Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:03:14 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc  (Đọc 20102 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #50 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2022, 08:20:41 pm »

Ngày 21 tháng 3, Trung đoàn 64 và bộ đội tăng thiết giáp của ta đã truy kích quân địch đến Phú Túc, thừa thắng xốc tới tiếp tục truy kích quân địch đến Ga Pui. Kết hợp với các lực lượng vũ trang của tỉnh Phú Yên, phá cầu Sơn Hoà, lập thành một "bức tường thép" trên Đường số 7, ở Đông Củng Sơn, diệt và bắt nhiều tên địch.


Tại thị trấn Củng Sơn trên Đường số 7, quân địch đang ùn tắc tại đây hơn 6000 tên, 40 xe tăng và xe thiết giáp, hàng trăm xe vận tải. Thực chất của "co cụm" là không còn đường nào có thể thoát thân về được Tuy Hoà, chứ tuyệt nhiên không phải co cụm để ngăn chặn, phòng ngự chống lại ta.


Ngày 24 Trung đoàn 64, được giao nhiệm vụ tiến công Củng Sơn, mặc dù lực lượng của Trung đoàn lúc này ít hơn địch nhiều nhưng với khí thế toàn thắng Trung đoàn đã tổ chức tiến công ngay. Sau một thời gian ngắn Trung đoàn đã diệt và bắt sống toàn bộ quân địch đang co cụm ở đây. Chúng chỉ chạy thoát được về Tuy Hoà hơn chục chiếc xe thiết giáp và một số lính biệt động.


Trong thời gian 7 ngày từ 17 đến 24 tháng 3, với một kế hoạch rất chủ động, linh hoạt, sáng tạo, táo bạo của cả cấp chiến dịch và chiến thuật, bộ đội ta trên các hướng đã lội suối, xuyên rừng, lúc cơ động bằng xe cơ giới, khi vận động bằng đôi chân thần tốc, lúc chốt chặn, khi vận động tiến công, khi thực hành đột phá, bằng những trận truy kích, tiến công trong hành tiến táo bạo quyết đoán, ta đã tiêu diệt và làm tan dã: 6 liên đoàn biệt động quân, 4 thiết đoàn, 1 liên đoàn công binh, 20 tiểu đoàn bảo an, cảnh sát dã chiến và một bộ phận cơ quan quan trọng của Quân Khu 2. Bắt 8000 tù binh, thu và phá hủy 1400 xe cơ giơí các loại, trong đó có 90 xe tăng, 25 xe M113, 8 khẩu 175mm - "Vua chiến trường", 19 khẩu pháo 155mm, 5 khẩu pháo 105mm. Tập đoàn rút chạy của địch đã bị tiêu diệt, đồng nghĩa với đánh bại ý đồ rút bở Tây Nguyên để co cụm ngăn chặn ta ở đồng bằng ven biển.


Thắng lợi ở Cheo Reo, nối tiếp là thắng lợi ở Củng Sơn ngày 24 tháng 3 năm 1975 đã kết thúc trận then chốt thứ 3 - tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch tháo chạy trên Đường số 7, những chiến thắng liên tiếp chiến thắng đã tạo ra thế và lực mới về chiến lược cho ta chuẩn bị phát triển chiến lược tiến quân về giải phóng vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ và miền Đông Nam bộ.


Như vậy, mở đầu Tổng tiến công chiến lược bằng chiến dịch Tây Nguyên từ ngày 4 đến ngày 24 tháng 3 năm 1975, chúng ta đã giành thắng lợi rực rỡ, sau 20 ngày tiến công liên tiếp, táo bạo, sáng tạo và chắc thắng:

- Chiến dịch Tây Nguyên 1975 lịch sử lại được mở đầu bằng một trận hiệp đồng binh chủng qui mô lớn. Trận đánh đã tạo được thế bí mật bất ngờ vững chắc - lực tập trung áp đảo trên nhiều hướng táo bạo bằng sức mạnh đột phá liên tục của binh chủng hợp thành. Đặc biệt là trận then chốt mở đầu chiến dịch tiến công Buôn Ma Thuột đã tận dụng được thế bất ngờ cả ở tầm chiến lược, chiến dịch và chiến thuật.

- Thắng lợi của trận then chốt mở đầu đã tạo ra một thế và lực mới, chủ động chắc thắng, đánh trận then chốt thứ hai của chiến dịch, tiêu diệt quân địch phản đột kích, tiêu diệt một lực lượng chủ yếu của chiến trường Tây Nguyên. Sau hai trận then chốt này đã đẩy quân địch vào thế bất lợi và sai lầm lớn về chiến lược, khi quyết định rút bở Tây Nguyên - một trong những nguyên nhân dân tới thảm hoạ tan vỡ về thế chiến lược của địch trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng hoà sau này.

- Trận then chốt thứ ba, tiêu diệt, bắt sống và làm tan rã phần lớn sinh lực, phương tiện của tập đoàn quân địch tháo chạy trên Đường 7. Đây cũng là thời điểm song song, đồng nghĩa với việc gần như xoá sổ Quân Khu 2 - Quân đoàn 2 của địch trên địa bàn Tây Nguyên. Một địa bàn chiến lược rất quan trọng, địa bàn sẽ chia cắt toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng hoà thành hai mảng.


Kết quả: Trận then chốt thứ 3 - Tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy trên Đường số 7.

Ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch rút chạy trên Đường số 7, lực lượng địch co cụm ở Cheo Reo, Củng Sơn.

Cụ thể: tiêu diệt 4 Liên đoàn biệt động quân số 22, 23, 6, 25. Lữ đoàn kỵ binh số 2; 3 thiết đoàn 3, 19, 21; Tiểu đoàn bộ binh số 4 thuộc Trung đoàn 44; Tiểu đoàn bộ binh 89 thuộc Liên đoàn biệt động quân 21; sở chỉ huy nhẹ Trung đoàn 44; cơ quan Quân đoàn 2 và cơ quan Sư đoàn 6 không quán; 6 Tiểu đoàn pháo binh, Liên đoàn 66 truyền tin; Liên đoàn 20 công binh.

Tiêu diệt và làm tan rã: 2 Liên đoàn biệt động quân số 4, 7; 2 Liên đoàn bảo an; nhiều trung đội, đại đội bảo an, cảnh sát và nhiều lực lượng ác ôn, bình định, chiêu hồi, tề điệp của các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Phú Bổn, Phú Yên.

Loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục ngàn tên địch, có 14.729 tên lính chủ lực Ngụy; diệt 1.044 tên, bắt sống 6.458 tên, có 538 sỹ quan; gọi hàng 7.225 tên, có 97 sỹ quan. Phóng thích hàng nghìn tên tại trận.

Thu 5.759 súng các loại, có 22 khẩu pháo 155mm, 9 khẩu pháo 175mm, 48 khẩu pháo 105mm, 314 máy vô tuyến điện, 185 máy điện thoại. Thu và phá huỷ 2000 xe các loại, có 207 xe tăng xe bọc thép. Bắn rơi và bắn cháy 55 máy bay HU.1A và mệt máy bay A37.

Tiến công như vũ bão xuống đồng bằng ven biển miền Nam Trung Bộ - Xoá sổ toàn bộ Quân Khu 2 - Quân đoàn 2 Ngụy - Cắt chiến trường miền Nam thành hai mảnh
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #51 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2022, 09:22:11 pm »

Chiến dịch Tây Nguyên - Chiến dịch mở đầu cuộc tiến công chiến lược, kết thúc thắng lợi rực rỡ. Trước thắng lợi to lớn này, tại Thủ đô Hà Nội đã chia sẻ cùng với cán bộ chiến sỹ và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Ngày 25 tháng 3 Bộ Chính trị đã rất nhạy bén, nhận định: THỜI CƠ CHIẾN LƯỢC MỚI ĐÃ ĐẾN, TA CÓ ĐIỀU KIỆN HOÀN THÀNH SỚM QUYẾT TÂM GIẢI PHÓNG MIỀN NAM. Với nhận định sáng suốt trên. Bộ Chính trị đã đề ra đồng thời chủ trương:

- Tập trung lực lượng, binh khí kỹ thuật và vật chất giải phóng Sài Sòn trước mùa mưa. 

- Tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 1, Quân đoàn 2, không cho chúng rút lui co cụm về xung quanh Sài Gòn.

- Cơ động 3 sư đoàn chủ lực và các lực lượng, binh khí kỹ thuật đang trên Đường số 7, Đường số 21 về khu vực Buôn Ma Thuột, nhanh chóng ổn định, chấn chỉnh lại lực lượng, sẵn sàng cơ động cả 3 sư đoàn này vào Đông Nam Bộ chuẩn bị giải phóng Sài Gòn.


Một kế hoạch chỉ đạo thể hiện sự sáng suốt, đồng bộ, toàn cục và tổng thể của Bộ Chính trị khi thời cơ chiến lược xuất hiện.

Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên thấy quân ta đang trên đà phát triển tiến công, giải phóng một vùng đất đai rất rộng lớn xuống đồng bằng thuận lợi, nên đề nghị tiếp tục phát triển xuống giải phóng Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh rồi hành quân thẳng vào Đông Nam Bộ. Đề nghị được chấp nhận và được bổ sung nhiệm vụ chính thức cho cán bộ chiến sỹ tham gia chiến dịch Tây Nguyên: Tiếp tục chiến đấu trên 3 trục Đường số 19, số 21 và số 7. Giải phóng Khánh Hoà, phối hợp với Sư đoàn 3 Quân khu 5 giải phóng Bình Định. Mục tiêu chủ yếu là diệt Lữ đoàn dù 3 ở đèo Phượng Hoàng, nhanh chóng tiến xuống tiến công đánh chiếm Nha Trang, Cam Ranh.


Chấp hành mệnh lệnh và nhiệm vụ bổ sung của Bộ, Sư đoàn 968 và Trung đoàn 95A sau khi giải phóng Plâyku được chuyển thuộc cho Quân khu 5 tiến quân theo hướng Đường số 19. Ngày 29 tháng 3, Sư đoàn 968, Trung đoàn 95A phối hợp tác chiến với Sư đoàn 3 Quân khu 5, đánh chiếm khu vực sân bay Gò Quánh. Ngày 21 tiếp tục giải phóng Đạp Đá. Ngày 01 tháng 4 diệt Trung, đoàn bộ binh 47 thuộc Sư đoàn bộ binh 22 Ngụy. Tiếp tục phát triển chiến đấu giải phóng Thủ Thiện, Lại Nghi, Phú Phong, Bình Khê, Phú Xuân, Phú Hoà 2, đánh chiếm nhà ga Diêu Trì và sở chỉ huy Sư đoàn 2 Ngụy ở An Sơn. Đến 16 giờ giải phóng thị xã Qui Nhơn.


Các lực lượng quân địch đứng chân trên địa bàn tỉnh Phú Yên đang hoang mang cực độ. Trước nguy cơ bị tiêu diệt được tính từng giờ, chúng vẫn ngoan cố, ra sức tập hợp đám quân ô hợp tan tác từ Tây Nguyên dồn về cùng lực lượng tại chỗ gồm: 11 tiểu đoàn bộ binh, 3 đại đội bảo an, 1 chi đội thiết giáp, ban chỉ huy tiểu khu Phú Yên, ban chỉ huy Liên đoàn biệt động quân số 21 mới khôi phục vội vã và toàn bộ bọn ác ôn, cảnh sát dã chiến ở các quận lỵ, thị xã. Bọn cầm đầu Ngụy quân tiến cử chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, Phó Tư lệnh Quân đoàn 2, tên tướng thất trận, bất lực vừa tháo chạy ở Plâyku về ra thị xã Tuy Hoà để trấn an binh lính và củng cố phòng ngự ngăn chặn ta.


Ngày 01 tháng 4, Trung đoàn 64 Sư đoàn bộ binh 320 nổ súng tiến công Tuy Hoà. Sau 45 phút chiến đấu, bộ đội ta đã đánh chiếm ngã 5 trung tâm thị xã. Đến 9 giờ ta làm chủ thị xã Tuy Hoà, tiến công đánh chiếm luôn sân bay Đông Tác, Chóp Chài. Tại sân bay Đông Tác, bộ đội ta đã bắt sống chuẩn tướng Trần Văn Cẩm và đại tá Vi Văn Bình.


Hướng tiến công trên Đường 21, Sư đoàn bộ binh 10 được phối thuộc Trung đoàn 25, tiểu đoàn xe tăng, được pháo binh và pháo phòng không chi viện, triển khai đội hình tiến công đèo Phượng Hoàng do Lữ đoàn dù số 3 thuộc Sư đoàn dù chốt giữ. Quân dù là lực lượng tổng dự bị chiến lược của địch, được coi là con cưng của quân đội Ngụy. Quân dù đã đọ sức với Sư đoàn bộ binh 304 của ta đã bị thiệt hại nhiều và phải bỏ cuộc trong chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức tháng 10 năm 1974. Trước sự thất bại liên tiếp của địch trên khắp địa bàn Quân khu 2, tinh thần hoang mang, dao động, sức chiến đấu đã giảm sút.


Lợi dụng thế của khu vực đèo Phượng Hoàng quanh co, hiểm trở, địa hình hẹp. Lữ dù 3, dưới sự chi viện của hoả lực không quân, hoả lực của 24 khẩu pháo xe kéo đã tổ chức "phòng ngự di tản”, hình thành các điểm tựa dã chiến để ngăn chặn ta. Với thủ đoạn cổ truyền là chiếm giữ đèo Mađrắc - Phượng Hoàng. Dựa vào các chốt bảo an có sẵn, kết hợp với yêu sách được hoả lực không quân, pháo binh chi viện tối đa. Quân dù ở đây đã xây dựng được các trận địa hoả lực và co cụm để ngăn chặn ta. Vận dụng chiến thuật "mạng nhện di tản" đến phân đội nhỏ, từng tiểu đội, trung đội có xe tăng nằm sâu trong công sự ở hai bên đường đèo. Thật khốn thay cho Lữ dù 3 quân Ngụy, các thủ đoạn tác chiến, thế địa hình hiểm trở, có hoả lực mạnh... cũng không mang lại cho chúng một kết quả nào. Bởi vì, tổng thể của "lá chắn" này là: Tổ chức phòng ngự trên đường độc đạo, hở sườn, tung thâm mỏng, lực lượng phản kích nhỏ, khu vực phòng ngự chốt giữ rộng, phải rải quân theo dọc hai bên Đường 21 kéo dài tới 30km, bộc lộ một thế chốt giữ kém hiệu quả, diện phòng ngự hẹp, phòng ngự chắp vá vội vã. Trong khi đối phương đang có thể của chiến thắng, với lối đánh tập trung rất cao của sức mạnh binh chủng hợp thành, xuất hiện đúng thời điểm, biết tận dụng được thời cơ có lợi nhất, luôn buộc chúng phải đánh theo cách đánh của đối phương.


Sư đoàn 10 được tăng cường Trung đoàn 25 và một số đơn vị binh chủng khác, mở đầu tiến công vào Lữ dù 3, bằng một đòn hoả lực pháo binh rất mãnh liệt chính xác vào các trận địa pháo binh và một số điểm tựa phòng ngự của địch. Buộc đội hình phải co cụm chống đỡ. Bao vây chặt đội hình Lữ đoàn địch, khoá chặt phía sau, biến địa hình hiểm trở thành thế có lợi cho ta. Lợi dụng lúc điều chỉnh đội hình, các hướng mũi của ta phát huy được sức mạnh đột phá chính diện bằng sức mạnh của hoả lực pháo binh, xe tăng, bằng thủ đoạn tác chiến xẻ đường xuyên rừng thọc điển đánh hiểm, đánh tạt sườn tiêu diệt các trận địa hoả lực, đột kích thắng vào bộ phận chỉ huy của Lữ đoàn.


Với lối đánh táo bạo, vỗ mặt, đánh hiểm, diệt chỉ huy trước, hiệu quả tiến công cao, trong 3 ngày từ 29 đến 1 tháng 4 Sư đoàn bộ binh 10 cùng các đơn vị tăng cường đã tiêu diệt một số lực lượng, nhổ "lá chắn" trên đèo Phượng Hoàng và làm tan rã hết Lữ dù 3, thu và phá huỷ toàn bộ vũ khí trang bị của chúng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #52 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2022, 08:08:11 am »

Đến 10 giờ 30 ngày 1 tháng 4 tại Nha Trang, tướng Phú và tướng Dư Quốc Đống, Giám đốc Trường Hạ sỹ quan Đồng Đế nhận được tin sét đánh: Đèo Phượng Hoàng đã bị vỡ. Phú triệu tập ngay một cuộc họp với thuộc hạ bàn cách đối phó. Cuộc họp vừa tan, Phú lại nhận tin tiếp theo: Dục Mỹ, Ninh Hoà đã bị Quân giải phóng đánh chiếm. Phú và tướng Đống đối phó bằng cách nhảy lên máy bay chuồn về Phan Rang. Thành phố Nha Trang, nơi đặt đại bản doanh thứ hai của Quân đoàn 2 đang hỗn loạn của một cuộc tháo chạy dưới cánh máy bay của tướng Phú. Quân lính cướp bóc, tranh giành tất cả các phương tiện có thể trấn cướp được để chạy thục mạng về Cam Ranh. Sân bay Nha Trang đã phải đóng cửa vì binh lính tranh nhau lên máy bay chạy trốn.


Ngày 2 tháng 4 Sư đoàn 10 giải phóng Thành phố Nha Trang. Ngày 3 thạng 4, Sư đoàn 10 tiến thẳng vào Cam Ranh, 12 giờ 30 cùng ngày Sư đoàn đã giải phóng quân cảng lớn nhất và có giá trị nhất về quân sự của quân cảng này. Toàn bộ tỉnh Khánh Hoà đã được giải phóng.


Kết quả: Chiến dịch Tây Nguyên từ 4 tháng 3 đến 3 tháng 4 năm 1975

Sau 30 ngày được sự phối hợp chặt chẽ của nhân dân, của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, các binh đoàn chiến dịch và bộ đội địa phương đã khắc phục vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, vượt suối xuyên rừng, tiến công liên tục; đã tiêu diệt và tan rã Quân Khu 2 - Quân đoàn 2 Ngụy cùng một bộ phận cơ động chiến lược quân Ngụy.


Tiêu diệt Sư đoàn 22, Sư đoàn 23, Lữ dù 3, 8 liên đoàn biệt động quân, 1 liên đoàn công binh, 4 thiết đoàn xe tăng, 10 tiểu đoàn pháo binh; đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 6 không quân. Tiêu diệt và làm tan rã 7 tiểu khu, 26 chi khu, 50 tiểu đoàn, 51 đại đội bảo an và toàn bộ lực lượng cảnh sát, dân vệ, phòng vệ dân sự trong 7 tỉnh trên địa bàn Quân Khu 2.


Tổng cộng diệt và bắt sống 28.514 tên lính chủ lực, diệt 4.502 tên, có 165 sỹ quan, bắt sống 16.822 tên có 779 sỹ quan từ chuẩn uý đến chuẩn tướng, phóng thích tại chỗ 7.190 tên.

Bắn rơi 44 máy bay, thu và phá huỷ 110 chiếc.

Thu và phá huỷ 17.183 khẩu súng các loại, có 9 khẩu pháo 175mm, 30 khẩu 155mm, 101 khẩu 105mm, 1095 xe các loại, có 72 xe tăng 52 xe bọc thép.

Thu và phá huỷ toàn bộ các cơ sở hậu cần kỹ thuật, kho tàng ở Tây Nguyên và các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà. Giải phóng toàn bộ Tây Nguyên gồm các tỉnh Kon Tum - Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức cùng các tỉnh Nam Trung Bộ như Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Thành phố Nha Trang, Quân cảng Cam Ranh.


Một số bài học kinh nghiệm chủ yếu về nghệ thuột chuẩn bị và thực hành chiến dịch

Chiến dịch Tây Nguyên, với trận then chốt mở đầu quyết định tiến công Buôn Ma Thuột - Chiến dịch mở đầu - Bộ phận hợp thành trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 của toàn Đảng toàn dân và toàn quân ta. Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã khẳng định thế và lực của ta đã hơn hẳn thế và lực của địch. Đồng thời cũng khẳng định sức mạnh tổng hợp, một qui luật tất yếu của chiến tranh nhân dân. Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã trực tiếp bổ sung ngay nhiều kinh nghiệm, bài học quí giá, giúp chúng ta tổ chức và thực hành các hoạt động quân sự tiếp theo ở cả cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Những bài học quí giá về sự thành công rực rỡ của chiến dịch đã để lại nhiều giá trị thực tiễn, khoa học trong quá trình nghiên cứu khoa học nghệ thuật quân sự cho hiện tại và tương lai. Đặc biệt, thắng lợi của chiến dịch mở đầu đã mở ra đột phá khẩu về chiến lược - đã tạo ra một bước ngoặt chiến lược - Bước ngoặt quyết định của chiến tranh cách mạng.


Bài học thứ nhất: Nghệ thuật chọn hướng, chọn mục tiêu tiến công đúng.

Sau hai đòn trinh sát chiến lược: trận Thượng Đức trong chiến dịch Nông Sơn, Thượng Đức từ ngày 17 tháng 7 đến 25 tháng 8 năm 1974; trận đánh chiếm Phước Long trong chiến dịch Đường 14 - Phước Long từ ngày 13 tháng 12 năm 1974 đến ngày 6 tháng 1 năm 1975, cho thấy: sức mạnh và trình độ tác chiến của sư đoàn chủ lực ta đã hơn hẳn sư đoàn chủ lực địch.


Sau khi quân Mỹ rút đi, tuy quân Ngụy bị hẫng hụt nhiều, nhưng vẫn còn hàng triệu quân, được trang bị hiện đại. Tất cả các lực lượng hiện đang được triển khai trên cả 4 Quân khu, hình thành thế bố trí chiến lược hoàn chỉnh.


Vấn đề đặt ra cho cơ quan Tham mưu chiến lược của ta là chọn hướng nào để mở đầu cuộc Tổng tiến công chiến lược chọn mục tiêu nào để mở đầu chiến dịch tiến công có ý nghĩa đặc biệt qulan trọng này? Chọn hướng tiến công và mục tiêu trận mở đầu chiến dịch phải đồng thời đạt được hai yếu tố:

Một là, tiêu diệt lớn lực lượng quân địch.

Hai là, làm thay đổi nhanh chóng tương quan so sánh lực lượng, chuyển biến cục diện chiến trường tạo lên tước ngoặt chiến lược.

Ba là, sau khi tiến công tiêu diệt quân địch ở khu vực hướng đã chọn, đánh chiếm mục tiêu đã chọn, phải bảo đảm chắc thắng, có điều kiện thuận lợi vững chắc, làm bàn đạp tốt cho việc phát triển tiến công.


Ngược dòng lịch sử, truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta Trần Hưng Đạo nói: "Bậc thánh võ trị đời xưa, đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có luỹ, chiến ở chỗ không có trận. Nhẹ nhàng như mưa rơi ở trên không, dựng nên cuộc đời vô sự"1 (Binh thư yếu lược. NxbKHXH, H. 1997, tr. 10, sách Chiến dịch tiến công Tây Nguyên xuân 1975, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, H.1991, tr.75, đã dẫn).


Hoặc "Biết được thực hư của người rồi thì nên đánh vào chỗ mềm mà không nên đánh vào chỗ cứng. Vì đánh vào chỗ cứng thì chỗ mềm cũng sẽ cứng, đánh vào chỗ mềm thì chỗ cứng cũng phải mềm, chính là thế"2 (Binh thư yếu lược, NxbKHXH, H.1997, tr.36).
   "Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tránh chỗ có địch, đánh vào chỗ không có địch. Như vậy sức chỉ một nửa mà công thì gấp đôi"3 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb KHXH, H.1976, tr.59).
   Theo qui luật, bài học của những giá trị lịch sử cho thấy: hướng mục tiêu tiến công, phải chọn vào nơi quân địch ít đề phòng, bố trí lực lượng mỏng yếu, dùng lối đánh bất ngờ, nhưng có ý nghĩa về chiến dịch, chiến lược, có nhiều khả năng giành được thắng lợi một cách chắc chắn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #53 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2022, 08:10:18 am »

Xuất phát từ bố trí lực lượng của địch trên 4 Quân khu đã trình bày ở phần trên. Kết hợp với các điều kiện cơ sở khác, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương đã quyết định chọn địa bàn Tây Nguyên - địa bàn Quân khu 2, trên địa bàn Tây Nguyên lựa chọn Nam Tây Nguyên làm hướng tiến công mở màn. Trên hướng mở màn, lựa chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu của chiến dịch mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Sự lựa chọn nàỵ vừa thể hiện vận dụng những giá trị lịch sử của cha ông để lại, vừa thể hiện sự sáng tạo, phát triển và thực tiễn.


Chọn Nam Tây Nguyên làm hướng tiến công mở màn, chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu tiến công chủ yếu đã thoả mãn được các yêu cầu mang tính khoa học, thực tiễn và tính nghệ thuật rất cao, đó là:

Thứ nhất, đã chọn vào đúng nơi địch tương đối yếu, nơi sơ hở của địch và liên quan đến hiếm yếu của địch. So sánh 3 thị xã lớn trên địa bàn Tây Nguyên thì Buôn Ma Thuột yếu hơn và sơ hở hơn. Xét về giá trị chiến lược - chiến dịch thì Buôn Ma Thuột lại là nơi hiểm yếu hơn, vì đó là hậu phương chiến dịch của địch ở Tây Nguyên, có vị trí thuận lợi nối liến với miền Đông Nam Bộ. Ta sẽ có nhiều điều kiện phát triển chiến dịch tiến công về Sài Gòn, giải quyết điểm - mục tiêu cuõi cùng của chiến tranh.


Chọn Buôn Ma Thuột là mục tiêu tiến công mở đầu, đồng thời được xác định là trận then chốt mở đầu, là điều hết sức bất ngờ với địch, bởi vì địa hình quanh thị xã Buôn Ma Thuột phức tạp, địch cho rằng ta không thể đưa xe tăng pháo binh xe kéo vào địa bàn này được và không có binh khí kỹ thuật lớn sẽ không thể có đánh lớn.


Trường hợp ta đánh chiếm được Buôn Ma Thuột, địch rất khó tiến hành phản đột kích tái chiếm lại. Đưa lực lượng đến bằng đường nào; đưa bao nhiêu để tổ chức phản đột kích? Trong khi địch đã biết trên địa bàn Tây Nguyên ta có 3 Sư đoàn chủ lực và nhiều binh chủng khác. Đối chọi với một lực lượng mạnh như vậy, quân địch phải có một lực lượng nhiều hơn đối phương, tức là phải nhiều hơn 3 Sư đoàn. Quân địch không thể rút ở Quân khu khác, hoặc dốc túi lực lượng dự bị để đưa lên phản đột kích tái chiếm lại Buôn Ma Thuột. Trong khi khả năng này khó có thể xảy ra, khi đường bộ dẫn đến Buôn Ma Thuột ta đã cắt đứt. Đổ bộ đường không để phản đột kích chỉ là hành động liều lĩnh, tự sát.


Thứ hai, Trên địa bàn Nam Tây Nguyên, nhìn chung địa hình tương đối bằng phẳng, nhiều đường lâm nghiệp. Ta có điều kiện tổ chức các binh đoàn chiến dịch thành các cụm đột kích binh chủng hợp thành cơ động và triển khai thuận lợi. Có điều kiện thực hành đột phá liên tục, áp đảo quân địch, giáng những đòn bất ngờ vào những khu vực phòng ngự then chốt, dễ phá vỡ thế trận của địch, giành thắng lợi triệt để. Mặc dù địa hình quanh Buôn Ma Thuột có phức tạp, nếu ta khắc phục được yếu tố này sẽ giành được bất ngờ lớn. Địch ở khu vực Nam Tây Nguyên và thị xã Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cách trở với Bắc Tây Nguyên và các tỉnh đồng bằng, khả năng ứng cứu và chi viện cho Buôn Ma Thuột sẽ bị hạn chế rất nhiều.


Thứ ba, đánh chiếm được Buôn Ma Thuột ta sẽ có điều kiện mở rộng ra các hướng, phát triển vào chiều sâu phòng ngự địch. Theo Đường số 14 có khả năng bao vây, uy hiếp tiến công dứt điểm Plâyku. Phía Nam ta có thể uy hiếp tiến công Gia Nghĩa phát triển xuống miền Đông Nam Bộ rất thuận lợi. Theo trục Đường 7B có thể bao vây, chia cắt tiến công Cheo Reo, Tuy Hoà. Trên hướng Đường 21 sẽ tiến công đánh chiếm Nha Trang và Quân cảng Cam Ranh. Đánh chiếm Nha Trang, Cam Ranh đồng nghĩa với cắt đôi chiến trường miền Nam. Đây là điều mà cả Mỹ, Ngụy đều rất lo sợ sẽ sảy ra.


Chọn hướng tiến công mở đầu Nam Tây Nguyên là một sáng tạo thực tế, thế hiện trình độ nghệ thuật tổng hợp rất cao cả về lịch sử, hiện tại và cả những dự đoán của sự vận động phát triển, giá trị của chiến dịch mở đầu, sự thông thạo nhiều yếu tố trên tất cả các lĩnh vực để đi đến một quyết định đúng. Chọn mục tiêu tiến công mở đầu là thị xã Buôn Ma Thuột, ta đã điểm đúng huyệt, đánh đúng vào nơi hiểm yếu. "Đánh vào nơi kẻ địch thấy đau đớn nhất", đó là điều mà nhiều nhà quân sự thường nói. Các nhà chiến lược quân sự Phương Tây hồi đó bình luận: "Chỉ riêng việc chọn đúng nơi đó (Buôn Ma Thuột) làm điểm đột phá thôi, đã là thiên tài rồi"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Nguyên, H.1991, tr.77).


Vấn đề lựa chọn mục tiêu mở đầu cho một nhiệm vụ chiến lược, nhằm giải quyết một bước đi (mở đầu) của chiến lược, ta đã có nhiều kinh nghiệm. Điển hình là chọn Đông Khê trong chiến dịch Biên giới năm 1950.

Khi chọn Buôn Ma Thuột làm trận then chốt mở đầu, là xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của giai đoạn cuối của chiến tranh. Ta đã giải quyết và lựa chọn được đồng thời cả hai yêu cầu về chiến lược và chiến dịch đòi hỏi. Đó là chọn mục tiêu có tác động dây chuyền về chiến dịch, tạo ra được cửa mở đột phá về chiến dịch, chiến lược, về vấn đề "chọn" mục tiêu ngày 21 tháng 3 năm 1975 báo Thế giới của Pháp đã viết: "Chỉ cần một trận thôi, trận Buôn Ma Thuột mà khiến cho từng mảng lớn do chế độ Thiệu dựng lên đã bị sụp đổ. Hoá ra Buôn Ma Thuột mang cái đà của một bước ngoặt trong cuộc xung đột đến nay đã kéo dài 30 năm"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Nguyên, H.1991, tr. 77). Tờ Kinh tế, báo Anh ra ngày 23 tháng 3 viết: "Mất Buôn Ma Thuột là Thiệu không tài nào giữ nổi Tây Nguyên''2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Tây Nguyên, H.1991, tr.77).


Xét cho cùng vấn đề chọn đúng hướng để mở các cuộc tác chiến chiến dịch, chiến lược mở đầu cho một giai đoạn chiến tranh nói chung, mở đầu cho một hồi kết của một cuộc chiến tranh nói riêng. Trong các chiến dịch đó, chọn đúng mục tiêu để mở đầu, giành phần chắc thắng, là một nghệ thuật chi phối toàn cục của chiến dịch cũng như chiến lược. Đây chính là nghệ thuật tạo nên sức mạnh tổng hợp, trong những điều kiện cụ thể, để giành thắng lợi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #54 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2022, 08:11:02 am »

Bài học thứ hai: Nghệ thuật nghi binh tạo thế, tạo bất ngờ, giữ và giành quyền chủ động của chiến dịch.

Bất ngờ là một nguyên tắc tác chiến, được các bên tham chiến từ thời cổ đại, của nhiều quốc gia trên khắp các châu lục vận dụng trong chỉ đạo hành động của nhà binh. Đồng thời cũng là một yêu cầu hàng đầu đối với nghệ thuật chiến dịch tiến công. Giữ được yếu tố bất ngờ sẽ giữ được và giành quyền chủ động, sẽ tạo ra sức mạnh mới, thế trận mới, đặc biệt là bất ngờ về không gian, thời gian, khu vực mở đầu.


Chính quyền Sài Gòn cho rằng trong năm 1975 ta chưa có điều kiện, khả năng để đánh lớn ở Nam Tây Nguyên, nhất là ta sẽ chưa tiến đánh Buôn Ma Thuột. Ta đã tận dụng được sai lầm lớn, sai lầm khởi đầu này của địch. Cơ quan Bộ Tổng Tham mưu và chiến dịch đã tổ chức một kế hoạch nghi binh đầy tính nghệ thuật để lừa được địch và đã thực sự thành công. Sự thành công đầu tiên là lừa địch để giam chân lực lượng chủ lực cơ động của địch ở Kon Tum và Plâyku.


Bí mật bất ngờ đến khi nổ súng đánh chiếm được nhiêu mục tiêu trong ngày mở đầu (10/3) địch vẫn cho rằng ta sẽ tiến công bắc Tây Nguyên vì ta đã tiến hành nghi binh từ tháng 12 năm 1974, đến khi mở đầu chiến dịch địch lại càng tin ta chỉ tiến công nghi binh, một vài ngày rồi sẽ rút. Kinh nghiệm của lịch sử cho thấy, bị bất ngờ là con đường đi đến sự thất bại. Một nguyên nhân không nhỏ thất bại của địch ở Tây Nguyên chính là địch bị bất ngờ. Chính sự bất ngờ đối với địch đến khi ta nổ súng, buộc quân địch phải đưa Sư đoàn 23 về phản đột kích và cũng chỉ cơ động về phản kích duy nhất bằng đường không, không còn con đường nào để cơ động. Đây là tình huống ta đã dự kiến sẵn và thực tế đã diễn ra đúng như vậy.


Trong chiến dịch tiến công, nghệ thuật tạo yếu tố bất ngờ cho trận then chốt mở đầu có ý nghĩa hết sức quan trọng. Sự bất ngờ sẽ làm cho địch hoang mang, rối loạn, đã bị động lại càng bị động. Đây cũng chính là sự tác động đến xử trí các tình huống sai lầm tiếp theo của địch. Mặt khác nghệ thuật tạo bất ngờ trong chiến dịch thường diễn ra như hành động có qui luật. Chiến dịch đã nắm bắt được đúng qui luật này, dự kiến đúng và có công tác chuẩn bị chu đáo, hành động kiên quyết. Vì vậy, trận đánh đã đạt hiệu suất rất cao. Tuy không nhiều nhưng trong thực tế vẫn có những sự bất ngờ ngẫu nhiên. Trường hợp cụ thể trong chiến dịch Tây Nguyên xuân 1975 không phải có sự ngẫu nhiên đó.


Trong dự kiến kế hoạch chiến dịch, ta có dự kiến nhiều tình huống, đặc biệt là dự báo bổ sung về sự rút chạy chiến lược của địch, nhưng chưa dự báo về sự rút chạy vội vã sớm như vậy. Rút chạy sớm hơn ta dự kiến; rút theo Đường số 7, quân địch dự kiến sẽ là sự bất ngờ cho ta. Quân địch chỉ cần 1 - 2 ngày có thể đã rút toàn bộ lực lượng về đến Tuy Hoà, Nha Trang. Ngược lại ta cũng chỉ cần sớm hơn 1- 2 ngày là có thể tiêu diệt được toàn bộ quân địch. Ngay trong thời khắc lịch sử đó và cả sau này, khi ta có điều kiện ngồi lại để tổng kết đánh giá, nhiều quan điểm cho rằng: chính 1-2 ngày cực kỳ quan trọng đó là yếu tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi cho trận tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy khỏi Tây Nguyên. Không chỉ có ý nghĩa chiến dịch mà còn có tầm vóc chiến lược, trực tiếp đưa đến bước ngoặt của sự khởi đầu sụp đổ của địch trong mùa xuân 1975.


Vì vậy, tình huống địch rút chạy diễn ra sau trận Buôn Ma Thuột vượt quá sự suy nghĩ thông thường của Bộ Tư lệnh và cơ quan chiến dịch. Đây lại là sự bất ngờ mà kẻ địch gây cho ta, chính bản thân tình huống bất ngờ này lại có lợi cho ta. Chúng ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định: nghệ thuật nghi binh tạo bất ngờ và hành động bất ngờ là nội dung quan trọng của nghệ thuật chiến dịch. Chúng ta giữ được bất ngờ cho nên sức mạnh của chiến dịch đã được tăng lên gấp bội lần, quyền chủ động tiến công đã hoàn toàn thuộc về ta, khả năng giành được thắng lợi trước các tình huống dự báo càng tăng lên.


Trong tác chiến, nghệ thuật tạo bất ngờ thường phải đi đôi với việc không để bị đánh bất ngờ. Nội dung là thế, còn biện pháp được chỉ huy và cơ quan Tham mưu chiến dịch xác định để bảo đảm cho những nội dung đó cũng rất sát thực, rất nghệ thuật, đó là:

- Các tình huống diễn biến trên các hướng luôn được nắm rất cụ thể, kịp thời, chính xác để đối phó với những khả năng cố gắng nhất của địch. Để giữ bí mật bất ngờ, Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ đạo Sư đoàn 320 chỉ hoạt động nhỏ lẻ ở Đông và Tây Đường 14, mặc cho địch lùng sục. Đến khi ta tiến công Đức Lập mới chính thức cắt Đường 14.

- Bộ đội luôn được đặt trong tư thế sẵn sàng, chủ động, đặc biệt là lực lượng dự bị. Ngay sau khi dứt điểm Đức Lập, Bộ Tư lệnh đã điều một bộ phận của Sư đoàn 10 cơ động về Đông Buôn Ma Thuột, chuẩn bị đánh địch đổ bộ đường không.

- Xác định phương pháp tác chiến, linh hoạt, mưu trí, sáng tạo, có hiệu suất chiến đấu cao. Khi tình huống xảy ra ta đã có ngay Trung đoàn 64 thuộc Sư 10 đánh trận phủ đầu khi quân địch vừa đổ bộ. Đồng thời chia cắt quân địch tạo điều kiện cho Sư 10 triển khai tiến công trong hành tiến. Phương pháp tác chiến này ta ít vận dụng trong các chiến dịch tiến công trước đó.

- Trình độ tổ chức chỉ huy chiến dịch, tính quyết đoán và hành động kiên quyết, dám chịu trách nhiệm của Bộ Tư lệnh chiến dịch nói chung và Tư lệnh nói riêng là vấn đề bao trùm quyết định.

Nghệ thuật nghi binh tạo thế, tạo bất ngờ, giành và giữ quyền chủ động của chiến dịch là một trong những nét đặc sắc nhất của chiến dịch Tây Nguyên.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #55 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2022, 08:12:09 am »

Bài học thứ ba: Nghệ thuật tập trung lực lượng tạo ưu thế trên hướng chủ yếu và mục tiêu chủ yếu.

Vấn đề tập trung lực lượng tạo ưu thế hơn đối phương đã được các nhà chỉ huy quân sự trong lịch sử đúc rút thành lý luận, nguyên tắc sử dụng lực lượng. Tập trung ưu thế hơn địch là một nhân tố quan trọng, quyết định phần lớn đến tiến trình và kết cục của một trận đánh, một chiến dịch.


Nhìn tổng thể của toàn cục cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước trên chiến trường, địch thường chiếm ưu thế hơn ta về lực lượng và phương tiện. Từng trận đánh, chiến dịch, giai đoạn của cuộc chiến tranh ta biêt tập trung đúng thời cơ để giành thắng lợi, tạo sự đột biến. Đây chính là nghệ thuật tập trung lực lượng ta hơn hẳn quân địch.


Trong chiến dịch Tây Nguyên, bộ đội chủ lực tại chỗ có 28 tiểu đoàn bộ binh - 50%; Bộ tăng cường 14 tiểu đoàn bộ binh - 30%; bộ đội chủ lực của Quân khu 5 và Nam Bộ phối hợp tác chiến 10 tiểu đoàn bộ binh - 20%. Bằng biện pháp sử dụng tổng hợp các lực lượng, chiến dịch đã tạo được ưu thế hơn địch và hơn hẳn địch trên hướng chủ yếu, mục tiêu chủ yếu.

- So sánh trên địa bàn chiến dịch: về bộ binh ta 58 tiểu đoàn bộ binh - địch 42 tiểu đoàn bộ binh, tỷ lệ 1,3/1; xe tăng thiết giáp: ta 70 chiếc/địch 360 chiếc, tỷ lệ 1/5; pháo binh ta 140 khẩu/địch 230 khẩu, tỷ lệ 1/1,5.

- Trận tiến công thị xã Buôn Ma Thuột và vùng phụ cận: Bộ binh ta 18 tiểu đoàn bộ binh/địch 4 tiểu đoàn bộ binh, tỷ lệ 4,5/1; xe tăng thiết giáp ta 64 chiếc/địch 18 chiếc, tỷ lệ 5,5/l; pháo binh ta 78 khẩu/địch 16 khẩu, tỷ lệ 5/1.

Trong chiến dịch Tây Nguyên ta đã tạo được ưu thế ở trận then chốt mở đầu tiến công Buôn Ma Thuột và còn tập trung được ưu thế cả trận then chốt thứ 2 thứ 3. Nghĩa là ta đã tập trung và duy trì được ưu thế trong cả chiến dịch. Đặc biệt là tập trung cho những trận đánh then chốt có ý nghĩa quyết định.


Tập trung lực lượng không đồng nghĩa với việc sử dụng "dốc túi". Giá trị cấu thành mang tính nghệ thuật cao nhất đã thể hiện: ta đã kết hợp được hành động nghi binh, tạo thế, chia cắt đúng thời điểm, thời cơ, không gian, vị trí. Thành công của sự kết hợp đó, buộc quân địch phải dàn mỏng lực lượng đối phó trên nhiều hướng, nhiều nơi. Khi quân địch buộc phải dàn mỏng là thời cơ tốt cho ta tập trung. Đây cũng là một nguyên tắc chỉ đạo đã được tập hợp thành nghệ thuật, một qui luật trong sử dụng lực lượng. Ai tận dụng được thời cơ, nắm bắt được qui luật đó để chỉ đạo hành động, người đó sẽ giành chiến thắng là tất yếu.


Bài học thứ tư: Nghệ thuật vân dụng cách đánh linh hoạt sáng tạo

Vận dụng cách đánh của chiến dịch Tây Nguyên, đã thể hiện rõ mưu kế thông minh, khả năng sáng tạo của Bộ Tư lệnh và cơ quan chiến dịch; đồng thời cũng thể hiện rõ tinh thần chiến đấu quả cảm, anh dũng tuyệt vời, mưu trí sáng tạo, kiên quyết của bộ đội ta.


Cách đánh chung của chiến dịch Tây Nguyên là: Nghi binh tạo thế, giam chân chủ lực cơ động của địch trên hướng khác, tập trung lực lượng tạo ưu thế. Bất ngờ, đánh thẳng vào đầu não, đánh trúng huyệt của địch, thực hiện bao vây, chia cắt, cô lập từng cụm quân địch, kết hợp đột phá với luồn sâu, thọc sâu, kết hợp trong ngoài cùng đánh. Đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, tạo điều kiện đánh trận then chốt thúc đẩy chiến dịch phát triển, sử dụng các cụm lực lượng để đột kích là chính, phá vỡ từng cụm phòng ngự đi đối với đánh bại phản kích, phản đột kích. Lần lượt tiêu diệt từng trung đoàn, sư đoàn địch, tiến tới tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quản địch, bằng sức mạnh tổng hợp của các lực lượng ba thứ quân trên địa bàn chiến dịch.


Để thực hiện được cách đánh đã xác định, chiến dịch đã chỉ đạo hàng loạt các biện pháp rất công phu, tỷ mỷ và phần lớn đều sát với các tình huống dự đoán sẽ xảy ra. Những biện pháp này vừa thể hiện nội dung cách đánh vừa mang tính nghệ thuật rất cao, thể hiện sự sáng tạo, đa dạng, thực tiễn và hoàn toàn có tính khả thi, đó là:

- Đánh chiếm, chốt giữ, cắt đường giao thông, đã trực tiếp chia cắt chiến dịch. Biện pháp này phù hợp và thể hiện mưu kế thông minh của Bộ Tư lệnh và cơ quan chiến dịch. Phù hợp với điều kiện địa hình rừng núi trên địa bàn Tây Nguyên. Chúng ta đã kết hợp được trí tuệ với giá trị thực tiễn của địa hình, tận dụng và biết nhân bản các giá trị đó trong các trận đánh và toàn bộ thời gian diễn ra chiến dịch. Một nội dung thể hiện tính nghệ thuật kết hợp chưa bao giờ "cũ".

- Bất ngờ đột phá, đột phá liên tục có trọng điểm bằng các cụm lực lượng binh chủng hợp thành đột kích vào thắng mục tiêu chủ yếu có ý nghĩa then chốt mở đầu quyết định. Kết hợp được trong ngoài cùng đánh, tiến công trên nhiều hướng: chính diện, phía sau, bên sườn, lần lượt tiêu diệt từng cụm quân địch tiến tới tiêu diệt lực lượng địch và đánh chiếm Buôn Ma Thuột, mục tiêu chủ yếu trong thời gian chỉ có 32 giờ, tốc độ tiến công cao thể hiện sức mạnh đột biến.

Cách đánh này ta đã giải quyết thành công ba vấn đề trong vận dụng cách đánh thể hiện tính nghệ thuật rất sáng tạo, chủ động, tự tin chắc thắng và cũng rất táo bạo, đó là:

+ Vận động, cơ động đội hình của bộ đội hợp thành từ xa đến tiếp cận địch, chuyển từ đội hình hành quân sang đội hình chiến đấu. Có thời gian tạm dừng ngắn, bổ sung hoàn chỉnh công tác chuẩn bị trực tiếp của các cụm lực lượng để chuyển sang tiến công.

+ Tiến công bằng đột phá trận địa địch, kết hợp đột phá nhiều hướng của bộ đội hợp thành với thọc sâu của bộ binh xe tăng, luồn sâu của đặc công, đưa nhạnh lực lượng vào tung thâm mục tiêu. Trong ngoài cùng đánh, thọc thẳng vào mục tiêu chủ yếu, chia cắt từng cụm quân địch, lần lượt tiêu diệt từng khu vực, cụm quân địch, tiến tới tiêu diệt đánh chiếm toàn bộ mục tiêu chủ yếu.

+ Kết hợp thành công đột phá nhiều hướng với luồn sâu, thọc sâu khi tiến công thành phố, được nhân bản. Đặc biệt, kinh nghiệm tổ chức lực lượng chiến thuật thọc sâu trong chiến dịch này, ta đã phát triển thành binh đoàn binh chủng hợp thành thọc sâu trong Chiến dịch Hồ Chí Minh sau đó và thắng lợi rực rỡ.

- Đánh địch phản đột kích bằng đổ bộ đường không. Một tình huống dự kiến sát, đúng, cả thời gian, không gian, địa điểm, lực lượng, phương tiện. Ta hoàn toàn chủ động "giăng bẫy", đón sẵn để đánh phủ đầu lực lượng đổ bộ. Đánh chiếm các bàn đạp làm mất chỗ dựa của quân đổ bộ, chia cắt không cho quân chiếm giữ mặt đất với quân đổ bộ liên kết được với nhau. Đột kích bằng bộ binh xe tăng vào thắng quân địch vừa đổ bộ, tập trung đánh đòn quyết định vào các loại quân ô hợp, hoang mang đến cực điểm đang đồn về Phước An, tiêu diệt, bắt sống, làm tan rã toàn bộ quân địch phản đột kích, trong khi địch chưa có bất kỳ một hành động tác chiến phản đột kích nào. So sánh lực lượng hai bên, ta chỉ có Sư đoàn bộ binh 10 (thiếu Trung đoàn 66), địch có Sư đoàn 23 (thiếu). Điều này cho thấy thế và lực của ta đang được nhân lên gấp nhiều lần sau khi đánh chiếm Buôn Ma Thuột.

- Đánh quân địch rút chạy ở tầm chiến dịch, chiến lược. Rút chạy trong hoảng loạn, bị động, lại rút chạy ở địa hình rừng núi sẽ dẫn tới hậu quả của sự sụp đổ và tan vỡ là tất yếu. Mặc dù ta đã dự kiến trước khi quân địch rút chạy 2 ngày (13 tháng 3), nhưng khi địch rút chạy được một bộ phận ta mới phát hiện được. Tình huống diễn ra rất khẩn trương, nắm được những biến cố thuận lợi khó khăn và sự quan trọng, giá trị của việc tiêu diệt tập đoàn quân địch đang tháo chạy này. Để tiêu diệt được chúng, trong cách đánh phải thể hiện: hạ quyết tâm nhanh, cơ động nhanh, tiến công nhanh. Ta đã kết hợp được bộ đội chủ lực, bộ đội tại chỗ, bộ đội địa phương. Đồng thời hình thành thế khoá đầu, đuổi đằng sau với tiến công vào giữa đội hình, chia cắt quân địch. Khi quân địch đã rút chạy, bị tiến công, dù có chốt giữ, trụ lại, co cụm cũng chỉ là hành động bột phát để chống lại tức thì, bản chất không mang tính phòng ngự ngăn chặn ta. Đây là thực tế, các lực lượng ta đã tận dụng được. Vì vậy, dù có chậm, thiếu, hành động chung của bộ đội là phải táo bạo, bất ngờ tiến công ngay, tiến công liên tục, không chờ đợi, đơn vị nào gặp địch là phải tổ chức tiến công ngay. Tinh thần ý chí, chủ động của bộ đội trong trường hợp này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, chúng ta đã biết phát huy yếu tố này trong quá trình đánh địch rút chạy trên Đường 7B.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #56 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2022, 08:13:33 am »

Bài học thứ năm: Nghệ thuật tổ chức và điều hành các trận then chốt

Tổ chức điều hành đánh các trận then chốt là một bộ phận, nội dung chủ yếu của nghệ thuật chiến dịch. Tổ chức thực hành đánh thắng các trận then chốt là đặc trưng cốt lõi có tính kế thừa, truyền thống của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong lịch sử.


Trận tiến công Buôn Ma Thuột được xác định là: Trận then chốt mở đầu quyết định, được chiến lược xác định cho chiến dịch - Là mục tiêu chủ yếu của chiến dịch - Điểm đột phá của chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Do đó, được tập trung chuẩn bị khá chu đáo. Trong thời gian 48 ngày đêm chuẩn bị trực tiếp cho chiến dịch, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã để hơn 2/3 thời gian chuẩn bị cho trận Buôn Ma Thuột. Hạ quyết tâm và lập kế hoạch chiến dịch đều lấy Buôn Ma Thuột làm nội dung trung tâm. Khi thực hành chiến dịch, Bộ Tư lệnh trực tiếp chỉ huy điều hành trận đánh, từ chỉ huy cơ động triển khai, đến sử dụng hoả lực chuẩn bị, thực hành đột phá của các cụm đột kích... Thắng lợi của trận then chốt mở đầu tiến công Buôn Ma Thuột là thắng lợi của nghệ thuật tổ chức chuẩn bị chu đáo và chính xác; của nghệ thuật điều hành linh hoạt và sáng tạo của Bộ Tư lệnh và cơ quan chiến dịch.


Từ chủ quan cho rằng ta không đủ khả năng đánh thị xã lớn đến khi Buôn Ma Thuột thất thủ bằng sức mạnh của xe tăng và pháo hạng nặng, quân địch hoàn toàn choáng váng. Đòn tiến công bằng xe tăng pháo hạng nặng đã bay vế Sài Gòn và trở thành một tin khủng khiếp đối với Ngụy quyền. Thắng lợi của trận Buôn Ma Thuột đã gây sự bùng nổ dây chuyền, dẫn đến thắng lợi của trận then chốt thứ 2 ngay sau khi chưa cân nhắc tính toán các điều kiện Thiệu đã ra lệnh cho Phú đưa ngay Sư đoàn 23 về tái chiếm Buôn Ma Thuột.


Khi chuẩn bị kế hoạch chiến dịch, ta đã dự kiến 2 tình huống đánh địch phản đột kích sau khi đánh chiếm Buôn Ma Thuột.

Một là, đánh địch phản đột kích bằng đường bộ trên Đường 14.

Hai là, đánh địch phản đột kích bằng lực lượng đổ bộ đường không.

Cả hai tình huống dự kiến nhưng chưa có kế hoạch cụ thể, chi tiết của cả 2 tình huống này và chuẩn bị không được kỹ bằng trận Buôn Ma Thuột.

Khi tình huống xuất hiện rõ rệt, Sư đoàn 23 bắt đầu đổ quân xuống Đường 21 thì Bộ Tư lệnh đã gạn lọc các điều kiện về ta, địch, địa hình, thế trận hai bên, rất nhạy bén và hạ quyết tâm tiêu diệt ngay, khi địch còn đang ở ngoài công sự, đứng chân chưa vững, chưa liên kết được với căn cứ của Trung đoàn 53. Quyết tâm đó được chấp hành rất triệt đế bằng trận phủ đầu vào quân địch của Trung đoàn 64 đã cơ động về ngay sau khi diệt Đức Lập. Sau đó sử dụng Sư đoàn 10 được tăng cường xe tăng, pháo binh, tác chiến trong hành tiến diệt lực lượng đổ bộ của Sư đoàn 23. Đây chính là trận đánh diệt lực lượng dự bị cơ động của Quân Khu 2, trận then chốt thứ 2. Trận đánh "bồi" này đã có tác dụng cực kỳ to lớn, thúc đẩy chiến dịch của ta phát triển thuận lợi, đồng thời dồn quân địch lâm vào tình thế hỗn loạn, mất phương hướng và khốn quẫn, dẫn tới sai lầm rút bở Tây Nguyên - thực chất là tháo chạy. Kết quả giữa hai trận đánh, đã tạo ra sự phát triển đột biến về chiến dịch và đi đến phá vỡ về chiến lược.


Lực lượng quân địch ở Quân Khu 2 rút chạy chính là tình huống xuất hiện trận then chốt thứ 3 đã đến. Trận then chốt thứ 3 tiêu diệt tập đoàn rút chạy trên đường 7 hoàn toàn khác so với 2 trận đánh trước:

Trận then chốt thứ nhất được chuẩn bị rất kỹ, rất chu đáo.

Trận then chốt thứ hai chỉ dự kiến nhưng chưa đầy đủ và chưa kỹ.

Trận then chốt thứ ba hoàn toàn chưa dự kiến trong kế hoạch chiến dịch.

Chiến dịch chưa chuẩn bị bất kỳ một động thái nào để chuẩn bị cho trận đánh (tình huống) quân địch tháo chạy trên Đường 7. Mọi điều kiện chưa được sẵn sàng, chưa sẵn sang ngay trong tư duy tiến trình chiến dịch. Sự nhạy bén, chủ động được thể hiện: hạ quyết tâm tức khắc và tổ chức thực hiện quyết tâm đó ngay trong hành tiến. Chiến dịch hạ quyết tâm nhanh, chính xác; cấp chiến thuật chấp hành kiên quyết và triệt để; bộ đội quyết tâm rất cao. Đây chính là ba yếu tố cùng đến, cùng có trong một tình huống thời cơ lớn, đồng thời đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kết quả to lớn tiêu diệt tập đoàn rút chạy của địch trên Đường 7, có nhiều giá trị ở cả tầm chiến dịch, chiến lược.


Từ thực tiễn của ba trận then chốt trong chiến dịch Tây Nguyên diễn ra trong các thời điểm khác nhau, giải quyết các nhiệm vụ khác nhau, trong các điều kiện khác nhau, chúng ta khẳng định những vấn đề lý luận nghệ thuật chỉ huy và điều hành các trận then chốt chiến dịch mang tính phổ biến:

- Trong một chiến dịch thường có thể tổ chức 2 -3 trận then chốt.

- Trận then chốt là công cụ chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ của chiến dịch.

- Trận then chốt phải tiêu diệt lớn quân địch, làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, đánh chiếm mục tiêu có ý nghĩa chiến dịch, làm thay đổi cục diện chiến dịch. Là động lực thúc đẩy tiến trình chiến dịch phát triển nhanh chóng, tạo nên những bước ngoặt quyết định của quá trình chiến dịch.

- Trận then chốt là mắt xích quan trọng liên kết giữa các trận đánh trong chiến dịch. Kết quả của nó tạo nên tác động dây chuyền, làm nảy sinh các thời cơ trực tiếp cho các trận đánh kế tiếp.

Để tổ chức và chỉ huy điều hành các trận then chốt chiến dịch giành thắng lợi, phải: nghiên cứu kỹ về địch, ta, địa hình, liên hệ liên kết được các điều kiện, các yếu tố với nhau. Nắm chắc, chính xác các diễn biến, nắm chắc thời cơ, tận dụng thời cơ. Hạ quyết tâm đúng, nhanh, chính xác, tổ chức thực hiện quyết tâm nhanh, kiên quyết táo bạo.

Nói tóm lại, nghệ thuật tổ chức và điều hành các trận then chốt chiến dịch, thực chất là một trong những nội dung quan trọng nhất của nghệ thuật vận dụng qui luật giành thắng lợi của chiến tranh.

Chiến dịch Tây Nguyên là chiến dịch mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, một trong những thắng lợi điển hình rực rỡ nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại. Một chiến công hiển hách nhất trong lịch sử chống ngoại xâm từ ngàn xưa đến nay của dân tộc ta.


Chiến thắng Tây Nguyên có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng. Trước hết nó đã tạo ra bước ngoặt lớn trên một hướng chiến lược chủ yếu. Đồng thời, thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, đã trực tiếp tạo nên bước ngoặt có ý nghĩa quyết định cho một sự mở đầu hoàn hảo trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở "hồi kết" của chiến tranh.

Chiến dịch lịch sử này đã để lại cho chúng ta nhiều tư liệu, giá trị quí giá, đó là:

- Nghệ thuật chọn hướng và mục tiêu chủ yếu của chiến dịch.

- Nghệ thuật nghi binh, tạo thế, bất ngờ, giành quyền chủ động.

- Nghệ thuật lựa chọn cách đánh chiến dịch

- Nghệ thuật tổ chức và điều hành các trận then chốt chiến dịch.

- Nghệ thuật tổ chức chuẩn bị chiến dịch

- Nghệ thuật tổ chức cơ động lực lượng

Những vấn đề nghệ thuật trên đã bao gồm tương đối đầy đủ nội dung của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Chúng ta cũng đã có nhiều bài viết, nhiều tác phẩm viết về chiến dịch này dưới các thể loại khác nhau. Nhưng vẫn chưa khai thác hết giá trị đích thực của nó. Những giá trị, nội dung về nghệ thuật trên vẫn còn đang tiềm ẩn trong các sự kiện của chiến dịch, cần tiếp tục khai thác nhân bản, vận dụng và phát triển vào thực tiễn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #57 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2022, 07:18:23 am »

III. Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, nghệ thuật tận dụng thời cơ, tạo bước ngoặt vững chắc cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng

Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, được hình thành trong quá trình phát triển của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Chiến dịch đã tận dụng được thời cơ chiến lược lớn. Thắng lợi kế tiếp của chiến dịch đã góp phần tạo ra bước ngoặt vững chắc cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng của dân tộc ta.


Theo tiến trình lịch sử, chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng được bắt đầu từ hai chiến dịch tiến công của Quân khu Trị Thiên và Quân khu 5 - từ ngày 5 tháng 3 năm 1975. Như vậy, chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng không đồng nghĩa với kế tiếp hoặc gối đầu chiến dịch Tây Nguyên mà diễn ra đồng thời. Đặc điểm nổi bật của chiến dịch Huế - Đà Nẵng là từ hai chiến dịch nhỏ phát triển lên thành chiến dịch tiến công có ý nghĩa chiến lược trong thời cơ chiến lược mới.


Khi mặt trận Tây Nguyên nổ súng thì quân ta cũng bắt đầu hoạt động phối hợp, tiến công địch ở cả vùng đồng bằng và vùng giáp ranh. Lực lượng vũ trang Quân khu đã bao vây trên một diện rộng các căn cứ địch, diệt và bức rút một số đồn bốt, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động đánh phá giao thông và các hoạt động khác.


Lực lượng Quân đoàn 2 của ta đã tiến công địch trên tuyến Tây Nam Huế, Núi Bông, Núi Nghệ... diệt một số căn cứ, liên tục đánh phản kích tái chiếm, kìm chân lực lượng cơ động của địch không cho chúng rút khỏi Trị - Thiên. Các lực lượng vũ trang địa phương cùng với hàng trăm đội công tác đã tích cực thọc xuống các vùng sâu, kết hợp với nhân dân địa phương đồng loạt nổ súng tiến công địch. Ta đã thực hành diệt gọn 11 phân chi khu, tuyên truyền vận động nhân dân nổi dậy trên một diện 58 xã với 2 vạn dân.


Sau chiến thắng Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã kịp thời chỉ đạo mặt trận Trị - Thiên và Quân đoàn 2 chớp lấy thời cơ nhanh chóng chuyển hướng tiến công.

Ngay ngày 18 tháng 3, phán đoán địch có thể rút bỏ cố đô Huế, đưa Sư đoàn bộ binh 1 về tổ chức phòng thủ từ đèo Hải Vân trở vào. Bộ tổng tư lệnh chỉ thị cho Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 phải táo bạo hơn nữa, đưa lực lượng thọc sâu vượt và bỏ các tuyến phòng thủ vòng ngoài, cắt đứt Đường số 1 áp sát Huế. Tổ chức hiệp đồng tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 1 quân Ngụy, không cho chúng rút về Đà Nẵng cố thủ, tranh thủ thời cơ tốt nhất giải phóng cố đô Huế và toàn bộ Trị - Thiên.


Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân khu 1 - Quân đoàn 1 Huếnh hoang trên Đài phát thanh Huế rằng: "Tôi sẽ chết trên đường phố Huế. Việt cộng phải bước qua xác tôi mới vô được cố đô này". Phù hoạ với lời lẽ ba hoa của Trưởng, Thiệu hò hét trên đài Sài Gòn: "Bỏ Kon Tum, Plâyku để bảo toàn lực lượng, còn Huế, Đà Nẵng, Quân khu 3, Quân khu 4 sẽ phải giữ đến cùng". Những luận điệu mỵ dân và uý lạo quân lính của các tướng tá Sài Gòn không đi đôi với hành động chồng chất tiếp những sai lầm về chiến lược của chúng.


Chấp hành mệnh lệnh các lực lượng vũ trang địa phương Quảng Trị kịp thời chuyển sang tiến công liên tục, giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị. Tuyến phòng thủ phía Bắc, nơi giáp ranh với ta đã bị vỡ một mảng lớn, quân địch đã phải rút về phòng thủ ở Nam sông Mỹ Chánh.


Ngày 21 tháng 3 tiến công trên ba hướng, lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 đã vượt qua các tuyến phòng thủ vòng ngoài, hình thành nhiều mũi bao vây Huế, đánh thiệt hại nặng Sư đoàn bộ binh 1, Lữ thuỷ quân lục chiến 147, cắt đứt Đường số 1 trên đoạn đường từ Mũi Né đến Bái Sơn. Hàng nghìn xe di tản từ Huế vào Đà Nẵng phải quay lại trong cảnh rối loạn. Pháo binh tầm xa của ta pháo kích căn cứ Đống Đa, Màn Cá, sân bay Phú Bài. Như vậy, đường bộ đã bị cắt, đường không đã bị triệt phá, đường tháo chạy cuối cùng là đường biển. Muốn chạy được ra biển, cửa cuối cùng là Thuận An và cửa Tư Hiền, "cửa ải" này là niềm hy vọng của sự tháo chạy nhưng trong thực tế hai cửa biển này đã trở thành cửa tử của những kẻ vừa Huếnh hoang khoác lác tử thủ trên miệng mà chưa kịp viết ra giấy.


Nắm được chính xác ý đồ muốn tẩu thoát của một đạo quân đang hỗn loạn theo "quyết định sai lầm" của Thiệu. Bộ Tư lệnh đã chỉ đạo pháo binh tầm xa của ta vừa bắn khống chế cửa Thuận An vừa bắn chế áp ngay vào đội hình di tản dày đặc hoảng loạn của địch đang ùn tắc ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền. Bộ đội đặc công đã đặt mìn phong toả cửa Thuận An. Đội hình xe tăng, pháo binh, xe ôtô các loại của binh lính và dân chúng đang kéo đi kín đường đã chen lấn xô đạp bắn giết lẫn nhau để thoát thân.


Ngày 25 tháng 3 các cánh quân của ta đã hợp vây tiêu diệt và làm tan rã quân địch ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền. Đúng 10 giờ 30 phút, lá cờ cách mạng được kéo lên đỉnh cột cờ trước cửa Ngọ Môn. Tiêu diệt địch tháo chạy ở cửa Thuận An và cửa Tư Hiền, giải phóng cố đô Huế - toàn bộ Trị - Thiên, diệt và xoá tên Sư đoàn 1 bộ binh, Sư đoàn được Mỹ - Ngụy cho là thiện chiến của quân lực Việt Nam Cộng hoà. Những chiến công này đồng nghĩa với đánh sụp ý đồ co cụm chiến lược của địch, đẩy nguy cơ Quân khu 1 - Quân đoàn 1 Ngụy sẽ lại tiếp tục tan vỡ. Thực tế sự tan vỡ đang đến gần và chỉ được tính bằng ngày.


Trước đó, Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 rất nhạy bén với thời cơ, thế chiến lược mới do thắng lợi của ta trên các mặt trận. Quân khu đã bỏ kế hoạch phát triển về phía Nam, chỉ đạo các lực lượng vũ trang chuyển hướng tiến công, quay ngược trở lại hướng Bắc, chuẩn bị phối hợp với các cánh  quân hướng Bắc giải phóng Đà Nẵng. Quân khu 5 đang chỉ đạo sự chuyển hướng này, Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh gần như đồng thời chỉ thị cho Quân khu 5, nhận rõ thời cơ mới đã và đang xuất hiện rất thuận lợi. Nhanh chóng tổ chức cắt tuyến Đường số 1 trên khu vực giữa Đà Nẵng với Tam Kỳ, tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 2 quân Ngụy không cho địch co cụm về Đà Nẵng. Chuẩn bị công kích giải phóng Đà Nẵng.


Ngày 21 tháng 3 một Trung đoàn thuộc Sư đoàn bộ binh 2 Quân khu 5 đã đánh chiếm Tuần Dưỡng, cắt Đường số 1 từ Tam Kỳ ra Đà Nẵng đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 5 thuộc Sư đoàn 2 quân Ngụy.

Quán triệt các chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, kết hợp với thời cơ mới, thế chiến lược mới, Thường vụ Khu uỷ Khu 5 họp mở rộng hạ quyết tâm: "Động viên toàn Đảng bộ, toàn dân trong Quân khu phấn đấu trong thời gian ngắn nhất, giải phóng hoàn toàn Khu 5"1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, NxbQĐND, H.2003, tr.110). Trong 2 ngày 24 và 25 tháng 3, Sư đoàn 2 Quân khu 5 cùng các lực lượng khác, tiêu diệt và làm tan rã Trung đoàn 4, 5 thuộc Sư đoàn 2 Ngụy, giải phóng Tam Kỳ, Bắc tỉnh Quảng Ngãi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #58 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2022, 07:19:32 am »

Đà Nẵng bị uy hiếp ở cả phía Bắc, phía Tây và phía Nam. "Trường ca" "tử thủ Đà Nẵng" lại được Thiệu "hát" trên đài Sài Gòn, nhưng Thiệu lại ra lệnh rút Sư đoàn thuỷ quân lục chiến về Sài Gòn. Mỹ điều một số tàu chiến đến biển Đông ngoài khơi vùng biển Đà Nẵng làm lực lượng răn đe. Hò hét "tử thủ" nhưng Mỹ - Ngụy lại lập cầu hàng không chuyên chở một số gia đình tay sai Mỹ và sỹ quan cao cấp chuồn về Sài Gòn. Hoà âm với Thiệu, Bộ Tổng Tham mưu Ngụy phái ngay tên thiếu tướng Nguyễn Xuân Trang, Phó Tổng Tham mưu trưởng hoả tốc ra Đà Nẵng thị sát và chuyển 20.000 khau súng ở tổng kho Long Bình ra bổ sung cho các lực lượng ở đây. Thiệu có ý định nếu không giữ được Đà Nẵng - Quảng Nam cũng phải "trì hoãn" một hai tháng để tranh thủ thời gian bố trí lại thế phòng ngự chiến lược - Một tư duy ảo tưởng đang được hình thành trong đầu chính quyền Sài Gòn. Những động thái này của địch báo hiệu cho sự sụp đổ tiếp của Quân Khu 1 - Quân đoàn 1 đang đến gần.


Ngoài các lực lượng đang chiếm đóng Đà Nẵng, còn có các lực lượng khác vừa tháo chạy về, trong đó có sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 1, Sư đoàn 1, tổng cộng quân địch đang dồn tại đây khoảng 16.000 tên.

Ngày 25 tháng 3, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh nhận định: "Sau khi mất Huế, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Chu Lai, địch dù có muốn giữ Đà Nẵng cũng không thể được". Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở trận công kích Đà Nẵng với tư tưởng chỉ đạo "kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất và chắc thắng". Đồng thời chỉ thị cho Quân đoàn 2, Quân khu 5 "hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không kịp trở tay, tập trung lực lượng tiêu diệt sinh lực lớn của địch ở Đà Nẵng, chủ yếu là Sư đoàn thuỷ quân lục chiến và Sư đoàn bộ binh 3 Ngụy, giành thắng lợi trong trận quyết chiến này, tạo điều kiện cho trận quyết chiến chiến lược sau".


Để chỉ huy trận đánh rất quan trọng này, ngày 25 tháng 3 Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, lấy tên là Mặt trận 475, đồng chí Trung tướng Lê Trọng Tấn làm tư lệnh, đồng chí Thượng tướng Chu Huy Mân làm chính uỷ. Trong khi đó đồng chí Lê Trọng Tấn đáp máy bay từ Hà Nội vào, đồng chí Chu Huy Mân đang chỉ huy một cánh quân ở rất xa. Chỉ huy sở được lập ở Tây Đà Nẵng. Tư lệnh Lê Trọng Tấn đã sử dụng tổng trạm điện thoại giữa đường để liên lạc và chỉ đạo các cánh quân thuộc quyền. Thấy tình hình rất gấp, Tư lệnh đã dùng điện đài để trao đổi thống nhất cách tác chiến với đồng chí Chu Huy Mân. Như vậy, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà vẫn chưa gặp nhau.


Ngay từ ngày đầu thành lập, chưa có cơ quan Mặt trận. Mọi hoạt động tác chiến của Quân đoàn 2 và Quân khu 5 vẫn do cơ quan tiền phương Bộ Tổng Tham mưu chỉ huy. Ngày 26, một số đồng chí được rút ra từ cơ quan Bộ lên đường vào vị trí triển khai sở chỉ huy. Đến chiều 28 tháng 3 mới chính thức có cơ quan Mặt trận 475, vị trí sở chỉ huy trên Đường 14 ở Tây Đà Nẵng. Trong khi Bộ Tư lệnh vẫn chưa gặp nhau.


Trận tiến công Đà Nẵng ta đã sử dụng lực lượng như sau:

- Trên hướng Bắc:

Sư đoàn 325 (thiếu), đi đầu là Trung đoàn 18 được tăng cường 1 đại đội xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo, tiến quân bằng xe cơ giới, theo trục Đường số 1 từ đèo Hải Vân vào thẳng Đà Nẵng. Tiếp sau là Trung đoàn 101. Hướng này do Phó Tư lệnh Quân đoàn 2 trực tiếp chỉ huy.


- Trên hướng Tây Bắc:

Trung đoàn bộ binh 9 thuộc Sư đoàn 304 cùng với Tiểu đoàn xe tăng theo Đường 14 cũ từ Nam Yên vào thành phố. Trên hướng này có pháo nòng dài 130mm của Quân đoàn bố trí ở Mũi Trâu, sẵn sàng pháo kích Đà Nẵng và Quân cảng Sơn Trà. Hướng này do Tư lệnh Quân đoàn 2 và một bộ phận Sở chỉ huy nhẹ trực tiếp chỉ huy.


- Trên hướng Tây Nam:

Sư đoàn 304 (thiếu) tiến công theo 2 hướng:

+ Trung đoàn 66 đánh theo hướng Thượng Đức, Ái Nghĩa, Hiếu Đức.

+ Trung đoàn 24 đánh theo hướng Đức Lâm, Bắc núi Sơn Gà, có nhiệm vụ tiêu diệt Lữ 369 thuỷ quân lục chiến tiến vào sân bay Đà Nẵng.


- Trên hướng Nam:

Hướng Nam Đà Nẵng do Quân khu 5 đảm nhiệm, gồm Sư đoàn 2 được tăng cường Trung đoàn 36 một bộ phận pháo binh, xe tăng, Lữ bộ binh 52, Trung đoàn 96 và lực lượng vũ trang địa phương Quảng Đà:

+ Cánh chủ yếu do Trung đoàn 1, 2 thuộc Sư đoàn 2 đảm nhiệm, tiến công theo trục Đường số 1 đột kích thẳng vào sân bay Đà Nẵng, khu vực Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 Ngụy, phát triển vào thành phố.

+ Cánh quân do Trung đoàn 38 thuộc Sư đoàn 2 đảm nhiệm, tiến công Núi Quế, Bà Đen, mở đường cho Trung đoàn 1 thọc sâu vào sân bay Đà Nẵng, sau đó cùng Trung đoàn 96 Quảng Đà đánh chiếm Quận 3 và bán đảo Sơn Trà.


Lực lượng bộ đội địa phương Quảng Đà hình thành các mũi thọc sâu, áp sát thành phố, phối hợp với cánh quân chủ lực tiến vào thành phố.

+ Trung đoàn 3 độc lập của Quân khu làm dự bị cho Sư 2 tiến theo trục Đường số 1; Lữ đoàn 52 làm dự bị cho Quân khu.

Đến chiều 26 tháng 3 tổng quân số địch dồn về Đà Nẵng và những khu vực phụ cận lên tối 75.000 têu, nhưng đã ở trong tư thế thất bại, bị cô lập, suy sụp về tinh thần, bắt đầu tan rã về tổ chức, rối loạn về chỉ huy.


Các lực lượng ta trên các hướng đều áp sát Thành phố. Kế hoạch co cụm đế "tử thủ Đà Nẵng" chưa hình thành địch đã phải từ bỏ. Đường bộ bị cắt, đường biển bị phong toả. Đường không là "cầu" duy nhất còn mong manh có cơ may chạy thoát. Binh lính, dân chúng chen chúc, tranh nhau lên máy bay gây cảnh huyên náo, ẩu đả ở sân bay. Sư đoàn thuỷ quân lục chiến trước khi rút chạy đã gây ra nhiều cảnh cướp bóc, hãm hiếp phụ nữ. 3.200 tân binh đang huấn luyện ở Hoà Cầm nổi dậy đấu tranh bỏ ngũ ra với Quân giải phóng hoặc tự tan rã. Pháo binh tầm xa của ta bắt đầu pháo kích vào sân bay Đà Nẵng, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 quân Ngụy, Quân cảng Sơn Trà, căn cứ Non Nước, đang hoảng loạn lại càng hoảng loạn thêm.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #59 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2022, 07:20:44 am »

Cuộc công kích vào Đà Nẵng và các vùng phụ cận trên các hướng bắt đầu:

Vào lúc 5 giờ 30 sáng ngày 28 tháng 3, pháo 130mm của Quân khu bố trí ở Lãnh An Thượng thực hành pháo kích vào Hòn Bàng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện, chi viện cho bộ binh tiến công; Tiểu đoàn 575 ĐKB của bộ đội Quảng Đà tiếp tục bắn phá sân bay Đà Nẵng. 16 giờ cùng ngày 6 khẩu 130mm và Đ74 của Quân đoàn 2 bố trí ở Mũi Trâu, lại tiếp tục pháo kích vào sân bay Đà Nẵng. Sân bay đã bị đóng cửa.


- Trên hướng Bắc: Trung đoàn bộ binh 18 ngay từ ngày 26 đã đánh chiếm ga Thừa Lưu, đồn Tổ Sơn, 9 giờ chiếm luôn đèo Phú Gia, phát triển về Lăng Cô. Ngày 28 chiếm Lăng Cô và đánh bại nhiều đợt phản kích của địch.

Trong đội hình tiến công hành tiến của Trung đoàn 18 có 2 đại đội xe tăng T54 nhưng không thể phát triển được do cầu Thừa Lưu đã bị địch đánh sập. Quân đoàn tăng cường cho Trung đoàn 1 đại đội xe tăng PT85 lội nước vượt sông Thừa Lưu. Đến 8 giờ, 7 chiếc xe tăng và 1 đại đội bộ binh của Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 18 đã phát triển cách đỉnh đèo Hải Vân 600m. Quân địch bố trí trên đỉnh đèo nổ súng ngăn chặn, bộ binh ta xuống xe vận động theo hai bên sườn đội hình xe tăng, quân địch nhanh chóng bỏ lại trận địa khi xe tăng ta xuất hiện. Quân địch đã vứt bỏ cả xe tăng, pháo binh và các loại xe ôtô tháo chạy về Đà Nẵng, xe pháo ngổn ngang cả chân đèo phía Nam, quân ta không sao vượt qua được. Phải mất một thời gian mới khắc phục xong.


8 giờ lực lượng thọc sâu của ta xuống đến chân đèo, chiếm kho Liên Chiểu rồi nhanh chóng vận động đột kích thẳng vào trung tâm Thành phố Đà Nẵng. Trung đoàn Ba Gia Quân khu 5 đang chiếm giữ cầu Trịnh Minh Thế. Vì vậy, Trung đoàn 18 lại tiếp tục nhận lệnh bổ sung: nhanh chóng vượt cầu Trịnh Minh Thế đánh chiếm Quân cảng - bán đảo Sơn Trà. 100 tàu thuyền địch chưa kịp tháo chạy, khu ra đa viễn thông, bộ chỉ huy yểm trợ hành quân, khu kho liên hợp... đã nhanh chóng bị Trung đoàn 18 chiếm giữ. Ngay tại bến cảng Sơn Trà, quân địch đang đạp giẫm lên nhau để xuống tàu. Xe tăng của ta triển khai ngay đội hình bắn chìm tại chỗ một chiếc, 3 chiếc còn lại kéo cờ trắng xin quay vào bờ. Quân địch còn lại chạy tán loạn vào dãy núi Sơn Trà. 13 giờ 30 phút ngày 29 tháng 3 ta làm chủ bán đảo Sơn Trà.


Trung đoàn 9 thuộc Sư đoàn 304, ngay tối ngày 28 đã cơ động bằng xe ôtô theo Đường 14 cũ qua đèo Mũi Trâu, chuẩn bị tiến công Đá Đen thì biết quân địch ở đây đã cao chạy xa bay. Trung đoàn chuyển sang đánh chiếm Phước Tượng, Hoà Khánh trong hành tiến, đột kích thẳng vào sở chỉ huy Sư đoàn 3 Ngụy, đánh chiếm sở chỉ huy Sư đoàn 3 lúc 12 giờ 30 phút.


- Trên hướng Tây Nam:

+ Trung đoàn bộ binh 66 thuộc Sư đoàn 304, sáng ngày 28 tháng 3, sau khi đánh chiếm Phú Hương, đến 14 giờ đánh chiếm Tâm Hoà, Núi Đất; 17 giờ đánh chiếm Ái Nghĩa.

+ Trung đoàn 28 thuộc Sư đoàn 304, sau khi đánh tan sự chống cự của địch ở Đông Lâm, truy kích địch và tiến công đánh chiếm Ái Nghĩa cùng Trung đoàn 66.

Ngày 29 tháng 3 Sư đoàn 304 từ Ái Nghĩa đánh chiếm Phú Sơn, Hiếu Đức, 12 giờ 30 đánh chiếm Hoà Cầm và tiến công đánh chiếm sân bay Đà Nẵng.


- Trên hướng Nam và Đông Nam:

5 giờ 30 ngày 28 pháo binh tầm xa của Quân khu bắn phá sân bay Đà Nẵng, sở chỉ huy Quân đoàn 1 Ngụy. Trung đoàn 38 thuộc Sư đoàn 2 Quân khu 5, Trung đoàn 96 Quảng Đà đánh chiếm Bà Rén, quận lỵ Duy Xuyên, thị trấn Nam Phước, Đường 104, chín giờ sáng máy bay địch đánh sập cầu Bà Rén, 14 giờ máy bay địch lại đánh sập cầu Lâu. Ba giờ sáng ngày 29 cơ bản đội hình bộ binh của Trung đoàn thê đội 1 mới vượt được sông bằng thuyền bè của nhân dân địa phương tại chỗ. Đội hình xe pháo không qua được.


5 giờ 55 phút ngày 29 tháng 3, Trung đoàn 38 đánh chiếm Vĩnh Điện, Miếu Bông, phát triển vào Đà Nẵng. Trung đoàn 31 vượt cầu Kỳ Lâm bám sát đội hình Trung đoàn bộ binh 1. Mười hai giờ cùng ngày đánh chiếm sở chỉ huy Quân đoàn 1 Ngụy. Đồng thời 12 giờ trên một mũi khác của trung đòan chiếm sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Không quân và sân bay Đà Nẵng.


8 giờ ngày 29, Trung đoàn 97 bộ đội địa phương chiếm xong thị xã Hội An, sân bay Nước Mặn, khu Hải quân và gặp Trung đoàn 18 thuộc Sư đoàn 325 đang chiếm giữ.

Khi các lực lượng ta trên các hướng tiến vào Thành phố Đà Nẵng và các vùng phụ cận, đã được quần chúng nhân dân dẫn đường, sử dụng xe chở bộ đội truy kích quân địch.

Đến 12 giờ ngày 29 tháng 3, cơ bản ta đã chiếm xong các mục tiêu chủ yếu ở Đà Nẵng. Đến 15 giờ, chiếm giữ xong toàn bộ khu căn cứ liên hợp lớn nhất miền Nam là Đà Nẵng - Sơn Trà.

Sau 32 giờ bộ đội binh chủng hợp thành của Mặt trận 475, cho dù Bộ Tư lệnh mỗi người trên một hướng cách biệt và chưa gặp nhau, nhưng với tư tưởng "kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất và chắc thắng" cùng lực lượng vũ trang địa phương đã tận dụng được thời cơ lớn tiến công trong hành tiến, tiến công liên tục, giải phóng Đà Nẵng, thành phố lớn thứ hai miền Nam.


Ngày 28 tháng 3 năm 1975, tướng Uâyoen, viên tướng cách đây 3 năm đã cuốn lá cờ Mỹ để cùng đơn vị Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam lại mò đến Sài Gòn trực tiếp vạch kế hoạch phòng thủ cho bọn Ngụy. Sau khi ta đã giải phóng đến Cam Ranh, lực lượng địch cơ bản đã bị tiêu diệt hoặc tan rã. Quân Khu 1, Quân Khu 2 đã bị xoá sổ về hành chính trên bản đồ Việt Nam Cộng hoà. Trước tình hình Sài Gòn - “hòn ngọc của Viễn Đông”, đang bị uy hiếp trực tiếp. Uâyoen vội vã đốc thúc quân Ngụy xây dựng một tuyến phòng thủ mạnh, ngăn chặn tốc độ tiến công của quân ta từ xa ở Phan Rang. Uâyoen cũng điện về Mỹ xin viện trợ khẩn cấp cho chính quyền Thiệu. Đáp lời cầu xin của Thiệu và có sự “tô vẽ” của Uâyoen, Tổng thống Pho cho lập một cầu hàng không chuyên chở vũ khí từ Băng Cốc, Thái Lan đến Sài Gòn. Mỹ còn cho sử dụng máy bay vận tải cỡ lớn C-5 Galaxi từ Mỹ chuyển thẳng đến Tân Sơn Nhất hàng trăm khẩu đại bác và nhiều vũ khí khác. Sử dụng 4 tàu vận tải cỡ lớn LST cùng tàu sân bay Hencốc, 15 máy bay lên thắng cỡ lớn với 300 tên lính thủy quân lục chiến rập rình diễu võ dương oai ở biển Đông. Ngay từ khi Mỹ còn quân hùng tướng mạnh với xe tăng, đại bác, máy bay đủ các loại hiện đại, trực tiếp tác chiến với ta, Mỹ cũng chẳng làm lên “công trạng” gì giúp quân lực Việt Nam Cộng hoà. Khi ta đã giải phóng đến Cam Ranh; thử hỏi Mỹ làm được gì với mấy trăm tên lính lởn vởn ngoài khơi, trong tâm trạng đang sợ bỏ mạng ở chiến trường Việt Nam?
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM