Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:16:41 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc  (Đọc 20048 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #10 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2022, 07:47:11 am »

Về phía ta, trên thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, với phương châm "kéo địch ra khỏi hang ổ mà đánh, căng địch ra mà đánh, chen vào giữa địch mà đánh, luồn sâu vào hậu phương địch mà đánh", quân và dân ta ở miền Nam đã liên tục phản công và tiến công cả quân Mỹ, quân Ngụy và quân các nước phụ thuộc Mỹ, tiêu diệt nhiều sinh lực địch.


Mục tiêu chủ yếu của cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất của Mỹ không đạt được. Tháng 5 năm 1966, đại sứ Mỹ Cabốt Lốt báo cáo về Mỹ rằng: "Mỹ không tiêu diệt được một đơn vị chính quy nào của Việt cộng, không ngăn chặn được du kích phát triển, lực lượng Mỹ không khắc phục được tình hình ngày càng xấu đi và Quân đội Sài Gòn giảm chất lượng nhanh và vẫn bị động". Trên miền Bắc, ta tiếp tục bắn rơi hàng trăm máy bay Mỹ và không ngừng tăng cường sức người, sức của vào miền Nam. Như vậy, quân và dân ta đã đánh thắng chiến tranh cục bộ của Mỹ ngay từ hiệp đầu.


Riêng về mặt đấu tranh chính trị, khi quân viễn chinh Mỹ vào tham chiến, lúc đầu đồng bào ta còn nhiều lo ngại chưa thể đấu tranh chính trị mặt giáp mặt với quân Mỹ vì sự khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán. Nhưng từ cuộc đấu tranh đầu tiên với quân Mỹ ở Chu Lai thắng lợi, khi chúng bắn phá, càn quét xóm làng, đã dấy lên phong trào đấu tranh chính trị ở cả nhiều chiến trường khác, ở Đông Nam Bộ, khi Mỹ đưa Sư đoàn 1 "Anh cả đỏ" vào lập căn cứ và đi càn quét, phụ nữ Củ Chi, Trảng Bàng đã tràn ra đồng cản xe bọc thép Mỹ, không cho chúng cán lúa, bám vào trực thăng không cho chúng bắt thanh niên, ngăn chặn bọn lính Mỹ đốt phá nhà dân. Phong trào đấu tranh của đồng bào thành thị phát triển sôi động. Công nhân, người lao động, học sinh, sinh viên, tăng ni Phật tử đã xuống đường chống chính sách xâm lược của Mỹ. Tại Đà Nẵng, lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ bọn tay sai Mỹ, đồng bào đã đẩy mạnh cuộc đấu tranh làm mất ổn định hậu phương địch, tiến lên gần như làm chủ thành phố 76 ngày đêm (từ 10 tháng 3 đến cuối tháng 5 năm 1966).


Tháng 7 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi lịch sử toàn dân chống Mỹ, cứu nước: "Giônxơn và bè lũ phải biết rằng: chúng có thể đưa tới 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa đi đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được ý chí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. Chúng càng hung hăng thì tội ác của chúng càng thêm nặng. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn".


Sau thất bại trong cuộc phản công lần thứ nhất, đế quốc Mỹ lại tăng quân để tiếp tục "tìm diệt" chủ lực và cơ quan đầu não kháng chiến của ta ở miền Nam và leo thang đánh phá miền Bắc hòng cố sức ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Đến mùa khô 1966 - 1967, với 98 vạn quân, có 39 vạn quân Mỹ, chúng tiến hành cuộc phản công chiến lược lần thứ hai. Khác với trước, lần nàv chúng tập trung trên một hướng miền Đông Nam Bộ. Từ biện pháp chiến lược "tìm và diệt", chúng chuyển sang "tìm diệt và bình định", đồng thời dùng thủ đoạn ngoại giao nhằm hạn chế sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta.


Với kinh nghiệm đánh giá Mỹ vừa tích luỹ được qua hiệp đầu đánh thắng chúng, thế trận chiến tranh nhân dân của ta được củng cố vững chắc hơn, lực lượng được tăng cường hơn.

Tháng 6 năm 1966, ta mở mặt trận Đường số 9 Bắc Quảng Trị ở Nam giới tuyến để thu hút và giam chân một lực lượng lớn lính thuỷ đánh bộ Mỹ vốn quen tác chiến ở vùng ven biển lên chiến trường miền núi bất lợi với chúng. Mỹ phải đưa 2 trong 7 Sư đoàn Mỹ lên chiến trường này, một chiến trường núi rừng hiểm trở, có thể hạn chế tối đa chỗ mạnh của quân Mỹ, nhưng lại phát huy tối đa sở trường đánh rừng núi của bộ đội ta. Ta có điều kiện trực tiếp phát huy sức mạnh lớn nhất của chủ lực ở miền Bắc, các đơn vị chủ lực của ta có thể thay phiên nhau vào tác chiến tại chiến trường này. Việc mở mặt trận Đường số 9 đã phá vỡ ý định đưa quân chiến đấu Mỹ vào vùng đồng bằng sông Cửu Long, chủ động phá kế hoạch đánh ra miền Nam Khu IV của Mỹ. Quân và dân ta trên cả nước đã kiên cường chiến đấu đánh bại các bước leo thang rất nguy hiểm này của địch.


Đồng thời, ta đẩy mạnh đấu tranh vũ trang và kiên trì đấu tranh chính trị, đẩy mạnh tác chiến của cả ba thứ quân, tập trung đánh bại liên tiếp ba cuộc hành quân lớn của quân viễn chinh Mỹ vào miền Đông Nam Bộ (Áttơnborơ, Xida Phôn và Gianxơn Xity), nhất là chiến dịch phản công của ta đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xity, cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (45 nghìn quân trên địa bàn một huyện). Ta lại tiến hành thắng lợi nhiều cuộc tiến công trên nhiều hướng khác, nhất là các chiến dịch tiến công của chủ lực ở các chiến trường rừng núi Bắc Tây Nguyên, miền Tây Khu V. Đường số 9; kết hợp tiến công cả quân sự và chính trị ở các chiến trường đồng bằng Nam Bộ, Khu V, Trị - Thiên. Lực lượng đặc biệt tinh nhuệ của ta đánh nhiều mục tiêu trọng yêu trong các Thành phố Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế... Ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch làm phá sản các mục tiêu chủ yếu của Mỹ trong cuộc phản công mùa khô lần thứ hai là tiêu diệt chủ lực và cơ quan đầu não kháng chiến ở miền Nam; đẩy Mỹ vào tình thế "tiến thoái lưỡng nan" về chiến lược, làm cho nội bộ giới cầm quyền Mỹ bắt đầu phân hoá, dao động.


Quân và dân miền Bắc tiếp tục đánh trả có hiệu quả các cuộc tiến công bằng không quân và hải quân của Mỹ, vừa bắn rơi nhiều máy bay địch, bắt phi công, vừa tổ chức phòng tránh và sơ tán tốt, hạn chế tổn thất của ta. Đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn phát triển và nâng cấp, xe cơ giới chạy sâu vào phía trong bảo đảm giao thông liên tục thông suốt trong điều kiện không quân hiện đại Mỹ đánh phá quyết liệt, không ngừng chi viện sức người, sức của từ miền Bắc vào miền Nam.


Chưa lúc nào khí thế đánh Mỹ dâng cao như thời kỳ này trên cả hai miền Nam Bắc, thành cao trào toàn dân chống Mỹ, cứu nước sục sôi trên cả nước, ở miền Nam, nổi lên các phong trào: "Dũng sĩ diệt Mỹ", "Tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt”, "Bám thắt lưng Mỹ mà đánh", "Căng địch ra mà đánh, vây chúng lại mà diệt"... ở miền Bắc có các phong trào "Phụ nữ ba đảm đang", "Thanh niên ba sẵn sàng", "Tay cày tay súng", "Tay búa tay súng", "Tiếng hát át tiếng bom", "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người"... Trên các tuyến giao thông là phong trào "Xe chưa qua nhà không tiếc". Trên đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn có phong trào "Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến". Đây không chỉ là những khẩu hiệu có sức động viên cổ vũ rất lớn, mà còn là phương hướng hành động của hàng chục triệu quân chúng sẵn sàng xả thân chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc với tinh thần "Cả nước ra trận", "Toàn dán đánh Mỹ, cứu nước".


Với thắng lợi to lớn trên chiến trường, đầu năm 1967, Hội nghị Trung ương 13 quyết định mở mặt trận mới vê' ngoại giao, coi đó như một mũi tiến công nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ sâu rộng và mạnh mẽ hơn nữa của thế giới đối với cuộc kháng chiến cứu nước của ta, đồng thời khoét sâu thêm mâu thuẫn nội bộ kẻ thù, cô lập chúng cao độ để đánh thắng chúng.


Như vậy, sau hai cuộc phản công chiến lược của địch, thực tế chiến trường nổi lên tình hình: địch đã thất bại về nhiều mặt, trên cả phạm vi chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, cả quân sự, chính trị và ngoại giao. Đó là thất bại của giai đoạn đầu rất quan trọng trong chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #11 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2022, 07:48:26 am »

Sau hai mùa khô thất bại nặng nề trên chiến trường Việt Nam và trước dư luận rộng rãi trên thế giới ngày càng phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam, phong trào chống chiến tranh xâm lược Việt Nam ngày càng phát triển rộng lớn ngay trong lòng nước Mỹ. Giới cầm quyền Mỹ bắt đầu dao động, lúng túng, nhưng vẫn ngoan cố tiếp tục tăng quân, chuẩn bị kế hoạch mở cuộc phản công lần thứ ba với 120 vạn quân, có 50 vạn quân Mỹ.


Tình hình trên chiến trường lúc này rất phức tạp. Mỹ đã thua to nhưng vẫn chưa từ bỏ âm mưu tiếp tục chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ta đã thắng lớn nhưng chưa làm chuyển biến cơ bản cục diện chiến tranh có lợi cho ta.


Các Hội nghị Bộ Chính trị nửa cuối năm 1967, nhất là Hội nghị tháng 12 năm 1967, được Hội nghị Trung ương 14 (1 năm 1968) nhất trí thông qua đều chỉ rõ: Cuộc kháng chiến của ta lúc này cần phải có thể tạo một chuyển biến lớn giữa lúc đế quốc Mỹ đang ở thế ngập ngừng về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ đã dao động và trong thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu cử Tổng thống Mỹ, để chuyển cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định; phải tạo được một bước ngoặt lớn của cuộc chiến tranh. Muốn vậy, không thể tiến từng bước, tuần tự, đặt ra chỉ tiêu diệt ngần này địch, ngần này dân giành quyền làm chủ, v.v... như những năm trước đó. Không đánh theo cách cũ như Đông - Xuân trước, vì như vậy thì cuộc chiến tranh sẽ nhùng nhằng và kéo dài. Phải tạo một bước nhảy vọt bằng chọn hướng chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ. Đó là một cách đánh chưa từng diễn ra trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và cũng hiếm có trong lịch sử chiến tranh cách mạng, khiến cho Mỹ - Ngụy không hề nghĩ tới và cũng không thể nghĩ tới.


Yêu cầu hàng đầu của cuộc tiến công này vẫn là tiêu diệt nhiều địch, nhưng có nhiều nội dung mới khác hẳn trước.

- Hướng tiến công chủ yếu không phải là rừng núi và nông thôn, mà là đô thị, trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, nơi địch đang sơ hở, cũng là nơi dễ nhạy cảm và tạo thôi động lớn.

- Mục tiêu tiến công chủ yếu không phải là các tập đoàn quân chủ lực địch, mà nhằm vào các cơ quan đầu não chiến tranh của Mỹ - Ngụy, các trung tâm chỉ huy, các hậu cứ, vừa tiêu diệt sinh lực vừa phá hủy phương tiện chiến tranh. Đây là chỗ hiểm yếu, dễ chấn động nhất.

- Không gian tiến công, không phải chỉ một vài vùng, mà là toàn miền, tiến hành đồng loạt trên quy mô rộng lớn nhất từ trước đến nay.

- Thời gian tiến công, không vào các thời điểm thông thường mà đúng vào giữa đêm giao thừa Tết Nguyên Đán, lúc bất ngờ nhất.

- Phương châm đánh địch, vẫn là kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng nhưng trên diện rộng ở cả ba vùng chiến lược trong toàn miền, thực hiện kết hợp tổng công kích với tổng khởi nghĩa v.v...


Tất cả các mặt trên đây đều nhằm một mục tiêu: giáng cho địch một đòn thật mạnh và hiểm, bất ngờ và đồng loạt, làm cho Mỹ phải lung lay ý chí xâm lược, tạo nên sự thay đổi cơ bản cục diện chiến tranh có lợi cho ta.


Theo phương hướng đó, ta triển khai nhiều biện pháp tổ chức thực hiện: Bàn bạc kỹ lưỡng tạo sự nhất trí cao giữa Trung ương và chiến trường, sự thống nhất cao cả về tư tưởng và hành động; tiến hành nghi binh bằng cả ngoại giao và quân sự, cả về chiến lược và chiến dịch, làm cho địch bị lạc hướng; tiến hành chuẩn bị trên quy mô rất rộng lớn nhưng theo một quy định chặt chẽ, nghiêm ngặt, giữ được bí mật tuyệt đối ý định chiến lược của ta...


Ta cũng dự kiến ba khả năng: 1. Ta thắng lớn, buộc Mỹ phải chịu thua và nhận thương lượng với ta để kết thúc chiến tranh; 2. Ta giành được thắng lợi ở nhiều nơi nhưng địch vẫn giữ được nhiều vị trí quan trọng để tiếp tục chiến tranh; 3. Mỹ tăng thêm quân và dùng lục quân đánh ra miền Bắc... mở rộng chiến tranh ra cả Đông Dương.


Ta chủ trương mở hoạt động lớn ở mặt trận Đường số 9 - Khe Sanh, xem đó là một trong những mặt trận của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968, là một đòn chính, một chiến địa nghi binh của bộ đội chủ lực ta nhằm thu hút quân cơ động của Mỹ, tiêu diệt một bộ phận, vây hãm và giam chân tiêu hao chúng, tạo thế cho các chiến trường nhất là Huế, Đà Nẵng tiến công và nổi dậy thắng lợi. Ta đã nổ súng tiến công trước vào Khe Sanh, vào hầu hết các vị trí địch trên Đường số 9 trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 1 năm 1968. Tướng Mỹ Oétmolen vội vã tăng cường lực lượng chống giữ và cho không quân ném bom Khe Sanh và khu vực giới tuyến. Nhà Trắng và Bộ Quốc phòng Mỹ đánh giá rằng tiến tới khả năng ta có thể tập trung lực lượng tạo ra "một cái giống như Điện Biên Phủ".


Trên chiến trường nước bạn Lào, từ ngày 12 đên ngày 27 tháng 1 năm 1968, quân đội Pathét Lào và quân tình nguyện Việt Nam mỏ chiến dịch Nậm Bạc và thắng to. Chiến thắng Nậm Bạc có ý nghĩa to lớn, toàn diện cả về quân sự chính trị đối với cách mạng Lào, cũng như đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của ta. Chiến thắng này đi trước và phối hợp nhịp nhàng với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên chiến trường miền Nam.


Đúng đêm giao thừa và đêm mồng 1 Tết Mậu Thân (30 và 31 tháng 1 năm 1968), ta đồng loạt tiến công và nổi dậy trên toàn miền; đồng loạt tiến công địch ở 4 thành phố, 37 thị xã, hàng trăm thị trấn; đánh vào hầu hết cơ quan đầu não trung ương, địa phương cả Mỹ lẫn Ngụy, bao gồm cả 4 Bộ Tư lệnh Quân khu - Quân đoàn, 8 Bộ Tư lệnh Sư đoàn, 2 Bộ Tư lệnh biệt khu Ngụy, 2 Bộ Tư lệnh dã chiến, 30 sân bay, nhiều tổng kho lớn. Trong đó có những trận gây chấn động lốn như đánh toà Đại sứ Mỹ, dinh Độc Lập Ngụy, Bộ Tổng Tham mưu Ngụy ở Sài Gòn và 25 ngày đêm làm chủ Thành phố Huế... Đồng thời, nhân dân hầu khắp vùng nông thôn được sự giúp sức của lực lượng vũ trang đã nổi dậy, phá tan từng mảng hệ thống kìm kẹp của Ngụy quyền ở thôn xã, giành thắng lợi oanh liệt cả về tiêu diệt sinh lực địch và giành quyền làm chủ.


Tuy nhiên, mục tiêu khởi nghĩa ở các địa phương không đạt. Trên thực tế đã không diễn ra tổng khởi nghĩa như kế hoạch dự kiến.

Trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trừ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 toàn thắng sau này, chưa có cuộc động binh và huy động lực lượng nào có quy mô lớn và khí thế cao như cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #12 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2022, 07:49:37 am »

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của ta như "một đòn sét đánh" đối với bọn trùm xâm lược Mỹ, làm choáng váng cả nước Mỹ và chấn động dư luận thế giới. Theo dư luận chính giới Mỹ lúc này, nó làm nổi bật lên trước mắt chính quyền Giônxơn, nguy cơ lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, quân đội Mỹ bị đánh bại trong một cuộc chiến tranh.


Sau 1 tháng, tướng Oétmolen, Tổng chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam bị cách chức, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara từ chức. Sau 2 tháng, ngày 31 tháng 3 năm 1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố ba điểm: 1. Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; 2. Nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pari; 3. Không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ hai nữa... Đây là sự thừa nhận đầu tiên nhưng đầy đủ nhất về sự phá sản của chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, chiến lược chiến tranh quan trọng nhất được Mỹ công phu chuẩn bị và đánh giá cao trong chiến lược toàn cầu "phản ứng linh hoạt" của Mỹ những năm 60. Đến tháng 5 năm 1968, Mỹ phải bắt đầu đàm phán với ta về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Rõ ràng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của ta đã làm cho ý chí xâm lược của bọn cầm quyền Mỹ lung lay một bước nghiêm trọng.


Thắng lợi của ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân - Xuân 1968 thật là to lớn. Cùng với thắng lợi liên tiếp trong Đông - Xuân 1965 - 1966 đánh bại hai cuộc phản công mùa khô của địch, thắng lợi oanh liệt Tết Mậu Thân đã đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. Bằng cuộc tổng tiến công chiến lược này, ta đã giáng một đòn quyết định vào chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, buộc chúng dù rất ngoan cố và còn gây cho ta nhiều khó khăn, vẫn phải bắt đầu quá trình xuống thang chiến tranh, phải chuyển sang chiến lược "phi Mỹ hoá chiến tranh" rồi "Việt Nam hoá chiến tranh", phải bắt đầu rút dần quân Mỹ về nước, chấm dứt cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, phải cử người đàm phán với Chính phủ ta ở Hội nghị Pari. Ta có điều kiện mở ra mặt trận tiến công mới về ngoại giao, mở ra cục diện "vừa đánh vừa đàm", thật sự kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự - chính trị - ngoại giao để đánh thắng một kẻ địch có tiềm lực quân sự, kinh tế mạnh nhất thế giới.


Trên miền Bắc, ta cũng giành thắng lợi lớn về nhiều mặt, cả về chiến đấu, sản xuất, bảo đảm giao thông thông suốt, tăng cường sức người, sức của ngày càng lớn từ Bắc vào Nam.

Sự chỉ đạo chiến lược của Đảng trong giai đoạn này, giai đoạn đánh thắng nỗ lực chiến tranh cao nhất của cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ, nổi lên những điểm sau:


1. Đã dự kiến sớm và đúng xu hướng phát triển của chiến tranh, nên có sự chủ động chuẩn bị đối phó. Khi địch đang đưa chiến lược chiến tranh đặc biệt đến mức cao ở miền Nam, Nghị quyết Trung ương 9, tháng 12 năm 1963 đã dự kiến khả năng địch có thể leo thang lên nấc cao hơn và tiến hành chiến tranh cục bộ; cũng như lúc địch đang còn tiến hành "bí mật phá hoại" đối với miền Bắc, Nghị quyết 9, tháng 12 năm 1963 đã dự kiến khả năng Mỹ đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân khi cuộc chiến tranh đặc biệt bị thất bại lớn. Do đó, trước sự thay đổi chiến lược và bước leo thang chiến tranh mới, Mỹ đưa hàng chục vạn quân ồ ạt vào miền Nam, dùng hàng ngàn máy bay, hàng chục tàu chiến lớn đánh phá miền Bắc, ta đều chủ động chuẩn bị đối phó và đánh thắng bước đi chiến lược mới của Mỹ.


2. Đã đánh giá đúng so sánh lực lượng địch, ta khi Mỹ đưa mấy chục vạn quân ồ ạt vào miền Nam; kiên định quyết tâm đánh Mỹ, giữ vững và thực hành chiến lược tiến công và kịp thời xác định quyết tâm trực tiếp đánh quân chiến đấu Mỹ với chủ trương chiến lược kết hợp phản công với tiến công; đã chỉ đạo đánh thắng Mỹ ngay từ những trận đầu, chiến dịch đầu, thời kỳ đầu. Đặc biệt, ta đã động viên xây dựng được quyết tâm và khí thế đánh Mỹ trên cả nước cao chưa từng thấy, củng cố được niềm tin và tạo được đà thắng Mỹ trên chiến trường miền Nam, liên tiếp đánh bại hai cuộc phản công chiến lược trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967 của địch cũng như đánh thắng không quân và hải quân Mỹ trên miền Bắc.


3. Đã chọn đúng hướng tiến công rất hiểm là thành thị, sáng tạo cách đánh mới trong Tết Mậu Thân - Xuân 1968 rất bất ngờ và đầy hiệu lực, giành thắng lợi oanh liệt khi Mỹ đang dốc sức cố gắng cao nhất về quân sự, tạo được bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng; làm rung chuyển cả nước Mỹ và chấn động dư luận thế giới; làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, mở đầu quá trình xuống thang chiến tranh của đế quốc Mỹ.


4. Tuy nhiên, ta cũng mắc một số khuyết điểm lớn như "chủ quan trong việc đánh giá tình hình, đề ra yêu cầu chưa thật sát với tình hình thực tế lúc đó; nhất là sau đợt tiến công Tết Mậu Thân, ta không kịp thời kiểm điểm rút kinh nghiệm ngay để đánh giá lại tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời; ta chậm thấy cố gắng mới của địch và những khó khăn lúc đó của ta... cho nên đã gặp khó khăn trong một thời gian... Mặc dù có những khuyết điểm, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) vẫn giữ một vị trí to lớn và oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ...".


Ngày 1 tháng 11 năm 1968, đế quốc Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và bắn phá (lần thứ nhất) trên toàn bộ miền Bắc nước ta, đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ; nhưng chúng vẫn ngoan cố và xảo quyệt tiếp tục mưu đồ xâm chiếm Việt Nam bằng chiến lược khác.


Rất rõ ràng, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhân dân Việt Nam ta không chỉ quyết đánh và quyết thắng mà còn biết đánh và biết thắng đế quốc Mỹ ngay khi chúng dốc những cố gắng chiến tranh cao nhất.


Ngày 3 tháng 11 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước, khẳng định nhiệm vụ của toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc: "hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #13 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2022, 07:24:32 am »

III. Việt Nam hoá chiến tranh

Trong chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ, Việt Nam tuy không phải là hướng trọng điểm như châu Âu, nhưng lại là nơi mà như ngoại trưởng Mỹ Đalét từng tuyên bố "Quyền lợi của Mỹ ở Viễn Đông về phương diện chiến lược gắn liền với cái thường gọi là chuỗi cù lao ven biển. Chuỗi cù lao này có hai căn cứ trên lục địa: Triều Tiên ở phía Bắc và Đông Dương ở phía Nam; giữa hai căn cứ đó là các đảo Nhật Bản, Riou Kiou, Okinaoa, Đài Loan, Philíppin, Úc và Tân Tây Lan. Nếu Đông Dương sụp đổ thì hậu quả sẽ cực kỳ nghiêm trọng, không những Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện mà cả Inđônêxia sẽ bị cộng sản thu hút mất"1 (Trích tuyên bố của Dalét ngày 13 tháng 1 năm 1954). Các đời Tổng thống Mỹ kế tiếp đều nhất trí với đánh giá này của Đalét và cho rằng, "Đông Dương là một bộ phận cần thiết trong chính sách ngăn chặn của Mỹ - một bức tường thành quan trọng trong chiến tranh lạnh"2 (Robert S.Mc Namara: Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.42, 43). Nếu để Nam Việt Nam rơi vào tay "cộng sản" thì vô hình trung Mỹ tạo điều kiện cho "Liên Xô, Trung Quốc đang hợp tác với nhau mở rộng bá quyền của họ"3 (Robert S.Mc Namara: Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.42, 43), và điều đó theo quan niệm của các nhà vạch chính sách Mỹ, sẽ dẫn đến một phản ứng dây chuyền "đe doạ an ninh của nước Mỹ và thế giới phương Tây"4 (Robert S.Mc Namara: Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.42, 43). Mặt khác, bằng cuộc đấu tranh bền bỉ và anh dũng của mình, Việt Nam trở thành ngọn cờ tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc, là tấm gương khích lệ, cổ vũ mạnh mẽ nhân dân các nước Á, Phi, Mỹ latinh vùng lên đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Vì vậy, Mỹ đã nhiều năm dính líu và ngày càng lún sâu vào cuộc chiến xâm lược Việt Nam với quyết tâm ngăn chặn "cộng sản" và ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội xuống khu vực Đông Nam Á và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Đặc biệt, qua bốn năm đưa quân Mỹ và quân các nước đồng minh Nam Triều Tiên, Úc, Tân Tây Lan, Philíppin, Thái Lan sang Việt Nam trực tiếp tiến hành chiến tranh, đế quốc Mỹ chẳng những không đánh bại được đối phương mà ngược lại, bị thất bại nặng nề về quân sự và chính trị, bị hao tổn lớn về quân số, vũ khí phương tiện chiến tranh trên chiến trường. Tình hình đó đã tác động đến nước Mỹ, làm dấy lên phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam, đòi chính quyền Mỹ rút quân về nước, đòi chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam của nhân dân Mỹ và thế giới. Do áp lực của nhân dân Mỹ ngày càng mạnh, nhiều nghị sĩ Quốc hội ở Thượng viện và Hạ viện Mỹ cũng lên tiếng phản đối chính quyền, đòi luận tội Giônxơn, kêu gọi rút quân Mỹ về nước và tìm giải pháp chính trị chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam trong danh dự... Tập đoàn cầm quyền hiếu chiến Giônxơn thấy không thể không rút quân khỏi miền Nam Việt Nam và chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, mở đường cho một cuộc thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về vấn đề Việt Nam. Đó là chiều hướng đang phát triển mà giới lãnh đạo cao cấp Mỹ không thể cưỡng lại được. Song trong tính toán của chính quyền Giônxơn, việc rút quân Mỹ và quân một số nước đồng minh khỏi Nam Việt Nam phải đi đối với việc chính quyền và quân đội Sài Gòn mạnh lên, đủ sức đứng vững.


Lên thay L.Giônxơn làm Tổng thống nước Mỹ, Níchxơn giải thích nhiệm vụ của Mỹ giờ đây là phải "làm cho các lực lượng Nam Việt Nam có đủ sức đảm nhận toàn bộ trách nhiệm về an ninh của Nam Việt Nam để rút toàn bộ quân chiến đấu Mỹ trên bộ"1 (Trích Tuyên bố của Níchxơn ngày 3 tháng 11 năm 1969 về vấn đề Việt Nam). Muốn thế, Níchxơn phải kéo dài thời hạn rút quân Mỹ về nước bằng cách rút quân "nhỏ giọt", song song với việc triển khai chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Menvin Leđơ (Melvin Laird) đã tuyên bố rằng "Trong tất cả những thay đổi về chính sách trong năm đầu tiên của chính quyền Níchxơn không có gì quan trọng bằng Việt Nam hoá, vì chính sách mới này đối với Việt Nam thực tế là sự áp đụng và thử thách một chính sách rộng lớn hơn đối với châu Á mà Tổng thống đã tuyên bố tại Guam tháng 7 năm 1969 và đã được mang tên là "học thuyết Níchxơn"1 (Trích diễn văn của Menvin Leđơ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ đọc tại Caliphoócnia (California) ngày 14.1.1970). Chính sách mà Níchxơn tuyên bố tại Guam là các nước đồng minh phương Tây và các nước phụ thuộc Mỹ cùng nhau "liên minh phòng thủ", "chia sẻ gánh nặng" với Mỹ. nhưng Mỹ vẫn giữ vai trò lãnh đạo. Thực chất của chính sách đó là "dùng người bản xứ đánh người bản xứ" dưới sự chỉ huy của Mỹ. Vận dụng vào Việt Nam, Níchxơ điều chỉnh chủ trương "phi Mỹ hoá chiến tranh" thời Giônxơn thành chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, nhằm tìm cách rút dần quân chiến đấu Mỹ khỏi Việt Nam, song song với quá trình chuyển giao trách nhiệm chiến đấu, bảo vệ an ninh cho chính quyền và quân đội Sài Gòn với công thức: Người Việt Nam + trang bị vũ khí, hậu cần của Mỹ do Mỹ chỉ huy. Thực chất, chiến lược này nhằm kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ bằng sinh mạng và máu của người Việt Nam, giảm được việc sử dụng quân Mỹ; Níchxơn cho rằng, Mỹ "không thể bỏ rơi bạn bè và không thể chuyển gánh nặng cho ngươi Việt Nam quá nhanh được", rằng Mỹ "phải giữ sự thăng bằng giữa việc làm quá nhiều nhằm ngăn ngừa tâm lý ỷ vào Mỹ với việc làm quá ít do đó phá hoại lòng tự tin"2 (Níchxơn: Đi tìm một chính sách đối ngoại, Tạp chí Tuần tin tức Mỹ, số ra ngày 14 tháng 12 năm 1970) của chính đồng minh Nam Việt Nam. Nội dung chủ yếu của chiến lược Việt Nam hoá được Tổng thống Mỹ Níchxơn công bố ngày 18 tháng 2 năm 1970 là: Tăng cường khả năng tự vệ cho chính quyền, quân đội Sài Gòn, bảo đảm an ninh cho Nam Việt Nam; tăng cường quyền lực của chính quyền Việt Nam Cộng hoà ở khắp các vùng nông thôn Nam Việt Nam bằng việc đẩy mạnh chương trình bình định Việt Nam hoá chiến tranh là chiến lược chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (7-1969-4.1975) do Tổng thống Níchxơn đề xướng; chủ trương chuyển gánh nặng chiến tranh Việt Nam cho cho quân đội Sài Gòn để Mỹ rút hết về nước; là sự phát triển của phi Mỹ hoá chiến tranh bằng kế hoạch, biện pháp đầy đủ và mạnh mẽ hơn. Vẫn tiếp tục thực hiện ba biện pháp chiến lược cũ (bình định, tìm diệt, phong toả biên giới) nhưng với tên gọi mới (chiến tranh giành dân, chiến tranh huỷ diệt, chiến tranh bóp ngạt) và nâng cao cường độ hoạt động, kết hợp với hoạt động ngoại giao để kìm chế sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc đối với Việt Nam. Kế hoạch được triển khai theo ba bước. Bước 1, xây dựng quân đội Sài Gòn thành quân đội chính quy, hiện đại đủ sức thay thế lực lượng chiến đấu trên bộ để rút dần quân Mỹ về nước; đẩy mạnh bình định để khôi phục "an ninh lãnh thổ" trên phần lớn nông thôn miền Nam. Bước 2, chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên không cho quân đội Sài Gòn và tiếp tục củng cố để đủ sức đảm nhiệm chiến đấu khi quân Mỹ rút hết. Bước 3 Mỹ hoàn thành rút quân (dự tính vào năm 1972) khi chính quyền và quân đội Sài Gòn đã đứng vững, lực lượng cách mạng miền Nam bị đẩy lùi. Chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh đã gây nhiều khó khăn cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, nhưng bằng những cuộc tiến công chiến lược trong năm 1972 ở miền Nam và đánh bại chiến dịch tập kích đường không bằng máy bay chiến lược B52 ở miền Bắc, quân và dân Việt Nam đã gây tổn thất nặng nề cho Mỹ và quân đội Sài Gòn. buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari 1973 về Việt Nam. Sau khi Mỹ rút hết quân, chính quyền và quân đội Sài Gòn không đương đầu nổi với cách mạng miền Nam, đã bị thất bại hoàn toàn trước cuộc tổng tiến công và nổi dậy của nhân dân Việt Nam vào mùa xuân 1975. Theo Níchxơn Việt Nam hoá có hai phần chính:

- Tăng cường quân đội Việt Nam Cộng hoà về số lượng, trang bị, lãnh đạo, chỉ huy, tài nghệ chiến đấu và năng lực toàn diện.

- Mở rộng chương trình bình định, làm cho chính quyền Sài Gòn kiểm soát được toàn bộ nông thôn Nam Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #14 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2022, 07:25:27 am »

Nội dung cụ thể:

1. Ra sức đôn quân, bắt lính, thay đổi trang bị, vũ khí cho quân đội Sài Gòn, huấn luyện cấp tốc về chiến thuật, kỹ thuật cho quân đội đủ sức thay thế mỗi khi quân Mỹ rút đi.


2. Xây dựng chính quyền Việt Nam Cộng hoà ở Trung ương và các địa phương mạnh bằng cách ra sức tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng, gạt bỏ khủng bố; củng cố và mở rộng quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn trong nhân dân các thành thị, các vùng nông thôn đông dân; "chấn hưng kinh tế", cố gắng ổn định nền kinh tế, tài chính Nam Việt Nam đang suy sụp.


3. Ra sức bình định cho được nông thôn và kiểm soát đại bộ phận dân chúng miền Nam Việt Nam; đánh bật lực lượng vũ trang giải phóng ra khỏi cơ sở nông thôn và thành thị; tiêu diệt hạ tầng cơ sở của cách mạng; xây dựng hệ thống đồn bốt liên hoàn đế ngăn ngừa "Việt cộng" đột nhập. Đây là biện pháp chiến lược được xem là chủ yếu và về thực chất, cũng là mục tiêu của chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh mà Mỹ thực hiện ở miền Nam Việt Nam.


Ngoài ba biện pháp trên, đế quốc Mỹ còn tập trung lực lượng không quân, pháo binh, biệt kích đánh phá ác liệt các tuyến hành lang của ta, nhất là khu giới tuyến quân sự tạm thời và hệ thống đường vận tải chiến lược Trường Sơn, nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam, cô lập cách mạng miền Nam.


Đế quốc Mỹ dự định thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh theo kế hoạch ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: Tăng cường đánh phá làm cho lực lượng cách mạng miền Nam suy yếu nghiêm trọng. Trên cơ sơ đó, từng bước chuyến giao nhiệm vụ chiến đấu trên bộ cho quân đội Việt Nam Cộng hoà (quân Ngụy) đồng thời với việc rút dần quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.


Giai đoạn 2: Chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên không cho quân đội Việt Nam Cộng hoà. Tăng cường sức mạnh toàn diện cho quân đội Việt Nam Cộng hoà, đảm bảo cho đội quân này đủ sức đối phó với lực lượng vũ trang giải phóng trên chiến trường Nam Việt Nam và Đông Dương.


Giai đoạn 3: Hoàn tất những mục tiêu của Việt Nam hoá chiến tranh mà Níchxơn đã tuyên bố ở Guam. Củng cố kết quả đạt được. Miền Nam Việt Nam trở thành một "quốc gia tự do" dưới sự lãnh đạo của Mỹ, ngăn chặn có hiệu quả chủ nghĩa cộng sản bành trướng xuống khu vực Đông Nam Á.


Trong ba giai đoạn trên, giai đoạn 1 được xem là giai đoạn quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh. Giai đoạn này được dự định thực hiện trong thời gian từ đầu 1969 đến giữa năm 1972, chia làm ba bước.


Bước một, bắt đầu từ 1969 đến giữa năm 1970. Mỹ sẽ bình định được một số vùng đông dân cư quan trọng, xoá bỏ toàn bộ cơ sở cách mạng trong vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát, thanh lọc dân cư. Rút một số đơn vị chiến đấu Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam. Khống chế và đẩy lùi lực lượng vũ trang giải phóng ra xa các vùng nông thôn và đô thị, hạn chế đến mức tối đa những hoạt động quân sự của cách mạng.


Bước hai từ tháng 7 năm 1970 (tên tháng 5 năm 1971, bình định hết các vùng đông dân quan trọng ở Nam Việt Nam, làm cho lực lượng vũ trang giải phóng phải phân tán nhỏ, không thể hoạt động được ở quy mô từ đại đội trở lên. Hoàn thành kế hoạch hiện đại hoá quân đội Việt Nam Cộng hoà; rút phần lớn quân Mỹ về nước.


Bước ba từ tháng 7 nàm 1971 đến tháng 6 năm 1972, cơ bản bình định xong miền Nam Việt Nam. Lực lượng vũ trang giải phóng không còn hoạt động ở các vùng căn cứ trên biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia. Quân đội Việt Nam Cộng hoà đủ sức đương đầu với khối chủ lực miền Bắc Việt Nam. Rút đại bộ phận quân chiến đấu Mỹ về nước.


Thực hiện kế hoạch chiến lược trên, đế quốc Mỹ đề ra năm biện pháp cụ thể:

1. Xây dựng quân đội Việt Nam Cộng hoà thành một lực lượng mạnh, hiện đại, đủ sức đương đầu với lực lượng vũ trang cách mạng và đủ sức làm nòng cốt cho các đội quân tay sai Mỹ trên bán đảo Đông Dương.

2. Củng cố chính quyền các cấp của Việt Nam Cộng hoà, ổn định an ninh và gia tăng nền kinh tế miền Nam Việt Nam.

3. Tập trung sức hoàn thành chương trình bình định, bảo đảm an ninh lãnh thổ ở mức cao nhất, phản kích ra ngoài lãnh thổ Nam Việt Nam.

4. Tập hợp liên minh chống cộng khu vực do quân đội và chính quyền Sài Gòn làm nòng cốt.

5. Chặn đứng các nguồn tiếp tế chi viện cho cách mạng miền Nam, xúc tiến hoạt động ngoại giao để kiềm chế, cô lập, đẩy lùi cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam.

Như thế, với việc đề ra và thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, đế quốc Mỹ càng lộ rõ bản chất xâm lược, bản chất chống cộng triệt để, thâm độc và nham hiểm, toan "thay đổi màu da xác chết" bằng việc dùng người Việt Nam bắn giết những người yêu nước Việt Nam, nhưng lại "giấu mặt trá hình" để đánh lừa nhân dân thế giới. Thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh, đế quốc Mỹ còn nhằm khai thác triệt để nhân tài, vật lực của Nam Việt Nam phục vụ cho chiến tranh xâm lược, giảm bớt được gánh nặng cho Mỹ. Thực chất, Việt Nam hoá là sự kết hợp ba loại chiến tranh của Mỹ. Chiến tranh giành dân; chiến tranh bóp nghẹt và chiến tranh huỷ diệt do người Việt Nam tiến hành dưới sự nuôi dưỡng, chỉ huy của Mỹ, hòng làm cho lực lượng quân sự, chính trị của cách mạng Việt Nam ở miền Nam bị suy yếu, bị tiêu diệt. Như vậy, Việt Nam hoá không phải để chấm dứt chiến tranh, mà là tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược bằng chiến lược mới, thủ đoạn mới rất tàn bạo và thâm độc trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao của đế quốc Mỹ. Nói cách khác, với chiến lược mới này. Mỹ không hề từ bỏ các mục tiêu thực dân mới ở Việt Nam, mà kiên trì thực hiện nó trong điều kiện buộc phải rút dần quân chiến đấu Mỹ ra khỏi miền Nam, giảm dần chi phí chiến tranh mà theo dự tính của Mỹ sẽ chỉ còn ở mức thấp nhất, khoảng 5 tỉ đôla/năm thay vì 30 tỉ/năm trong chiến tranh cục bộ. Với mức chi phí này, theo tính toán của chính quyền Níchxơn, ngân sách chính quyền liên bang có thể chịu được, nhân dân Mỹ có thể chấp nhận và quên đi lời hứa của Níchxơn khi tranh cử Tổng thống là "sẽ chấm dứt chiến tranh Việt Nam trong sáu tháng sau ngày lên cầm quyền", ổn định được tình hình chính trị nội bộ nước Mỹ. Kế hoạch chiến lược mới để thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh của Níchxơn rất thâm độc, xảo quyệt, vì một mặt nó nhằm tăng cường sức mạnh quân sự, kinh tế của Mỹ và chính quyền Sài Gòn; mặt khác, nó lôi kéo các nước phương Tây "chia sẻ trách nhiệm" bằng việc đóng góp tiền của, xương máu càng nhiều cho Mỹ củng cố vị thế bá quyền lãnh đạo thế giới. Thâm độc hơn, là với chủ trương "bắc nửa nhịp cầu", hoà hoãn Đông - Tây", "kết bạn" với từng nước, đế quốc Mỹ lợi dụng sự bất hoà giữa Liên Xô với Trung Quốc, tìm cách chia rẽ, lôi kéo các nước xã hội chủ nghĩa khác, tạo nên "thế hoà hoãn" giữa các nước lớn, phục vụ cho âm mưu cô lập được Việt Nam, giảm bớt sự ủng hộ của phe xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, Trung Quốc để Mỹ thực hiện thắng lợi chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #15 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2022, 07:26:05 am »

Chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Níchxơn là một kế hoạch đồ sộ, hoàn chỉnh, biểu hiện tư tưởng chủ quan đánh giá mình quá cao, nhưng lại chứa đựng những mâu thuẫn mà đế quốc Mỹ không thể nào khắc phục được. Đó là, mâu thuẫn giữa yêu cầu giảm sự tham chiến của Mỹ với tham vọng tăng cường sức mạnh quân sự để ép nhân dân ta phải nhân nhượng theo điều kiện của Mỹ; mâu thuẫn giữa kế hoạch rút quân Mỹ, quân đồng minh của Mỹ khỏi Việt Nam với yêu cầu quân đội và chính quyền Sài Gòn vốn đã suy yếu phải mạnh lên đủ sức thay thế quân Mỹ tiến hành chiến tranh. Trong quá trình Việt Nam hoá chiến tranh, các mâu thuẫn trên sẽ càng phát triển theo chiều hướng không có lợi cho Mỹ và Sài Gòn. Do đó, nhân dân Việt Nam hoàn toàn có đầy đủ khả năng khoét sâu mâu thuẫn đó, tạo thếm cho mình sức mạnh, đánh thắng chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Níchxơn. Sau này, trong Hồi ký của mình, Kitsinhgơ cố vấn của Tổng thống Mỹ Níchxơn kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, thừa nhận rằng: "Rút quân Mỹ, vấn đề không phải là giành thắng lợi với quân số ngày càng giảm bớt, trong khi với quân số đầy đủ nhất mà cũng chẳng giành được thắng lợi. Chỉ còn việc làm cho Tổng thống Thiệu chấp nhận quyết định của Mỹ1 (Henry Kissinger: Hồi ký Những năm ở Nhà trắng, Thư viện Trung ương Quân đội sao lục) về cuộc hoà đàm Paris.


Về chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã vạch trần âm mưu thâm độc của Mỹ trong tuyên bố ngày 6 tháng 11 nàm 1969 như sau: Cái gọi là "sự thay đổi chính sách" trên chiến trường và bàn Hội nghị mà ông Níchxơn ra sức đề cao, chỉ có nghĩa là tăng cường chiến tranh, bám lấy miền Nam Việt Nam, không muốn Hội nghị Pari đi đến một giải pháp đúng đắn về vấn đề Việt Nam.


Ai cũng thấy rõ Tổng thống Níchxơn không muốn chấm dứt chiến tranh mà Việt Nam hoá chiến tranh, tức là dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam vì quyền lợi ích kỷ của bọn hiếu chiến Mỹ. Để củng cố Ngụy quân, Ngụy quyền ở miền Nam Việt Nam nhằm thực hiện kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh, Mỹ sẽ rút quân một cách nhỏ giọt và không chịu định thời hạn rút hết quân Mỹ, tức là kéo dài chiến tranh Việt Nam một cách vô hạn định. Mỹ tuyên bố chỉ rút bộ binh chiến đấu, nghĩa là rút một phần quân Mỹ, phần còn lại sẽ chiếm đóng lâu dài miền Nam Việt Nam.


Rõ ràng, Chính phủ ta coi chiến lược Việt Nam hoá là âm mưu kéo dài và tăng cường chiến tranh bằng lực lượng tay sai Mỹ ở miền Nam, chiếm đóng lâu dài Nam Việt Nam của đế quốc Mỹ.

Ngày 7 tháng 11 năm 1969, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam cũng ra tuyên bố vạch trần âm mưu xảo quyệt của đế quốc Mỹ trong chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh: Việt Nam hoá chiến tranh của Tổng thống Mỹ Níchxơn thực chất là chính sách thâm độc dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam để kéo dài chiến tranh xâm lược và thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài nước Việt Nam. Trò rút quân nhỏ giọt, cái gọi là chương trình rút hết quân chiến đấu Mỹ của Tổng thống Níchxơn là những thủ đoạn nhằm xoa dịu dư luận Mỹ, che giấu âm mưu duy trì lâu dài một số lớn quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, tranh thủ thời gian tăng cường Ngụy quân, củng cố Ngụy quyền, dùng bọn này để tiếp tục mưu đồ xâm lược và áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ.


Để chống lại yêu cầu cấp bách và chính đáng của hàng triệu nhân dân Mỹ đang đòi Chính phủ Mỹ phải nhanh chóng rút hết quân Mỹ về nước, Tổng thống Mỹ đưa ra những lý do xằng bậy về hậu quả ở Việt Nam sau khi Mỹ rút quân. Sự thật là hơn nửa triệu quân xâm lược Mỹ hằng ngày gây chết chóc và tai họa cho nhân dân miền Nam Việt Nam, chà đạp thô bạo các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, uy hiếp nghiêm trọng hoà bình, an ninh ở Đông Nam Á. Mỹ chấm dứt xâm lược và rút hết quân Mỹ về nước thì tức khắc mọi tai hoạ và tàn phá ở miền Nam Việt Nam sẽ được chấm dứt.


Tổng thống Níchxơn đã công khai phơi bày ý đồ kéo dài chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, duy trì vai trò sen đầm quốc tế của đế quốc Mỹ ở Đông Nam Á và trên thế giới. Chính sách chiến tranh của Tổng thống Mỹ Níchxơn là trở ngại duy nhất cho việc tiến tới một giải pháp hoà bình đúng đắn ở Việt Nam, là nguyên nhân của tình hình bế tắc của Hội nghị Pari về Việt Nam. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam kiên quyêt vạch trần và cực lực lên án chính sách xâm lược ngoan cố của chính quyền Níchxơn.


Chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh thể hiện bản chất ngoan cố và hiếu chiến của đế quốc Mỹ, bởi vì trong thế thua, phía Mỹ vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược, trong thế bị động, buộc phải chuyển hướng chiến lược, nhưng lại cố kéo dài chiến tranh xâm lược bằng cách tăng thêm gánh nặng cho chính quyền và quân đội Sài Gòn, nghĩa là dùng người Việt đánh người Việt dưới sự trợ giúp, chỉ huy của Mỹ. Đó là một kế hoạch toàn diện cả về quân sự, chính trị, kinh tế của Mỹ, trong đó chúng tập trung vực quân Ngụy Sài Gòn mạnh lên đủ sức thay thế quân Mỹ rút đi và đẩy mạnh chương trình bình định.


Thời kỳ đầu, khi chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh được triển khai, địch cũng có những chỗ mạnh tạm thời về quân số đông, vũ khí và phương tiện chiến tranh dồi dào, hiện đại, sức cơ động cao. Nhưng những chỗ mạnh đó không thể nào khắc phục được những chỗ yếu cơ bản của quân đội Việt Nam Cộng hoà trong chiến lược mới này của Mỹ. Chỉ xét về khả năng thay thế quân đội Mỹ đảm nhận gánh nặng chiến tranh của quân đội Sài Gòn, có thể thấy rất rõ ràng rằng, trong những năm chiến tranh cục bộ đó là một đội quân thua trận, luôn luôn dựa vào quân Mỹ để tồn tại, thì giờ đây trong chiến tranh Việt Nam hoá dù đội quân đó có số lượng đông, được trang bị hiện đại, với sự yểm trợ tối đa về hậu cần, không quân, hải quân, pháo binh của Mỹ nhưng tinh thần chiến đấu sa sút, nó không thế làm nên chiến thắng mà Níchxơn mong muốn được. Nói cách khác, trong 15 năm kể từ khi Mỹ nhảy vào gạt Pháp để độc chiếm miền Nam cho đến năm 1969, Mỹ đã ra sức nuôi dưỡng, xây dựng quân đội Sài Gòn, nhưng đội quân này không đứng vững được trước đòn tiến công của Quân giải phóng, thì nay quân Mỹ thua phải rút dần về nước, chính sách Việt Nam hoá của Níchxơn không còn cách nào để biến một đội quân chiến bại thành một đội quân chiến thắng được. Mặc dù vậy, Níchxơn vẫn hy vọng về một thắng lợi quân sự để làm áp lực ép ta trên bàn hội nghị. Tại Hội nghị Pari, Mỹ luôn lẩn tránh việc tìm một giải pháp chính trị đúng đắn để chấm dứt chiến tranh, mà luôn đòi "phải có đi có lại", "hai bên đều rút quân". Chính Níchxơn đã thú nhận rằng Việt Nam hoá là một kế hoạch nhằm biến cuộc chiến tranh của Mỹ thành cuộc chiến tranh lâu dài của người Việt Nam với nhau do Mỹ điều khiển. Bân cơ - Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn nói, mục tiêu của Việt Nam hoá là "thay đổi màu da xác chết", là làm giảm thương vong của lính Mỹ bằng mọi giá... chứ không phải là kế hoạch chấm dứt chiến tranh, đem lại hoà bình cho Việt Nam thật sự. Leđơ - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ thú nhận, âm mưu cơ bản của Mỹ trong việc thực hiện chiến lược Việt Nam hoá là nhằm đưa đến một thắng lợi quân sự cho Nam Việt Nam và không loại trừ khả năng Mỹ lại có cuộc leo thang khác nếu chương trình Việt Nam hoá và cuộc nói chuyện ở Pari tan vỡ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #16 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2022, 07:27:58 am »

Trong khi đó, những nhà hoạt động chính trị, những trí thức chân chính cũng như đông đảo nhân dân tiến bộ Mỹ và thế giới lên tiếng phê phán, phản đối chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của chính quyền Níchxơn. Thượng nghị sĩ Mỹ Mắc Cách nói: "Việt Nam hoá chuyển cố gắng chiến tranh cho quân đội Nam Việt Nam, thực chất là đang tạo ra một đạo quân đánh thuê chống lại nhân dân nước họ, để xây dựng một chính phủ không đại diện cho ai" (Theo Ngôi sao buổi chiều, ngày 19 tháng 2 năm 1970). Trong khi đó, Thượng nghị sĩ Mỹ Huyghết vạch rõ: "Việt Nam hoá sẽ không đưa chúng ta ra khỏi cuộc chiến tranh ở Việt Nam mà sẽ kéo dài mãi sự tham gia của chúng ta (Mỹ) vào cuộc chiến tranh đó" (Theo AP, ngày 8 tháng 2 năm 1970).


Việt Nam hoá chiến tranh của Níchxơn thực chất là chính sách nhằm kéo dài chiến tranh xâm lược của Mỹ bằng "dùng người Việt đánh người Việt" do Mỹ chỉ huy. Đế quốc Mỹ có thể gây thêm cho nhân dân ta nhiêu đau thương, hy sinh và mất mát, nhưng không thể đảo ngược được chiều hướng của cuộc chiến tranh. Quân và dân ta ở miền Nam đang ở thế thắng, thế chủ động, càng đánh càng mạnh càng thắng to và cuối cùng nhất định sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn.


Triển khai chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, trước tiên Mỹ điều chỉnh chủ trương phi Mỹ hoá của Giôn xơn theo hướng Việt Nam hoá chiến tranh. Vì phi Mỹ hoá là một kế hoạch quân sự nhằm giảm thương vong cho quân Mỹ bằng cách đẩy quân đội Sài Gòn ra phía trước đương đầu trực tiếp với Quân giải phóng, quân Mỹ đứng ở phía sau chi viện bằng pháo binh, nếu quân đội Sài Gòn bị đánh bại thì quân Mỹ mới nhảy vào tham chiến. Như vậy, phi Mỹ hoá có giảm được một phần thương vong cho quân đội Mỹ nhờ ở tuyến sau các cuộc hành quân so với trong chiến tranh cục bộ, nhưng không thể nào giảm được lực lượng Mỹ ra trận với ảnh hưởng ít nhất đên khả năng chiến đấu của binh lính để rút dần quân Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự. Còn Việt Nam hoá là một chủ trương toàn diện về quân sự, chính trị, ngoại giao để tiếp tục thực hiện âm mưu cơ bản của Mỹ là chiếm miền Nam bằng chính sách "dùng người Việt đánh người Việt", vừa bảo đảm cho Mỹ rút quân, vừa tăng cường quân đội Sài Gòn và làm suy yếu lực lượng kháng chiến miền Nam Việt Nam. Đồng thời, với điều chỉnh phi Mỹ hoá, Mỹ bỏ chiến lược "tìm diệt" trong chiến tranh cục bộ thời Giôn xơn, gấp rút củng cố bộ máy lãnh đạo, chỉ huy của Mỹ ở miền Nam gồm Đại sứ quán; Bộ Tư lệnh Mỹ MACV, Phân cục Tình báo Trung ương Mỹ, hệ thống cố vấn quân sự và dân sự Mỹ trong chính quyền và quân đội Sài Gòn. Đồng thời, Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực hiện biện pháp chiến lược phòng ngự có trọng điểm, bằng việc dồn lực lượng lại, hình thành những căn cứ, những cụm cứ điểm mạnh đê bảo vệ các thành phố lớn như Sài Gòn, Biên Hoà, Đà Nẵng, bảo vệ những địa bàn chiến lược quan trọng; kết hợp giữa phòng thủ tại chỗ mạnh với phòng thủ từ xa cơ động, linh hoạt; dùng pháo binh, xe tăng, không quân - kể cả máy bay ném bom chiến lược B52 phong toả vòng ngoài, ngăn chặn ta tiến công và yểm trợ cho quân Ngụy hành quân càn quét, hành quân bình định.


Tăng cường quân đội Việt Nam Cộng hoà là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh. Bởi vậy, trong hai năm 1969-1970, Mỹ và chính quyền Sài Gòn ra sức đôn quân, bắt lính để tăng quân Ngụy hàng năm lên từ 50.000 ngươi đến 100.000 người cho đến khi đạt mức quân số 1.100.000 quân chính quy. Trong việc tăng cường quân Ngụy, Mỹ rất chú trọng hai quân chủng hải quân và không quân. Đến cuối năm 1969, mỗi quân chủng quân số tăng lên xấp xỉ 45.000 người. Mỹ khẩn trương gia tăng số lượng và nhịp độ đào tạo phi công, thuỷ thủ, nhân viên kỹ thuật, hoa tiêu cho không quân và hải quân tại các trường đào tạo ở Mỹ và trường không quân, hải quân ở Nha Trang.


Các quân, binh chủng quân đội Việt Nam Cộng hoà (Ngụy) được Mỹ trang bị các loại vũ khí, kỹ thuật hiện đại. Quân chủng không quân được trang bị máy bay F5, C119, C130 và 1500 máy bay trực thăng các loại. Tháng 3 năm 1970, quân đội Sài Gòn thành lập thêm một Sư đoàn không quân, cùng nhiều phi đoàn độc lập khác. Hải quân được trang bị 1600 tàu chiến các loại và tuần dương hạm DE. Mỹ chuyển giao cho quân chủ lực Ngụy 700.000 súng M16 - loại súng trường cực nhanh và hiện đại nhất của quân Mỹ lúc bấy giờ, 30.000 súng phóng lựu, 10.000 súng máy các loại. Về thiết giáp, Mỹ đưa sang Nan Việt Nam 200 xe tăng M41, M48, 1000 xe bọc thép, nâng tổng số xe tăng, thiết giáp của quân đội Sài Gòn lên 1897 chiếc. Quân đội Sài Gòn lập thêm 20 Tiểu đoàn pháo, trang bị thêm 600 đại bác từ 105mm đến 175mm, đưa tổng số đại bác quân Ngụy lên 1300 khẩu và 10.000 súng cối các loại. Ngoài ra, quân đội Sài Gòn còn được Mỹ trang bị 20.000 máy thông tin, 24.000 xe vận tải để phục vụ cho tác chiến.


Bên cạnh đội quân chính quy, chính quyền Sài Gòn bắt tất cả những người từ 13 tuổi đến 45 tuổi vào lực lượng bảo an, dân vệ và phòng vệ dân sự (địa phương quân và nghĩa quân). Lực lượng này đến năm 1970 có 268.000 bảo an, dân vệ, 90.000 cảnh sát được trang bị 100% súng; 1,5 triệu phòng vệ dân sự, một phần ba trong số đó được trang bị súng các bin. Trong chiến tranh cục bộ, quân chủ lực Sài Gòn có nhiệm vụ bảo vệ an ninh tại các nơi bình định, xây dựng nông thôn trong tỉnh. Ngoài các khu vực bình định, xây dựng nông thôn, nếu nơi nào có lực lượng cách mạng hoạt động, thì quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ chịu trách nhiệm an ninh. Do đó, tỉnh trưởng tiểu khu trưởng chỉ chịu trách nhiệm liên đới. Nay tiến hành Việt Nam hoá, quân Mỹ, quân các nước đồng minh của Mỹ lui về phía sau chuẩn bị rút về nước. Quân đội chính quy Sài Gòn thay thế quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ, là lực lượng cơ động chiến lược, làm nhiệm vụ "tìm diệt" và "quét giữ"; lực lượng địa phương quân và nghĩa quân được đôn lên đảm nhiệm yểm trợ bình định, bảo đảm an ninh cho nhiệm vụ xây dựng nông thôn trên từng vùng lãnh thổ.


Ngày 8 tháng 6 năm 1969, Tổng thống Mỹ công bố rút 25.000 quân Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam. Ngày 7 tháng 7 năm 1969, một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn bộ binh số 9 Mỹ rút khỏi Việt Nam đầu tiên. Ngày 16 tháng 9 năm 1969, Níchxơn công bố rút thêm 35.000 quân Mỹ đợt hai. Đồng thời với việc rút bớt quân Mỹ khỏi Việt Nam, ngày 30 tháng 9 năm 1969. Tổng thống Mỹ công bố lệnh rút 6000 quân Mỹ khỏi Thái Lan vào tháng 10 năm 1970. Tiếp tục quá trình không thể cưỡng lại đó, năm 1970, Mỹ rút 50.000; năm 1971, rút 250.000; đầu năm 1972, rút thêm 70.000 quân khỏi Việt Nam. Đến ngày 1 tháng 5 năm 1972, số quân Mỹ còn lại ở Nam Việt Nam là 69.000. Số này sẽ tiếp tục rút khỏi Nam Việt Nam cuối năm 1972 và sau Hiệp định Paris được ký kết.


Trong khi quân Mỹ rút nhỏ giọt, thì quân đội Việt Nam Cộng hoà tăng rất nhanh về số lượng. Đến cuối năm 1970, đội quân này đã đạt hơn 700.000 tên, gần đúng kế hoạch mà Mỹ trù định.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #17 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2022, 07:24:01 am »

Cùng với việc lần lượt rút quân Mỹ, Bộ Tư lệnh Mỹ MACV, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Sài Gòn thống nhất tái phối trí lực lượng chủ lực Ngụy thay thế quân Mỹ ở những địa bàn chiến lược quan trọng để thực hiện chiến lược phòng thủ trọng điểm, kết hợp phòng thủ tại chỗ mạnh với phòng thủ từ xa linh hoạt. Ở Vùng chiến thuật I, Sư đoàn 1 Ngụy thay Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ số 3; Vùng chiến thuật II, Trung đoàn 47 thuộc Sư đoàn 22 Ngụy lên Tây Nguyên thay cho Lữ đoàn 1 Sư đoàn bộ binh số 4 Mỹ rút về An Khê. Trung đoàn bộ binh 47 sẽ cùng với Sư đoàn 23 Ngụy trấn giữ Tây Nguyên, ở Vùng chiến thuật III, Sư đoàn 5 Ngụy tiếp nhận căn cứ Lai Khê thay cho Sư đoàn bộ binh số 1 (Anh cả đỏ); Sư đoàn dù Ngụy thay thế dần vị trí Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ ở Tây Ninh và Sư đoàn bộ binh 25 Ngụy thay thế vị trí Sư đoàn 25 Mỹ (Tia chớp nhiệt đới) ở Đồng Dù; ở Vùng chiến thuật IV, Sư đoàn bộ binh 7 quân Sài Gòn thay thế vị trí của Sư đoàn bộ binh số 9 Mỹ... Ngoài ra, lực lượng chủ lực quân đội Sài Gòn còn lại được bố trí phòng thủ dọc biên giới và giới tuyến quân sự tạm thời, vùng ven Sài Gòn - Gia Định, nội đô các thành phố, thị xã thay cho quân Mỹ và chư hầu.


Thời kỳ Níchxơn thay Giôn xơn làm Tổng thống nước Mỹ, là thời kỳ phát triển các loại vũ khí công nghệ cao. Chính thời kỳ này ở Mỹ xuất hiện "thế hệ vũ khí thứ ba". Các nhà quân sự Mỹ thường nói đến một "cuộc chiến tranh kỹ thuật", "cuộc chiến tranh điện tử", "chiến tranh tự động hoá", "chiến tranh tăng cường tư bản", v.v... Cho nên, chính quyền Níchxơn trong khi ra sức củng cố, tăng cường quân đội Sài Gòn, đã đồng thời tăng ngân sách chiến tranh, tận dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật đã đạt được, thiết bị một chiến trường điện tử tự động hoá ở Nam Việt Nam. Chiến trường này gồm phần tử âm thanh nhạy để xác định mục tiêu, các máy tính đê thu thập tin tức, các màn hình ti vi khép kín để kiểm soát hoả lực máy bay lên thẳng, những máy tia hồng ngoại để phát hiện đối phương di chuyển ban đêm, hệ thống giám sát đối phương bằng bụi phản xạ và cả những người máy được kiểm soát bằng rađiô, có thể tự vũ trang và tự nổ bằng tín hiệu của máy tính, máy dò địa chấn để phát hiện tiếng động trong lòng đất v.v.. Ước tính thiết bị một chiến trường điện tử còn đang thời kỳ xây dựng, thí nghiệm, nhưng việc nó được Mỹ triển khai thực hiện ở Việt Nam đã gây cho ta nhiều khó khăn. Đối với chính quyền, quân đội Sài Gòn thì đây là "lá bùa hộ mệnh" nâng đỡ tinh thần đang suy sụp của họ, là "liều thuốc" góp phần làm cho quân Ngụy đứng vững trong thời gian Mỹ rút quân.


Đi đối với tăng cường và hiện đại hoá quân đội Việt Nam Cộng hoà (Ngụy), việc củng cố chính quyền Nam Việt Nam để làm chỗ dựa cho Mỹ tiến hành Việt Nam hoá chiến tranh, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới, là mối quan tâm hàng đầu của Níchxơn. Vì thế, Mỹ ra sức củng cố chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, tạo cho nó vỏ bọc "hợp pháp" "hợp hiến" để lừa bịp dư luận Mỹ chẳng những giữ nguyên cơ cấu của "nền Đệ nhị cộng hoà" do Thiệu đứng đầu, mà còn ủng hộ Thiệu ép Thượng viện Sài Gòn thông qua luật Bảo đảm an ninh, uỷ quyền đặc biệt cho Tổng thống "toàn quyền hành động". Rút kinh nghiệm việc phân định quyền lãnh đạo hành chính và quyền chỉ huy quân sự trước đây do hai ngươi đảm nhiệm đã hạn chế phần nào tác dụng, nay thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh, Mỹ chủ trương cần phải tập trung quyền hành vào một người để tăng tính thống nhất, hiệu lực và sức mạnh của bộ máy chiến tranh. Mỹ và chính quyền Sài Gòn sắp xếp tổ chức lại bộ máy lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương, tăng cường quyền lực cho cấp tỉnh, tiểu khu và quân, chi khu, cấp đại diện Trung ương tại các miền: miền Trung, Tây Nguyên, phụ cận Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long có toàn quyền về chính trị và quân sự. Trước đây, cấp quận có quận trưởng chịu trách nhiệm về hành chính, chi khu trưởng chịu trách nhiệm về quân sự; cấp tỉnh trưởng chịu trách nhiệm về hành chính, tiểu khu trưởng chịu trách nhiệm về quân sự. Sự phân chia quyền hạn này lên đến cấp Quân khu. Nay chính quyền Sài Gòn tập trung trách nhiệm hành chính, chính trị, quân sự ở mỗi cấp vào một người. Theo đó, quận trưởng kiêm chi khu trưởng, Tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng, Tư lệnh Quân đoàn, Quân khu kiêm đại biểu Chính phủ... Mỹ coi sự kết hợp này rất quan trọng trong việc thực hiện chính sách Việt Nam hoá.


Dựa vào quyền hành đặc biệt đó, lại được Mỹ hỗ trợ, Thiệu trắng trợn ban hành luật cấm biểu tình, bãi công, bãi chợ, tuyên bố sẽ bỏ tù hoặc bắn chết những ai đi lại trong giờ giới nghiêm, bắt giam và tịch thu những chủ bút và máy in báo nào xâm phạm đến "An ninh Quốc gia(!)", "nói xấu chế độ", "đưa tin thất thiệt" v.v... Nguyễn Văn Thiệu còn cho phép bắt, thủ tiêu hoặc bắn giết những người chúng tình nghi có quan hệ với "cộng sản", đàn áp phong trào đấu tranh chống Mỹ của thanh niên, sinh viên, học sinh, những nhà tu hành và nhân dân đô thị. Mỹ và chính quyền Sài Gòn chỉ thị cho Phòng 5 quân Mỹ và Phòng 5 quân Sài Gòn1 (Phòng kế hoạch - Bộ Tổng Tham mưu) lập kế hoạch hỗn hợp mục tiêu chiến lược của quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hoà (quân Ngụy) dài hạn. Mục tiêu đề ra trong kế hoạch này là, xây dựng Nam Việt Nam thành một quốc gia độc lập, tạo lập một nền hoà bình cho Nam Việt Nam dù có hay không có sự thoả hiệp của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Trong kế hoạch này, Mỹ và chính quyền Sài Gòn chủ trương tăng cường sức mạnh về chính trị, kinh tế, quân sự cho Nam Việt Nam để thu hẹp dần những hoạt động của lực lượng vũ trang giải phóng và phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, tiến tới làm cho lực lượng cách mạng không còn khả năng hoạt động và do vậy, an ninh của Nam Việt Nam sẽ được bảo đảm như một "quốc gia tự do" trong Khối các nước thân Mỹ chống cộng, về kinh tế, sẽ phát triển kinh tế miền Nam đến chỗ thịnh vượng để nhân dân Nam Việt Nam có mức sống cao ngang với mức sống của nhân dân các nước tiên tiến. Đây thực sự là một kế hoạch lừa bịp, che giấu âm mưu chiếm miền Nam Việt Nam của Mỹ bằng chính sách Việt Nam hoá chiến tranh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #18 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2022, 07:25:30 am »

Ngày 26 tháng 3 năm 1970, Thiệu ban hành Luật người cày có ruộng để thâu tóm ruộng đất vào tay giai cấp địa chủ, tư sản thân Mỹ và tăng cấp ruộng đất cho những gia đình có người phục vụ trong chính quyền, quân đội Sài Gòn nhằm lôi kéo một bộ phận nông dân vào hàng ngũ của chúng, tạo ra cơ sở xã hội làm chỗ dựa cho Mỹ tiến hành Việt Nam hoá chiến tranh. Với luật người cày có ruộng, tầng lớp nông dân chính sống trong các vùng nông thôn bị cướp không ruộng đất, vô kế sinh nhai, buộc phải vào các Ấp tân sinh, ấp đời mới do chính quyền Sài Gòn kiểm soát. Thiệu còn đặt thêm nhiều loại thuế môn bài mới đánh vào những người buôn bán, nghề kỹ nghệ, làm ruộng, đánh bắt cá và những nghề tự do khác, làm cho đời sống nhân dân miền Nam ở nông thôn và thành thị thêm điêu đứng, về vấn đề này, Việt Nam Thông tấn xã - cơ quan Thông tấn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 3 tháng 11 năm 1969 phát đi bài cải cách điền địa - một trò bịp bợm và phản động trong đó chỉ rõ: "Theo chỉ thị của Mỹ - Ngụv quyền Sài Gòn phải tìm mọi cách kể cả đàn áp khủng bố và lừa gạt mua chuộc để "tranh thủ trái tim, khối óc" của nông dân là lực lượng cách mạng đông đảo nhất ở miền Nam. Trò hề cải cách điền địa cũng như tung tiền bạc và hàng viện trợ Mỹ vào nông thôn đều nằm trong âm mưu chung này của chúng.


Ở miền Nam hiện nay, ở vùng giải phóng hay trong vùng còn tạm bị kiểm soát, hầu hết ruộng đất, từ ruộng đất của địa chủ đến ruộng đất Pháp kiều bán lại cho Diệm -   Nhu từ năm 1958 đều do cách mạng chia cấp và do nông dân làm chủ cấy cày, làm ăn từ ngày đồng khởi đến nay. Thực tế đã xảy ra và đang xảy ra trong vùng chúng còn tạm kiểm soát hoặc vùng chúng lấn chiếm, là bọn Ngụy quyền ấp xã và một số địa chủ lưu vong cướp giật ruộng đất cách mạng đã cấp cho nông dân từ trước, ruộng đất của gia đình cán bộ, chiến sĩ ta, đem chia cho bọn tề Ngụy và tay chân của chúng, ở các huyện Đức Hoà, Bến Lức, Thủ Thừa (Long An) chúng lấy đất nông dân được cấp trong kháng chiến trước để cấp cho Ngụy binh. Ở xã Nhị Bình (tỉnh Long An), chúng lấy đất của cách mạng cấp cho nông dân để cấp cho gia đình Ngụy quân rồi cấp bằng khoán để chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất cho số này. Ở huyện Gò Dầu (Tây Ninh), chúng lấy ruộng đất của nông dân di tản cư bán cho kẻ khác, ở tỉnh Bình Thuận, Bà Rịa, chúng còn lấy công điền nông dân đang cày cấy đem bán đấu giá hoặc cấp cho gia đình Ngụy quân...


Trò hề cải cách điền địa của Thiệu - Kỳ không những là trò bịp đối với nông dân, mà thực chất là một âm mưu cướp đoạt trắng trợn ruộng đất của nông dân, của gia đình cán bộ, chiến sĩ ta còn trong vùng chúng kiểm soát để cấp cho bọn tay sai của chúng nhằm tạo một chỗ dựa về chính trị phản động ở nông thôn, chống lại phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp1 (Theo Trần Văn Giàu: Miền Nam giữ vững thành đồng, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, t.5, tr.408, 409).


Ở các địa phương, tỉnh trưởng được toàn quyền trách nhiệm về an ninh lãnh thổ. Từ tỉnh đến quận, xã, ấp, chính quyền mỗi cấp có toàn quyền hành động "bảo đảm an ninh" trong phạm vi lãnh thổ mình cai quản. Do vậy, bọn chúng tha hồ lộng hành, sách nhiễu nhân dân, tự do bắt bớ đánh đập, giam cầm, tra tấn dã man những người dân lương thiện bị chúng liệt vào loại tình nghi có quan hệ với "cộng sản". Nguyễn Văn Thiệu còn ban hành các sắc luật quy định án tử hình đối với những người chống lại các chính sách về kinh tế, chính trị, quân sự của Mỹ và Sài Gòn. Bộ máy cai trị của chính quyền Sài Gòn thời kỳ Việt Nam hoá chiến tranh độc tài phát xít không thua kém thời Diệm - Nhu.


Song song với tăng cường và hiện đại hoá quân đội Việt Nam Cộng hoà, củng cố chính quyền Sài Gòn làm chỗ dựa cho Việt Nam hoá chiến tranh, Mỹ - Ngụy đẩy mạnh chương trình bình định, dùng tổ chức Phượng Hoàng, Thiên Nga điều tra, phát hiện cán bộ và cơ sở cách mạng, tiêu diệt những người yêu nước. Địch coi đây là biện pháp quan trọng nhất trong cuộc đấu tranh giành dân, giành quyền làm chủ của chúng. Chương trình bình định được Níchxơn và Nguyễn Văn Thiệu xem như xương sống của Việt Nam hoá chiến tranh. Đây là một bộ phận quan trọng gắn liền với toàn bộ hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế của Mỹ và chính quyền Sài Gòn đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của cơ quan chỉ đạo Trung ương. Cơ quan này là sự hợp nhất các cơ quan chỉ đạo bình định của Bộ Tư lệnh MACV, Sứ quán Mỹ, Phân cục Tình báo Trung ương CIA Mỹ ở Sài Gòn do tướng A.Bơram. Tư lệnh quân viễn chính Mỹ ở Nam Việt Nam điều hành. Theo Mỹ và chính quyền Sài Gòn thì bình định dồn vào các ấp tân sinh, ấp đời mới là biện pháp chiến lược quyết định sự tồn vong của chính quyền Sài Gòn và sự thành bại của Việt Nam hoá chiến tranh.


Do tầm Quan trọng đó, địch chia kế hoạch bình định ra làm nhiều giai đoạn để thực hiện:

Từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 6 năm 1969, tiến hành bình định cấp tốc.

Từ tháng 7 năm 1969 đến tháng 6 năm 1970, bình định phát triển nông thôn.

Từ tháng 7 năm 1970 đến tháng 2 năm 1971, bình định đặc biệt.

Từ tháng 3-1971 đến tháng 3-1972, chương trình cộng đồng tự vệ và phát triển nông thôn...

Tiến hành bình định cấp tốc và bình định phát triển nông thôn, Níchxơn và Thiệu nhằm ba mục đích: khôi phục và mở rộng quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn ở nông thôn Nam Việt Nam đang bị thu hẹp; tăng cường đánh phá phong trào cách mạng ở cơ sở để triệt tận gốc "cộng sản", tranh thủ trái tim và khối óc của nhân dân bằng chiến tranh tâm lý, chiến tranh chính trị đầu độc, lôi kéo quần chúng; vơ vét nhân tài, vật lực của nhân dân miền Nam để giảm bớt chi phí cho Mỹ kéo dài chiến tranh. Chúng coi đây là "trận cuối cùng"; "ai thắng ai trong trận này sẽ chiến thắng trong cuộc chiến tranh". Đây là mũi phản công chủ yếu của Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đánh vào cách mạng miền Nam. Địch tập trung mọi lực lượng, mọi sức mạnh quân sự và chính trị, quyết thực hiện cho được chỉ tiêu kế hoạch bình định năm 1969 là kiểm soát 90% dân số miền Nam tương đối an toàn; tiêu diệt 33.000 cán bộ cơ sở của "Việt cộng"; thiết lập chính quyền Ngụy ở tất cả các xã, ấp, tuyển cho được hai triệu người vào địa phương quân và nghĩa quân. Do đó, chương trình bình định của Mỹ - Ngụy thời kỳ này nổi lên những đặc điểm chủ yếu sau đây:


Thứ nhất, lực lượng tập trung vào nhiệm vụ bình định đông, địch huy động từ 60% đến 70% quân chủ lực phối hợp với 800 đội, đoàn bình định gồm 40.000 tên, cùng hàng trăm đơn vị cảnh sát, bảo an, địa phương quân, nghĩa quân đánh phá cơ sở cách mạng liên tục ở hầu hết các vùng nông thôn chúng kiểm soát. Chúng dùng không quân, hải quân, pháo binh bắn phá, ném bom suốt ngày đêm vô cùng ác liệt, san phẳng nhiều làng mạc, ruộng vườn, gây nên cảnh tàn phá hoang tàn, làm cho dân chúng hoảng loạn, kết hợp với thanh lọc dân cư, bắt, tra tấn dã man những người dân lương thiện, ép buộc dân phải vào trong các ấp tân sinh, ấp đời mới mà thực chất là những "trại giam" trá hình.


Hơn nửa triệu quân chủ lực của chính quyền Sài Gòn được huy động vào bình định, nên Mỹ gọi đây là "cuộc tổng tiến công" nhằm "tiêu diệt du kích", "nhổ tận gổc cộng sản, đánh bật Việt cộng ra khỏi xóm làng", "lập hệ thống an ninh nghiêm ngặt 100%". Khẩu hiệu của địch đề ra trong cuộc "tổng tiến công" này là "bành trướng kiểm soát toàn bộ lãnh thổ quốc gia", "diệt trừ tất cả cán bộ hạ tầng cơ sở của cộng sản".


Như vậy, cuộc đấu tranh chống phá địch bình định của nhân dân ta diễn ra trên quy mô rộng lớn ở hầu hết vùng nông thôn đông dân và với tính chất rất ác liệt. Đây là một trong những thử thách quyết tâm, sức mạnh, ý chí của quân và dân ta ở miền Nam trong những năm đầu địch tiến hành Việt Nam hoá chiến tranh.


Thứ hai, cuộc chiến tranh giành dân rộng lớn ở miền Nam mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn triển khai giờ đây không chỉ gồm những cuộc bao vây, càn quét, bắt bớ, đốt nhà, dồn dân như thời kỳ chiến tranh đặc biệt, mà còn là việc biến những vùng nông thôn trù phú, đông dân thành những "vùng bắn phá tự do", buộc những người nông dân phải rời bỏ xóm làng, ruộng vườn, quê cha đất tổ vào các ấp tân sinh, ấp đời mới, vào các khu dinh điền sống dưới sự kiểm soát chặt chẽ của bọn ác ôn. Âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn là tàn phá các vùng đông dân, uy hiếp dữ đội tinh thần nhân dân để tạo tên một cuộc di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị hoặc buộc người nông dân miền Nam phải vào các ấp đời mới, ấp tân sinh để tách dân chúng khỏi cơ sở của cách mạng theo phương châm cổ điển "tát nước, bắt cá", về điểm này, một học giả người Mỹ Nôam Chômxky (Noam Chomsky) nhận xét: "Điều rõ ràng là chừng nào một đời sống xã hội có tổ chức còn có thể duy trì được ở Nam Việt Nam thì chừng đó Mặt trận Dân tộc Giải phóng còn là một lực lượng mạnh, còn chiếm ưu thế", cho nên "tàn sát nhân dân ở nông thôn Việt Nam và buộc họ phải ly tán không phải là một sản phẩm ngẫu nhiên của chiến tranh, nó thuộc vào nội dung chiến lược của Mỹ"1 (Dẫn theo Trần Văn Giàu: Miền Nam giữ vững thành đồng, Sđd, t.5, tr.406, 407).


Thứ ba, địch lập ra các ấp tân sinh, ấp đời mới lớn thay cho các làng xã bị bom đạn Mỹ huỷ diệt, rồi dồn dân vào đó. Của cải, nhà cửa của người nông dân miền Nam bị cướp, bị đốt; vườn tược, mồ mả ông bà bị bom đào xới và máy xúc san ủi. Nhân dân bị dồn vào ấp chiến lược, khu dồn dân với hai bàn tay trắng, sống bằng gạo cứu tế từng ngày một của Mỹ. Đây thực sự là một loại trại giam khổng lồ mà ở đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn dễ dàng bóc lột sức lao động của người dân để phục vụ chính sách Việt Nam hoá và cũng dễ dàng bắt lính đôn quân.


Vừa càn quét, đánh phá triệt hạ xóm làng, dồn dân vào các ấp tân sinh, ấp đời mới, Ngụy vừa triển khai chương trình cấp phân bón, thuốc trừ sâu, giống lúa mới cho nông dân sản xuất, xây trạm y tế, trường học; mở mang đường sá, chợ búa ở nông thôn, cố tạo ra sự đối lập về cuộc sống giữa vùng chúng kiểm soát với vùng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, hòng thu hút đồng bào ở vùng giải phóng chạy sang vùng địch. Nhưng, trên thực tế, cuộc sống của đồng bào ta trong các khu dồn dân, các ấp tân sinh vô cùng khốn khổ, mất hết quyền tự do, phải sông nhờ của bố thí mà Mỹ - Ngụy cấp cho từng ngày một.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #19 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2022, 07:26:23 am »

Mặc dù đế quốc Mỹ buộc phải ngừng ném bom và mọi hành động quân sự khác chống Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, song chúng vẫn thường xuyên dùng máy bay trinh sát do thám và khiêu khích miền Bắc Việt Nam, đồng thời tăng cường ném bom, bắn phá vùng giới tuyến quân sự tạm thời, đặc biệt là đường mòn Hồ Chí Minh. Trong hai năm 1969, 1970, máy bay Mỹ đã ném xuống chiến trường Đông Dương năm triệu tấn bom, trong số đó chủ yếu là ở Việt Nam, gấp đôi số lượng bom các nước đồng minh đã thả xuống châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Chỉ tính riêng năm tháng đầu của năm 1970, máy bay Mỹ đã ném xuống các vùng giải phóng miền Nam và đường mòn Hồ Chí Minh hơn 600.000 tấn bom, bằng xấp xỉ số bom đã thả trong cuộc chiến tranh Triều Tiên. Tiếp đó, tổng số bom Mỹ thả xuống Việt Nam trung bình 1.400.000 tấn mỗi năm. Những năm 1970, 1971, bầu trời Việt Nam không lúc nào ngớt tiếng gầm rú của các loại máy bay trinh sát, máy bay phản lực tiêm kích, máy bay trực thăng và máy bay B52 của Mỹ quần lượn, do thám, chỉ điểm, ném bom bắn phá và tung biệt kích, thám báo xuống phá hoại các vùng căn cứ, vùng giải phóng. Máy bay B52 thường xuyên ném bom rải thảm các vùng Mỹ cho là "tự do bắn phá", các khu vực chúng tình nghi lực lượng ta tập kết, đường chiến lược Trường Sơn. Chúng ném xuống miền Nam và đường Trường Sơn những loại bom phát quang bom đào, bom mảnh sát thương, bom na pan và các loại "bom thông minh" được điều khiển bằng tia la de và tín hiệu vô tuyến truyền hình. Cũng vào những năm này, phía Mỹ còn tiến hành cuộc chiến tranh hoá học hết sức tàn bạo, dã man. Cuộc chiến này thực ra được xúc tiến từ thời Kennơđi nấp dưới màn che lừa bịp dư luận, là chúng chỉ dùng "chất diệt cỏ". Không quân Mỹ đã trút xuống các cánh đồng lúa làng mạc và rừng núi Nam Việt Nam, nhất là núi rừng Trường Sơn, hàng triệu thùng chất độc hoá học "diệt cỏ". Thực chất "chất diệt cỏ" là chất độc vô cùng nguy hiểm, tác dụng của nó đối với người và gia súc không có thứ phản độc tố nào có thể chữa trị được. Trong thời kỳ tiến hành chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, Níchxơn đã thả xuống miền Nam Việt Nam 72 triệu lít chất độc hoá học, trong đó có 62% chất độc da cam, làm hơn 2 triệu km2 rừng và biết bao làng mạc, ruộng vườn bị phá huỷ. Ở một mức tàn ác hơn, chất độc hoá học của Mỹ đã gây tai hại cho sản xuất và đời sống nhân dân miền Nam, phá huỷ môi trường sinh thái và để lại những di chứng nặng nề cho con người là nạn đói, bệnh tật, các quái thai trong nhiều năm sau không thể khắc phục được. Đó là một cuộc chiến tranh diệt chủng, huỷ hoại môi trường sống, một tội ác ghê rợn vô nhân đạo nhất mà đã tiến hành ở Việt Nam. Bộ Quốc phòng và Cục Tình báo Trung ương Mỹ còn mở các chiến dịch "chiến tranh khí tượng học" gây mưa nhân tạo trên vùng rừng núi Trường Sơn, làm cho nước sông, suối dâng cao, chảy xiết, đồi núi sụt lở, đường trơn lầy lội quanh năm, ngăn cản ta vận chuyển vật chất, vũ khí vào chiến trường, hạn chế quân ta di chuyển... Mỹ cũng đã dùng các chất hoá học đặc biệt rắc vào mây, tạo ra những trận mưa a-xít làm hư hỏng vũ khí và phương tiện chiến đấu của ta. Theo báo cáo ngày 20 tháng 5 năm 1974 của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lên Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ về chương trình hoạt động chiến tranh khí tượng gây mưa nhân tạo trên đường mòn Hồ Chí Minh thì trong bảy năm chi phí cho chương trình này là 26,6 triệu đô la.


Dồn sức mở các cuộc chiến tranh không quân, chiến tranh hoá học, chiến tranh khí tượng cùng với việc thiết lập chiến trường điện tử ở Nam Việt Nam, phía Mỹ hy vọng rằng, bằng cách đó, sẽ nâng đỡ tinh thần, gây niềm tin cho quân lực Việt Nam Cộng hoà, hỗ trợ được phần nào cho chúng tiến hành các cuộc hành quân càn quét, hành quân bình định. Bằng việc xây dựng chiến trường điện tử tự động hoá, tiến hành cuộc chiến tranh vũ khí công nghệ cao theo hướng cuộc "chiến tranh tăng cường tư bản", đế quốc Mỹ gây cho ta không ít khó khăn trong năm đầu chống "Việt Nam hoá chiến tranh", nhất là khó khăn về tiếp tế hậu cần. Song, những vũ khí ấy, chiến trường điện tử tự động ấy không làm suy giảm được ý chí, quyết tâm của nhân dân và lực lượng vũ trang ta giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất Tổ Quốc. Bởi vì Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: "Cuộc chiến tranh này không phải chỉ là sự đối chọi giữa những thiết bị tối tân và ít tối tân mà còn là sự lạ đối chọi giữa những khối óc. Mỹ đã huy động những trí tuệ thông thái nhất, những nhân vật có năng lực nhất trong quân đội, trong bộ máy hành chính và các trường đại học. Họ hẳn có những bộ óc rất cừ, nhưng những bộ óc đó không được sử dụng tốt bởi vì bị đưa vào một cuộc chiến tranh mà người ta thấy trước là họ sẽ thua. Họ đã dựng lên một bộ máy hùng mạnh, nhưng bộ máy ấy thế nào cũng thất bại. Và, ở Mỹ có những khối óc khác đang tố cáo cuộc chiến tranh này, tố cáo những mục tiêu và phương pháp tiến hành cuộc chiến tranh này.


Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh này với tất cả những phương tiện khoa học mà họ có thể có trong tay. Nhưng với phương tiện mà chúng tôi có, chúng tôi tiến hành cuộc chiến tranh này một cách khoa học, ngay cả khi trang bị của chúng tôi chỉ ở mức trung bình. Cố nhiên chúng tôi không có ý hạn chế chúng tôi trong việc sử dụng những vũ khí hiện đại mà chúng tôi có thể có được, nhưng không phải chỉ cần có trong tay những phương tiện tiên tiến về kỹ thuật là đủ để cho chiến tranh được tiến hành một cách khoa học. Nhận thức của chúng tôi về chiến tranh là khoa học, bởi vì chúng tôi chiến đấu trên mảnh đất của chúng tôi, vì những mục tiêu của chính chúng tôi và những phương pháp của riêng chúng tôi. Vì lẽ đó mà mặc dù có cả một bộ máy khoa học, kẻ địch đã bị thua chạy. Chính chúng tôi là những người nắm quyền chủ động"1 (Trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Cờlốt Guyliêng (Claude Julien) của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 18 tháng 5 năm 1972).


Song song với việc thực hiện kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, duy trì các hoạt động do thám, khiêu khích miền Bắc, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương, thi hành chính sách Khơme hoá, Lào hoá chiến tranh. Âm mưu của đế quốc Mỹ là xoá bỏ "đất thánh của Việt cộng" ở Campuchia, đưa nước này đi vào quỹ đạo của Mỹ; thu hẹp vùng giải phóng của cách mạng Lào, uy hiếp sườn phía Tây miền Bắc xã hội chủ nghĩa; ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam, cô lập cách mạng miền Nam. Mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào, đế quốc Mỹ đã làm cho ta bị động lúng túng trong năm đầu Việt Nam hoá chiến tranh, nhưng đây lại cũng chính là một sai lầm lớn về chiến lược của Mỹ. Sai lầm ấy xuất phát từ tính tự mãn quá cao, tham vọng quá lớn, qua sông rộng mà không chịu ngồi đò, đặt mục tiêu mà không tính khả năng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM