt đầu ra trận, mọi người đều nhìn phía bên kia cầu, bộ phận tiền duyên cũng đang đón chờ cuộc chiến đấu mới. - Xe tăng! - Một tiếng kêu của ai đó. - Chuẩn bị chiến đấu! Chúng tôi đã nghe tiếng gầm rú của xe tăng phía bên kia cầu và tiếng máy bay rít trên bầu trời quần đảo nơi chúng tôi đang chiếm giữ. Tôi nhìn thấy rất nhiều bóng những sắc phục lính ngụy bên cù lao, rồi tiếng đạn pháo, đạn xe tăng xen lẫn tiếng súng AR15, M79 của địch liên tục hướng về phía chúng tôi. Có lẽ chúng đang cố đánh bật bộ phận anh Thính phía bên kia. Chúng tôi tựa vào nhau kiên quyết chống trả những trận phản công của địch hòng chiếm lại cây cầu. Xung quanh tôi bụi mù mịt vì khói súng và bụi đất, đôi tai dần dần như không còn nghe thấy gì, chỉ thấy mặt đất rung từng đợt. Tiếng súng AK của chúng tôi lọt thỏm giữa không gian của trận chiến ác liệt. Một số đồng đội của tôi mặt mũi nhọ nhem, thỉnh thoảng ra hiệu cho nhau di chuyển vị trí tìm nơi thuận lợi có thể ngăn cản các đợt tấn công của địch, không cho chúng vượt sang bên này cầu. Cứ như vậy đôi bên giằng co trận địa dưới những làn đạn pháo, đạn máy bay của địch. Mặt trời lên cao dần, trận đánh cũng giảm bớt nhịp độ, tôi đổi vị trí cho Yên lùi một chút về phía sau. Xung quanh tôi có một số đồng đội đã nằm yên. Tôi đoán chắc họ đã hy sinh, lòng cảm hận trào dâng, tự nhủ phải cố gắng bảo vệ cầu và bảo vệ danh dự người chiến sĩ, không lùi bước trước những hy sinh của đồng đội. Phải chiến đấu để trả thù cho bạn và kìa, hình ảnh của Tuân - y tá quê Hà Bắc ôm súng vượt qua cầu nhưng anh chưa kịp qua cầu bỗng khựng lại chói với trước làn đạn của địch. Anh hy sinh trước mắt tôi mà không thể cứu được. Tôi kêu lên một tiếng: Tuân ơi! Lệnh của Tiểu đoàn: Phải giữ gìn lực lượng không manh động qua cầu khi chưa có lệnh. Tôi lùi lại nắm vai Yên thì người anh đã mềm nhũn từ khi nào, máu chảy dài trên khuôn mặt anh. Tôi ôm lấy anh mà thấy tim mình buốt nhói trước sự hy sinh thầm lặng của anh cùng với những đồng đội của tôi đã ngã xuống khi thắng lợi đang đến gần. Mặt trời đã xế bóng, chiến sự không còn ác liệt như buổi sáng; tiếng đạn pháo, tiếng máy bay thưa dần, phía bên kia cầu không còn tiếng súng, không biết bộ phận của ta bên ấy ra sao? Chúng tôi vẫn không được lệnh qua cầu, tôi nhìn quanh chỉ còn một vài đồng đội như anh Bạng (người Hà Tây) - Trung đội trưởng, anh Đát (Bản Nguyên, Lâm Thao) và một số người bị thương đang được chuyển về phía sau. Khoảng 4 giờ chiều, toàn trận địa im hẳn tiếng súng, tiếng máy bay, tiếng xe tăng. Một sự im lặng đáng sợ. Không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo, chúng tôi lại căng thẳng chờ đợi không kịp nghĩ đến cái nóng, cái khát, cái đói trong suốt một ngày chiến đấu. Có một vài người dân mạnh dạn mang nước uống và thức ăn cho chúng tôi và giúp chúng tôi đi tìm những đồng đội đã hy sinh. Xa xa, phía Hố Nai tiếng súng, tiếng pháo lại nổi lên từng chập có lẽ cũng có những đụng độ quyết liệt của quân ta với quân ngụy đang cố thủ. Chúng tôi vẫn trong trạng thái căng thẳng cảnh giác. Thời gian cứ trôi và bóng tối đã trùm xuống thành phố. Chúng tôi, những người sống sót đang tìm nhau, tôi chỉ bị xây xước nhẹ. Những đồng đội bị thương đang được các y tá, y sĩ của tiểu đoàn sơ cứu, có nhiều tiếng rên trong đêm. Người vô cùng mệt mỏi, tôi ôm súng căng mắt nhìn về phía cầu, cùng một số đồng chí còn lành lặn sẵn sàng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Có nhiều người dân trong ấp ra trận địa giúp chúng tôi chăm sóc các thương binh và tiếp tế thuốc men, thức ăn, đồ uống. Tôi cầm chiếc bánh trong tay mà miệng đắng ngắt, nước mắt tuôn trào vì sự hy sinh của rất nhiều đồng đội. Đêm dần trôi. Bỗng Biên Hòa rung động bởi những loạt pháo vang dậy phía sân bay, liên tục trong một khoảng thời gian dài, chúng tôi gọi nhau mừng rỡ vì chắc chắn đây là những loạt đạn của quân ta đang đánh chiếm Biên Hoà theo như hợp đồng tác chiến. Lệnh của tiểu đoàn: Chuẩn bị đánh địch rút chạy. Chúng tôi tập hợp lực lượng còn lại khoảng hơn 20 người và số đạn ít ỏi nằm phục bên đầu cầu. Tiếng pháo xen lẫn tiếng súng các cỡ của quân ta vẫn vang dội phía thành phố, không có tiếng máy bay lên xuống. Mọi kháng cự của địch hầu như thưa thớt, ít ỏi và tuyệt vọng. Chúng tôi hiểu căn cứ Biên Hòa của địch đang thất thủ trước sự tấn công của quân ta. Rất nhiều nơi trong và ngoài thành phố chiến sự vẫn đang tiếp diễn, những ánh chớp của đạn pháo, của tiếng súng làm chúng tôi hồi hộp chờ giờ giải phóng miền Nam thân yêu. Chúng tôi chờ đợi quân địch rút chạy, nhưng không có động tĩnh gì. Bình minh lên trong tiếng súng của quân ta chiến đấu giải phóng Biên Hoà. Hàng đoàn người chạy qua cầu hỗn loạn, chúng tôi cầm súng đứng canh cầu và hướng dẫn cho họ sơ tán nhanh ra khỏi nơi chiến sự. Có thể trong số đó có cả những tên lính ngụy đã trút bỏ bộ đồ vấy máu nhân dân để trốn chạy, quần áo ngụy quân vứt rải rác báo hiệu chế độ ngụy quyền Sài Gòn đã sụp đổ. 12 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, cờ Giải phóng đã tung bay khắp nơi trong và ngoài thành phố Biên Hòa. Nhân dân đổ ra đường hò reo chiến thắng và chào đón đoàn quân của ta từ các hướng tiến về Sài Gòn. Chúng tôi nhanh chóng triển khai làm công tác thương binh liệt sĩ, những đồng đội bị thương được nhân dân giúp đỡ cho đi bệnh viện cứu chữa, và đi thu lượm những thân thể đồng đội đã hy sinh, có người không nguyên vẹn. Những chiếc quan tài được đưa đến, chúng tôi ngậm ngùi đưa tiễn những người đồng chí, người bạn yêu quý đến nơi an nghỉ cuối cùng. Sự hy sinh vô cùng anh dũng trước ngày toàn thắng của dân tộc, của những ngươi lính mãi mãi ghi trong sổ vàng của Trung đoàn 113. Tiểu đoàn 23 hy sinh 47 người, số bị thương cũng khá nhiều, còn lại tương đối lành lặn khoảng hơn 20 người. Nhân dân vây quanh chúng tôi trầm trồ thán phục. Họ nhìn chúng tôi ngỡ ngàng, người lính Cụ Hồ trước mắt họ cũng chỉ là những người bình thường nhưng đã làm nên những chiến công hiển hách. 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, cờ Giải phóng đã tung bay trên nóc dinh Độc Lập. Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, hàng triệu người đã ngã xuống cho độc lập tự do của Tổ quốc, trong đó chốt thép cầu Ghềnh luôn là niềm tự hào của chúng tôi, những chiến sĩ Tiểu đoàn 23 Trung đoàn 113 Anh hùng. Hôm nay, bên cầu Ghềnh, tôi bùi ngùi nhìn lại trận địa xưa, hình bóng của những đồng đội năm ấy vẫn theo tôi trong kỷ niệm thời chiến tranh, và trong sự nghiệp xây dựng Tổ quốc. Các anh đã ngã xuống cho mầm xanh hạnh phúc muôn đời mai sau. Kính cẩn nghiêng mình trước những hương hồn bất diệt! Biên Hòa, ngày 27 tháng 7 năm 2002
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
|