Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:55:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc  (Đọc 20136 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #20 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2022, 07:28:25 am »

Do sai lầm về chiến lược, lực lượng Mỹ và quân đội Sài Gòn bị phân tán trên chiến trường ba nước Đông Dương, nên cho dù quân chủ lực Sài Gòn có được tăng cường và hiện đại hoá, thì kế hoạch bình định của địch trong hai năm đầu Việt Nam hoá trên thực tế đã sụp đổ. Đến năm 1970, Mỹ và chính quyền Sài Gòn dù đã nỗ lực tối đa, huy động tất cả lực lượng và phương tiện để thực hiện cho được kế hoạch bình định đã đề ra, nhưng cho đến thời điểm đó, chúng cũng chỉ mới lập được 72 ấp tân sinh, ấp đời mới.


Từ giữa năm 1970 đến đầu năm 1972, kết hợp với hành động phiêu lưu quân sự mở rộng chiến tranh xâm lược sang Campuchia, Lào, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiến hành bình định đặc biệt và chương trình cộng đồng tự vệ, phát triển nông thôn, nhằm tiếp tục thực hiện những mục tiêu mà chương trình bình định cấp tốc trước đây chưa làm được, đồng thời chuẩn bị trước một bước cho chính quyền Sài Gòn đủ sức chống đỡ các đòn tiến công của cách mạng miền Nam, khi Mỹ buộc phải chấp nhận một giải pháp chính trị cho vấn đề miền Nam Việt Nam.


Địch đề ra mục tiêu cho chương trình bình định này phải đạt; một là, xây dựng, phát triển lực lượng địa phương quân (bảo an), nghĩa quân (dân vệ) mạnh, có khả năng hoạt động trên địa bàn rộng, bảo đảm an ninh lãnh thổ và có thể thay chân quân chủ lực ở một số vùng ngoài phạm vi đảm trách của quân địa phương; hai là, mở rộng lực lượng cảnh sát, tổ chức cho mỗi xã có từ 6 đến 12 cảnh sát vũ trang để phát hiện và diệt trừ cán bộ và cơ sở cách mạng ở nông thôn; ba là, bắt nhân dân trong vùng chúng kiểm soát vào lực lượng phòng vệ dân sự, phát súng cho lực lượng này chống lại cách mạng dưới sự giám sát, kìm kẹp của cảnh sát; bốn là, dùng vật chất mua chuộc, lung lạc cán bộ cách mạng; năm là, ra sức tuyên truyền đầu độc nhân dân "tinh thần chống cộng" "quốc gia dân tộc”; sáu là; xoa dịu lòng căm phẫn trong thương phế binh Ngụy bằng cách hứa "cải thiện đời sống" cho họ; bảy là, củng cố bộ máy hành chính xã ấp, tận thu các sắc thuế địa phương để tăng thêm cho phí chiến tranh đỡ bớt gánh nặng cho Mỹ; tám là, tuyên truyền "chuẩn bị kế hoạch phát triển kinh tế" để che giấu "bức tranh kinh tế đen tối" ở vùng Mỹ, Sài Gòn tạm thời kiểm soát để lừa bịp nhân dân.


Điểm khác giữa bình định đặc biệt và chương trình cộng đồng tự vệ, phát triển nông thôn với bình định cấp tốc là, trước đây địch sử dụng hơn 70% quân chủ lực vào bình định nhưng nay, do việc quân chủ lực phải thay thế quân Mỹ, nên bình định chủ yếu do lực lượng địa phương quân (bảo an), nghĩa quân (dân vệ) đảm nhiệm. Quân địa phương không đủ sức chống đỡ trước những đòn tiến công, phản công của lực lượng vũ trang giải phóng và quần chúng cách mạng, nên kế hoạch bình định đặc biệt dự định thực hiện trong bốn tháng, đến tháng 10 năm 1970 kết thúc nhưng trên thực tế, Mỹ phải kéo dài thêm bốn tháng nữa bằng kế hoạch bình định bổ túc và kế hoạch này kết thúc vào tháng 2 năm 1971. Trong khi đó, bị thất bại về quân sự, quân chủ lực ngụy Nam Việt Nam ngày càng sa sút ý chí chiến đấu và điều đó đã tác động xấu đến tinh thần của quân địa phương, làm cho kế hoạch bình định đặc biệt, bình định bổ túc thất bại. Tám mục tiêu mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn đặt ra cho chương trình bình định năm 1970, 1971, không có một mục tiêu nào đạt được. Trước tình hình bình định ngày càng tụt dốc, Việt Nam hoá chiến tranh không tiến triển mà hơn thế, đang đứng trước nguy cơ có thể phá sản, trong một cố gắng nhằm cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ quyết định chi hơn một tỷ đôla cho chương trình "bình định và phát triển mới" mang tên "chương trình cộng đồng tự vệ và phát triển nông thôn" do Bộ Quốc phòng Mỹ và Cục Tình báo Trung ương Mỹ đảm nhiệm chính. Chương trình này phát triển, củng cố phòng vệ dân sự; lập một "hệ thống thông tin đại chúng" mà thực chất là tổ chức một mạng lưới tình báo, gián điệp, chiến tranh tâm lý; lùng diệt cán bộ kháng chiến và quần chúng cách mạng ở cơ sở để bảo đảm an toàn cho lực lượng tề điệp ác ôn, địa phương quân và cán bộ bình định.


Để thực hiện được các mục đích bình định trên đây, Mỹ và chính quyền Sài Gòn kết hợp quân sự với chính trị, kinh tế và văn hoá với những thủ đoạn tàn bạo, nham hiểm đánh vào lực lượng cách mạng và quần chúng nhân dân nông thôn.


Về quân sự, địch sử dụng lực lượng địa phương quân, nghĩa quân và cảnh sát làm lực lượng chủ yếu, trực tiếp tiến hành bình định. Quân chủ lực Sài Gòn kết hợp với một phần quân địa phương mở liên tiếp các cuộc hành quân quy mô từ tiểu đoàn đến sư đoàn càn quét đánh phá vòng ngoài hỗ trợ cho các đoàn, đội bình định dồn dân vào các ấp tân sinh, đời mới. Hệ thống đồn bốt dày đặc cũng được thiết lập, củng cố và tăng cường để khống chế nhân dân.


Về chính trị, Mỹ - Ngụy ra sức tuyên truyền cho tinh thần "quốc gia, dân tộc", tô vẽ cho "nền Đệ nhị Cộng hoà" của Thiệu, xuyên tạc mục tiêu, ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, ráo riết tăng cường chiến tranh tâm lý, chiêu hàng, chiêu hồi, ép thanh niên vào các tổ chức phản động của chúng.


Về kinh tế, địch dùng các phương tiện và kỹ thuật (kể cả chất độc) phá hoại mùa màng, triệt đường sống của nhân dân, đồng thời với "cải cách điền địa" tịch thu ruộng đất của nông dân lương thiện đem chia cho những người trong quân đội, chính quyền Sài Gòn chống lại Tổ quốc, dân tộc, làm xáo cộng nông thôn. Mặt khác, Mỹ tìm cách mị dân bằng cách đưa máy móc, phương tiện sản xuất về các ấp tân sinh, cho nông dân trong ấp vay tiền, giống cây trồng để sản xuất.


Dưới sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Bộ Quốc phòng và Cục Tình báo Trung ương Mỹ, gần như toàn bộ các hoạt động quân sự, chính trị của Mỹ và chính quyền, quân đội Sài Gòn giờ đây đều tập trung vào công tác dồn dân, lập ấp chiến lược. Ở nhiều vùng nông thôn đồng bằng, địch dựng hàng vạn đồn bốt, tháp canh, tăng thêm binh lính trực tiếp làm nhiệm vụ kìm kẹp, khống chế dân chúng, đạt đến tỷ lệ cứ bảy người dân (kể cả già trẻ, lớn nhỏ) có một lính ngụy. Mặc dù kẻ địch đã nỗ lực tối đa thực thi chính sách "Việt Nam hoá", huy động toàn lực vào nhiệm vụ bình định để giành dân, giành quyền làm chủ với ta, nhưng kết quả trên các lĩnh vực đạt được chẳng là bao. Về quân sự, quân số lực lượng vũ trang Việt Nam Cộng hoà được tăng lên về số lượng đông, được trang bị hiện đại và được huấn luyện kỹ để lãnh vai trò thay thế quân Mỹ, nhưng tinh thần của đội quân này đang ngày càng sa sút, ý chí chiến đấu thấp kém, chẳng những không thay thế được quân Mỹ trong nhiệm vụ đương đầu với Quân giải phóng miền Nam, mà còn bị thiệt hại nặng trên các chiến trường, không hỗ trợ được cho quân địa phương trong nhiệm vụ bình định như tính toán ban đầu của Mỹ. Những chương trình phát triển kinh tế trong khuôn khổ Việt Nam hoá chỉ đạt những kết quả rất hạn chế vì những trận ném bom, bắn pháo bừa bãi vào xóm làng, ruộng đồng, vì những cuộc hành quân càn quét, vây ráp, dồn dân của quân Ngụy diễn ra liên miên. Trong những điều kiện đó, để lấp vào chỗ trống thiếu hụt của nền kinh tế Nam Việt Nam, hàng hoá Mỹ nhập vào miền Nam ngày càng nhiều, biến miền Nam thành một thị trường tiêu thụ hàng Mỹ. Mặt khác, Hoa Kỳ nhận lãnh trách nhiệm cung ứng hậu cần cho quân đội Sài Gòn. Kết quả là kinh tế Nam Việt Nam vốn phụ thuộc nặng nề vào viện trợ của Mỹ nay càng phụ thuộc thêm và điều đó khiến cho vốn là một vựa lúa lớn ở vùng Đông Nam Á đã không còn tự cung, tự cấp được nữa. Một nền kinh tế lệ thuộc Mỹ cộng với một chế độ phản nước, hại dân, khiến cho chính quyền Sài Gòn - một thứ chính quyền tầm gửi, mặc dù tìm mọi cách tuyên truyền cho cái "tinh thần quốc gia, dân tộc" vẫn không thể nào lường gạt được, tranh thủ được "trái tim, khối óc" của nhân dân miền Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #21 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2022, 07:29:13 am »

Từ "phi Mỹ hoá" đến "Việt Nam hoá"

Tình thế khốn quẫn mọi mặt của Mỹ.

Đối với bọn xâm lược Mỹ, hậu quả nghiêm trọng của những thất bại trong cuộc chiến tranh "Mỹ hoá" cao độ này không phải chỉ là tạm thời, trước mắt mà "sẽ còn kéo dài trong nhiều thế hệ". Mắc kẹt trong một cuộc chiến tranh dài ngày nhất, tốn kém nhất và đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ, đế quốc Mỹ đang bị dồn vào một tình thế đầy dẫy khó khăn và mâu thuẫn về quân sự, chính trị, kinh tế và xã hội ở Việt Nam, ở Mỹ và trên thế giới.


Quân viễn chinh Mỹ ở chiến trường Việt Nam ngay từ đầu đã là một đội quân thua trận. Số lính Mỹ chết và bị thương ở chiến trường Việt Nam đã vượt xa số quân Mỹ chết và bị thương trong cuộc chiến tranh xâm lược Triều Tiên. Quân Mỹ còn ở lại Việt Nam ngày nào thì số thương vong càng cao, tổn thất càng lớn.


Việc chi phí 30 tỉ đô la một năm cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là quá tốn kém, vượt quá cái giới hạn mà nước Mỹ giàu có có thể chịu đựng được. Nước Mỹ sa vào cảnh lạm phát triền miên không chế ngự nổi. Cán cân thanh toán thiếu hụt, ngân sách mất cân đối ngày càng nặng, kho tàng dự trữ của Mỹ cạn dần, đồng đô la ngày càng nhẹ cân. Kinh tế Mỹ sau một thời gian ngắn "náo nhiệt" bề ngoài do chiến tranh mở rộng đang bị kẹp chặt giữa hai gọng kìm suy thoái và lạm phát.


Đời sống chính trị và xã hội Mỹ bị đảo lộn. Người Mỹ phẫn nộ vì lương tâm của họ bị xúc phạm, cuộc sống của họ bị đe doạ, tình cảm của họ bị tổn thương. Bọn cầm quyền Mỹ không thể che giấu thực tế phũ phàng là Mỹ đã và đang bị thất bại ở Việt Nam, không thể làm ngơ trước sự công phẫn của nhân dân Mỹ - sự công phẫn quyết liệt đến mức lật đổ cả một Tổng thống.


Thất bại nặng nề, tình thế khốn quẫn và sức ép mạnh mẽ của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới không cho phép bọn xâm lược tiếp tục "Mỹ hoá" cuộc chiến tranh như trước. Cùng với việc xét lại từ đầu chí cuối chính sách, chiến lược của Mỹ ở Việt Nam và những bước lùi liên tiếp có ý nghĩa chiến lược, một danh từ mới, một khái niệm mới trong từ điển quân sự - chính trị của đế quốc Mỹ xuất hiện: "phi Mỹ hoá" chiến tranh.


Đó là một chính sách lớn, một chủ trương của Giônxơn được nặn ra một cách bất đắc dĩ trong bối cảnh Mỹ đã thua rõ ràng trong chiến lược chiến tranh cục bộ. Theo cách nói của Mỹ, "phi Mỹ hoá" có nghĩa là phải giảm bớt các gánh nặng chiến tranh về người và đô la của Mỹ. Nội dung cơ bản của chủ trương "phi Mỹ hoá" đã được Giônxơn nêu lên trong diễn văn ngày 31 tháng 3 năm 1968: "Chúng ta phải đẩy nhanh tốc độ trang bị lại cho quân đội Nam Việt Nam (Ngụy) để đối phó với hoả lực ngày càng tăng của kẻ địch. Làm được điều đó quân đội Việt Nam (Ngụy) có thể đảm đương được ngày càng nhiều cuộc chiến tranh chống cộng sản".


Ngay sau khi nhận chức, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Cơ-líp-phớt đã nói rõ: "Mỹ có ý định để cho Nam Việt Nam (Ngụy) đảm nhiệm ngày càng nhiều gánh nặng chiến tranh ở Việt Nam". "Mỹ sẽ trao dần trách nhiệm sang tay lực lượng Nam Việt Nam (Ngụy) theo từng giai đoạn" (Tuần tin tức, 6 tháng 8 năm 1968).


Trong những ngày cuối cùng ở Nhà Trắng, Tổng thổng "vịt què" Giônxơn cũng không đề ra được điều gì cụ thể hơn, đầy đủ hơn ngoài việc tung ra các khái niệm "phi Mỹ hoá". Tuy nhiên, điều đó cũng đã đánh dấu một bước ngoặt trong chính sách của Mỹ ở Việt Nam, một sự điều chỉnh về chiến lược, thay đổi biện pháp chiến lược, nhằm những mục tiêu hạn chế.


Níchxơn, lợi dụng lòng căm phẫn của nhân dân Mỹ đối với chính sách xâm lược ngoan cố của Giônxơn, đã giành phần thắng trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng. Trong dịp đi vận động bầu cử ở Niu Hamsơ, Níchxơn đã cam kết nếu được làm Tổng thống, "ban lãnh đạo mới sẽ chấm dứt chiến tranh (xâm lược Việt Nam) và mang lại hoà bình ở Thái Bình Dương”. Níchxơn quả quyết rằng ông ta "sẽ thực hiện hoặc bảo đảm việc giải quyết cuộc xung đột Việt Nam trong thời gian ngắn nhất sau khi nhận chức" (trả lời phỏng vấn báo Tin Mỹ và thế giới).


Thế nhưng, điều mà Níchxơn quan tâm thật sự vẫn là những mục tiêu Mỹ đã đeo đuổi và chưa thực hiện được trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Ngay trong những ngày chờ đợi chính thức bước vào Nhà Trắng, ở Phơloriđa, Níchxơn đã phải vùi đầu vào đống hồ sơ về Việt Nam, nghiên cứu tình hình, thăm dò ý kiến, tham khảo những lời khuyên của các cố vấn, cân nhắc và phân tích các khả năng... để định ra cái mà y gọi là "chiến lược kết hợp" về Việt Nam.


Trong số những kiến nghị nêu ra, Níchxơn đã đặc biệt chú ý mấy phương án của Kítxinhgơ và Thomxơn.

Trong hàng ngũ các cố vấn của Níchxơn, Henri Kítxinhgơ - với tư cách là cố vấn của Tổng thống về các vấn đề An ninh Quốc gia - là một cố vấn thân cận nhất, có kinh nghiệm nhất. Kít-xinh-gơ được coi là "tác giả của công thức cơ bản của Níchxơn để giải quyết vấn đề Việt Nam".


Nội dung cơ bản của kiến nghị của Kítxinhgơ về vấn đề Việt Nam đã được nêu lên trong bài báo "Thương lượng về Việt Nam" đăng trong Tạp chí Những vấn đề đối ngoại, tháng 1 năm 1969.

Kítxinhgơ tán thành quan điểm của Đin Ratxcơ, nhấn mạnh tầm quan trọng của sự cam kết của Mỹ ở Việt Nam; sự cam kết đó, ngoài những lý do khác, còn nhằm cho Oasinhtơn "giành được niềm tin" đối với các nước trên khắp thế giới. Y nhấn mạnh "vấn đề hiện nay là niềm tin ở những lòi hứa hẹn của Mỹ" và "Việc kết thúc chiến tranh một cách danh dự là cần thiết cho hoà bình trên thế giới".


Phê phán sai lầm của Giônxơn và những thất bại trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, Kítxinhgơ vạch ra rằng: về quân sự, do không nắm được tính chất của chiến tranh du kích, Mỹ đã áp dụng chiến lược quân sự cổ điển, không đúng nơi, đúng lúc, chỉ nhằm chiếm đất, không nhằm kiểm soát dân; hoạt động quân sự không nhằm tạo ra (cho Mỹ - Ngụy) một lợi thế chính trị, lập ra được một cơ cấu chính trị mạnh. Về chính trị, cuộc tiến công Tết Mậu Thân (của quân và dân miền Nam) "đã trì hoãn có lẽ mãi mãi việc củng cố quyền lực (của Ngụy quyền Sài Gòn) ở nông thôn".


Thất bại cơ bản của Mỹ, theo Kítxinhgơ là: "Chiến lược của Mỹ không thể nào đạt được mục tiêu của nó trong khoảng thời gian và với mức quân số mà người Mỹ có thể chấp nhận được về chính trị".

Y đã đề ra phương án giải quyết vấn đề Việt Nam như sau: Mỹ phải điều chỉnh lại sự cam kết và xác định rõ mục tiêu, phải có một chiến lược quân sự, chính trị phù hợp với đặc điểm tình hình trong giai đoạn tới, "Không để thua về quân sự, không để cho bất cứ một lực lượng hay sức ép quân sự nào (của đối phương) làm thay đổi chế độ miền Nam".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #22 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2022, 07:30:13 am »

Để thực hiện được mục tiêu đó, Mỹ "cần áp dụng một chiến lược giảm bớt tổn thất (của quân Mỹ) và tập trung vào việc bảo vệ dân chúng (kiểm soát nhân dân); tiếp tục tăng cường quân đội Nam Việt Nam (ngụy) để có thể rút dần một số quân Mỹ, và cần khuyến khích Sài Gòn (ngụy) mở rộng cơ sở mạnh hơn trong cuộc đấu tranh chính trị với cộng sản".


Từ những kiến nghị của Kítxinhgơ, người ta có thể thấy rõ: tuy đã bị thất bại, Mỹ vẫn cố bám miền Nam Việt Nam. Tình thế khó khăn về mọi mặt không cho phép Níchxơn tiếp tục cuộc chiến tranh "Mỹ hoá" như cũ, nhưng Mỹ vẫn chỉ rút quân có mức độ, duy trì sự có mặt của quân viễn chinh Mỹ lâu dài để vực Ngụy quân và Ngụy quyền dậy.


Viên cố vấn số một của Níchxơn đã khẳng định tính chất "đúng đắn" và "khả năng thành công" của phương án này, vì theo ông ta:

- Tư tưởng chiến lược đã thay đổi: từ chiếm đất, tiêu hao đối phương nay tập trung vào vấn đề kiểm soát dân, xây dựng và củng cố cơ sở chính trị (Ngụy quyền), phù hợp với "tính chất của chiến tranh du kích".

- Mỹ thực hiện "phi Mỹ hoá" chiến tranh, giảm số quân và thương vong của lính Mỹ. Đó là phương án có thể tiếp tục và kéo dài chiến tranh xâm lược mà nhân dân Mỹ không phản đối, vừa tạm thời giải quyết những khó khăn về kinh tế, tài chính của Mỹ, vừa phù hợp với yêu cầu không làm xáo trộn nền kinh tế Mỹ do chiến tranh Việt Nam chấm dứt đột ngột.

Đối phương đánh kéo dài sẽ vấp phải những khó khăn về vật chất và kinh tế, sẽ không đủ ý chí theo đuổi chiến tranh, không giữ được đường lối độc lập tự chủ.

Sau Kítxinhgơ là Rôbớt Thomxơn, một người Anh chính cống, được Níchxơn hết lời ca tụng và được sử dụng làm một quân sự quan trọng. Thomxơn nguyên là một sĩ quan không quân trong quân đội Hoàng gia Anh, đã từng khét tiếng xảo quyệt trong việc chống phá phong trào cách mạng Malaixia, đã từng khoác áo Trưởng đoàn viện trợ Anh ở Sài Gòn làm cố vấn cho Ngô Đình Diệm trong kế hoạch xây dựng "ấp chiến lược".


Theo Níchxơn, Thomxơn là "một chuyên gia", một "người thông thạo" về chống chiến tranh du kích, đã có "ý kiến độc lập" và có "nhiều kiến nghị rất xây dựng". Giữa lúc Níchxơn sắp nhận chức Tổng thống, Thomxon đã viết một quyển sách nhan đề "Không ra khỏi Việt Nam", đưa ra một đề nghị hoàn chỉnh về đường lối, chủ trương đối với vấn đề Việt Nam. Như kẻ đang chết đuối vớ được cọc mục, Níchxơn đã khen lấy khen để và mời Thomxơn làm chuyên gia, cử sang miền Nam Việt Nam xem xét và đề đạt ý kiến.


Cũng giống như Kítxinhgơ, Thomxơn lớn tiếng phê phán Giônxơn thất bại vì "không hiểu bản chất của cuộc chiến tranh ở Việt Nam", "không có mục tiêu rõ ràng, nhất quán", "không biết vận dụng sức mạnh một cách đúng đắn để thắng cuộc chiến tranh". Từ đó, Mỹ "không có một chiến lược thích hợp", "chịu ảnh hưởng nặng nề của các học thuyết đã lỗi thời của các nhà chiến lược thời cổ". "Chiến lược của Mỹ, xét về quân sự, thì không tiêu diệt nổi đối phương ở Nam Việt Nam"; xét về chính trị, thì "không phù hợp với những kết quả chính trị, vì nó không có liên quan đến mục đích giành chiến thắng".


Thomxơn nhận xét, quân đội Mỹ "giống như một cái máy chiến đấu đáng sợ" nhưng "trống rỗng về chiến lược, chiến thuật". Còn quân Ngụy thì do cách tổ chức và qui mô quá lớn, đã "trở thành trở ngại đầu tiên và lớn nhất đối với mọi hình thức tiến bộ về quân sự hay chính trị", cơ cấu "quá cồng kềnh, khiến cho nó trở nên hoàn toàn bất lực trong các hoạt động chống du kích".


Sau khi đánh giá thất bại, phê phán sai lầm, phân tích nguyên nhân, Thomxơn đã trình bàv một loạt những điều mà y gọi là "bản chất chiến tranh nhân dân" làm cơ sở lý luận cho kiến nghị về đường lối phương châm chiến lược và những biện pháp chiến lược để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.


Về mục tiêu, Thomxơn cho rằng, muốn thắng lợi, Mỹ phải có mục tiêu đúng đắn. Mục tiêu đó "phải mang tính chất chính trị", phải "nhằm đánh bại đối phương theo quan điểm của họ về chiến tranh", và "chỉ cần đánh bại mục đích của họ là đủ, không nhất thiết phải giành một thắng lợi về quân sự". Do đó, "mục tiêu của Mỹ là phải biến miền Nam thành một nước tự do, thống nhất và độc lập, chính trị ổn định và kinh tế phát triển với một giá mà nước Mỹ có thể chấp nhận được". Kiến nghị của Thomxơn về mục tiêu chiến lược thực chất vẫn là chia cắt lâu dài nước ta, biến miền Nam thành một thuộc địa kiểu mới, một căn cứ quân sự để chống lại phe xã hội chủ nghĩa và ngăn chặn sự phát triển của cách mạng ở Đông Nam Á.


Muốn thực hiện mục tiêu đó, theo Thomxơn, phải loại trừ 4 khả năng:

- "Giải quyết bằng thương lượng, để đạt được hoà bình trong danh dự, một khả năng không thể lựa chọn".

- "Chính sách cứ như thế mà thêm nữa (tức là tiếp tục tăng quân Mỹ theo đuổi chiến lược chiến tranh cục bộ). Hay là leo thang cao hơn nữa cũng không còn là những khả năng có thể lựa chọn được. Vì tiếp tục những chiến lược cũ... rõ ràng sẽ đưa Mỹ đến những thất bại ngày càng thảm hại".

- "Ném bom tại miền Bắc... cũng là việc khó làm...". Và "cũng không có gì chứng tỏ là ném bom ồ ạt miền Bắc theo kiểu cổ điển sẽ có tác dụng để giải quyết vấn đề miền Nam. Việc đó chỉ làm hại đến chiến lược lớn của Mỹ (cô lập Mỹ, làm tổn hại vị trí và thanh thế của Mỹ)".

- "Rút lui cũng không phải là khả năng có thể nghĩ đến". "Rút lui sẽ là một thất bại không thể tha thứ được".

Vậy Mỹ cần phải nên làm như thế nào? Thomxơn gợi ý:

"Bây giờ hơn lúc nào hết, trong vòng 10 năm qua, một điều trọng yếu đối với nước Mỹ là giữ lời cam kết của mình và đứng sát cánh với Nam Việt Nam (ngụy)". "Để đạt được mục tiêu, sự lựa chọn duy nhất là một chiến lược lâu dài, ít tôn kém".


Thomxơn giải thích: "Tác dụng của đường lối chiến lược này là giảm bớt tốc độ của chiến tranh và tiết kiệm sức lực". "Trong thời gian phải chăng từ một đến ba năm, có thể hạ chi phí xuống một nửa và dần dần tiếp tục giảm đi cho tới mức gần tương đương với mức tăng hàng năm của thu nhập liên bang", "Với việc giảm bớt các cuộc hành quân lùng diệt, với việc thúc quân đội đối phương phải xuất đầu lộ diện, chiến đấu tại nơi không phải do họ lựa chọn, thì mức thương vong (của quân Mỹ) sẽ giảm đi một cách có ý nghĩa". "Như thế toàn bộ chi phí của cuộc chiến tranh có thể hạ xuống tới mức mà đa số người Mỹ có thể chấp nhận được, không tiêu tốn quá mức sức người, tiền của và những tình cảm xúc động của nước Mỹ", "Đồng thời phải làm cho việc tiếp tục chiến tranh trở nên chính đáng. Chính vì lý do này, Mỹ phải duy trì các cuộc thương lượng", "Đáp số cho cuộc chiến đấu trong lúc đàm phán là chiến đấu cho một giải pháp danh dự và có thể chấp nhận được".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #23 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2022, 07:31:13 am »

Xuất phát từ lập luận cuộc chiến tranh (xâm lược) của Mỹ ở Việt Nam, thực chất là "một cuộc chiến tranh chống chiến tranh nổi dậy", Thomxơn coi việc "chống nổi loạn" là vấn đề cơ bản nhất, và nhấn mạnh, một trong năm nguyên tắc cơ bản của hoạt động chống nổi dậy mà Thomxơn gọi là "quy luật không được thay đổi" là "phải ưu tiên đánh bại hoạt động lật đổ chính trị". Vấn đề này được phân tích như sau:

"Về cơ bản - theo Thomxơn - cuộc chiến tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam) là một cuộc nổi dậy", "Trong cuộc chiến tranh nổi dậy, vũ khí hàng đầu là tổ chức hạ tầng cơ sở trong dân chúng. Vũ khí thứ hai là quân du kích. Quân du kích này tuỳ thuộc vào hạ tầng cơ sở về mặt nhu cầu, đồng thời họ yểm trợ cho sự phát triển của hạ tầng cơ sở", " Trong chiến tranh nổi dậy, tổ chức hạ tầng vừa là nền móng, vừa là mũi dùi". "Sở dĩ Việt cộng có đủ sức chiến đấu được là nhờ có tổ chức hạ tầng cơ sở chính trị xây dựng từ nhiều năm nay". "Tổ chức bí mật ở hạ tầng không bị phá vỡ thì du kích và quân chủ lực không thể bị đánh bại". Do đó "chiến lược (của Mỹ) muốn thành công thì phải theo phương pháp gián tiếp", "Phải thọc sâu vào tổ chức chính trị bí mật, cơ sở của chiến tranh du kích, để tổ chức chính trị bí mật, cơ sở của chiến tranh du kích, để đạt được thắng lợi". Giônxơn thất bại vì chỉ nghĩ đến giành thắng lợi về quân sự mà coi nhẹ việc đánh phá cơ sở chính trị của cách mạng miền Nam. Do đó, cái lõi của vấn đề, điều cốt tử đối với Mỹ để giành thắng lợi là phải cố gắng tập trung lực lượng diệt các tổ chức cơ sở, đánh bật gốc rễ của cách mạng miền Nam trong nhân dân.


Bí quyết của thắng lợi trong chiến lược lâu dài, ít tốn kém, theo Thomxơn là vấn đề "bình định". Phải từ bỏ "quan niệm sai lầm" "coi bình định là có tính chất phòng thủ", "chọn không đúng các vùng cần phải ưu tiên bình định".


Thomxơn khuyên "Mỹ phải có một chiến lược thông minh có đầu có đuôi"; "cần phải quan niệm bình định là một chiến lược tiến công về chiến lược", "cần phải ưu tiên đánh vào vùng đông dân cư", "phá vỡ những tổ chức, cơ sở bí mật của Việt cộng". "Trước hết phải chú trọng chặt đứt đường dây liên lạc giữa các tổ chức chính trị cơ sở và các đơn vị du kích. Thứ đến là đánh bật tổ chức cơ sở và sau đó là tiến công các lực lượng du kích".


Về lực lượng tiến hành "bình định", Thomxơn nhấn mạnh việc phải lấy các lực lượng tình báo, gián điệp "làm lực lượng xung kích, phải tăng cường cảnh sát và quân Ngụy, phải phân tán hoạt động trong những đơn vị nhỏ để hỗ trợ bình định".


Phương án giành thắng lợi phù hợp với đường lối chiến lược đó, theo Thomxơn, gồm ba giai đoạn.

- Giai đoạn một, đối phương "sẽ mở một đợt tiến công nữa". Và Mỹ "cần phải làm cho đợt tiến công mới của đối phương thất bại một cách rõ ràng".

- Giai đoạn hai, "sau một, hai năm, đối phương phải hoạt động du kích ngắt quãng có tính cách phòng ngự, trong lúc các chương trình xây dựng (bình định) của Mỹ được xúc tiến với một tốc độ nhanh hơn, Mỹ có thể giảm bót chi phí và quân số". "Đây là lúc các cuộc thương lượng (theo điều kiện của Mỹ) có thể mở rộng".

- Giai đoạn ba, "đối phương quay về tình trạng cũ (như thời kỳ 1954) với hy vọng xuất hiện một thời cơ khác trong tương lai".

Về thời gian, "phải mất từ 3 đến 5 năm trước khi đối phương chịu từ bỏ ý đồ của họ (hoặc tan biến dần)", "Khả năng giành chiến thắng ở Việt Nam chắc chắn phải mất từ 10 đến 15 năm".

Philip Gúthao, một nghị sĩ người Anh, nhận xét: "Luận điểm của Thomxơn phù hợp một cách lý tưởng với tâm trạng của chính quyền Níchxơn" (Thời báo chủ nhật, 30 tháng 3 năm 1969). Đó chính là cái lý do khiến Níchxơn đã không tiếc lời ca ngợi Thomxơn là "một chuyên gia Anh có thái độ khách quan, có kinh nghiệm nhiều, đã đánh giá một cách độc lập và không thiên vị cho tôi".


Tháng 8 năm 1968, phát biểu về cách giải quyết vấn đề Việt Nam trong lúc vận động tuyển cử, Níchxơn nói: "Mỹ phải dựa nhiều hơn vào hoạt động của những đơn vị nhỏ và quân đội Nam Việt Nam để cho Mỹ rút quân. Mỹ sẽ tăng cường viện trợ kinh tế, trao nhiệm vụ chiến đấu nhiều hơn cho Nam Việt Nam, kêu gọi thành lập khối Liên minh khu vực Đông Nam Á để Mỹ giúp họ tiến hành chiến tranh, không làm thay họ".


Bước vào Nhà Trắng, sau một thời gian dài thăm dò, nghiên cứu và tham khảo các phương án, Níchxơn đã chính thức công bố chính sách về vấn đề Việt Nam. Trong bài diễn văn ngày 3 tháng 11 năm 1968 và tiếp đó, trong bản "báo cáo về chính sách đối ngoại của Mỹ những năm 70", khái niệm "Việt Nam hoá" chiến tranh được chính thức ghi vào từ điển quân sự - chính trị của Mỹ, thay thế cho khái niệm "phi Mỹ hoá" của Giônxơn.


Khái niệm này được đưa ra từ sau cuộc gặp gõ Níchxơn - Thiệu tại Mítuây hồi tháng 6 năm 1969, nhưng từ tháng 11 năm 1969, qua của miệng của Níchxơn, nó đã trở thành đường lối chính sách chủ yếu của Mỹ đối với vấn đề Việt Nam.


Theo Níchxơn, "Việt Nam hoá" là một kế hoạch hoà bình, một kế hoạch chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, một "lối thoát danh dự cho Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh ở Việt Nam", một kế hoạch "mang lại hoà bình không chỉ ở Việt Nam mà còn cả ở Thái Bình Dương và trên thế giới"! Thế nhưng, âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ càng lộ rõ qua nội dung và biện pháp của cái gọi là chính sách "Việt Nam hoá" của chúng. Níchxơn nói rõ, chính sách đối với Việt Nam là "không rút lui vội vã", "không bỏ rơi người Nam Việt Nam" (ngụy quyền). Níchxơn giải thích, trong tình hình hiện tại, Mỹ "bỏ cuộc ở Việt Nam thì lợi bất cập hại", làm như vậy là "hại đến lòng tin" của "đồng minh" (bọn tay sai và các nước chư hầu), làm "chia rẽ nước Mỹ"...


"Việt Nam hoá", theo Níchxơn, là "một con đường khác để giải quyết vấn đề Việt Nam trong khi vấn đề thương lượng không đưa lại một nền hoà bình công bằng" (theo điều kiện của Mỹ), "một kế hoạch sẽ đưa cuộc chiến tranh tới chỗ kết thúc bất chấp điều gì xảy ra trên mặt trận thương lượng".


Níchxơn hợm hĩnh tuyên bố, hắn "cực lực chỉ trích cách thức tiến hành chiến tranh" của Giônxơn. Hắn phê phán chính sách của Chính phủ trước là không nhấn mạnh một cách thích đáng mục tiêu tăng cường cho bọn tay sai để chúng có thể tự vệ được khi Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam.


Với kế hoạch "Việt Nam hoá", theo Níchxơn, Mỹ sẽ "tăng cường sức mạnh cho Nam Việt Nam (Ngụy) cho phép họ thay thế quân Mỹ theo một thời gian biểu có trình tự", và "tăng cường khả năng tự vệ cho Chính phủ Nam Việt Nam (Ngụy)".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #24 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2022, 07:34:57 am »

Leđơ, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ còn nói thêm: "Chính sách "Việt Nam hoá" của Mỷ, mở ra khả nảng rút quân Mỹ, giảm bớt thương vong, giải quyết cuộc chiến tranh mà Mỹ không bỏ những mục tiêu cơ bản".

"Việt Nam hoá" - theo định nghĩa của Leđơ là "chuyển dần cho người Việt Nam (Ngụy) trách nhiệm về tất cả các mặt của cuộc chiến tranh và trách nhiệm quản lý công việc của họ: có một chính phủ mạnh hơn, một nền kinh tế mạnh hơn, một lực lượng quân sự mạnh hơn, một lực lượng cảnh sát mạnh hơn để giữ gìn an ninh nội bộ UPl 26 tháng 9 năm 1969).


"Việt Nam hoá" chiến tranh, không phải chỉ là "một kế hoạch" như Níchxơn thường rêu rao mà là một chiến lược mới, một đường lối tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam theo học thuyết Níchxơn. Dưới nhãn hiệu "Việt Nam hoá", ý đồ và mục tiêu chiến lược, âm mưu và biện pháp chiến lược, tư tưởng và cách sử dụng lực lượng chiến lược của Mỹ đã được điều chỉnh thích hợp với điều kiện và khả năng của Mỹ, với đặc điểm và tính chất của chiến tranh trong giai đoạn mới, giai đoạn Mỹ đã phải chuyển hướng chiến lược, chấp nhận những bước lùi có ý nghĩa chiến lược phải từ bỏ chính sách leo thang chiến tranh vô hạn độ.


Đặc trưng nôi bật của chiến lược mở của Níchxơn là:

Mỹ từ bỏ chủ trương đánh nhanh, giải quyết nhanh, thực hiện chủ trương tiến hành chiến tranh theo đường lối "lâu dài, ít tốn kém".

Dư luận Mỹ rất nhạy cảm đã vạch trần thực chất tư tương chiến lược này của Níchxơn.

"Về lý luận, chiến lược "Việt Nam hoá" của Níchxơn hình như là nhằm gỡ Mỹ ra khỏi Việt Nam mà không phải chịu một thất bại. Thực chất kế hoạch đó là nhằm biến cuộc chiến tranh này thành một cuộc xung đột lâu dài!" (Bưu điện Oa-sinh-tơn, 22 tháng 12 năm 1969). "Chiến lược của chúng ta (Mỹ) là để tranh thủ sự kiên nhẫn và chịu đựng của nhân dân Mỹ đối với sự chiếm đóng lâu dài vô hạn định (của Mỹ) ở Nam Việt Nam", (Tuần tin tức, 1 tháng 12 năm 1969).


Níchxơn và bè lũ có trình bày vấn đề "Việt Nam hoá" như là một "kế hoạch", một việc làm có tính chất nhất thời, một bộ phận nhỏ trong toàn bộ chính sách của Mỹ đối với vấn đề Việt Nam, kỳ thực đó là một chiến lược nhằm thực hiện một ý đồ rõ rệt; đeo đuổi cuộc chiến tranh lâu dài, lộ rõ qua cái phương án chiến thắng 3 giai đoạn của Thomxơn cũng như qua bài phân tích của Écman Can. "Nó là một chiến lược nước đôi, vừa bình định nhân dân Nam Việt Nam, vừa bình định nhân dân Mỹ" (Thời báo Niu Yóoc, 1 tháng 1 năm 1970).


Trong bài diễn văn ngày 3 tháng 11 năm 1969, Níchxơn nói: "Kế hoạch Việt Nam hoá nhằm rút tất cả quân chiến đấu Mỹ và thay thế bằng quân Nam Việt Nam đủ mạnh để bảo vệ nền tự do của họ".

Như vậy, kế hoạch "Việt Nam hoá" của Níchxơn là kế hoạch tiếp tục cuộc chiến tranh với công thức mới về cách sử dụng hai lực lượng chiến lược Mỹ - Ngụy.

Quân Mỹ từ vai trò là lực lượng chủ yếu, nay làm vai trò chỗ dựa quan trọng của "Việt Nam hoá”, quân Ngụy trở thành công cụ chủ yếu của "Việt Nam hoá".

Điều khác nhau giữa cuộc chiến tranh "Mỹ hoá" cao so với cuộc chiến tranh "Việt Nam hóa" là như sau:

- Trong chiến lược chiến tranh cục bộ, quân Mỹ đã từng giữ vai trò lực lượng nòng cốt, là công cụ chủ yếu để "tìm và diệt" thực hiện nhiệm vụ "đánh gãy xương sống của Việt cộng". Ngày nay, trong kế hoạch "Việt Nam hóa", nó vẫn là một chỗ dựa quan trọng với những nhiệm vụ cụ thể như: giữ một số vị trí chiến lược và căn cứ then chốt; giữ các vị trí xung yếu nhất trong hệ thống các vành đai phòng thủ; hỗ trợ và phối hợp chiến đấu bằng không quân, pháo binh, cơ giới, vũ khí cần thiết; trực tiếp dùng xung lực ứng cứu cho quân Ngụy; huấn luyện, kèm cặp và làm chỗ dựa tinh thần cho đội quân tay sai. Báo chí Mỹ tiết lộ, bọn xâm lược Mỹ đã có ý đồ để lại lầu dài ở miền Nam một bộ phận lực lượng quân Mỹ. Theo tờ Thời báo (Mỹ) ngày 21 tháng 1 năm 1970, thành phần quân Mỹ ở lại có thể bao gồm các loại:

- Bộ binh 5 vạn tên (cao nhất là 10 vạn).

- Lực lượng hỗ trợ 7 vạn tên (chỉ mới tính số quân hỗ trợ về không quân, hậu cần, chưa kể pháo binh và cơ giới).

- Cố vấn 4 vạn tên

- Cố vấn quân sự và dân sự làm nhiệm vụ bình định, 8.600 tên.

- Lực lượng đặc biệt 3.500 tên.

Quân Ngụy theo ý đồ của Mỹ, phải là lực lượng chủ yếu, là xương sống "Việt Nam hoá", có nhiệm vụ: thay thế dần quân Mỹ giữ một số vị trí và các tuyến phòng thủ, đặc biệt là đánh chiếm các vùng đông dân, thực hiện nhiệm vụ "bình định", kìm kẹp nhân dân, làm chỗ dựa cho bộ máy ngụy quyền. Bọn xâm lược Mỹ đã nhiều lần nhấn mạnh, một trong những mục tiêu quan trọng của chúng trong kế hoạch "Việt Nam hoá" là làm cho quân Ngụy "đủ mạnh" đề "đối phó được với mọi lực lượng của cộng sản, bất luật kết quả ở Hội nghị Pari ra sao".


Bâncơ, đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, đã đưa ra một định nghĩa ngắn gọn nhưng bộc lộ đầy đủ nhất sự thâm độc và xảo quyệt của Oasinhtơn: "Việt Nam hoá có nghĩa là thay màu da của các xác chết trên chiến trường". Đối với Mỹ, vực quân Ngụy dậy, biến cả đội quân bại trận suy yếu và rã rời này thành một đội quân có thể "tự đứng vững" để đảm đương cái gánh nặng chủ yếu của chiến tranh trên mặt đất là một vấn đề then chốt, rất cấp bách và có tính chất quyết định:

Từ quan niệm về phân công và sử dụng hai lực lượng chiến lược - quân Mỹ và quân Ngụy - trong chiến tranh "Việt Nam hoá", xuất hiện một công thức tiến hành chiến tranh mới: "Bộ binh Ngụy + hoả lực, không quân và hậu cần Mỹ". Đó là hai yếu tố cấu thành, không thể thiếu một, của chiến lược của Níchxơn, trong đó, yếu tố Mỹ vẫn giữ phần quan trọng có tính chất quyết định". Dù bộ binh Mỹ - theo lý thuyết sẽ không trực tiếp tham gia chiến đấu trên mặt đất, thì lực lượng quân Mỹ - theo ý đồ của Níchxơn - vẫn còn một bộ phận lớn tham gia chiến đấu dưới các hình thức khác nhau. Bộ máy chiến tranh (của Mỹ - Ngụy) ở miền Nam, tuy có giảm một bộ phận quân Mỹ, vẫn không thể phát động được nếu không có Mỹ chỉ huy, Mỹ vạch kế hoạch, Mỹ yểm trợ hoả lực và không quân, Mỹ tiếp tế vận chuyển bảo đảm hậu cần, Mỹ phối hợp chiến đấu và làm chỗ dựa. Quân Mỹ vẫn là những chiếc bánh xe chính làm chuyển động toàn bộ máy.


Trước tình thế và sự chuyến biến trong so sánh lực lượng từ sau Tết Mậu Thân, Níchxơn không thể không chấp nhận chủ trương "quét và giữ", một chủ trương chiến lược phòng ngự của Giônxơn để lại, phản ánh sự thất bại của Mỹ - Ngụy trên chiến trường. Nhưng dưới con mắt của các cố vấn chiến lược của Níchxơn, nội dung và biện pháp của chủ trương đó mang tính chất phòng ngự thụ động hoàn toàn. Nó cần phải thích hợp với "sức mạnh" hiện có và ý đồ tạo thế mạnh của Mỹ. Từ đó, chiến lược "quét và giữ" được điều chỉnh. Abơram ráo riết thực hiện; thực chất của nó là phòng ngự kết hợp với phản kích bộ phận. Điều đó đã thể hiện rõ rệt qua một loạt các biện pháp chiến lược của chiến lược "Việt Nam hoá" chiến tranh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #25 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2022, 07:37:04 am »

Bọn cố vấn của Níchxơn nhận xét, Giônxơn thất bại vì không hiểu được vị trí của vấn đề "bình định"..., không hiểu rằng "cuộc chiến tranh của Việt cộng, do tính chất và mục đích của nó không phải là giành quyền kiểm soát đất đai mà là nắm lấy quyền kiểm soát dân chúng... Do đó, Mỹ đã tập trung 80% lực lượng ở những vùng có chưa đến 4% số dân...". Chúng phân tích, Mỹ thất bại vì "đã có những quan niệm sai lầm", "coi bình định là có tính chất phòng thủ", "đã chọn không đúng các vùng phải ưu tiên bình định" nên khi thì chọn mục tiêu quá hẹp ở quanh một số thành phố và vị trí, khi thì lại làm tràn lan ở nhiều tỉnh mà mục đích cơ bản vẫn chỉ là để giữ an toàn cho các căn cứ, vị trí chiến lược của Mỹ. Từ những kinh nghiệm thất bại của Giônxơn, bọn Níchxơn chủ thương đeo đuổi một chiến lược mà chúng cho là "thông minh" hơn, nhấn mạnh đến "tính chất tiến công về chiến lược" của nó. Chìa khóa của vấn đề "bình định" theo các cố vấn của Níchxơn là "phá vỡ những tổ chức cơ sở của Việt cộng" và "tiền đề của chương trình bình định" là "bảo vệ an ninh cho dân chúng".


Trong chiến lược "Việt Nam hoá", vấn đề "bình định" trở thành một vấn đề mấu chốt để chống lại chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam, một mũi phản công chiến lược chủ yếu để chống lại cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam. Tham vọng của Mỹ là với chủ trương "bình định", chúng có thể "lập được một nền an ninh tin cậy ở thôn xóm", phá vỡ các tổ chức chính trị cơ sở của cách mạng, cắt đứt mối liên lạc giữa nhân dân và các lực lượng vũ trang cách mạng, tạo được chỗ đứng chân cho Ngụy quyền Sài Gòn, phá các bàn đạp tiến công của ta, thực hiện âm mưu vơ vét sức người sức của tại chỗ; thực hiện chính sách thâm độc "dùng người Việt đánh người Việt", lấy tiền của của người Việt Nam ném vào cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ.


Trong những lời tuyên bố về chiến lược "Việt Nam hoá", Níchxơn đã nhấn mạnh việc "mở rộng chương trình bình định" là "một trong hai phần chính", với tiêu chuẩn: "thành lập ở nông thôn một lực lượng phòng thủ thích đáng và một chính quyền hoạt động 24 giờ", nhằm "làm cho lực lượng đối phương bị cô lập và phải chiến đấu như một đội quân viễn chinh", "tạo nên một sự bảo đảm an ninh và tăng cường quyền lực cho Chính phủ Sài Gòn ở khắp các vùng nông thôn".


Ước mơ của Níchxơn là thực hiện được hai tiêu chuẩn đó, Mỹ - Ngụy sẽ "ngăn chặn được những hoạt động "lật đổ" (nổi dậy) của đối phương (nhân dân miền Nam), buộc họ phải chiến đấu như một đội quân viễn chinh thông thường, không dựa được vào sự ủng hộ tích cực của nhân dân nông thôn về tình báo, lương thực, tiền bạc và nhân lực..., khiến cho đối phương không thể dùng nông thôn làm bàn đạp để tiến công các thành phố và các căn cứ chủ yếu của Nam Việt Nam” (Báo cáo về chính sách đối ngoại của Níchxơn, 17 tháng 2 năm 1970).


Về lâu dài, theo cách tính toán của Mỹ, "bình định" có kết quả không những tạo cho chúng một thế mạnh về quân sự mà còn tạo được một lợi thế rất lớn trong trường hợp có giải pháp chính trị. Kítxinhgơ, cố vấn số một của Níchxơn đã từng nhấn mạnh: "Vì mục đích thương lượng, Mỹ hãy kiểm soát lấy 100% của 60% còn hơn là kiểm soát 60% của 100% nước này".


Đánh phá hậu phương, hệ thống hậu cần, biện pháp chiến lược rất quan trọng Mỹ phải thừa nhận không thể đánh gãy được xương sống Việt cộng, phải từ bỏ mục tiêu ngông cuồng này trong chiến lược quân sự mới ở miền Nam. Song, sự có mặt của các quả đấm chủ lực của Quân giải phóng đang là một mối nguy lớn thường xuyên uy hiếp quân Mỹ, quân Ngụy và khả năng "thành công" của kế hoạch "Việt Nam hoá" chiến tranh.


Một điều cốt tử đối với Mỹ là, muốn giữ vững hệ thống phòng ngự, nhất thiết phải làm suy yếu và ngăn chặn bằng được sự tiến công của các lực lượng vũ trang cách mạng. Ý đồ này, một mặt được thực hiện bằng biện pháp "bình định" nông thôn (biện pháp chiến lược này, theo Thomxơn không những chỉ có tác dụng kiểm soát dân mà còn "có hiệu lực ngăn chặn các cuộc tiến công của đối phương"), mặt khác, bằng biện pháp đánh phá hậu phương, các cơ sở, các căn cứ, các hệ thống hậu cần và tiếp tế của Quân giải phóng.


Báo Pháp, Lơ Phigarô, trong một bài phân tích về chiến lược của Ních-xơn, đã nhận xét: "Để mang lại cho quân đội Sài Gòn khả năng sống sót với sự yểm trợ của không quân Mỹ, Níchxơn đã đưa ra một chiến lược không giống như thời Giônxơn và tướng Oétmolen là đánh vào quân đội đối phương mà là đánh vào hậu cần của họ".


Theo tính toán của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, thì đây là một biện pháp chiến lược lợi hại vì nó phát huy được chỗ mạnh vốn có của Mỹ là không quân, để đánh vào "chỗ yếu" của đối phương, bảo đảm giảm bớt thương vong cho Mỹ, khiến cho sức tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng bị giảm sút đến mức thấp nhất, nếu có hoạt động thì cũng chỉ ở mức "thoi thóp". Và điều đó có nghĩa là thế mạnh sẽ thuộc về Mỹ - Ngụy, chiến tranh sẽ "tàn lụi" dần.


Tham vọng ngông cuồng.

Mục tiêu chiến lược làng đầu của "Việt Nam hoá" chiến tranh, theo cách nói của Kítxinhgơ, nhằm vào "vấn đề bao trùm nhất là phát triển một cơ cấu chính trị vững mạnh" ở miền Nam, thực chất là một bộ máy tay sai "mạnh" về quân sự, chính trị và kinh tế, đủ sức chống các lực lượng cách mạng miền Nam, giữ miền Nam trong quỹ đạo thực dân mới của Mỹ.


Kítxinhgơ còn nói rõ thêm, "phải có một Chính phủ (ngụy) có quyền lực được củng cố, "một cơ cấu chính trị vững mạnh, nối liền được Sài Gòn và các vùng nông thôn... đó là định nghĩa có ý nghĩa duy nhất của chữ thắng lợi".


Tham vọng giành thắng lợi của Níchxơn còn lộ rõ khi ông ta tuyên bố: "Tôi không muốn là viên Tổng thống đầu tiên thua trận trong cuộc chiến tranh này". Điều đó đã được báo Mỹ Luận đàn thông tin quốc tế ngày 19 tháng 2 năm 1970 nói rõ hơn: "Ông Níchxơn muốn có một kết thúc thắng lợi ở Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, thắng lợi có nghĩa là Mỹ rút quân và để lại ở Sài Gòn một chính quyền không cộng sản tự đứng vững được, có đủ khả năng chống lại sự đe doạ của cộng sản".


Tuy nhiên, đó chưa phải là tham vọng cuối cùng của Níchxơn trong chiến lược "Việt Nam hoá" chiến tranh. Trong diễn văn ngày 3 tháng 11 năm 1969, khi trình bày chính sách "Việt Nam hoá", Níchxơn đã nhấn mạnh, chính sách đó "phù hợp với sự thay đổi lớn", "với phương hướng mới trong chính sách đối ngoại của Mỹ". "Việt Nam hoá" không phải là một chiến lược cụ thể của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nó còn thể hiện đường lối đối ngoại chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mỹ trong điều kiện mới. Dư luận Mỹ đã vạch rõ, "Việt Nam hoá” là hòn đá tảng của học thuyết Níchxơn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #26 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2022, 07:37:49 am »

Thực hiện chính sách "Việt Nam hoá" ở Việt Nam, Níchxơn có tham vọng nêu lên một mẫu mực về đường lối quân sự theo học thuyết của hắn, lấy chiến trường Việt Nam làm nơi thí điểm của một học thuyết chiến tranh xâm lược, tiến hành theo công thức "vũ khí và hỗ trợ hoả lực Mỹ + bộ binh bản xứ", chống lại các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của các nước.


Người ta có thể thấy, "Việt Nam hoá" chiến tranh thực chất là một chính sách xâm lược thâm độc và tàn bạo. Đó là kế hoạch tiếp tục chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam bằng quân Ngụy và một bộ phận quan trọng quân Mỹ; là âm mưu kéo dài chiến tranh xâm lược Việt Nam bằng thủ đoạn "dùng người Việt đánh người Việt", lấy máu Ngụy thay máu Mỹ, là kế hoạch Mỹ thao túng miền Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Qua kế hoạch "Việt Nam hoá" chiến tranh, tập đoàn Níchxơn đang ấp ủ những tham vọng rất lớn. Chúng chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược, vẫn cố bám chặt lấy miền Nam nước ta. Chúng vẫn tiếp tục đeo đuổi một cuộc chiến tranh lâu dài, hòng cứu vãn tình thế thất bại, hoặc ít ra cũng hạn chế được thất bại và tạo điều kiện đê tiến lên giành những thắng lợi trong điều kiện và tình hình cho phép. Trong tình thế buộc phải ngồi nói chuyện với đại diện của nhân dân ta ở hai miền Nam, Bắc, Níchxơn đã từng tuyên bố: "Việt Nam hoá là nhân tố thúc đẩy thương lượng". Chúng tính rằng với chính sách "Việt Nam hoá" chiến tranh, Mỹ có thể làm một công đôi việc: tạo nên thế mạnh cho Mỹ - Ngụy, làm cơ sở cho các cuộc đàm phán và giải pháp thương lượng, gây sức ép đối với nhân dân ta, buộc phải chấp nhận những điều kiện của Mỹ; và trong tình hình "nếu đối phương không khoan nhượng và chiến tranh tiếp tục thì đó là cách đơn phương của Mỹ nhằm đạt được mục tiêu (xâm lược) càng nhiều càng tốt" (Kítxinhgơ - Những vấn đề đối ngoại, tháng 1 năm 1969).


Đương nhiên, không phải là Níchxơn và những "chuyên gia xây dựng chiến lược" của hắn không có tính toán, cân nhắc mọi mặt khi vạch ra kế hoạch (“Việt Nam hoá” đầy tham vọng đó. Chúng đã phân tích so sánh lực lượng, đánh giá chỗ mạnh, chỗ yếu của đôi bên. Chúng đã xem xét cả các nhân tố bên trong và bên ngoài, các điều kiện trong nước và ngoài nước...

- Níchxơn cho rằng, ông ta đã rút được bài học kinh nghiệm của Giônxơn; với chiến lược mới, Mỹ đã khôn khéo sửa chữa được những sai lầm về cách thức sử dụng sức mạnh và điều kiện chiến tranh.

- Mỹ có tiềm lực kinh tế và quân sự to lớn. "Dù chiến lược của Mỹ có thiếu nhạy cảm đến thế nào đi nữa thì Mỹ vẫn mạnh tới mức làm cho đối phương không thể thắng Mỹ được về quân sự" (Kítxinhgơ - Những vấn đề đối ngoại, tháng 1 năm 1969)

- Mỹ còn có một số quân đông trên chiến trường, còn có lực lượng hoả lực lớn, sức cơ động cao, còn chiếm giữ được một số căn cứ, vị trí then chốt. Hơn nữa, bọn chuyên gia Lầu Năm Góc còn cho rằng, "hình như cái thế quân sự của Mỹ đã được cải thiện".

- Níchxơn đặc biệt hy vọng vào yếu tố thời gian. Ông ta cho rằng, với chiến lược "chiến tranh lâu dài, ít tốn kém mà người Mỹ có thể chấp nhận được", sẽ "tháo được cái kíp của quả bom dư luận ở Mỹ", giảm bớt những khó khăn của Mỹ ở Việt Nam, trong nước Mỹ và trên thế giới. Với thời gian, quân Ngụy được cải tiến trang bị sẽ mạnh lên; nhân dân miền Nam sẽ ngả theo Mỹ - Ngụy. Với thời gian, thế chiến lược của Mỹ - Ngụy sẽ chuyến biến tốt dần lên, Ngụy quyền Sài Gòn sẽ tự đứng vững được. Với thời gian, nhân dân ta sẽ gặp khó khăn lớn về điều kiện vật chất và một loạt khó khăn khác như: sức người, sức của kiệt quệ, tinh thần sa sút, đoàn kết rạn nứt, sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới cũng giảm bớt... Toàn bộ những điều trên cho phép Mỹ "có thể thuyết phục người Việt Nam (bọn tay sai) rằng không nhất thiết thời gian ủng hộ họ (nhân dân miền Nam)" (Kítxinhgơ - Những vấn đề đối ngoại, tháng 1 năm 1969).


Ý đồ thâm độc và thực chất của "Việt Nam hoá" chiến tranh.

Qua những lời phát biểu của Níchxơn, những cố vấn thân cận của ông ta và Menvin R.Ledơ - Bộ trưởng quốc phòng, người ta có thể thấy ý đồ thâm độc của Níchxơn và thực chất của chiến lược "Việt Nam hoá" chiến tranh của Mỹ.


"Việt Nam hoá" chiến tranh trước hết là một chính sách được sản sinh ra trong thế thua, thế yếu, đồng thời cũng thể hiện rõ âm mưu ngoan cố đến cùng của đế quốc Mỹ.

Trước những thất bại liên tiếp và khó khăn chồng chất, đế quốc Mỹ không thể không tính đến chuyện rút chân ra khỏi bãi lầy - chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nhiều người trong chính giới Mỹ đã thừa nhận, chính sách rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam là điều không thể tránh khỏi, là chiều hướng không thể thay đổi, bất kể tình hình diễn biến như thế nào. Song, do bản chất xâm lược, hiếu chiến, ngoan cố, mặt khác chúng lại có tiềm lực kinh tế và quân sự, nên bọn xâm lược Mỹ còn cố kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược với mức độ thấp hơn, với hy vọng làm cho đối phương mệt mỏi, tạo nên thế mạnh, tìm "lối, thoát danh dự" cho Mỹ. Đó là một kế hoạch đề ra trong một tình thế đầy dẫy khó khăn, khốn quẫn nhằm điều hoà mâu thuẫn giữa khả năng thực tế của Mỹ đã giảm sút với tham vọng xâm lược điên cuồng của chúng. Cái mà Níchxơn gọi là "con đường khác" để giải quyết cuộc chiến tranh thực ra là con đường "Việt Nam hóa cuộc chiến tranh", con đường tiếp tục giải pháp quân sự theo đường lối của Níchxơn, nhằm hạn chế thất bại, cứu vãn thất bại, đối phó với cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam, tiếp tục thực hiện âm mưu duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam với một mức độ nào đó, dưới một hình thức nào đó.


Kế hoạch "Việt Nam hoá" và chủ trương rút quân nhỏ giọt là một kế hoạch mà bọn cầm quỵền Mỹ đang thực sự đi vào con đường chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhưng thực tế, Mỹ vẫn kéo dài cuộc chiến tranh đó. Níchxơn tính rằng nếu thực hiện được trót lọt, thì với kế hoạch "Việt Nam hóa" hắn sẽ làm được một công đôi việc, được cả chì lẫn chài: vừa cứu vãn được thất bại của Mỹ, vừa đạt được những mục tiêu xâm lược mà Mỹ vẫn rút chân khỏi vũng lầy ở Việt Nam, lại vừa giữ được miền Nam trong quỹ đạo thực dân mới của Mỹ; vừa tránh được sự đổ vỡ đột ngột của Ngụy quyền Sài Gòn, giảm bớt sự dao động trong hàng ngũ bọn chư hầu, lại vừa làm dịu làn sóng phản kháng của nhân dân Mỹ, giảm bớt được khó khăn về mọi mặt.


Níchxơn cố gắng làm cho mọi người có ấn tượng là chính sách của ông ta khác hẳn, thậm chí ngược lại hoàn toàn với chính sách của Giônxơn. Thực tế là, với kế hoạch "Việt Nam hoá" chiến tranh, Níchxơn không từ bỏ mục tiêu xâm lược mà chỉ thay đổi phương pháp tiến hành chiến tranh xâm lược; tìm cách giảm bớt khó khăn để tiếp tục tăng cường và kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược. Đã không đưa hết quân Mỹ vê nước, hắn còn chủ trương duy trì không thời hạn một số lớn quân Mỹ trên chiến trường. Đã không chịu gạt bỏ bọn Ngụy quyền tay sai bán nước, hắn vẫn chủ trương bám chặt lấy bọn này, coi đó là một cố gắng hàng đầu trong kế hoạch "Việt Nam hoá". Dư luận thế giới đã vạch rõ: "Mặc dù Níchxơn cố tìm những lời hay ho nhất để nói rằng chính sách của ông ta khác hẳn chính sách của Giônxơn, song người ta vẫn thấy không có sự khác nhau cơ bản nào giữa hai chính sách đó cả. Bởi vì chính sách của Níchxơn cũng nhằm giải quyết cuộc chiến tranh trên thế mạnh về quân sự... Giônxơn đã đi khỏi Nhà Trắng, nhưng đường lối của ông ta vẫn còn trong đó. Văn chương là văn chương của Níchxơn, nhưng lý luận đó vẫn là lý luận của Giônxơn (Sao hôm, 4-4. Asahi, 5-4)
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #27 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2022, 07:59:54 am »

PHẦN HAI
Đại thắng mùa xuân 1975 những bước ngoặt chiến lược


Đấu tranh vũ trang là đặc trưng chủ yếu, quyết định của chiến tranh, thành bại của một cuộc chiến tranh phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, không có những đòn quyết chiến chiến lược bằng sức mạnh quân sự trên chiến trường, không thể có những hồi kết của chiến tranh. Đây là một qui luật tất yếu đã được lịch sử chứng minh.


Trong lịch sử, mỗi cuộc chiến tranh đều gắn liền với những trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Mỗi trận quyết chiến chiến lược đó đều có những giá trị riêng lẻ, giá trị nhân bản mang dấu ấn tổng thể của lịch sử. Những trận quyết chiến chiến lược đó phần lớn đều đã kết thúc chiến tranh, hoặc là tạo ra những bước ngoặt chiến lược lớn có lợi cho ta, có lợi cho một chiến tranh giải phóng dân tộc hoặc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Trong bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta: thời Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn đều giành thắng lợi quyết định bằng một trận quyết chiến chiến lược, nhưng Cuộc tổng tiến công và nổi dậy - Đại thắng mùa xuân 1975 - Trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, là chiến thắng oanh liệt nhất, vĩ đại nhất, cố tầm quan trọng quốc tế lớn lao và có tính thời đại sâu sắc nhất.


Đại thắng mùa xuân 1975 đã khắc sâu vào lịch sử bằng những trang vàng chói lọi, đã minh chứng cho ý chí kiên cường, bất khuất, sáng tạo, sức mạnh của một dân tộc khát khao tự do độc lập. Trong thời gian 55 ngày đêm, với quyết tâm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh "một ngày bằng 20 năm", với sức mạnh tổng hợp áp đảo cả về chính trị, quân sự đã được tích luỹ từ nhiều năm. Được Đảng của giai cấp công nhân có kinh nghiệm dày dạn trong tổ chức đấu tranh vũ trang, quân và dân ta đã giành toàn thắng bằng ba chiến dịch lớn: Chiến dịch giải phóng toàn bộ Tây Nguyên, mở đầu bằng trận tiến công chiến lược Buôn Ma Thuột; Chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng, quét sạch địch ở ven biển miền Trung và kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh với năm cánh quân thần tốc tiến vào giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc chiến tranh thống nhất Tổ quốc.


Tổng tiến công và nổi dậy - Đại thắng mùa xuân 1975 - Trận quyết chiến chiến lược, một trang sử vàng chói lọi của dân tộc ta đã đập tan bộ máy chính trị, quân sự của một chế độ thực dân kiểu mới được Mỹ dốc sức người, sức của xây dựng trong hai mươi năm. Đại thắng mùa xuân 1975 chứng minh cho cả nhân loại thấy con người Việt Nam yêu hoà bình, yêu độc lập tự do vừa là một truyền thống vừa là sức mạnh trí tuệ vô địch. Đại thắng mùa xuân 1975 đồng nghĩa với một bước ngoặt vĩ đại ở tầm chiến lược trong lịch sử các cuộc chiến tranh vì độc lập tự do của dân tộc.


I. Những cội nguồn lịch sử của bước ngoặt

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pari về Việt Nam được ký kết. Hiệp định quy định quân Mỹ phải rút hết khỏi miền Nam nước ta. Hiệp định ký chưa ráo mực, Nguyễn Văn Thiệu đã hò hét "tràn ngập lãnh thổ”, tập trung lực lượng thực hiện các kế hoạch "bình định ba năm 1973 - 1975", "kế hoạch bình định sáu tháng từ 3 năm 1973 đên tháng 8 năm 1973", "kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt", "kế hoạch xây dựng quân đội từ 1974 - 1979"... nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang và tổ chức cách mạng của ta.


Với âm mưu phá hoại Hiệp đinh, trong năm 1973 quân địch đã thu được một số kết quả, nhưng vẫn không thể thực hiện được ý định xoá "thế da báo" của ta. Quân Ngụy cũng đã được củng cố một bước quan trọng. Ngụy quyền cũng củng cố thêm, nhất là ở cơ sở, nhưng vẫn bị cô lập về chính trị.


Để thực hiện mưu đồ đó, địch đã khẩn trương củng cố và tăng cường xây dựng quân Ngụy, nhất là các quân binh chủng, nhằm bảo đảm cho quân Ngụy đủ sức đối phó với quân chủ lực của ta trong mọi tình huống. Trong năm 1973, địch đã bắt khoảng 240.00 lính, thu gom trên 130.000 quân đào ngũ và bị thương đưa tổng quân số lên xấp xỉ 710.000. Chúng còn tăng quân số của các tiểu đoàn chủ lực và địa phương quân, phát triển không quân, nhất là không quân chiến thuật và máy bay trực thăng, tăng thêm xe tăng, xe bọc thép và bắt đầu sử dụng xe tăng M-48 thay dần xe tăng M-41. Về cơ bản đã hoàn thành tổ chức Tiểu đoàn và các Chiến đoàn bảo an. Nâng lực lượng bảo an thành lực lượng cơ động của tiểu khu và quân khu, nâng tổng quân số của lực lượng phòng vệ dân sự từ 10.000.000 tên, có 230.000 được vũ trang lên 1.500.000 tên, có 400.000 được vũ trang. Như vậy, đến cuối năm 1973, quân Ngụy đã được củng cố một bước về tổ chức, biên chế và được tăng cường một số binh khí kỹ thuật.


Trước khi phải cuốn cờ rút quân, Mỹ đã đưa vào miền Nam: 700 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng và xe bọc thép, nhiều tàu chiến và gần 2 triệu tấn vật chất dự trữ cho chiến tranh.

Thực hiện mưu đồ phá Hiệp định Pari, địch đã tiến hành kế hoạch bình định lấn chiếm, nhằm tiêu diệt lực lượng ta và phá căn cứ lõm của ta trong vùng chúng kiểm soát; bao vây kinh tế ở các vùng giáp ranh, lấn chiếm các vùng ta đã giải phóng trước ngày ký Hiệp định. Thực hiện âm mưu xoá trạng thái hai vùng, hai quân đội và hai chính quyền, biến miền Nam thành một vùng hoàn toàn do chúng kiểm soát; trong vòng 11 tháng của năm 1973, địch đã sử dụng 60% quân chủ lực và toàn bộ lực lượng vũ trang địa phương, mở trên 360.000 cuộc hành quân lấn chiếm, giải toả và hành quân an ninh; tập trung lực lượng lớn tiến công vào các vùng trọng điểm: Sa Huỳnh (Nam Quảng Ngãi) Bắc Kon Tum, Chư Nghé (Tây Plâyku), Kiến Đức, Quảng Đức, Nam Bắc lộ 4 ở Mỹ Tho, Chương Thiện, Núi Dài, Tri Tôn, lấn chiếm hầu hết các vùng ta mới giải phóng trong đợt hoạt động tháng 1 năm 1973.


Mặc dù phải chấp nhận rút quân khỏi miền Nam nhưng đế quốc Mỹ vẫn duy trì một "lực lượng răn đe" ở Đông Nam Á sát miền Nam Việt Nam gồm: 15.200 quân bộ binh, 1026 máy bay kể cả máy bay chiến lược B52 và gần 56 tàu chiến các loại, chưa kể lực lượng Hạm đội 7 thường xuyên có mặt tại Thái Bình Dương, đồng thời tăng cường ngoại giao nhằm hạn chế khả năng tiến công lớn của ta.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #28 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2022, 08:02:50 am »

Đối với quân đội Ngụy Sài Gòn, sau khi quân Mỹ rút thực trạng theo đánh giá kết luận của ta:

Một là: quân số còn đông, có tổ chức, có kinh nghiệm chiến đấu: quân chủ lực là 70 vạn gồm 13 sư + 4 trung đoàn, sẽ tăng là 14 sư và 15 trung đoàn. Quân địa phương 369 tiểu đoàn (liên đội), sẽ lập thêm 36 - 40 trung đoàn. Lực lượng phòng vệ dân sự từ 1,1 triệu (23 vạn có vũ trang), sẽ tăng lên 1,5 triệu (40 vạn có vũ trang). Phát triển các binh khí kỹ thuật, hoả lực còn mạnh, sức cơ động còn cao cùng với sự viện trợ của Mỹ: Không quân gồm 51 phi đoàn (1.110 máy bay). Xe tăng thiết giáp: 22 Tiểu đoàn (1879 xe) sẽ tăng 3 Tiểu đoàn M48. Pháo binh gồm: 66 tiểu đoàn (1360K) sẽ tăng 4 tiểu đoàn 175mm (loại vua chiến trường).


Hai là: Còn chiếm và kiểm soát nhiều vùng: Vùng đông dân, thành phố và thị xã, các trục giao thông quan trọng.

Ba là: Hệ thống Ngụy quyền từ Trung ương đến cơ sở có nhiều kinh nghiệm chống phá cách mạng, kìm kẹp dân trong vùng chúng kiểm soát.


Nhưng quân ngụy Sài Gòn cũng có hai điếm yếu chí tử thuộc bản chất của một đội quân tay sai phản dân tộc, phản cách mạng.

Một là: Mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán với quân số đông nhưng nhiều vùng quan trọng vẫn chưa được củng cố. Nếu ta có kế hoạch tốt, lợi dụng triệt để, khuyếch trương thì có nhiều khả năng, khi có lực lượng cơ động để ứng cứu cho những khu vực bị tiến công mạnh.

Hai là: Trên 50 vạn quân Mỹ và chư hầu cùng phần lớn binh khí kỹ thuật phải rút khỏi miền Nam, tạo một lỗ hổng lớn, mất chỗ dựa trực tiếp và chủ yếu. Trước đây được Mỹ chi viện tận răng mà vẫn thất bại, nay tinh thần càng sa sút, nên thế và lực quân Ngụy giảm sút rất nhiều. Nếu bị đánh mạnh, đánh đau, đánh liên tục, đánh đúng chỗ hiểm yếu thì cả Ngụy quân, Ngụy quyền dễ bị phân hoá và thất bại.


Một vấn đề đặt ra cho cơ quan Tham mưu chiến lược của ta là phải đánh giá thật chính xác điểm mạnh yếu của lực lượng quân sự Sài Gòn, mạnh như thế nào, suy yếu đến mức độ nào? Có phải quân Ngụy suy yếu đến mức ta đánh mạnh, đánh đau, tiêu diệt một bộ phận sinh lực lớn và phương tiện chiến tranh là chúng bắt đầu đổ vỡ ngay; hay quân Ngụy còn sức chống đỡ để kéo dài một thời gian buộc Mỹ phải đưa quân chiến đấu trở lại miền Nam. Trước thực trạng của quân Ngụy nhiều tư duy chiến lược nghiêng về khả năng quân Ngụy còn có sức chống đỡ, nên trong kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam 2 năm, Tổ trung tâm Cục tác chiến Bộ Tổng Tham mưu đã vạch ra một kế hoạch tổng thể chiến lược gồm ba đòn quyết chiến chiến lược (hai đòn song song và một đòn kế tiếp) tập trung lực lượng ưu thế, tiêu diệt cho được nhiều sư đoàn, quân đoàn địch trong một thời gian tương đối ngắn thì mới làm thay đổi so sánh có lợi cho ta, tạo mọi điều kiện cho ta giành thắng lợi trọn vẹn mà Mỹ không kịp can thiệp, có thể và không thể đưa quân chiến đấu vào miền Nam1 (Trước những ngày thắng lợi lịch sử Xuân 75 của Đại tướng Lê Trọng Tấn, Văn nghệ quân đội, tháng 4 năm 1975, tr.15).


Về phía Mỹ, ta đã đánh Mỹ 19 năm, cả nước là một chiến trường thống nhất, Nam Bắc là một, người Việt Nam ở miền Bắc và đánh Mỹ ở miền Nam là quyền tự bảo vệ của người Việt Nam. Cuộc chiến tranh do Đảng Cộng sản lãnh đạo, một quân đội thống nhất, toàn dân cùng đánh Mỹ. Điều này hoàn toàn khác ở Triều Tiên: hai miền Nam Bắc Triều Tiên có chính quyền, có quân đội riêng. Người Bắc Triều Tiên muốn vào miền Nam cũng làm theo kiểu Mỹ Ngụy đổ biệt kích ra miền Bắc Việt Nam.


Mỹ đã thua phải rút hết quân chiến đấu về, nay đưa quân chiến đấu trở lại không phải dễ. Chính là bị nhân dân Mỹ, các lực lượng chính trị tiến bộ ở Mỹ phản đối. Hơn nữa, đã 19 năm đưa 550.000 quân (11 sư và 11 trung đoàn), đã huy động 70% Lục quân, 60% Lính thuỷ đánh bộ, 40% Hải quân, 60% Không quân của toàn nước Mỹ, trên 6,5 triệu lượt thanh niên Mỹ trực tiếp tham gia chiến tranh Việt Nam, cùng 22.000 xí nghiệp trên đất Mỹ trực tiếp phục vụ chiến tranh mà vẫn bị thua1 (Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi và bài học, Nxb CTQG 1995, tr.312). Nay Mỹ đưa quân quay trở lại Việt Nam, đưa bao nhiêu? Đưa quân trở lại nhằm mục đích gì? Tuy nhiên ta phải luôn luôn cảnh giác với "lực lượng răn đe" của Mỹ ở Đông Nam Á: Hải quân, Không quân, Bộ binh, căn cứ của Không quân - Hải quân vẫn còn nguyên ở Thái Lan, Philippin, Đài Loan, Guam v.v...


Trên cơ sở phân tích lịch sử, thực trạng theo quan điểm khách quan toàn diện và phát triển. Kết luận của Tổ Trung tâm: Mỹ không dám đổ quân chiến đấu trở lại miền Nam Việt Nam để gây lại chiến tranh, nhưng có thể: Chiếm một vài vùng dọc ven biển miền trung Trung Bộ nhằm ngăn chặn, làm chậm tốc độ tiến công của ta. Tạo điều kiện để chúng củng cố vùng đồng bằng sông Cửu Long nơi đông người, nhiều của, hòng có điều kiện mặc cả với ta trong thế thua.


Với tầm nhãn quan chiến lược, Bộ Chính trị và Quân Ủy Trung ương chỉ đạo Tổ Trung tâm, Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu tiếp tục chuẩn bị kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam và 8 lần thông qua bản dự thảo kế hoạch chiến lược:

Dự thảo lần thứ nhất (số 306/TG ngày 05 tháng 6 tháng 1973) nhận định: "Lúc đầu Mỹ cố dùng quân Ngụy trực tiếp đối phó với ta, Mỹ viện trợ trang bị kỹ thuật. Ngụy gặp khó khăn, Mỹ mới chi viện bằng Không quân - Hải quân, tiếp theo là cố vấn Mỹ và quân chư hầu. Trước nguy cơ Ngụy sụp đổ thì Mỹ mới điều bộ binh".


Dự thảo lần thứ hai (số 353/TG ngày 16 tháng 7 năm 1973) chỉ đạo: "Phải chú ý đến lực lượng răn đe của Mỹ ở Đông Nam Á".

Dự thảo lần thứ 3 và 4 (số 365/TG, số 106/TG ngày 15 tháng 8 năm 1973 và ngày 31 tháng 5 năm 1974) xác định: "Quân đội đế quốc không còn trên đất nước ta nhưng lực lượng Không quân - Hải quân răn đe của đế quốc Mỹ ở Đông Nam Á sẵn sàng can thiệp".


Đặc biệt tại hai Hội nghị Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương có mời các đồng chí lãnh đạo chủ yếu của các chiến trường, các quân khu tham gia bàn kế hoạch tác chiến chiến lược trong tháng 10 năm 1974 (lần thứ 7, số 172/TG) và lần thứ 8, tức lần cuối cùng là ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 8 tháng 1 năm 1975 (số 288/TG).


Quá trình nghiên cứu, chuẩn bị kế hoạch chiến lược, chỉ đạo tác chiến trên chiến trường. Sau Nghị quyết Trung ương 21 và Nghị quyết Quân uỷ Trung ương về quân sự, cục diện chiến trường đang có chiều hướng chuyển biến có lợi cho ta. Quân và dân ta đã chủ động đưa thế và lực cách mạng tiến lên từng bước vững chắc, đã phản công và tiến công địch liên tục, giành thắng lợi ngày càng lớn với nhịp độ ngày càng nhanh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #29 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2022, 08:03:52 am »

Trên chiến trường Quân khu 9 nắm vững tư tưởng chỉ đạo chiến lược tiến công, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, xoá hẳn hơn 2.000 đồn bốt địch, giải phóng hơn 400 ấp với gần 800.000 dân. Khu 8 xoá hẳn 800 đồn bốt, giải phóng thêm hơn 200 ấp với 130.000 dân. Khu 7 duy trì thế tiến công địch, đánh bại cuộc hành quân giải toả của địch, giữ vững bàn đạp phía Bắc Sài Gòn. Khu 5 đã chuyển sang thế tiến công ngày càng mạnh, mở rộng vùng bàn đạp giáp ranh (Nông Sơn, Thượng Đức, Tuy Phước, Minh Long, Giá Vụt...), tăng cường đánh phá địch ở đồng bằng, xoá gần 800 đồn bốt, giải phóng 250 ấp với 200.000 dân. Trên chiến trường Tây Nguyên ta tiến công tiêu diệt và bức rút Đắc Pét, Chư Nghé, Măng Bút, Măng Đen, Iaxúp... Tiếp tục mở rộng vùng giải phóng và hành lang chiến lược. Chiến trường Trị Thiên, tiếp tục giam chân Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến, sư đoàn cơ động chiến lược của địch, áp sát vùng giáp ranh đẩy mạnh chống "bình định" ngày càng hiệu quả.


Như vậy, âm mưu lấn chiếm và các kế hoạch chiến lược của địch không những không thực hiện được mà còn rơi vào thế bị động, thất bại. Tinh thần và sức chiến đấu của quân đội ngụy giám sút rõ rệt. Tổng quân số giảm 20.000, đào ngũ 170.000. Mỹ viện trợ quân sự cho chính quyền Sài Gòn giảm: 1972 - 1973: 1.614 triệu đôla; 1973 - 1974: chỉ còn 1.026 triệu đôla; 1974 - 1975: chỉ còn 700 triệu đôla... Từ hành quân tác chiến tiến công nhảy sâu, qui mô lớn bằng máy bay lên thắng, sang phòng ngự chốt chặn, lấn dũi, lùng sục nhỏ.


Đặc biệt trong thời gian này ta có 2 thắng lợi được đánh giá là những đòn trinh sát chiến lược thăm dò ý đồ và khả năng đưa quân trở lại của Mỹ: Thắng lợi Thượng Đức ở Quân khu V; Chiến thắng Phước Long (13 tháng 12 năm 1974 đến 06 tháng 1 năm 1975) nhất là chiến thắng Phước Long, tuy Phước Long là một tỉnh nhỏ nhưng lần đầu tiên một tỉnh ở sát Sài Gòn - Gia Định khoảng 120km được giải phóng nhưng Mỹ cũng làm ngơ. Chứng tỏ Mỹ không có khả năng trở lại can thiệp bằng quân sự ở miền Nam. Người phát ngôn của Nhà Trắng tuyên bố: "Tổng thống Pho không có ý vi phạm những đều cấm chỉ (của Quốc hội) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam". Trong cuộc họp báo ngày 14 tháng 1 năm 1975 Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Giêm Sơlisinhgiơ nói: "Bây giờ tình hình ở miền Nam cho thấy Bắc Việt Nam không muốn tung ra một đòn tấn công rộng khắp, qui mô. Cái mà họ đang chú ý là làm suy yếu sự kiểm soát của chế độ Nam Việt Nam trên khắp nước, đặc biệt là làm đảo lộn chính sách bình định đang thành công. Do đó điều mà chúng tôi tiên đoán trong vài tháng tới chỉ là một số trận đánh lớn. Lúc này tôi không tin hiện sẽ có cuộc tiến công qui mô lớn như hồi năm 1972". Rõ ràng Giêm Sơlisinhgiơ cố tình đánh giá thấp sự kiện Phước Long. Hơn nữa ngày 22 tháng 01 năm 1975, Tổng thống G.Pho lại giội thêm một gáo nước lạnh xuống đầu chính quyền Sài Gòn bằng lời tuyên bố, Mỹ không thể có hành động nào khác ngoài việc bổ sung viện trợ cho Sài Gòn. Mỹ sẽ không can thiệp vào miền Nam Việt Nam nếu xét ra không phù hợp với Hiến pháp và luật pháp".


Qua 2 sự kiện quan trọng trên, nhất là qua đòn trinh sát Phước Long ta thấy khả năng trở lại của bộ binh Mỹ là rất hiếm1 (Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nxb CTQG, 2000, tr.164 - 166).


Nắm được Mỹ không có khả năng đưa quân chiến đấu trở lại miền Nam Việt Nam, nhưng trong Hội nghị thông qua lần thứ 7 (10 năm 1974), Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương vẫn nhận định: "Nếu ta chuẩn bị chu đáo, nắm chắc thời cơ, đánh đổ Ngụy quyền nhanh gọn có thể Mỹ không vào. Nếu nguy cơ sụp đổ lớn của quân Ngụy có thể Mỹ sẽ dùng không quân, hải quân can thiệp ở miền Nam, mở rộng ra miền Bắc, khả năng dùng lục quân rất ít. Ta vẫn không loại trừ Mỹ đưa vào miền Nam vài ba sư đoàn, chuẩn bị một số căn cứ, không cho ta phát triển tấn công để rồi mặc cả. Mỹ can thiệp không phải để mở rộng chiến tranh như trước kia, mà có thể trở lại thi hành Hiệp định, chấp nhận chính phủ ba thành phần. Mỹ vừa không làm đảo lộn cục diện nhùng chúng sẽ gây khó khăn cho ta và hạn chế thắng lợi của ta. Do đó ta phải vừa đánh, vừa tiếp tục theo dõi phản ứng của Mỹ và tìm mọi biện pháp để cô lập Mỹ, hạn chế khả năng can thiệp của chúng".


Lần thông qua thứ 8, lần cuối cùng vẫn nhận định: "Kìm chế Mỹ, đánh đổ Ngụy, hạn chế chiến tranh ở phạm vi miền Nam, đồng thời sẵn sàng đối phó phản ứng, quyết liệt của Mỹ bằng không quân, hải quân và quân cứu hoả". Khi Kítxinhgơ sang Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng có hỏi: "Quân Nguyên Mông đánh chúng tôi ba lần, còn các ông sẽ đánh chúng tôi mấy lần?". Kítxinhgơ chỉ giơ một ngón tay. Nên trong Hội nghị thông qua lần thứ 8, anh Đồng nói: "Lúc này có cho kẹo, Mỹ cũng không dám đưa lục quân trở lại"1 (Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, tr.136).


Quá trình chuẩn bị kế hoạch chiến lược song song với chỉ đạo tác chiến trên các chiến trường của ta. Một số nước lo cuộc chiến tranh của ta ở miền Nam sẽ nổ ra cuộc chiến tranh lớn, chiến tranh thế giới thứ ba, ảnh hưởng đến hoà bình thế giới, ảnh hưởng trực tiếp đền kế hoạch xâv dựng và phát triển hoà bình của đất nước họ. Đặc biệt là khi Hiệp định Pari được ký kết thì họ đều không chi viện cho ta thêm một viên đạn, một khẩu súng nào nữa, nhất là súng đạn lớn, gây cho ta rất nhiều khó khăn. Với truyền thống đấu tranh bất khuất kiên cường của dân tộc, với sự hy sinh lớn lao xương máu để giành được thành quả cách mạng, nhân dân ta không thể ngồi yên nhìn Mỹ - Ngụy vi phạm Hiệp định, vừa đánh trống vừa ăn cướp. Với kinh nghiệm dày dạn chỉ đạo chiến tranh. Đảng ta đánh giá, phân tích tình hình một cách toàn diện, chính xác, trên cơ sở khoa học và khách quan, đề ra phương hướng, nhiệm vụ của cách mạng cả nước trong giai đoạn mới. Hội nghị lần thứ 21 (Nghị quyết 21) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 10 năm 1973 đề ra phương châm kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự với ngoại giao và xác định rõ: "Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên. Vấn đề giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển thực lực của cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết, vừa cơ bản trong giai đoạn mới...".


Nội dung cốt lõi, tinh thần cơ bản của Nghị quyết 21 là: Địch không thi hành Hiệp định, tiếp tục chiến tranh Việt Nam hoá, thực chất là chiến tranh thực dân kiểu mới hòng chiếm lấy cả miền Nam, thì ta không có con đường nào khác là phải tiến hành chiến tranh cách mạng, tiêu diệt chúng giải phóng miền Nam. Như vậy, Nghị quyết 21 của Đảng vừa là tư tưởng chỉ đạo cách mạng, phương châm hoạt động vừa là "mệnh lệnh" cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tiếp tục quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công để giành mục tiêu lý tưởng của dân tộc.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM