Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:38:40 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đường tới toàn thắng  (Đọc 16877 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #80 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2021, 07:40:50 pm »

NHÀ TRẮNG TRONG CƠN HẤP HỐI
CỦA CHẾ ĐỘ NGỤY QUYỀN SÀI GÒN


VÂN HỒ


Ngày 29 tháng 4 năm 1975, khi quân ta mở đợt tổng công kích vào trung tâm Sài Gòn - nơi chế độ ngụy quyền đang hấp hối thì tại Oa-sinh-tơn, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc phải thực hiện đợt cuối cùng kế hoạch di tản liều mạng rút khỏi Việt Nam. Tình cảnh của Nhà Trắng được các phóng viên hãng UPI có mặt tại Sài Gòn và Oa-sinh-tơn ghi lại như sau: Lúc này là chiều tối ở Oa-sinh-tơn... bỗng thấy tướng Pre-xcôp, phó cố vấn an ninh quốc phòng của tổng thống lách vào đưa cho tổng thống mảnh giấy nhỏ: “Sài Gòn đang hấp hối”.

6 giờ 10 phút:
Chưa hết kinh hoàng vì trận ném bom của Bắc Việt Nam xuống sân bay Tân Sơn Nhất chiều 28 tháng 4 thì tổng thống lại nhận được tin mới: Sài Gòn đang rung chuyển vì pháo 130mm của Cộng sản nã vào và họ đang bắn chế áp cắt đứt “cầu hàng không” di tản bằng máy bay có cánh.

6 giờ 30 phút:
Tổng thống cho Kít-xinh-giơ triệu tập hội đồng an ninh quốc gia họp khẩn cấp.

7 giờ:
Hội đồng an ninh quốc gia - có cơ quan chuyên trách về việc gây chiến tranh - đủ mặt: Kít-xinh-giơ và In-gô-xơn thứ trưởng ngoại giao cùng cục trưởng CIA Con-bi, Bộ trưởng quốc phòng Xơ-le-xin-giơ, thứ trưởng Cơ-lê-men và chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân Brao. Cuộc họp kết thúc nhanh vì “cầu hàng không” di tản tê liệt. Khẩn cấp thực hiện “phương án 4” - chiến dịch di tản bằng máy bay lên thẳng.

7 giờ 30 phút:
Brao khẩn cấp điện cho tham mưu trưởng không quân, ra lệnh lấy thêm hai chiếc C-130 nữa ở Phi-líp-pin bổ sung vào đội hình 13 chiếc đã được phái đi trước, tìm mọi cách hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất, vì có chừng 5.000 người di tản đang kẹt ở đó.

8 giờ:
Một “cầu hàng không” gần 15 chiếc C-130, hơn 80 máy bay lên thẳng được lập, đi đón các ngoại giao sứ quán Mỹ và những người Mỹ dân sự cùng các nhà báo phương Tây chạy ra các tàu sân bay đã đợi sẵn ngoài biển.

Xơ-le-xin-giơ và Brao phải thức suốt đêm để chỉ huy cuộc di tản khẩn cấp này, đã đặt cho nó cái tên “Chiến dịch móng quặp chặt”.

8 giờ 30 phút:
Buổi tối, tổng thống về nhà riêng, chưa kịp ăn uống gì thì Kít-xinh-giơ lại vào báo cáo, hai C-130 đã lên đường, cố gắng hạ cánh xuống Sài Gòn sau vài giờ nữa. Tổng thống tỏ ra lo lắng vì chậm quá. Lúc đó, nhân viên nhiếp ảnh của Nhà Trắng đến đề nghị chụp bức ảnh tổng thống cho ra vẻ nhà lãnh đạo quốc gia, chứ đừng tỏ ra lo âu quá...

9 giờ 35 phút:
“Hai chiếc C-130 đang bay đến trên bầu trời Tân Sơn Nhất...”, ở Nhà Trắng, Pho và Kít-xinh-giơ lo âu đang dõi theo, được thông báo qua làn sóng điện. Khi chỉ còn 4 phút nữa là xuống sân bay thì tướng Xmít gọi trong điện đài bảo họ đừng hạ cánh nữa... Có khoảng 2 trung đội Bắc Việt Nam đã tới cách hàng rào sân bay chỉ chừng 500 thước...

12 giờ 25 phút:
Đã nửa đêm, tổng thống lên giường đã lâu, nhưng vẫn không ngủ được. Phòng báo chí Nhà Trắng thông báo: Sài Gòn đang hỗn loạn, ở tòa đại sứ cũng náo loạn...

13 giờ 15 phút:
Kít-xinh-giơ cũng chẳng được ngủ, rời Nhà Trắng 1 giờ 15 phút sáng, đi bộ dọc đường Pen-xin-va-ni cùng vợ là Nen-xi. Kít-xinh-giơ trả lời cho mấy nhà báo bám theo săn tin: “Hy vọng sắp có tin đấy”. Một nhà báo hỏi lại:

- Tin hay thật ư, ông ngoại giao trưởng?

- Vâng, thưa ông bạn, tin hay!

Kít-xinh-giơ đáp, nụ cười trên miệng tắt dần.

20 giờ 30 phút:
Oa-sinh-tơn đã bắt đầu ngày làm việc. Kít-xinh-giơ gọi điện cho tổng thống báo tin cuộc di tản khỏi Tân Sơn Nhất đã “hoàn thành”, tuy có điều còn lo lắng về những người kẹt trong sứ quán. Kít-xinh-giơ đề nghị tổng thống ra lệnh cho Ma-tin (đại sứ quán ở Sài Gòn) “cuốn gói”. Tổng thống đồng ý và yêu cầu Kít-xinh-giơ xem qua dự thảo bài diễn văn phát biểu cho toàn quốc về vấn đề “kết thúc chiến tranh ở Việt Nam”. Nội dung là lời kêu gọi người Mỹ sát cánh lại với nhau và hãy quên Việt Nam đi...

24 giờ:
Lúc này buổi trưa ở Oa-sinh-tơn, Kít-xinh-giơ đứng trong phòng họp của Bộ ngoại giao nói rằng người Mỹ buộc phải bỏ chạy khỏi một đất nước mà Mỹ đã chiến đấu suốt 21 năm trời. Ông ta chỉ cho nhà báo hỏi vài câu lấy lệ rồi vội lủi đi mất. Cũng tại diễn đàn này, hơn hai năm trước, ông ta từ Pa-ri về với “thắng lợi vĩ đại nhất” tuyên bố là “hòa bình đã ở trong tầm tay”, “hòa bình trong danh dự” (!) Hôm nay, cả hòa bình lẫn thất bại thực sự đã ở trong tầm tay.

2 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4:
Kít-xinh-giơ gọi điện cho Ma-tin đốc phải kết thúc cuộc di tản đúng 3 giờ 45 phút. Ma-tin đề nghị kéo dài thêm 45 phút mới kịp.

4 giờ 30 phút:
“Phu nhân chủ bài 09 đã lên không trung với mã 2” (đại sứ Ma-tin): Thông báo vắn tắt đó trên làn sóng điện về Nhà Trắng, cũng có nghĩa là 21 năm có mặt của Mỹ ở Đông Dương đã chính thức chấm dứt, không có cách gì cưỡng lại được.

Máy bay bay qua quốc lộ 1, đường chính từ đông bắc vào Sài Gòn, Ma-tin nhìn xuống thấy lấp lóa ánh đèn pha của những chiếc xe tải chở quân đội Bắc Việt đang rầm rập tiến vào Sài Gòn.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #81 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2021, 06:32:33 am »

MŨI TIẾN CÔNG BINH VẬN TRONG ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975


MAI TRANG


Ngay từ khi Bộ Tư lệnh chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định được thành lập (8-4-1975)1 (Ngày 14 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị điện cho Bộ Tư lệnh Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định, đồng ý lấy tên là "Chiến dịch Hồ Chí Minh"), phần lớn các đội công tác của Ban Binh vận Trung ương Cục đều tập trung ở địa bàn Sài Gòn - Gia Định, kết hợp với các đội công tác của thành phố, tổ chức tiếp cận các mục tiêu đã chuẩn bị: Lực lượng binh vận ở đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ và Khu 6 cũng được tập trung cao độ để phối hợp với chiến trường Sài Gòn - Gia Định.


Nhiệm vụ của mũi tiến công binh vận trong Tổng công kích - tổng khởi nghĩa là phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của ba mũi giáp công, thực hiện cao trào công nông liên hiệp, góp phần làm tan rã toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền, giải phóng hoàn toàn nông thôn và thành thị.


Tháng 4 năm 1975, trong tình thế cực kỳ nguy ngập, Mỹ - ngụy ra sức củng cố lại quân ngụy và dùng chiến thuật co cụm tổ chức thế phòng ngự mới. Chúng gom tàn quân của quân đoàn 1 và quân đoàn 2, bổ sung và huấn luyện cấp tốc tăng cường ngay cho lực lượng phòng thủ của quân đoàn 3 và Sài Gòn - Gia Định; tập trung các liên đoàn biệt động quân để xây dựng lại lực lượng tổng trù bị, xâv dựng thêm tám sư đoàn bộ binh mới. Tổng quân số ngụy gom lại trên toàn chiến trường B2 còn xấp xỉ 800 ngàn quân các loại.


Số lượng địch nhìn vào tuy còn lớn nhưng tinh thần đã sụp đổ. Cơ cấu ngụy quân, ngụy quyền từ trên xuống dưới có nguy cơ tan rã.

Ban Binh vận Trung ương Cục và của Thành ủy Sài Gòn - Gia Định nhận nhiệm vụ chuẩn bị một số vụ hoạt động của cơ sở nội tuyến có tầm chiến lược tạo điều kiện thuận lợi cho tổng công kích - tổng khởi nghĩa dứt điểm Sài Gòn - Gia Định, đồng thời chủ động kết hợp ba mũi giáp công tại chỗ đánh sụp các sư đoàn bộ binh và lực lượng tổng trù bị phòng thủ Sài Gòn, làm sụp đổ các quân, binh chủng chiến lược, các quân trường... của địch. Các khu, tỉnh cũng triển khai nhanh các bộ phận công tác tấn công các đối tượng và mục tiêu trọng điểm ở thành phố, thị xã...


Ở Sài Gòn - Gia Định, chỉ thị khởi nghĩa được các cấp cơ sở tích cực chuẩn bị từ ngày 15 tháng 4. Nhiều nơi đã thành lập ban chỉ đạo khởi nghĩa và tổ chức lực lượng xung kích. Ngay từ những ngày đầu chiến dịch, ở nội thành, lực lượng “ba mũi” đã đứng chân ở các "lõm" chính trị, chủ động phối hợp phát động quần chúng nổi dậy, trương băng, cờ, khẩu hiệu, công bố chính sách của Mặt trận, chỉ đạo cơ sở nội tuyến hoạt động, phá rã ngụy quân, ngụy quyền, lập chính quyền cách mạng từ ngày 27, 28, 29 tháng 4.


Ở miền Đông, miền Tây và Nam Trung Bộ, trước đây nhiều vùng chưa có phong trào binh vận quần chúng và gia đình binh sĩ, đã vùng lên mạnh mẽ, giải quyết gọn một số mục tiêu trước khi bộ đội chủ lực tới.


Trên toàn B2 đã chỉ đạo 580 vụ hoạt động của cơ sở nội tuyến, trong đó các đội công tác thuộc Ban Binh vận Trung ương Cục thực hiện 246 vụ, phần lớn tập trung ở vùng trọng điểm Sài Gòn - Gia Định. Miền Đông Nam Bộ 13 vụ, miền Trung Nam Bộ 175 vụ, miền Tây Nam Bộ 129 vụ, miền Nam Trung Bộ sáu vụ, dẫn đến thúc đẩy địch đầu hàng, khởi nghĩa, phá rã hậu cứ, kho tàng, bức rút hàng trăm đồn bốt, giải phóng nông thôn...


Trong chiến dịch, cơ sở binh vận Trung ương Cục đã tổ chức và chỉ đạo thành công một số vụ điển hình như: nội tuyến Nguyễn Thành Trung ở sân bay Biên Hòa lái máy bay ném bom dinh Độc Lập (ngày 8 tháng 4) và ném bom sân bay Tân Sơn Nhất (ngày 28 tháng 4), gây tác động lớn trong thời điểm địch hoang mang dao động lớn về chiến lược; nội tuyến trong Bộ tư lệnh hải quân đã đánh hỏng hai tàu địch tại bến Bạch Đằng, một tàu ở Tân Cảng, một tàu trên đường ra Côn Đảo... kêu gọi 40 tàu ngoài khơi trở về; trong sư đoàn 25 ngụy, cơ sở tiểu đoàn 1, trung đoàn 50 khởi nghĩa làm tan rã thiết đoàn 10...


Ban Binh vận miền Tây Nam Bộ chỉ đạo cơ sở đưa cán bộ binh vận Khu vào thuyết phục thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh vùng 4 chiến thuật ra lệnh cho toàn bộ binh sĩ thuộc quyền đầu hàng, góp phần cùng lực lượng vũ trang và quần chúng nổi dậy giải phóng nhanh gọn thành phố Cần Thơ và vùng đồng bằng sông Cửu Long.


Lực lượng binh vận các cấp đã chỉ đạo cơ sở nội tuyến làm tê liệt đến tan rã, thúc đẩy địch đầu hàng từng đơn vị làm cho địch không điều khiển được lực lượng đề kháng chống lại sức tiến công của quân ta. Đặc biệt ở Sài Gòn, đã chỉ đạo cơ sở nội tuyến tham gia cùng lực lượng vũ trang tại chỗ, làm nòng cốt cho quần chúng khởi nghĩa chiếm giữ các căn cứ, kho tàng, công sở, đồn bốt, như các khu vực: kho đạn Gò Vấp, Trần Quốc Toản, ty cảnh sát Gia Định, bót Hàng Keo, bộ cựu chiến binh, tòa án Sài Gòn, nha động viên, khu truyền tin Thủ Đức, đài Vi Ba, đài Nội báo, nhà máy Nước, cư xá Hỏa Xa, nhà máy BGI, hải quân công xưởng Ba Son, tổng nha cảnh sát... Riêng ở quân trường Quang Trung, 20 cơ sở nội tuyến của ta, nhân lúc quân đoàn 3 tiến qua, đã tác động binh sĩ, làm rã ngũ gần hết 15.000 tên trú đóng ở đây. Trước đó, cơ sở binh vận đã gọi hàng 1.000 tên ở quân trường Quang Trung ra nộp súng. Ta làm chủ hoàn toàn khu vực chợ Cầu, xã Đông Hưng Thuận (Hóc Môn) từ ngày 29 tháng 4.


Tính chung ở nội thành, lực lượng “ba mũi giáp công” đã giải phóng 40 phần trăm tổng số phường, khóm, 60 phần trăm còn lại, trước khí thế tiến công của mũi vũ trang, kết hợp với cao trào quần chúng và gia đình binh sĩ, lực lượng địch tại chỗ đã tan rã hoàn toàn trong ngày 30 tháng 4 năm 1975.


Mũi tấn công binh vận đã hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu, mục tiêu đề ra trong trận quyết chiến cuối cùng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Chính sách đúng đắn của


Đảng đã trở thành một thứ vũ khí sắc bén, thấm sâu vào lòng người, thành sức mạnh vật chất, góp gió vào bão lớn quét sạch quân thù trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #82 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2021, 06:34:05 am »

LỰC LƯỢNG TẠI CHỖ NỔI DẬY PHỐI HỢP VỚI ĐÒN TIẾN CÔNG CỦA CÁC BINH ĐOÀN CHỦ LỰC TRONG CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH


HỒ SĨ THÀNH


Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, thành phố Sài Gòn - Gia Định với truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm, luôn là lò lửa đấu tranh của các tầng lớp nhân dân. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ Sài Gòn, đấu tranh chính trị luôn kết hợp với đấu tranh vũ trang, nhưng lấy đấu tranh chính trị làm chính và lúc nào cũng nắm chắc quan điểm bạo lực tấn công, nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ và thống nhất toàn vẹn đất nước.


Trên cơ sở kinh nghiệm đấu tranh chính trị nhiều năm, Sài Gòn - Gia Định đã tạo được lực lượng tổng hợp nổi dậy trong mùa Xuân 1975, đặc biệt là trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Phối hợp với các mũi tiến công của binh đoàn chủ lực, lực lượng nổi dậy tại chỗ đã thực hiện thành công phương thức “ba mũi giáp công” trên khắp địa bàn nội ngoại thành bằng lực lượng tổng hợp, kể cả “lực lượng thứ ba” tại nội thành Sài Gòn.


Khi ta mở chiến dịch tiến công mùa Xuân 1975, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, phong trào của các giới ở nội đô và vùng ven Sài Gòn - Gia Định nổ ra liên tục và mạnh mẽ, dần dần hình thành một thế trận rộng khắp trên toàn thành phố, vừa kết hợp với lực lượng vũ trang và binh vận tiến công địch, vừa xây dựng lực lượng, sẵn sàng nổi dậy khi có thời cơ.


Tháng 4 năm 1975, ở nội thành Sài Gòn - Gia Định đã có trên 700 cán bộ được tăng cường vào, trên 1.000 đảng viên, đoàn viên tại chỗ với hàng ngàn quần chúng nòng cốt; 400 tổ chức công khai và nửa công khai, “biến tướng” do ta nắm với 25.000 người, 230 tự vệ mật, hàng ngàn du kích vùng ven, 40 "lõm" chính trị với 7.000 quần chúng.


Hầu hết các đồng chí lãnh đạo Thành ủy đã vào nội thành, chỉ đạo trực tiếp các lực lượng. Phân ban của Thành ủy bao gồm các đồng chí nắm những cơ sở mạnh nhất ở nội đô, đã được thành lập để chuẩn bị cho hành động nổi dậy thống nhất bên trong. Thành ủy điều chỉnh lực lượng tổng hợp địa bàn hai cánh A và B. Cánh A do đồng chí Mai Chí Thọ phụ trách hàng trăm cán bộ trung sơ cấp các ban, ngành, đoàn thể làm nhiệm vụ phát động quần chúng nổi dậy ở nội thành và Bình Chánh, Nhà Bè. Cánh B do đồng chí Nguyễn Thành Thơ - Phó Bí thư Thành ủy phụ trách, có 500 cán bộ thuộc cơ quan xung quanh Thành ủy, lực lượng an ninh và các ban ngành còn lại...


Khí thế của quần chúng vô cùng sôi nổi, mạnh mẽ, một yếu tố quan trọng có tính chất quyết định cuộc nổi dậy, làm rung động bộ máy ngụy quyền.


Trong ngày 29 và đêm 29 rạng 30 tháng 4, trước khi đại quân ta tiến vào, đã có tất cả 107 điểm nổi dậy của quần chúng (31 điểm ở ngoại thành, 76 điểm ở nội thành). Cấc điểm nổi dậy chủ yếu giành chính quyền cơ sở, phá rã bộ máy kìm kẹp của địch, phối hợp với các lực lượng vũ trang tại chỗ phá gỡ đồn bốt, đánh chiếm các căn cứ, chi khu như Củ Chi, Quận 3, 5, 7, 8, 10, 11, tòa hành chính tỉnh Gia Định, kho xăng Nhà Bè, nhà máy điện, nhà máy nước Thủ Đức... chiếm giữ, bảo vệ nguyên vẹn các nhà máy Vimytex, Vinatexco... bao vây, hù dọa, gọi hàng, góp phần làm trên nửa triệu ngụy quân, ngụy quyên hoang mang rệu rã, khiến địch mất sức đề kháng khi quân ta tiến vào nội đô.


Lực lượng nổi dậy còn vận động quần chúng cắm cờ Mặt trận, chuẩn bị tiếp đón bộ đội, tham gia hướng dẫn các cánh quân, truy bắt bọn ác ôn và tàn binh địch, xây dựng chính quyền cách mạng cơ sở, giữ gìn trật tự an ninh...


Nhờ có sự phối hợp nhịp nhàng giữa tiến công và nổi dậy, nên khi quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn thì thành phố hầu như còn nguyên vẹn, các cơ sở quan trọng được bảo vệ an toàn, đặc biệt là điện và nước thành phố không một giây phút nào gián đoạn. Một thành phố lớn gần bốn triệu dân nhanh chóng trở lại sinh hoạt bình thường. Đó là điều kỳ diệu, đập tan luận điệu hiểm độc của kẻ thù là sẽ có những cuộc trả thù “tắm máu” khủng khiếp khi Cộng sản chiếm được thành phố...


Để góp phần bảo đảm nguyên vẹn thành phố vốn là thủ đô Trung ương đầu não của kẻ thù, một bộ phận lực lượng cách mạng không chỉ có mặt trong lòng địch trong những ngày giờ quyết định, mà đã “lót ổ” từ nhiều năm trước.


Nổi dậy ở vùng nông thôn ngoại thành

Ngày 10 tháng 4 năm 1975, khi tổ chức nghiên cứu Nghị quyết Bộ Chính trị và Nghị quyết đặc biệt của Trung ương Cục, Thành ủy Sài Gòn - Gia Định đã đề ra nghị quyết nhằm chuẩn bị lực lượng cho tổng công kích - tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở thành phố. Thường trực phân ban Thành ủy cánh B đã chỉ thị cho các huyện ngoại thành chuẩn bị lực lượng tổng hợp vũ trang, chính trị binh vận tiến công và nổi dậy trên địa bàn địa phương mình.      


Phân ban nông thôn Thành ủy đã khẩn trương dùng lực lượng tập trung củ Chi và lực lượng bảo vệ Thành ủy thành lập Trung đoàn Gia Định 2; tập hợp cán bộ chính trị cơ quan xây dựng 6 đội vũ trang, tăng cường cho các mũi tiến công vừa góp phần giải phóng địa phương vừa mở mũi tiến công áp sát đô thị, sẵn sàng có mặt tại địa bàn được phân công khi có lệnh tổng tiến công.


Mục tiêu được phân công cho nông thôn Sài Gòn - Gia Định là toàn tỉnh Gia Định bao gồm các huyện nông thôn, tiếp quản tỉnh lỵ và các cơ quan ngụy quyền, căn cứ ngụy quân...


Từ ngày 26 tháng 4, lực lượng bộ đội tập trung của Thành đội nổ súng tấn công địch ở vùng ngoại thành đã tạo điều kiện cho lực lượng nổi dậy vùng lên giành chính quyền ở khắp nơi.


Ở Củ Chi, ngày 29 tháng 4, Quân đoàn 3 tiến công tiêu diệt sư đoàn 25 ngụy tại căn cứ Đồng Dù; được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang địa phương, đồng bào đã nổi dậy đánh chiếm trụ sở tề ngụy, truy lùng ác ôn, giải tán phòng vệ dân sự. Nhiều xã, địch bỏ chạy, quần chúng xông vào chiếm giữ trụ sở... 17 giờ cùng ngày, toàn huyện được giải phóng.


Ở Hóc Môn, sau khi dinh quận, chi khu, phân chi khu Xuân Thới Thượng, Thới Tam Thôn, Xuân Thới Sơn... bị lực lượng vũ trang đánh chiếm, lực lượng khởi nghĩa đã nổi dậy cướp công sở địch ỏ các xã trong ngày 29 tháng 4, giải phóng toàn bộ xã ấp.


Lực lượng địch trong quân trường Quang Trung rất đông, hoảng sợ bỏ chạy. Lực lượng Binh vận Miền và quần chúng nhân dân tiến vào làm chủ. Lực lượng vũ trang và nhân dân tiến vào giải phóng thị trấn Hóc Môn, gần như không gặp một trở ngại nào. Đến 6 giờ sáng ngày 30 tháng 4, toàn bộ chính quyền địch ở Hóc Môn tan rã.


Ở Gò Vấp, ngày 27 tháng 4, chi bộ xã Hạnh Thông Tây phát động quần chúng nổi dậy cướp chính quyền, truy lùng bọn ác ôn. Ngày 29 tháng 4, khi quân chủ lực đánh chiếm các căn cứ quân sự quan trọng như thành pháo binh, thiết giáp, công binh... lực lượng địch trong vùng tự tan rã. Chi bộ các xã phát động quần chúng vùng lên cướp chính quyền địch. Đến 6 giờ sáng ngày 30 tháng 4, xã cuối cùng An Nhơn - Xóm Mới được giải phóng. Nhân dân tích cực tham gia bảo vệ kho tàng và giữ gìn trật tự thị trấn.


Ở Thủ Đức, trước sức tấn công như vũ bão của Quân giải phóng, đồng bào đã đồng loạt nổi dậy cướp chính quyền địch từ ngày 29 tháng 4, sau đó xông vào chiếm các căn cứ quân sự, công sở ở dinh quận. Công nhân triển khai lực lượng bảo vệ nhà máy dệt, nhà máy điện, nước. Hàng trăm phụ nữ kéo vào liên trường Thủ Đức gọi địch đầu hàng. 7 giờ sáng ngày 30 tháng 4, lực lượng khởi nghĩa tập kết tại chợ Thủ Đức rồi cùng lực lượng vũ trang tiến vào dinh quận. Toàn bộ ngụy quyền sợ hãi bỏ chạy.


Ở Bình Chánh, khi quân ta đánh chiếm khu thông tin Ra-đa Phú Lâm, lực lượng khởi nghĩa ở các xã Tân Tạo, Tân Nhựt, Tân Kiên phát động quần chúng nổi dậy diệt ác ôn, giành chính quyền. Từ ngày 29 đên trưa 30 tháng 4 địch ở các xã bỏ chạy, nhân dân lần lượt giành quyền làm chủ, chiếm giữ các công sở, kho tàng...


Ở Nhà Bè, Cần Giờ, được bộ đội địa phương và Đoàn 10 đặc công hỗ trợ, nhân dân các xã nổi dậy giành chính quyền, đến trưa 30 tháng 4 đã làm chủ hoàn toàn huyện lỵ.


Tại Gia Định, lực lượng học sinh đã cắm cờ cách mạng trên dinh tỉnh lỵ lúc 10 giờ ngày 30 tháng 4. Sau đó ban cán sự cánh B vào tiếp quản nguyên vẹn cơ sở vật chất tại đây.


Hòa cùng tiếng súng tiến công của các lực lượng vũ trang, quần chúng nông thôn ngoại thành dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, đã tranh thủ thời cơ vùng lên khởi nghĩa giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân. Trong đó hai phần ba các xã nổi dậy giành chính quyền trước khi bộ đội tiến vào, 90 phần trăm các ấp nổi dậy giành chính quyền bằng bạo lực quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #83 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2021, 06:36:05 am »

"Đội quân tóc dài" trong Chiến dịch Hồ Chí Minh

Thực hiện chủ trương của Thành ủy, nhanh chóng đưa lực lượng áp sát vùng sâu vào trong lòng địch, chuẩn bị đón thời cơ mới, đầu năm 1975, các ngành, các cánh đã xây dựng được 40 căn cứ chính trị rải khắp các quận nội thành và vùng ven; trong đó có nhiều "lõm" chính trị, do cán bộ phụ nữ xây dựng ở Hàng Xanh, Thị Nghè, Bảy Hiền, Lò Siêu, Bình Tiên, Bàn Cờ, Hanh Thông...


Trong phong trào đấu tranh chính trị của thành phố, lực lượng đông đảo nhất, kiên trì nhất là phụ nữ. "Đội quân tóc dài" này đã phối hợp với lực lượng vũ trang, đặc công biệt động, liên tục tiến công địch, thúc đẩy quá trình suy sụp về tinh thần tư tưởng của địch, tạo khí thế cho quần chúng đi vào Tổng công kích - tổng khởi nghĩa.


Trong số gần 2.000 cán bộ tăng cường cho nội đô và vùng ven, có nhiều nữ cán bộ, đảng viên từ căn cứ núi rừng, từ nhà tù địch trao trả sau Hiệp định Pa-ri, các tỉnh điều về và rất nhiều chị đã bám từ trước ở nội thành như Tám Chánh, Chín Trang, Mười Vân. Số tăng cường từ giữa tháng 4 năm 1975, có các chị Đỗ Duy Liên, Tư Liêm, Chín Ngân... là cán bộ chỉ đạo, tuyên truyền, tổ chức quần chúng khởi nghĩa. Các huyện Củ Chi, Thủ Đức... đều có phụ nữ tham gia các Ban khởi nghĩa ở cấp xã. Khắp nơi, các mẹ, các chị là lực lượng chủ yếu dự trữ lương thực, thực phẩm, thuốc men, chuẩn bị trạm cứu thương, may cờ, vận chuyên hàng triệu truyền đơn và 10 điểm chính sách của mặt trận. “Cơ quan chỉ huy” của lực lượng khởi nghĩa trong nhiều xóm lao động trung tâm thành phố như Bàn Cờ, Tân Định, Phú Nhuận, Thạnh Mỹ Tây, An Đông, Lò Siêu, Minh Phụng... được các mẹ, các chị em che chở, canh gác, thông báo tin... Hàng ngàn máy may được huy động may hàng triệu lá cờ cách mạng.


Khi các binh đoàn chủ lực của ta từ nhiều mũi tiến về Sài Gòn, phụ nữ các huyện ngoại thành đã hăng hái phối hợp chiến đấu. Ở Củ Chi, khi Quân đoàn 3 nổ súng tiến công căn cứ Đồng Dù, những người mẹ, người chị của “đất thép thành đồng” đã đi đầu trong nổi dậy chiếm lĩnh các cơ sơ địch ở xã, ấp. Má Nguyễn Thị Rành - người có tám con và hai cháu nội là liệt sĩ, đã treo lá cờ đỏ sao vàng trên cây điệp đầu ấp Phước Hòa, xã Phước Hiệp, mở đầu cho cuộc nổi dậy của quần chúng xã nhà.


Trưa ngày 29 tháng 4, má Nguyễn Thị Lánh và chị Nguyễn Thị Nương cắm cờ trên chi khu cảnh sát Tân An Hội... 65 tổ phụ nữ Củ Chi làm công tác binh vận, đã bám địch ngày đêm, tác động từng giờ góp phần làm rã ngũ hàng ngàn lính chủ lực, bảo an, dân vệ trong quận.


Ngày 30 tháng 4, chị Võ Thị Bê cùng cơ sở chiếm trại Nguyễn Như Luông - trung tâm huấn luyện Quang Trung, bảo quản được kho xăng và kho lương thực tại đây. Chị Đỗ Thị Bê cùng tổ hội phụ nữ Hóc Môn vận động 294 lính ngụy đầu hàng. Chị Nguyễn Thị Đại cùng chị em kêu gọi cả đơn vị ngụy đầu hàng, thu trên 100 súng, chiếm lĩnh trụ sở xã Xuân Thới Sơn, trước khi bộ đội vào giải phóng.


Các chị Cao Thị Quý, Phạm Thị Duyên và nhiều chị em xông vào dinh quận Thủ Đức trong lúc địch còn cầm súng “tử thủ”, kêu gọi binh lính hạ vũ khí và treo cờ cách mạng lên dinh quận; sau đó cùng cơ sở cắm cờ trên cổng liên trường sĩ quan Thủ Đức và chợ Nhỏ...


Chị em phụ nữ Bình Chánh dùng ghe xuồng đưa Tiểu đoàn 301 của ta qua sông và dùng ghe đuôi tôm chở du kích ra chiếm đồn Thái Văn Minh. Chị Tư Thương là người hạ cờ ba sọc và kéo cờ Mặt trận giải phóng lên nóc đồn. Bốn chị đã chặn đường thuyết phục 2 Tiểu đoàn địch chạy từ Hậu Nghĩa về Tân Tạo, nộp vũ khí, đầu hàng...


Tại Gò Vấp, chị Hai Bằng phụ trách các má, các chị từ ấp 1 đến ấp 8 khu vực chợ Cầu - Xóm Mới, kéo tới binh vận một đơn vị xe tăng địch đầu hàng trưa 30 tháng 4.


Tại khu vực Bảy Hiền, các chị Thân Thị Thơ, Hồ Thị Toàn, Nguyễn Thị Hoài 10 năm bám trụ xây dựng "lõm" căn cứ, đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy treo cờ đón Quân giải phóng tiến vào từ hướng tây bắc thành phố.


Chị Phan Thanh Kiều xông lên cắm cờ cho quần chúng chiếm trụ sở hội đồng xã Thạnh Mỹ Tây; chị Nguyễn Thị Phương, tay bồng con vận động nhiều lính ngụy ra trình diện cách mạng; chị Nguyễn Thị Văn chỉ huy đội tự vệ tiến chiếm dinh quận 2, nha cảnh sát đô thành trước khi bộ đội vào tiếp quản. Các chị Nguyễn Thị Tốt, Hồ Thị Mười và má Lê Thị Mỹ lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa treo cờ ở chợ Bến Thành, cư xá Đô Thành, tòa hành chính và ty cảnh sát quận 3.


Chị Nguyễn Thị Bình và con gái Thiếu Thị Tạo đã vận động và lãnh đạo quần chúng chiếm lĩnh chợ An Đông, tước súng bọn phòng vệ dân sự bốt Nguyễn Ngọc Thạch... Dưới sự lãnh đạo của Ban khởi nghĩa quận 5, các chị Sáu Lê, Năm Hiệu, Bảy Nghĩa đã hướng dẫn đồng bào chiếm lĩnh các phường An Đông, Chợ Quán, Trang Tử... Trong các mũi bao vây tiến công địch ở quận 6, các chị Tám Chánh, Chín Trang, Mười Vân tham gia đánh chiếm bốt Bình Tiên, Phú Lâm, Phú Định, Bình Tây, tòa hành chính quận 6. Lực lượng khởi nghĩa, trong đó có rất đông chị em người Hoa đã chiếm đồn Cây Mai, bảo vệ nhà máy rượu Bình Tây và kho lương thực ở bến Lê Quang Liêm.


Các chị Trần Thị Thương, Nguyễn Thị Nghĩa, Trương Thị Thanh Thảo, Tô Thị Kia... đã phát động quần chúng binh vận nhiều lính ngụy, cướp chính quyền ở nhiều ấp và cắm cờ trên trụ sở hội đồng xã Phú Nhuận.


32 điểm nổi dậy của quần chúng do cán bộ phụ nữ chỉ đạo chỉ là một phần trong hàng trăm chiến công của phụ nữ thành phố, góp phần vào chiến dịch lịch sử giải phóng Sài Gòn. Trong lực lượng biệt động, tự vệ vũ trang, an ninh, công nhân còn biết bao những hành động dũng cảm: dẫn xe tăng chiếm lĩnh mục tiêu, bí mật cắm cờ, bảo quản nhà máy, tài sản cách mạng, giữ gìn cơ sở văn hóa... của "đội quân tóc dài" đầy khí thế cách mạng, quyết tâm giải phóng và làm chủ thành phố, làm chủ quê hương của mình.


Trong ba mũi giáp công, "đội quân tóc dài" của thành phố đã góp phần xuất sắc vào mũi chính trị và binh vận, làm nên cơn bão táp mùa Xuân 1975, quét sạch quấn thù. Vai trò của phụ nữ thành phố còn đóng góp rất quan trọng vào việc xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, khắc phục những hậu quả, di hại do chế độ cũ để lại sau 30 năm chiến tranh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #84 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2021, 06:37:29 am »

Nổi dậy của công nhân và lao động thành phố

Trong thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân ta đã chứng minh muốn khởi nghĩa thắng lợi phải có lực lượng vũ trang cách mạng làm nòng cốt cho toàn dân nổi dậy, chủ yếu phải dựa vào quần chúng đông đảo, trước hết là quần chúng công nhân và lao động.


Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn, sự đóng góp của lực lượng công nhân và lao động thành phố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa là lực lượng nổi dậy phối hợp với các giới cướp chính quyền vừa là lực lượng chủ yếu bảo vệ nhà máy xí nghiệp, cơ sở vật chất tiếp quản của địch.


Ở nội thành Sài Gòn, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, lực lượng đoàn thể, quần chúng sôi nổi vào trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

Ngay từ đầu tháng 4 năm 1975, Đảng ủy và Ban Công vận nội thành Sài Gòn đã tích cực chuân bị kế hoạch khởi nghĩa của công nhân lao động trên các địa bàn và vạch rõ phương hướng hoạt động cho công nhân lao động thành phố: đồng loạt nổi dậy chiếm lĩnh các xí nghiệp và bằng bất cứ giá nào cũng phải bảo vệ cho kỳ được nhà máy, không để cho địch phá hoại. Trong trường hợp địch thiết quân luật thì ngoài nhiệm vụ tham gia khởi nghĩa ở đường phố, cần bố trí sẵn một lực lượng công nhân thường trực ở xí nghiệp đề vừa có thể chiến đấu vừa bảo vệ được cơ sở vật chất, chống địch ngoan cố phá hoại.


Do có phương hướng lãnh đạo đúng và kịp thời, việc bảo vệ nhà máy, xí nghiệp đã nhanh chóng trở thành một phong trào rộng lớn trong công nhân lao động Sài Gòn - Gia Định. Hầu hết các nhà máy, xí nghiệp, kho tàng, bến bãi, công nhân đã có kế hoạch khởi nghĩa trước khi quân chủ lực tiến vào thành phố. Các âm mưu phá hoại, tẩu tán tài sản của địch trước khi rút chạy đều được ngăn chặn. Ta giữ được nguyên vẹn nhiều tài sản, hàng hóa, kho tàng, phương tiện có giá trị...


Tại ngã bảy Lý Thái Tố quận 10, khí thế nổi dậy của công nhân và quần chúng lao động vô cùng sôi nổi từ những ngày mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh. 6 giờ 30 phút sáng 30 tháng 4, anh Bùi Thành Chung cùng một tốp công nhân treo một lá cờ lớn tại bùng binh Ngã Bảy trước đông đảo quần chúng vùng Ngã Bảy Vườn Lài, Ngã Sáu... Một tổ vũ trang phối hợp với anh em công nhân cư xá Hỏa xa bao vây bức hàng lực lượng cảnh sát, dân vệ ở đây. Quần chúng đổ vào chiếm các trụ sở đồn bốt địch và hân hoan đón chào bộ đội, cán bộ cách mạng vào thành phố. Một rừng cờ Giải phóng bay rợp phố phường. Công nhân Hỏa xa chiếm bốt cảnh sát quận 10, thu gom cả ngàn khẩu súng...


15 giờ 30 phút, đội tự vệ vũ trang gồm 32 công nhân và lao động được trang bị vũ khí ra mắt chính quyền cách mạng cơ sở. Đông đảo công nhân và tự vệ tước vũ khí của địch, làm chủ hoàn toàn cơ xưởng tại Chí Hòa... 9 giờ sáng ngày 1 tháng 5, hàng ngàn công nhân các nơi đổ về chiếm trụ sở Tổng liên đoàn lao động, mít tinh tại chỗ tuyên truyền chiến thắng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Hỏa xa, ngày 2 tháng 5, công nhân có mặt đầy đủ bắt tay vào phục hồi sản xuất, bàn kế hoạch khôi phục đường sắt và cầu Bình Lợi.


Những xóm công nhân và lao động làm nghề xe buýt, xe lam, xích lô máy, bốc vác, buôn gánh bán bưng... ở Bàn Cờ, cư xá Đô Thành, chợ Vườn Chuối... trọng điểm khu vực khởi nghĩa, có chi bộ lãnh đạo, công nhân đã tích cực vận động, đưa lực lượng quần chúng khởi nghĩa đến phối hợp với khu vực Ngã Bảy cướp chính quyền ở cư xá Đô Thành. Anh Nguyễn Văn Hai giương lá cờ Giải phóng lớn đi thẳng vào tụ điểm quần chúng, kéo theo hàng ngàn người nổi dậy phất cờ, giương khẩu hiệu, hò reo khắp xóm, khu phố. Bọn địch hốt hoảng trút bỏ quân phục, súng đạn đầy đường, chạy trốn. Các đảng viên hướng dẫn quần chúng đổ ra đường càng lúc càng đông, trấn áp, chiếm lĩnh bốt cảnh sát Vườn Chuối nổi tiếng ác ôn và các trụ sở địch trong các khóm phố. Ủy ban nhân dân cách mạng cư xá Đô Thành ra mắt đồng bào...


Tại quận 5, ban Công vận và Hoa vận lập nhiều ban khởi nghĩa, trong các ngày 27, 28 tháng 4, đã dùng xe cứu thương chuyển vũ khí đến các điểm khởi nghĩa, bí mật vận động quần chúng may cờ, kẻ biểu ngữ. Sáng 30 tháng 4, đã cùng với công nhân xuống đường chiếm đồn bốt, công sở địch. Quần chúng, công nhân lao động ở Chợ Quán, An Đông, Khổng Tử... chặn nhiều xe địch, bắt địch đầu hàng, thu nhiều vũ khí, xe cộ...


Tại Khánh Hội (quận 4), trong những ngày cuối tháng 4, công nhân cảng Sài Gòn, không bốc dỡ đồ đạc, hàng hóa cho bọn địch trốn chạy ra nước ngoài; tổ chức nhiều đội tự vệ chiếm giữ kho tàng, máy móc... trên thực tế đã làm chủ cảng Sài Gòn từ ngày 29 tháng 4, đồng thời phối hợp với bộ đội chiếm tòa hành chính quận 4 và các kho, bãi trong khu vực từ sáng 30 tháng 4.


Nhà máy điện Chợ Quán là nơi công nhân có truyền thống đấu tranh, số công nhân tích cực đã bàn bạc kế hoạch nổi dậy, chiếm giữ và bảo vệ dòng điện thành phố; giáo dục các đội lính bảo an giải tán về nhà để anh em công nhân quản lý. Từ 9 giờ ngày 30 tháng 4, công nhân đã treo cờ giải phóng và biểu ngữ trước cổng nhà máy, đồng thời phối hợp với công nhân trong khu cư xá nổi dậy chiếm lĩnh khu phố, khu vực cầu Chữ Y và bảo vệ chặt chẽ khu vực Nhà Đèn... Các công nhân lâu năm, lành nghề đã tích cực phối hợp với ban quân quản tiếp quản nhà máy và duy trì dòng điện liên tục cho sinh hoạt và sản xuất sau khi giải phóng thành phố.


Tại nhà máy điện Thủ Đức, khi địch ra lệnh giới nghiêm, chỉ còn 50 công nhân vận hành máy. Từ ngày 29 tháng 4, số công nhân là cơ sở cách mạng đã cùng quần chúng thành lập ủy ban bảo vệ nhà máy, phân công canh gác và liên hệ với công nhân tìm cách đến xí nghiệp để tham gia khởi nghĩa, kiên quyết bảo vệ nguồn điện cho cả thành phố. Từ 6 giờ sáng ngày 30 tháng 4, trước cổng nhà máy đã trương cao khẩu hiệu “Nhiệt liệt chào mừng quân giải phóng”, “Công nhân kiên quyết bảo vệ nhà máy an toàn”. Từ đó, lực lượng công nhân đã chiếm lĩnh và làm chủ nhà máy trong khí thế mới, có lãnh đạo phân công canh giữ, vận hành máy, giữ cho dòng điện được liên tục không hề gián đoạn, góp công lớn cho lực lượng cách mạng vãn hồi trật tự thành phố.


Tại nhà máy dệt Liên Phương, giữa tháng 4 năm 1975, một số thanh niên công nhân được cơ sở bí mật chọn ra căn cứ Bưng Sáu Xã học tập, chuẩn bị khởi nghĩa, trở về hoạt động rất tích cực. Từ ngày 20 tháng 4, các tổ tự vệ bí mật được xây dựng với 20 công nhân có nhiệm vụ theo dõi, nhằm đối phó với địch âm mưu tẩu tán tài sản hoặc phá hoại nhà máy. Ban lãnh đạo đã tổ chức liên hệ được với cụm nhà máy dệt xung quanh như Visafasa, Vinaton, Tô Châu bàn kế hoạch hỗ trợ nhau khởi nghĩa. Ngày 2 tháng 5 bọn chủ đột ngột đóng cửa nhà máy, vội vã trốn theo địch. Lực lượng tự vệ túc trực bên ngoài đã vận động công nhân làm việc và bảo vệ chặt chẽ quanh nhà máy. Ngày 29 tháng 4, cơ sở cách mạng nắm gần hết các lực lượng công nhân cụm nhà máy dệt Liên Phương - Thủ Đức, lãnh đạo công nhân nổi dậy làm chủ các nhà máy và đổ về chiếm tổng liên đoàn lao động tay sai Trần Quốc Bửu ở đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám).


Khắp nơi nội ngoại thành, các nhà máy Ba Son, Lục quân công xương, nhà máy điện Bà Quẹo, các hãng dệt Vimytex, Vinatexco, bột ngọt Thiên Hương, nhà máy thuốc lá Mis, rượu Bình Tây, pin Con Ó... đã nổi dậy làm chủ, chủ động bảo vệ hoặc liên hệ với lực lượng quân quản để phục hồi sản xuất.


Sáng ngày 1 tháng 5, hàng vạn công nhân lao động thành phố Sài Gòn - Gia Định dự mít tinh ở trụ sở tổng liên đoàn lao động trong bầu không khí hân hoan phấn khởi tột độ mừng thành phố hoàn toàn giải phóng và ngày Quốc tế lao động đầu tiên nước nhà được thống nhất. Công nhân lao động thành phố rất tự hào góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chung của dân tộc, bảo vệ toàn vẹn nhà máy, xí nghiệp, tài sản của nhân dân và năng nổ đứng ra điều hành quản lý cho nhà máy hoạt động liên tục, nhất là cung cấp điện, nước cho thành phố không một giờ phút gián đoạn.


Sự đóng góp của công nhân lao động thành phố vào thắng lợi toàn vẹn của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng Sài Gòn - hang ổ cuối cùng của Mỹ - ngụy càng nói lên truyền thống kiên cường của giai cấp công nhân Nam Bộ nói chung, của đội ngũ công nhân lao động Sài Gòn - Gia Định nói riêng, đúng như khẳng định của Thượng tướng Trần Văn Trà - Chủ tịch ủy ban Quân quản thành phố, trong buổi lễ ra mắt Ủy ban Quân quản ngày 7 tháng 5 năm 1975: “Đặc biệt cả nước nhiệt liệt biểu dương tinh thần vùng lên làm chủ toàn thể giai cấp công nhân bao gồm cả lao động chân tay và trí óc, đã dũng cảm kiên cường đấu tranh bảo vệ xí nghiệp, kho tàng, công sở trường học, trao cho chính quyền cách mạng và tự mình quản lý mọi công việc cho guồng máy sinh hoạt của cả thành phố lớn này chạy liên tục, bình thường, không hề gián đoạn”.


Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh trong tập sách "Đại thắng mùa Xuân" đã đánh giá rất cao sức mạnh và tác dụng cuộc nổi dậy của công nhân lao động và nhân dân thành phố:

“Quần chúng đã vào trận quyết chiến đúng lúc, không quá sớm mà cũng không muộn quá. Hành động yêu nước của nhân dân tạo ra khí thế cách mạng trên các đường phố, có sức mạnh to lớn. Đây là cái quý nhất của phong trào quần chúng Sài Gòn - Gia Định, và đây cũng là kết quả công tác tuyên truyền, giáo dục, tổ chức và rèn luyện trong đấu tranh qua nhiều năm của Đảng bộ thành phố.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #85 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2021, 06:39:32 am »

CĂN CỨ LỘC NINH - NGÀY TOÀN THẮNG


CAO NGỌC QUẾ
Nguyên Trưởng ban đón tiếp dân chính miền Nam
Nguyên Chuyên viên Ban Tổ chức Trung ương (1975-1985)
Nguyên Giám đốc Bảo tàng phụ nữ Nam Bộ


Cuộc sống thật lạ kỳ. Trong đời, đôi lúc, một biến cố, một sự kiện đã trôi qua rất lâu nhưng dư âm vẫn còn đọng lại mãi. Một thời tuổi trẻ của chúng tôi đã trôi qua như thế, trong những ngày Sài Gòn rực lửa đấu tranh chống đế quốc Mỹ.


Năm tháng cứ thế trôi đi. Hôm nay, khi tuổi tám mươi gần đến, đôi lúc tôi vẫn ngỡ như chiến thắng đó, chiến thắng vĩ đại của mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử như vừa mới xảy ra hôm qua thôi. Và khu căn cứ Lộc Ninh thân thương nằm khiêm nhường trong cánh rừng kia, nơi chúng tôi đã sống bên nhau cho đến những ngày cuối cùng của chiến dịch lịch sử mang tên Bác vẫn hiện rõ mồn một trước mắt tôi, tưởng chừng như có thể chạm được từng gốc cây, ngọn cỏ, từng lá rau tàu bay đã đồng hành cùng chúng tôi trong những ngày ác liệt nhưng rất đỗi hào hùng đó.


Ngày ấy, ngay từ đầu Xuân 1975, qua tình hình chiến sự, tuy không nói ra nhưng tất cả chúng tôi đều tin chắc rằng “đằng mình” sẽ chiến thắng bởi lẽ sau hàng loạt chiến thắng dồn dập của ta ở Phước Long, Buôn Ma Thuột tinh thần ngụy quân càng lúc càng rệu rã. Dễ dàng nhận ra rằng giặc đã rã trong tư tưởng từ nhiều tháng trước đó. Nhiệm vụ của chúng ta lúc bấy giờ chỉ là chuẩn bị kỹ càng rồi chớp thời cơ đánh thẳng vào Sài Gòn, cơ quan đầu não của chúng. Sài Gòn thất thủ đồng nghĩa với thất bại hoàn toàn của địch. Vào thời điểm đó, tôi giữ chức vụ Trưởng K9 rồi K3 tức Trưởng ban đón tiếp dân chính miền Nam. Đơn vị tôi đóng trong một cánh rừng ở xã Lộc Tấn, Lộc Ninh, Tây Ninh, gần cửa khẩu Xa Mát (Cam-pu-chia). Tổng số cán bộ, chiến sĩ của đơn vị lúc đó vượt quá con số 100, được chia thành nhiều bộ phận: văn phòng, cấp dưỡng, xây dựng, sản xuất... Khi ấy, tất cả chúng tôi từ cán bộ đến chiến sĩ đều có cùng niềm háo hức được về Sài Gòn chiến đấu cho dù phải hy sinh vì trong thâm tâm, tất cả đều biết rằng chiến thắng đã cận kề. Hơn bao giờ hết, chúng tôi quá hiểu sự quyết liệt của chiến dịch mang ý nghĩa một mất một còn này. Bao nhiêu năm chiến đấu gian khổ còn không sao huống hồ giờ đây chiến thắng đã cận kề sá gì lại chùn bước là tâm tư chung của anh em lúc đó. Niềm khát khao ra trận, niềm khát khao được trực tiếp cầm súng chiến đấu vào những giờ phút quyết định cứ cháy mãi trong từng con người ở cánh rừng heo hút này. Có tận mắt chứng kiến, có sống cùng chúng tôi những tháng ngày nóng bỏng đó mới cảm nhận được tinh thần của anh em lúc bấy giờ. Khi đó, không chỉ anh em trong đơn vị mà có lẽ cả miền Nam đều ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu giành chiến thắng. Năm 1975 cũng là năm tôi gần 50 tuổi. Chưa đến 50 nhưng tính đến thời điểm trên, tôi đã phải nếm trải cả chục năm trong các nhà tù của Pháp, Mỹ với hàng chục vết thương trên người, chất chồng vì “ngoan cố” (theo lời bọn cai tù) của tôi. Điểm qua các nhà tù từng bị địch giam giữ nhiều năm ròng, mới thấy kỳ lạ và không hiểu sức mạnh nào đã giúp mình vượt qua những tháng ngày đầy sóng gió đó, những tháng ngày chưa bao giờ chúng tôi thấy thanh thản trong tâm hồn vì nỗi khát khao được sống, được chiến đấu cùng đồng đội bên ngoài cứ cháy lên trong lòng. Bốt Catinat, Gia Định, Phú Lợi, Thủ Đức, Tân Hiệp, Chí Hòa, tổng nha cảnh sát Sài Gòn, nơi nào cũng khét tiếng một thời vì có một đội ngũ ác ôn dường như mất hẳn tính người. Vậy mà chúng tôi đã ở trong đó hàng bao năm trời, cùng roi vọt đòn tra. Tinh thần đấu tranh vẫn sôi sục trong tôi và bao đồng chí khác dù không còn trẻ nữa. Như mọi người, tôi cũng tha thiết được có mặt trong đoàn quân giải phóng Sài Gòn, được là thành viên của một trong năm cánh quân tiến về giải phóng “Hòn ngọc Viễn Đông”, nơi gắn liền những tháng năm hoạt động của tôi từ năm 1954 đến thời điểm lịch sử vô cùng trọng đại này. Thế nhưng, tâm nguyện của tôi sau rốt lại không thành vì nhiều lý do. Trong đó, lý do lớn nhất là vì tổ chức muốn đảm bảo an toàn cho tôi bởi theo anh em thì tôi “đã từng vào tù ra khám không biết bao nhiêu lần, nay tổ chức rất cần đồng chí ở cương vị hiện tại này...”. Và vì thế, tôi phải ở lại để tiếp tục giải quyết những công việc còn tồn đọng chuẩn bị bàn giao cho chính quyền địa phương khi miền Nam hoàn toàn giải phóng.


Theo sự phân công của tổ chức, lẽ ra ngày 26 tháng 4 năm 1975, đoàn xe chúng tôi sẽ lên đường thẳng hướng Sài Gòn để làm nhiệm vụ đón tiếp anh chị em bị địch bắt trong chiến tranh vừa được trao trả, nhưng cuối cùng chuyến đi đành tạm hoãn vì vấn đề nhiên liệu. Xăng lúc đó được lệnh ưu tiên cho tiền tuyện. Tất cả đều ưu tiên cho trận đánh quyết định sắp tới.


Là người ở cứ nhưng chúng tôi lúc nào cũng hướng về các anh em đang chiến đấu ngoài mặt trận. Ngoài nhiệm vụ chính của từng người, mọi quan tâm đều dồn về tin tức chiến sự. Thật lạ, dường như tình hình mỗi ngày lúc đó thay đổi đến chóng mặt. Tin chiến thắng cứ dồn dập đổ về. Mọi người trong đơn vị thường an ủi nhau: “Không đánh giặc trực tiếp được thì ta tham gia gián tiếp qua tin tức thu được mỗi ngày từ đài vậy”. Thành lệ, chiều chiều chúng tôi cơm nước thật sớm để rồi khoảng 6 đên 7 giờ tối lại kéo nhau lên hội trường - phòng hội nghị chờ nghe tin tức chiến sự trong ngày. Tin tức ấy có thể được phát ra từ đài cũng có khi được chính anh em từ vùng chiến sự vượt qua bao hiểm nguy mang về nên lúc nào cũng nóng hổi và chứa chan tình cảm. Là cán bộ, tôi cũng được cấp cho một chiếc đài bán dẫn nhưng nằm nhà nghe tin tức một mình sao thú vị bằng được nghe và chia sẻ cùng anh em niềm vui chiến thắng. Vậy là í ới rủ nhau đi để được cùng nghe, được cầm tay nhau, cùng tìm thấy niềm vui chung trong mắt nhau. Không khí lúc đó vui như hội. Cả hội trường lúc nào cũng chật như nêm. Có hề gì khi tất cả đều có chung một mối quan tâm, một niềm tự hào. Tiếng cười nói râm ran cứ thế kéo dài suốt chặng đường về, xé tan màn đêm đen kịt. “Thắng”, “thắng” và “thắng”, từ ấy cứ vang mãi trong tôi như muốn nghẹt trái tim tôi bằng nỗi hân hoan vô bờ.


Từ ngày 26 tháng 4, tin chiến thắng dồn dập đổ về. Và rồi ngày ấy cũng đến. Dù đã chuẩn bị từ trước nhưng chúng tôi tất thảy đều bất ngờ trước tin chiến thắng. Nhanh đến vậy sao? Đây có phải là sự thật hay chỉ là một trong muôn vàn giấc mơ? Một thoáng ngạc nhiên đến sũng sờ. Một thoáng bồi hồi xúc động. Một thoáng rưng rưng. Tất cả lặng đi trong giây lát rồi niềm vui, nỗi hân hoan cứ thế tuôn trào. Chúng tôi cười, chúng tôi nói và chúng tôi khóc cho một niềm hạnh phúc quá lớn, cho một ước mơ và nhất là cho một quyết tâm nay đã trở thành sự thật.


Tôi đi như chạy về căn lán của mình, căn lán bé nhỏ, đơn sơ được lợp bằng tranh và lá trung quân nên vóc nên hình từ bàn tay của anh em từ trước khi tôi đến. Trong căn lán ấy, bao đêm tôi đã thức trắng nhìn màn đêm đen kịt trong nỗi mong chờ ngày chiến thắng. Ngày ấy, sống và làm việc tại Tây Ninh nhưng tâm hồn tôi đã gởi trọn ở Sài Gòn - nơi đồng đội tôi ngày đêm chiến đấu và giành thắng lợi từng ngày, từng giờ. Nơi đó, trong một căn nhà nhỏ trên đường Phạm Ngũ Lão, tôi biết đứa con gái nhỏ bé, yếu đuối của tôi vẫn ngóng trông ngày trở về của mẹ nó từng phút, từng giây. Trong giờ phút thiêng liêng đó, tôi đứng lặng đưa mắt nhìn bao quát căn lán thân quen này bởi tôi biết chẳng bao lâu nữa mình sẽ chia tay với nó không biết bao giờ sẽ trở lại. Ôi, sao kỳ vậy nè: bị roi đòn tra tấn bao lần vẫn chẳng hề rơi nước mắt vậy mà giờ đây tôi lại rưng rưng vì một cuộc chia tay với căn lán vô tri?


Đêm 30 tháng 4, chúng tôi thức trắng bên nhau cùng tận hưởng niềm vui chiến thắng, ở rừng, ngày hai bữa cơm rau, làm gì có thịt cá nên đêm liên hoan diễn ra thật đơn giản, gọn nhẹ. Tin chiến thắng một thứ gia vị kỳ diệu nên hôm ấy dù thực đơn chính vẫn gồm ba món cơm rau và muối nhưng chúng tôi thấy ngon miệng hẳn. Tối đó, niềm vui một lần nữa được thổi bùng qua hàng loạt khúc ca hùng tráng mà thiết tha về người lính, về cuộc chiến đấu. Chúng tôi hát như chưa bao giờ được hát. Xúc động nhất là lúc cả đơn vị cùng ca bài Kết đoàn. Giữa niềm hân hoan chiến thắng, ai đó chợt thốt lên: “Giá mà Bác còn sống để chứng kiến ngày trọng đại này nhỉ!”. Chỉ một câu nói thôi cũng khiên mọi người rưng rưng, ừ, phải rồi, giá mà Bác còn sống để tận hưởng niềm vui chung của dân tộc thì... Nhiều lúc đang hát, tôi cứ lặng đi vì nỗi xúc động trào dâng. Men chiến thắng làm chúng tôi lâng lâng như say không chỉ ngày hôm ấy mà còn kéo dài đến nhiều ngày sau đó, ngay cả khi đã về lại Sài Gòn.


Suốt đêm 30 tháng 4, đầu tôi cứ rối lên vì bao dự định: sau khi về Sài Gòn gặp lại người thân cùng đồng chí, đồng đội sẽ thu xếp để về quê hương Mỹ Tho thăm hỏi họ hàng cùng bà con chòm xóm sau đó sẽ ra thăm lăng Bác, sẽ tìm đến nhà những đồng đội đã ngã xuống, thắp một nén nhang, sẽ... và sẽ...


Ngày 3 tháng 5 năm 1975, chúng tôi về đến Sài Gòn. Ba ngày đã trôi qua nhưng niềm vui chiến thắng vẫn tràn ngập suốt những chặng đường chúng tôi qua, nhất là tại Sài Gòn, nơi cách đây vài ngày còn là trung tâm đầu não của địch. Đoàn xe chúng tôi với lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam dẫn đầu, mỗi xe cứ thế nối đuôi nhau tiến vào thành phố. Dọc đường chúng tôi đi, súng các loại cùng quân phục, xác máy bay, xe hơi, xe nhà binh - những tàn tích của quân đội Mỹ, ngụy vẫn còn vương vãi đó đây. Những tràng pháo tay, những ánh mắt thiết tha, những nụ cười sáng bừng trên khuôn mặt người dân hai bên đường cứ níu chân chúng tôi cho đến khi xe khuất hẳn. Trên xe, tôi cứ xôn xang mãi. Bao nhiêu gương mặt, bao nhiêu kỷ niệm về những đồng chí, đồng đội cứ xô nhau ùa về trong tôi. Chút nữa thôi, chỉ một chút nữa thôi là mình sẽ gặp lại bạn bè, đồng đội. Ai còn, ai mất, chỉ vài khoảnh khắc nữa thôi là rõ. “Đừng hồi hộp thế! Bình tĩnh đi nào”, cứ thế tôi tự trấn an mình nhưng dường như bất lực. Trái tim tôi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực khi xe dừng hẳn tại điểm tập kết. Đó là bệnh viện dã chiến Mỹ (nằm trên đường Hoàng Văn Thụ ngày nay). Cái mùi đặc trưng của quân xâm lược, giết người không gớm tay như vẫn còn vương vãi đâu đây. Hành trang về lại Sài Gòn của tôi chỉ vẻn vẹn một cái xắc-cốt nhỏ, một cái võng dã chiến, hai bộ bà ba đen đã sờn vì năm tháng (tính luôn cả bộ đang mặc trên người), một cái khăn rằn trên cổ và một đôi dép râu cũ mòn đang mang dưới chân. Chỉ vậy thôi mà tôi có cảm giác mình giàu, giàu lắm. Tôi có cả một bầu trời tự do cao xanh vời vợi trên đầu; tôi có cả mặt đất bao la, hiền hòa nhưng không kém phần anh dũng dưới chân, nơi biết bao đồng chí, đồng đội và cả hai người anh (anh Ba và anh Tư) thân yêu của tôi đã ngã xuống.


Năm tháng cứ trôi qua, nhưng hình ảnh ngôi nhà tranh bé nhỏ đơn sơ vùng căn cứ Lộc Ninh, nơi tôi đã sống những tháng năm tuyệt vời vẫn in mãi trong ký ức tôi, nhắc tôi nhớ về kỷ niệm những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến vô cùng vĩ đại của dân tộc, cuộc kháng chiến mà những người cùng thời với tôi chắc hẳn sẽ chẳng thể nào quên. Hệt như tôi.


Đôi lúc tôi tự hỏi không hiểu vì sao chúng tôi có thể chịu đựng được những gian khổ, những thiếu thốn và cả những mất mát không gì bù đắp nổi trong ngần ấy năm để sống cho trọn vẹn một chữ “sống”. Một chữ “sống” học được từ cả cuộc đời!


Người thể hiện
PHƯƠNG TRANG
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #86 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2021, 06:42:35 am »

VÀO CỬA TÂY THÀNH PHỐ


Thượng tá, nhà văn LAM GIANG


Từ bàn đạp cuối cùng

Chúng tôi rời khỏi kênh nước mặn vào lúc 8 giờ sáng. Cả đoàn quân súng đạn cồng kềnh chuyển động như một con nhím khổng lồ xù lông thức dậy. “Xin tạm biệt!”. Câu nói gần như đồng thanh trút ra một cách khoái trá thắng bước tiến vào con đường lớn của trận đánh cuối cùng đầy hào hứng. Lẽ tất nhiên là ai cũng bâng khuâng khi rời khỏi vạt đất dưới võng đã ôm tròn bao giấc ngủ. Nhưng cái gian nan của những ngày trên kinh nước mặn thật xứng đáng được nhắc tới; dù chỉ mấy giờ nữa chúng tôi đã ung dung trên ngoại vi Sài Gòn. Cha! Những dòng kinh sủi màu rêu cua mặn chát, lọc ra hai tầng than củi còn mặn. Gạo trắng mấy, nấu ra, cơm cũng cứ xanh ngoét như lên men. Pháo địch căn ke một ngày mấy hiệp. Vậy mà ai nấy đều phải ráng chịu trong những chiếc công sự nửa đào nửa đắp ẽo ợt bằng cây tràm, cả một binh đoàn dồn lên cái “bàn đạp” cuối cùng làm cho mặt đất vốn sình lầy như sắp bị phá vỡ ra tất cả. Chúng tôi ngồi thum nôn nao đếm từng ngày một, miệng cháy khát một ngụm nước ngọt trong ấp ngày mai.


Đoàn quân chuyển nhanh vào phía Sài Gòn. Chúng tôi để nguyên cả quần áo lội ngang kênh rạch. Tại các bến, xuồng con tấp nập đã chờ sẵn để chở súng đạn qua dòng. Mọi dự kiến đã thực hiện suôn sẻ theo quyết tâm. Các bốt bảo an án ngự trên lộ 10 (từ Long An) vào đã được quét sạch trước đó mấy chục phút để bộ đội vượt qua.


Khoảnh khắc, những rạch tràm đã mất hút vĩnh viễn sau lưng. Dòng quân cuồn cuộn đổ qua cánh đồng ngút mắt trong nắng chiều. Trước mặt, bên phải, bên trái những đám khói oằn oại dựng lên nhiều hình thù kỳ quái, và tiếng súng nổ khi lác đác, khi giật cục làm nẩy ra bao điều phán đoán trong hàng quân. Nhưng có điều chắc chắn những nơi đó đã bị ta “dứt điếm”.


Chưa bao giờ tầm mắt chúng tôi lại bao quát một vùng rộng lớn như thế. Cuối tầm nhìn, Sài Gòn hiện ra một vệt xanh mờ trên đỉnh vành cung. Tiếng súng từ Phú Lâm, Thành Quan Năm, Tân Sơn Nhất xoáy lên vòm trời háo hức, cuốn mạnh bước chân mọi người. Dài theo hai bên đường mòn, những đồ đạc bị bỏ lại, chứng tỏ rằng: đã có hàng ngàn người xuất phát trước không lâu. Họ đã quyết không quay lại nữa. Bây giờ đã là nửa ngày rồi. Ai cũng thấy thời gian đang bị mất đi một cách vô cớ, đáng tiếc. Và như thế cái bết bát nặng nhọc không còn đáng kể gì nữa khi Sài Gòn đang từng phút nhích lại gần.


Cơn mưa chiều

Những đám mây màu chì hội tụ lại rất nhanh rồi một trận mưa bắt đầu quất xuống ào ạt. Trận mưa lớn như giật đổ cả bầu trời nghiêng xuống. Những vùng mưa trắng lóa, sàng sảy điên đảo trên trảng cỏ như muốn ghìm chúng tôi lại. Mặc, đoàn người cứ đội mưa rạp mình băng tới. Tội nghiệp mấy cô gái bị giông đánh bật ra khỏi hàng quân mấy thước lại bươn bả chạy vào tiếp tục đuổi theo. Mưa càng lúc càng dữ dằn. Bất giác tôi nhớ cũng vào giờ này hôm qua Sài Gòn mưa tầm tã. Phát thanh viên ngụy quyền tường thuật tại chỗ buổi lễ “hoán vị” tổng thống “Việt Nam cộng hòa” nói như rên rỉ, như khóc, tả lại bầu trời u ám như cái vận hạn “quốc gia” đã đến giờ vong mạt. Tôi nghĩ thầm đây có lẽ là trận mưa rửa sạch rác rưởi để Sài Gòn đón chúng tôi về với thành phố thân yêu.


Như một sự bất ngờ, cơn mưa đưa chúng tôi lên con lộ lớn - lộ số 9 - găm thẳng vào hướng tây thành phố. Lúc đó tôi thấy tim mình đập rộn lên: Sài Gòn đã rất gần! Trời đã tối lúc nào không ai hay. Cách chừng một trăm thước, một chùm pháo sáng vút lên soi tỏ những lô cốt và dây thép gai làm chúng tôi chói mắt và lo ngại, bước dè dặt. Có người nói vọng lại:

- Cứ đi, du kích dọng pháo sáng để đón xe tăng tới...

Chúng tôi nhanh chóng vượt qua cầu Lớn và thoáng thấy những lá cờ trắng nhoi lên trên nóc tua. Bọn địch ở đây đã ra hàng lúc 3 giờ chiều trong khi xe tăng đang bắn phá mục tiêu ở Đức Hòa. Đường nhựa phẳng lỳ, loang loáng. Chúng tôi chạy ào lên như một cơn gió mạnh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #87 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2021, 06:43:54 am »

Đường vào Xuân Thới Thượng

Có lẽ đã gần sát mặt trận. Không khí chuyển đổi hẳn đi kỳ lạ. Một mảng trời cháy rực, rung động. Chúng tôi đoán là quân trường “Quang Trung”, ở đó những chớp lửa xanh chốc chốc giật lên và tiếng nổ ập ùng vang lại càng rõ. Lũ trực thăng lên cứu nguy và thực hiện các cuộc di tản, bật đèn hiệu đỏ lừ bay nhốn nháo làm tăng thêm sự náo loạn trên vùng trời chiến sự. Khắp bốn bề vẫn sôi bỏng. Từ các đồn bốt liên tiếp vọt lên trời pháo hiệu đỏ như đang kêu cứu tuyệt vọng. Lúc đó các cụm phòng không của ta tung lửa lên vây chặt lấy chiếc C.130 đang quần dai dắng như hóa dại trên vành đai phòng thủ. Chúng tôi càng yên lòng vì biết cả đội hình ta đã lèn chặt trên các hướng và đang tiếp tục quét địch, mở đường vào thành phố.


Đoàn quân rẽ vào Xuân Thới Thượng. Tín hiệu an toàn nhấp nháy đầu ấp đón chúng tôi. Một cái gì ngỡ ngàng xa lạ ùa tới trong cảm giác đầu tiên. Ôi, vùng đất mà chúng tôi chỉ biết tên trên bản đồ và day dứt nhiều về câu hỏi: đến bao giờ thì mình sẽ được đặt chân lên đấy, đêm nay đã thực sự thuộc về ta. Chỉ một khoảng cách ngắn này thôi, mà chúng tôi đã phải đi suốt những tháng năm dài ác liệt bây giờ mới tới nơi, cảm động quá, vui sướng quá! Tự nhiên, Tiến - xạ thủ B.40 cao hứng cất giọng:

Sài Gòn ơi ta đã về đây, ta đã về đây...
Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù
Tiến về Sài Gòn, trận cuối là trận này...

Rồi chợt cậu ta quay lại hỏi tôi:

- Sắp vào Sài Gòn, anh có cảm xúc gì không? Hãy viết một bài thơ liến đi!

Có lệnh tạm dừng. Chúng tôi mở bồng lấy cơm nắm ra ăn. Nhưng nào có ăn được. Lòng bồn chồn: biết bao đơn vị đã vào trước rồi. Chỉ lát nữa thôi sẽ ăn cơm chung với dân thì tội gì mà ngồi đây ăn cơm nắm. Có người liệng hết chén đũa xuống lề đường không như là một lần   trút bỏ hành lý nữa cho nhẹ bớt mà vì phấn khởi, tin tưởng quá.


Những đám lửa cứ phụt lên nung đỏ bầu trời, nhưng cơn lạnh đã thấm sau khi mưa dứt hồi lâu. Mấy cậu lính trẻ gối đầu lên súng ngủ ngon lành trong lúc những đoàn quân không rõ là binh chủng nào nối đuôi nhau xủng xoảng tiến qua.


Chuyện tán gẫu vẫn sôi lên dọc hàng quân. Có tiếng một đồng chí lớn tuổi gọi cô gái nào đó tên là Nhung. Và sau đó cô gái bước lại. Tôi mới hay đơn vị ngồi kế trước là biệt động. Lạ thế, không hiểu vì sao tôi lại dám chắc đó là Nhung trong phim “Chị Nhung” kể chuyện một cô gái Sài Gòn với chiến công tuyệt diệu trong mùa Xuân lịch sử Mậu Thân. Phải chăng những nhân vật độc đáo của Sài Gòn cách đây sáu năm đang cùng chúng tôi trở lại thành phố đêm nay.

- Đề nghị các đồng chí dẹp sang hai bên để xe tăng vào.

Đoàn người đang ngồi bị khua dậy sau lời yêu cầu như thế của đơn vị bộ binh đi đầu trinh sát cho xe tăng. Chúng tôi đứng cả dậy, rộn lên, thả mắt cả về phía cầu Lớn, háo hức trông chờ. Vì thực ra trong chúng tôi nhiều người chỉ nghe thôi chứ chưa bao giờ thấy xe tăng ta. Trong chốc lát, tốp xe tăng hạng nặng dẫn đầu tràn qua. Mặt đường rung lên như sấm, dìm ngập chúng tôi vào một cơn xoáy lốc. Cờ Giải phóng gắn trên ăng-ten bay phần phật hùng dũng. Lính xe tăng nhoài ra hỏi thăm chúng tôi, nhưng tiếng động cơ át cả đi, chỉ còn lại những cặp mắt nhìn theo lưu luyến, cảm phục. Đoàn tăng đang hành tiến khẩn trương vào mục tiêu gợi lên trong tôi hình ảnh những nòng pháo oai vệ kia sẽ gầm lên đập nát quân địch trong nội đô.


Chúng tôi tiếp tục hành quân, cắt ngang đoàn bộ binh đi hộ tống xe tăng, xuyên vào Xuân Thới Thượng. Từ đây chúng tôi sẽ tiến về Tham Lương hoặc theo đường 13 vào ngã tư Bảy Hiền, Phú Thọ. Nghe tiếng xe tăng, đồng bào thức dậy, ra đứng dài hai bên đường vui mừng đón bộ đội. Giữa đêm, tiếng đài bán dẫn vẫn rang rảng truyền đi những bản tin chiến thắng dồn dập của ngày 29 tháng 4. Chúng tôi biết chắc trung đoàn Củ Chi đã qua cầu Bông vào Tân Sơn Nhất, bởi các cứ điểm Củ Chi, Đồng Dù, Trung Hòa đã không còn từ lúc 12 giờ trưa. Dải đất mà đồng bào đang đứng, chúng tôi đang đi thật đặc biệt: mới giải phóng hồi 4 giờ chiều nay. Cả một bộ máy kìm kẹp của địch tan rã nhanh không thế tưởng được khi Trung đoàn Gia Định 1 tiến qua. Giờ thì đơn vị đã vào sâu và thôn ấp hoàn toàn yên tĩnh, thoải mái. Tại giờ khắc này, tuy giặc ở Sài Gòn chưa bị quét sạch, nhưng đồng bào đã tin là bọn địch không bao giờ quay trở lại. Chúng đã chết, đã đầu hàng và vứt bỏ súng đạn chạy tháo thân chỉ để lại một cơ đồ ngổn ngang thảm bại sau mấy chục năm trời tác oai tác quái ở đây.


Đêm đầu giải phóng

Đêm nay - một đêm tròn không chợp mắt. Chúng tôi đã ở giữa lòng dân. Nhà nhà đèn nến sáng trưng, rộn rịp. Các má, các cô, các bác, các chị, các em... vây chặt chúng tôi tíu tít thăm hỏi, chúc mừng. Bao nhiêu chuyện, bao nhiêu câu hỏi âm thầm tích nén bấy nay, giờ bật tung ra tất cả. Đi đường còn mệt và tình hình hết sức khẩn trương, nhưng chúng tôi trân trọng đón nhận và ân cần giải đáp hết cho đồng bào, bơi chúng tôi hiểu chỉ từ nay những người thân mới thực sự cất tiếng nói của lòng mình.


Đêm càng khuya, chuyện càng lan ra mãi. Những cặp mắt long lanh ngấn lệ, những giọng cười sảng khoái hòa vào nhau làm chúng tôi có cảm tưởng như đang về giữa gia đình ruột thịt. Mệt mỏi, đã mấy lần tôi ngả lưng xuống ván, nhưng rồi lại phải bật dậy theo dõi, trả lời hoặc tham gia vào những câu chuyện mới mẻ. Chuyện đồng bào vừa thoát ra khỏi ách kìm kẹp ngột ngạt mấy mươi năm của bọn ngụy quyền phản động, dần dà đi vào chiều sâu. Đại loại là: nhà có con đi lính “quốc gia” mai đây ra sao? Người có nhiều tội ác, cách mạng có tha cho không. Rồi chuyện xã hội, chuyện kinh tế... Chuyện nào cũng đem ra luận bàn sôi nổi. Đến lúc khó có thể ai nghe ai nói nữa, bác chủ nhà phải đứng lên ổn định trật tự bằng cách đưa ra một ý kiến chủ quan của mình:

- Thôi, tôi đề nghị chuyện rắc rối ấy dẹp đi đã, bây giờ hãy nói chuyện Củ Chi, Đồng Dù, Lái Thiêu... chuyện Sài Gòn ta thắng to ngày hôm nay đi đã. Ngày mai bà con có gì úy lạo bộ đội không?

Tiếng cười lại bốc lên chật nhà, nhưng rồi chỉ trật tự được một lát, đâu lại vào đấy. Mỗi câu chuyện như trào ra, xoáy tròn rồi lắng lại trong những câu nói thận trọng cặn kẽ tâm tình. Tôi để ý một bà má có đôi mắt rất sáng đang nói về Cụ Hồ. Có lẽ bà theo đạo Phật. Bà nói về Bác Hồ với vẻ vừa cung kính vừa thần bí bằng một đoạn dài trong kinh Phật. Bà nói về một vị anh hùng đức tài như vị thánh, chính là nói về Bác Hồ. Sau tôi mới biết bà có con là thiếu tá ở một đơn vị đặc công mà suốt mười năm nay bà không dám nhắc tới một cách công khai, ai có thể biết lòng má đang khấp khởi với niềm vui sắp được gặp con mình trong đoàn quân điệp trùng tiến về giải phóng Sài Gòn hôm nay.


Trong nhóm chúng tôi, Năm Thân là người may mắn hơn cả, bởi anh là con rể xã này. Anh bị dựng dậy từ đầu và ngồi như thế suốt đêm. Những người đến trước truyền nhau giới thiệu anh cho người sau với vẻ rất tự hào:

- Thằng Năm chồng con Thắm con ông Hai Huê đó, cán bộ giải phóng, giỏi lắm...

Năm Thân ngồi thế, nhưng anh đang mong cho trời mau sáng để tới thăm gia đình vợ anh. Vì cả nhà chưa hề ai biết mặt. Năm năm trước, đơn vị tổ chức lễ “tuyên bố” cho anh ở trên rừng.

Và không phải chỉ Năm Thân độc nhất có niềm vui hạnh phúc, mà nhiều người trong đơn vị đang cảm thấy sắp gặp lại gia đình trong gang tấc nữa thôi. Phía ngoài, mấy con chim trên cây sa-pu-chê thức giấc, ríu rít. Vầng đông đã ửng lên. Ngày đang đến.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #88 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2021, 06:44:35 am »

Một ngày mới bắt đầu

Thủ trưởng đơn vị hội ý chúng tôi cấp bách, phổ biến: chưa hành quân ngay, phải tạm thời dừng chân để làm công tác quân quản cùng chính quyền địa phương. Nghe vậy, chúng tôi hơi thất vọng vì sợ vào Sài Gòn chậm nhất, nhưng đều hăng hái bắt tay ngay vào công việc mới đột xuất này. Giờ đây nhiệm vụ nào cũng quan trọng và cần thiết.


Mọi người khẩn trương thắt băng đỏ vào tay, mang súng đi tiếp quản cơ sở của địch, ôi, thật là vui! Xuân Thới Thượng hôm nay như ngày hội. Xe đò, xe lam, ta-xi, xe gắn máy... chạy kín đường. Người tỏa ra đường phố với áo trắng, áo màu, xen vào đó là những bộ quân phục màu xanh là lạ. Đồng bào không còn lạ lẫm nhìn chúng tôi mà xáp lại chuyện trò và hỏi han đủ thứ về cách mạng. Các tốp nam, nữ thanh niên tay đeo băng đỏ đã tập trung trước trụ sở tề xã cũ chờ chúng tôi giao nhiệm vụ. Họ bắt đầu đi phân phát các bản 10 chính sách của Mặt trận đối với vùng mới giải phóng, 7 chính sách dành cho quân đội ngụy và viết khẩu hiệu. Anh học sinh trung học leo lên viết ngay dòng chữ lớn “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” trên một bức tường cao. Tất cả những khẩu hiệu phản động và cờ ngụy ba sọc lập tức bị phá sạch sau đó. Tại khu trung tâm hành chính, lá cờ nửa xanh nửa đỏ, sao vàng tung bay trên nóc trụ sở. Bên trong, bộ đội đang cùng cán bộ địa phương phụ trách cho binh lính, sĩ quan và nhân viên ngụy quyền trình diện, nộp vũ khí. Khắp các cơ sở công cộng ngập ngụa giấy tờ, sách báo, tranh ảnh đang bị thanh niên gom lại thành đống hốt hủy.


Thấy chúng tôi đi bộ, bác xe lam chạy qua, mời lên cùng đi. Vừa chạy, bác vừa say sưa kể chuyện bộ đội đánh vào Sài Gòn. Bác vừa ở nội thành ra tức thì. Lá cờ Giải phóng bắt gió bay trên nóc xe hãnh diện như nét mặt hoan hỉ rạng rỡ của bác. Chúng tôi chia tay bác xe lam nơi ngã ba. Ở đây cảnh tượng thật là náo nhiệt. Đồng bào từ các ngõ tuôn ra đường đầy nghẹt. Mặt đất còn hằn lên chằng chịt vết xích xe tăng và lốp ô-tô. Từng cụm, từng cụm người râm ran bàn tin chiến sự. Nhánh đường đi Tham Lương, xe cơ giới chở đầy bộ đội, xe Jeép của Bộ Tư lệnh, xe thông tin chở máy bộ đàm sắp hàng nườm nượp chuẩn bị nối tiếp vào trung tâm thành phố. Lúc đó đoàn bộ binh dài khoảng 5 cây số tiến qua vẫn chưa dứt đuôi. Chúng tôi tiến lại một đám trẻ con xúm xít thì hóa ra các em đang xem xác mấy thằng cảnh sát dã chiến ngoan cố bị bắn chết chiều qua. Giờ thì bộ quần áo rằn ri hiện lên trước mắt các em không còn là vẻ sợ sệt mà là sự hể hả đáng đời cho bọn ác ôn tay sai. Còn gì thế kia? Ai đi đâu mà trần trụi hàng dài như vậy. À, bọn tù binh từ Hậu Nghĩa lên, bị tóm gọn ngoài bưng đang nhăn nhó bước thấp bước cao đi vào. Đầu óc um tùm, mình mẩy xăm đầy mực tàu như lũ ma chứ không phải là người. Chúng đã đói lả, vừa đi vừa ngấu nghiên nhai bánh mì, khoai lang dân cho, nom thật thảm hại. Cái vẻ tàn ác, lỳ lợm không còn lưu lại một chút nào trên bộ mặt bơ phò, xám xịt của chúng. Và sau đó thì có đến ba ngàn rưởi tên nữa thuộc sư đoàn 25 tan rã chạy về đây chịu bị bắt, làm cho không khí càng thêm náo động.


Chúng tôi đi giữa rộn ràng huyên náo, đến đâu liền bị bao vây và lại phải trả lời liên tiếp những câu hỏi đồng bào nêu ra. Có người chen sâu vào, không phải để nghe mà là để ngắm nhìn cho thật rõ, ý như khẳng định rằng: giải phóng khác xa với “lính quốc gia”. Họ đàng hoàng, hiền hòa, mạnh khỏe và dễ thương chứ không như lời tuyên truyền của “chính phủ”. Trong khoảnh khắc ấy tôi thấy mình vui ngây ngất và như lạc vào một cơn mơ nào, đến lạ. Ánh nắng trải trên những tán lá xanh đầu hạ làm lung linh khuôn mặt phố xá. Hoa điệp đã chúm chím màu vàng trên cao. Nhà cửa hai bên đường bừng lên dưới màu cò xanh đỏ. Một em bé gái từ đâu nắm lấy tay tôi:

- Chú ơi, chỉ giùm chỗ ba cháu cho cháu với!

Bất ngờ quá, tôi nói đại:

- Được, nhưng chú có biết ba cháu là ai đâu.

Em vẫn rịt chặt tay tôi, phân trần:

- Ba cháu về đánh Sài Gòn mà, nhất định các chú biết!

Em bé gái thật thà và ngây thơ quá làm chúng tôi phì cười. Giữa lúc đó, người hai bên đường bỗng la lên ồn ã. Dương Văn Minh đã lên đài tuyên bố đầu hàng. Tim tôi như ngừng đập. Chúng tôi sững người, trố mắt nhìn nhau không nói được gì. Nước mắt rơm rớm trào ra nóng hổi. Em gái ngơ ngác ngước nhìn chúng tôi. Và, hầu như không còn để tâm đến câu chuyện em bé trước mặt, tôi giơ tay lên nói lớn: “Hòa bình rồi, bọn giặc đã đầu hàng. Chiến tranh đã kết thúc, hòa bình rồi!”.


Bỏ lại một đám đông, chúng tôi chạy bổ về nhà, lòng bàng hoàng, chân bước ríu vào nhau. Tiếng la cười ồn ã ngoài đường. Bác trai rót rượu, nâng ly lên cao, chúng tôi mỗi ngươi một ly đồng chạm vào nhau chúc mừng chiến thắng.

Chúng tôi lên xe, tiếng của bác chủ nhà còn vọng theo:

- Dương Văn Minh đầu hàng rồi. Vào Sài Gòn lẹ đi mấy con!
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #89 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2021, 06:45:43 am »

Vào Sài Gòn

Lại một đêm không ngủ, lính ta vẫn giữ thói quen ở rừng, mắc võng tràn lan trong các ngôi nhà căn cứ thông tin quân ngụy (đối diện với trường Đại học Y khoa bây giờ), nơi một bộ phận sở chỉ huy tiền phương Thành đội Sài Gòn - Gia Định vừa tiếp quản, mặc cho ở đó dư dả giường ghế. Nhưng nào ai có chợp mắt được một phút trong cái cảnh nửa mơ nửa thực đó. Và hình như Sài Gòn cũng không ngủ. Trong những ngày dài nhất không đêm không ngày này, cảm giác thời gian được xác định khi ánh nắng bình minh chảy tràn trên màu bông điệp rực rỡ. Hòa vào màu hoa là những rừng cờ tươi thắm. Chúng tôi chìm ngập vào bầu không khí náo nhiệt của Sài Gòn giải phóng.


Sáng ra, đơn vị triển khai ngay công tác quân quản khu vực này. Bộ đội vừa ra ngoài đường phố, lập tức bị lọt vào giữa những vòng vây người. Quanh chúng tôi những gương mặt tươi vui trìu mến pha chút tò mò của nhiều lớp tuổi tác. Chúng tôi ai cũng bận quân phục xanh, đầu đội mũ tai bèo và đeo súng, “bộ cánh” nguyên thủy mang từ chiến khu về. Các em nhỏ cố chen vào bên trong như được để tận mắt trông thấy các chiến sĩ bằng xương bằng thịt, những con người không có gì ghê gớm cả nhưng đã làm cho hơn một triệu quân “quốc gia” sụp đổ thua chạy không còn mảnh giáp, trút bỏ lại ngổn ngang những súng ống, xe cộ, máy móc... Với các chị em, các chiến sĩ Giải phóng quân từ đây là “thần tượng” chiến thắng. Họ trẻ trung, hiền lành, giản dị và gần gũi thân thương với mọi người. Có nhiều tiếng nói lao xao:

- Thế này mà phe của ông Thiệu rêu rao là bảy người Việt cộng đeo một cành đu đủ không gãy.

- Toàn nói dóc không sách vở!

Mọi người đều cười một cách khoái trá, cởi mở. Rõ ràng luận điệu chiến tranh tâm lý sặc mùi phản động của chính quyền Thiệu “Việt cộng sẽ vào tắm máu” là nói láo. Đồng bào không những không hề sợ sệt khi thấy bóng dáng bộ đội mà còn xáp lại với những cử chỉ mạnh dạn thân tình và mến mộ. Một em bé trai chừng tám tuổi tự nhiên vén tay áo tôi lên:

- Xin lỗi chú, cháu coi có chữ “sinh Bắc, tử Nam” không?

Tất cả lại cười rộ lên. Tôi cảm thấy xót xa: Kẻ thù đã không từ một thủ đoạn nào trong việc đầu độc dân chúng. Chúng đã vẽ vời biết bao chuyện hoang đường độc ác về cách mạng.

Nhiều em đi theo sát chúng tôi, đưa tay sờ vào khẩu súng, bao đạn với vẻ hết sức thích thú, hãnh diện.

Nhóm chúng tôi tách khỏi đám đông để đi làm nhiệm vụ quân quản, công việc quan trọng hàng đầu lúc này. Con lộ Hùng Vương - nơi chúng tôi đang đi, dòng xe người chảy xiết, muốn lách qua đường phải chờ ít lắm cũng vài phút. Một ta-xi dừng lại, bác tài vẫy tay vồn vã:

- Lên đây, lên đây mấy chú Giải phóng, ngộ chở đi. Đi bộ cực quá!

“Ngộ” là gì, mới đầu chúng tôi không hiểu, nhưng không thể từ chối lòng tốt của bác tài xế. Chỉ một đoạn đường ngắn thôi nhưng bác nói thật nhiều về Sài Gòn giải phóng. Bác trầm trồ khen bộ đội giải phóng hết lời. Bác nói một cách tự hào rằng hai hôm nay bác đã chở rất nhiều bộ đội vào thành phố mà không lấy một cắc bạc. Bác tin tưởng là chính quyền Sài Gòn tan rã thực sự và không bao giờ quay trở lại. Lát sau chúng tôi hiểu bác là một người dân lao động người Hoa ở Chợ Lớn. Người Hoa cũng rất tích cực ủng hộ cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ. Họ là một lực lượng đấu tranh quyết liệt không khoan nhượng với chế độ Sài Gòn thôi nát, tay sai đế quốc Mỹ.


Chúng tôi xuống xe và gặp ngay phải cảnh khó xử. Một chị đẩy chiếc xe nhỏ đi qua bỗng nhiên dừng lại “bắt” anh em chúng tôi mỗi người phải uống một ly nước dừa. Đi dưới nắng tháng Năm, lại phải liên tục trả lời và giải thích những câu hỏi của đồng bào, ai cũng khát nước, nhưng nghĩ tới kỷ luật dân vận, chúng tôi một mực từ chối. Tuy thế chị đã nạo cơm dừa đầy ly nước, bỏ đá vào nói thật ngọt:

- Các anh không uống là em buồn lắm đó.

Nhìn vẻ mặt thiết tha của chị, chúng tôi đành nhượng bộ. Đúng là ly nước dừa vừa ngọt vừa mát như lòng người Sài Gòn vậy. Vừa rời khỏi xe nước đá, tôi có cảm giác như bị ai đó níu lấy. Ngoảnh lại thì đối diện ngay với một thanh niên. Anh mỉm cười rồi hỏi một câu thật đột ngột:

- Các anh là Bộ đội Cụ Hồ?

Danh từ này ở đây còn hiếm lắm, sao anh ta lại biết? Tôi nghĩ vậy nhưng vẫn nghiêm trang đáp:

- Vâng, chúng tôi là Bộ đội Cụ Hồ.

Anh thanh niên trở nên nhanh nhảu, hoạt bát:

- Vậy thì chắc các anh phải có hình Bác Hồ.

Chúng tôi lúng túng nhìn nhau. Chợt nhớ trong ví có tấm ảnh Bác đứng vẫy tay (cỡ 6x9) một anh bạn tặng hồi còn ở Lộc Ninh, tôi trả lời:

- Có, nhưng không thể cho được vì tấm ảnh này là vật kỷ niệm của tôi.

- Cho tôi mượn chút xíu thôi.

Anh ta vừa nói vừa rút máy ảnh ra. Tôi trao tấm ảnh Bác, anh liền đón lấy, nhẹ nhàng đặt lên gờ xi-măng vỉa hè giơ máy ảnh chụp lia lịa. Một lát anh rút ra nhiều tấm ảnh Bác Hồ đem tặng chúng tôi và những người đang đứng vây quanh. Mọi người tranh nhau xin ảnh Bác. Các em nhỏ nhanh tay hơn đón được, chạy ra la lớn: “Bác Hồ! Bác Hồ”. Bà con xúm lại càng đông đảo hơn. Tôi cực kỳ xúc động trước cảnh tượng đó và chợt nhớ câu thơ của nhà thơ Tố Hữu:

Dù ai rào dậu ngăn sân
Lòng ta vẫn giữ là dân Cụ Hồ

Các tốp thanh niên, thiếu nhi đi theo nhiều toán bộ đội dọn dẹp pa-nô, bảng hiệu của chính quyền cũ và thay vào đó những khẩu hiệu cách mạng viết vội vàng nhưng có sức thu hút mọi người. Tại một bức tường lớn chạy dài, mấy anh thanh niên tóc phủ kín gáy đang cặm cụi viết lời Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi ngắm nghía và phát hiện ra hai chỗ chưa đúng: Thiếu chữ “có” trong nhóm từ “không có gì” và thừa chữ “và” nằm giữa hai từ ghép “độc lập” “tự do”. Tôi mạnh dạn góp ý, các anh vui vẻ nhận thiếu sót và liền kì cọ viết lại.


Càng đi chúng tôi càng bắt gặp thêm biết bao hình ảnh cảm động như thế. Nó tương phản với cảnh hoảng loạn, tan rã của quân thù phơi bày qua hàng đống quần áo rằn ri của lính ngụy, những núi công văn giấy tờ vương vãi trong các công sở. Những hình ảnh thảm bại đó đang lùi lại phía sau. Trước mắt, là những đoàn người cùng với cờ hoa náo nức chào đón những đoàn quân. Trong đó có biết bao người mẹ, người chị đã thức thâu đêm may cờ cho cuộc nổi dậy giành quyền làm chủ hôm nay. Các cô gái, chàng trai từng dẫn đường cho các cánh quân tiến vào thành phố và vận động làm binh biến tan rã quân địch trong những ngày sục sôi Chiến dịch Hồ Chí Minh. Đoàn quân không súng ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho anh Bộ đội Cụ Hồ làm nên chiến thắng hôm nay.


Kỷ niệm của những ngày đầu giải phóng thành phố Sài Gòn không thể tả bằng lời. Một cái gì thiêng liêng đọng mãi trong ký ức của những người lính từng vượt qua bao nhiêu chặng đường máu lửa, hy sinh đi tối ngày toàn thắng của đất nước.


Và mỗi độ tháng Tư về, khi những bông điệp thắp lên cái màu vàng rực rỡ tinh khôi, lòng tôi lại vang lên khúc hát "Sài Gòn ơi ta đã về đây, ta đã về đây..." như một tráng khúc oai hùng, mà điểm tựa của bài ca chiến thắng lẫy lừng ấy là Nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM