Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:06:55 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự  (Đọc 21547 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #90 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2021, 08:09:17 pm »

IV- GIÁ TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh bao gồm nhiều nội dung toàn diện và phong phú. Tư tưởng đó không chỉ là sự vận dụng sáng tạo lý luận quân sự Mác - Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể Việt Nam mà trên thực tế, còn bổ sung, làm phong phú thêm lý luận quân sự chủ nghĩa Mác - Lênin bằng thực tiễn đấu tranh của cách mạng Việt Nam. Có thể nêu bật vài luận điểm chủ yếu sau đây:

Cùng với các luận điểm nổi tiếng về cách mạng Việt Nam "chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, sđd, tr.128), "Không có gì quý hơn độc lập tự do"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, sđd, tr.108), luận điểm "đem sức ta mà giải phóng cho ta" (nêu lên trong lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945) thể hiện quan điểm quân sự cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cuộc đấu tranh tự giải phóng của dân tộc Việt Nam. Quan điểm "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta" hình thành từ đầu năm 1905, khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành từ chối sự lựa chọn vào danh sách Đông du do cụ Phan Bội Châu đề xuất, với ý định dựa vào sự giúp đỡ của nước Nhật để thoát khỏi nền thống trị của thực dân Pháp. Quan điểm đó được củng cố trong suốt quá trình tham gia Đảng Xã hội Pháp, trở thành người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, rồi chuyên viên về thuộc địa bên cạnh uỷ viên Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản chuyên trách các vấn đề dân tộc và thuộc địa (Manuinxki).


Luận điểm "chỉ có bản thân nỗ lực đấu tranh mới mong có giải phóng được" đã được Nguyễn Ái Quốc viết rõ trong "Tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa" từ những năm đầu thập niên thứ hai của thế kỷ XX. Trong nhiều Đại hội Quốc tế Cộng sản, nhân danh đại biểu xuất thân từ thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc chẳng những đã thuyết minh về sự cấp bách và tính chủ động cần thiết của cách mạng ở thuộc địa mà còn chứng minh vai trò "ủng hộ cách mạng ỏ chính quốc" của cuộc đấu tranh tự giải phóng của nhân dân thuộc địa. Thực tiễn đấu tranh của cách mạng Việt Nam đã chứng thực tính đúng đắn và sự sáng tạo đó trong tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng ở thuộc địa. Với Hồ Chí Minh, "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta" không có nghĩa là không thường xuyên tranh thủ sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, sự ủng hộ có hiệu quả của các Đảng anh em, những thời cơ do cuộc đấu tranh của phong trào cách mạng thế giới đem lại, những thành quả của Cách mạng tháng Mười Nga, sự viện trợ quý báu của các nước anh em, bè bạn cho kháng chiến Việt Nam.


Luận điểm "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta" đã bao hàm quan điểm "bạo lực cách mạng" của lý luận quân sự Mác - Lênin, quan điểm "Dân là gốc và dân làm chủ", "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng", quan điểm "quân sự phải phục tùng chính trị", "mọi hoạt động quân sự cách mạng đều nảy sinh từ ý chí cách mạng của quần chúng"...


"Sức ta" đương nhiên phải bao gồm sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, của "thế trận lòng dân”, của vũ trang toàn dân, của quốc phòng toàn dân lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt. "Giải phóng cho ta" không chỉ hàm nghĩa tự giải phóng khỏi nền thống trị của thực dân đế quốc, với điều kiện phải đánh thắng đồng thời cả ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm; mà còn mang hàm nghĩa tự giải phóng khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu, phấn đấu cho mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh" trong giai đoạn mới.


"Sức ta" đương nghiên phải bao gồm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, cũng không chỉ bao gồm sức mạnh quân sự, mà phải bao gồm một tổng hợp sức mạnh về kinh tế, chính trị tư tưởng và văn hoá, những nỗ lực xây dựng hậu phương, căn cứ địa cách mạng, phát triển khoa học, nghệ thuật quân sự và kỹ thuật quân sự theo kịp yêu cầu, chiến đấu qua mỗi thời kỳ lịch sử.


"Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta" là một luận điểm cơ bản xuyên suốt mọi nội dung của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, xuyên suốt toàn bộ quá trình cứu nước, dựng nước và giữ nước trong đời hoạt động của người thầy cách mạng Việt Nam. Đó cũng là luận điểm vừa vận dụng vừa phát triển lý luận quân sự Mác-Lênin vào hoàn cảnh một thuộc địa còn nghèo nàn lạc hậu mà đã chủ động đứng dậy tự giải phóng và tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ, đánh thắng "hai đế quốc to" rồi tiếp tục đứng vững trong cuộc khủng hoảng của cách mạng thế giới, do sự sụp đổ của "phe xã hội chủ nghĩa, lấy Liên Xô làm trụ cột".


Những quan điểm "tự lực cánh sinh", "dựa vào sức mình là chính”, "triệt để phát huy nội lực",... đi đôi với tranh thủ tối đa sự giúp đỡ của anh em, bè bạn, gắn chặt với sức mạnh thời đại,... đều là các dạng thức phát triển của luận điểm cơ bản đó.


Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự trong việc vận dụng và phát triển lý luận quân sự Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam còn thể hiện nổi bật ở quan điểm chỉ đạo xử lý một vấn đề rất cốt tử của sức mạnh quân sự ở một nước nghèo nàn lạc hậu, đến nay vẫn cần được làm rõ. Đó là vấn đề làm sao có đủ vũ khí trang bị cần thiết đê đương đầu với các thế lực đế quốc thống trị và xâm lược luôn luôn là kẻ mạnh hơn ta về vũ khí trang bị. Đó là luận điểm "Người trước súng sau" được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định trong thời kỳ chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Tám. Quả thật, lúc bấy giờ, "đánh Pháp, đuổi Nhật" tất phải có súng, mà súng lúc đó thì chưa biết lấy từ đâu. Nhiều người thành thật nêu lên thắc mắc và thắc mắc đó được Hồ Chí Minh giải đáp bằng luận điểm nổi tiếng trên đây. "Người trước súng sau" không phải là một mệnh đề để "đánh thông tư tưởng" mà là một quan điểm chỉ đạo rất sâu sắc, đầy sự sáng tạo trong suốt cuộc chiến đấu chống thực dân, đế quốc xâm lược của dân tộc Việt Nam, chẳng những được thực tiễn cách mạng Việt Nam mà cả thực tiễn cách mạng thế giới chứng minh là đúng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #91 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2021, 08:09:46 pm »

Lý luận quân sự Mác - Lênin đã đặt ra và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong các lực lượng vũ trang cách mạng. Dù luôn khẳng định vai trò làm chủ của con người đối với vũ khí, như "lý luận về bạo lực" của Ăng-ghen, nhưng chính Ăng-ghen trong khi xử lý mối quan hệ giữa bạo lực và kinh tế đã khẳng định những người sản xuất ra vũ khí tốt hơn sẽ chiến thắng những người sản xuất ra vũ khí thua kém. Trong phạm vi mối quan hệ giữa bạo lực và kinh tế, Ăng-ghen đã bác bỏ luận điểm ''bạo lực đơn thuần là hành vi của ý chí mà đã chứng minh bạo lực còn là sản phẩm của các trình độ phát triển của sức sản xuất. Đặt giả thiết các yếu tố khác đều ngang nhau thì theo Ăng-ghen, người sản xuất ra vũ khí tốt hơn sẽ đánh thắng người sản xuất ra vũ khí thua kém. Nhưng, lý luận quân sự tư sản lại tuyệt đối hoá vai trò của vũ khí kỹ thuật trong quân sự; hạ thấp vai trò của con người, dẫn tới cuộc chạy đua vũ trang quyết liệt, gây hại cho sự phát triển bình thường của đời sống kinh tế và chính trị của thế giới.


Luận điểm "người trước súng sau" của Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề phủ định sự cần thiết phải có vũ khí tốt, nhưng luận điểm đó khẳng định trên cương vị chỉ đạo cách mạng, nếu không tìm mọi cách tạo ra những con người có đủ quyết tâm, ý chí thì không có cách gì để có súng tốt, thậm chí có vũ khí tốt thì vũ khí đó cũng sẽ trở thành vô dụng nếu không có con người biết sử dụng một cách đúng đắn, hiệu quả.


Thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh khi phong trào cách mạng đã phát triển rộng rãi thì có rất nhiều nguồn, nhiều cách để "tạo ra" vũ khí. Có nơi dùng uy thế của cách mạng tước vũ khí của bọn tay sai. Có người do yêu mến cách mạng mà trao tặng vũ khí tự vệ. Nhiều đội quân đã cướp súng giặc để đánh giặc. Khi khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng thì nhân dân đã hưởng ứng "Tuần lễ vàng" quyên góp cả đồ trang sức, của gia bảo cho Chính phủ có tiền mua thêm vũ khí. Cùng với phong trào cướp súng giặc của các lực lượng vũ trang, nhiều nước bạn, vì sự nghiệp đánh kẻ thù chung, đã ”viện trợ" rất lớn cho kháng chiến Việt Nam. Luận điểm trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh có nghĩa là: muốn tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh giành và giữ nền độc lập dân tộc, bảo vệ vững chắc chế độ mới, vấn đề đầu tiên là phải quy tụ cho được lòng người; có được con người thì sẽ có vũ khi trang bị. Dù cố tiếp thu khoa học - công nghệ mới để cải tiến vũ khí trang bị cũng phải có những con người tâm huyết với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Muốn mua sắm vũ khí trang bị mới cũng phải đi từ những con người sẵn sàng đóng góp của cải cho sự nghiệp phòng thủ quốc gia. Ngược lại, dù đã có vũ khí tốt mà con người không chăm lo bảo quản, học cách sử dụng cho thông thạo, sáng tạo thì cũng không phát huy được hết hiệu quả, còn để cho hư hỏng, thất tán.


Ngày nay, luận điểm "người trước súng sau" của Chủ tịch Hồ Chí Minh "vẫn đang soi sáng phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới. Đó là phương hướng "xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến dấu không ngừng phát triển, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống". Quân đội nhân dân "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ" đó là nói về con người; còn "từng bước hiện đại" là nói vể trình độ trang bị kỹ thuật và khả năng con người làm chủ trang bị kỹ thuật. Đương nhiên, trong yêu cầu chính quy, tinh nhuệ đã bao hàm yêu cầu làm chủ vũ khí kỹ thuật nhưng từ hai yêu cầu đó chưa nói rõ trình độ phát triển của vũ khí kỹ thuật mà vẫn nhấn mạnh những yêu cầu đối với con người. Bởi vậy, trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân, luận điểm "người trước súng sau" của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị trong việc giải quyết mối quan hệ cơ bản giữa con người và vũ khí. Không chăm lo nâng cao trình độ trang bị cho các lực lượng vũ trang để rơi vào tình trạng "tụt hậu" quá xa về vũ khí trang bị sẽ phải trả giá bằng những thiệt hại lớn do địch gây ra. Nhưng nếu không nắm chắc yêu cầu xây dựng con người, quy tụ lòng người thì dẫu vũ khí tốt cũng không phát huy nổi tác dụng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ. Đó là thực tế đã diễn ra ở nhiều nơi trong khủng hoảng tan rã của "hệ thống xã hội chủ nghĩa".


Đối với thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, thông qua cuộc đấu tranh tự giải phóng của dân tộc Việt Nam đã góp phần đắc lực làm thay đổi nhận thức về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức với các nước lớn trong hệ thống đế quốc chủ nghĩa, mối quan hệ giữa phong trào cách mạng thế giới với cách mạng ở thuộc địa; đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Á, Phi, Mỹ Latinh. Thật vậy, mấy mươi năm qua kể từ Cách mạng tháng Tám 1945, các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, thông qua cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam, đã nhận rõ sức mạnh của chính mình. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đặc biệt sau đại thắng mùa Xuân 1975, trên thế giới, phong trào giải phóng dân tộc phát triển rất mạnh mẽ, góp phần đắc lực vào việc buộc Liên hiệp quốc phải ban hành nghị quyết vể "phi thực dân hoá"1 (Sau nhiều năm đã ban hành Nghị quyết, tại phiên họp năm 1999 của "Ủy ban đặc biệt của Liên hiệp quốc về phi thực dân hóa", tổng thư ký Côphi Annan đề xướng việc thúc đẩy xóa bỏ chủ nghĩa thực dân vào năm 2000).


Với những nội dung phong phú toàn diện, với những luận điểm cơ bản rút ra tuỳ theo góc độ của chủ đề nghiên cứu, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và những hiệu quả to lớn của nó, là sự cống hiến vĩ đại cho lý luận và truyền thống quân sự phong phú của dân tộc Việt Nam; đồng thời có sự phát triển sáng tạo lý luận quân sự Mác-Lênin vào hoàn cảnh cách mạng ở thuộc địa, một hoàn cảnh đặc thù đối với phong trào cách mạng vô sản toàn thế giới.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #92 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2021, 07:56:26 pm »

QUỐC PHÒNG TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM


Quốc phòng là hoạt động thường xuyên của mọi quốc gia nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình. Trong lịch sử, từ khi xuất hiện quốc gia - dân tộc thì cũng bắt đầu có các hoạt động quốc phòng. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức huy động sức mạnh mọi mặt của quốc gia để làm nhiệm vụ quốc phòng.


Người dân càng ý thức được trách nhiệm của mình đối với vận mệnh của đất nước thì càng hăng hái tham gia vào việc xây dựng và củng cố quốc phòng. Sức mạnh quốc phòng của mỗi nước phụ thuộc rất nhiêu vào chế độ xã hội, trình độ kinh tế, khoa học kỹ thuật; đồng thời phụ thuộc vào truyền thống của dân tộc. V.I. Lênin đã từng chỉ rõ: "Khả năng phòng thủ, sức mạnh quân sự của một nước mà ngân hàng đã quốc hữu hoá thì cao hơn khả năng phòng thủ của một nước mà ngân hàng còn trong tay tư nhân. Sức mạnh quân sự của nước nông nghiệp, trong đó ruộng đất ở trong tay những uỷ ban nông dân thì cao hơn sức mạnh quân sự của đất nước còn chế độ địa chủ chiếm hữu ruộng đất"1 (V.I. Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva (tiếng Việt), 1976, t.34, tr.261). Đây là chân lý đã được lịch sử nhiều cuộc chiến tranh chứng minh.


Cũng như các quốc gia khác, nước Việt Nam ngay từ khi hình thành, các nhà nước đầu tiên dù còn tổ chức rất đơn sơ đã phải lo ngay đến việc phòng thủ đất nước. Lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh bền bỉ, kiên cường chống hiểm họa bị đồng hoá và xâm lược. Phải có tinh thần tự chủ, tự cường rất mạnh mẽ, dân tộc ta mới giữ vững được nền độc lập của đất nước và bản sắc dân tộc của mình.


Nước Việt Nam ta nằm trong miền Đông Nam châu Á, bắc giáp nước Trung Hoa, đông và nam trông ra biển Đông và Thái Bình Dương, tây giáp vịnh Thái Lan và hai nước láng giềng Lào và Cam-pu-chia. Việt Nam không chỉ là một quốc gia giàu tài nguyên, mà quan trọng còn là cửa ngõ từ biển tiến vào lục địa và là ngã ba giao thông của khu vực Đông Nam Á. Vì vậy, các thế lực phản động, đế quốc luôn dòm ngó, muốn làm chủ địa bàn này. Trong nhiều thế kỷ của thời Trung đại, khi các nước đế quốc phương Tây chưa kịp bành trướng thế lực đến Đông Nam Á thì các triều đại phong kiến Trung Hoa đã nhiều lần đem quân xâm lược Việt Nam. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII, các triều đại Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh của phong kiến Trung Hoa đã 10 lần phát động chiến tranh xâm lược nước Đại Việt.


Nhà Nam Hán 2 lần (năm 931 và 938), nhà Tống 2 lần (năm 981 và 1077), nhà Nguyên 3 lần (năm 1258, 1285 và 1288), nhà Minh năm 1406, nhà Thanh năm 1789. Triều đại này, thế kỷ này bị đánh bại thì triều đại sau, thế kỷ sau kẻ xâm lược lại thực hiện tiếp tham vọng xâm lược mới và dân tộc ta lại phải đứng lên chống xâm lược. Chỉ riêng trong thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam đã phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dài tới 30 năm (1945-1975) mới giành được thắng lợi trọn vẹn.


I- QUỐC PHÒNG TRONG CÁC TRlỀU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT NAM

Cách đây hàng ngàn năm, nhà nước cổ đại Việt Nam đầu tiên ra đời. Đó là nhà nước Văn Lang của các vua Hùng, tồn tại khá dài. Tiếp nối nhà nước Văn Lang là nước Âu Lạc của An Dương Vương. Từ 179 trước công nguyên trở đi đất nước ta bị phong kiến Trung Hoa xâm chiếm, dân tộc ta chìm đắm dưới ách đô hộ kéo dài trên 1.000 năm, được gọi là thời kỳ Bắc thuộc.


Các nhà nước Việt Nam đầu tiên ra đời đã phải lo việc phòng thủ chống mối đe dọa bị xâm lược. Tuy tổ chức nhà nước còn rất đơn sơ nhưng các nhà nước đó đã chú ý đến việc cố kết cư dân, xây dựng ý thức cộng đồng để cùng nhau giữ làng giữ nước. Ngày nay còn rất ít tư liệu để tìm hiểu kỹ về công cuộc phòng thủ đất nước của các nhà nước Việt Nam sơ khai lúc mới ra đời. Nhưng dựa vào truyền thuyết dân gian và những cổ vật tìm kiếm được như các chuyện: vua Hùng kén rể (tướng), Phù Đổng Thiên Vương phá giặc Ân, Thành Cổ Loa và nỏ thần của An Dương Vương,... cũng có thể suy đoán chắc chắn rằng: việc phòng bị chống giặc ngoại xâm đã được nhà nước Văn Lang, Âu Lạc coi trọng.


Từ sau khi lật đổ ách Bắc thuộc, giành được độc lập, các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê, Tây Sơn và nhà Nguyễn đã kế tiếp nhau xây dựng và bảo vệ đất nước. Dưới sự lãnh đạo của các triều đại, quân dân Đại Việt đã phải tiến hành tới 10 cuộc chiến tranh lớn chống ngoại xâm. Điều kiện lịch sử và kẻ thù trong mỗi cuộc chiến tranh có khác nhau, nhưng đặc điểm chung nhất là kẻ thù luôn mạnh hơn ta cả về số lượng quân đội và vật chất huy động.


Giặc Tống gây chiến với Đại Việt trong lúc nội tình đang gặp khó khăn, chúng muốn dùng chiến tranh để ổn định nội trị. Giặc Nguyên Mông xâm lược nước ta trong lúc kỵ binh của chúng tung hoành khắp lục địa Âu-Á. Nhà Thanh đánh Đại Việt khi chúng đã chiếm gần hết lục địa Trung Hoa ngày nay. Quân Tống tràn vào nước ta với 30 vạn, trong khi quân đội của nhà Lý chỉ hơn 10 vạn. Trong lần xâm lược thứ hai (1285), quân Nguyên đông hơn nửa triệu còn triều đình nhà Trần động viên cao nhất chỉ được 30 vạn. Nhà Minh đánh triểu Hồ cũng sử dụng tới 50 vạn quân. Nhà Thanh đưa trên 29 vạn quân tiến vào Thăng Long trong khi quân của Quang Trung có khoảng 10 vạn.


Kẻ xâm lược không chỉ lớn mạnh mà còn rất xảo quyệt. Trước khi xâm lược nước ta chúng tìm mọi cách phá hoại bằng nhiều thủ đoạn như mua chuộc tay sai, cài nội gián, gây chia rẽ nội bộ, phá hoại kinh tế,... chúng chú trọng liên kết với lực lượng phản động trong nước, tìm cơ hội thuận lợi để đưa quân xâm lược.


Hoàn cảnh đất nước và kẻ thù rình rập thường xuyên đã buộc các triều đại phong kiến Việt Nam phải luôn đề cao cảnh giác, chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, lương thảo để duy trì hoà bình, ổn định đất nước và để có khả năng đánh thắng quân xâm lược bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #93 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2021, 07:57:34 pm »

1. Quan điểm tư tưởng của các triều đại về quốc phòng

Nhiều triều đại phong kiến Việt Nam có những bậc minh quân, hiền thần và những nhà chí sĩ tiến bộ. Những con người này lãnh đạo đất nước thường lo lắng và quan tâm đến việc phòng thủ đất nước. Họ hiểu rằng ngay từ khi thái bình vẫn phải cảnh giác và chuẩn bị sẵn sàng lực lượng để chống giặc ngoài. Thông qua các chiếu chỉ, lời răn, thậm chí bằng thơ văn, nhiều vị vua sáng, tôi trung đã nêu lên những quan điểm tư tưởng tiến bộ trong chỉ đạo sự nghiệp quốc phòng.


Vua Lý Nhân Tống (1072-1127), người đã cùng triều đình nhà Lý lãnh đạo đất nước đánh thắng giặc Tông (1077) trước khi mất đã căn dặn các đại thần: "Nên thường xuyên sửa sang giáo mác để để phòng việc không ngờ, các người chớ làm sai lệnh đó, ta dù nhắm mắt cũng không di hận". Đến đời vua Lý Anh Tông (1138-1175) dù đất nước đang thái bình nhưng vẫn chăm lo công việc ổn định vùng biên ải và răn dạy người kế nghiệp (Thái tử): "Nước ta non sông gấm vóc, nhân tài tuấn kiệt, đất thiêng, châu ngọc bảo bối không cái gì không có, nước khác không thể ví được. Con nên giữ gìn cẩn thận". Năm 1285, sau khi đánh thắng quân Nguyên xâm lược nước ta lần thứ 2, trong không khí mừng đón chiến thắng, Thái sư Trần Quang Khải đã làm thơ1 (Trần Quang Khải (1241-1294) dưới triều vua Trần Thánh Tông (anh ruột) được cử giữ chức Thái sư, nắm toàn quyền nội chính. Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên lần 2 (1285) và lần 3 (1288) là vị tướng chủ chốt thứ hai sau Trần Quốc Tuấn. Ông có công lớn đánh thắng quân Nguyên ở Chương Dương và Thăng Long. Bài thơ mừng thắng lợi chống Nguyên của ông viết: "Đoạt sáo Chương Dương độ. Cầm Hồ Hàm Tử quan. Thái bình tu trí lực. Vạn cổ thử giang sơn") nhắc nhở mọi người: dù thái bình rồi nhưng vẫn phải thường xuyên tu rèn trí lực thì mới giữ được giang sơn bền vững đời đời. Năm 1300, Hưng Đạo Đại vương ốm nặng, vua Trần Anh Tông (1293-1314) đến thăm và lo lắng hỏi: nếu có điều chẳng may mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thê nào? Ông đã trăng trối những lời tâm huyết, rất sâu sắc với nhà vua là phải chọn tướng giỏi, thực hiện vua tôi đồng tâm, anh em hoà thuận, cả nước góp sức, xây dựng bức thành của lòng dân "Chúng chí thành thành" và lấy khoan thư sức dân là kế sâu rễ bền gốc trong kế sách giữ nước. Đó cũng chính là những nguyên nhân cơ bản của ba lần đánh thắng giặc Nguyên.


Sau khi đánh giặc Minh, giải phóng đất nước, Lê Thái Tổ, vị vua dựng nghiệp của triều đại Lê Sơ vẫn chăm lo công việc phòng thủ, thường trực tiếp kinh lý các vùng biên ải phía bắc. Trong một lần kinh lý, vua đã làm bài thơ lưu lại cho các thế hệ, trong đó có câu: "Biên phòng hảo vị trù phương lược, xã tắc ưng tu kế cửu an", tức: Biên phòng phải luôn có phương án tốt, đất nước phải lo kế giữ lâu dài. Và kế lâu dài của Lê Thái Tổ không chỉ là chăm lo riêng việc vũ bị mà là chú ý đến nhiều mặt: Chính trị, kinh tế, quân sự.., như sách Đại Việt sử ký toàn thư đã chép: "Vua lên ngôi, đã ấn định luật lệnh, chế tác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, mở mang trường học, có thể gọi là kế xa rộng mở mang cơ nghiệp vậy"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.237). Đi từ khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh giải phóng giành thắng lợi, khi thế nước đã vững vàng, Lê Thái Tổ vẫn lo lắng, răn dạy con cháu: "Ta tự phát chông gai, thân trừ cường bạo, lấy giáp trụ làm chăn áo, lấy đồng cỏ làm cửa nhà, xéo đạp hiểm nghèo, xông pha gươm giáo, do đó phong trần quét sạch, cơ nghiệp dựng nên. Gây dựng kinh doanh thực gian khổ lắm. Nay con nhờ công lao của ta, nối cơ nghiệp của ta, phàm những phép giữ nước cầm quân, những phương sửa mình trị nước, thi hành nên cố sức, chăm chỉ chớ ham vui" (Hậu từ huấn).


Đến đời Lê Thánh Tông (1460-1497), vị vua anh minh, tài trí đã đưa đất nước đến một giai đoạn thịnh trị nhất thời Lê Sơ. Ông cũng là một vị vua có những chiếu chỉ rất nghiêm túc đối với sự nghiệp quốc phòng. Dưới thời vua Lê Thánh Tông, những vụ xâm phạm biên giới Đại Việt ở phía Bắc, phía Nam và phía Tây đều bị đẩy lùi. Ông dặn các đại thần trông coi biên giới phía Bắc rằng: "Một thước núi một tấc sông của ta, lẽ nào vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước núi, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.262). Còn đối với các đại thần trong triều, ông nói: "Tông miếu xã tắc an hay nguy là ở các khanh mà thôi. Các ngươi nên nghĩ cho kỹ, tính cho chín, tâu việc trị nước cho trẫm biết. Trẫm sẽ cố gắng quyết đoán ở bên trong, các khanh sẽ thừa hành ở bên ngoài...". "Để làm sao trong nước yên bình, binh khí không phải dùng đến"2 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.262) .


Trên đây là một số nhận thức, quan điểm của các nhà lãnh đạo quốc gia trong các triều đại tiến bộ đối với sự nghiệp quốc phòng. Có thể rút gọn các quan điểm đó trên một số ý sau:

a) Phòng thủ đất nước - tức quốc phòng và an ninh là bảo vệ lãnh thổ quốc gia, bảo vệ vương triều, bảo vệ dân và bảo vệ tài nguyên của đất nước. Chính vì thế trong các chiếu chỉ của triều đình đều nêu rõ phải bảo vệ bằng được mỗi thước núi, mỗi tấc đất, mỗi tấc sông của tổ tiên để lại. Và tất cả non sông gấm vóc, nhân tài tuấn kiệt, châu ngọc... đều phải gìn giữ, không để rơi vào tay giặc.

b) Quốc phòng an ninh phải có phương lược tốt, có kế sách lâu dài, ngay từ khi đất nước đang thái bình, đang xây dựng phát triển. Nhà Lý thì nói phải "... thường xuyên sửa sang giáo mác..."; triều Trần dù ba lần đánh thắng giặc Nguyên vẫn chú trọng "Kế sách giữ nước", đề phòng giặc phương Bắc xâm lược. Lê Lợi sau khi quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ cõi vẫn căn dặn: "xã tắc phải lo kế lâu dài"...

c) Muốn củng cố quốc phòng vững chắc, phải chăm lo vũ bị, xây dựng quân đội, chọn dùng tướng giỏi, thực hiện cố kết lòng người, khoan thư sức dân... Các triều đại luôn chú ý xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng tinh thần cố kết trong nước, vì vậy phải chăm lo đến đời sống dân chúng, giữ yên bên trong mới mong ngăn ngừa kẻ thù bên ngoài.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #94 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2021, 07:59:25 pm »

2. Những hoạt động chính của các triều đại nhằm xây dựng và nâng cao sức mạnh quốc phòng]

Dựa vào việc làm thực tế của các triều đại mà thấy nổi lên những hoạt động chính sau đây:

a) Xây dựng chính quyền vững mạnh để thực hiện công cuộc dựng nước và giữ nước.

Mọi triều đại khi mới sáng lập đều chú trọng xây dựng chính quyền trung ương vững mạnh, coi đó là bộ mặt, là thể diện cho quốc gia. Dưới chế độ phong kiến quan điểm của mọi người cho rằng đất nước không thể một ngày không có "vua". Khái niệm "vua" không chỉ là một người mà là một hệ thống chính quyền quản lý điều hành mọi hoạt động của đất nước. Ngoài việc kế thừa di sản của các tiên triều, triều đại mới còn căn cứ vào tình hình cụ thể và quyền lợi của hoàng tộc mà tổ chức hệ thống chính quyền từ trung ương tới cơ sở nhằm củng cố vững chắc quyền lực. Nội dung xây dựng chính quyền phong kiến cũng mang tính toàn diện. Trong Đại Việt sử ký toàn thư, sử gia Ngô Sĩ Liên viết: "Vua lên ngôi, ấn định luật lệnh, chế tác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, mở mang trường học, có thể coi là kế xa rộng, mở mang sự nghiệp"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.239). Rõ ràng, tất cả những việc làm đó khi mở đầu của một triều đại đều nhằm xây dựng thế nước mạnh đồng thời với việc tăng cường quyền lực của vương triều. Nhà Lý tồn tại trên hai thế kỷ (215 năm), củng cố được nhà nước trung ương tập quyền, xây dựng được một hệ thống chính quyền khá quy củ, từ trung ương đến các lộ, phủ, châu và hương giáp. Nhờ đó mà giữ được sự yên bình ở trong nước, và khi có giặc ngoại xâm thì huy động được sức mạnh của cả nước đánh thắng nhà Tống (1077). Triều Trần trị vì gần hai thế kỷ (175 năm), ngoài việc tiếp thu thành quả xây dựng của triều Lý, còn rất coi trọng củng cố chế độ tập quyền. Triều Trần có nhiều việc làm nhằm củng cố chính quyền, trong đó chú trọng đến cơ sở (cấp xã), nhấn mạnh cấp xã là bản vị quốc gia nhưng không vì thế mà làm suy yếu quyền lực của triều đình. Nhà Trần nêu cao tính độc lập tự chủ, trong lúc học hỏi kinh nghiệm của phong kiến Trung Hoa, vẫn nhấn mạnh: "Triều trước dựng nước đã có phép độ, không nên theo chế độ nhà Tống vì Nam Bắc đều làm chủ nước mình, không phải noi theo". Đến thời Lê Sơ (1428-1527) bộ máy chính quyền càng được hoàn thiện ở cả trung ương và các địa phương. Điều quan trọng là các triều đại Lý, Trần, Lê Sơ trong quá trình củng cố chính quyền đã chú ý việc kén chọn nhân tài để sung vào đội ngũ quan lại các cấp chính quyền. Khi ca ngợi triều Trần kén chọn hiền tài, sử gia Ngô Thời Sĩ viết: "Vua lập ra nhà học, tôn chuộng nghề văn, dựng lên ngôi nhà giảng tập việc võ, cả văn và võ có vẻ rực rỡ lắm, cho nên có các ông Hán Siêu, Trung Ngạn, Nhật Duật, Ngũ Lão nối nhau xuất hiện. Văn Trung và Hưng Đạo là bậc danh nho, danh tướng lẫy lừng thời bấy giờ là kết quả của sự tôn chuộng văn võ đó"1 (Ngô Thời Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên in dưới thời Tây Sơn. Sách: Lịch sử Sử học VN, Trường Đại học Sư phạm HNI in năm 1992, tr.34-35). Nhà Nguyễn trị vì cũng coi trọng kén chọn người đỗ đạt cao để bổ vào chức; ở cấp cao muốn được bổ nhiệm đều được triệu về kinh để kiểm tra năng lực.


Trong việc củng cố chính quyền, các triều đại đều chú ý đến việc xây dựng và ban hành luật lệnh, coi đó là một công cụ để quản lý mọi hoạt động xã hội đồng thời còn bảo vệ lợi ích của vua quan. Nhà Lý ban hành bộ Hình thư năm 1042. Đây là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta. Triều Trần cũng coi trọng hoàn thiện luật pháp. Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Canh dần năm thứ sáu tức 1230, mùa xuân tháng Ba xét các lệ của triều trước, để làm Thống chế của quốc triều và sửa đổi hình luật, lễ nghi"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.10). Triều Lê Sơ, ban hành bộ Quốc triều hình luật, còn gọi là bộ Luật Hồng Đức. Các bộ luật quy định nhiều lĩnh vực: Chính trị, kinh tế nông nghiệp, đạo lý, ngoài ra còn có luật quy định về binh dịch của các đinh tráng, nghĩa vụ đóng góp để bảo vệ đất nước... Dưới triều Tây Sơn tuy thời gian tồn tại không dài nhưng triều đình cũng ban hành những quy định khá chặt chẽ, như tháng 10 năm 1788, công bố bản quân pháp 5 điều, giữ nghiêm kỷ luật quân ngũ và bảo đảm cho các cuộc hành binh giành thắng lợi. Đến triều Nguyễn, năm 1812 đã ban hành bộ luật, có khoảng 10% các điều khoản đề cập đến quốc phòng, gọi là phần binh luật.


Trong lịch sử chế độ phong kiến nước ta, thường giai đoạn đầu của mỗi triều đại là giai đoạn tiến bộ, có những chính sách hợp lòng dân nên đoàn kết được dân chúng, duy trì được sự ổn định trong nước để xây dựng phát triển; đồng thời có được sức mạnh để ngăn ngừa âm mưu xâm lấn từ bên ngoài. Nhưng vào giai đoạn cuối của triều đại, khi tầng lớp quý tộc thoái hoá, tham lam vơ vét của dân, đàn áp dân chúng nhằm bảo vệ lợi ích phản động của mình thì đất nước mất ổn định, sức mạnh giữ nước suy yếu, đất nước đứng trước nguy cơ bị ngoại bang xâm lược.


Có thể nói chính quyền mạnh hay yếu là một nhân tố quyết định đến thế nước thịnh hay suy. Vì vậy, xây dựng và củng cố chính quyền vững mạnh cũng tức là xây dựng và củng cố sức mạnh phòng thủ đất nước.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #95 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2021, 08:00:56 pm »

b) Xây dựng quân đội mạnh "Cốt tinh không cốt nhiều" thực hiện toàn dân là lính

Xây dựng quân đội mạnh để bảo vệ nhà nước, bảo vệ Tổ quốc được coi là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết của mọi triều đại. Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) nói: "Hễ có quốc gia tất cả phải có vũ bị". Sử gia Phan Huy Chú viết trong Lịch triều hiến chương loại chí rằng: "Quân đội là thiết bị giữ nước không thể thiếu được" và "Việc binh bị là việc thiết yếu của quốc gia".


Sau khi lật đổ ách Bắc thuộc, các nhà nước phong kiến Đại Việt rất coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang của mình. Trải qua các triều Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần... binh chế của nước ta ngày càng hoàn thiện, quân đội được tổ chức cũng ngày một quy củ. Hệ thống lực lượng vũ trang bao gồm nhiều loại quân, từ quân triều đình, quân các đạo, lộ và các châu đến hương binh, dân binh ở các làng xã. Quân triều đình được coi là quân chủ lực, thường đóng ở kinh thành, bảo vệ vua và chính quyền trung ương; còn quân địa phương, nhất là dân binh thì có mặt ở khắp mọi miền đất nước. Sức mạnh của quân đội thể hiện ở cả hai mặt số lượng và chất lượng, nhưng do đất nước ta thường phải đương đầu với những cuộc xâm lược của kẻ thù đông quân, giàu tiềm lực kinh tế hơn ta nên ông cha ta không chủ trương duy trì quân đội đông người mà coi trọng chất lượng quân đội. Theo Trần Quốc Tuấn: "Quân cần tinh không cần nhiều, dù đến như Bồ Kiên có 100 vạn quân, có làm được gì đâu?"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.59. (Bồ Kiên vua Tiền Tần có 100 vạn quân mà vẫn thua quân Tấn ít hơn 10 lần. Xem Các triều đại Trung Hoa, do Lê Giang biên soạn. Nxb Thanh niên, H.1999, tr.134-135)). Nguyễn Trãi viết: "Binh mạnh hay yếu không cứ ở nhiều, quân nhà Hồ trăm vạn người trăm vạn lòng, quân ta chỉ với vài chục vạn nhưng ai ai cũng một lòng thì tất thắng". Còn Nguyễn Huệ thì nói: "Quân cần tinh không cần nhiều, binh lính cốt hoà thuận không cốt đông”. Trong các cuộc chiến tranh chống Tống (981, 1077), chống Mông - Nguyên (1258, 1285, 1288), chống Minh (1418- 1427) và chống Thanh (1789), quân đội Đại Việt luôn luôn ít hơn quân địch nhưng vẫn giành thắng lợi. Quan điểm xây dựng quân đội "cốt tinh nhuệ" là quan điểm truyền thống của dân tộc ta.


Để nâng cao chất lượng "tinh nhuệ" của quân đội, các triều đại rất chú ý hoàn thiện cơ cấu tổ chức, cải tiến trang bị và rèn luyện quân sĩ. Về cơ cấu tổ chức lúc hoàn thiện nhất, quân đội quốc gia Đại Việt đã hình thành các binh và quân, như lục quân, thuỷ quân. Trong lục quân có bộ binh, kỵ binh, tượng binh. Tuy nhiên do điều kiện địa hình của nước ta, các triều đại không chủ trương phát triển kỵ binh mà tập trung xây dựng bộ binh và thuỷ binh, về trang bị, trong chiến tranh vẫn sử dụng phổ biến vũ khí lạnh (cung nỏ, kiếm, qua, kích...) nhưng đến cuối đời Trần đã xuất hiện hoả khí (hoả pháo, pháo, súng). "Thần cơ sang pháo" thời Hồ là loại pháo nổi tiếng thời đó. Các thuyền chiến trang bị của thuỷ quân đã có từ thời Lý, đến thời Trần thì phát triển nhiều loại, có loại thuyền chiến nhỏ, thuyền chiến lớn (2 tầng, 32 mái chèo), có cả hoả pháo đặt trên thuyền, về rèn luyện quân sĩ, nhất là rèn luyện những người chỉ huy được chú trọng. Ngay từ thời Lý đã lập Điện Giảng Võ và Xạ Đình ở kinh thành. Thời Trần có Giảng Võ Đường và Trường đua, thời Lê có bãi tập, trường bắn và bãi luyện ngựa... Đây là những trường học quân sự, nơi rèn luyện các võ quan, tướng lĩnh, về binh pháp, từ triều Lý đã quy định những quy tắc riêng, mà sử nhà Tống gọi là "An Nam hành quân pháp", triều Trần có "Binh thư yếu lược” và ”Vạn kiếp tông bí truyền thư”. Những binh thư đó được biên soạn để đào luyện các tướng lĩnh. Việc học binh thư, binh pháp dưới thời phong kiến là điều bắt buộc đối với nhà vua, thái tử và các vương hầu... vì họ là những người chỉ huy quân đội và khi chiến tranh xảy ra thì vua "tự làm tướng” đi đánh giặc, còn thái tử, các vương hầu đều được cử là tướng trực tiếp chỉ huy các đạo quân trấn giữ ở các hướng chiến lược.


Các triều đại đều chú trọng việc "Bạt dụng lương tướng” tức là "Chọn dùng tướng giỏi" không cứ trong giới quý tộc mà tiêu chí là: Nhân, Nghĩa, Tín, Trí, Minh, Tài, Cương và Nghiêm" Trong các triều Lý, Trần, Lê đã xuất hiện nhiều tướng lĩnh lỗi lạc, có tài cầm quân đánh giặc, đồng thời có tài giáo huấn quân sĩ. Các sử gia khi ca ngợi tướng lĩnh thời Trần đã viết: "Giao cầm quân thì cùng nhau sống chết", "Dụng binh tinh diệu, chiến tất phải thắng" và, "Khi đối địch với giặc thì tự mình xông pha lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui, không kẻ nào địch nổi"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.111). Để rèn luyện tướng lĩnh và quân sĩ, hàng năm nhà vua thường tổ chức tập trận hoặc thao diễn quân ngũ, làm cho quân lính quen với chiến trường, tướng lĩnh thạo cách bày trận và phá trận. Thế kỷ XIII, trước khi giặc Nguyên, xâm lược nước ta, vua Trần Nhân Tông cùng tiết chế Trần Quốc Tuấn thường tổ chức duyệt quân và tập trận lớn ở Đông Bộ Đầu2 (Đông Bộ Đầu, bến sông Nhị phía đông thành Thăng Long ngày nay ở vào khoảng từ dốc Hàng Than đến dốc Hòe Nhai, Quận Ba Đình, Hà Nội (TĐBKVN, H.1993, t.1, tr.865) hay ở bãi sông Bạch Hạc (Vĩnh Phú). Thời Lê Sơ, việc duyệt quân, tập trận cũng được các vua tổ chức hàng năm: đời Lê Thánh Tông còn ban hành phép duyệt, tập trận thuỷ bộ rất quy củ3 (Chuyên đề "Quốc phòng an ninh trong lịch sử dân tộc" Viện LSQSVN, 1994, tr.22).


Cùng với sự quan tâm nâng cao chất lượng quân đội, các triều đại vẫn chuẩn bị tích cực một thế trận giữ nước là "Lòng dân", nhằm khi có chiến tranh thì có thể huy động được nguồn nhân lực đáng kể sung vào quân ngũ. Khi bàn về chiến thắng giặc Nguyên của triều Trần, sử gia Phan Huy Chú đã viết trong Lịch triều hiến chương loại chí là do "Trăm họ đều là binh nên mới phá được giặc dữ và làm mạnh thế nước". Quan điểm của ông cha ta không cần duy trì một đạo quân thường trực đông trong thời bình, vì như vậy sẽ là một gánh nặng cho quốc khố. Từ thời Lý nhà nước Đại Việt đã ban hành quốc sách "Ngụ binh ư nông", các triều đại kế tiếp vẫn duy trì quốc sách này nhưng bổ sung bằng các quy định rõ ràng, cụ thể như: "Quân biên sổ", "Quân chia phiên". Để thực hiện các quy định này, việc đăng ký các đinh nam được quản lý chặt chẽ. Các đinh nam cứ đến tuổi trưởng thành đều phải ghi tên vào sổ quân. Hàng năm chiếu theo sổ mà tuyển lính tráng sung vào quân ngũ, số dư không tuyển hết thì cho về sản xuất, khi có việc sẽ gọi. Sau chiến tranh quân đội thường giảm quân, trong quân thường trực thì ngoài cấm quân ra (quân túc trực bảo vệ vua và kinh thành) còn lại thì thực hiện "Chia phiên", tức là luân phiên nhau ở lại canh phòng, luyện tập hay về nhà sản xuất tự túc lương ăn. Nhờ cách duy trì quân đội như vậy, nhà nước Đại Việt luôn có một quân đội thường trực số lượng không đông nhưng có chất lượng cao, đồng thời có lực lượng hậu bị đông đảo, sẵn sàng mở rộng quân đội khi có chiến tranh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #96 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2021, 08:01:40 pm »

c) Kết hợp "Kiến quốc", với "Thủ quốc” làm cho "dân giàu nước mạnh", "Quốc phú binh cường".

Từ lịch sử đấu tranh để tồn tại và phát triển của dân tộc, ông cha ta luôn nhắc nhở mọi thế hệ phải nắm vững quy luật "Dựng nước luôn luôn đi đối với giữ nước, xây dựng kinh tế gắn với củng cố quốc phòng". Vì thế "Dân giàu nước mạnh" "Quốc phú binh cường", "Thực túc binh cường" là quan điểm rõ ràng của các triều đại.


Các nhà nước phong kiến tiến bộ chăm lo sản xuất nông nghiệp, "coi việc làm ruộng là gốc rễ của nước", chủ trương "dồn hết sức vào việc làm ruộng, để cho sự tích trữ trong nước được dồi dào"1 (Việt sử thông giám cương mục, Nxb Văn-Sử-Địa, H.1959, t.3, tr.27). Các vua thời Lý, Trần, Lê Sơ... thường ra chiếu khuyến nông, có chính sách khuyến khích việc khai hoang mở rộng diện tích, đặt thuế khích lệ sản xuất. Để động viên việc nông trang, nhiều vị vua còn xuống đồng cầy ruộng làm gương, tổ chức lễ tế thần nông, cầu thời tiết thuận hoà, mùa màng bội thu. Để bảo vệ sản xuất nông nghiệp nhà nước còn ban hành các điều luật về việc cấm lạm sát trâu bò, quản lý chặt nhân đinh ở làng xã, nghiêm cấm và trừng trị kẻ rong chơi, lêu lổng, du thủ du thực. Công cuộc đắp đê, xẻ mương máng tưới tiêu, nạo vét sông ngòi đều được các chức sắc ở địa phương đôn đốc thực hiện. Nhờ coi trọng nghề nông mà sản xuất lương thực có bước phát triển, đời sống nhân dân no đủ, đất nước có lương thực trữ phòng thiên tai và chi dùng cho quân đội khi có việc, sử sách còn ghi chép nhiều chuyện về nguồn trữ lương thực dồi dào của triều Lý Thái Tông (1028-1054), Trần Nhân Tông, (1279-1293), Lê Thánh Tông (1460-1497). Sử gia Lê Quý Đôn viết trong sách Kiến văn tiểu lục rằng: "Lúc ấy ở các trấn, sở đều có kho tàng dự trữ cho việc biên phòng"1 (Lê Quí Đôn, Toàn tập, Nxb KHXH, H.1977, t.2, tr.296). Ngoài nông nghiệp, thủ công nghiệp ở nước ta cũng đã xuất hiện sớm, được triều đình chú trọng phát triển chẳng những để phục vụ đời sống mà còn phục vụ quốc phòng. Nghề dệt, gốm, rèn đúc, đóng thuyền... vừa sản xuất vật dụng cho sinh hoạt và sản xuất, còn chế tạo trang bị, vũ khí cho quân đội. Thời Trần, Hồ đã có xưởng sản xuất, vũ khí, kho quân khí..., các pháo Thần cơ, súng phun lửa, thuyền chiến... đã được sản xuất dưới triều Trần và Hồ, nổi tiếng là lợi hại và có uy lực lớn.


Cùng với việc phát triển nông nghiệp ở đồng bằng, các triều đại tiến bộ không coi nhẹ việc xây dựng kinh tế ở các vùng biên cương và những địa bàn trọng yếu. Nhà Trần cho các vương hầu, quý tộc được mộ dân nghèo hay người lưu tán đến các vùng núi hay ven biển khẩn hoang lập các điền trang. Trong các điền trang, các quý tộc được tổ chức các đơn vị vũ trang riêng, gọi là quân vương hầu. Các đơn vị quân đội đồn trú, canh phòng biên cương cũng khai phá đất hoang, lập đồn điền, sản xuất để có lương thực dự phòng tại chỗ.


Trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế, các nhà nước phong kiến Đại Việt còn xúc tiến công cuộc mở mang, tu bổ giao thông thuỷ, bộ trong nước. Ngay từ thời Tiền Lê đã cho đào kênh từ Bắc vào Nam (Thanh Hoá vào Nghệ Tĩnh), nhân dân thường gọi là kênh nhà Lê đến nay vẫn dùng. Các triều Lý, Trần, Lê Sơ... sau này tiếp tục xây dựng giao thông từ kinh đô đi các lộ, bắc giáp tới Trung Quốc, nam tới đất Chiêm Thành. Các tuyến giao thông thuỷ bộ được mở mang giúp cho giao lưu kinh tế nhộn nhịp đồng thời còn phục vụ quốc phòng thêm vững chắc.


Qua công việc làm của tổ tiên ta, dù sử sách không ghi lại thật đầy đủ nhưng vẫn thấy rằng, các triều đại trước đây đã có quan điểm đúng đắn, biết kết hợp nhiệm vụ "Kiến quốc" với nhiệm vụ "Thủ quốc", như ngày nay chúng ta gọi là kết hợp xây dựng kinh tế với tăng cường sức mạnh quốc phòng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #97 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2021, 08:02:15 pm »

d) Ban hành chính sách tiến bộ, thực hiện khoan thư sức dân, làm cho trong nước yên bình, lòng dân cố kết

Tư tưởng coi dân là gốc của nước đã xuất hiện từ sớm trong lịch sử dân tộc ta. Trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược, sức mạnh của nhân dân đoàn kết là bức thành vững chắc nhất cản phá giặc. Mọi triều đại khi dựng nghiệp do coi trọng tranh thủ lòng dân nên chẳng những nâng cao được sức mạnh giữ nước mà còn củng cố được vương quyền.


Năm 1010, Lý Thái Tổ trong chiếu dời đô đã nói đến "... thuận lòng dân"; khi giải thích nguyên nhân đánh thắng giặc Mông - Nguyên, Trần Quốc Tuấn cho rằng, đó là do "Vua tôi đồng tâm, anh em hoà thuận, cả nước góp sức, lòng dân không chia"; còn Nguyễn Trãi thì viết: "Lật thuyền mới biết sức dân như nước", ông ví sức dân mạnh "như nước", nước có thể "chở thuyền" và cũng có thế "lật thuyền".


Chính vì nhận thức được vai trò của nhân dân trong việc dựng nước và giu nước nên Trần Quốc Tuấn coi "Thượng sách giữ nước" là phải "Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc", và Nguyễn Trãi trong kế sách "Bình Ngô" đã đề nghị Lê Lợi là không đề cao việc chiếm thành trì mà bàn việc khéo thu phục lòng người; cuối cùng khiến cho dân và đất đai thảy đều trở về ta.


Các vương triều tiến bộ khi muốn củng cố thế nước mạnh đều chú ý ban hành các chính sách "An dân" và "Khoan thư sức dân", về kinh tế thì chú ý thuế khoá hợp sức dân chứ không để dân cạn kiệt; gặp phải năm thiên tai phải kịp xem xét việc giảm hay miễn thuế để dân yên tâm phục hồi sản xuất. Ví dụ: Năm 1010, nhân dịp dời đô, vua Lý Thái Tổ ban chiếu đại xá thuế, những kẻ mồ côi, goá bụa, già yếu không thu khoản còn thiếu. Sau chiến thắng giặc Mông - Nguyên, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn khuyên vua hoãn việc xây cất lại kinh thành mà cần kíp là cứu tế dân nghèo, giảm miễn thuế để dân hồ hởi, tích cực phục hồi sản xuất. Hay sau khi đuổi sạch giặc Minh, Lê Thái Tổ lên ngôi cho thực hiện chính sách quân điền vì nhà vua thấy rõ sự bất công: "Người đi đánh giặc thì nghèo, người rong chơi thì giàu, người đi chiến đấu thì không có một tấc đất để ở, kẻ du thủ du thực không có ích cho nước thì ruộng đất nhiều...". Cùng với ban hành các chính sách kinh tế, nhiều triều vua tiến bộ còn chú ý đến việc thực hiện các chính sách xã hội như thu thập ý nguyện dân chúng (đời Lý), họp đại hội quốc dân (hội nghị Diên Hồng đời Trần), ban hành luật pháp có những điểm tiến bộ (Luật Hồng Đức đời Lê Sơ), tổ chức các cuộc kinh lý để tìm hiểu đời sống dân chúng như vua Trần Thái Tông đã nói: Trẫm muốn ra ngoài chơi để nghe tiếng nói của dân, biết tình trạng khó khăn của dân1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1984, t.1, tr.277).


Các chính sách kinh tế và xã hội tiến bộ, chú ý đến quyền lợi và đời sống của dân đã tạo nên một không khí hoà thuận trong nước, góp phần tăng cường đoàn kết quốc gia, dân tộc, ổn định được đất nước nên vững vàng ứng phó với các sự biến từ bên ngoài. Có vua anh minh như Lê Thánh Tông từng được sử thần ca ngợi: "Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về người xa, yên ủi người gần, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh. Có thể coi là bậc vua tốt". Tuy nhiên các nhà nước phong kiến theo quy luật phát triển của nó ngày càng chuyên chế, nên tính "Cận dân" cũng ngày càng ít đi. Vì vậy, các chính sách tiến bộ khó được thực hiện đầy đủ, lâu dài. Cứ sau một thời kỳ thịnh đạt là đến giai đoạn suy thoái, khi đó các vương triều bắt đầu suy đồi. đối lập với nhân dân và hậu quả là thất bại trước họa xâm lăng hoặc bị lật đổ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #98 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2021, 08:03:12 pm »

đ) Tỉnh táo, cảnh giác phát hiện kịp thời và đập tan âm mưu phá hoại và xâm lược của thù trong giặc ngoài.

Lịch sử đấu tranh dựng nước - giữ nước của dân tộc ta chứng minh rằng, những nguy cơ đe dọa độc lập của dân tộc thường xuất hiện cả ở bên trong và bên ngoài đất nước ta. Kẻ thù xâm lược từ bên ngoài luôn luôn tìm cách cấu kết với thế lực phản động bên trong để dễ dàng thôn tính nước ta. Do đó, ông cha ta thường dạy: "Có dẹp được thù trong mới chống được giặc ngoài". Để thực hiện ý tưởng đó, các triều đại rất quan tâm tiến hành những việc sau:

- Chống mưu phản, đại nghịch: Trong nhiều triều đại, do những mâu thuẫn về quyền lợi thường xảy ra những hiện tượng chia bè kết đảng, chiếm đất xưng vương, thoán đoạt ngôi vị, mưu phản chống vua... Những hiện tượng này làm suy yếu đất nước, dễ bị kẻ thù bên ngoài tận dụng để phát động chiến tranh xâm lược. Do đó, triều đình phải kịp thời ngăn ngừa, trấn áp để bảo vệ sự thống nhất quốc gia và trật tự xã hội. Trong lịch sử nước ta đã từng xảy ra những nguy cơ này. Năm 944 Ngô Quyền mất, đất nước rơi vào cuộc loạn 12 sứ quân phải đến năm 968 mới dẹp xong và triều Đinh mới bắt đầu sự nghiệp. Dưới thời nhà Lý vào các năm 1039, 1141 đã xảy ra các vụ xưng vương ở biên giới phía Bắc (Cao Bằng, Bắc Kạn) buộc triều đình phải đem quân lên dẹp. Năm 1028, khi vua Lý Thái Tổ mất, các hoàng tử nổi lên giành ngôi báu gây ra loạn ba vương1 (Lý Thái Tổ vừa mất (1028) thì các hoàng tử: Võ Đức Vương, Dự Thánh Vương và Đông Chính Vương đã đem quân đến vây hoàng thành để tranh ngôi của Thái tử Phật Mã, nhưng bị dẹp tan. Sự kiện này được gọi là loạn ba vương), phải nhờ các đại thần trung trực đứng lên mới dẹp yên. Đến thời Trần và Lê Sơ cũng xảy ra các vụ mưu phản nhưng bị trấn áp kịp thời mới củng cố được triều chính, giữ được sự ổn định trong nước.


- Kiên quyết trừng trị kẻ phản bội: Nhìn chung giới quý tộc phong kiến Đại Việt đều có tinh thần dân tộc cao, có ý thức bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước. Mỗi khi có ngoại xâm họ đều đứng lên chống giặc. Nhiều người nêu gương sáng, hy sinh vì bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, không tránh khỏi trong mỗi giai đoạn lịch sử vẫn có những người phản bội quyền lợi dân tộc, cam tâm theo giặc, phá hoại công cuộc xây dựng yà bảo vệ đất nước, thậm chí làm tay sai cho thế lực xâm lược bên ngoài, rước voi về giày mả tổ. Qua lịch sử có thể nêu lên tên tuổi những kẻ phản bội đó, như Kiều Công Tiễn liên kết với quân Nam Hán (938), Trần Di Ái đi sứ hàng giặc (1282), Trần Ích Tắc, Trần Kiện... chạy theo quân Nguyên (1285), Trần Thiêm Bình liên kết với quân Minh (1406), Nguyễn Ánh cầu cứu quân Xiêm (1785), Lê Chiêu Thống dẫn đường cho quân Thanh (1789) xâm lược.


Tất cả những kẻ phản bội làm nguy hại đến độc lập dân tộc, an ninh quốc gia đều bị xử tội nghiêm khắc. Kiều Công Tiễn bị chém bêu đầu trước thành Đại La, Trần Di Ái bị bắt sung làm lính, Trần Ích Tắc sống nhờ nơi đất Bắc chết trong cô độc, Trần Kiện không tránh khỏi mũi tên độc của Nguyễn Địa Lô; ngoài ra còn nhiều tên tay sai bị chém đầu để răn. Sử cũ còn ghi lại: "Mùa thu, tháng 9 năm 1262 soát tù, kẻ nào khi giặc Bắc sang mà đầu hàng quân Nguyên thì không tha"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.33). Dưới thời Trần trong ba lần chống Mông - Nguyên, có hai hướng khi giặc đến không đánh nên bị xử tội, bắt làm binh thang mộc, cấp cho các tề thần làm hoành nô sai khiến, không ai được làm quan. Đến thời Lê Sơ, sau khi đánh thắng quân Minh, nhà vua ra chiếu chỉ quy định: phàm những ai đã hàng giặc, nay biết hối cải đều cho trở về làm dân; những kẻ lén lút, không chịu ra trình diện mà bị bắt thì chiểu theo luật pháp mà trị tội.


Việc đề phòng, trừng trị nghiêm khắc những âm mưu phản bội, những kẻ mưu phản, hàng giặc đã được nhân dân đồng tình ủng hộ. Việc làm kiên quyết đó đã tăng cường khả năng quốc phòng và bảo vệ an ninh quốc gia.


- Theo dõi sát sao, kịp thời phát hiện âm mưu xâm lược của địch, chủ động đánh phòng.

Ông cha ta luôn cảnh giác, để tâm đến việc biên phòng cả mặt Bắc và mặt Nam, nhằm phát hiện sớm âm mưu của địch. Chúng rất nham hiểm và thâm độc nhưng trước khi phát động chiến tranh xâm lược thường có nhiều hoạt động chuẩn bị. Để nắm được nội tình nước ta về các mặt, địch thường xuyên cử do thám xâm nhập, núp dưới nhiều bộ mặt và danh nghĩa như sứ thần hay thương gia lẫn trong dân di cư và xâm cư, khoác áo nhà tu truyền đạo, đội lốt thầy thuốc làm việc thiện... về chính trị, địch sử dụng các ngón bài như giương cờ "phù Trần diệt Hồ" hay "phù Lê diệt Tây Sơn" để đưa quân vào nước ta. Nhằm chia rẽ lực lượng, địch còn dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc các tù trưởng và dân chúng ở vùng khe động biên giới để dễ bề xâm nhập.


Trước những thủ đoạn phá hoại và xâm lấn của kẻ thù, các triều đại phong kiến Đại Việt đều rất cảnh giác và có nhiều biện pháp đối phó. Đối với các dân tộc miền, núi, nhất là các khu vực giáp biên, nhà nước đã thi hành chính sách "nhu viễn" khéo léo nhằm tranh thủ các tù trưởng, vỗ yên cư dân song song với chính sách tranh thủ dân chúng ở đó. Về quân sự triều đình tăng cường lực lượng bố phòng ở các cửa ải, cửa sông, đồng thời tổ chức nhiều cuộc tuần tra nhằm ngăn chặn sự thẩm lậu qua biên giới của các lực lượng thù địch. Ngay từ thời Lý, chỉ cho phép thương nhân cư ngụ ở Vân Đồn để giao dịch và buôn bán với ta, chứ không cho phép họ tự tiện vào nội địa. Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi chép "Người ngoại quốc không được tự tiện vào nội trấn, tất cả đều ở Vân Đồn, Cần Hải, Hội Thống, Hội Triều, Thống Lĩnh, Phú Lương, Tam Kỳ, Trúc Hoa... Có thể nói sự đề phòng trong và ngoài thời kỳ này rất nghiêm ngặt"1 (Những địa danh mà Dư địa chí nêu đều là các cảng sông và các khu vực giao lưu sầm uất với thương nhân nước ngoài).


Ngoài những biện pháp phòng chống nghiêm ngặt, các triều đại Lý. Trần, Lê còn sử dụng một màng lưới "điệp viên" xâm nhập vào đất địch, núp dưới nhiều danh nghĩa như thương nhân, nhà sư, sứ giả... để dò la, thu nhập tin tức. Nhờ những "tin tình báo" tập trung được, triều Lý sớm phát hiện nhà Tống đang chuẩn bị lương thảo và lực lượng ở Ung Châu, Liêm Châu và Khâm Liêm sẵn sàng tấn công ta. Thời Trần cũng dò biết được âm mưu của giặc Nguyên đang ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta, cuối năm 1284, vua Trần Nhân Tông bèn cử sứ giả sang Nguyên tìm cách trì hoãn sự động binh của kẻ thù, đồng thời thăm dò ý đồ cụ thể của chúng. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng, sứ giả sau khi về nước đã tâu lên vua: "Vua Nguyên sai Thái tử Trấn Nam Vương Thoát Hoan, Bình chương là A Lạt và bọn A Lý Hài đem quân thác cớ mượn đường đi đánh Chiêm Thành, chia đường xâm lấn"1 (Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H.1985, t.2, tr.55).


Những biện pháp cảnh giác kể trên là một nội dung của hoạt động quốc phòng, được tiến hành thường xuyên theo tinh thần "biên phòng phải lo trước phương lược; giữ nước cần tính kế lâu dài" mà ông cha ta đã tổng kết được.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #99 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2021, 08:03:45 pm »

e) Có chính sách đối ngoại mềm dẻo, kiên quyết nhằm duy trì hoà bình, ngăn ngừa chiến tranh.

Các nhà nước phong kiến Đại Việt luôn luôn mong muốn có hoà bình để xây dựng. Vì vậy chính sách ngoại giao của nước Đại Việt nhằm mục tiêu giữ gìn hoà hiếu với các nước, nhất là các nước láng giềng, duy trì hoà bình, ngăn ngừa chiến tranh. Là một nước nhỏ, dân ít, ở bên cạnh một nước rất lớn về đất đai và dân số như Trung Hoa, lại đứng ở ngã ba giao thông của khu vực, chính sách đối ngoại, của ông cha ta nhằm bảo vệ độc lập, chống sự bành trướng của phong kiến phương Bắc phải rất khôn khéo mới giành được thắng lợi.


Các thế lực phong kiến Trung Hoa luôn luôn nhòm ngó và muốn thôn tính Đại Việt. Các triều đại Trung Quốc từ Tống, Nguyên, Minh, Thanh đã không từ một thủ đoạn nào hòng thực hiện ý đồ đó. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, ông cha ta đều kiên quyết bảo vệ quyền độc lập tự chủ của mình như tuyên ngôn đã từng vang vọng: Quốc gia Đại Việt do người Việt làm chủ "Nam quốc sơn hà nam đế cư".


Tuy nhiên, đế chế Trung Hoa rộng lớn, tiềm lực kinh tế, quân sự đều mạnh hơn nên ông cha ta đã "biết mình biết người" mà chọn kế sách đối ngoại khôn khéo. Kế sách đó tổng quát qua các triều đại là mềm dẻo, nhún nhường; bề ngoài tỏ ra thần phục tránh gây bất hoà, nhưng luôn giữ vững nguyên tắc tự tôn dân tộc và bảo vệ chủ quyền quốc gia.


Các nhà nước Lý, Trần, Lê trong quan hệ bang giao với nhà Tống, Nguyên, Minh... vẫn nhún nhường giữ lễ phiên thần, thường qua lại chúc tụng và cống nạp. Sau những lần đánh bại quân xâm lược của nhiều triều đại Trung Hoa, ông cha ta vẫn tiếp tục duy trì quan hệ bang giao nhún nhường đó. Nhờ kế sách đối ngoại mềm dẻo và kiên quyết đó mà các triều đại phong kiến Trung Hoa tuy vẫn giữ thế bề trên nhưng vẫn buộc phải chấp nhận quan hệ giữa hai quốc gia, từ chỗ chỉ coi vua Đại Việt là Giao Chỉ quận vương đến chỗ phải phong là An Nam quốc vương (năm 1086 dưới thời Lý). Các vua Đại Việt đều nhận sắc phong của các triều đình Trung Hoa nhưng đó chỉ là "danh hiệu", còn thực chất thì đất nước ta vẫn là một nước độc lập. Mỗi khi xảy ra những tranh chấp ở biên giới, ông cha ta vẫn bình tĩnh, tỉnh táo và khôn khéo gỡ rối. Thời Lý, vua Lý Nhân Tông cử quan Binh bộ thị lang Lê Văn Thịnh sang đất Tống bàn việc cương giới. Với thái độ mềm dẻo và lý lẽ sắc bén, có tình, có lý, nhà Tống đã phải hoà giải. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép rằng, vua Tống khen sứ thần ta là cung kính biết lẽ phải nên hạ chiếu trả lại cho ta các động sở ở Quảng Nguyên - Cao Bằng1 (Việt sử thông giám cương mục, Nxb Văn - Sử - Địa và Nxb Sử học in trọn bộ 20 tập, 1957-1960). Các triều vua sau đều lấy đó làm điều tốt nên mọi chuyện xảy ra ở vùng biên cương phải giải quyết khôn khéo để giữ sự ổn định nhưng phải bảo vệ được chủ quyền. Ngay cả trong trường hợp biết chiến tranh khó tránh khỏi thì kế sách của ta là tìm mọi cách ngăn ngừa hoặc trì hoãn nó để đất nước có điều kiện chuẩn bị tốt và chủ động đối phó. Chính sách đối ngoại của các triều đại phong kiến Đại Việt là một bộ phận quan trọng để tăng cường khả năng quốc phòng của đất nước.


Tóm lại, trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta dưới chế độ phong kiến, sự nghiệp xây dựng và củng cố quốc phòng an ninh quyện làm một và được các triều đại luôn quan tâm. Do phải chống với kẻ thù xâm lược thường xuyên lớn hơn mình, các nhà nước phong kiến Đại Việt luôn nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, thực hiện chính sách "cận dân", "khoan thư sức dân", động viên tinh thần cả nước một lòng, toàn dân chăm lo quốc phòng nên không ngừng tạo dựng được thế chủ động bố phòng vững chắc, đẩy lùi các nguy cơ và đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược. Mười thế kỷ qua, trừ hai thời kỳ do triều chính suy đồi, nội tình rối ren, lòng dân phân ly, quốc phòng trễ nải nên đã để đất nước rơi vào tay giặc. Đó là thời kỳ nhà Hồ bị nhà Minh xâm chiếm (1407- 1427) và thời Nguyễn bị thực dân Pháp xâm lược thống trị (1883-1945).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM