Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:56:06 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc  (Đọc 20186 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #30 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2022, 08:11:52 am »

Từ ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 8 tháng 1 năm 1975, trong thời gian 20 ngày Bộ Chính trị họp với các tướng lĩnh chỉ huy trên các chiến trường, các đồng chí trong Quân uỷ Trung ương và các Phó Tổng Tham mưu trưởng phụ trách tác chiến. Hội nghị có ý nghĩa lịch sử, đánh giá đúng thực chất tình hình, nắm vững những qui luật của chiến tranh cách mạng, kịp thời phát hiện những nhân tố thời cơ mới đế hạ quyết tâm chiến lược chính xác, đẩy nhanh tiến trình cách mạng. Đây là một mong muốn có căn cứ khoa học, sau khi đã phát hiện thời cơ nắm lấy thời cơ chiến lược. Bộ Chính trị nêu quyết tâm: "Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975 - 1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành mọi mặt chuẩn bị, tạo điều kiện chín muồi tiến hành Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan dã Ngụy quân, đánh đổ Ngụy quyền từ Trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam..."1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, Nxb QĐND, H, 2003, tr.28, 29). Kết luận Hội nghị đồng Tổng bí thư Lê Duẩn nói: "Chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự, chính trị như hiện nay đê hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc..."2 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, Nxb QĐND, H, 2003, tr.28, 29).


Tính đến tháng 3 năm 1975 thế bố trí lực lượng của quân Ngụy như sau:

Trên địa bàn Quân khu 1 - Quân đoàn 1 từ thành Quảng Trị đến hết tỉnh Quảng Ngãi gồm: 5 sư đoàn chủ lực (có 2 Sư đoàn dự bị chiến lược: sư dù và sư thủy quân lục chiến); 4 liên đoàn biệt động quân; 21 tiểu đoàn và 1 số đại, trung đội pháo/421 khẩu; 5 thiết đoàn, 6 chi đoàn xe tăng thiết giáp/449 xe; 1 sư không quân/96 máy bay chiến đấu; bố trí tập trung giữa Đà Nẵng và Huế.


Trên địa bàn Quân khu 2 - Quân đoàn 2 (Tây Nguyên) gồm: 2 sư chủ lực; 7 liên đoàn biệt động quân; 14 tiểu đoàn và một số đại, trung đội pháo/382 khẩu; 5 thiết đoàn và 13 chi đội xe tăng xe bọc thép độc lập/447 xe; 2 sư đoàn không quân/138 máy bay; bố trí chủ yếu để giữ Tây Nguyên và các thành phố lốn ở miền Trung dọc bờ biển.


Trên địa bàn Quân khu 3 - Quân đoàn 3 gồm: 3 Sư đoàn chủ lực (khi cần rút 1 - 2 sư dự bị chiến lược); 7 liên đoàn biệt động quân; 14 tiểu đoàn và 1 số đại đội pháo/376 khẩu; 7 thiết đoàn và 15 chi đội xe tăng, xe bọc thép/655 xe; 2 sư đoàn không quân/250 máy bay chiến đấu; bố trí tập trung ở xung quanh Sài Gòn - Gia Định khoảng 50km.


Trên địa bàn Quân khu 4 - Quân đoàn 4 gồm: 3 sự chủ lực; 18 liên đoàn biệt động quân; 15 tiểu đoàn và 55 đại đội pháo/380 khẩu; 5 tiểu đoàn và 17 chi đội xe tăng thiết giáp/493 xe; 1 sư đoàn không quân/72 máy bay; tàu xuồng các loại/580 chiếc; bố trí tập trung giữa Cần Thơ, Chương Thiện và Quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1A)


Với thế trận bố trí và ý đồ sử dụng lực lượng của quân địch cho thấy: Thế trận bố trí nặng ở hai đầu (QK1 - QK3), nhẹ giữa (QK2 - QK4). Thiếu lực lượng dự bị để có thể đối phó trên nhiều hướng cùng một lúc bị tấn công mạnh, không có thể trận chiến lược, sở dĩ địch không điều chỉnh thế bố trí chiến lược vì đánh giá thấp hoạt động của ta. Mỹ, Ngụy cho năm 1975 ta chỉ có thể hoạt động qui mô như năm 1974, nhưng không lớn và rộng khắp cả miền Nam như năm 1968 hay năm 1972. Tổng thống ngụy Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu họp với các Trưởng quân khu, Trưởng tiểu khu mở chiến dịch "càn quét cấp tốc" trong 3 tháng kể từ 1 tháng 1 năm 1975 để ngăn chặn chiến dịch Đông Xuân của ta. Chúng sử dụng 70 - 80% chủ lực cùng tất cả lực lượng quân chủ lực còn lại để càn quét, đánh phá, quyết giành và giữ dân về theo chúng "lấn đất, giành dân là keo cuối cùng, thắng cũng là ở đây mà thua cũng là ở đây".


Như vậy, chúng ta có quyết tâm rất cao, quyết tâm đó xuất phát trên cơ sở phân tích đánh giá, kết luận tình hình rất khoa học, có nghị quyết về quyết tâm chiến lược. Vấn đề đặt ra, thực hiện quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam này bắt đầu từ đâu, ở đâu?


Thế trận bố trí của địch và sự vận động của thế trận đó trên toàn bộ chiến trường miền Nam "nặng ở hai đầu". Xét cả yếu tố lịch sử, cụ thể và phát triển thì Quân khu 2 trong đó có Tây Nguyên, địch chỉ có 2 sư đoàn chủ lực, lại phải phân tán vừa giữ các tỉnh Tây Nguyên, vừa phải bảo vệ các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ từ Bình Định đến Bình Thuận. Nhưng Tây Nguyên là một chiến trường hết sức cơ động, có nhiều lợi thế để phát triển về phía Nam theo Đường số 14 hoặc xuống phía Đông theo Đường số 19, 7, 21. Địa hình là cao nguyên, kín đáo, tiện cho ta làm đường cơ động binh khí kỹ thuật, phát huy hết sức mạnh của các lực lượng. Đây là một địa bàn chiến lược rất quan trọng. Hội nghị Bộ Chính trị đã nhất trí thông qua phương án của Bộ Tổng Tham mưu, chọn hướng chiến trường Tây Nguyên là hướng chiến trường chủ yếu trong cuộc tổng tiến công lón và rộng khắp năm 1975. Ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản hai năm, trong kế hoạch năm 1975, Bộ Chính trị còn dự kiến một phương án khác và một phương hướng hành động cực kỳ quan trọng là: nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.


Chọn địa bàn Tây Nguyên hoàn toàn có cơ sở khoa học và thực tiễn vì: các hệ thống giao thông chính ấy chạy qua các địa hình núi cao rừng rậm, nhiều đèo hiểm. Nếu các trục giao thông ấy bị "khoá chặt" thì các tỉnh Tây Nguyên hoàn toàn bị cô lập. Các hệ thống giao thông bị khoá chặt thì lực lượng chi viện, ứng cứu không thể ào ạt tới bằng đường bộ mà chỉ bằng đường không thì bộ binh cũng chỉ có khả năng cơ động từng trung đoàn, trong 1- 2 ngày mới di chuyển được một trung đoàn; xe tăng và pháo lớn không thể cơ động được, chỉ có loại pháo 105 và xe thiết giáp. Các thị xã ở Tây Nguyên trừ Plâyku được xây dựng vững chắc còn Kon Tum, đặc biệt Buôn Ma Thuột là yếu nên vừa với sức tấn công của chủ lực ta. Mặt khác, toàn bộ Tây Nguyên là rừng núi hiểm trở, kín đáo thuận lợi cho ta đánh vận động, hạn chế rất nhiều binh khí kỹ thuật của địch, nhất là ta có kế hoạch khoá chặt các trục giao thông chính; đồng thời lại rất thuận lợi cho ta nổi dậy và phát huy được uy lực của binh khí kỹ thuật theo cách đánh của ta.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #31 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2022, 08:19:05 am »

Từ sau trận đánh, thực hiện Chỉ thị, Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương, chiến trường Tây Nguyên (B3) đã liên tiếp tiêu diệt một loạt cứ điểm cứng của địch, những căn cứ xuất phát của địch để đánh phá vùng căn cứ giải phóng của ta; từ Bắc Chư Nghé gần Bản Đôn đến Đức Lập, Đắc Pét, Côn Rổi, Mang Cut, Iasung, Lệ Ngọc, mở rộng và hoàn chỉnh vùng giải phóng ở phía Tây Đường 14 và Bắc thị xã Kon Tum"1 (Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, 1991, tr.9). "Vùng giải phóng phía Tây, Tây Nam Plâyku và phía Tây Tây Bắc Đắc Lắc được bảo vệ vững chắc và hoàn chỉnh thêm một bước mới"1 (Lực lượng vũ trang Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb QĐND, 1970, tr.270). Thêm nữa, Đường Trường Sơn đã đi qua mặt trận Tây Nguyên và Bù Gia Mập, bảo đảm khối lượng vật chất lương thực, quân y và đặc biệt là vận chuyển tăng cường khối lượng lớn các đơn vị kỹ thuật như pháo binh, cao xạ, xăng dầu, bảo đảm cho lực lượng B3 đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Điều hết sức quan trọng là ở Tây Nguyên (B3) địch yếu, sơ hở nhưng lại rất hiểm yếu. Bọn tướng tá Mỹ - Ngụy đều công nhận: Ai làm chủ cao nguyên Tây Nguyên kẻ ấy sẽ làm chủ miền Nam Đông Dương.


Vậy là hướng tấn công chủ yếu được xác định, nhất trí còn mục tiêu chiến lược chủ yếu đột phá khẩu chủ yếu nên chọn vào đâu:

Tây Nguyên có 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai (thị xã Plâyku), Đắc Lắc (thị xã Buôn Ma Thuột), Lâm Viên và Đồng Nai Thượng, Bộ chỉ huy mặt trận Tây Nguyên được thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1964, có bí danh là Bộ chỉ huy B3 gồm các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai và Đắc Lắc. Tây Nguyên là một cao nguyên trên 1000m so với mặt biển. Đường 14 chạy suốt từ Kon Tum, qua Plâyku, Buôn Mê Thuột đến Tây Lâm Đồng - đỉnh cao nguyên. Tây Nguyên là dãy đất ba gian, đỏ quánh rất màu mỡ, hợp cho chăn nuôi lớn và trồng các loại cây ăn quả quý hiếm. Sườn Tây thoai thoải sát với biên giới bạn Campuchia nhưng sườn Đông thì cây cao, rậm, nhiều núi cao nhiều dốc, nhiều đèo hiểm. Từ đỉnh Tây Nguyên xuống đồng bằng ven biển miền Trung phải qua bậc thang, sườn "bậc thang" cách nhau khoảng 300 - 350m (đèo Măng Giang; đèo Đầu Đèo - Thượng An). Bắc Tây Nguyên, đến Bắc Gia Lai và Kon Tum địa hình hiểm trở, còn phía Nam gần Đắc Lắc địa hình đã bằng phẳng hơn.


Thời tiết cũng chung như cả nước và các vùng rừng núi khác là 2 mùa rõ rệt, nhưng ở mỗi tỉnh cũng có khác chút ít. Phía Kon Tum thường là giữa tháng 4 dương lịch đã bắt đầu mưa, đã mưa thì ngày đêm như trút nước, thường có 1- 2 ngày trong 1 tháng không có mưa, ít có 1- 2 giờ trong ngày không có mưa, mưa đến nỗi thối cỏ, lá cây. Còn ở PLâyku có chậm hơn, thường là cuối tháng 4, tuy mưa nhưng 1 tuần cũng có 1 - 2 ngày hửng nắng. Một ngày cũng có được 1- 2 giờ trời tạnh. Tỉnh Đắc Lắc chậm hơn ít nữa, thường đến tháng 5 mới mưa, mỗi tuần cũng có 1- 2 ngày tạnh, mỗi ngày cũng có được 2 - 3 giờ hửng sáng.


Sông ngòi ở 3 tỉnh Tây Nguyên thì nhiều, mùa mưa qua lại rất khó khăn ngay mùa khô cơ động binh khí kỹ thuật lớn cũng rất khó vì nhiều sông lớn rộng 300 - 800m, nước chảy xiết, hai bên bờ sông phần lớn là rừng “khoọc” tức rừng dầu, mùa khô lá rụng gần hết vì rừng tranh nên rất dễ lộ. Đặc biệt có các sông Pôcô, Sêrêpốc, sông Ba chạy lượn quanh các thị xã Kon Tum, Plâyku, Buôn Ma Thuột khoảng 10 - 15km về phía Tây. Sườn Đông Tây Nguyên sát với các tỉnh vùng tự do của ta thuộc các tỉnh Nam Quảng Nam, Quãng Ngãi, Bình Định và Phú Yên. Do đó, hoạt động của ta cũng thường từ phía Đông lên, tức là hướng chính diện, hướng vỗ mặt.


Từ 1 tháng 5 năm 1964, ta thành lập mặt trận B3 tạo thế đánh địch từ phía Tây, phía sau lưng địch là một thế rất hiểm, địch ít đối phó, nhất là trong 9 năm kháng chiến chống pháp và những năm đầu kháng chiến chống Mỹ. Có thể khái quát, gần như mất 9 năm kháng chiến chống pháp, chủ lực của ta từ đơn vị cấp tiểu đoàn, trung đoàn, chưa bao giờ bám được Đường 14, nhưng trong lúc đó thì các đội vũ trang, các trung đội độc lập đã gây được cơ sở ở Tây Đường 14 từ Kon Tum đến Đắc Lắc; ở Đắc Lắc đã có đội đến Bản Đôn, chung quanh Đức Lập. Chỉ trong Đông Xuân 1953 - 1954, trong thế trận chung cả nước, lần đầu tiên ta tập trung 2 trung đoàn chủ lực, cùng tất cả đơn vị kỹ thuật, phối hợp với lực lượng tại chỗ tấn công, giải phóng Kon Tum và toàn bộ tỉnh Kon Tum, phần lớn tỉnh Gia Lai. Nhưng không tấn công được vào thị xã Plâyku vì chung quanh rất trống trải. Ta đang phát triển xuống Bắc Buôn Ma Thuột đánh một trận phục kích lớn ở đèo Chư Rế trên Đường 14, Đông Bắc Buôn Ma Thuột khoảng 15km thì được lệnh ngừng bắn, thi hành Hiệp định Giơnevơ. Như vậy chỉ có Kon Tum bị tấn công lớn, Plâyku chỉ là những trận tập kích cỡ tiểu đoàn, trung đoàn rồi rút ra, Buôn Ma Thuột vẫn bình an vô sự.


Trong kháng chiến chống Mỹ nhờ dần dần có đường dây vận chuyển chiến lược 559, từng bước mặt trận B3 được tăng cường lực lượng, binh khí kỹ thuật, ta bắt đầu đánh với qui mô vừa và liên tục. Nhưng những năm đầu cũng chỉ mới chạm tới Kon Tum, Plâyku, Buôn Ma Thuột vẫn rất “an toàn”. Xuân Mậu Thân 1968, ta tập trung lực lượng định đánh to ở Kon Tum nhưng không được. Phía Plâyku cũng chỉ là những trận tập kích hoả lực và của những đơn vị đặc công, biệt động, phá hoại nhiều kho tàng, các căn cứ không quân và pháo của địch. Phía Buôn Ma Thuột ta hoạt động tác chiến khó hơn, có thể nói đây là lần đầu tiên từ 19 tháng 12 năm 1945 đến 1968, Buôn Ma Thuột mới bị đánh với qui mô vừa một lần, ta diệt được một số vị trí của địch, làm chủ và giữ được một số vị trí địch trong thời gian 2-3 ngày. Đến 1972, ta lại thắng lợi ở Bắc Kon Tum tại Plâycần, lực lượng chủ lực ta lập 2 kỷ lục: một số đơn vị chủ lực ta được 1 Trung đoàn pháo và 1 Tiểu đoàn xe tăng yểm hộ đã tiêu diệt một lực lượng địch tương đương 1 sư đoàn trong công sự vững chắc vàột trung đoàn chủ lực ta được 1 trung đoàn pháo và 1 ại đội xe tăng yểm trở đã diệt gọn 1 lực lượng gần 1 trung đoàn địch trong công sự vững chắc chỉ trong 1 ngày đêm. Nhưng phía Plâyku và nhất là Buôn Ma Thuột vẫn chưa bị tiến công lớn lần nào. Từ yếu tố địa hình, thời tiết, qua tác chiến của ta nên hồi mồ ma Pháp cũng như quân Mỹ - Ngụy đến sát ngày bị ta tấn công tiêu diệt vẫn hoàn toàn bị bất ngờ, chỉ chú ý đề phòng Kon Tum, Plâyku.


Mỹ tập trung giữa cao nguyên Tây Nguyên là "mái nhà” - của Nam Đông Dương. Mỹ bố trí một sư ở 3 tỉnh Tây Nguyên: thì 1 lữ ở Kon Tum - Tân Cảnh - Đường 12, 1 lữ và Bộ Tư lệnh sư đoàn ở Plâyku, còn 1 lữ làm dự bị đóng ở sân bay Hoà Bình. Cứ mỗi lần bị ta đánh mạnh lên Tân Cảnh - Kon Tum - Plâyku, lập tức Mỹ điều lữ đoàn ở Buôn Ma Thuột lên tăng cường cho Plâyku hay Kon Tum. Nay Ngụy cũng bố trí đúng như vậy, Quân khu 2 - Quân đoàn 2 Ngụy bố trí phần lớn lực lượng ở Tây Nguyên, sở chỉ huy tiền phương cũng ở Plâyku, Sở chỉ huy cơ bản ở Nha Trang. Quân khu 2 địch có 12 tỉnh: ven biển miền trung có 5 tỉnh (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận) và 4 tỉnh ở Nam Tây Nguyên có: Sư bộ binh 22 (4e: 40, 41, 42, 47) 45 tiểu đoàn bảo an, 5 tiểu đoàn pháo (146k), 1 thiết đoàn và 8 chi đội thiết giáp (117 xe), 12 phi đoàn không quân (337 máy bay: 102 máy bay chiến đấu + 184 trực thăng. Còn ở Tây Nguyên (3 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc): Sở chỉ huy Quân đoàn 2, sư 23 (3e: 44, 45, 53), 7 tiểu đoàn biệt động quân, 36 tiểu đoàn bảo an, 4 thiết đoàn xe tăng thiết giáp, 230 khẩu pháo, sư 6 hải quân; 130 máy bay chiến đấu. Cụ thể ở 3 tỉnh Tây Nguyên thì: 2 tỉnh Kon Tum, Gia Lai: 42 tiểu đoàn bộ binh, 360 xe tăng thiết giáp, 230 khẩu pháo, còn ở Buôn Ma Thuột chỉ có 4 tiểu đoàn bộ binh, 12 xe tăng thiết giáp, 16 khẩu pháo các loại1 (Chiến dịch tấn công Tây nguyên, 1975, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, 1991, tr.15 và 34). Qua bố trí lực lượng địch thể hiện rõ là địch tập trung lực lượng đối phó ở Kon Tum và Plâyku.


Căn cứ địa hình và đánh giá tần suất hoạt động tác chiến của ta trong hai cuộc kháng chiến, đến sát tháng 3 năm 1975 nên địch đều tập trung đối phó với ta ở Kon Tum, Plâyku là chính. Địch cho là ta ít có khả năng tiến công lớn vào Buôn Ma Thuột vì ở xa và sâu nên chủ quan, thực trạng vẫn là khu vực yếu nhất so với Kon Tum và Plâyku.


Tóm lại: Cơ sở cội nguồn để hình thành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy - Đại thắng mùa xuân 1975 và tạo lên những bước ngoặt chiến lược hoàn toàn đúng qui luật, khách quan, lịch sử, cụ thể và toàn diện. Xuất phát từ đánh giá chính xác các yếu tố: địch, ta, địa hình, thời tiết, thế thời với tư duy rất nhạy bén sáng tạo chủ động của Đảng ta trong chỉ đạo chiến tranh, chỉ đạo trận quyết chiến chiến lược để kết thúc chiến tranh. Đặc biệt là tạo nắm và tận dụng được thời cơ chiến lược hoàn toàn đúng, có lợi nhất. Xuất phát từ vị trí Buôn Ma Thuột có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng, giải phóng được Buôn Ma Thuột thì đập võ được hệ thống phòng ngự của địch ở Tây Nguyên, tạo ra một thế trận hiểm và cơ động có thể làm thay đổi nhanh cục diện chiến trường. Vấn đề "chọn Tây Nguyên làm hướng tấn công chủ yếu và chọn Buôn Ma Thuột làm điểm đột phá chủ yếu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy là một đề xuất "vô cùng đúng đắn, sáng suốt"2 (Lực lượng vũ trang Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb QĐND, 1980, tr.284).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #32 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2022, 07:36:04 am »

II. Bước ngoặt mở đầu - “Chiến dịch 275”

Chiến dịch mang ý nghĩa đột phá chiến lược đầu tiên trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy là chiến dịch Tây Nguyên, mục tiêu đột phá mở đầu là Buôn Ma Thuột. Chiến dịch còn được mang mật danh “Chiến dịch 275”. Để thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, công tác tổ chức và chuẩn bị kế hoạch chiến dịch đã trải qua ba lần điều chỉnh thay đổi. Điều này cho thấy tình hình phát triển rất khẩn trương mau lẹ, sự chuyển hoá thế và lực giữa ta và địch luôn có những sự vận động. Vì vậy, việc tổ chức chuẩn bị của ta cũng gặp nhiều khó khăn phức tạp. Cơ quan Tham mưu chiến lược phải chỉ đạo hàng loạt các hoạt động tác chiến của các binh đoàn, liên binh đoàn cơ động, các hướng chiến trường cùng phối hợp hành động. Đây cũng chính là những biện pháp cụ thể hữu hiệu nhất trên chiến trường.


Tổ chức chuẩn bị chiến dịch

Một là: Mở rộng và giữ vững vùng giải phóng, tổ chức chiến trường, chuẩn bị đường cơ động và chuẩn bị hậu cần

Từ tháng 9 năm 1973 trên hướng Plâyku, Sư đoàn bộ binh 320 đã thực hành tiến công căn cứ Chư Nghé. Tháng 4 năm 1974, Sư đoàn 320 tiêu diệt căn cứ Lệ Ngọc, điểm cao 711 và 601. Tháng 5 năm 1974, Trung đoàn 25 đánh chiếm Iaxúp. Những hoạt động tác chiến này đã mở rộng vùng Tây - Tây Nam Plâyku, Tây Bắc Đắc Lắc, dồn ép quân địch vào các thị xã, thị trấn. Bước đầu đánh bại ý đồ lấn chiếm của địch.


Tháng 3 năm 1974 trên hướng Kon Tum, Sư đoàn bộ binh 10 tiêu diệt địch ở điểm cao Kon Rốc, diệt Tiểu đoàn 95 và 2 đại đội địch. Sau đó, đánh chiếm quận lỵ Đắc Pét và quận lỵ Măng Đen, Măng Bút... Giải phóng toàn bộ vùng Bắc thị xã Kon Tum, bao vây ép địch sát thị xã Kon Tum.


Trước yêu cầu phát triển của nhiệm vụ mới, nhiệm vụ mang tính chiến lược quyết định trong tác chiến hiệp đồng binh chủng. Các đơn vị từ bộ binh đến các binh chủng kỹ thuật, các ngành được kiện toàn về tổ chức, tăng cường vê trang bị, được huấn luyện bổ sung về trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng. Các sư đoàn bộ binh được hoàn thiện các mặt. Lực lượng pháo binh được tổ chức thành 2 trung đoàn hoàn chỉnh, lực lượng phòng không cũng được tổ chức lại thành 2 trung đoàn. Thành lập Trung đoàn xe tăng, Trung đoàn đặc công và Trung đoàn thông tin của mặt trận. Đây là những yếu tổ khẳng định sức chiến đấu của các đơn vị được tăng lên, sức mạnh khi tác chiến hiệp đồng binh chủng hợp thành, tác chiến tập trung qui mô lớn cũng được khẳng định một cách chắc chắn.


Để bổ sung trình độ tác chiến cho các lực lượng, từ cấp chiến dịch trở xuống đã tổ chức huấn luyện cho cán bộ từ cấp trung đoàn trở lên về lý luận nghệ thuật chiến dịch Việt Nam và chiến dịch tiến công, lý luận về các loại hình chiến dịch. Nghiên cứu, học tập lý luận chiến thuật tiến công bằng đánh công sự vững chắc, đánh vận động, đánh trong thành phố, thị xã. Nghiên cứu Chiến dịch Đường số 9 - Nam Lào, các chiến dịch tiến công năm 1972 và cả những kinh nghiệm của chiến dịch tiến công Đường 14 - Phước Long. Cấp sư đoàn tổ chức tập huấn cho cán bộ đại đội, tiểu đoàn theo các hình thức chiến thuật đã được xác định, theo hướng kế hoạch sử dụng. Các đơn vị tự tổ chức huấn luyện cho bộ đội tại đơn vị mình một cách chu đáo. Đơn vị huấn luyện nhiều nhất là 2 tháng, đơn vị huấn luyện ít nhất cũng được 15 ngày. Kết quả huấn luyện đã nâng cao trình độ của bộ đội Tây Nguyên lên một bước mới, có khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng qui mô vừa và lớn; có khả năng tiêu diệt địch cả trong công sự vững chắc và trong vận động tiến công; có khả năng tác chiến tiến công và phòng ngự từng khu vực.


Công tác giáo dục chính trị và tư tương tập trung vào quán triệt Nghị quyết Trung ương 21. Triển khai nhiều cuộc vận động thi đua sát thúc, tạo nên khí thế sôi nổi với quyết tâm cao, kỷ luật nghiêm. Có thể khẳng định, trình độ mọi mặt, đặc biệt là trình độ tác chiến của bộ đội Tây Nguyên trước lúc bước vào chiến dịch đã hơn hắn trình độ tác chiến của quân chủ lực Ngụy ở Quân khu 2.


Để bảo đảm cho lực lượng chủ lực, có trang thiết bị, vũ khí lớn cơ động linh hoạt, nhanh chóng đáp ứng yêu cầu tác chiến qui mô lớn từ Bắc Tây Nguyên xuống Nam Tây Nguyên, lực lượng tại chỗ, các đơn vị trên địa bàn đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng bảo đảm của Đoàn 559 hoàn chỉnh tuyến Đường chiến lược Hồ Chí Minh trên khu vực chạy qua Tây Nguyên. Trên tuyến Nam Tây Nguyên, Bắc Đức Lập đã làm các Đường 6B, N1, N5, 2B, 14C, 22, 23, 128. Từ tháng 10 năm 1974 đã bắc 3 cầu Pôcô Hạ; Diên Bình; Đắc Mót. Thực hành bắc cầu pháo lớn có trọng tải trên 50 tấn qua sông Pôcô và sông Sêrêpốc, bảo đảm tuyến cơ động lực lượng và vận tải chiến lược thông suốt. Ngày 3 tháng 01 năm 1975 chiến dịch bắt đầu khôi phục Đường 50 và Đường 48 ở phía Bắc thị xã Buôn Ma Thuột. Đến tháng 2 mở thêm tuyến Đường mới 503, 500, 50B dài 61km; Đường 51, 57C, 57B dài 75km. Để bảo đảm bí mật chung cho toàn chiến dịch, Đường 20C nằm ở phía Tây sông Sêrêpốc chỉ đánh dấu sẵn và cưa một phần những cây lớn trên đường. Hai Bến phà 3A, 3B vượt sông Sêrêpốc cũng được đánh dấu, chuẩn bị sẵn lực lượng phương tiện, phương án, khi thực hành nổ súng mới thực sự thông tuyến. Tận dụng các đường lâm nghiệp và làm mới có tổng chiều dài 560km. Với hệ thống đường đó, đã bảo đảm cho các lực lượng phương tiện tham gia chiến dịch cơ động rất thuận tiện. Đây là yếu tố góp phần rất lớn, rất quan trọng cho bộ đội cơ động triển khai, góp phần vào hắng lợi của chiến dịch.


Các tướng lĩnh của chính quyền Sài Gòn luôn bị ám ảnh bởi sự phức tạp, chia cắt của địa hình xung quanh Buôn Ma Thuột nên cho rằng ta không có khả năng đánh lớn vào thị xã Buôn Ma Thuột vì không có đường cơ động lực lượng, vận tải khối lượng vật chất cấp chiến lược đến Buôn Ma Thuột. Vì vậy, gần như trong tư duy của chúng đã loại trừ khả năng Buôn Ma Thuột bị tiến công ra khỏi kế hoạch tác chiến năm 1975 trên địa bàn Quân khu 2. Đây là một sai lầm chiến lược không thể đối phó kịp của địch, một sai lầm góp phần không nhỏ dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng của Quân khu 2 - Quân đoàn 2 Ngụy cũng như toàn bộ địa bàn Tây Nguyên.


Thực tiễn của sự bất ngờ này ta đã vận chuyển 14.000 tấn hàng vào các kho dự trữ ở Đắc Lắc, Kon Tum, Gia Lai. Trong đó đầu tháng 1 Đoàn 559 đã vận chuyển vượt kế hoạch 10% năm 1975. Đến tháng 3 năm 1975 hậu cần chiến dịch đã chuyển giao cho các đơn vị đạt 78%, lương thực thực phẩm đạt 114%, vũ khí đạt 83%, xăng dầu đạt 23%. Hậu cần chiến dịch căn cứ ở khu vực suối Đắc Sam, phân cụm hậu cần kỹ thuật ở Tây Eahơ Leo, bảo đảm phục vụ trên cả 2 hướng của chiến dịch. Đặc biệt là ngoài số đạn pháo cần có cho trận đánh Buôn Ma Thuột ta còn chuẩn bị được một số lượng lớn về số đạn pháo chiến lợi phẩm.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #33 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2022, 07:36:45 am »

Hai là: Chọn hướng, mục tiêu tiến công chiến lược

Từ phần tích những yếu tố khách quan khoa học ở tầm chiến lược lớn, có ý nghĩa quyết định, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã chọn thị xã Buôn Ma Thuột làm mục tiêu đánh trận mở đầu và cũng là trận then chốt quyết định của chiến dịch Tây Nguyên.


So sánh hình thái chiến trường, giữa Kon Tum với Buôn Ma Thuột, thị xã Kon Tum là một khu vực phòng ngự của địch nằm nhô ra trên đoạn đầu của tuyến phòng thủ chiến lược ở địa bàn Tây Nguyên. Sau khi Hiệp định Pari được ký, đối diện với thị xã là vùng giải phóng của ta, có lực lượng chủ lực bố trí bám sát. Địch luôn cho rằng ta sẽ đánh ở phía Bắc Tây Nguyên. Vì vậy, địch đã tập trung lực lượng để giữ Kon Tum và Plâyku. Lực lượng phòng ngự khu vực thị xã Kon Tum luôn được tăng cường về mặt bố phòng và có lực lượng mạnh hơn Buôn Ma Thuột.


Nếu ta chọn thị xã Kon Tum làm trận then chốt mở đầu chiến dịch có ý nghĩa chiến lược xuân 1975 thì ta phải trực tiếp đột phá vào nơi địch bố phòng cẩn mật, có lực lượng phòng ngự mạnh, vững chắc có chuẩn bị đối phó, tính bất ngờ không cao. Chọn Kon Tum có vị trí nhô ra "địa đầu" trên vùng địa bàn tác chiến, không phải là khu vực có thể cơ động, chia cắt. Đồng thời sau khi đánh chiếm Kon Tum xong lực lượng ta không có thể phát triển tiến công đi các hướng khác, ít có sự liên kết về chiến dịch chiến lược với toàn bộ chiến trường, không phù hợp với ý định tác chiến chiến lược của ta. Mặc dù chọn Kon Tum chúng ta sẽ có nhiều thuận lợi cho công tác chuẩn bị tiến công, nhưng chọn làm mục tiêu mở đầu, then chốt mở đầu thì không thích hợp và không đạt được yếu tố bất ngờ, hiểm, không tận dụng được thế để phát triển, không tạo được thế chia cắt ở tầm chiến lược. Sau khi đánh chiếm Kon Tum lại phải tiếp tục tổ chức đột phá chiến dịch, đột phá vào tuyến phòng ngự chính của đối phương là Plâyku. Khi mất Kon Tum địch sẽ có điều kiện phản kích, phản đột kích rất quyết liệt, địch sẽ có thời cơ củng cố, tăng cường cố thủ Plâyku, tình huống diễn ra rất phức tạp cho ta. Chiến dịch sẽ dễ lâm vào tình huống bế tắc, không phát triển được, ta phải liên tục tổ chức đột phá chiến dịch. Như vậy, ta khó có điều kiện để phá vỡ thế trận của địch, khó làm rung chuyển được chiến trường Tây Nguyên, không tạo được đột biến lớn về chiến dịch, chiến lược.


So sánh với Kon Tum thì thị xã Buôn Ma Thuột nằm sâu trong vùng địch kiểm soát, là trung tâm kinh tế, chính trị văn hoá của Tây Nguyên. Đây cũng là nơi tập trung nhiều bọn đầu sỏ phản động ở địa bàn. Xét về yếu tố quân sự thì Buôn Ma Thuột lại có vị trí cơ động hơn Kon Tum. Thị xã đứng ở ngay ngã ba Đường chiến lược 21 nối liền Nha Trang với Đường 14, phía Bắc đi Cheo Reo, Plâyku, phía Nam đi Gia Nghĩa, xuôi về miền Đông Nam Bộ. Do vị trí địa lý nằm sâu trong vùng địch kiểm soát của địch nên lực lượng quân sự chiếm đóng không trực tiếp đối mặt với chủ lực ta như ở Kon Tum. Mặc dù có hậu cứ của Sư đoàn bộ binh 23 và một số đơn vị khác nhưng lực lượng chiếm đóng cũng ít hơn Kon Tum, đặc biệt là bố phòng cũng không chặt chẽ, tư tưởng chủ quan không bị tiến công đang bao trùm trong binh lính và dân chúng.


Chọn Nam Tây Nguyên làm địa bàn tác chiến chiến lược, Buôn Ma Thuột làm mục tiêu tiến công mở đầu chiến dịch ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong công tác nắm địch, địa hình, vận chuyển, tập kết, cơ động lực lượng... Triển khai mọi công tác chuẩn bị phải tiến hành rất công phu, tuyệt đối giữ bí mật, chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp mới giữ được bí mật bất ngờ, có như vậy nghi binh đánh lừa địch mới thành công.


Xét về tổng thể các yếu tố, lịch sử, truyền thống và thực trạng để tiến hành lựa chọn địa bàn mở chiến dịch, chọn mục tiêu tiến công mở đầu chiến dịch có ý nghĩa chiến lược. Bộ thống soái, cơ quan đầu não chiến lược của ta lựa chọn Buôn Ma Thuột làm trận đánh then chốt, trận then chốt mở đầu là rất chính xác, có tính thuyết phục và tính khoa học rất cao. Đây là một đòn đánh hiểm, nhằm vào nơi địch sơ hở, điểm yếu của địch; hiểm, sơ hở, yếu ở tầm chiến lược.


Đánh chiếm được Buôn Ma Thuột ta sẽ tạo được đà, tạo được bàn đạp, tạo được thế và tạo được lực nhanh chóng phát triển xuống miền Trung, duyên hải ven biển. Khi thực hiện được chia cắt chiến lược đến sát ven biển miền Trung hình thành thế trận chia cắt toàn bộ quân địch ở Quân khu 1 - Quân đoàn 1 của địch ở Huế và Đà Nẵng. Đồng thời có thể phát triển xuống miền Đông Nam Bộ. Khi đã tạo được những điều đó, đồng nghĩa với việc ta làm chuyển biến tình thế chiến lược chủ động có lợi cho ta, mở ra thế chia cắt làm đôi thế trận phòng ngự chiến lược trên toàn bộ chiến trường miền Nam của địch, cô lập hoàn toàn lực lượng còn lại ở Quân khu 2 - Quân đoàn 2 địch. Trực tiếp uy hiếp thế trận ở Quân khu 3 - Quân đoàn 3 của địch.


Chọn tiến công thị xã Buôn Ma Thuột còn có một giá trị khác về nghệ thuật chiến dịch là thế trận được cài sẵn để "trói địch lại" mà đánh. Theo kế hoạch đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, trước khi thực hành nổ súng tiến công Buôn Ma Thuột ta đã chiếm giữ, chia cắt Đường 19, đánh chiếm Cẩm Ga - Thuần Mẫn trên Đường 14 đi Plâyku ở Bắc Buôn Ma Thuột. Đồng thời đánh chiếm Đức Lập - Gia Nghĩa - Núi Lửa. Mọi đường bộ đến Buôn Ma Thuột đã hoàn toàn bị cắt đứt. Muốn tiếp viện, phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột duy nhất chỉ còn đường không. Phản kích bằng đường không cũng không thể có tức thì, lực lượng phản kích cũng không nhiều và khó có thể có xe tăng pháo binh xe kéo đổ bộ cùng bộ binh để cứu vãn Buôn Ma Thuột được. Đường không cũng không thể đổ quân xuống phía Nam, phía Bắc hay phía Tây thị xã được mà duy nhất cũng chỉ còn đổ xuống phía Đông thị xã. Đây là nơi ta đã "đón lõng" sẵn trong kế hoạch bằng một lực lượng giỏi đánh cơ động. Tất cả những chi tiết, tình huống trên đều được dự kiến tương đối chuẩn xác, phù hợp với thực tế có thể xảy ra và được chuẩn bị các phương án trong thế trận hoàn toàn chủ động thuộc về ta.


Chọn mục tiêu mở đầu, then chốt mở đầu và phương án tiến công Buôn Ma Thuột là một tư duy sáng tạo, thực tiễn, có tầm nhìn phát triển chiến lược của Bộ thống soái. Đã trực tiếp tạo ra một biến động lớn trên chiến trường, thể hiện tư tưởng tích cực tiến công của một quân đội cách mạng. Đây là kết quả của quá trình điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng, xem xét mọi vấn đề công phu, khoa học, quyết tâm cao và thể hiện trình độ nghệ thuật chiến dịch phát triển cao.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #34 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2022, 07:41:20 am »

Ba là: Chuẩn bị phương án tác chiến chiến dịch, trận then chốt mở đầu chiến dịch

Hướng tiến công chiến lược đã được xác định - chiến trường Tây Nguyên, mục tiêu tiến công - trận then chốt mở đầu Buôn Ma Thuột đã được ấn định. Lập thế, cài thế, chia cắt chốt giữ... trên toàn mặt trận đã xong. Mưu -  kế - thế - trận đã được tính toán tỷ mỷ, chính xác và khoa học. Dự kiến những phương án và kế hoạch tác chiến như thế nào thực chất không phải đến khi hoàn thành tạo lập thế trận mới tiến hành. Bộ Tổng Tham mưu và cơ quan Tham mưu Mặt trận, chiến dịch đã gần như tiến hành song song, đồng thời với tạo lập thế trận trên toàn bộ chiến trường.


Lực lượng tham gia chiến dịch bao gồm:

- Trên hướng chủ yếu Nam Tây Nguyên:

+ 3 Sư đoàn bộ binh (10, 320, 316)

+ 3 Trung đoàn bộ binh (25, 95B, 271)

+ Trung đoàn đặc công 198, 2 Tiểu đoàn đặc công (14, 27) + 2 Trung đoàn pháo binh (40, 675)

+ 3 Trung đoàn pháo phòng không (232, 234, 593)

+ Trung đoàn xe tăng thiết giáp 273 + 2 Trung đoàn công binh (7, 575)

+ Trung đoàn thông tin 29 + Trung đoàn ôtô vận tải + Lực lượng vũ trang tỉnh Đắc Lắc


- Trên hướng Bắc Tây Nguyên và Đường số 19 + Sư đoàn bộ binh 968 (-1e)

+ Sư đoàn bộ binh 3/QK5 (-1e)

+ Trung đoàn bộ binh 95A.

+ Lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum và Gia Lai


- Tính riêng lực lượng pháo binh tham gia chiến dịch, ta đã tập trung tới 6 trung đoàn, 3 tiểu đoàn độc lập với 478 khẩu pháo, súng cối các loại. Trong đó có 129 khẩu pháo xe kéo và hoả tiễn, 349 khẩu pháo mang vác với 88.000 viên đạn pháo, có 32.000 viên đạn pháo xe kéo, chi viện cho 5 sư đoàn bộ binh và các lực lượng binh chủng hợp thành tiến công trên các hướng1 (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bộ Tư lệnh Pháo binh, Lịch sử nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến dịch (1945 - 1975), Nxb QĐND, H. 1996), trong đó:


+ Hướng tiến công chủ yếu Nam Tây Nguyên bố trí 5 trung đoàn, 2 tiểu đoàn, gồm: 87 khẩu pháo xe kéo, 213 khẩu pháo súng cối mang vác.

+ Hướng phối hợp, Plâyku, Kon Tum, Đường 19 bố trí 1 trung đoàn, 1 tiểu đoàn, trong đó có 42 khẩu pháo xe kéo.


Tiến công Buôn Ma Thuột - trận then chốt mở đầu chiến dịch, có qui mô lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Trận đánh, chiến dịch có ý nghĩa đột phá, mở đầu cho cuộc tiến công chiến lược giải phóng miền Nam, kết thúc chiến tranh. Vì vậy, kế hoạch và các phương án được tập trung trí tuệ chuẩn bị rất kỹ, rất công phu. Tuy nhiên dù có công phu, khoa học, sáng tạo gì thì cũng phải xuất phát từ nhiệm vụ chiến dịch căn cứ vào tình hình ta, địch, điều kiện chiến trường. Đặc biệt là căn cứ vào thủ đoạn phòng ngự và những động thái biện pháp phòng ngự của địch trên toàn bộ chiến trường Tây Nguyên. Trước những thực trạng đó, để bảo đảm chắc thắng trận then chốt mở đầu (tiến công Buôn Ma Thuột) có ý nghĩa rất lớn này, ta đã đề ra hai tình huống có thể xảy ra khi mở đầu chiến dịch Tây Nguyên.


Tình huống 1: Đánh địch chưa có phòng ngự dự phòng

Ta tổ chức tiến hành nghi binh tạo thế tốt, giữ được bí mật ý định chiến dịch, lực lượng chiến dịch đã triển khai xong, địch vẫn chưa tăng cường lực lượng, biện pháp để phòng ngự dự phòng ta tiến công. Lực lượng ở thị xã Buôn Ma Thuột vẫn chỉ có 1 trung đoàn hoặc tăng thêm một trung đoàn nữa, 2 chi đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo binh, các căn cứ, hậu cứ của: Sư đoàn bộ binh 23, Trung đoàn bộ binh 53, Trung đoàn 8 thiết giáp, Trung đoàn 232 pháo binh, sân bay, các đơn vị địa phương: 2 đại đội bảo an, 9 trung đội dân vệ, 800 cảnh sát, các lực lượng bảo an, dân vệ quận lỵ chi khu, ấp chiến lược, Trung đoàn 23 cùng lính bảo vệ sân bay Hoà Bình. Tổng cộng khoảng 8.400 tên. Mọi hoạt động có thể có biến đổi nhưng vẫn giữ nguyên trạng thái phòng ngự bình thường. Trên các trục Đường 19, 21, 14 ta vẫn chốt giữ chia cắt được.


Tình huống 2: Đánh địch đã có phòng ngự dự phòng

Ta tổ chức tiến hành nghi binh tạo thế kém hiệu quả, địch phát hiện được ý định chuẩn bị tiến công lớn của ta ở Nam Tây Nguyên, chúng có thể tăng cường lực lượng, bố trí lại thế trận trên từng khu vực cũng như toàn Quân khu 2, tăng cường các biện pháp, thủ đoạn phòng ngự dự phòng ở Buôn Ma Thuột, Đức Lập, Gia Nghĩa từ 3 - 5 trung đoàn bộ binh, 1 - 2 thiết đoàn xe tăng thiết giáp. Đối với khu vực thị xã Buôn Ma Thuột có thể tăng thêm 1 - 2 trung đoàn và trong quá trình tác chiến có thể còn tăng thêm 1 - 2 trung đoàn bộ binh nữa.


Từ thực trạng trên chiến trường và những tình huống cụ thể đã được xác định, chiến dịch đã đề ra cách đánh chung như sau:

Tổ chức bí mật cơ động lực lượng, hoạt động nghi binh tạo thế, cài thế, thu hút và kìm giữ lực lượng chủ lực của địch trên hướng khác. Tập trung lực lượng ưu thế, giáng đòn bất ngờ vào mục tiêu chủ yếu mở đầu chiến dịch. Thực hiện bao vây cô lập từng cụm quân địch, kết hợp đột phá với luồn sâu, thọc sâu, kết hợp trong ngoài cùng đánh, kết hợp đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ tạo điều kiện thực hiện các trận then chốt để thúc đẩy chiến dịch. Lấy đột phá các cụm đột kích làm chính, phá vỡ từng cụm phòng ngự địch đi đôi với đánh bại địch cơ động phản kích, lần lượt tiêu diệt từng trung đoàn, sư đoàn địch, tiến tới tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của cả 3 thứ quân trên địa bàn chiến dịch.


Trên cơ sở cách đánh chung của chiến dịch, nội dung cơ bản cụ thể của cách đánh thể hiện:

- Tích cực hoạt động bằng các hành động tác chiến tiến công nghi binh để thu hút giam chân lực lượng chủ lực địch ở Plâyku, Kon Tum, tiến công đánh chiếm Thuần Mẫn, Cẩm Ga, cắt đứt Đường 14 chia cắt Nam Tây Nguyên với Bắc Tây Nguyên, cô lập Buôn Ma Thuột.    

- Chiếm giữ, chốt chặn, chia cắt Đường 19, 21, chia cắt Tây Nguyên với đồng bằng ven biển, ngăn chặn, tiêu diệt lực lựợng dự bị của địch từ đồng bằng ven biển lên Tây Nguyên và tiến công tiêu diệt quân địch rút chạy từ Tây Nguyên về đồng bằng.

- Đánh chiếm Đức Lập, Gia Nghĩa, Núi Lửa cô lập địch ở Buôn Ma Thuột, tạo điều kiện cho trận tiến công trực tiếp vào Buôn Ma Thuột.

- Tập trung lực lượng chủ yếu của chiến dịch thực hành đột phá mãnh liệt, đột phá liên tục, giáng đòn quyết định tiêu diệt quân địch ở thị xã, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột.

- Sẵn sàng đánh bại phản đột kích của địch có thể bằng đổ bộ đường không, giữ vững thị xã Buôn Ma Thuột.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #35 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2022, 07:43:04 am »

Từ nhiệm vụ, ý định, cách đánh chung, nội dung cơ bản của cách đánh cụ thể của chiến dịch cho thấy: Chiến dịch Tây Nguyên - chiến dịch mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 - chiến dịch mang ý nghĩa mở đầu chiến lược được tổ chức trên 3 hướng:

- Hướng chủ yếu, hướng Nam, trận then chốt mở đầu đồng thời là mục tiêu chủ yếu của chiến dịch là Buôn Ma Thuột.

Trên hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch, sử dụng 1 cụm lực lượng binh chủng hợp thành gồm Sư đoàn bộ binh 316 và một số trung đoàn bộ binh, đặc công, pháo binh xe tăng và các binh chủng khác. Riêng lực lượng tiến công Đức Lập - Quảng Đức sử dụng Sư đoàn bộ binh 10 (thiếu Trung đoàn 24), Trung đoàn -271, Tiểu đoàn pháo binh thuộc Trung đoàn pháo binh 40 và Tiểu đoàn đặc công 14. Hoạt động tác chiến chia cắt trên Đường 21 từ Chư Cúc đến Khánh Dương, sử dụng Trung đoàn bộ binh 25.


- Hướng thứ yếu, tiến công Đường 14, Thuần Mẫn, Phú Bổn sử dụng Sư đoàn bộ binh 320.

- Hướng nghi binh, hướng Bắc Tây Nguyên, khu vực thị xã Plâyku và thị xã Kon Tum sử dụng Sư đoàn 968, lực lượng vũ trang địa phương của Gia Lai, Kon Tum. Tác chiến chia cắt trên Đường 19 sử dụng Sư đoàn 3 (thiếu 1 trung đoàn) thuộc Quân khu 5, Trung đoàn 95A.


Trung tuần tháng 2, trong quá trình chuẩn bị chiến dịch địch cũng manh nha phát hiện Trung đoàn bộ binh 25 của ta cơ động xuống Đường 21. Với triệu chứng đó địch cũng phán đoán ta có thể chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuột, nhưng đánh như thế nào? Đánh nhằm mục đích gì? Lực lượng tiến công là bao nhiêu, ở đâu, bao giờ đánh?... vẫn đang là bài toán hóc búa mà tướng Phú cùng Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Quân đoàn 2 không bao giờ tự giải đáp được. Như người đang đi mò trong đêm bị giật mình, tướng Phú điều ngay Trung đoàn bộ binh 53 (thiếu) ra lùng sục ở Bắc Buôn Ma Thuột trên khu vực Quảng Nhiêu - Mê Van để thăm dò lực lượng ta, để tìm Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320. Nhưng Sư đoàn 10, Sư đoàn 320 mà Phú sai quân đi tìm vẫn biệt vô âm tín. Trong thời điểm cân não giữa hai bên một tên đào ngũ đã khai với địch: "Sư đoàn 10 đang chuẩn bị đánh Đức Lập, Sư đoàn 320 đang ở Ea Hơ Leo chuẩn bị đánh Thuần Mẫn, một lực lượng khác đang chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuột"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Nguyên xuân 1975, H.1991, tr.39, 41).


Những nguồn tin thật giả trên đã làm tướng Phú và bọn Ngụy quyền Sài Gòn rất hoang mang, đã có lúc chúng định điều Sư đoàn bộ binh 23 về Buôn Ma Thuột! Trong khi đó tình báo Mỹ lại khẳng định Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 vẫn đang ở chỗ cũ (Bắc Tây Nguyên). Đến cuối tháng 2 năm 1975 địch vẫn đang lúng túng chưa phát hiện được ý định chiến dịch của ta. Bộ Tư lệnh đã chỉ đạo cho Sư đoàn 968 và các lực lượng khác tăng cường hoạt động nghi binh trên hướng Bắc Tây Nguyên để kéo Trung đoàn bộ binh 45 của địch về Plâyku, kìm giữ Trung đoàn 44 và các lực lượng khác ở lại Bắc Tây Nguyên. Khi địch điều Trung đoàn 45 xuống Ea Hơ Leo ta đã phát đi bức điện giả gửi cho các đơn vị với nội dung: "Địch đã bị mắc lừa, cho rằng ta sẽ đánh Buôn Ma Thuột nên đã điều quân xuống phía Nam"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Nguyên xuân 1975, H.1991, tr.39, 41). Khi nhận được tin điện trên địch càng hoang mang, không biết tin lời khai của tên đào ngũ hay tin vào nguồn tin kỹ thuật vô tuyến do chúng thu được.


Trên các hướng của toàn mặt trận, từ các đớn vị lẻ đến các cụm lực lượng đã tích cực chuẩn bị chiến dịch, cơ động điều chỉnh đội hình áp sát các mục tiêu tiến công chuẩn bị trực tiếp. Các đơn vị, cụm lực lượng trên các hướng tiếp tục thực hiện mưu kế của ta. Cuộc đọ sức âm thầm giữa ta và địch trong suốt thời gian chuẩn bị chiến dịch. Đến cuối tháng 2 địch vẫn chưa phán đoán được ý định chiến dịch của ta là tập trung lực lượng tiến công Buôn Ma Thuột. Quyền chủ động chuẩn bị chiến dịch vẫn hoàn toàn thuộc về ta trên tất cả các hướng. Về vấn đề này Eran Seppơ - chuyên viên Tình báo chiến lược CIA ở Sài Gòn - DAO cơ quan Tình báo Mỹ có viết:

"Tuy có chú ý đến dấu hiệu về sự chuyển quân không bình thường của Bắc Việt ở phía Tây và Bắc Buôn Ma Thuột, nhưng tôi không dự kiến một cuộc tiến công trực tiếp vào thành phố, mà chỉ dự kiến cộng sản sẽ tìm cách cắt đứt đường sá trong khu vực và cô lập thành phố. Tuy nhiên, không phải chỉ mình tôi nghĩ như vậy, mà cả DAO và các bạn đồng nghiệp CIA của tôi ở Mỹ cũng đều tập trung vào Plâyku - Kon Tum mà không nói gì đến Buôn Ma Thuột"2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Nguyên xuân 1975, H.1991, tr.39, 44).


Ngày 6 tháng 3, Bộ Tổng Tham mưu ngụy và CIA vẫn khẳng định: hướng đối phó chính vẫn là Plâyku và Kon Tum. Chúng cho rằng hành động cắt Đường 19, 14, 21 chỉ là hoạt động phối hợp của ta.

Ngày 7 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch hạ lệrh cho Sư đoàn 320 sử dụng một lực lượng đánh chiếm Điểm cao Chư Djrê ở Nam Thuần Mẫn trên Đường 14. Sáu giờ sáng ngày 8 tháng 3, Trung đoàn 48 được tăng cường 3 khẩu lựu pháo 105mm nổ súng tiến công Thuần Mẫn. Thuần Mẫn là một quận lỵ nằm trên ngã ba Đường 14 và tỉnh lộ 7B đi Cheo Reo, Phú Bổn. Thuần Mẫn cách Buôn Ma Thuột 80km về phía Bắc. Quận lỵ này do một tiểu đoàn bảo an chiếm giữ. Sau 80 phút chiến đấu, Trung đoàn 48 đã diệt gần hết quân địch, chiếm giữ quận lỵ, bắt 121 tên, thu 200 súng, có 2 khẩu lựu pháo 105mm và 1 súng cối 106,7mm. Do ta không vây chặt nên địch đã chạy thoát một số, trong đó có tên quận trưởng. Như vậy, đến ngày 8 tháng 3, Sư đoàn 320 đã cắt cái "nút" chia cắt chiến dịch cuối cùng, Buôn Ma Thuột đã hoàn toàn bị cô lập với tất cả các nơi trên địa bàn Tây Nguyên, Đường 14 đã chính thức bị chia cắt hoàn toàn.


Trước những diễn biến ngày càng trở lên phức tạp cấp bách, Buôn Ma Thuột bị cô lập, với sự nhận định sai lầm của Tình báo và Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Ngày 7 tháng 3 tướng Phạm Văn Phú cử Vũ Thế Quang làm "Tư lệnh lãnh thổ Nam Cao Nguyên Trung phần". Vừa chạy thoát trong trận phục kích của ta khi từ Plâyku về Buôn Ma Thuột. Về đến nơi, Quang ra lệnh báo động ở Buôn Ma Thuột và Đức Lập. Đồng thời ra lệnh cho Trung đoàn 53 (thiếu) bỏ cuộc hành quân quay trở về Buôn Ma Thuột. Chiều ngày 8 và 9 tháng 3 địch đã dùng máy bay lên thẳng chở Liên đoàn biệt động quân 21 từ Bắc Tây Nguyên đổ xuống sân bay Hoà Bình và đưa Liên đoàn này lên Buôn Hồ cách Nam Thuần Mẫn 30km nhằm bảo vệ Buôn Ma Thuột. Như vậy, lực lượng ở Buôn Ma Thuột đến thời điểm này đã tăng thêm 1 trung đoàn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #36 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2022, 07:45:00 am »

Để giảm áp lực, giảm lực lượng địch tăng cường về Buôn Ma Thuột, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã ra lệnh cho Tiểu đoàn pháo 33 đang bám trụ ở Đông Bắc Plâyku bắn phá mãnh liệt vào sân bay Cù Hanh, phá huỷ đài không lưu và đường băng, sân bay bị gián đoạn, máy bay không cất, hạ cánh được.


Chiều ngày 8 tháng 3, sau khi kiểm tra lại tình hình trên toàn mặt trận, những yếu tố cơ bản trong công tác chuẩn bị chiến dịch đã hoàn tất. Sư đoàn bộ binh 10 đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị tiến công. Cùng thời điểm này các lực lượng có nhiệm vụ tiến công Buôn Ma Thuột cũng đã sẵn sàng ở tư thế chuyển sang tiến công theo kế hoạch chung của chiến dịch đã xác định. Bộ Tư lệnh chiến dịch đã hạ quyết tâm: "Tiến công Đức Lập".


Đức Lập là một quận lỵ nằm sát với biên giới Việt Nam - Campuchia, Tây Nam thị xã Buôn Ma Thuột khoảng 50km. Quận lỵ Đức Lập nằm trên Đường 14, án ngữ vùng địa hình đến sát biên giới. Vì vậy, đường Hồ Chí Minh nối từ Tây Ngdyên vào Nam Bộ (Đường 14B) khi chạy đến khu vực này phải vòng sang đất Campuchia. Riêng quận lỵ Đức Lập, vấn đề tiến công để giải phóng "chốt" này đã được đặt ra từ lâu, nhằm nối tiếp đường chiến lược vào Lộc Ninh là rất quan trồng và rất cần thiết cho cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, có cả ý nghĩa chiến lược, chiến dịch. Giải phóng Đức Lập sẽ tạo ra thế trận uy hiếp trực tiếp Buôn Ma Thuột từ phía Nam.


Bốn là: Nghi binh, cơ động lực lượng, tạo thế và các yếu tố để tác chiến hiệp đồng binh chủng

Sau khi giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh năm 1972, một số đơn vị, đặc biệt là Sư đoàn 10, Sư đoàn 320 của ta đều hoạt động trên địa bàn phía Bắc Plâyku, Bắc Đường 19. Vì vậy, chủ lực của địch ở Tây Nguyên cũng dồn lên Bắc Tây Nguyên đế đối phó với chủ lực của ta. Khi địch phát hiện ta mở Đường 220 dài khoảng 40km nối Võ Định vòng qua Đông Bắc Kon Tum sang Đường 19 đến Đông thị xã Plâyku. Cùng với sự hoạt động của trận đánh tiêu diệt Tiểu đoàn biệt động quân 95 ở Đông Bắc Kon Tum, địch lại càng tin tưởng rằng ta chuẩn bị đánh lớn vào Kon Tum. Lại một yếu tố sai lầm của địch, tự địch "xây" thêm yếu tố bất ngờ mang cho ta.


Kế hoạch nghi binh chiến dịch rất toàn diện, công phu và đồng bộ. Bộ Tư lệnh chiến dịch giao cho một đồng chí Phó Tham mưu trưởng Mặt trận trực tiếp chỉ huy điều hành. Trên tất cả các hướng mọi hoạt động của các lực lượng diễn ra thường xuyên, liên tục.


Sư đoàn bộ binh 10 sử dụng pháo binh bắn vào Kon Tum, tổ chức các trận đánh nhỏ xung quanh thị xã. Sư đoàn bộ binh 320 đánh nhỏ trên Đường 19, tổ chức bắn pháo vào Thanh An, La Sơn. Trung đoàn bộ binh 95 đánh cắt giao thông trên Đường 19. Trung đoàn đặc công 198 tổ chức tập kích vào kho xăng ở thị xã Plâyku.


Huy động dân công các huyện xung quanh địa bàn thị xã Kon Tum, Gia Lai rầm rộ đi làm đường vào thị xã Kon Tum và Plâyku.

Sử dụng Sư đoàn 968 bí mật vào thay thế Sư đoàn 10, 320 duy trì các hoạt động trên hướng của hai Sư đoàn này vẫn hoạt động. Khi Sư đoàn 968 vào thay thế ta giữ bí mật nhưng địch vẫn phát hiện được và nhận định rằng ta tăng thêm lực lượng để tiến công Plâyku. Địch vẫn tiếp tục sai lầm trong đánh giá nhận định tình hình.


Sư đoàn bộ binh 10, 320 bí mật cơ động về Nam Tây Nguyên. Đây là một việc làm cực kỳ phức tạp, khó khăn khi phải rút Sư đoàn 10 ra khỏi khu vực Bắc Kon Tum. Sau khi giải phóng khu vực Diêu Bình, ta bố trí Sư đoàn này ngay trên địa bàn, địa bàn này lại rất nhiều gián điệp của địch cài lại đó. Một phương án kỳ công được xác định để thực hành cơ động Sư đoàn 10 về Nam Tây Nguyên bảo đảm bí mật tuyệt đối: Trước khi hành quân chính thức, ta đã giành 15 ngày cho các đơn vị của Sư đoàn 10 hành quân thay vị trí của nhau liên tục, nhiều lần thay đổi chỗ cho nhau. Khi chín muồi, địch ít nghi ngờ, cho đây là cơ động thay phiên thông thường giữa các lực lượng chuẩn bị vào đánh Plâyku. Khi địch không còn nghi ngờ sự cơ động thay đổi khu vực hoạt động giữa các đơn vị, ta đưa Sư 10 lên ôtô cơ động thẳng về Đức Lập.


Đầu tháng 2 năm 1975 Sư đoàn bộ binh 320 cũng bí mật hành quân về tập kết ở Tây Ea Hơ Leo. Cả Sư đoàn 10 và 320 khi cơ động về Nam Tây Nguyên, toàn bộ nhân viên báo vụ, điện đài của 2 sư đoàn vẫn ở lại vị trí cũ, hoạt động như thông thường, vẫn phát sóng, thu phát các bức điện giả để đánh lừa địch. Tiếp tục một thành công nữa trong quá trình tổ chức chuẩn bị tiến công Buôn Ma Thuột trong cơ động lực lượng.


Kế hoạch chiến dịch cũng được Bộ Tư lệnh Mặt trận tổ chức giữ bí mật tuyệt đối như kế hoạch nghi binh. Các lực lượng tham gia nghi binh cơ động giả cũng không biết mình đang hoạt động nghi binh giả để lừa địch.


Thế trận là sự liên hoàn giữa địa hình với lực lượng tác chiến, giữa thế bố trí với sự chuyển hoá phát triển của các lực lượng trong một tổng thể chung. Giữa thế trận cấp chiến thuật với thế chiến dịch và thế chiến lược trên toàn Mặt trận Tây Nguyên. Đó là một kế hoạch thống nhất đồng bộ và khả thi nhất. Đặc biệt là thế chia cắt khi tác chiến ở địa hình rừng núi như Tây Nguyên.


Thế chia cắt chiến lược, sau khi vào thay thế Sư đoàn 10, 320. Ngày 1 tháng 3, Sư đoàn 968 đã diệt 2 đồn trên Đường số 19 phía Tây Plâyku, áp sát lực lượng vào quận Thanh An. Địch càng tin và khẳng định ta chuẩn bị địa bàn tiến công Plâyku. Với nhận định như vậy, ngày 3 tháng 3 địch vội điểu Trung đoàn bộ binh 45 tu Thuần Mẫn lên Thanh An. Sự điều động lực lượng này càng khẳng định địch chưa hề phát hiện ta đang gấp rút chuẩn bị tiến công Buôn Ma Thuột.


Trên Đường số 19, ngày 4 tháng 3 Trung đoàn 95 và Sư đoàn 3 Quân khu 5 thực hành tiêu diệt một loạt đồn bốt cắt đứt hai đoạn trên trục Đường 19 ở khu vực Tây và Đông An Khê. Lại tiếp tục mắc vào mưu kế "điệu hổ ly sơn" của ta, địch điều 2 trung đoàn của Sư đoàn 22 từ Bình Định lên giải toả cho Đông An Khê, cơ động Lữ kỵ binh 2 từ Plâyku xuống giải toả cho Tây An Khê. Những hoạt động tác chiến chia cắt của ta đã thúc đẩy tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân Khu 2 - Quân đoàn 2 dồn sự cố gắng tăng cường phòng thủ Bắc Tây Nguyên, tập trung phòng thủ cố thủ ở Plâyku một cách tuyệt vọng mù quáng. Phú đã tung Liên đoàn biệt động quân 4, 6 ra Tây Bắc Kon Tum và Tây Bắc - Plâyku để tìm Sư đoàn 10, Sư đoàn 320 của ta. Phú còn sử dụng hoả lực không quân và pháo binh tập trung oanh kích bất kể nơi nào nghi ta đứng quân hoặc nghi có các trận địa pháo. Ngày 5 tháng 3 trên Đường 21, Trung đoàn bộ binh 25 đã thực hành chốt giữ đoạn đường từ Chư Cúc đến Khánh Dương, diệt một đoàn xe hơn 80 chiếc, cắt đứt Buôn Ma Thuột với Nha Trang.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #37 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2022, 07:46:05 am »

Sau khi các lực lượng thực hiện ý định của Bộ Tư lệnh Mặt trận tăng cường các hoạt động quân sự, cơ động lực lượng, thực hành chia cắt Tây Nguyên với các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung, cắt Đường chiến lược số 19, số 21, cô lập hoàn toàn Tây Nguyên với các chiến trường khác, ta đã thực hiện chia cắt chiến lược thành công, trong khi địch vẫn rất lúng túng bị động đối phó, tin ta sẽ tiến công Plâyku và tập trung mọi cố gắng để phòng thủ Plâyku.


Chia cắt chiến dịch, ta đã thực hành cơ động lực lượng, đánh chiếm một số đồn bốt, chia cắt Bắc và Nam Tây Nguyên, chốt giữ một số đoạn Đường 14, 19 làm cho các khu vực Kon Tum, Plâyku, Thuần Mẫn, Buôn Ma Thuột, Đức Lập... không liên hệ được với nhau bằng đường bộ. Tăng cường các hoạt động mạnh ở các khu vực khác, bí mật áp sát, tạo ra sự sơ hở và cô lập Buôn Ma Thuột để ta dễ tiêu diệt.


Trên khu vực phía Bắc Buôn Ma Thuột, Sư đoàn bộ binh 320 sau khi cơ động về Nam Tây Nguyên vẫn nằm bí mật ở Tây Đường 14, cách đường có 5km trên đoạn từ cầu Ea Leo đến Chư Xê, nhưng không chốt giữ Đường 14. Như vậy đến thời điểm ta cắt xong Đường 19, Đường 21 ta đã hoàn thành mục đích chia cắt chiến lược nhưng chưa thực hiện "nút" cuối cùng chia cắt chiến dịch. Đó là, chia cắt Buôn Ma Thuột với Plâyku, giữa Buôn Ma Thuột và Plâyku địch vẫn cơ động đi lại bằng đường bộ, Đường 14. "Nếu cắt Đường số 14 sớm thì sẽ có thể bị lộ ý định đánh Buôn Ma Thuột. Và muốn cắt Đường 14 trên hai đoạn phía Bắc và Nam quận lỵ Thuần Mẫn thì phải đánh chiếm quận lỵ này. Mà đánh chiếm quận lỵ thì địch sẽ biết ta có một Sư đoàn đứng ở Bắc Buôn Ma Thuột. Trong trường hợp đó, địch sẽ tìm cách đưa thêm lực lượng về tăng cường cho Buôn Ma Thuột và giải toả đường bằng cách dùng máy bay lên thắng đổ bộ hoặc đánh thông Đường số 14. Cuộc chiến đấu ở đây có thể sẽ sớm "cộm lên", yếu tố bí mật trước khi đánh Buôn Ma Thuột sẽ không còn. Ta chủ trương: bắt đầu đánh Buôn Ma Thuột thì đồng thời đánh quận lỵ Thuần Mẫn và cắt Đường số 14"1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, Nxb QĐND, H.2003, tr.60, 61). Trong chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch mở đầu bước ngoặt lịch sử vấn đề chia cắt chiến dịch diễn ra muộn hơn so với chia cắt chiến lược trên cơ sở ta hoàn toàn nắm quyền chủ động và có cơ sở khoa học thực tiễn.


Ngày 3 tháng 3 Sư đoàn đã cho Tiểu đoàn 9 vượt Đường 14 sang Đông quận lỵ Thuần Mẫn sẵn sàng hành động chốt chặn, chia cắt Thuần Mẫn với Cheo Reo, không cho địch tăng cường từ Phú Bôn lên Đường 14. Sẵn sàng chặn địch tháo chạy từ Thuần Mẫn về Cheo Reo. Hàng ngày địch vẫn cơ động trên Đường 14, tổ chức các cuộc hành quân cỡ trên 2 tiểu đoàn có xe tăng thiết giáp lùng sục Đông Bắc Buôn Ma Thuột đến Quảng Nhiêu 10-11km để phát hiện ta, và chốt lại ở Quảng Nhiêu đến ngày 7 tháng 3 vẫn không rút về Buôn Ma Thuột như qui luật chúng vẫn làm hàng ngày. Điều này chứng tỏ địch vẫn không hay biết gì khi chỉ còn mấy ngày nữa ta nổ súng tiến công Buôn Ma Thuột, và không đề phòng, không tăng cường lực lượng gì cho Buôn Ma Thuột. Trong quá trình hoạt động này, lực lượng của Sư đoàn 320 vẫn bí mật tránh những cuộc đụng độ với địch, chịu đựng những đợt pháo bắn vu vơ của địch từ Thuần Mẫn bắn ra và vẫn theo dõi nắm được địch cơ động, hành quân trên Đường 14.


Sau 30 phút chiến đấu, ngày 7 tháng 3 ta diệt Chư Xê tạo thêm điều kiện chốt giữ vững chắc trên Đường 14, nhưng địch ở Quảng Nhiêu vẫn không rút. Sáng 8 tháng 3 Sư đoàn 320 đánh chiếm quận lỵ Thuần Mẫn, cắt đứt Đường 14, đến trưa địch bỏ cuộc hành quân vội vã rút về Buôn Ma Thuột. Ngày 9 tháng 3 ta nổ súng đánh chiếm Đức Lập, Đắc Soong, Núi Lửa, mở thông hoàn toàn đường hành lang chiến lược Bắc Nam nằm ở phía Đông Trường Sơn. Phía Bắc đánh chiếm quận lỵ Thanh An, trên hướng Đông Đường 19 ta đã áp sát Plâyku.


Xét toàn cục của Mặt trận Tây Nguyền với chiến dịch Tây Nguyên 1975 và mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn của chiến lược với chiến dịch là mối quan hệ biện chứng không tách rời. Bộ Tư lệnh Mặt trận dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã điều quân khiển tướng theo một kế hoạch rất chặt chẽ, táo bạo, bí mật bất ngờ cài lập thế trận đúng như mưu kế định sẵn, đạt được cả ba thế chia cắt của cấp chiến lược và chiến dịch.


Thứ nhất, chia cắt Đường 19, tạo ra cảnh hiểm nghèo nhất đối với địch, vì nó là tuyến huyết mạch chính, địch vẫn dùng để vận chuyển vật chất từ Qui Nhơn lên thị xã Plâyku, nuôi sống tập đoàn chủ yếu của Tây Nguyên và Kon Tum.


Thứ hai, chia cắt được Đường 21, cũng là tuyến mạch máu vận chuyển từ thị trấn Ninh Hoà lên thị xã Buôn Ma Thuột để nuôi sống các lực lượng địch ở Đắc Lắc và tỉnh Quảng Đức, đồng thời còn là đường dự bị vận chuyển bổ sung cho hướng Plâyku - Kon Tum.


Thứ ba, chia cắt Đường 14, đã thực hiện được ý đồ chia cắt chiến trường Tây Nguyên ra làm đôi, khiến bản thân Tập đoàn Tây Nguyên của địch cũng bị xé làm hai cụm, cụm Bắc - cụm Nam, hai cụm này hoàn toàn cô lập với nhau, không thể chi viện ứng cứu cho nhau được bằng đường bộ.


Ngày 9 tháng 3 theo đúng kế hoạch ta đã thành công chia cắt, cài thế chiến lược, chiến dịch. Chia cắt Tây Nguyên với đồng bằng, đồng nghĩa với chia cắt Tây Nguyên với chiến trường khác. Cài thế vững chắc, chia cắt Bắc với Nam Tây Nguyên, hoàn toàn cô lập Buôn Ma Thuột. Đến đây địch vẫn cho là ta đánh Đức Lập để mở thông Đường 14 vào Nam Bộ, và vẫn đang vò đầu vắt óc để đối phó với ta ở Plâyku.


Các thế chia cắt trên thực sự đã mang đến cho địch một hiểm hoạ. Việc giao lưu giữa thị xã Qui Nhơn với thị xã Plâyku - Kon Tum, giữa thị xã Nha Trang với thị xã Buôn Ma Thuột, Gia Nghĩa và giữa thị xã Plâyku, Cheo Reo với thị xã Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cắt đứt. Từ lúc này không một chiếc ôtô nào chạy được trên Đường 19, 21, 14.


Thế chia cắt, cài chốt thật hiểm hóc không mưu kế gì gỡ nổi đối với quân địch lại là thế có lợi, thế tạo ra lực vô cùng mạnh mẽ như "chẻ tre" của ta. Chính thế này khi thực hành nổ súng tiến công đã làm cho binh lính địch hoang mang, sợ hãi, dao động, xáo trộn hoảng loạn và rối loạn, đồng nghĩa với sự tan vỡ.


Cuộc đấu trí giữa ta với địch về chọn hướng chiến lược, mục tiêu chiến dịch, lập thế, cài thế, cơ động lực lượng, chia cắt chiến lược, chiến dịch đã kết thúc một bước cực kỳ quan trọng, phần thắng đã hoàn toàn thuộc về ta, đến lúc này dù có phát hiện được ta tiến công Buôn Ma Thuột thì cũng quá muộn, lực - thế - thời - mưu ta đã bày sẵn, địch không có gì phá vỡ nổi.


Lập xong thế, cài xong thế, điều quân khiển tướng, sắp xếp lực lượng, bày binh bố trận xong, tự thân những điều đó đã thể hiện trình độ nghệ thuật quân sự của ta phát triển rất cao, vượt bậc, thể hiện tư duy khoa học và tầm nhìn chiến lược lớn. Thể hiện trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng qui mô lớn của bộ đội trên toàn mặt trận đã được nâng lên rất nhiều. Một thế trận tiến công vững chắc, mạnh mẽ, chủ động và chắc thắng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #38 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2022, 07:47:02 am »

Thực hành tác chiến

Tiến công Đức Lập - Thuần Mẫn - Chia cắt chiến dịch

05 giờ ngày 9 tháng 3, Sư đoàn bộ binh 10 nổ súng tiến công Đức Lập. Sau đòn hoả lực chuẩn bị của các loại pháo binh súng cối, Trung đoàn 66 đã đột kích vào Căn cứ 23, Tám giờ 39 phút Trung đoàn đã đánh chiếm được Căn cứ 23. Cùng diễn ra ở thời điểm này, Trung đoàn 28 nổ súng tiến công Căn cứ Núi Lửa. Sư đoàn 10 cùng các lực lượng thực hành đột phá liên tục vào quận lỵ Đức Lập, quân địch đã lợi dụng hầm ngầm, cùng xe tăng thiết giáp chống trả quyết liệt. Sư đoàn không đánh chiếm giải quyết dứt điểm được Đức Lập trong ngày phải tạm dừng lại để tổ chức đột phá lại.


Đến thời điểm này, trên hướng Bắc Buôn Ma Thuột ta đã cắt Đường 14 đánh chiếm Thuần Mẫn, hướng Đông cắt Đường 21, hướng Bắc Tây Nguyên cắt Đường 19, đánh phá Plâyku, Kon Tum, hướng Nam tiến công Đức Lập. Tướng Phú đã trực tiếp đáp trực thăng xuống Buôn Ma Thuột, tuy có nhận định đúng một số vấn đề đang diễn ra như: một bộ phận của Sư đoàn 320 tiến công Thuần Mẫn, một bộ phận của Sư đoàn 10 tiến công Đức Lập nhưng vẫn tiếp tục sai lầm và hùng hồn với thuộc hạ Vũ Thế Quang, Tư lệnh Nam cao nguyên Trung phần và Nguyễn Trọng Luật tỉnh trưởng Đắc Lắc rằng: "Mục tiêu chính của họ vẫn là Plâyku và Kon Tum". Phú chỉ thị và cũng để ra oai với Quang: "Hãy sử dụng lực lượng có trong tay của ông để giữ Buôn Ma Thuột". Trước khi lên máy bay Phú còn dặn thêm: "Tổng thống Thiệu có nói: nơi nào bị đánh thì cố gắng giữ lấy 3 tháng. Hội nghị Pari sẽ họp lại, cố giữ để mà mặc cả với đối phương".


Chấp hành những phán quyết của tướng Phú, và cũng từ nhận thức để tự bảo vệ lấy mình, Quang đã tức khắc điều Liên đoàn biệt động 21 từ Buôn Hồ về Đạt Lý để bảo vệ sườn Đông Bắc Buôn Ma Thuột. Đồng thời Quang cũng điều luôn Tiểu đoàn bảo an 224 từ Bản Đôn về bảo vệ sườn Nam Buôn Ma Thuột. Vẫn cảm thấy chưa yên tâm Quang điều luôn 1 tiểu đoàn của Trung đoàn bộ binh 53 về bảo vệ sở chỉ huy Sư đoàn 23 nơi Quang đang làm Tư lệnh.


Sư đoàn 10 sau khi tổ chức bố trí lại đội hình, sáng ngày 10 tháng 3 tiếp tục tiến công đánh chiếm Đức Lập lần thứ 2 và đã tiêu diệt, bắt sống toàn bộ quân địch, tiếp tục phát triển đánh chiếm luôn Căn cứ Đắc Xắc, Đắc Soong. Giải phóng toàn bộ quận lỵ Đức Lập, bắt tù binh thu nhiều vũ khí.


Sau khi giải phóng quận lỵ Đức Lập, theo kế hoạch đã được tạo lập và cài sẵn Bộ Tư lệnh chiến dịch đã điều ngay một bộ phận lực lượng, phương tiện của Sư đoàn 10 cơ động về phía Đông thị xã Buôn Ma Thuột sẵn sàng đánh địch phản đột kích của lực lượng dự bị Quân khu 2 - Quân đoàn 2. Theo kế hoạch chiến dịch ta chuẩn bị từ trước, Buôn Ma Thuột bị tiến công, đánh chiếm địch sẽ tổ chức phản đột kích bằng lực lượng dự bị của Quân khu 2, thực tiễn đã diễn ra và đang diễn ra, địch không thể phản đột kích được bằng bất kỳ đường bộ nào để cứu vãn cho Buôn Ma Thuột. Tình huống gần như duy nhất là đổ bộ đường không bằng máy bay lên thắng chở quân và cũng đồng nhất với chỉ đổ xuống Đông thị xã Buôn Ma Thuột, còn các hướng Tây, Nam, Bắc không thể thực hiện được tình huống phiêu lưu đó. Vì vậy Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ động điều ngay Sư đoàn 10 về Đông thị xã là kịp thời, chính xác. Kịp thời, chính xác cả về lý luận, thực tiễn trong dự kiến chuẩn bị và cả thực tiễn đang diễn ra.


Xét tổng thể các yếu tố ở tầm chiến dịch, chiến lược, chúng ta thấy: các tướng lĩnh và cơ quan Tham mưu chiến lược, Cơ quan Tình báo của địch không những không nắm được gì về ta ngoài một số tình tiết lộ liễu hoặc những tình tiết đã quá rõ ràng ở tầm chiến thuật là chính, mà còn đưa ra những phán quyết luẩn quẩn, luôn bị ám ảnh ta sẽ tiến công Kon Tum. Không nhìn thấy Buôn Ma Thuột đã hoàn toàn bị cô lập, muốn tiếp viện cho Buôn Ma Thuột duy nhất chỉ còn đường không, đường không cũng chưa phải là giải pháp chắc chắn, trong khi trên các hướng khác chưa có động thái của tiến công lớn. Ngaỵ trong nhận thức về phòng thủ, phòng ngự chiến lược trên địa bàn Tây Nguyên cũng mang tâm trạng nửa vời, mặc dù luôn cho rằng địa bàn Tây Nguyên (Quân khu 2 - Quân đoàn 2) rất có giá trị về chiến lược, cố giữ chỉ để "mặc cả" với ta. Với những tư duy, nhận thức và xử lý các tình huống ở tầm chiến dịch, chiến lược như vậy, kết cục bị tiêu diệt và tan vỡ thế chiến lược của địch là đúng với trình tự của qui luật đấu tranh vũ trang, trong giai đoạn "kết" của chiến tranh.


Tính đến thời điểm này, tất cả những nỗ lực cao nhất của cán bộ chiến sỹ toàn Mặt trận, của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong quá trình chuẩn bị để bày mưu - kế - thế và một số trận nhỏ trên lý thuyết trong kế hoạch đã trở thành hiện thực. Đánh dấu một điểm mốc chuẩn bị rất công phu, kịp thời và chính xác, tạo ra một thế mới rất vững chắc và lực mới vô cùng mạnh mẽ cho tiếp sau của mưu - kế - thế và đương nhiên sẽ là "trận". Trận then chốt mở đầu chiến dịch Tây Nguyên 1975 lịch sử - trận tiến công Buôn Ma Thuột.


Bộ Tư lệnh chiến dịch xem xét lại tất cả tình hình các mặt. Điều kiện thời cơ mở cửa đột phá chiến dịch Tây Nguyền, chiến dịch mở đầu tạo ra bước ngoặt lịch sử vĩ đại nhất của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ bất khuất và anh dũng đã tới. Bộ Tư lệnh đã hạ quyết tâm: TIẾN CÔNG BUÔN MA THUỘT.


Tiến công thị xã Buôn Ma Thuột - Đánh trận then chốt mở đầu chiến dịch Tây Nguyên 1975 - Đòn điểm đúng huyệt
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #39 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2022, 07:48:46 am »

Theo kế hoạch đã được xác định, chiến dịch tổ chức thành một cụm lực lượng binh chủng hợp thành do Sư đoàn bộ binh 316 làm nòng cốt. Được sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh chiến dịch, được hỏa lực pháo binh chiến dịch chi viện, được chiến dịch bảo đảm hậu cần kỹ thuật. Toàn bộ cụm lực lượng này có nhiệm vụ đánh trận then chốt mở đầu chiến dịch, tiến công tiêu diệt quân địch, đánh chiếm, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Sẵn sàng làm các nhiệm vụ phát triển tiếp theo của chiến dịch. Sư đoàn được tăng cường:


- Trung đoàn bộ binh 95B, Trung đoàn 24 (thiếu 1 tiểu đoàn), Tiểu đoàn 21 Đoàn 559.

- Trung đoàn đặc công 198 và Tiểu đoàn đặc công 28.

- Trung đoàn thiết giáp 273 (thiếu 1 tiểu đoàn)

- 2 Trung đoàn pháo binh xe kéo (40, 675)

- 2 Trung đoàn cao xạ (234, 232)

- 2 Trung đoàn công binh (7, 575)

- Trung đoàn thông tin 29


Đây là trận then chốt mở đầu có qui mô lớn nhất trong lịch sử hai cuộc kháng chiến chống pháp và chống Mỹ. Chiến dịch đã tập trung đến 5 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn đặc công (tăng cường), 3 trung đoàn pháo binh xe kéo, mang vác và 5 trung đoàn binh chủng khác. Riêng lực lượng pháo binh tiến công Buôn Ma Thuột, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã tập trung 119 khẩu pháo cối các loại, trong đó có 48 khẩu pháo xe kéo cỡ lớn, lực lượng pháo binh được tổ chức thành 6 cụm, trong đó có 3 cụm pháo chiến dịch. Lượng đạn chuẩn bị cho trận đánh là 15.000 viên các loại.


- Cụm pháo binh 1 chiến dịch gồm: 6 khẩu Đ74 (đại bác nòng dài 122mm) của Trung đoàn pháo binh 40; 2 khẩu lựu pháo 122mm của Trung đoàn pháo binh 4 thuộc Sư đoàn 316, cộng 8 khẩu. Cụm pháo này bố trí ở Tây thị xã Buôn Ma Thuột.

- Cụm pháo binh 2 chiến dịch gồm: 5 khẩu Đ74; 3 khẩu lựu pháo 122mm; 4 khẩu súng cối 82 của Trung đoàn pháo binh 675, cộng 12 khẩu. Cụm pháo này bố trí ở phía Bắc thị xã.

- Cụm pháo binh 5 chiến dịch gồm: 3 khẩu lựu pháo 122mm của Trung đoàn pháo binh 40; 2 khẩu ĐKB của Trung đoàn pháo binh 4 thuộc Sư đoàn 316; 2 khẩu lựu pháo 122mm và 2 khẩu súng cối 160mm của Trung đoàn pháo binh 4 thuộc Sư đoàn 10, cộng 9 khẩu. Cụm pháo này bố trí ở phía Bắc thị xã.


Nhiệm vụ của các cụm pháo binh chiến dịch được xác định rất cụ thể:

- Bắn phá hoại; chế áp tiểu khu Đắc Lắc, sở chỉ huy Sư đoàn bộ binh 23, khu vực Trung đoàn 8 thiết giáp, Trung đoàn bộ Trung đoàn 45.

- Chi viện trực tiếp cho bộ binh xe tăng đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột.

- Kiềm chế các trận địa pháo binh địch; bắn phá khống chế không cho địch đổ bộ đường không xuống sân bay Hoà Bình và các khu vực phía Đông thị xã; sẵn sàng đánh quân ứng cứu, giải toả, co cụm lớn.

- Sẵn sàng cơ động theo đội hình chiến dịch chi viện cho các hướng phát triển chiến dịch.


Pháo binh tăng cường và Trung đoàn pháo binh 4 trong biên chế của Sư đoàn 316 tổ chức thành 3 cụm pháo của 3 trung đoàn bộ binh, không tổ chức lực lượng pháo binh của sư đoàn.

- Cụm pháo binh 4 thuộc Trung đoàn bộ binh 174 gồm: 4 khẩu lựu pháo 122mm; 2 khẩu chống tăng 85mm; 2 khẩu súng cối 120mm, cộng 8 khau. Cụm pháo này bố trí trong đội hình của Trung đoàn 174 ở phía Tây thị xã, có nhiệm vụ bắn ngắm gián tiếp, bắn ngắm trực tiếp chi viện cho Trung đoàn đột phá, phát triển cùng các hướng khác đánh chiếm thị xã.

- Cụm pháo binh 8 thuộc Trung đoàn bộ binh 148 gồm: 4 khẩu lựu pháo 122mm: 3 khẩu pháo chống tăng 85mm; 2 khẩu súng cối 120mm, cộng 9 khau. Cụm pháo này bố trí trong đội hình của Trung đoàn 148 ở phía Tây thị xã, có nhiệm vụ bắn ngắm gián tiếp, bắn ngắm trực tiếp chi viện cho Trung đoàn đột phá, phát triển cùng các hướng khác đánh chiếm thị xã.

- Cụm pháo binh 9 thuộc Trung đoàn bộ binh 149 gồm: 2 khẩu lựu pháo 122mm; 2 khẩu pháo chống tăng 85mm; 2 khẩu súng cối 120mm, cộng 6 khẩu. Cụm pháo này bố trí trong đội hình của Trung đoàn 148 ở phía Tây Nam thị xã, có nhiệm vụ bắn ngắm gián tiếp, bắn ngắm trực tiếp chi viện cho Trung đoàn đột phá, phát triển cùng các hướng khác đánh chiếm thị xã.


Các cụm pháo binh của các trung đoàn bộ binh sau khi đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột xong nhanh chóng cơ động về phía Đông thị xã, trở về đội hình sư đoàn để tổ chức thành cụm pháo binh sư đoàn, sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không, co cụm lớn ở sân bay Hoà Bình và làm các nhiệm vụ bổ sung khác của chiến dịch.


Thị xã Buôn Ma Thuột có 5 khu vực mục tiêu:

1. Sân bay thị xã

2. Khu vực trận địa pháo binh - xe tăng thiết giáp

3. Tiểu khu Đắc Lắc

4. Sở chỉ huy Sư đoàn 23 và các phân đội trực thuộc, mục tiêu phụ trợ

5. Khu kho Mai Hắc Đế

Trong 5 mục tiêu cần đánh chiếm trên, sở chỉ huy Sư đoàn 23 Ngụy được xác định là mục tiêu chủ yếu. Tiểu khu Đăc Lắc và trận địa pháo binh - xe tăng thiết giáp được xác định là mục tiêu quan trọng.


Các khu vực mục tiêu phụ cận liên quan, trực tiếp bảo vệ xung quanh thị xã bao gồm: hậu cứ Trung đoàn bộ binh 45 thuộc Sư đoàn 23 bố trí ở dọc Đường 21 cách thị xã 2km về phía Đông. Sân bay Hoà Bình và hậu cứ Trung đoàn 53 thuộc Sư đoàn 23, bố trí cách thị xã 5km về phía Đông, Đông Nam và bố trí trên các Điểm cao Che Duê, Chư E Bua, 596, 491... xung quanh thị xã còn có một hệ thống ấp chiến lược dày đặc.


Xét tổng thể các yếu tố, với điều kiện trận đánh có qui mô lớn. Bộ Tư lệnh quyết định vận dụng cách đánh: đồng thời đánh bên ngoài, kết hợp với tiến công trực tiếp vào thị xã, lấy tiến công trực tiếp vào thị xã làm chủ yếu; kết hợp giữa đột phá với đặc công luồn sâu, thọc sâu của bộ binh xe tăng xe bọc thép, thực hành chia cắt, cô lập quân địch ra từng khu vực, đột phá kết hợp với thọc sâu làm chủ yếu để tiêu diệt địch.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM