Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:03:26 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc  (Đọc 20115 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #60 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2022, 07:21:28 am »

Trước tình thế hết sai lầm này đến sai lầm khác, cả “thầy” và “tớ” lại tiếp tục sai lầm khi cho rằng ta phải để lại nhiều đơn vị chủ lực để giữ các vùng đất ta vừa giải phóng. Chúng dự đoán ít nhất mỗi tỉnh ta cũng phải để lại 1 trung đoàn để ổn định tình hình và giữ vùng giải phóng. Như vậy, ta cũng chỉ có khả năng điều lực lượng vào tăng cường cho miền Đông Nam Bộ nhiều nhất là 1 quân đoàn, cơ động một quân đoàn vào đến khu vực triển khai tác chiến cũng phải mất 2 tháng. Thiệu so sánh, quân lực Việt Nam Cộng hoà có nhiều phương tiện cơ động như: máy bay vận tải, máy bay trực thăng, ôtô, cơ động 1 quân đoàn cũng tối thiểu từ 1 tháng đến gần 2 tháng. Một phép tính cộng trừ hết sức ấu trĩ của quân Ngụy. Chính quyền Sài Gòn vẫn không đánh giá đúng thực lực và tiềm năng của ta. Chính sự đánh giá không đúng về chiến lược này đã đẩy các hành động tác chiến của quân Ngụy tiếp tục đi vào con đường sai lầm, sụp đổ và tan rã.


Kết quả: Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng

Loại khỏi vòng chiến đấu 120.000 tên, bắt sống tại trận 55.000 tên, trong đó có 7000 sỹ quan có 220 sỹ quan cấp tá. Làm tan rã 125.000 phòng vệ dân sự.

Cụ thể các đơn vị bị tiêu diệt:

- 3 Sư đoàn bộ binh 1, 2, 3, thuộc Quân đoàn 1

- Sư đoàn thuỷ quân lục chiến thuộc lực lượng tổng dự bị

- 4 Liên đoàn biệt động quân 11, 12, 14, 15.

- 5 Thiết đoàn xe tăng thiết giáp, 4, 7, 11, 20, 17;499 xe tăng thiết giáp

- 21 tiểu đoàn, 4 đại đội và 14 trung đội pháo binh;418 khẩu pháo các loại

- Sư đoàn không quân 1

- 50 tiểu đoàn, 5 đại đội bảo an, 820 trung đội dân vệ, 6 đại đội quân cảnh

Ta đã thu 129 máy bay, 179 xe tăng thiết giáp, 327 khẩu pháo, 47 tàu xuồng, 1084 xe quân sự và nhiều kho tàng xăng dầu đạn dược khác.

Đập tan toàn bộ hệ thống phòng thủ kiên cố của địch, xoá sổ Quân Khu 1, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng, hệ thống chính quyền 5 tỉnh trong đó có 2 thành phố lớn là Huế và Đà Nẵng.


Về ý nghĩa thắng lợi của chiến dịch

Thắng lợi to lớn của chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng, có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng:

- Tiêu diệt và làm tan rã nhiều sư đoàn chủ lực của địch trên địa bàn Quân Khu 1, Quân Khu 2 của địch, trong đó có cả sư đoàn thuộc lực lượng tổng dự bị của quân lực Việt Nam Cộng hoà, trong một thời gian ngắn.

- Cùng với thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã làm thay đổi cục diện trên toàn bộ chiến trường miền Nam; thay đổi tương quan so sánh lực lượng chung về chiến lược hoàn toàn có lợi cho ta, bất lợi cho địch.

- Thắng lợi chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng đã tạo ra một vùng giải phóng rộng lớn, liên hoàn từ miền Bắc vào đến Tây Nguyên và các tỉnh đồng bằng ven biển miền Nam Trung Bộ. Hình thành vùng hậu phương chiến lược hoàn chỉnh, để bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho những cụm lực lượng tiến công với qui mô lớn, trên cả đường bộ, đường không và đường biển; tạo cho ta một thế trận mới vững chắc, một thời cơ mới không bao giờ lặp lại đối với người cầm quân trong chiến tranh, một lực lượng mới rất hùng hậu và toàn diện.

- Củng cố vững chắc quyết tâm của Bộ Chính trị, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa, trong cuộc Tổng tiến công đã xác định trước đó.


Đây là một chiến dịch tiến công, tác chiến hiệp đồng binh chủng qui mô lớn, diễn ra trong một thời gian ngắn, công tác chuẩn bị gấp, hầu như không có ở cả cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Nhưng lại giành được thắng lợi rất to lớn, mang lại nhiều kinh nghiệm, giá trị quí báu, có nhiều phát triển mới về nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch. Hiệu quả chiến đấu, chiến dịch và chiến lược rất cao. Cùng với thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã trực tiếp làm phong phú thêm về mặt lý luận và thực tiễn nghệ thuật quân sự của ta.


Một thành công lớn trong quá trình chỉ đạo chiến dịch: ta đã rất nhạy bén nắm bắt thời cơ chiến lược. Nhạy bén của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và nhạy bén của Quân khu 5, Quân khu Trị Thiên và của Quân đoàn 2, ngay từ khi chưa nhận được chỉ thị, chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương là đã có giải pháp phù hợp tình thế. Trên từng địa bàn tác chiến các quân khu, quân đoàn đã chủ động chuyển hướng tiến công ngay, tạo thế trận mới, đúng ý định của Bộ Chính trị và Quân uỷ. Điều này cho thấy, nhãn quan chiến lược của cán bộ cao cấp, người chỉ huy các cụm quân lớn trên chiến trường đều có những tư duy, thể hiện quan điểm tư tưởng lớn.


Sau chiến dịch Tây Nguyên, nhiều vấn đề mới về nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch đã phát triển ở tầm cao mới. Vì vậy, chiến dịch Huế - Đà Nẵng được hình thành ngay trong quá trình phát triển của cuộc tổng tiến công. Chiến dịch được hình thành không xuất phát từ kế tiếp, gối đầu chiến dịch Tây Nguyên mà hình thành song song, trực tiếp trên cơ sở của hai chiến dịch tiến công tổng hợp xuân hè trên địa bàn Quân khu 5 và Quân khu Trị Thiên. Trong chiến dịch có sự phối hợp rất thành công của các lực lượng vũ trang địa phương và sự nổi dậy của quần chúng. Sự kết hợp rất hiệu quả của 3 thứ quân.


Với cách đánh chủ động và rất sáng tạo, hầu hết các lực lượng trên các hướng đều vận dụng cách đánh tiến công trong hành tiến, hình thành thế bao vây, chia cắt, thọc sâu, đột kích liên tục, không cho địch tháo chạy. Tiêu diệt và làm tan rã phần lớn quân địch, giải phóng khu vực rộng lớn liên hoàn trên địa bàn 5 tỉnh, trong đó có 2 thành phố lớn, nhưng thương vong của ta thấp, bảo toàn được tính mạng cho nhân dân.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #61 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2022, 07:22:44 am »

Một Số bài học kinh nghiệm về nghệ thuật chiến dịch

Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng tháng 3 năm 1975, được hình thành trong quá trình của cuộc Tổng tiến công trên toàn miền. Chiến dịch đã kế thừa trực tiếp còn đang “rất nóng”, những kinh nghiệm quí giá từ chiến dịch Tây Nguyên. Mặc dù, chiến dịch không mang bóng hình của gối đầu hay kế tiếp chiến dịch Tây Nguyên, mà được phát triển từ 2 chiến dịch tiến công của Quân khu 5, Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2. Sự thành công đầu tiên được đi vào lịch sử thể hiện tính nghệ thuật cao về chỉ đạo tác chiến cho các lực lượng, của các lực lượng trên địa bàn, đó là tính nhạy bén, quyết đoán, táo bạo hàm chứa đầy đủ nhãn quan chiến lược của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 Quân khu Trị - Thiên và Quãn đoàn 2. Một quyết định chuyển hướng tiến công chiến lược đúng, đã mang lại hiệu quả cực kỳ to lớn, một thắng lợi không thể ngờ tới trong hoạt động quân sự thông thường.


Bài học thứ nhất: Đánh giá đúng tình hình so sánh lực lượng

Trong lịch sử, vấn đề đánh giá tình hình, đặc biệt là đánh giá đúng về địch, về ta, về địa hình thời tiêt và sự chuyển hoá, phát triển trong của mối quan hệ giữa các yếu tố đó có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trên cơ sở đánh giá đúng, khi đưa ra các kết luận so sánh lực lượng giữa hai bên mới chính xác. Vấn đề đánh giá đúng tình hình so sánh lực lượng đã được khái quát thành một nguyên tắc có tính qui luật trong bất kỳ một trận chiến đấu, chiến dịch, chiến lược hoặc bất kỳ một cuộc chiến tranh nào trong lịch sử.


Đánh giá đối phương không đúng sẽ dẫn tới những sai lầm hết sức nghiêm trọng về chiến dịch, chiến lược. Từ những sai lầm này, sẽ đưa ra những quyết tâm hành động không phù hợp với thực trạng của tình hình. Thực tiễn qua hai chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Huế - Đà Nẵng cho thấy: Cơ quan chiến lược của chính quyền Sài Gòn và cơ quan chiến dịch của Quân Khu 1 - Quân đoàn 1, Quân Khu 2 - Quân đoàn 2, luôn đưa ra những nhận xét, đánh giá thiếu khách quan, không có cơ sở thực tế, không đúng bản chất và không có mối quan hệ vận động phát triển, đặc biệt là đánh giá không đúng khả năng lực lượng của ta. Vì vậy, chúng liên tiêp đưa ra các quyết định sai lầm, sai lầm chồng chất kế tiếp sai lầm, sai lầm sau còn lớn hơn những sai lầm trước. Do đó, sự tan vỡ thế trận chiến lược, thất bại trong chiến tranh cũng là điều tất yếu.


Ngược dòng lịch sử, ngay từ khi ta đang nỗ lực tổ chức chuẩn bị chiến dịch Tây Nguyên ngày 18 tháng 2 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu cùng hội đồng các tướng lĩnh Sài Gòn đã đi đến nhận định đánh giá các hoạt động quân sự của ta trong năm 1975 cụ thể như sau:


Ta sẽ mở những cuộc tiến công với qui mô chưa đủ lớn, có thể qui mô chỉ lớn hơn năm 1974 nhưng không thể bằng năm 1972. Với mục đích của các cuộc tác chiến chủ yếu là đánh phá bình định, giành dân, nhất là đồng bằng sông Cửu Long, mở rộng vùng giải phóng miền núi, hướng tiến công chủ yếu sẽ là Tây Nguyên, mục tiêu chủ yếu là Plâyku - Kon Tum. Khả năng chủ lực của ta chưa đủ sức đánh chiếm các thị xã, thành phố lớn, có đánh cũng không có khả năng giữ được.


Từ những nhận định về chiến lược chưa chính xác như vậy, mặc dù địch cũng đã có những động thái theo dõi, đề phòng ta nhưng nhìn chung: Không đầy đủ, không chính xác và không có có sở. Vì vậy, địch vẫn chủ quan, giữ thế chiến lược chung là: tập trung mọi nỗ lực cao nhất cho chiến trường Quân Khu 1 và Quân Khu 3.


- Quân Khu 1 đã tập trung đến 5 Sư đoàn, trong đó có sư đoàn dù, sư đoàn thuỷ quân lục chiến là 2 sư đoàn dự bị cơ động chiến lược và nhiều quân binh chủng đơn vị trực thuộc khác.

Trên hướng địa bàn Quân Khu 1, địch phán đoán chủ lực ta sẽ tiến công trên địa bàn Quảng Trị - Thừa Thiên và Quảng Nam - Quảng Ngãi. Hướng tiến công chủ yếu là Quảng Trị. Từ nhận định và thế trận chung, địch đã bố trí trên địa bàn Trị - Thiên 2 sư đoàn (Sư đoàn thuỷ quân lục chiến và Sư đoàn bộ binh 1), một liên đoàn biệt động, 3 thiết đoàn thiết giáp, 2 liên đoàn bảo an, 7 tiểu đoàn pháo binh, các tiểu đoàn, đại đội bảo an, dân vệ và phòng vệ dân sự.


Ngày 06 tháng 3, trước những động thái hoạt động quân sự bán tín, bán nghi, không thể nào phán đoán và đánh giá chính xác được các hoạt động đó của ta trên toàn chiến trường. Thiệu quyết định rút Sư đoàn dù về Sài Gòn nhưng nhùng nhằng mãi đến ngày 17 tháng 3 mới thực hiện được lệnh rút này. Đến thời điểm lịch sử này ta đã đánh chiếm Buôn Ma Thuột, diệt luôn Sư đoàn 23 đổ bộ xuống Phước An nhằm phản đột kích tái chiếm Buôn Ma Thuột. Đồng thời Thiệu điều chỉnh lại thế bố trí lực lượng trên địa bàn Quân khu 1 bằng cách: đưa Sư đoàn thuỷ quân lục chiến từ Trị - Thiên về Đà Nẵng. Khi ta thực hành tiến công lực lượng quân địch trên địa bàn Trị - Thiên chỉ còn 1 sư đoàn, 1 lữ đoàn, 1 liên đoàn biệt động, thiết giáp, pháo binh và một số đơn vị địa phương.


Việc Thiệu điều chỉnh bố trí lại lực lượng và rút Sư đoàn dù về Sài Gòn, đã làm cho thế bố trí của địch trên địa bàn Quân Khu 1 bộc lộ nhiều chỗ sơ hở và yếu. Điều chỉnh, rút Sư đoàn dù khỏi Quân Khu 1 hoàn toàn trái ngược với những lời hò hét của Thiệu trên Đài Truyền hình Sài Gòn là: rút bở Tây Nguyên để bảo toàn lực lượng và phải tử thủ Huế - Đà Nẵng đến cùng. Ra lệnh tử thủ nhưng lại rút lực lượng ra khỏi địa bàn cần tử thủ! Điều sai lầm lớn của địch là đến lúc này địch vẫn chưa phát hiện được hướng tiến công chủ yếu của ta ở Trị - Thiên là phía Nam Thừa Thiên - Huế do Quân đoàn 2 đảm nhiệm đang khẩn trương chuẩn bị. Trong khi đó địch vẫn đang tập trung chuẩn bị đối phó với ta trên hướng Bắc Quảng Trị.

- Quân Khu 3, 3 Sư đoàn

- Quân Khu 2, 2 Sư đoàn

- Quân Khu 4, 3 Sư đoàn

Trong khi địch đang ráo riết điều chỉnh kế hoạch phòng thủ, phòng ngự trên địa bàn cả về thế và lực để đối phó với ta. Trên địa bàn Quân khu 5, Quân khu Trị - Thiên và lực lượng Quân đoàn 2 của ta. Ngay từ Xuân - Hè năm 1974 đã kết hợp với các lực lượng vũ trang địa phương mở các hoạt động nhỏ, vừa, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng nhiều đơn vị của địch ở Quảng Trị, Thừa Thiên và trên địa bàn Quân khu 5. Giải phóng một số khu vực quan trọng trên vùng miền núi và giáp ranh ở Thừa Thiên, Thượng Đức, Minh Long, Nông Sơn, đẩy địch vào thế bị động lúng túng. Như vậy, dù chiến dịch có diễn ra trong điều kiện chuẩn bị gấp, diễn ra theo chiều hướng phát triển chung của toàn cục, thì thế và lực do chiến lược tạo ra, bản thân chiến dịch tạo ra hoàn toàn chủ động, vững chắc.


Điều quan trọng nhất lại chính từ các hoạt động quân sự nhỏ và vừa này đã làm cơ sở để ta đánh giá đúng khả năng chiến đấu của các lực lượng chủ lực quân Ngụy sau khi Mỹ rút khỏi miền Nam. Chúng ta đã sớm nhìn thấy và đánh giá chính xác những mặt mạnh của địch, những điểm mạnh đó chỉ là tạm thời và những chỗ yếu cơ bản của địch, chưa thể và không thể khắc phục được. Vấn đề đánh giá chính xác về địch, về ta cũng hoàn toàn chủ động và có cơ sở. Tuyệt nhiên không dựa vào một số cơ sở, điều kiện nhất thời hoặc hiện tượng để đánh giá bản chất. Mọi công tác chuẩn bị chiến trường, thiết bị chiến trường, đường sá, kho tàng, hệ thống thông tin, hệ thống bám nắm địch cũng được triển khai đồng bộ, chủ động.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #62 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2022, 07:23:20 am »

So sánh lực lượng trong chiến dịch Trị - Thiên cho thấy:

- Quân chủ lực của ta: 1 quân đoàn, 1 sư đoàn, 1 lữ đoàn, 6 trung đoàn, 12 tiểu đoàn. Trong khi chủ lực của địch chỉ có 4 sư đoàn, 4 lữ đoàn biệt động quân. Tỷ lệ so sánh: Ta 1,2/địch 1.

- Quân địa phương: ta 6 trung đoàn, 2 tiểu đoàn. Địch 24 tiểu đoàn, 10 đại đội. Tỷ lệ so sánh: ta 1/địch 1,5.

- Pháo binh: ta 14 tiểu đoàn với 154 khẩu; địch 21 tiểu đoàn 400 khẩu. Tỷ lệ so sánh: ta 1/địch 2,4.

- Tăng, thiết giáp: ta 1 lữ đoàn, 2 tiểu đoàn với 101 xe; địch có 4 tiểu đoàn, 10 chiến đoàn. Tỷ lệ so sánh: ta 1/địch 4.

Từ số liệu so sánh cho thấy: ta chỉ có ưu thế hơn địch về số các đơn vị bộ binh chủ lực. Còn lại lực lượng địa phương, pháo binh, xe tăng thiết giáp địch đều có số lượng ưu thế hơn ta. Xét về số lượng, hình thức thì bất cứ người cầm quân nào cũng không thể đưa ra một kết luận chính xác để hạ quyết tâm cho một trận đánh, một chiến dịch nào chính xác nhằm nắm phần thắng chắc chắn.


So sánh tương quan lực lượng về số lượng giữa ta và địch chỉ là những chỉ số cơ bản, chưa phải là yếu tố đánh giá bản chất đích thực mạnh hay yếu giữa hai bên. Để đánh giá đúng mạnh yếu của đối phương, Bộ Tư lệnh chiến dịch và các quân khu đã có tư duy tổng thể, toàn diện, một cách nhìn thể hiện rõ về chất của đối phương trên toàn bộ chiến trường cũng như trên địa bàn Quân Khu 1 của địch. Đó là, thế trận của địch đang ở thế tan vỡ, chắp vá về chiến lược, chiến dịch. Tinh thần đang hoang mang, dao động, sau những đòn choáng váng ở Tây Nguyên. Sức mạnh chiến đấu của binh lính không cao, khả năng tác chiến giảm sút. Một nguyên nhân mâu thuẫn rất cơ bản có tính hệ thống, đã trở thành qui luật về vấn đề sử dụng lực lượng giữa chiến lược và chiến dịch của địch không khắc phục được. Mặc dù quân còn rất đông, phương tiện vũ khí trang bị không thiếu, nhưng phải bố trí phân tán. Lực lượng chủ lực phải rải ra chiếm đóng trên địa bàn 5 tỉnh, 2 thành phố, các chi khu quận lỵ để bảo vệ các căn cứ, các trục giao thông. Nếu sử dụng lực lượng tập trung sẽ không có binh lực để chiếm giữ. Nếu sử dụng phân tán sẽ không có lực lượng cơ động. Vì vậy quân nhiều nhưng vẫn ít và không mạnh. Một vấn đề chung mới xuất hiện đang bao trùm trên địa bàn Quân Khu 1 - Quân đoàn 1 và cả chính quyền Sài Gòn sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ là: hành động tác chiến nửa vời, không ra phòng ngự tử thủ, không hẳn tiến công. Lúc nào tư tưởng rút bỏ, rút chạy cũng thường trực trong tư duy của những tên tướng cầm quân. Nguyên nhân này đã “đóng góp” phần lớn dẫn đến mất sức chiến đấu của binh lính và tan vỡ về thế trận trên địa bàn quân khu. Đây cũng là nguyên nhân gián tiếp tăng sức mạnh chiến đấu, tạo thế trận mới cho các lực lượng ta.


Mặt khác so sánh lực lượng tuy ta không hơn địch, song ta đang có nhiều thuận lợi về thế trận. Ta tận dụng được sức mạnh của các lực lượng tại chỗ, của nhân dân trên địa bàn, tạo thành sức mạnh tổng hơp. Ta biết cách sử dụng lực lượng tập trung trên các hướng chủ yếu, địa bàn quan trọng, mục tiêu chủ yếu và vào thời điểm thích hợp có lợi nhất, nhằm được những mục đích của từng trận chiến đấu, cũng như mục đích lớn chiến dịch. Trước khi Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương quyết định mở chiến dịch, lực lượng ta đã được chuẩn bị chu đáo, chu đáo cả về vật chất và tinh thần, cả về lực và thế. Mọi công tác chuẩn bị của Quân khu 5, Quân khu Trị - Thiên, Quân đoàn 2 luôn trong tư thế thường trực, tính sẵn sàng rất cao. Đặc biệt là tinh thần chiến đấu của bộ đội trên toàn mặt trận rất hăng hái, đang có đà rất mạnh, lòng tin vào chiến thắng rất vững chắc. Do đó, số lượng ta tuy có ít hơn nhưng thế và lực tổng thể của ta vẫn mạnh.


Thành hay bại của mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch, bao gồm nhiều nhân tố tạo thành, trong đó có những nhân tố quan trọng, nhân tố quyết định đến sự thành bại đó. Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng, chiến dịch mang tên Mặt trận 475, nhân tố đầu tiên có ý nghĩa quyết định là nghệ thuật đánh giá đúng tình hình, so sánh lực lượng địch, ta một cách hết sức khách quan khoa học. Không những đánh giá đúng hiện tại, phát triển mà cả yếu tố lịch sử cũng được xem xét đến để vận dụng và sáng tạo cho những quyết định tức thòi. Trên cơ sở đánh giá một cách đầy đủ toàn diện đó là căn cứ để Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương đưa ra những quyết tâm chính xác. Quyết tâm, kế hoạch tác chiến chiến dịch chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng chu đáo như chuẩn bị hạ quyết tâm và kế hoạch tác chiến trong chiến dịch Tây Nguyên. Cấp chiến dịch, khi Quân khu 5 và Quân khu Trị - Thiên, cũng đồng thời rất nhạy bén trong vấn đề đánh giá tình hình và so sánh lực lượng, chuyển ngay hướng tiến công ngược lên phía Bắc, chuẩn bị lực lượng và thế trận sẵn sàng tiến công Đà Nẵng, mặc dù chưa có chỉ thị, chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Kết quả và thực tiễn cho thấy, nhận thức và đánh giá tình hình của 2 quân khu đã hoàn toàn phù hợp và chính xác với đánh giá tình hình của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương.


Hạ quyết tâm, nhanh chóng tập trung lực lượng trên địa bàn tiến công giải phóng thành phố Huế, tiêu diệt và ngăn chặn không cho địch co cụm về Đà Nẵng đúng. Mục tiêu cuối cùng trên địa bàn là tiêu diệt, giải phóng Đà Nẵng và Khu quân sự liên hợp lớn nhất miền Nam này là hoàn toàn chính xác, tạo ra thế chiến lược cho trận quyết chiến cuối cùng. Vấn đề nội dung cơ bản của quyết tâm là chọn hướng, đối tượng, mục tiêu tiến công chủ yếu và các hướng quan trọng khác rất hợp lý, phù hợp với xu thế phát triển của toàn cục. Vận dụng cách đánh chiến dịch, chiến thuật hay, linh hoạt đa dạng. Bố trí và sử dụng lực lượng chung, lực lượng các binh chủng, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng. Kết hợp được sức mạnh của thế và lực trên địa bàn, đặc biệt là thế và lực tại chỗ của nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương. Bảo đảm các mặt toàn diện trong điều kiện chuẩn bị gấp rút là một thành công lớn của chiến dịch. Tổ chức và phân chia các bước, đợt chiến dịch hợp lý, trong đó có các trận đánh then chốt phù hợp với điều kiện địa bàn tác chiến rộng, chia cắt trong khi lực lượng quân địch gần như đang còn nguyên vẹn.


Đánh giá tình hình so sánh lực lượng đã trở thành một nguyên tắc có tính qui luật trong hoạt động quân sự. Nghệ thuật đánh giá tình hình, so sánh lực lượng địch - ta trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng đã để lại cho chúng ta một bài học quí giá. Đó là, đánh giá đúng trên cơ sở so sánh lực lượng về chiến lược, chiến dịch cả trong chiều hướng vận động phát triển của lực lượng hai bên. Đây là một vấn đề có tầm quan trọng quyết định đến tiến trình thắng lợi chiến dịch là phải nắm vững nghệ thuật đánh giá so sánh lực lượng một cách biện chứng, khách quan khoa học. Đánh giá đúng sẽ là cơ sở đúng để hạ quyết tâm đúng, sử dụng lực lượng đúng là một nội dung của quyết tâm đúng sẽ phát huy được sức mạnh của quyết tâm sử dụng lực lượng đó.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #63 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2022, 07:24:19 am »

Bài học thứ hai: Nghệ thuật đúng chọn hướng, đối tượng, mục tiêu tiến công chủ yếu

Một yếu tố đặc biệt quan trọng, đã góp phần không nhỏ dẫn đến thành bại trong tác chiến là yếu tố địa hình thời tiết. Một yếu tố đã tạo được sự bất ngờ lớn trong chiến dịch Tây Nguyên khi ta nổ súng tiến công Buôn Ma Thuột đó là địa hình. Địch luôn nghĩ rằng quanh thị xã Buôn Ma Thuột không có đường giao thông lớn, sông suối chia cắt như vậy, ta không thể đưa xe tăng, pháo lớn và vật chất phương tiện hậu cần kỹ thuật bảo đảm được. Mà không có các yếu tố này thì không thể có tác chiến lớn.


Trên hướng tiến công Trị - Thiên

Địa hình cũng là yếu tố, là cơ sở không thể thiếu khi ta chọn hướng tiến công, mục tiêu tiến công chủ yếu. Tuy nhiên các yếu tố trong đó có địa hình thời tiết không bao giờ thỏa mãn các yêu cầu đặt ra để chọn hướng tiến công chủ yếu, mục tiêu chủ yếu cho từng trận đánh, từng chiến dịch. Thoả mãn yếu tố này, phải chấp nhận sự thiếu hụt hoặc phải khắc phục những yếu tố khác. Vấn đề quan trọng và đã trở thành nghệ thuật trong nhân tố này là: đạt được yếu tố bất ngờ, đạt mục đích chiến dịch. Đây chính là tư duy sáng tạo và thực tiễn cụ thể trong từng trận đánh, từng chiến dịch.


Khi chuẩn bị kế hoạch dù rất gấp nhưng lúc đầu ta dự kiến chọn trục Đường 12 - Tây Huế. Trên cơ sở phân tích thuận lợi khó khăn về địa hình thời tiết cho thấy: hướng này đường sá tốt, có địa hình rừng núi kín đáo tiện cho ta giấu quân, tiếp cận địch, làm công tác chuẩn bị trực tiếp tốt. Dù mới vào đầu mùa mưa nhưng vẫn có điều kiện đê triển khai binh khí kỹ thuật. Hướng này chỉ cách Thành phố Huế 30km, khi thực hành tác chiến sẽ tiêu diệt được một số lực lượng địch, kiềm chế và thu hút được chủ lực của địch, lại là hướng uy hiếp trực tiếp cố đô Huế. Sư đoàn bộ binh 325 thuộc Quân đoàn 2 đang đứng chân trên địa bàn, quen thuộc địa hình, có kinh nghiệm tác chiến với Sư đoàn bộ binh 1 quân Ngụy. Nghiên cứu tính toán rất kỹ, đặc biệt là yếu tố về địch cho thấy:

Trên hướng này, quân địch bố trí phòng ngự tương đối vững chắc, có thời gian chuẩn bị khá chu đáo. Địch chiêm địa hình có lợi, thiết bị hệ thống trận địa phòng ngự khá kiên cố, có chính diện, chiều sâu trên những trục đường độc đạo hiểm trở, địa hình cũng bất lợi cho ta khi thực hành đột phá, công kích. Địch có thể lợi dụng tuyến địa hình có lợi ngăn chặn ta từ Chúc Mao, Tài Lương, Bình Điền... Hậu phương trực tiếp của Trị - Thiên - Huế là Đà Nẵng, thực hành tiến lui, chi viện... đều thuận lợi.


Thực hành đột phá từ hướng này ta khó có điều kiện phát triển vì Đường 12 chưa thông, bảo đảm hậu cần sẽ rất phức tạp tình hình ấy ắt có ảnh hưởng khi gặp thời cơ lớn, thời cơ chiến lược, thời cơ này đang đến và có nhiều khả năng chắc chắn sẽ nằm trong tầm tay của ta. Đây mới là nguyên nhân chính, nguyên nhân chủ yếu vì sao ta không chọn hướng Đường 12 - Tây Huế. Lại một sự tính toán sáng tạo, có cơ sở rất thực tiễn, luôn ở tầm phát triển chiến lược, tạo và đón thời cơ mới lớn hơn của Bộ Tư lệnh và cơ quan chiến dịch.


Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên đề nghị chọn chếch xuống Tây Nam Huế. Tiến công theo tả ngạn và hữu ngạn sông Truồi, thọc thắng ra Đường số 1, đối tượng chủ yếu là Trung đoàn bộ binh 54 quân Ngụy đang chốt giữ trên Núi Bông, Núi Nghệ, Điểm cao 224, 273, 303, Mỏ Tầu. Phương án này được Quân uỷ Trung ương phê chuẩn.


Trên thực tế về thế bố trí của địch, địa hình cho thấy, ta chọn hướng tiến công này là một hướng rất hiểm, sẽ tạo bất ngờ lớn đối với địch. Khi thời cơ lớn xuất hiện ta đã có sẵn một thế trận mới thọc thẳng xuống Đường số 1, chia cắt tức khắc giữa Huế và Đà Nẵng. Hình thành ngay thế trận bao vây cô lập quân địch ở Huế và Đà Nẵng.


Vấn đề lớn nhất và khó khăn nhất khi chuẩn bị tiến công theo phương án đã được phê chuẩn là làm thế nào Quân đoàn 2 phải vận chuyển được một khối lượng lớn binh khí kỹ thuật đạn dược, lương thực lên phía trước nhưng vẫn phải bảo đảm giữ được bí mật ý định và hướng tiến công của chiến dịch trên hướng này? Đó là phải sửa chữa, mở thêm một khối lượng đường vận tải rất lớn.


Quân đoàn đã huy động lực lượng đến tối đa, kể cả sử dụng một số lớn tù binh. Được sự giúp đỡ và chi viện hiệp đồng của Quân khu Trị Thiên, công việc làm đường được thi công suốt ngày đêm, chạy đua với thời gian. Ngay từ cuối tháng 2 đầu tháng 3, ta đã mở đường mới nối liên với Đường 14, bảo đảm chất lượng tốt, xe cơ giới cơ động tốt trong cả mùa mưa. Các lực lượng đã làm 100km đường mới chạy qua các ngọn đồi xung quanh Đồng Truồi; mở đường cả bên hữu ngạn và tả ngạn dọc theo sông Truồi và dãy núi Kim Sắc, bảo đảm đường cho Sư đoàn 325 đưa lực lượng vào triển khai tiến công, sẵn sằng cơ động cắt Đường số 1 khi có thời cơ.


Đúng như ta đã đón sẵn thời cơ chiến lược, chiến dịch chọn hướng Tây Nam Huế là chính xác, một phương án đón đầu giành thắng lợi chắc chắn. Sau chiến thắng Tây Nguyên, thời cơ chiến lược ta đón sẵn đã đến. Chấp hành quyết định của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, ngày 21 tháng 3 khi chưa chính thức kết thúc chiến dịch Tây Nguyên, Quân đoàn 2 (thiếu) đã thọc ra Đường số 1 đánh chiếm một loạt các vị trí của địch ở Kim Sắc, Điểm cao 294, 520, 560. Mười hai giờ 15 ngày 22 tháng 3 ta đã cắt và chốt giữ Đường số 1 trên một đoạn dài 3km từ Bái Sơn đên Bạch Thạch. Thế là hàng ngàn xe quân sự, xe dân sự của địch đang “di tản” về Đà Nẵng vướng trở ngại đi cũng không được, quay lại cũng không được, mà ở lại cũng không xong. Cảnh tượng tháo chạy chiến lược này gây ra trong tình trạng rất hỗn loạn. Địch hoàn toàn rơi vào tình trạng lúng túng, hoang mang, dao động. Kế hoạch tử thủ cố đô Huế của Tổng thống Thiệu được tướng Trưởng “nhai lại” vĩnh viễn nằm trên giấy.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #64 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2022, 07:24:57 am »

Trên hướng tiến công phía Nam Đà Nẵng

Trên địa bàn tác chiến của Quân khu 5, vấn đề chọn hướng tiến công cũng không kém sự phức tạp, gay cấn như chọn hướng tiến công Tây Nam Huế của Quân đoàn 2. Đa số ý kiến tranh luận đều đề xuất chọn hướng chủ yếu tiến công vào Sơn Hà, Trà Bồng, Tây Quảng Ngãi. Bởi vì, trên hướng này lực lượng của địch bố phòng mỏng yếu, bị cô lập lại bị địa hình rừng núi bao quanh. Ta dễ tiếp cận triển khai lực lượng, bất ngờ tiến công, có thời cơ kéo Sư đoàn bộ binh 2 quân Ngụy lên để tiêu diệt và có điều kiện thuận lợi tiến công đánh chiếm, giải phóng thị xã Quảng Ngãi.


Nghiên cứu toàn diện, cụ thể, phân tích kỹ các phương án. Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định chọn hướng tiến công chủ yếu vào Tiên Phước, Phước Lâm, miền Tây Quảng Nam. Tuy có nhiều ý kiến đề xuất tranh luận nhưng khi Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định thì mọi tư duy đều nhất trí cao. Mặc dù đây là hướng quân địch bố phòng tương đối mạnh, nhưng rất hiểm yếu khi ta phát triển thế tiến công uy hiếp các Căn cứ địch. Hiểm yếu, bởi vì: uy hiếp trực tiếp thị xã Tam Kỳ, căn cứ Chu Lai nằm ngay trên Đường số 1. Thị xã Tam Kỳ và căn cứ Chu Lai bị uy hiếp hoặc đánh chiếm, một đoạn dài mấy chục cây số Đường số 1 sẽ bị chốt giữ. Hướng Nam Đà Nẵng bị chia cắt, Đà Nẵng hoàn toàn bị cô lập. Sư đoàn bộ binh 2 không thể không có phản ứng, một thời cơ tốt để ta kéo Sư đoàn 2 địch đang hoang mang về tinh thần ra để tiêu diệt.


Khi chiến dịch diễn ra cho thấy phương án chọn hướng chủ yếu tiến công vào Nam Ngãi của Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân khu 5 là hoàn toàn đúng, sáng tạo và táo bạo, có tầm nhìn chiến lược, một kế hay. Lại một hướng tiến công chủ yếu, hiểm yếu nhằm tạo và đón thời cơ phát triển chiến dịch thành thời cơ chiến lược. Khi toàn mặt trận thực hiện giai đoạn công kích Đà Nẵng mới thấy hết giá trị to lớn của hướng hiểm yếu này do bộ đội Quân khu 5 đảm nhiệm tiến công từ hướng Nam ra. Từ hướng Nam bộ đội Quân khu 5 đã phối hợp với các hướng khác, tạo ra một gọng kìm, xiết chặt Thành phố Đà Nẵng. Quân địch chỉ còn đường duy nhất tháo chạy ra biển Đông.


Tiến công Đà Nẵng, mục tiêu chủ yếu của chiến dịch

Các lực lượng tham gia tiến công Thành phố Đà Nẵng, khu liên hợp quân sự lớn nhất miền Nam diễn ra trên nhiều hướng. Hướng tiến công chủ yếu được lựa chọn từ hướng Bắc, Tây Bắc, theo trục Đường số 1 và Đường số 14B do Quân đoàn 2 đảm nhiệm. Qua thực tiễn diễn biến cho thấy, các lực lượng trên địa bàn Quân Khu 1 của địch rút chạy về Đà Nẵng số quân đóng rất đông. Như trên đã đưa ra kết luận của Đảng uỷ và chỉ huy các cấp, đặc biệt là cấp chiến dịch, chiến lược: địch đông, nhưng không mạnh, nhiều nhưng không có sức chiến đấu, nhiều mà ô hợp, đang rối loạn. Trên phạm vi lý thuyết, lực lượng rút chạy về và lực lượng tại chỗ, tổ chức phòng ngự, tử thủ Đà Nẵng. Nhưng thực chất không có hành động nào phòng ngự phòng thủ. Những hành động tác chiến của quân Ngụy chỉ là tự phát bị ta tiến công thì tự vệ để chống đỡ lại ta là chính. Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân khư 1 - Quân đoàn 1, bỏ lại toàn bộ thuộc hạ của y ở "chảo lửa" Đà Nẵng, nhảy lên trực thăng chuồn ra tàu đang đón ngoài khơi và dông thẳng về "tử thủ" trong bệnh viện ở Sài Gòn. Một quân khu với nhiều sư đoàn và nhiều xe tăng đại bác, vĩnh viễn chìm vào lịch sử thảm bại của Quân lực Việt Nam Cộng hoà.


Xuất phát từ những cơ sở thực tiễn này. Khi thực hành tiến công Đà Nẵng cho thấy: Thời gian, tốc độ tiến công là lực lượng trọng điểm trong trận công kích Đà Nẵng. Để tăng tốc độ tiến công trong hành tiến, kiên quyết truy kích, tiến công liên tục, với khí thế và sức mạnh áp đảo, Quân đoàn 2 đã tăng cường cho Trung đoàn bộ binh 18 thuộc Sư đoàn 325 xe tăng và xe cơ giới để tận dụng Đường số 1. Khi xe tăng hạng nặng của ta xuất hiện trên đỉnh đèo Hải Vân cùng bộ binh thì tinh thần quân lính địch suy sụp, rối loạn hoàn toàn, Thành phố Đà Nẵng bị uy hiếp trực tiếp từ hướng Bắc. Trong lịch sử gần 20 năm, khu vực này chưa bao giờ ta có xe tăng xuất hiện tham chiến. Sự xuất hiện xe tăng hạng nặng với pháo binh tầm xa ngay ngoại ô Đà Nẵng, như là một phương tiện tác động hữu hiệu tức khắc sự sụp đổ tinh thần của binh lính địch.


Từ kết cục của chiến dịch, kết quả tác chiến trên các hướng, ngay thời điểm lịch sử đó, sơ bộ “nhận định” cho thấy: Bộ Tư lệnh chiến dịch lựa chọn hướng tiến công, đối tượng tác chiến, mục tiêu tiến công chủ yếu trên cả 3 hướng: Trị Thiên, Nam Ngãi, Đà Nẵng là chính xác.

- Tạo được bất ngờ trong thế tiến công có lợi hoàn toàn thuộc về ta.

- Đánh trúng nơi hiểm yếu của địch.

- Tạo được điều kiện và thế trận mới đê tiếp tục phát triển vào chiều sâu phòng ngự địch.

- Tạo và đón đúng thời cơ chiến lược trong thế chủ động, dự đoán từ trước.

- Tiêu diệt được lực lượng địch, đánh đúng đối tượng tác chiến chủ yếu, đánh chiếm được mục tiêu chủ yếu đã xác định.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #65 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2022, 07:26:27 am »

Bài học thứ ba: chủ động nhạy bén phát hiện thời cơ, tận dụng thời cơ và tạo thời cơ mới

Sau hai đòn trirh sát chiến lược: tiến công Phước Long và Thượng Đức. Mỹ không có hành động quân sự nào quyết liệt để phản ứng. Chỗ dựa vào sức mạnh của quân đội Mỹ cơ bản đã mất. Ta đã khẳng định được sức mạnh chiến đấu của quân lực Việt Nam Cộng hòa nói chung, lực lượng dự bị cơ động của chúng nói riêng không những không bằng ta mà còn yếu hơn. So sánh trên chiến trường ta đã giành và giữ được quyền chủ động về chiến lược. Cơ sở thực tiễn trên đã tạo ra thời cơ cụ thể cho quyết tâm chiến lược năm 1975.


Chiến dịch Tây Nguyên chưa kết thúc nhưng quân địch rút chạy khỏi Tây Nguyên, cuộc rút chạy chiến lược sai lầm đầu tiên dẫn đến liên tiếp các sai lầm tiếp theo của địch. Đây là thời cơ trực tiếp để Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương bổ sung quyết tâm giải phóng các tỉnh đồng bằng miền Trung, trước mắt là địa bàn Quân Khu 1 của địch.


Dưới sự chỉ đạo trực tiếp, sát đúng của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5, Quân đoàn 2 đã nhạy bén nắm vững thời cơ mới xuất hiện. Chủ động tạo thếm thời cơ mới bằng các hoạt động tác chiến cụ thể trên địa bàn. Nhanh chóng tổ chức và thực hiện quyết tâm mới của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương; kiên quyết, táo bạo tiến công quân địch trong hành tiến. Các Quân khu và Quân đoàn 2 đã tranh thủ mọi thời gian, điều kiện, phối hợp nhịp nhàng, cùng tổ chức thực hành tiến công địch giải phóng Trị Thiên và Quảng Nam, Quảng Ngãi trong cùng một thời gian. Từ những thời cơ mới đã tổ chức đồng loạt tiến công Đà Nấng từ nhiều hướng.


Như vậy, ngoài yếu tố khách quan, chúng ta không thể bỏ qua yếu tố chủ quan, mà trước hết khẳng định thời cơ mới xuất hiện ở Trị Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi là do sự nỗ lực, chủ động, sáng tạo của quân và dân hai Quân khu cùng với Quân đoàn 2 tạo ra; đồng thời do thắng lợi to lớn, vượt bậc, bất ngờ lớn của chiến dịch Tây Nguyên tạo ra. Đương nhiên một phần do chính những sai lầm liên tiếp về chiến dịch, chiến lược của địch cũng đã tạo cho ta những thời cơ mới, thuận lợi hơn.


Trong những tình huống chiến dịch, chiến lược cụ thể. Khi phát hiện thời cơ mới xuất hiện, Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu đã kịp thời chỉ đạo, chỉ huy các Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5, Quân đoàn 2 tổ chức ngay những đòn quân sự áp đảo để chia cắt Huế và Đà Nẵng, Quảng Nam và Đà Nẵng. Thực hiện được những đòn chia cắt trên ta đã thành công cô lập cố đô Huế, đồng thời cô lập Đà Nẵng. Những đòn quân sự để cô lập địch không cho chúng co cụm rút chạy về Đà Nẵng chính là tiêu diệt và chia cắt địch ở Trị Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi thành công. Khi đã cô lập được mục tiêu chiến dịch, nhất là mục tiêu chủ yếu, hành động chỉ đạo tiếp theo đối với các nhà quân sự cầm quân, đương nhiên sẽ là tập trung lực lượng để tiêu diệt quân địch, đánh chiếm mục tiêu chủ yếu đã xác định. Đây cũng là một qui luật trong nghệ thuật tạo nắm thời cơ và vận dụng các biện pháp, đẩy mạnh tốc độ tiến công trong quá trình tác chiến chiến dịch.


Trên cơ sở các điều kiện về lực lượng, phương tiện ta đã chuẩn bị sẵn, tất cả đang ở tư thế sẵn sàng tham chiến khi thời cơ đến. Thời cơ đã đến và đang đến và sẽ đến lớn hơn. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 ra lệnh cho Sư đoàn 325, thọc nhanh ra Đường số 1 chia cắt Thừa Thiên - Huế với Đà Nẵng. Không cho địch có cơ hội rút chạy về Đà Nẵng. Các lực lượng của Quân đoàn 2 và Quân khu Trị Thiên đồng loạt tiến công mãnh liệt, bao vây, chia cắt quân địch cả đường bộ và ven biển. Tiêu diệt và đánh tan Sư đoàn bộ binh 1, Lữ thuỷ quân lục chiến 147 và các lực lượng binh chủng khác của địch, giải phóng hoàn toàn tỉnh Thừa Thiên và Thành phố Huế.


Phía Nam Đà Nẵng các lực lượng Quân khu 5 hoạt động đồng thời với các lực lượng phía Bắc của Quân khu Trị Thiên và Quân đoàn 2. Tiêu diệt đánh tan Sư đoàn bộ binh 2 của địch. Đánh chiếm thị xã Tam kỳ, căn cứ Chu Lai, giải phóng tỉnh Quảng Ngãi. Đánh chiếm Đường số 1, thực hành chia cắt ở phía Nam Đà Nẵng. Địa bàn xung quanh Đà Nẵng đã bị đánh chiếm, Sư đoàn bộ binh 1, 2 của địch phần bị tiêu diệt, phần bị đánh tan. Như vậy, phía Bắc, phía Tây, phía Nam không còn con đường nào rút chạy về hoặc chi viện được cho Đà Nẵng. Đà Nẵng khu liên hợp quân sự đang trở thành chiếc "chảo lửa" đối với Quân Khu 1 - Quân đoàn 1 Ngụy. Thời cơ giải phóng Đà Nẵng đã nằm trong tay các lực lượng chiến dịch. Thời cơ chiến dịch, chiến lược này, do chính các lực lượng của Quân khu Trị-Thiên, Quân khu 5 và Quân đoàn 2, dưới sự chỉ đạo của Bộ tổng tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu tạo ra. Thực tiễn, sáng tạo, lôgic và biện chứng. Không ai, không có lý luận nào có thể chứng minh khác được.


Nắm vững những qui luật vận động phát triển của thẽ và lực để tạo thời cơ mới trong hoạt động quân sự. Khi dự đoán thời cơ mới có lợi sẽ xuất hiện. Mặc dù chưa có kế hoạch cụ thể của chiến dịch nhưng Quân đoàn 2 được sự giúp đỡ, chi viện và hiệp đồng của quân dân Quân khu Trị Thiên đã chủ động cơ động đội hình áp sát Huế. Đặc biệt cơ động pháo binh tầm xa bố trí ở đèo Mũi Trâu trên trục Đường 14 cách Đà Nẵng 12km. Theo kế hoạch ngày 03 tháng 4 mới thực hành tiến công Đà Nẵng. Những nắm chắc những diễn biến một cách toàn cục, phát hiện quân địch đang rút chạy khỏi Đà Nẵng, nên ta kịp thời bổ sung, điều chỉnh kế hoạch, tiến công sớm, tiến công ngay lập tức. Tiến công trong hành tiến, tiến công khi kế hoạch, phương án và các lực lượng có nơi chưa hoàn chỉnh. Ngày 28 tháng 3, ta pháo kích dữ dội vào sân bay Đà Nẵng, làm cho sân bay, thành phố đang rối loạn càng thêm rối loạn. Chính sự chủ động, đi trước này của Quân đoàn 2, đã thực hành chi viện cho các lực lượng dồn dập tiến công trên 4 hướng vào Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà. Giải phóng thành phố và các tỉnh còn lại trên địa bàn Quân Khu 1 của địch.


Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng để lại cho chúng ta một bài học kinh nghiệm quí giá, có giá trị nhân bản rất cao không những trong phạm vi hoạt động quân sự ở cả tầm chiến lược, chiến dịch và chiến thuật về: nghệ thuật tạo thời cơ, tận dụng thời cơ, phát huy tối đa thời cơ để tạo thành sức mạnh của thế và lực mới tăng tốc độ tiến công phù hợp với cách đánh mới đã được thay đổi theo phương châm chỉ đạo mới. Đó là, "kiên quyết, thần tốc, táo bạo, chắc thắng".


Ngược dòng lịch sử cho thấy: vấn đề thời cơ và kế hoạch đón thời cơ là vấn đề chiến lược, có ý nghĩa rất to lớn đến tiến trình hình thành và chỉ đạo thực hiện kế hoạch giải phóng miền Nam của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương. Chính vì nhận thức đúng tầm quan trọng và những giá trị to lớn của thời cơ. Nên ngay sau khi Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam được ký kết năm 1973, Bộ Tổng Tham mưu đã thành lập ngay một Tổ Trung tâm, do Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu đảm nhiệm và trong tổng thể các kế hoạch có một kế hoạch lớn đó là: kế hoạch đón thời cơ. Sau khi thông qua Bộ Chính trị kế hoạch chiến lược tổng thể giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 - 1976. Thời gian thông qua từ 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 08 tháng 1 năm 1975, Tổ Trung tâm mới giải tán. Từ thực tiễn trên cho thấy: thời cơ - tạo ra thời cơ - đón lấy thời cơ - tận dụng được thời cơ - phát huy được thời cơ là một giá trị nghệ thuật lớn. Điều đó khẳng định: vấn đề thời cơ trong đấu tranh vũ trang đã trở thành một qui luật tất yếu, một nội dung đặc biệt quan trọng, là thành phần không thế thiếu cấu thành trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.


Xét trên phạm vi thực tiễn thì thời cơ do nhiều "nguồn" tạo ra. Trong đó "nguồn" chủ quan không thể thiếu. Tổ chức chỉ huy hoạt động quân sự như thế nào để tạo được thời cơ mới có lợi nhất. Phải chủ động linh hoạt, táo bạo và sáng tạo mới tạo được thời cơ theo ý muốn. Ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương mới có quyết định chính thức thành lập Bộ chỉ huy và Đảng uỷ Mặt trận Quảng Đà (chiến dịch) giải phóng Huế - Đà Nẵng. Đến trưa ngày 25 tháng 3 ta đã giải phóng cố đô Huế. Trong điều kiện tình hình trên toàn mặt trận diễn biến, phát triển rất nhanh, Bộ chỉ huy chiến dịch còn chưa kịp gặp nhau giữa Tư lệnh với Chính uỷ chiến dịch, mới vạch ra một số ý định chủ yếu trên điện đài. Thực chất là Bộ chỉ huy chiến dịch chưa kịp tổ chức điều hành trực tiếp chiến dịch. Trong điều kiện đó, Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu vẫn trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy Quân khu 5, Quân khu Trị Thiên và Quân đoàn 2 hoạt động, phối hợp các chỉ đạo khác với Tư lệnh và Chính uỷ chiến dịch; song song đó, với điều kiện Đảng uỷ và các cấp chỉ huy đã phát huy tính chủ động sáng tạo nên chiến dịch giành thắng lợi rất to lớn.


Trong vai trò của chỉ huy về nắm bắt thời cơ, tận dụng thời cơ, ngoài những kế hoạch được chuẩn bị thường xuyên, trong chỉ đạo và chỉ huy phải có kế hoạch dự kiến trước. Dự kiến trước về phương án thời cơ, đặc biệt là chuẩn bị lực lượng, phương tiện và đường cơ động. Thời cơ xuất hiện và qua đi cũng rất nhanh, người chỉ huy cần quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để chớp thời cơ, tạo thời cơ mới. Những dự báo về thời cơ không chỉ cho hành động tác chiến trước mắt, mà cần phải cần nhắc, bám sát chính xác những động thái diễn biến mới, so sánh thế và lực giữa ta với địch để có tầm nhìn toàn cục xa hơn, giá trị lớn hơn, của mỗi hành động quyết định trong chỉ huy. Đây cũng là một trong những bài học kinh nghiệm, có nhiều giá trị to lớn trong chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng đã tận dụng và phát huy được.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #66 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2022, 07:27:42 am »

Bài học thứ tư: Nghệ thuật sáng tạo vận dụng cách đánh chiến dịch và đánh các trận then chốt

Trước khi diễn ra chiến dịch, trên địa bàn Quân Khu 1 của địch, các lực lượng chủ lực và địa phương của ta đã thực hành tác chiến tạo thế chia cắt với qui mô nhỏ, phối hợp với chiến trường Tây Nguyên. Vì vậy, cách đánh vận dụng chủ yếu là đánh nhỏ trên các trục giao thông, bao vây uy hiếp, bức rút đồn bốt, căn cứ nhỏ, nghi binh thu hút địch ở Quảng Trị, cùng với các đội vũ trang thâm nhập sâu xuống các vùng đồng bằng ven biển để phá thế kìm kẹp của địch.


Phối hợp tác chiến với chiến trường Tây Nguyên để giam chân các lực lượng dự bị cơ động chiến lược của địch, không cho chúng cơ động về Tây Nguyên. Những hoạt động này ta tổ chức với qui mô lớn hơn, cỡ trung đoàn, sư đoàn. Cách đánh, phần lớn các đơn vị vận dụng tiến công bằng sức mạnh binh chủng hợp thành. Tiến công trên nhiều hướng, tập trung sức mạnh đột phá trên hướng chủ yếu. Đột phá liên tục, đánh bại phản kích trong chiều sâu phòng ngự. Kết hợp giữ chốt với vận động tiến công, truy kích, thu hẹp phạm vi kiểm soát của địch trên địa bàn.


Trên hướng phía Bắc, Sư đoàn bộ binh 324 thuộc Quân đoàn 2 bỏ phương án tiến công Trung đoàn 54, đánh chiếm khu vực Núi Bông, Núi Nghệ, Mỏ Tàu. Trung đoàn bộ binh 6 tiến công Chúc Mao, Bình Điền, Đồng Tranh, Động Ông Do. Điểm cao 367, bức rút nhiều đồn bốt. Phối hợp cùng với Sư đoàn 325, Sư đoàn 324 đã nhanh chóng cơ động lực lượng thọc thẳng ra Đường số 1 đánh chiếm một đoạn dài từ Bái Sơn đến Bạch Thạch làm cho con đường huyết mạch Huế - Đà Nẵng hoàn toàn bị cắt đứt. Các trung đoàn trong sư đoàn đã đánh chiếm hàng loạt các Điểm cao 294, 520, 560, 592, núi Kim Sắc ngay sát Đường số 1, áp sát uy hiếp Lương Điền, buộc hàng ngàn xe đang chạy di tản về Đà Nẵng phải quay lại Huế, tạo nên một tình thế cực kỳ hoảng loạn nghiêm trọng.


Đối với trận đánh giải phóng Thành phố Huế là chia cắt, bao vây, vu hồi, tiêu diệt ở ngoại vi, đi đôi với khống chế bịt chặt các đường rút lui của địch bằng đường biển ra cửa Thuận An, cửa Tư Hiền, cảng Tân Mỹ, tiến hành đồng thời hành động thọc sâu bằng sức mạnh của binh chủng hợp thành, trong đó xe tăng bộ binh làm nòng cột vào cố đô Huế.


Trên hướng Nam Đà Nẵng (Quảng Nam, Quảng Ngãi), Sư đoàn bộ binh 2, Lữ đoàn 52, bất ngờ nổ súng tiến công Tiên Phước, quận lỵ Phước Lâm, Suối Đá, Điểm cao 211. Trực tiếp uy hiếp sau đó tiến công thị xã Tam Kỳ và thị xã Quảng Ngãi. Đánh bại phản kích của Sư đoàn bộ binh 2 và Lữ biệt động quân Ngụy, buộc địch rút bỏ Sơn Hà, Trà Bồng. Với cách đánh kéo chủ lực địch ra vòng ngoài để tiêu diệt, kết hợp với thọc sâu rất táo bạo vào thắng thị xã, đánh chiếm các mục tiêu then chốt, làm chủ thị xã.


Các trận đánh lớn, trận đánh then chốt trên các hướng tiến công của Quân đoàn 2, Quân khu 5 cho thấy: với lối đánh nhanh mạnh, thọc sâu, chia cắt trong thế trận suy sụp của địch. Ta đã nhanh chóng đánh chiếm thành phố, thị xã, nhanh, gọn, nhưng tổn thất của ta lại rất thấp, quân địch không kịp trở tay đối phó, mà cũng chẳng kịp co cụm.


Từ thực tiễn diễn biến trên 2 hướng Bắc và Nam của chiến dịch trong hoạt động tác chiến tạo thế, chia cắt cho thấy: khi thời cơ thuận lợi đến, tác chiến với qui mô lớn hơn, trong thế và lực áp đảo. Phần lớn cách đánh của các đơn vị đã khác hẳn so với các trận tiến công trước đó. Sự khác biệt về cách đánh đó chính là chuyển từ bao vây, chia cắt, đột phá sang tiến công trong hành tiến. Điều đó cho thấy sự hơn hẳn về "chất", hơn hẳn về sức mạnh tác chiến của các lực lượng ta. Các lực lượng tiến công trên các hướng đã nhạy bén, quyết đoán, tận dụng, phát huy được thế và lực mới.


Khi thực hành tiến công Đà Nẵng, cách đánh của các lực lượng đã có bước phát triển vượt bậc hơn nhiều so với các trận đánh ở vòng ngoài. Mặc dù quân địch rút chạy ở các nơi khác về và lực lượng chiếm đóng tại chỗ ở Đà Nẵng vẫn còn rất đông. Đầu mối đơn vị còn: 2 sư đoàn, 1 liên đoàn, 2 Thiết đoàn, 12 tiểu đoàn pháo, các lực lượng bảo an dân vệ và cảnh sát; quân số còn đông, đầu mối các đơn vị còn nhiều, lại chưa bị tổn thất, nhưng tinh thần chiến đấu đã suy sụp, không còn sức mạnh, khả năng tác chiến. Chỉ huy rối loạn, chỉ huy cấp chiến dịch chỉ lo rút chạy, chỉ huy chiến thuật không điều hành được đơn vị, thậm chí không biết chấp hành nhiệm vụ, mệnh lệnh như thế nào.


Chính từ những nảy sinh mới - thực trạng quân địch, khí thế thừa thắng của ta - ta triển khai trận đánh then chốt quyết định của chiến dịch bằng thế trận đánh đồng loạt tiến công từ 4 hướng áp đảo Đà Nẵng: hướng Bắc, Tây Bắc, Tây Nam và hướng Nam, trong đó hướng Bắc, Tây Bắc là hướng tiến công chủ yếu.


Mở đầu cuộc công kích Đà Nẵng, pháo binh tầm xa thực hành pháo kích vào sân bay Đà Nẵng, Hòn Bằng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện. Trên các hướng bộ binh có xe tăng đi cùng, thực hành tiến công trong hành tiến, bỏ qua các chốt, mục tiêu hoặc lực lượng chống cự ở vòng ngoài, thọc sâu theo các trục đường tiến thẳng vào trung tâm thành phố. Sáng ngày 29 tháng 3, Trung đoàn bộ binh 18 cùng xe tăng vượt qua đèo Hải Vân đánh chiếm Liên Chiểu. Được sự hỗ trợ của Trung đoàn Ba Gia thuộc Quân khu 5 hỗ trợ đang chiếm giữ cầu Trịnh Minh Thế đến 13 giờ ngày 29 tháng 3 Trung đoàn đã hoàn toàn làm chủ bán đảo Sơn Trà. Mười ba giờ 30, Trung đoàn bộ binh 9 đã đánh chiếm toà Thị chính Thành phố Đà Nẵng. Mười hai giờ 30 Sư đoàn bộ binh 304 đã đánh chiếm Hoà Cầm, sân bay Đà Nẵng. Mười hai giờ Sư đoàn bộ binh 2 và các lực lượng của Quân khu 5 đánh chiếm sở chỉ huy Quân Khu 1 - Quân đoàn 1 địch; chiếm sở chỉ huy không quân và sân bay Nước Mặn. Khi các lực lượng đột kích của ta, chủ yếu là bộ binh xe tăng đánh chiếm trong thành phố đều có lực lượng đặc công, biệt động và bộ đội địa phương Đà Nẵng hỗ trợ.


Thực tiễn mỗi giai đoạn tác chiến, địa bàn tác chiến và sở trường tác chiến của từng đơn vị cũng khác nhau, thế và lực của hai bên có khác nhau. Thế và lực của các đơn vị ta đang trong điều kiện được nhân lên gấp nhiều lần. Thế và lực của địch đang giảm đi nhiều lần. Vì vậy, lựa chọn để vận dụng cách đánh cũng có những điểm khác nhau. Nhìn tổng thể cho thấy cách đánh chiến dịch cũng được vận dụng và diễn ra thành hai cách chủ yếu:


Đợt I chiến dịch: Quân khu Trị Thiên và Quân khu 5, thực hiện những trận tiến công theo kế hoạch đã được chuẩn bị trước trong hình thái quân địch bố trí ổn định, tính chất phòng thủ, phòng ngự rõ rệt, mục đích chuẩn bị đối phó với các cuộc tiến công của ta.


Đợt II trên toàn mặt trận: do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy, tiến công quân địch theo kế hoạch thời cơ mới xuất hiện, quân địch đang trong trạng thái hoảng loạn về tinh thần, tan vỡ về thế trận chiến dịch, chiến lược, hành động tác chiến chủ yếu là chống đỡ, rút chạy, co cụm để đối phó với sức mạnh đột kích bằng xe tăng bộ binh của ta các hướng mũi trong hành tiến.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #67 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2022, 07:28:29 am »

Từ những thực tiễn, diễn biến tác chiến giữa hai bên trong từng trận đánh trên các hướng đến tổng thể toàn chiến dịch cho thấy, cách đánh chiến dịch được thể hiện rõ 2 cách chủ yếu, đó là:

Cách 1: Đợt mở đầu, ta mở màn chiến dịch bằng hoạt động quân sự của các lực lượng tại chỗ, đánh nhỏ, tác chiến tạo thế, đồng loạt tiến công của bộ đội chủ lực vào các mục tiêu vững chắc của các đơn vị chủ lực quân địch. Tác chiến bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng; thực hành một loạt các hành động đột phá, vu hồi, thọc sâu, chia cắt, đánh địch phản kích.

Cách 2: Đợt thứ hai, sau khi thời cơ mới xuất hiện, ta đã vận dụng cách đánh rất linh hoạt, táo bạo; sử dụng lực lượng qui mô lớn cấp trung đoàn sư đoàn, đánh chiếm Đường số 1, chia cắt chiến dịch, chiến lược giữa Huế với Đà Nẵng; hình thành thế trận bao vây, chia cắt để tiêu diệt đánh tan các lực lượng ngoại vi các thị xã, thành phố, sử dụng bộ binh xe tăng pháo binh cấp trung đoàn tăng cường thọc sâu đánh chiếm thị xã, thành phố. Một đặc điểm nổi bật trong đợt II chiến dịch, khi đột kích vào Đà Nẵng, các lực lượng trên tất cả các hướng tiến công đều sử dụng bộ phận thọc sâu; đây là hành động, lực lượng mạnh với quan điểm táo bạo và đã trực tiếp tạo ra sự đột biến lớn có lợi cho ta trên các hướng tiến công.


Từ chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng so với chiến dịch Tây Nguyên, lực lượng địch nhiều hơn, lực lượng ta cũng nhiều hơn, tổ chức chỉ huy hiệp đồng phức tạp hơn. Bộ tổng Tư lệnh phải trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy hiệp đồng cả 3 đầu mối trong một chiến dịch; đó là Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5 và Quân đoàn 2. Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng đã tận dụng được nhiều thời cơ, kinh nghiệm của chiến dịch Tây Nguyên; trong đó thời cơ chiến dịch ngoài kế hoạch diễn ra nhiều hơn. Tuy nhiên, chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng các quân khu, quân đoàn và toàn chiến dịch đã tổ chức một số trận then chốt cũng nhiều hơn so với chiến dịch Tây Nguyên:

- Trận tiến công tiêu diệt quận lỵ Tiên Phước, Suối Đá, đánh bại phản kích của Sư đoàn bộ binh 2 quân Ngụy của Sư đoàn bộ binh 2 thuộc Quân khu 5.

- Trận tiến công cắt Đường số 1, đánh chiếm Thành phố Huế và truy kích quân địch ở cảng Tân Mỹ, cửa Tư Hiền, cửa Thuận An tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 1, Lữ thuỷ quân lục chiến Ngụy.

- Trận tiến công tiêu diệt Sư đoàn 2 quân Ngụy giải phóng thị xã Tam Kỳ và thị xã Quảng Ngãi.

- Trận then chốt quyết định cuối cùng tiêu diệt toàn bộ Quân Khu 1 - Quân đoàn 1 địch giải phóng Thành phố Đà Nẵng - bán đảo Sơn Trà.

Từ thực tiễn những trận đánh của các quân khu, quân đoàn trên toàn mặt trận và những trận đánh then chốt, then chốt cuối cùng của chiến dịch cho thấy: cách đánh của chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng đều dựa vào các tình huống, thời cơ, điều kiện cơ bản đã chuẩn bị. Đồng thời, một yếu tố quyết định là phải dựa vào những tình huống, điều kiện cụ thể, thời cơ mới xuất hiện để chủ động vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo và thật táo bạo.


Khi quân địch phòng ngự, phòng thủ có tổ chức, phải dựa vào kế hoạch đã chuẩn bị, đánh nhỏ, đánh để tạo thế, hoặc đánh bằng sức mạnh binh chủng hợp thành có qui mô vừa, với các biện pháp bảo đảm thích hợp. Kết hợp chia cắt, bao vây, đột phá, tiến công liên tục, đánh bại các hành động phản kích của địch.


Khi quân địch đang bất lợi cả về thế và lực, đang tan rã, phải luôn giành lấy quyền chủ động tiến công ngay là một nguyên tắc chỉ đạo cách đánh của chiến dịch. Kịp thời thay đổi tổ chức sử dụng lực lượng để thay đổi cách đánh. Thời cơ này diễn ra, ta đang nắm bắt mà vận dụng cách đánh đột phá trận địa, đột phá lần lượt là thiếu sự sáng tạo, máy móc, tự chúng ta bỏ lỡ thời cơ tiêu diệt địch, đánh chiếm mục tiêu. Tiến hành tổ chức tiến công nhanh, tiến công ngay tức khắc trên nhiều hướng, kết hợp tiến công với bao vây, chia cắt, vu hồi, thọc sâu, tận dụng mọi điều kiện nhanh chóng đập tan sự kháng cự còn lại của địch với tinh thần kiên quyết, thần tốc, táo bạo, chắc thắng.


Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng diễn ra từ ngày 5 đến ngày 29 tháng 3 năm 1975. Xét về thời gian thì chiến dịch diễn ra gần như song song với chiến dịch Tây Nguyên. Xét về tổng thể những đặc điểm, điều kiện, thời cơ, địa bàn, thế trận và lực lượng thì chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng có nhiều điểm khác so với chiến dịch Tây Nguyên và cũng khác với hầu hết các chiến dịch khác trong cả hai cuộc kháng chiến chống pháp, chống Mỹ.


Đây là một chiến dịch tiến công có qui mô lớn, được hình thành từ 2 chiến dịch tiến công tổng hợp của 2 quân khu địa phương, trong đó có 1 binh đoàn cơ động chiến lược tham gia, phát triển thành một chiến dịch tiến công có ý nghĩa chiến lược.

- Nét nổi bật và khác biệt nhất về nghệ thuật chiến dịch, nghệ thuật chỉ đạo của chiến lược với chiến dịch.

- Vấn đề nổi bật thứ hai là kế hoạch đón thời cơ lớn xuất hiện, thời cơ lớn được dự báo trước, do thế và lực của các lực lượng trên địa bàn tác chiến tạo ra. Chiến dịch đã nắm được, đón đúng, tận dụng và phát huy được thời cơ lớn đó.

- Các trận đánh, trận đánh then chốt, then chốt quyết định đã vận dụng nhiều cách đánh phong phú, sáng tạo, táo bạo. Trong đó nổi bật vận dụng cách đánh tiến công trong hành tiến bằng sức mạnh của binh chủng hợp thành.

- Chiến dịch do cơ quan chiến lược trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy.

Kết quả chiến dịch đã giành thắng lợi rực rỡ: tiêu diệt toàn bộ lực lượng quân địch trên 1 quân khu "tiền đồn" của địch, tiêu diệt và đánh tan 12.000 tên, trong đó có 4 sư đoàn chủ lực, thu toàn bộ vũ khí trang bị, xoá bỏ toàn bộ hệ thống chính quyền 5 tỉnh và 2 thành phố lớn trong một thời gian ngắn, riêng trận then chốt quyết định tiêu diệt lực lượng và đánh chiếm Thành phố Đà Nẵng - bán đảo Sơn Trà diễn ra trong thời gian 32 giờ.


So sánh với chiến dịch Tây Nguyên cho thấy: chiến dịch Tây Nguyên đã tạo ra một bước ngoặt mở đầu có ý nghĩa chiến lược lớn. Tạo ra thế và lực mới, mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Tạo ra những cơ sở, điều kiện mới cho quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ Quốc của dân tộc ta.


Chiến dịch tiến công Huế - Đà Nẵng, một chiến dịch thắng lợi hết sức to lớn, thắng lợi đã làm thay đổi hẳn so sánh thế trận và lực lượng thuộc phạm vi chiến lược, thay đổi hoàn toàn có lợi cho ta. Trực tiếp đánh bại chiến lược co cụm của địch. Cùng với chiến thắng của chiến dịch Tây Nguyên, thắng lợi của chiến dịch đã trực tiếp tạo ra một bước ngoặt lớn nhất. Một cơ sở, điều kiện vững chắc, một thế trận mới, một lực lượng mới, một sức mạnh mới, không có một thế lực và sức mạnh nào có cơ hội để lật ngược lại. Tất cả những điều kiện, thời cơ, thế trận, lực lượng và sức mạnh đó, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang nắm giữ. Đây chính là cơ sở để củng cố quyết tâm giải phóng miền Nam trước mùa mưa của Bộ Chính trị đã xác định.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #68 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2022, 07:29:04 am »

IV. Trận quyết chiến chiến lược cuối cùng - bước ngoặt quyết định - bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử

Sau thắng lợi ở Nam Tây Nguyên bằng chiến dịch Tây Nguyên, tháng 3 năm 1975. Kết quả chiến dịch đã tạo ra một bước ngoặt mở đầu - Trận đột phá mở đầu chiến lược - Tạo ra một thế trận và một lực lượng mới - Tạo ra một thời cơ chiến lược mới. Tất cả những điều đó đang trên đà phát triển đột biến và hoàn toàn có lợi cho ta.


Đồng thời với thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, tiêu diệt và đánh tan lực lượng của địch trên địa bàn Quân Khu 2; trên chiến trường Quân Khu 1 của địch, chúng ta giành thêm một thắng lợi mới to lớn hơn, có ý nghĩa và nhiều giá trị lớn hơn. Đó là kết quả của một đòn đột kích chiến lược, đánh bồi, đánh nhồi. Tiêu diệt lực lượng, đánh tan toàn bộ Quân Khu 1 - Quân đoàn 1 của địch, giải phóng 5 tỉnh miền Trung, trong đó có Thành phố Huế và Thành phố Đà Nẵng - Sơn Trà, khu liên hợp quân sự lớn nhất miền Nam của địch.


Hai đòn chiến lược mở đầu và đánh bồi, đánh nhồi này đã tạo ra một thế trận mới, thế trận chiến lược cực kỳ quan trọng. Thắng lợi của hai đòn chiến lược này là cơ sở vững chắc, để củng cố quyết tâm giải phóng miền Nam của Bộ Chính trị trước mùa mưa năm 1975, trước dự kiến kế hoạch.


Đòn tiến công chiến lược thứ ba - Đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng - Chiến dịch Hồ Chí Minh - Bước ngoặt lịch sử của chiến tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đưa nước ta sang một trang sử mới.

Lịch sử chiến tranh trên thế giới và lịch sử các cuộc chiến tranh giải phóng, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta đã để lại cho chúng ta một bài học quí giá, bài học này đã được khái quát thành một qui luật tất yếu: trước khi kết thúc chiến tranh đều phải có một trận quyết chiến cuối cùng, trận quyết chiến ở tầm chiến lược mang đậm dấu ấn của lịch sử và thời đại. Bản thân của hoạt động chiến tranh đã chứng tỏ tính chất quyết liệt, một mất một còn. Điều này bao giờ cũng đồng nghĩa với đỉnh cao của cuộc đọ sức giữa hai bên. Trận quyết chiến chiến lược này đánh dấu bước phát triển tới đỉnh cao của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 20 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ nói riêng, trong 30 năm chiến tranh giải phóng nói chung.
Hai đòn chiến lược - Chiến dịch Tây Nguyên và Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, chúng ta đã tiêu diệt và làm tan rã hơn 35% sinh lực của địch. Lần đầu tiên trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta diệt và làm tan rã 2 quân đoàn địch, hơn 40% cơ sở vật chất, hậu cần kỹ thuật củà quân Ngụy, giải phóng đồng thời 12 tỉnh, với gần 8 triệu dân. Nhân tố tiến công bằng sức mạnh quân sự, với sự kết hợp rất hiệu quả của quần chúng nổi dậy. Chúng ta đã đạt được đúng yêu cầu tên gọi của kế hoạch chiến lược 1975 - 1976 để ra.


Ngay sau thắng lợi to lớn của Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, ngày 31 tháng 3 Bộ Chính trị họp nghe Quân uỷ Trung ương báo cáo tổng quát tình hình tác chiến trên chiến trường, đặc biệt là mấy ngày gần đây. Bộ Chính trị kết luận: Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt mà thời cơ chiến lược để tiến hành tổng công kích, tổng khỏi nghĩa vào sào huyệt của địch đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu, nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc”1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, Nxb QĐND, H.2003, tr.137).


Đồng thời với những thắng lợi đó, lực lượng vũ trang của ta lớn mạnh vượt bậc trong thực tiễn tác chiến. Số lượng hy sinh, thương vong ít so với thắng lợi mà quân dân ta đã đạt được. Kinh nghiệm về tổ chức chiến đấu và chỉ huy tác chiến phong phú thêm.


Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đang đứng trước "điểm nút" cuối cùng, đang phát triển với nhịp độ một ngày bằng 20 năm. Vì vậy, Bộ Chính trị quyết định nắm vững hơn nữa thời cơ chiến lược, với tư tưởng chỉ đạo: thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất; tốt nhất là trong tháng 4, không thể để chậm. 


Chiến thắng bất ngờ hiện nay chủ yếu là tốc độ tiến công, thời gian tiến công vào lúc địch đang hoang mang, suy sụp, tan rã. Tập trung lực lượng hơn nữa vào những mục tiêu chủ yếu trên hướng của trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.


Như vậy, ý định chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định, Chiến dịch Hồ Chí Minh trên thực tế đã hình thành trong suốt quá trình phát triển cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Một mâu thuẫn đặt ra trong  chiến lược lớn cần phải giải quyết, đó là:


Thứ nhất, khẩn trương chạy đua với thời gian, trước yêu cầu của thời cơ chiến lược mới, là phải tập trung cao độ một lực lượng mạnh về nhiều mặt cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng với một qui mô lớn, trên một địa bàn rộng, theo một cách đánh mới mẻ, độc đáo... sẽ phải giải quyết như thế nào?


Thứ hai, giải quyết được vấn đề trên, tức là chạy đua với thời gian để tập trung được lực lượng thành công, nhưng lại cần có thời gian cần thiết tương đối dài mới bảo đảm đáp ứng được huy động khối lượng và chất lượng của các loại vật chất cho trận quyết chiến đó.


Chúng ta chạy đua với thời gian để bảo đảm chắc thắng trận quyết chiến chiến lược tiến công vào Sài Gòn - Gia Định thì Mỹ - Ngụy cũng đang tìm mọi biện pháp, lợi dụng mọi điều kiện tình hình để ngăn cản ta, buộc ta phải kéo dài thời gian chuẩn bị lực lượng tiến công vào Sài Gòn - Gia Định.


Trước những mâu thuẫn và thực tiễn đòi hỏi mới, Bộ Chính trị đã quyết định tập trung chỉ đạo, tập trung lực lượng để giành thắng lợi trong trận quyết chiến lịch sử này. Các quân khu, các địa phương và các cấp chính quyền trong cả nước phải dành ưu tiên số một cho mọi yêu cầu của chiến trường trọng điểm. Các cơ quan của Bộ Tổng Tư lệnh ngày đêm làm việc, vừa chỉ đạo tiếp quản tốt các chiến trường vừa giành thắng lợi, vừa chỉ đạo chuấn bị cho trận quyết chiến chiến lược này.


Từ đầu tháng 4 năm 1975, trên tất cả các nẻo đường đất nước: đường bộ, đường sông, đường không, đường biển, đường sắt, nhân dân ta sống những ngày hết sức sôi động, nhộn nhịp. Cả một dân tộc trẩy hội trong một mùa xuân lịch sử; cả một dân tộc đều ra quân với một khẩu hiệu duy nhất: "Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng".


Ngày 1 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị quyết định tăng cường sự lãnh đạo tại chỗ cho chiến dịch. Bộ Chính trị chỉ định 3 đồng chí uỷ viên Bộ Chính trị đang có mặt tại chiến trường, chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị. Đồng thời thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch, đồng chí Phạm Hùng làm Chính uỷ, đồng chí Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, các đồng chí Trần Văn Trà, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh làm phó Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Hoà làm phó Chính uỷ, đồng chí Lê Ngọc Hiền quyền Tham mưu trưởng...


Các cơ quan Tham mưu, chính trị, hậu cần của Bộ Tư lệnh Miền được tăng cường thêm một số đồng chí từ Bộ và các Tổng cục điều vào làm cơ quan của Bộ Tư lệnh chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #69 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2022, 07:32:00 am »

Để chuẩn bị những điều kiện xác định kế hoạch cho trận quyết chiến chiến lược. Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định:

Về địch

Lực lượng đã bị tiêu diệt và tan rã, tinh thần sụp đổ, vùng chiếm đóng bị thu hẹp, thế chiến trường bất lợi... nhưng quân số trên địa bàn tác chiến vẫn còn đông, nhiều phương tiện vũ khí trang bị.

- Quân đoàn 3 địch, chưa bị ta tiến công, quân số còn 250.000 quân, chủ lực có 152.000 tên, với 6 sư đoàn, 5 lữ đoàn, 19 tiểu đoàn pháo/406 khẩu, 7 thiết đoàn thiết giáp/624 xe, 800 máy bay, có 229 chiếc máy bay chiếi đấu, 862 tầu hải quân lớn nhỏ.

- Quân đoàn 4, quân số 175.000, có 66.000 chủ lưc, với 3 sư đoàn, 1 lữ đoàn, 386 khẩu pháo, 493 xe tăng thiẽt giáp, 409 máy bay, có 118 chiếc máy bay chiến đấu, 679 tàu hải quân lớn nhỏ.

Thêm vào số quân ấy là lực lượng thất trận của Quân đoàn 1, 2 và lực lượng tổng dự bị cơ động chiến lược rút về.

Địch đã tổ chức phòng thủ Sài Gòn - Gia Định với ý đồ: tăng cường phòng thủ tuyến ngoài mạnh; trong nội đô tổ chức thành từng khu vực phòng ngự vững chắc. Tập trung phòng thủ hướng Bắc và Tây Bắc Sài Gòn.


- Tuyến ngoài: có 5 sư đoàn; sư bộ binh 22 phòng thủ ở Long An, Bến Lức; Sư bộ binh 25, phòng thủ Tây Ninh, Trảng Bàng, Củ Chi, Đồng Dù, Hậu Nghĩa; Sư bộ binh 5 phụ trách Lai Khê, Bến Cát, Bình Dương; Sư bộ binh 18 phòng ngự Bàu Cá, Trảng Bom, Suối Đỉa; Sư đoàn thuỷ quân lục chiến chốt giữ Long Bình; Lữ đoàn kỵ binh 3 phụ trách Biên Hoà, Long Bình và làm dự bị cho Quân đoàn 3; Lữ đoàn 1 dù chiếm đóng Bà Rịa.


- Tuyến ngoại vi Sài Gòn: có 1 Sư đoàn biệt động quân mới thành lập phụ trách trên 3 khu vực: Khu Bắc gồm Hoóc Môn, Cầu Bông đến Tân Sơn Nhất; Khu Tây gồm Vĩnh Lộc, Châu Hiệp, Bà Hom đến Bình Chánh; Khu Nam gồm Nhà Bè đến Nhơn Trạch.


- Tuyến nội đô: Tổ chức thành 5 liên khu, mỗi liên khu gồm 2 quận: quận 1+3; 5+8; 2+4; 6+7; 10+11, do cảnh sát, phòng vệ dân sự phụ trách, nhiệm vụ giữ an ninh, chống xâm nhập và nổi dậy.

Căn cứ hình thái bố trí và ý định sử dụng lực lượng của địch trên địa bàn Quân khu 3 cho thấy:

- Lực lượng vòng ngoài mạnh, bên trong sơ hở, không có lực lượng dự bị tăng viện.

- Tăng cường phòng ngự một số điểm then chốt, có tăng cường các chướng ngại trên các hướng đường giao thông nhưng còn đơn giản, không có tính vững chắc, tạm thời, với tư tưởng nếu bị tiến công cố giữ vòng ngoài rồi co cụm dần về cố thủ bên trong.

- So sánh lực lượng quân sự và tình thế chính trị chuyển biến đưa đến một bước ngoặt hoàn toàn bất lợi cho địch. Rốc-pheo-lơ, Phó tổng thống Mỹ, ngay từ ngày 2 tháng 4 đã phải thú nhận: “Đã quá muộn để có thể làm bất cứ việc gì nhằm lật ngược tình thể”. Ngoan cố và xảo quyệt vốn dĩ là bản chất của đế quốc Mỹ và bọn tay sai. Mỹ - Ngụy vẫn còn cố sức bày mưu lập kế hòng cứu vãn tình hình, ngăn chặn “một trận Oateclô thứ hai” có thể chôn vùi uy danh của Mỹ.


Về ta:

Toàn quân ta đang có khí thế, quyết tâm rất cao, hoàn toàn nắm quyền chủ động. Ta có khả năng tập trung lực lượng, tạo được bất ngờ về qui mô, cách đánh. Sau khi giải phóng toàn bộ Quân Khu 1, 2 của địch ta có điều kiện tập trung sức người, sức của, phương tiện vũ khí thu được của địch. Hậu phương chiến dịch được nối liền từ miền Bắc vào, để chi viện cho chiến trường. Đây là thế rất mạnh của chiến dịch.


Tuy nhiên ta cũng có một số hạn chế: chưa quen tiến công thành phố lớn, chưa thông thạo địa bàn chiến dịch, lực lượng tại chỗ và lực lượng tinh nhuệ chưa quen đánh hiệp đồng qui mô lớn. Quân số một số đơn vị chủ lực thiếu chưa kịp bổ sung, phương tiện thông tin liên lạc còn yếu, chưa bảo đảm cho tiến công hành tiến...


Ngay sau khi được thành lập, căn cứ vào Nghị quyết của Bộ Chính trị, được sự hướng dẫn của Quân uỷ Trung ương, căn cứ kế hoạch đã dự báo trước của Bộ Tổng Tham mưu và kế hoạch cũ của Bộ Tư lệnh B2, cơ quan chiến dịch đã xây dựng quyết tâm, kế hoạch chiến dịch. Ngày 07 tháng 4, thông qua Bộ Tư lệnh chiến dịch. Ngày 14 tháng 4, Bộ Chính trị họp thông qua quyết tâm chiến dịch. Cơ bản, Bộ Chính trị đã nhất trí với phương hướng, chủ trương, kế hoạch tác chiến, tổ chức chỉ đạo, chỉ huy và một số vấn đề khác của chiến dịch đề xuất. Cũng tại Hội nghị này Bộ Chính trị đã nhất trí đề nghị của Bộ Tư lệnh chiến dịch là chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh”.


Từ ngày 18 tháng 4, Bộ Tư lệnh chiến dịch lần lượt thông qua quyết tâm của các quân đoàn trên các hướng. Quyết định chọn hướng tiến công Bắc - Tây Bắc làm hướng tiến công chủ yếu. Ngày 22 tháng 4, Bộ Tư lệnh chiến dịch duyệt lại các kế hoạch tác chiến. Tiếp tục chỉ đạo các lực lượng trên các hướng và các thành phần tham gia chiến dịch tổ chức thực hiện theo quyết tâm đã được xác định: cơ động lực lượng; bảo đảm vật chất kỹ thuật; củng cố bổ sung quân số; sửa chữa, mở rộng các trục đường; chuẩn bị kế hoạch đòn nổi dậy của quần chúng
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM