quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #100 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2021, 08:04:19 pm » |
|
II- QUỐC PHÒNG CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Lịch sử hiện đại Việt Nam tuy mới trải qua hơn nửa thế kỷ, còn rất ngắn so với chiều dài của toàn bộ lịch sử dân tộc nhưng lại có nhiều sự kiện trọng đại, đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về chất của đất nước và con người Việt Nam.
Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã diễn ra, bền bỉ kiên cường qua nhiều thập kỷ, nhưng do thiếu đường lối cách mạng đúng đắn, không quy tụ được lực lượng toàn dân nên không giành được thắng lợi.
Phải đến đầu thập kỷ 30, khi Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, kết hợp với điều kiện lịch sử, xã hội cụ thể của nước ta để định ra đường lối cách mạng đúng đắn, thì phong trào cách mạng mới phát triển mạnh mẽ. Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tập trung vào nhiệm vụ giải phóng dân tộc, Đảng đã đoàn kết được mọi lực lượng của dân tộc, vượt qua nhiều thử thách, đưa cách mạng Việt Nam tiến lên những bước cao trào của mấy năm đầu thập niên 40. Với sự chuẩn bị lực lượng cách mạng đầy đủ, mùa thu năm 1945, nắm vững thời cơ, Đảng đã phát động toàn dân, khởi nghĩa toàn quốc giành chính quyền thắng lợi.
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Đây là nhà nước kiểu mới, nhà nước của nhân dân lao động, dựa trên cơ sở liên minh công nông do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Nhưng chính quyền cách mạng của nhân dân ta chưa kịp củng cố thì giặc Pháp lại phát động chiến tranh xâm lược trở lại đối với Việt Nam. Tám năm kháng chiến trường kỳ, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo quân và dân cả nước đánh giặc. Với đường lối kháng chiến đúng đắn, phát huy sức mạnh cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc. Đảng và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã đưa dân tộc ta giành thắng lợi vẻ vang, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo. Một nửa nước là miền Bắc được giải phóng hoàn toàn nhưng còn nửa nước là miền Nam vẫn bị đế quốc và bè lũ tay sai của chúng thống trị.
Hoà bình vừa được lập lại thì đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam nhằm áp đặt chủ ngrnĩa thực dân kiểu mới lên nửa nước ta. Nhưng nhân dân ta không chấp nhận và đứng lên theo lời kêu gọi của Đảng tiến hành cuộc kháng chiến kéo dài tới 20 năm (1955 - 1975) mới giải phóng được miền Nam, thống nhất đất nước vào tháng 5-1975.
Như vậy là từ khi nhà nước VNDCCH thành lập, với Tuyên ngôn độc lập lịch sử được Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo và công bố ngày 2 tháng 9 năm 1945, nhân dân Việt Nam đã phải tiến hành hai cuộc kháng chiến anh hùng kéo dài 30 năm (1945 - 1975) mới giành và giữ được nền độc lập, chủ quyền và lãnh thổ toàn vẹn. Trong những năm đó, nhân dân ta chưa có khoảng thời gian nào có được hoà bình ổn định, kéo dài để chăm lo đến xây dựng đất nước và thiết kế một nền quốc phòng thống nhất cả nước. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, chúng ta giữ được ba vùng tự do lớn là Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh và Nam - Ngãi - Bình - Phú tương đối ổn định để làm nhiệm vụ hậu phương chiến lược. Còn trong 20 năm kháng chiến chống Mỹ, nhân dân ta đã có nửa nước miền Bắc được giải phóng hoàn toàn, đang tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, là hậu phương lớn, căn cứ địa của cách mạng cả nước. Tuy nhiên hậu phương lớn đó cũng phải hai lần chuyển vào thời chiến (1965 và 1972) để đánh trả hai cuộc chiến tranh phá hoại tàn bạo của không quân, hải quân của đế quốc Mỹ. Rõ ràng, tình hình diễn ra trong những năm 1945 - 1975 cho thấy: đặc điểm cơ bản của công cuộc xây dựng nền quốc phòng của nước VNDCCH là "vừa xây dựng, vừa kháng chiến", xây dựng trong điều kiện một bộ phận đất nước vẫn còn đang chiến tranh.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #101 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2021, 08:05:47 pm » |
|
1. Quan điểm - tư tưởng chỉ đạo quốc phòng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Sau khi khởi nghĩa giành được chính quyền, nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền dân chủ cộng hoà non trẻ đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng. Trong bản Tuyên ngôn độc lập công bố ngày 2-9-1945. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mang và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, H.1988, tập 3, tr.386). Sự nghiệp quốc phòng từ đó được Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sát sao với một hệ thống quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đúng đắn sáng tạo, được hình thành và từng bước hoàn chỉnh trong đấu tranh chống đế quốc và các thế lực phản động.
Hệ thống quan điểm - tư tưởng đó là xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, hiện đại, liên minh phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước ta, đồng thời kế thừa và phát huy truyền thống quân sự của dân tộc.
a) Quốc phòng toàn dân
Quan điểm toàn dân phản ánh nét độc đáo về lực lượng và phương pháp xây dựng nền quốc phòng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là quan điểm đã được đúc kết qua lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, một dân tộc nhỏ luôn phải đương đầu với kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn mình. Cuộc đấu tranh đó sở dĩ giành được thắng lợi vẻ vang là do sức mạnh của lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần cố kết dân tộc bền vững của nhân dân Việt Nam.
Từ xưa để giữ nước, cha ông ta đã rất coi trọng sức mạnh của "cả nước chung sức", "trăm họ là binh", "lấy dân làm gốc" nên các triều đại Lý, Trần, Lê Sơ... đã duy trì được độc lập lâu bền, đánh thắng những kẻ thù xâm lược hung bạo. Lịch sử cũng có những bài học mất nước cay đắng của những triều đại xa dân, không huy động được đông đảo nhân dân đứng lên giữ nước như nhà Hồ, nhà Nguyễn.
Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tiếp thu truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, cùng với sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử nên luôn coi quan điểm toàn dân đánh giặc giữ nước là một nội dung cơ bản của lý luận quân sự Việt Nam, trong chiến tranh cách mạng cũng như trong công cuộc xây dựng quốc phòng nói riêng.
Sau khi giành được chính quyền, thành lập nhà nước dân chủ cộng hoà, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân đoàn kết để giữ vững chính quyền cách mạng non trẻ của mình.
Quan điểm quốc phòng toàn dân của Đảng là nền quốc phòng của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải do toàn dân xây dựng và dựa vào sức mạnh mọi mặt của toàn dân. Chỉ khi nào động viên, tổ chức được đông đảo quần chúng tham gia thì sự nghiệp bảo vệ đất nước mới thật vững chắc. Khi giặc Pháp nổ súng xâm lược ở Nam Bộ (23-9-1945), trong thư gửi đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng: "Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, H.1998, tập 4, tr.43). Khi cuộc chiến tranh với thực dân Pháp không tránh được, Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc từ đêm 19-12-1946 và ra chỉ thị "Toàn dân kháng chiến". Chỉ thị viết: "Tổ quốc đang lâm nguy. Quân đội, dân quân, du kích toàn quốc hãy nhất tề đứng lên giết giặc, cứu nước"2 (Ban NCLSĐTW - Những sự kiện lịch sử Đảng, tập 2, Nxb Thông tin Lý luận, H.1979, tr.100). Còn trong lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến Hồ Chủ tịch viết: "Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ... Bất kỳ đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc"1 (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H.1980, tập 1, tr.403). Quan điểm dựa vào dân, tin ở sức mạnh của nhân dân đã chỉ đạo xuyên suốt mọi hoạt động chiến đấu, xây dựng, bảo vệ hậu phương trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi (7-1954), nửa nước phía bắc (miền Bắc)2 (Theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ (7-1954), vĩ tuyến 17° được xác định là ranh giới quân sự tạm thời, phân cách lực lượng hai bên. Từ đó bắt đầu xuất hiện cụm từ: miền Bắc, miền Nam) được giải phóng hoàn toàn nhưng nửa nước phía nam (miền Nam) vẫn nằm dưới sự cai quản của đế quốc và chính quyền tay sai. Từ đây bắt đầu cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ cửa nhân dân ta chống kẻ thù mới là đế quốc Mỹ và chính quyền phản động tay sai của Mỹ ở miền Nam, nhằm thống nhất đất nước, hoàn thành độc lập, dân chủ, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong cuộc đấu tranh lâu dài đó, Đảng ta xác định miền Bắc là cái nền, cái gốc của cuộc đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc. Trung ương Đảng xác định, phải ra sức củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, có tiềm lực mọi mặt vững mạnh để giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh đến thắng lợi hoàn toàn. Vì vậy. việc "xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, củng cố quốc phòng trong hoà bình là một trong những công tác chủ yếu để tăng cường lực lượng cách mạng"1 (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 khóa II Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 8-1955). Quan điểm quốc phòng toàn dân trong giai đoạn đấu tranh chống Mỹ được khẳng định đầy đủ hơn trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 (mở rộng) của Trung ương Đảng họp tháng 3-1957. Nghị quyết tập trung chỉ đạo nhiệm vụ "Tích cực xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng", xác định đây là sự nghiệp to lớn, có quan hệ trực tiếp đến an toàn của quốc gia, độc lập và chủ quyên của Tổ quốc, đến đời sống hoà bình và hạnh phúc của nhân dân và tiền đồ phát triển của cách mạng. Cho nên đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và quan điểm toàn dân làm quốc phòng cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Chế độ này là của ta, phải bảo vệ chế độ của ta. Nhà nước VNDCCH là của ta, phải bảo vệ nhà nước của ta. Ai xâm phạm đến nhà nước của ta, đến chế độ ta, ta phải chống lại họ, bằng bất cứ lời nói hay việc làm"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, t.8, tr.296).
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #102 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2021, 08:07:06 pm » |
|
b) Quốc phòng toàn diện
Quan điểm toàn diện phản ánh nội dung xây dựng sức mạnh của nền quốc phòng. Toàn diện trong xây dựng nền quốc phòng bao gồm xây dựng và liên kết các mặt hoạt động về: Chính trị, tư tưởng, kinh tế, quân sự, văn hoá, ngoại giao nhằm nâng cao khả năng quốc phòng để đất nước có hoà bình ổn định mà xây dựng. Ông cha ta trước đây cũng từng nhận thức được tính toàn diện của quốc phòng nên đã có những chỉ dẫn sâu sắc căn dặn lại cho các thế hệ sau như: "Dân cường quốc thịnh", "Quốc phú binh cường", "Vua tôi đồng tâm, anh em hoà mục, cả nước góp sức" thì giữ được nước. v.v...
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, công cuộc xây dựng nền quốc phòng được tiến hành với quy mô rộng lớn, gắn liền với mọi hoạt động của xã hội. Ngay trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy". Quyết tâm đó thể hiện rõ quan điểm quốc phòng toàn diện trong thời kỳ lịch sử mới.
- Về chính trị, quan trọng nhất là giáo dục, phát huy lòng yêu nước của nhân dân, đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân vào nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, thì dù "địch chiếm trời, địch chiếm đất, nhưng chúng không làm sao chiếm được lòng yêu nước của nhân dân ta"1 (Văn kiện quân sự của Đảng, tập 3, tr.15). Tinh thần yêu nước của nhân dân ta vừa là truyền thống, vừa là cội nguồn của sức mạnh quốc phòng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "Lòng yêu nước của đồng bào nhập với hình thế hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, t.4, tr.25). Dựa vào lòng yêu nước đồng thời với việc ban hành các chính sách xã hội đúng đắn, Đảng và Nhà nước đã tập hợp được các tầng lớp nhân dân, mọi lực lượng yêu chuộng hoà bình, tiến bộ để thực hiện thắng lợi chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định là: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công".
- Về kinh tế, Đảng và Nhà nước luôn coi kinh tế là cơ sở vật chất của quốc phòng. Vì thế khi đất nước có chiến tranh cũng như trong hoà bình, nhiệm vụ xây dựng kinh tế không bao giờ lơi lỏng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Đảng ra "chỉ thị kháng chiến kiến quốc", vừa đánh giặc vừa phải ra sức tăng gia sản xuất để cung cấp cho tiền tuyến và cải thiện đời sống nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Thực túc thì binh cường... chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công thì đồng bào ở hậu phương phải thi đua tăng gia sản xuất"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, t.6, tr.44). Trong kháng chiến chống Mỹ, nhân dân ta có miền Bắc hoàn toàn giải phóng thì nhiệm vụ: "Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ tiến lên CNXH"2 (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần III (9-1960)), là cơ sở để củng cố miền Bắc vững chắc và làm tốt vai trò là căn cứ địa cho cách mạng cả nước. Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế ở miền Bắc được kết hợp chặt chẽ với việc nâng cao sức mạnh quốc phòng và ngược lại, quốc phòng được củng cố sẽ tạo điều kiện ổn định để xây dựng kinh tế.
Coi kinh tế là cơ sở cho quốc phòng, Đảng đã vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá đúng đắn nhân tố kinh tế trong việc xây dựng sức mạnh quân sự của đất nước, như Ph.Ăng-ghen đã từng viết: "Không có gì lại phụ thuộc vào tiền đề kinh tế hơn là chính ngay quân đội và hạm đội"3 (Ph.Ăng-ghen, Tuyển tập luận văn quân sự, Nxb QĐND, H.1982, t.1, tr.20).
- Văn hoá xã hội, cũng là một mặt quan trọng của sức mạnh quốc phòng. Bởi vì, "xúc tiến công tác văn hoá để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc"1 (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần II (1951)). Chính con người có giác ngộ chính trị, có kiến thức, có sức khoẻ sẽ là động lực quan trọng để xây dựng và củng cố quốc phòng. Đấu tranh chống văn hoá độc hại của đế quốc, phong kiến, bảo vệ và phát huy văn hoá tốt đẹp của dân tộc cũng là một cuộc đấu tranh gay go, phức tạp, liên quan mật thiết đến quốc phòng.
- Ngoại giao là mặt hoạt động quan trọng của nhà nước, nó hỗ trợ tích cực cho sự nghiệp quốc phòng. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc, "Công tác ngoại giao của ta phải ra sức tranh thủ sự đồng tình của các nước yêu chuộng hoà bình trên thế giới đối với cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, tr.310). Bằng đấu tranh ngoại giao tích cực, chủ động, chúng ta có thể phân hoá được kẻ thù, tranh thủ được sự giúp đỡ của bè bạn, giữ được hoà bình, ổn định để xây dựng đất nước. Trong kháng chiến chống Mỹ, nhờ công tác ngoại giao đúng đắn, sáng tạo và chính nghĩa, nhân dân ta đã tranh thủ được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của nhân dân tiến bộ thế giới, kể cả nhân dân Mỹ, làm cho sức mạnh kháng chiến không ngừng tăng lên. Kết quả của đấu tranh ngoại giao đã góp phần tích cực vào việc củng cố và bảo vệ vững chắc miền Bắc. Vì vậy, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (khoá III) đã quyết định, phải "đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước".
- Về quân sự, sức mạnh quân sự luôn có vị trí quan trọng trực tiếp quyết định sức mạnh quốc phòng trong cả thời bình cũng như thời chiến. Khi đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết "Quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến" và kêu gọi, phải "đẩy tới quân sự, kháng chiến trên hết, quân sự trên hết"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, t.5, tr.183). Trong xây dựng quân sự thì việc xây dựng lực lượng vũ trang có tầm quan trọng nhất. Nghị quyết Trung ương lần thứ 12 khoá II (3-1957) xác định, phải: "Tích cực xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng" nhằm bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Để thực hiện nhiệm vụ đó. Hội nghị quyết định "Tích cực xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, tiến dần từng bước lên chính quy, hiện đại"2 (Nghị quyết Trung ương lần thứ 12 khóa II (3-1957)). Cùng với xây dựng quân đội còn phải xây dựng lực lượng hậu bị mà "Vấn đề căn bản của việc xây dựng lực lượng hậu bị mạnh là động viên toàn dân tích cực thi hành nghĩa vụ quân sự"3 (Nghị quyết Trung ương lần thứ 12 khóa II (3-1957)). Việc xây dựng quân đội nhân dân đã được triển khai tích cực qua 2 kế hoạch 5 năm (1955 - 1960, 1961 - 1965) đưa quân đội ta từ một quân đội chủ yếu là bộ binh tiến lên một quân đội hợp thành có các binh chủng và quân chủng. Sau khi miền Bắc được giải phóng, nhân dân ta bắt tay xây dựng và phát triển các mặt nhằm tăng cương tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hoá bảo đảm cho quốc phòng ngày càng vững chắc. Đó cũng là sức mạnh toàn diện của quốc phòng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #103 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2021, 08:07:49 pm » |
|
c) Quốc phòng hiện đại
Trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Đảng và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thấy nhất thiết phải từng bước xây dựng một nền quốc phòng hiện đại. Muốn vậy phải cố gắng xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân, để có cơ sở vật chất mà hiện đại hoá quốc phòng toàn dân. Tuy nhiên, trong tình hình kinh tế của đất nước chưa phát triển, việc hiện đại hoá nền quốc phòng, đặc biệt là hiện đại hoá trang bị, vũ khí cho lực lượng vũ trang ta phải dựa một phần quan trọng vào sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Do đó, hiện đại hoá nền quốc phòng phải tiến hành từng bước, một mặt đề cao tinh thần tự lực tự cường đồng thời phải biết tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế. Quan điểm quốc phòng hiện đại của Đảng, Nhà nước ta là không ỷ lại vào trang bị vũ khí hiện đại mà quan trọng nhất là phải đào tạo được đội ngũ cán bộ có giác ngộ chính trị, có kiến thức khoa học, có năng lực vận dụng sáng tạo để làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại.
d) Quốc phòng liên minh
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là bài học lớn của Đảng và Nhà nước ta để giành thắng lợi trước kẻ thù xâm lược. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, cách mạng Việt Nam "là một bộ phận hợp thành không thể tách rời của cuộc đấu tranh của quần chúng lao động toàn thế giới chống bọn đế quốc áp bức"1 (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H.1980, t.1, tr.18). Chúng ta chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc mình, đồng thời phải làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Tuy nhiên, muốn giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế thì mỗi dân tộc trước hết phải nêu cao tinh thần tự lực tự cường, độc lập tự chủ của mình. Rõ ràng "muốn người ta giúp cho thì trước tiên mình phải tự giúp lấy mình đã"1 (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H.1980, t.1, tr.271).
Trong đấu tranh chống đế quốc Pháp rồi đế quốc Mỹ, Đảng và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà bằng đường lối đối ngoại đúng đắn đã tranh thủ được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của nhân dân tiến bộ thế giới. Trên bán đảo Đông Dương, do cùng chung cảnh ngộ bị đế quốc xâm lược và cùng chung kẻ thù nên nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia đã sớm hình thành khối liên minh chiến đấu Việt - Miên - Lào trong cuộc kháng chiến chống Pháp và sau này trong kháng chiến chống Mỹ. Khối liên minh ấy đã phát huy tác dụng hỗ trợ lẫn nhau, là một trong những nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến của mỗi nước.
Sau khi miền Bắc được giải phóng và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhân dân ta đã được Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em khác viện trợ cả về kinh tế và quân sự. Tuy không công khai nhưng sự liên minh trong quốc phòng đã hình thành, tạo thế vững chắc cho việc tổ chức phòng thủ miền Bắc.
Tóm lại, những quan điểm, tư tưởng của Đảng, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng nền quốc phòng từ khi giành được chính quyền, và trải qua hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp, Mỹ. Đó là những quan điểm, tư tưởng đúng đắn, sáng tạo, kết hợp giữa truyền thống quân sự của dân tộc với tinh hoa quân sự thế giới mà nền móng của nó là học thuyết quân sự Mác - Lênin.
Nắm vững luận điểm của V.I.Lênin về "bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là Tổ quốc", Đảng, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà luôn luôn nhắc nhở, quốc phòng phải gắn liền với an ninh, quốc phòng không chỉ bảo vệ Tổ quốc mà còn phải bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích của nhân dân. Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xác định, quốc phòng và an ninh là hai mặt hoạt động quan trọng, có quan hệ chặt chẽ với nhau do quân đội và công an thực hiện, cùng chung một đối tượng là kẻ thù của dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #104 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2021, 08:09:11 pm » |
|
2. Những nội dung hoạt động nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng
Để xây dựng một nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Đảng và nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã xác định: "Nó không phải chỉ là vấn đề quân sự mà còn là vấn đề chính trị, kinh tế, khoa học. Nó đòi hỏi một sự cố gắng liên tục và tích cực của toàn quân và toàn dân"1 (Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 2, khóa II (3-1957)). Vì vậy, các lĩnh vực hoạt động của đất nước đều có liên quan đến quốc phòng, và sức mạnh quốc phòng là dựa trên nền tảng sức mạnh mọi mặt của đất nước. Nhận thức được rõ ý nghĩa này, Đảng và nhà nước đã tăng cường chỉ đạo các mặt hoạt động sau:
a) Xây dựng và không ngừng củng cố sự thống nhất về chính trị - tư tưởng trong nhân dân, coi đây là điều rất quan trọng để tăng cường sức mạnh quốc phòng. Ngay sau khi giành được chính quyền cũng như trong cả quá trình xây dựng hậu phương những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Đảng và chính phủ thường xuyên coi trọng việc giáo dục nâng cao trình độ chính trị của nhân dân, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, động viên nhiệt tình của nhân dân tham gia vào các hoạt động xây dựng quốc phòng, xây dựng và bảo vệ hậu phương kháng chiến. Nhờ lòng yêu nước nồng nàn của mọi tầng lớp nhân dân, sự nhất trí cao với đường lối, chủ trương kháng chiến của Đảng và chính phủ, hậu phương kháng chiến đã vượt qua những thử thách ác liệt của chiến tranh, có lúc bị bao vây bốn phía, bị địch đánh phá liên tục nhưng vẫn đứng vững, vừa chiến đấu vừa xây dựng, huy động được sức người, sức của to lớn cung cấp cho tiền tuyến đánh thắng. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân ta có miền Bắc hoàn toàn giải phóng nhưng nửa nước là miền Nam vẫn bị đế quốc và tay sai thống trị. Nhiệm vụ xây dựng và củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội có tính chất quyết định cho toàn bộ thắng lợi của cách mạng trên cả nước và là cơ sở vững chắc bảo đảm cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Lần đầu tiên sau nhiều năm chiến đấu chống đế quốc xâm lược, chúng ta có được một vùng lãnh thổ hoàn chỉnh là miền Bắc để xây dựng chủ nghĩa xã hội, đó là ước mơ từ lâu đời của nhân dân lao động. Và như V.I.Lênin đã viết: "Khi chúng ta trở thành đại diện của giai cấp thống trị, là giai cấp bắt đầu tổ chức chủ nghĩa xã hội thì chúng ta yêu cầu mọi người phải có thái độ nghiêm túc đối với việc quốc phòng"1 (V.I.Lênin, Toàn tập, tiếng Việt, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1977, t.36, tr.385): vận dụng nguyên lý đó của học thuyết Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định từ sớm, sau khi hoà bình được lập lại là: "Xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, củng cố quốc phòng trong hoà bình là một trong những công tác chủ yếu để tăng cường lực lượng cách mạng"1 (Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa II (8-1955)) của nhân dân ta, để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ vì độc lập và thống nhất đất nước. Và đề xây dựng nền quốc phòng vững mạnh phải giáo dục trách nhiệm và huy động được mọi khả năng của nhân dân tham gia vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đang làm nhiệm vụ đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Để làm cho sự nghiệp xây dựng và củng cố quốc phòng là sự nghiệp của toàn dân, Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng công tác tổ chức, tuyên truyền, giáo dục làm cho nhân dân ta thấu hiểu đường lối, chính sách, thấy được thuận lợi, khó khăn của đất nước, từ đó tạo nên sự nhất trí cao về chính trị trong nhân dân mà có hành động thiết thực ủng hộ và tham gia mọi hoạt động quốc phòng. Đó cũng là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh càn dặn: "... phải làm cho dân ta có tín tâm và quyết tâm"2 (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H.1980, t.1, tr.398) thì mọi việc mới thành công.
Để tạo được sự nhất trí về chính trị trong dân, thì phải chăm lo nâng cao đời sống và tinh thần của nhân dân, làm cho mọi tầng lớp nhân dân được hưởng các thành quả của cách mạng, qua đó mà đoàn kết toàn thể nhân dân vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ của mình, bảo vệ nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Những chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ban hành đều nhằm thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì"1 (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H.1980, t.1, tr.398).
Nhờ có sự thống nhất về chính trị - tư tưởng trong dân nên xã hội miền Bắc là một mặt trận đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng và chính phủ. Kết quả của 10 năm xây dựng trong điều kiện có hoà bình (1955-1964) đã chứng minh rằng "Xã hội miền Bắc ngày nay là xã hội của những người lao động làm chủ tập thể, nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống cho mình và cho con cháu muôn đời sau"2 (Báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị Chính trị đặc biệt (3-1964). Những sự kiện lịch sử Đảng, Nxb Thông tin lý luận, H.1982, tập 4, tr.201).
Bằng sức mạnh của ý chí thống nhất, miền Bắc đã vượt qua mọi thử thách quyết liệt của chiến tranh, vừa liên tục chi viện sức người, sức của cho miền Nam ruột thịt, vừa chiến đấu kiên cường đánh thắng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ. Từ năm 1965, khi cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ mở rộng ra cả nước thì từ hậu phương lớn miền Bắc những phong trào thi đua "ba sẵn sàng" trong thanh niên, "ba đảm đang" của phụ nữ, "ba quyết tâm" trong trí thức đã thực sự động viên mọi tầng lớp nhân dân miền Bắc đứng lên sát cánh cùng nhân dân miền Nam quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.
Có thể nói, sự thống nhất về chính trị - tư tưởng trong nhân dân là một trong những nhân tố quan trọng của sức mạnh quốc phòng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #105 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2021, 08:10:28 pm » |
|
b) Xây dựng, phát triển kinh tế của đất nước là cơ sở vật chất của sức mạnh quốc phòng. Không chỉ đối với quốc phòng, kinh tế còn là cơ sở để giải quyết các nhiệm vụ chính trị - xã hội của mọi quốc gia. Tuy nhiên Đảng ta cho rằng, bản thân sự phát triển kinh tế không tự động thúc đẩy quốc phòng mà phải thông qua chế độ kinh tế và chỉ đạo của nhà nước. Vì vậy, trong đường lối và chính sách kinh tế của Đảng và nhà nước ta luôn luôn nêu rõ: phải đưa miền Bắc từ nên kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu cá thể tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, từ nền kinh tế phân tán lạc hậu lên nên kinh tế cân đối và hiện đại. Như vậy quá trình xây dựng và phát triển kinh tế phải đồng thời thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và không ngừng hoàn thiện quan hệ sản xuất thích ứng.
Chúng ta biết rằng, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất cùng với bản chất của chế độ kinh tế - chính trị chi phối khả năng huy động vật chất phục vụ quốc phòng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), mặc dầu kinh tế của hậu phương kháng chiến còn nghèo, lại bị địch bao vây phá hoại nhưng dưới chế độ dân chủ nhân dân, ruộng đất trong tay nông dân lao động nên sản xuất mọi mặt, nhất là lương thực, thực phẩm vẫn bảo đảm được đời sống của nhân dân và cung cấp đều đặn, ngày một tăng để nuôi quân đánh giặc.
Vào năm cuối của cuộc kháng chiến (1954), sản lượng lương thực ở các vùng tự do vẫn vượt 26 vạn tấn so với sản lượng lương thực thu được trước ngày toàn quổc kháng chiến, ngân sách thu-chi của chính phủ đạt cân bằng, giá cả các mặt hàng thiết yếu cho đời sống vẫn bình ổn.
Sau ngày giải phóng, nhân dân ta ở miền Bắc đã bắt tay ngay vào nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế. Thông qua các kế hoạch 3 năm1 (Có 2 kế hoạch 3 năm. Kế hoạch 3 năm đầu (1955-1957) nhằm khôi phục kinh tế; kế hoạch 3 năm thứ hai (1958-1960) nhằm phát triển kinh tế - văn hóa và cải tạo xã hội chủ nghĩa. Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) thực hiện một bước công nghiệp hóa...) rồi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất diện mạo kinh tế miền Bắc đã thay đổi hoàn toàn. Từ nền kinh tế gần như kiệt quệ do bị chiến tranh tàn phá với nạn đói đang đe dọa nhiều vùng, thất nghiệp lan tràn ở các đô thị mà chỉ sau 10 năm (1955-1965) đã được khôi phục và phát triển vững chắc với hai ngành sản xuất chính là công nghiệp và nông nghiệp. Năm 1965, tổng sản lượng lương thực đạt trên 5,5 triệu tấn với bình quân đầu người đạt 302kg/năm, là sản lượng cao nhất so với các năm trước đó. Nền kinh tế của miền Bắc không còn chủ yếu là nông nghiệp nữa, tỷ trọng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã chiếm 53% trong tổng giá trị của cả công- nông và lâm nghiệp. Quan hệ sản xuất thông qua cải tạo xã hội chủ nghĩa đã thay đổi về chất, hai hình thức sở hữu quốc doanh và tập thể đã chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
Đến cuối 1965, tỷ trọng kinh tế xã hội chủ nghĩa chiếm 92,5% trong tổng giá trị sản lượng của ngành công nghiệp và chiếm 90% trong tổng giá trị sản lượng của ngành nông nghiệp. Trong nông thôn miền Bắc, đã có 90,1% số hộ nông dân tham gia hợp tác xã với 80.8% tống diện tích ruộng đất. Trên cơ sở phát triển kinh tế. Đảng và nhà nước đã chỉ đạo các kế hoạch kết hợp kinh tế với quốc phòng, làm cho mỗi bước phát triển kinh tế lại tăng thêm khả năng quốc phòng. Ngược lại, quốc phòng được củng cố thì tạo điều kiện ổn định để xây dựng và phát triển kinh tế. Thành tựu xây dựng của các ngành cơ khí, hoá chất, giao thông, chế biến thực phẩm... đã giải quyết một phần nhu cầu của quốc phòng và của lực lượng vũ trang. Theo báo cáo của ngành hậu cần quân đội thì các xí nghiệp cơ khí ở nhiều địa phương đã dành một phần năng lực của mình để sửa chữa súng pháo hoặc chế tạo một số phụ kiện thông thường thay thế cho pháo cao xạ và súng máy cao xạ. Trong những năm chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, ngành giao thông vận tải được quân sự hoá cao, đã phục vụ rất lớn cho quốc phòng, cho việc chi viện tiền tuyến.
Từ năm 1965, khi Mỹ gây ra chiến tranh phằ hoại đối với miền Bắc, Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 12 (12-1965) vẫn xác định: "Phải ra sức xây dựng miền Bắc vững mạnh về kinh tế và quốc phòng"1 (Đây là một trong 6 nhiệm vụ cụ thể của miền Bắc được hội nghị Trung ương lần thứ 12 khóa III (12-1965) xác định) coi công cuộc xây dựng kinh tế luôn gắn liền với củng cố quốc phòng. Tuy nhiên, lúc này cả nước đã có chiến tranh với hình thức và mức độ khác nhau ở mỗi miền nên Trung ương quyết định phải chuyển hướng nền kinh tế của miền Bắc sang thời chiến với tinh thần là: "Khi có chiến tranh thì phải huy động và tổ chức tất cả lực lượng trong nước để chống giặc"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, H.1980, t.4, tr.53) .
Với chế độ kinh tế ưu việt được xây dựng ở miền Bắc nên mặc dầu những năm có chiến tranh phá hoại, địch gây ra những tổn thất và khó khăn không nhỏ cho kinh tế của ta, nhưng hàng năm miền Bắc vẫn huy động khoảng 20% tổng số lương thực mà nhà nước huy động được cho các nhu cầu quốc phòng. Còn về nhân lực thì dành cho quốc phòng 51% tổng số nhân lực mà nhà nước đã động viên, trong đó ưu tiên là những thanh niên trẻ, khoẻ, có văn hoá. Các ngành kinh tế như cơ khí, hoá chất, dệt vải, vật liệu xây dựng, v.v... đều dành một phần quan trọng để phục vụ quốc phòng. Các nguồn viện trợ quốc tế như xăng dầu, sắt thép, xe vận tải, v.v... được ưu tiên cung cấp cho quốc phòng.
Nền kinh tế của miền Bắc trong những năm có chiến tranh phá hoại vẫn tiếp tục được duy trì và giữ vững sản xuất, nhà nước tập trung sức đẩy mạnh nông nghiệp với 2 ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi đồng thời chú trọng củng cố quan hệ sản xuất. Còn công nghiệp thì những cơ sở sản xuất lớn đã kịp thời sơ tán, phân tán và đi dần vào sản xuất, đảm bảo được nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế quốc dân, của đời sống nhân dân và của quốc phòng. Các cơ sở kinh tế địa phương phát triển nhanh vừa đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của nhân dân đồng thời còn thực hiện được một phần nhiệm vụ hậu cần tại chỗ cho lực lượng vũ trang.
Những thành tựu xây dựng phát triển kinh tế và tính vững chắc của nền kinh tế miền Bắc trong những năm chiến tranh thật sự là cơ sở vật chất cho sức mạnh quốc phòng.
c) Đẩy mạnh sự nghiệp văn hoá, giáo dục nhằm xây dựng con người mới Việt Nam, đáp ứng yêu cầu tăng cường quốc phòng toàn dân trong giai đoạn mới
"Từ khi hoà bình được lập lại (7-1954), miền Bắc nước ta đã chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa, bắt đầu làm những nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đang tiến trong giai đoạn quá độ lên xã hội chủ nghĩa". Đó là nhận định của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng trong văn kiện "Mấy vấn đề về đường lối cách mạng Việt Nam" công bố hồi tháng 1-1956. Vì vậy, nhiệm vụ quốc phòng ở miền Bắc rất nặng nề, chẳng những phải bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ và an ninh của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mà còn phải làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh để thực hiện thống nhất nước nhà. Công cuộc xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân trong giai đoạn mới đòi hỏi phải có thế hệ con người mới, có trình độ văn hoá, có tri thức cần thiết về khoa học kỹ thuật, có lòng yêu nước và gắn bó với chủ nghĩa xã hội, dám xả thân vì độc lập của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Cho nên tiến hành cuộc cách mạng tư tưởng và văn hoá là thiết thực tăng cường sức mạnh quốc phòng.
Những năm xây dựng miền Bắc trong hoà bình cũng như các năm có chiến tranh phá hoại, việc giáo dục phổ thông và đại học đã được Đảng và nhà nước hết sức chăm lo. Con em của nhân dân lao động, của các dân tộc ít người đều được đi học. Số học sinh phổ thông đến các trường lớp tăng mạnh hàng năm, kể cả khi có chiến tranh, tính trung bình cứ 4 người dân có 1 người đi học. Số học sinh đại học và trung học chuyên nghiệp vào năm 1964 so với ngày miền Bắc mới giải phóng đã tăng gấp 2 lần và những năm sau đó còn tăng cao hơn. Tính đến năm 1964, các nhà trường xã hội chủ nghĩa đã cung cấp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước 21.332 cán bộ đại học và trên 55.000 cán bộ tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp1 (Số liệu lấy trong sách: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975), Nxb QĐND, H.1997, tr.130). Chính thành quả của giáo dục đã cung cấp cho quốc phòng, cho lực lượng vũ trang nhân dân những chiến sĩ, cán bộ có kiến thức, có giác ngộ chính trị, dũng cảm trong chiến đấu, thông minh và trí tuệ trong chỉ huy và công tác. Cũng như trên mặt trận giáo dục, văn học và nghệ thuật cũng góp phần tích cực hun đúc lớp người mới có ý chí, tình cảm và đạo đức cách mạng trong sáng, giáo dục tình thương yêu giai cấp, đồng bào và tình cảm quốc tế cao đẹp. Thế hệ người Việt Nam mới được giáo dục và rèn luyện trong môi trường chính trị xã hội của chế độ xã hội chủ nghĩa đã trở thành những thành viên tích cực của công cuộc dựng nước và giữ nước, sống và hoạt động theo đạo lý "Mình vi mọi người". Sự nghiệp quốc phòng nặng nề, vẻ vang được xây dựng và củng cố vững chắc, phần quan trọng là do kết quả của công tác văn hoá, giáo dục được tiến hành thường xuyên trong cả thời bình và khi có chiến tranh.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #106 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2021, 08:12:34 pm » |
|
d) Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, thành phần chủ yếu của sức mạnh quốc phòng
Nhận thức rõ về vị trí của lực lượng vũ trang trong quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở miền Bắc, Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thường xuyên chỉ đạo nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.
Ngay sau khi hoà bình được lập lại, tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã nhắc nhở mọi người: "Bất kỳ tư tưởng và hành động nào cho là đình chiến rồi thì mọi việc tốt đẹp, rồi bỏ rơi việc chuẩn bị chiến đấu, để cho tinh thần đấu tranh uể oải, lơ là việc xây dựng lực lượng vũ trang đều là sai lầm, nguy hiểm... Cho nên, tăng cường quân đội nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng, chính phủ và toàn thể nhân dân"1 (Nghị quyết Bộ Chính trị (9-1954), Văn kiện Lịch sử Đảng, Trường Nguyễn Ái Quốc ấn hành, t.9, tr.29). Tiếp đó, các hội nghị Trung ương lần thứ 7 (3-1955), và lần thứ 8 (8-1955) đều nhấn mạnh: để củng cố miền Bắc phải chú trọng đến quốc phòng và tăng cường bảo vệ an ninh quốc gia. Tháng 3 năm 1957, hội nghị Trung ương lần 12 (mở rộng) bàn và ra nghị quyết về "Tích cực xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng". Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ cho quân đội nhân dân trong giai đoạn mới là, bảo vệ công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, chủ yếu là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sại, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong cả nước. Để thực hiện được nhiệm vụ nặng nề đó, phải "Tích cực xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, tiến dần từng bước lên chính quy, hiện đại". Phải xây dựng quân đội thống nhất về mọi mặt: chỉ huy, biên chế, huấn luyện, chế độ, kỷ luật... đồng thời dựa vào sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em mà từng bước trang bị cho quân đội ta các loại vũ khí và phương tiện hiện đại đi đôi với rèn luyện cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững khoa học kỹ thuật hiện đại. Tại hội nghị này, Trung ương đã thông qua kế hoạch xây dựng quân đội củng cố quốc phòng trong 5 năm đầu tiên (1955-1960), nhằm xây dựng lực lượng thường trực có số lượng thích hợp và chất lượng cao, xây dựng lực lượng hậu bị hùng hậu mang tính toàn dân; việc xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta. Những quan điểm, phương hướng, chủ trương xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng của hội nghị Trung ương 12, đánh dấu bước phát triển về lý luận xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng nền quốc phòng của giai đoạn cách mạng mới.
Thực hiện nghị quyết Trung ương 12 và kế hoạch 5 năm xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng, trong những năm 1958 đến 1960, quân đội ta triển khai nhiều công việc như: chấn chỉnh tổ chức, thống nhất biên chế, tiến hành huấn luyện theo kế hoạch thống nhất toàn quân, đào tạo và bổ túc cán bộ qua các trường quân sự - chính trị, đôi mới vũ khí trang bị cho các đơn vị nhằm tăng sức cơ động và hoả lực, xây dựng và ban hành các điều lệnh, điều lệ và chế độ chính quy. Để xây dựng bản chất cách mạng của quân đội, Đảng chú trọng cải tiến và nâng cao hiệu lực công tác đảng - công tác chính trị, mở các đợt học tập chính trị nhằm nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho cán bộ, chiến sĩ, chú trọng xây dựng và phát triển Đảng trong lực lượng vũ trang.
Với tinh thần trách nhiệm và sự chỉ đạo sâu sát của các đảng bộ và chỉ huy, nhiệm vụ xây dựng quân đội đã thu được kết quả tốt đẹp. Thông qua huấn luyện, bản lĩnh chiến đấu, trình độ kỹ thuật, chiến thuật của bộ đội được nâng cao. Trình độ sẵn sàng chiến đấu được tăng cường. Khả năng hiệp đồng tác chiến các binh chủng đã được huấn luyện và thử nghiệm qua diễn tập. Đến năm 1960, cơ cấu tổ chức của quân đội đã có thay đổi, từ chỗ bộ binh là thành phần chủ yếu đã tiến đến tỷ lệ giữa bộ binh các binh chủng xấp xỉ nhau (51/49%). Sức mạnh hoả lực và khả năng cơ động được nâng cao rõ rệt. Cán bộ, chiến sĩ được giáo dục và thông suốt nhiệm vụ quân đội, gắn bó với chế độ xã hội chủ nghĩa, chế độ ưu việt đang xây dựng và đạt được những thành tựu quan trọng về chính trị, kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Đã kết nạp vào Đảng hàng chục nghìn đảng viên, nâng tỷ lệ đảng viên trong toàn quân lên gần 40% (1960)1 (Số liệu trong sách Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975), Nxb QĐND, H.1997). Để đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong tình hình mới, ngày 31 tháng 3 năm 1959, Quốc hội đã thông qua Luật nghĩa vụ quân sự thay cho chế độ tình nguyện từ thời kháng chiến, nhằm giáo dục ý thức và nghĩa vụ của toàn dân đối với sự nghiệp quốc phòng. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, tháng 2-1961, Bộ Chính trị đã họp đánh giá kết quả xây dựng quân đội 5 năm đầu tiên (1955-1960) và thông qua nhiệm vụ quân sự 5 năm lần thứ 2 (1961-1965), nhằm đẩy mạnh hơn nữa công cuộc xây dựng lực lượng vũ trang và củng cố quốc phòng toàn dân. Do tinh hình cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam đã có sự phát triển mới, từ khởi nghĩa từng phần trở thành chiến tranh cách mạng nên nhiệm vụ xây dựng quân đội tuy chủ yếu lúc này là "Xây dựng lực lượng trong thời bình, đồng thời một bộ phận phải xây dựng theo thời chiến"1 (Quân ủy Trung ương: Những chủ trương công tác lớn về kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ 2 (1961-1965). Hồ sơ 264/QUTƯ) và không chỉ xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng trên miền Bắc mà còn phải xây dựng lực lượng vũ trang cho miền Nam. Phải phát động trong quân đội cuộc vận động "xây dựng quân đội tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy, hiện đại" để đạt mục tiêu của kế hoạch 5 năm lần thứ 2. Kế hoạch này vừa chú trọng xây dựng lực lượng thường trực, đồng thời còn chú trọng xây dựng lực lượng hậu bị, vừa tiến hành xây dựng một số đơn vị theo biên chế thời chiến để sẵn sàng điều động cho các chiến trường. Từ năm 1963, do đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh đặc biệt ở miền Nam và tăng cường chống phá miền Bắc, điều kiện hoà bình để xây dựng quân đội ở miền Bắc lúc này không còn. Quân uỷ Trung ương quyết định phải thúc đẩy hơn nữa nhiệm vụ xây dựng quân đội chính quy, hiện đại, hoàn thành các chi tiêu của kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ 2 (1961-1965). Và để chủ động đối phó với tình huống xấu nếu địch mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, Bộ Tổng tham mưu đã triển khai các phương án phòng thủ đồng thời chuẩn bị kế hoạch mở rộng lực lượng vũ trang nếu chiến tranh xảy ra. Tính đến cuối 1964, quân số bộ đội chủ lực tăng gấp 1,5 lần so với năm 1960, bộ đội địa phương được củng cố lại, quân số cũng tăng gấp 2,5 lần; lực lượng hậu bị với gần 1 triệu người (1962) và trên 1,6 triệu dân quân tự vệ (1965).
Mười năm xây dựng (1954-1964) trong điều kiện có hoà bình là một giai đoạn rất quan trọng đối với quân đội ta trên con đường tiến lên chính quy, hiện đại. Với phương hướng xây dựng đúng đắn, quyết tâm cao, tổ chức thực hiện tốt, quân đội ta đã tiến một bước dài, từ một quân đội mà thành phần bộ binh là chủ yếu đã trở thành một quân đội hợp thành với các binh đoàn chủ lực cơ động và các binh chủng kỹ thuật, sức mạnh chiến đấu và khả năng cơ động được nâng cao rõ rệt.
Trong buổi lễ trọng thể mừng quân đội ta tròn 20 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu dương: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"1 (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự thật, H.1980, t.2, tr.345).
Từ năm 1965, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đã mở rộng ra cả nước ta. Ở miền Bắc, địch tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt, chủ yếu bằng sức mạnh của không quân. Tháng 3 năm 1965, Nghị quyết Trung ương lần thứ 11 quyết định: "Động viên quân và dân cả nước phát triển thế chủ động tiến công, nhanh chóng mở rộng bộ đội thường trực, tăng cường sức mạnh quốc phòng"1 (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 khóa III, Ban chấp hành Trung ương Đảng (26-3-1965)). Tháng 4 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh ban hành Luật nghĩa vụ quân sự thời chiến, kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ theo yêu cầu của nhiệm vụ chiến đấu. Tháng 5 - 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh động viên cục bộ và tiếp đó chính phủ quyết định thực hiện chính sách "dân công thời chiến" nhằm huy động nhân lực cho yêu cầu quốc phòng.
Trong những năm miền Bắc có chiến tranh phá hoại, công cuộc xây dựng lực lượng vũ trang vẫn được đẩy mạnh, vừa đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, vừa xây dựng và đưa lực lượng vào miền Nam, đồng thời làm nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Cam-pu-chia. Trên hậu phương lớn miền Bắc dấy lên các phong trào "cử người đi đánh Mỹ", "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương. Kết quả xây dựng lực lượng vũ trang đã đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chiến lược, bảo vệ vững chắc miền Bắc, đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và đẩy mạnh cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam, đánh thắng các chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Tính đến năm 1975, tổng số nhân lực miền Bắc động viên cho nhu cầu quốc phòng chiếm tới 30% lực lượng lao động xã hội, 60-65% trong số đó gia nhập lực lượng vũ trang. Vào giai đoạn cuối cuộc chiến tranh ở miền Nam (1973-1975), 50% quân số của chủ lực quân giải phóng là lực lượng từ miền Bắc tăng cường. Quân đội nhân dân từ 170.000 (1960) đã phát triển lên hơn 1 triệu người, với khối chủ lực cơ động gồm các sư đoàn và quân đoàn hợp thành, bao gồm đủ các binh, quân chủng, có trình độ tác chiến hiệp đồng quy mô binh đoàn và nhiều binh đoàn. Trên miền Bắc hậu phương lớn đã xây dựng được lực lượng hậu bị hùng hậu, bao gồm hàng triệu người, sẵn sàng cho động viên khi cần mở rộng hơn nữa lực lượng vũ trang. Lực lượng dân quân tự vệ đông đảo chiếm 10% dân số, được huấn luyện và triển khai rộng khắp trên tất cả các địa phương, là lực lượng xung kích trên các lĩnh vực sản xuất, giữ gìn trật tự an ninh, bảo đảm giao thông vận tải, v.v...
Thành tựu xây dựng lực lượng vũ trang là mặt biểu hiện đặc trưng quan trọng của sức mạnh quốc phòng của miền Bắc trong những năm đánh Mỹ.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #107 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2021, 08:13:38 pm » |
|
đ) Thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, khôn khéo là góp phần tích cực nâng cao sức mạnh quốc phòng
Trong suốt cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Đảng và nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã đề ra và kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn. Nội dung cơ bản của đường lối là trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nêu cao tinh thần độc lập tự chủ đồng thời ra sức tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ quốc tế. Mọi hoạt động đối ngoại của nhà nước cũng như của các đoàn thể đều nhằm tăng cường tình đoàn kết quốc tế, trước hết với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc và hai nước láng giềng là Lào và Cam-pu-chia.
Với cách mạng Lào và Cam-pu-chia, Đảng, nhà nước ta chủ trương hết lòng giúp đỡ trên tinh thần quốc tế trong sáng và bằng các hoạt động thiết thực của bộ đội tình nguyện Việt Nam, sát cánh chiến đấu cùng quân-dân nước bạn vì sự nghiệp độc lập của ba nước và của mỗi nước.
Với các nước xã hội chủ nghĩa, các Đảng Cộng sản, Đảng và nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà luôn kiên trì, giải thích rõ đường lối đấu tranh đúng đắn, chính nghĩa của nhân dân ta, vì độc lập tự do của dân tộc mình, vì hoà bình ổn định của toàn thế giới. Qua đó mà tranh thủ sự ủng hộ về chính trị và sự giúp đỡ vê vật chất kỹ thuật.
Với nhân dân, chính phủ các nước, trước hết là các nước Á, Phi, Mỹ - Latinh, Đảng và nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh tuyên truyền đối ngoại, vạch trần tội ác xâm lược của đế quốc Mỹ, giới thiệu đường lối đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ sự nghiệp đấu tranh giành độc lập của ta.
Với nhân dân tiến bộ Mỹ, Đảng và nhà nước chủ trương tuyên truyền, giải thích làm cho họ hiểu rõ lập trường và thiện chí của nhân dân ta, vạch tính chất phi nghĩa và tàn bạo của chiến tranh xâm lược Việt Nam do các chính quyền ở Mỹ theo đuổi.
Vào những năm chiến tranh đang diễn ra ác liệt, hội nghị Trung ương lần thứ 13 (1-1967) đã bàn chuyên đề về "Đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước...". Trung ương xác định đấu tranh ngoại giao hiện nay giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động phối hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị để giành thắng lợi.
Tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, những thắng lợi của nhân dân ta ở hai miền Nam-Bắc, đường lối đối ngoại và những hoạt động ngoại giao đúng đắn của Đảng và nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đă thu được thắng lợi, tranh thủ được sự viện trợ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, sự đồng tình và ủng hộ ngày càng mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ thế giới, kể cả nhân dân Mỹ phản đối cuộc chiến tranh xâm lược. Một mặt trận đoàn kết quốc tế ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam đã hình thành và phát huy tác dụng mạnh mẽ.
Thắng lợi trên mặt trận ngoại giao đã góp phần không nhỏ tăng cường khả năng quốc phòng của chúng ta.
Sự nghiệp xây dựng và củng cố quốc phòng có quan hệ trực tiếp đến an ninh, sống còn của đất nước. Vì vậy nó phải đặt trực tiếp dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của nhà nước. Đảng và nhà nước xác định đường lối, các quan điểm - tư tưởng chỉ đạo toàn bộ công cuộc xây dựng quốc phòng. Với đường lối chính trị đúng đắn, Đảng và nhà nước đoàn kết và động viên toàn dân tham gia công tác quốc phòng. Đảng, nhà nước định ra chính sách, thể chế hoá thành luật, buộc mọi công dân có nghĩa vụ tham gia quốc phòng (ví dụ: Luật nghĩa vụ quân sự, Chính sách dân công thời chiến, Lệnh động viên cục bộ, nghĩa vụ lao động công ích, các thể lệ quy định về bảo mật phòng gian, chống gián điệp biệt kích, trừng trị bọn phản cách mạng, xây dựng thể dục, thể thao quốc phòng, điều lệ về dân quân tự vệ, chính sách hậu phương của lực lượng vũ trang, v.v...). Nhà nước là cơ quan quyền lực trong việc tổ chức huy động các nguồn tiềm lực cho quốc phòng, xét duyệt và thông qua các kế hoạch kết hợp kinh tế với quốc phòng, phối hợp ngoại giao với quốc phòng, v.v...
Vì thế, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và không ngừng cải tiến sự chỉ đạo của nhà nước đối với công cuộc xây dựng và củng cố quốc phòng là nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi.
Quốc phòng xuất hiện cùng với sự hình thành các quốc gia có nhà nước độc lập. Xưa kia ông cha ta đã coi "vũ bị" là công việc tất yếu của quốc gia, có quan hệ đến sự suy vong và hưng thịnh của dân tộc.
Quốc phòng của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chỉ xuất hiện sau khi ta giành được chính quyền, nhưng chủ quyền của nhà nước cách mạng chưa được củng cố trên toàn quốc thì thực dân Pháp đã xâm lược trở lại nước ta. Cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài 9 năm (9-1945 - 7-1954), chiến trường cả nước bị chia cắt, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng giữ vững được 3 vùng tự do rộng lớn là Việt Bắc, 3 tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh của Liên khu 4 và phần lớn 4 tỉnh Nam-Ngãi-Bình-Phú của Liên khu 5 để xây dựng thành hậu phương kháng chiến, trong đó Việt Bắc trở thành căn cứ địa của cơ quan đầu não, hậu phương lớn của cuộc kháng chiến toàn quốc. Trong những năm kháng chiến, thực hiện khẩu hiệu "Tất cả để đẩy mạnh kháng chiến”, "Tất cả để đánh thắng giặc Pháp xâm lược", khái niệm quốc phòng gần như đồng nghĩa với khái niệm quân sự, và trên thực tế hồi đó mọi việc là "Đẩy tới quân sự, kháng chiến trên hết, quân sự trên hết. Mọi việc phải nhằm vào điểm làm cho kháng chiến thắng lợi"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, H.1980, t.5, tr.183-184). Các hoạt động quốc phòng được thể hiện tập trung ở hoạt động xây dựng và bảo vệ hậu phương kháng chiến.
Kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, nửa nước phía bắc (miền Bắc) được hoàn toàn giải phóng, được xây dựng, củng cố thành căn cứ địa của cách mạng Việt Nam trong cả nước; và khi chiến tranh xâm lược do đế quốc Mỹ phát động ở miền Nam thì miền Bắc đảm nhiệm vai trò là hậu phương lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Từ khi miền Bắc được giải phóng, tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và củng cố quốc phòng bắt đầu tiến hành có quy củ, trên quy mô của một quốc gia độc lập và có chủ quyền. Tuy nhiên, trong một thời gian khá dài nhận thức về quốc phòng chưa thật đầy đủ. Nhiều người vẫn hiểu quốc phòng đồng nhất với quân sự nên chưa huy động và phát huy được trách nhiệm và sự tham gia tích cực của mọi ngành, mọi lực lượng.
Qua kinh nghiệm xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở miền Bắc trong những năm chống Mỹ, cứu nước, muốn xây dựng nền quốc phòng trong tình hình mới, tình hình cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội giành thắng lợi, cần tập trung làm tốt những công việc sau:
1. Làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân có nhận thức đúng đắn về quốc phòng và an ninh. Thường xuyên coi trọng việc giáo dục quốc phòng, nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn dân, của toàn bộ hệ thống chính trị đối với công cuộc xây dựng, củng cố quốc phòng và an ninh.
2. Kết hợp chặt chẽ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân với xây dựng an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân nhằm bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sẵn sàng, phòng chống thắng lợi với các thế lực chống đối bên trong và sự can thiệp hoặc xâm lược của kẻ thù từ bên ngoài.
3. Đẩy mạnh công tác đối ngoại, chủ động tạo môi trường hoà bình, ổn định, tạo điều kiện cho việc bảo vệ độc lập, chủ quyển toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ chế độ, nhà nước xã hội chủ nghĩa của ta.
4. Xây dựng, nâng cao chất lượng toàn diện và sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, lực lượng an ninh nhân dân mà nòng cốt là quân đội nhân dân và công an nhân dân.
5. Trong xây dựng đất nước phải đồng thời xây dựng tiềm lực quốc phòng và an ninh. Điều này được thể hiện trong sự kết hợp kinh tế với quốc phòng và an ninh, trong kết hợp xây dựng và bảo vệ văn hoá dân tộc chống sự xâm nhập của các luồng văn hoá độc hại, v.v...
6. Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước đối với công cuộc xây dựng quốc phòng và an ninh.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #108 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2021, 08:16:26 pm » |
|
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM: ĐẶC ĐIỂM, BẢN CHẤT VÀ TRUYỀN THỐNG Quán triệt và vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng quân đội cách mạng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đồng thời kế thừa và phát huy tinh hoa truyền thống dân chúng vũ trang kết hợp với xây dựng quân đội dân tộc trong lịch sử, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập, tổ chức xây dựng nên Quân đội nhân dân Việt Nam, quân đội kiểu mới của dân tộc - quân đội của dân, do dân, vì dân. Quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta hơn nửa thế kỷ qua là kết quả của đường lối đúng đắn của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Kể từ khi thành lập đến nay, quân đội ta đã trải qua những chặng đường xây dựng và chiến đấu hết sức vẻ vang: cùng toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi, lập nhiêu chiến công oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, làm tròn nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình đó đã thể hiện bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời nó cũng đúc kết nên truyền thống tốt đẹp của quân đội ta - Một quân đội được xây dựng và phát triển với những đặc điểm rất Việt Nam. I- NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM1. Quá trình hình thành và phát triểnĐược Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, Quân đội nhân dân Việt Nam hình thành và trải qua những chặng đường xây dựng, chiến đấu rất vẻ vang. Mỗi chặng đường có nội dung xây dựng, nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu chung và riêng, phản ánh từng thời kỳ phát triển, đánh dấu sự lớn mạnh, trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, quy mô tổ chức, vũ khí trang bị, trình độ tác chiến của quân đội ta. Trải qua hơn nửa thế kỷ vừa xây dựng, vừa chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, quân đội ta đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành qua mỗi chặng đường lịch sử tương ứng với từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam. a) Quá trình hình thành (1930-1945)Khi ra đời, Đảng ta không có một đơn vị vũ trang tập trung nào làm vốn quân cho mình. Đảng phải từ tay không từng bước tổ chức xây dựng quân đội từ nhỏ đến lớn, từ không đến có, từ chưa hoàn chỉnh đến dần dần hoàn chỉnh và ngày càng lớn mạnh làm nòng cốt cho toàn dân đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Đảng đã nêu luận điểm: Sau khi đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và bọn phong kiến, giành độc lập dân tộc sẽ thành lập chính phủ công nông, "tổ chức ra quân đội công nông" 1 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.95). Tiếp đó, Luận cương chính trị của Đảng (10-1930) đề ra chủ trương "võ trang cho công nông", "lập quân đội công nông" và đội tự vệ công nông là mục tiêu phải tiến tới. Tháng 3 năm 1935, Đại hội Đảng lần thứ nhất ra Nghị quyết về Đội tự vệ, khẳng định cần phải tổ chức công nông tự vệ đội và tổ chức đội tự vệ công nông thường trực; đội tự vệ công nông thì được tổ chức ở các sản nghiệp, các làng có cơ sở của Đảng, của Đoàn, của các hội quần chúng; còn đội tự vệ công nông thường trực thì phải gồm những phần tử lao động nhiệt thành nhất, những đảng viên và đoàn viên kiên quyết nhất 2 (Nghị quyết quân sự của Đảng 1930-1960, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1959, tr.21-22). Trong thời kỳ vận động cách mạng tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, một số văn kiện của Đảng và tác phẩm quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ hơn về vũ trang toàn dân, xây dựng quân đội nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo, tổ chức, giáo dục, rèn luyện của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng vũ trang đã từng bước hình thành và phát triển trong phong trào cách mạng của nhân dân ta. Đó là Đội tự vệ công nông (Tự vệ đỏ), mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng trong cao trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô-viết Nghệ-Tĩnh; Đội du kích Bắc Sơn trong cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Quân du kích Nam Kỳ trong khởi nghĩa Nam Kỳ, các trung đội Cứu quốc quân 1, 2, 3 ở căn cứ cách mạng Bắc Sơn-Võ Nhai... Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - Đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay sau khi ra đời, Đội đã đánh hai trận Phai Khắt, Nà Ngần thắng lợi, mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Với việc thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, hệ thống tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng gồm ba thứ quân, do lãnh tụ Hồ Chí Minh đề ra và chỉ đạo tổ chức đã bước đầu hình thành: đội quân chủ lực của khu căn cứ Cao-Bắc-Lạng (sau này là chủ lực của cả nước), các đội du kích tập trung của các huyện, tỉnh và lực lượng tự vệ cứu quốc, tự vệ chiến đấu ở khắp các làng xã. Đến đây, mô hình về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tổ chức quân sự cách mạng kiểu mới của dân tộc ta đã ra đời. Đó là lực lượng vũ trang kiểu mới, do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, là lực lượng vũ trang cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, từng bước được xây dựng và ngày càng hoàn chỉnh, không ngừng lớn mạnh. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, ngày 15-5-1945, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Cứu quốc quân và các tổ chức vũ trang tập trung khác trong cả nước được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân. Mặc dù quy mô tổ chức và lực lượng còn nhỏ bé (hơn 5.000 người), trang bị vũ khí thô sơ, thiếu thốn, huấn luyện sơ khai, Việt Nam Giải phóng quân đã tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân khởi nghĩa từng phần, làm nòng cốt và xung kích, cùng toàn dân tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, đánh đổ hoàn toàn ách thống trị của phát xít Nhật và tay sai, giành chính quyền cách mạng trong cả nước. Như vậy, trong những năm 1930-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tổ chức vũ trang cách mạng gồm: Đội tự vệ công nông, Đội du kích Bắc Sơn, Quân du kích Nam Kỳ, Cứu quốc quân, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Đội du kích Ba Tơ và một số đội du kích, tự vệ khác đã hình thành ở các chiến khu, căn cứ du kích trong cả nước. Đó là các đội quân tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, từ nhân dân mà ra, cùng toàn dân khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #109 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2021, 08:17:23 pm » |
|
b) Quân đội ta trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Cách mạng tháng Tám thắng lợi, Giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn, quân đội của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Trước tình hình các thế lực ngoại xâm và bọn tay sai phản động, chủ yếu là thực dân Pháp âm mưu xâm lược nước ta lần nữa, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang nói chung và xây dựng bộ đội chủ lực nói riêng. Trên cơ sở những đơn vị du kích và tự vệ chiến đấu phát triển rộng khắp, Đảng tuyển chọn những chiến sĩ có giác ngộ, có tinh thần chiến đấu, bổ sung cho các đơn vị bộ đội tập trung. Từ hơn 5.000 người được tổ chức thành một chi đội và vài đại đội trong những ngày Tổng khởi nghĩa, đến cuối năm 1945, Vệ quốc đoàn đã phát triển lên 50.000 người, với gần 40 chi đội (mỗi chi đội tương đương một trung đoàn sau này). Bộ Tổng tham mưu, các cục Chính trị, Quân nhu, Quân giới và Phòng Thông tin liên lạc được thành lập, phục vụ kịp thời cho chỉ huy và bảo đảm cho quân đội xây dựng, bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng còn non trẻ.
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp tiến công Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa. Các lực lượng vũ trang và nhân dân Nam Bộ đã đứng lên anh dũng chiến đấu ngăn chặn bước chân xâm lược của giặc Pháp. Hướng về miền Nam, nhiều chi đội Giải phóng quân từ các tỉnh Bắc Bộ, Trung Bộ đã xung phong vào chiến đấu. Một số chi đội được thành lập ở hải ngoại cũng tình nguyện về nước sát cánh cùng quân dân Nam Bộ kháng chiến.
Ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 71/SL về Quân đội quốc gia Việt Nam, quy định tổ chức, biên chế thống nhất từ tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, liên đoàn, tập đoàn của bộ binh, các đơn vị chuyên môn và hoả lực trợ chiến. Theo phương hướng đó, các chi đội Vệ quốc đoàn ở Bắc Bộ và Trung Bộ được biên chế thống nhất theo từng đơn vị cấp trung đoàn (gồm 32 trung đoàn) và tiểu đoàn độc lập. Riêng Nam Bộ, do chưa có điều kiện cải tổ thành trung đoàn nên vẫn tổ chức chi đội (gồm 25 chi đội). Trên cơ sở các trung đoàn đó, ta tổ chức Đại đoàn 1, Đại đoàn 2 ở Bắc Bộ và ba Đại đoàn 23, 27, 31 ở Nam Trung Bộ. Các đơn vị được gọi là đại đoàn chỉ nặng về hình thức tổ chức, thu gom lực lượng, còn khả năng vai trò rất hạn chế. Vì thế, tháng 11 năm 1946, ta giải thể các đại đoàn ở Bắc Bộ, Nam Trung Bộ. Lúc này, tổ chức cao nhất trong các đơn vị bộ đội tập trung là trung đoàn và chi đội (tương đương trung đoàn hoặc tiểu đoàn). Đến cuối năm 1946, Quân đội quốc gia Việt Nam có 30 trung đoàn và 25 chi đội bộ binh với tổng quân số là 82.000 người.
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Sau vài tháng chiến đấu tiêu hao, ngăn chặn địch ở Thủ đô Hà Nội và các thành phố, thị xã (Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng), phần lớn các đơn vị vũ trang tập trung của ta tạm thời chuyển lên vùng miền núi và về các vùng nông thôn đồng bằng, trung du xây dựng lực lượng làm nòng cốt cho toàn dân kháng chiến lâu dài. Thu Đông năm 1947, quân và dân ta giành thắng lợi lớn trong chiến dịch Việt Bắc, đánh bại chiến lược ’’đánh nhanh, giải quyết nhanh" của thực dân Pháp, bảo toàn và phát triển bộ đội chủ lực, bảo vệ cơ quan lãnh đạo kháng chiến của cả nước, chuyển cuộc kháng chiến của ta sang giai đoạn mới.
Vừa chiến đấu, vừa xây dựng, Đảng ta tập trung bổ sung quân số, củng cố chấn chỉnh tổ chức, biên chế các đơn vị quân đội. Đến giữa năm 1947, quân đội ta đã phát triển lên tới 125.000 người, gồm 57 trung đoàn và 19 tiểu đoàn đứng chân ở khắp các địa phương trong cả nước. Tháng 4 năm 1949, bộ đội địa phương được thành lập với quy mô tổ chức phổ biến là đại đội, tiểu đoàn ở các tỉnh, huyện. Trên cơ sở lực lượng dân quân phát triển rộng khắp và bộ đôi địa phương hình thành, ngày 28 tháng 8 năm 1949, Đại đoàn bộ binh 308, Đại đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta được thành lập. Tiếp đó, tháng 3 năm 1950, Đại đoàn bộ binh 304 ra đời. Đến đây, lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ) đã hình thành rõ rệt, tạo sự chuyển biến về tương quan lực lượng ngày càng có lợi cho cuộc kháng chiến của quân và dân ta.
Chấp hành quyết định của Trung ương Đảng và mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, Thu Đông 1950, quân và dân ta mở chiến dịch Biên giới giành thắng lợi lớn, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều sinh lực địch, giải phóng vùng đất đai rộng lớn ở vùng biên giới Việt-Trung, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, nối liền nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa. Chiến thắng Biên giới đánh dấu bước trưởng thành của quân đội ta, làm thay đổi cục diện chiến tranh: Ta chuyển sang chiến lược phản công và tiến công, địch chuyển dần sang thế phòng ngự chiến lược.
Sau chiến dịch Biên giới, lực lượng vũ trang ba thứ quân, nhất là bộ đội chủ lực có bước phát triển lớn. Trong những năm 1950-1952, bốn Đại đoàn bộ binh 312, 320, 316, 325 và Đại đoàn công - pháo 351 lần lượt được thành lập, hình thành khối chủ lực cơ động mạnh ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ. Việc hình thành các đại đoàn chủ lực đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc về quy mô tổ chức. Đấy là một thay đổi về chất của quân đội ta qua 9 năm xây dựng và chiến đấu. Ở Liên khu 5 và Nam Bộ, lực lượng vũ trang tập trung được xây dựng thành các trung đoàn, liên trung đoàn.
Trong thế trận chiến tranh du kích phát triển, ta đã kìm giữ, phân tán lực lượng địch, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực mở những chiến dịch tiến công và phản công, lập chiến công oanh liệt ở Tây Bắc, Hoà Bình, đồng bằng Bắc Bộ Bình Trị Thiên, Tây Nguyên, Liên khu 5, Nam Bộ. Thượng Lào... Đông Xuân 1953-1954, quân đội ta phối hợp với quân đội Lào và quân đội Cam-pu-chia, mở cuộc tiến công trên toàn chiến trường Đông Dương, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, giành thắng lợi lớn về quân sự, góp phần quyết định vào việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xám lược.
Có thế nói, trong kháng chiến chống Pháp, quân đội ta được xây dựng ở các vùng giải phóng bị kẻ thù bao vây hoặc các vùng tự do nằm xen kẽ với vùng địch còn kiểm soát, nhưng đã từng bước trưởng thành về mặt tổ chức, quân số và trình độ chiến đấu. Đây là thời kỳ hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang ba thứ quân và một số đơn vị binh chủng, đưa quân đội ta từ một quân đội du kích tiến lên quân đội chính quy, từ đánh du kích lên đánh tập trung, kết hợp tác chiến du kích với tác chiến chính quy, làm nòng cốt cho toàn dân kháng chiến, đánh bại quân xâm lược nhà nghề, trang bị hiện đại của thực dân Pháp được Mỹ giúp sức.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
|