Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:55:58 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc  (Đọc 20168 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #80 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2022, 07:45:01 am »

PHẦN THỨ BA
Những cánh quân thần tốc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh


I. Cánh quân từ hướng Bắc - đoàn quân thần tốc từ Tam Điệp

Ngày 24 tháng 10 năm 1973, Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết Thắng được thành lập. Lực lượng những ngày đầu thành lập gồm: ba sư đoàn bộ binh (308, 312, 320B), Sư đoàn phòng không 367, Lữ đoàn xe tăng 202, Lữ đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn công binh 299, Trung đoàn thông tin 240, các đơn vị binh chủng và cơ quan. Bộ Tư lệnh gồm: Tư lệnh - Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, nguyên Phó Tổng Tham mùu trưởng, Chính uỷ; Thiếu tướng Lê Quang Hoà nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.


Giữa lúc Quân đoàn 1 đang khẩn trương sôi nổi huấn luyện nâng cao sức mạnh chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu ở miền Bắc - hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa thì trên tiền tuyến lớn miền Nam, tình hình diễn biến hết sức mau lẹ theo chiều hướng có lợi cho ta, không có lợi cho địch.


Quán triệt và chấp hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, trong năm 1974 quân và dân trên các chiến trường miền Nam đã liên tiếp tiến công địch, thu nhiều thắng lợi quan trọng. Ta đã đánh bại hầu hết các cuộc hành quân lấn chiêm của địch, lấy lại được nhiêu vùng vừa bị địch lấn chiếm; thu hẹp vùng kiểm soát của chúng, giữ vững và mở rộng vùng mới giải phóng, đẩy địch vào thế phòng ngự bị động, phải co về giữ các đô thị, các đường giao thông và các vùng có ý nghĩa chiến lược. Chúng không có khả năng lấy lại và chịu mất một số vùng bị ta đánh chiếm như: Nha Bích, Tống Lê Chân ở miền Đông Nam Bộ; Tánh Linh ở Khu 6; Đắc Pét, Ia Súp, Măng Bút, Măng Đen ở Tây Nguyên; Nông Sơn, Giá Vụt ở Khu 5.


Tháng 8 năm 1974, ta tiến công và làm chủ hoàn toàn chi khu quân sự quận lỵ Thượng Đức, miền Tây Quảng Đà (nay thuộc Quảng Nam) - được mệnh danh là "Cánh cửa thép" phía Tây của căn cứ liên hiệp quân sự Đà Nẵng. Bị thua ở Thượng Đức, quân Ngụy Sài Gòn đưa lực lượng Sư đoàn dù dự bị chiến lược từ Trị - Thiên cùng với Sư đoàn 3 phản công mấy tháng liền nhưng không lấy lại được, phải bỏ cuộc. Trên hướng mặt trận đồng bằng sông Cửu Long (từ ngày 6 tháng 12 năm 1974 đến giữa tháng 2 năm 1975), quân và dân Khu 9 đã tiến công tiêu diệt, bức rút gần 800 căn cứ, chi khu quân sự và đồn bốt.


Những thắng lợi vang dội của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam nửa cuối năm 1974, đặc biệt là chiến thắng Đắc Pét, Nông Sơn - Thượng Đức... đã khẳng định một thực tế trên chiến trường là: Quân chủ lực ta hoàn toàn áp đảo quân chủ lực Ngụy Sài Gòn. Đến cuối năm 1974, tình hình có những chuyển biến rất căn bản, những điều kiện cho việc giải phóng miền Nam đang chín muồi. Các lực lượng vũ trang nhân dân lớn mạnh không ngừng cả về số lượng và chất lượng. Tiếp theo sự kiện Quân đoàn 1 thành lập trên miền Bắc, Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) ra đời trên chiến trường Trị - Thiên, Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) ra đời ở Nam Bộ... đã tạo ra những "quả đấm" mạnh, tác chiến hiệp đồng binh chủng qui mô lớn, làm chuyển biến cục diện chiến trường. Trên khắp chiến trường miền Nam, quân và dân ta đang giữ quyền chủ động tiến công địch, không những có thể đánh bại mọi kế hoạch "bình định” lấn chiếm của địch mà còn mở được những chiến dịch lớn, tiêu diệt lực lượng lớn của địch giải phóng được nhiều vùng đất đai rộng lớn. Phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị miền Nam đòi đánh đổ chế độ độc tài, phát xít hiếu chiến Ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu, đòi hòa bình độc lập dân chủ dân sinh ngày càng lên cao. Hệ thống đường vận tải chiến lược - tuyến vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn ngày càng hoàn thiện và đường chiến dịch với chiều dài hàng chục nghìn kilômét đã được mở.


Trước tình hình đang có những chuyển biến mới mẻ, quan trọng đó, từ ngày 30 tháng 9 năm 1974, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, nhận định: "Chúng ta đã thúc đẩy thời cơ chiến lược chín muồi, đã tạo nên những yếu tố chiến lược quan trọng để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”.


Tại kỳ họp này, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong 2 năm 1975 - 1976, chọn chiến trường Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu trong cuộc tiến công lớn, rộng khắp đầu xuân 1975. Bộ Chính trị cũng đã chỉ thị cho Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tham mưu theo dõi và có kết luận về phản ứng của Mỹ qua hoạt động tiến công của ta trong mùa khô 1974 - 1975...


Trên cơ sở thế và lực tạo được, từ ngày 13 tháng 12 năm 1974 đến ngày 6 tháng 1 năm 1975, ta mở chiến dịch Đường 14 Phước Long. Quân đoàn 4 đã sử dụng một bộ phận lực lượng đánh chiếm chi khu quân sự Bù Đăng, tiểu khu Bù Na, chi khu quân sự Đồng Xoài, giải phóng Đường số 14 và toàn tỉnh Phước Long. Thắng lợi của chiến dịch Đường 14 - Phước Long - một chiến dịch có ý nghĩa thăm dò chiến lược, là một thực tế chứng minh, quân đội ta có khả năng mở chiến dịch qui mô quân đoàn, đánh chiếm chi khu, tiểu khu quân sự củđ địch, giải phóng thị xã, thành phố. "Thắng lợi của chiến dịch củng cố vững chắc quyết tâm chiến lược đã được Bộ Chính trị xác định cho thấy khả năng can thiệp đối phó rất hạn chế của Mỹ khi ta mở cuộc tiến công qui mô lớn". Thắng lợi đó chứng tỏ khả năng "Đánh cho Ngụy nhào" đang trở thành hiện thực.


Từ ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 8 tháng 1 năm 1975, Hội nghị Bộ Chính trị (mở rộng) được tiến hành đế bổ sung và hoàn chỉnh quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam. Bộ Chính trị khẳng định: "Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn. Chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc”.


Trên cơ sở những phân tích đúng đắn, khoa học đó, Bộ Chính trị quyết định: "Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian (1975 - 1976), đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao. Làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành rất khẩn trương và chuẩn bị mọi mặt, tạo điều kiện chín muồi tiến hành tổng công kích - tổng khơi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã Ngụy quân, đánh đổ Ngụy quyền từ Trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân.


Hội nghị còn chủ trương: "Ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản 2 năm (1975 - 1976), phải ra sức chuẩn bị mọi mặt để khi thời cơ lịch sử đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #81 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2022, 07:46:21 am »

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, cả nước sôi nổi dồn sức chuẩn bị thực hiện kế hoạch chiến lược 2 năm (1975 - 1976) với tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng". Nhân dân miền Bắc vừa dồn sức chi viện sức người sức của cho miền Nam động viên hàng vạn thanh niên nhập ngũ, kịp thời bổ sung lực lượng cho các đơn vị chủ lực và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn, vừa "Tay cày tay súng", "Tay búa tay súng", sẵn sàng cùng các đơn vị vũ trang, con em mình bảo vệ hậu phương chiến lược của cả nước.


Trong những ngày này, các đơn vị thuộc Quân đoàn 1 được lệnh tiếp tục củng cố thế đứng chân trên các địa bàn chiến lược ở miền Bắc, đồng thời khẩn trương bổ sung lực lượng, trang bị kỹ thuật, tranh thủ huấn luyện bộ đội (đặc biệt chú trọng huấn luyện đội ngũ cán bộ và nhân viên kỹ thuật các cấp); tiếp tục rèn luyện nâng cao sức chiến cơ động, trình độ tổ chức chỉ huy; thực hành huấn luyện tác chiến chiến dịch tiến công hiệp đồng quân binh chủng và khẩn trương chuẩn bị các phương án tác chiến, phương án cơ động gấp, đường dài. Đồng thời, tăng gia sản xuất làm ra của cải vật chất, thiết thực cải thiện đời sống bộ đội góp phần xây dựng kinh tế làm giàu cho Tố Quốc.


Cuối tháng 1 năm 1975, Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ cho quân đoàn: "Về tác chiến: Đến tháng 7, sẵn sàng 2 sư đoàn bộ binh và đến tháng 11 cả Quân đoàn sẵn sàng tác chiến được. Về huấn luyện: Trừ đơn vị đi lao động đắp đê còn lại phải huấn luyện 6 tháng.


Đầu tháng 2 năm 1975, trước những diễn biến ngày càng khẩn trương trên chiến trường, theo chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Quân đoàn tổ chức diễn tập chỉ huy ở cơ quan hai cấp (quân đoàn, sư đoàn) trên địa bàn Bắc Khu 4 (cũ). Thượng tướng Hoàng Văn Thái - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp theo dõi và chỉ đạo cuộc diễn tập.


Đây là cuộc diễn tập chỉ huy, cơ quan có qui mô lớn nhất của quân đoàn kể từ khi thành lập, nhằm huấn luyện và rèn luyện cơ quan chỉ huy các cấp, trong đó có sự phối hợp của Bộ Tổng Tham mưu và các ngành có liên quan của Nhà nước, tạo thuận lợi cho quân đoàn cơ động đường dài; đồng thời rèn luyện năng lực tổ chức, tiến hành một chiến dịch tổng hợp, kết hợp tác chiến của quân đoàn chủ lực với chiến tranh du kích và nổi dậy của quần chúng; xây dựng và thống nhất cách đánh của quân đoàn, cùng một lúc giải quyết nhiều tình huống chiến dịch, trong đó có những tình huống chiến dịch liên quan đến mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược.


Ngay sau cuộc diễn tập, Bộ Tư lệnh và cơ quan quân đoàn tăng cường đôn đốc, kiểm tra, giúp các đơn vị chuẩn bị cơ động, chuẩn bị chiến đấu; đồng thời chủ động phối hợp với Bộ Tổng Tham mưu và các ngành có liên quan của Nhà nước, tranh thủ sự giúp đỡ của cơ quan cấp trên và các địa phương, từng bước hoàn chỉnh các phương án bảo đảm vật chất hậu cần - kỹ thuật, bảo đảm trang bị và phương tiện cho quân đoàn cơ động lực lượng.


Trung tuần tháng 3, ta nổ súng tấn công Buôn Ma Thuột, địch vô cùng hoảng loạn lúng túng và rơi vào thế bị động chiến lược; chúng buộc phải rút bỏ toàn bộ Tây Nguyên về co cụm, phòng thủ ở các thành phố, thị xã miền duyên hải, vùng Trung Trung Bộ. Trong khi chiến dịch Tây Nguyên còn đang phát triển, ngày 11 tháng 3, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Bộ Tổng Tham mưu: "...Phải sớm nghĩ đến đánh chiếm Huế - Đà Nẵng. Cần tăng cường lực lượng pháo binh đánh chiếm Đà Nẵng sớm hơn và sử dụng 2 binh đoàn ở phía Bắc khi có thời cơ”.


Quân đoàn 1 là một trong "hai binh đoàn ở phía Bắc". Như vậy việc sử dụng Quân đoàn 1 trong những tình huống chiến lược đã được cấp trên cân nhắc kỹ lưỡng.

Ngày 15 tháng 3 năm 1975, Bộ Tư lệnh Quân đoàn nhận được mệnh lệnh của Bộ: "Quân đoàn có nhiệm vụ đưa một lực lượng (Sư đoàn bộ binh 320B, Tiểu đoàn 66 Lữ đoàn xe tăng 202, Tiểu đoàn 3 và Lữ đoàn bộ thuộc Lữ đoàn công binh 299, Sư đoàn phòng không 367, cơ động vào Nam Khu 4 sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu. Lực lượng cơ bản của quân đoàn vào hoạt động ở chiến trường B dài..."


Ngày 18 tháng 3, sau khi Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975, Bộ Tổng Tham mưu ra lệnh cho Quân đoàn 1: "Di chuyển một phần hai lực lượng vào Nam Khu 4 (cũ).

Như đạn đã lên nòng, chờ lệnh "phát hỏa", ngay trong đêm 18 tháng 3, Tư lệnh Quân đoàn hạ lệnh xuất phát hành quân. Khối đi trước (thê đội 1) của quân đoàn gồm: Sở chỉ huy phía trước, Sư đoàn 320B, Sư đoàn phòng không 367, Lữ đoàn xe tăng 202, Lữ đoàn pháo binh 45. Nhận lệnh lên đường, Sư đoàn 320B không trở về doanh trại mà từ công trường đắp đê sông Đáy, nhanh chóng củng cố đội hình và đi thẳng ra chiến trường. Bộ đội lên tàu từ các ga Ninh Bình, Cầu Yên, Gềnh, Đồng Giao vào Vinh chuyển sang cơ động bằng ô tô vào Quảng Bình. Liên tiếp 8 đoàn tàu quân sự cùng hơn 1.000 xe ô tô các loại chở bộ đội cùng binh khí kỹ thuật của Sư đoàn phòng không 367, Lữ đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn công binh 299 và Lữ đoàn xe tăng 202... cũng lần lượt rời vị trí tập kết tiến về phía Nam.


Đội hình hành quân của khối đi trước tới Thành phố Vinh (Nghệ An) được tổ chức thành 2 bộ phận: Tiểu đoàn 66 Lữ đoàn tăng thiết giáp 202 và Tiểu đoàn 2 Lữ đoàn pháo binh 45 ra cảng cửa Hội, xuống tàu hải quân vượt biển vào Đông Hà, Quảng Trị. Lực lượng còn lại gồm Sư đoàn bộ binh 320B và Sư đoàn phòng không 367 cùng một số đơn vị binh chủng kỹ thuật được tăng cường Trung đoàn ô tô vận tải số 10 của Cục Vận tải Tổng cục Hậu cần, tiếp tục hành quân theo Đường số 1 vào vị trí tạm dừng ở khu vực Nam Quảng Bình - Bắc Quảng Trị. Tại đây, các đơn vị được lệnh tiếp tục làm công tác chuẩn bị, bổ sung vũ khí trang bị và các mặt công tác hậu cần - kỹ thuật, sẵn sàng đợi lệnh.

Trong khi đó các lực lượng còn lại của quân đoàn đang ở miền Bắc cũng khẩn trương làm mọi công tác chuẩn bị sẵn sàng hành quân.

Nửa cuối tháng 3, trong khi phần lớn lực lượng của quân đoàn di chuyển vào Nam sẵn sàng chiến đấu thì tình hình trên chiến trường có những chuyển biến hết sức mau lẹ với tốc độ "một ngày bằng 20 năm...".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #82 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2022, 07:47:14 am »

Ngày 20 tháng 3, Bộ Tổng Tư lệnh ra lệnh cho Quân đoàn 2 cùng lực lượng vũ trang địa phương tiến công giải phóng Huế, đồng thời lệnh cho Quân khu 5 tiến công giải phóng Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Quảng Tín... tiêu diệt các Sư đoàn 1 và 2 Ngụy, bao vây cô lập tiến tới tiêu diệt cụm quân địch ở Đà Nẵng, tiêu diệt Quân đoàn 1 và lực lượng còn lại của Quân đoàn 2 Ngụy. Cùng ngày Bộ Chính trị chỉ thị cho Quân khu 5 nghiên cứu lập kế hoạch tiến công Đà Nẵng theo hai phương án: Lợi dụng thời cơ đánh nhanh bằng lực lượng sẵn có hoặc đánh có tổ chức, chuẩn bị vững chắc, có lực lượng của Bộ tăng cường.


Ngay trong ngày 20 tháng 3, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp xuống Sở chỉ huy Quân đoàn 1 tại Tam Điệp giao nhiệm vụ chiến đấu cho Bộ Tư lệnh Quân đoàn. Nhiệm vụ của quân đoàn được Bộ trưởng giao: "Tổ chức ngay  một lực lượng binh chủng hợp thành (ở khối đi trước) tiến vào đèo Hải Vân, sẵn sàng phối hợp tiến công địch ở Đà Nẵng.


Đồng thời toàn bộ lực lượng của quân đoàn chuẩn bị sẵn sàng cơ động vào khu vực Thượng Đức, tham gia tiến công Đà Nẵng khi có mệnh lệnh cụ thể của Bộ Tổng Tham mưu". Trước lúc lên máy bay lên thẳng trở về Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lần lượt ôm hôn các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn và xúc động nói: "Trước giờ Binh đoàn Quyết Thăng ra trận, tôi muốn được ôm hôn tất cả cán bộ, chiến sĩ của Binh đoàn. Chúc Binh đoàn ra quân giành thắng lợi lớn...''.


Thực hiện sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, các lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên, Quân khu 5 và Quân đoàn 2 khẩn trương chuẩn bị, chuyển từ 2 chiến dịch qui mô vừa (chiến dịch Thừa Thiên - Huế và chiến dịch Quảng - Đà - Bắc Khu 5) sang chiến dịch tiến công qui mô lớn giải phóng Đà Nẵng. Sau 5 ngày tiến công (từ ngày 21 đến 25 tháng 3) quân và dân ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên - Huế; đẩy quân Ngụy lao nhanh hơn nữa trên đà suy sụp cả về tinh thần và lực lượng, phá tan ý đồ co cụm chiến lược của địch ở đồng bằng ven biển miền Trung. Phối hợp với mặt trận Thừa Thiên - Huế, trên mặt trận Quảng - Đà ngày 23 và ngày 24 tháng 3, ta nổ súng tiến công giải phóng thị xã Tam Kỳ (tỉnh Quảng Nam); ngày 25 giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi. Tuyến phòng thủ đồng bằng ven biển của địch ở phía Nam Quảng Nam bị phá vỡ. Hoảng hốt trước sự tiến công của ta, toàn bộ quân địch trong căn cứ Chu Lai buộc phải tháo chạy. Như vậy, mất Thừa Thiên - Huế, lại mất Tam Kỳ, Quảng Ngãi, căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng bị hoàn toàn cô lập cả 3 phía Bắc, Nam và Tây và bị chia cắt khỏi các vùng còn lại mà địch đang chiếm giữ. Sau 5 ngày chiến đấu, lực lượng vũ trang của ta - cả bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương đều mạnh lên, được bổ sung nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh thu được của địch. Khí thế chiến thắng của cán bộ, chiến sĩ rất cao. Uy thế cách mạng áp đảo quân địch.


Nhận định bước phát triển mới của tình hình, Quân ủy Trung ương quyết định: "... Nắm lấy thời cơ, nhanh chóng phát triển tiến công, tập trung lực lượng tiêu diệt sinh lực lớn của địch ở Đà Nẵng, giành thắng lợi lớn trong trận quyết chiến chiến lược này..." với phương châm: "... Đánh thẳng vào Đà Nẵng nhanh nhất, kịp thời nhất, táo bạo nhất với những lực lượng có thể chuyển tới sớm nhất...".


Trong nhưng ngày này, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, hơn một nửa lực lượng của Quân đoàn đã cơ động vào các vị trí tạm dừng ở Nam Quảng Bình - Bắc Trị - Thiên; tiếp tục bổ sung vũ khí đạn dược và các loại vật chất bảo đảm sẵn sàng bước vào chiến đấu.


Ngày 25 tháng 3, Tư lệnh Quân đoàn nhận lệnh của Bộ Tổng Tham mưu: Đưa ngay lực lượng vào Thượng Đức, chuẩn bị tham gia tiến công Đà Nẵng.

Sau khi Thành phố Huế được giải phóng (ngày 25 tháng 3), địch rút chạy hoàn toàn khỏi Thừa Thiên, thì rạng sáng ngày 26 tháng 3, Quân đoàn lại nhận được lệnh mới: "Không cơ động lực lượng vào Thượng Đức nữa mà dùng một bộ phận ở khối đi trước gồm: Trung đoàn bộ binh 27 Sư đoàn 320B, Tiểu đoàn xe tăng 66 Lữ đoàn xe tăng 202 và Tiểu đoàn pháo 2 Lữ đoàn pháo binh 45 tiến theo Đường số 1 vào Bắc đèo Hải Vân, chuẩn bị cùng các đơn vị bạn tiến công đánh chiếm Đà Nẵng".


Tình thế rất khẩn trương. Ngay sáng ngày 26 tháng 3, các đồng chí Nguyễn Hòa - Tư lệnh và Hoàng Minh Thi - Chính ủy Quân đoàn từ sở chỉ huy tiền phương ở Đông Hà Quảng Trị trực tiếp chỉ huy tổ chức thê đội 1 của quân đoàn bước vào chiến đấu.


Vì tình hình phát triển quá nhanh Quân đoàn chưa kịp tham gia tiến công thì ngày 29 tháng 3, các đơn vị lực lượng vũ trang Quân khu 5 và Quân đoàn 2 phối hợp tiến công đánh chiếm Đà Nẵng - một trong những căn cứ quân sự liên hợp lớn nhất của địch ở miền Nam, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng Quân khu 1, Quân đoàn 1 và Sư đoàn lính thủy đánh bộ Ngụy.


Tuy chưa được trực tiếp chiến đấu, song các đơn vị của Quân đoàn đã chấp hành nghiêm mệnh lệnh, cơ động nhanh, đến vị trí qui định kịp thời, sẵn sàng chiến đấu cùng với các đơn vị bạn. Sự có mặt kịp thời của các đơn vị của Quân đoàn đã góp phần tạo ra thế và lực cho quân và dân ta nhanh chóng giải phóng Huế, Đà Nẵng. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trên, các đơn vị được lệnh quay trở lại Đông Hà để cùng đội hình quân đoàn tiếp tục làm công tác chuẩn bị hành quân.


Trong khi chiến dịch Trị - Thiên - Huế đang diễn ra quyết liệt, ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị họp nhận định: "Quân Ngụy có khả năng suy sụp nhanh, tan rã lớn... Ta có sức mạnh áp đảo. Lực lượng ta còn sung sức, đạn dược còn nhiều, thế chiến lược của ta mạnh. Ta có điều kiện để sớm hoàn thành quyết tâm giải phóng miền Nam... Tình thế trực tiếp cách mạng đã đến; thời cơ tổng công kích, tổng khởi nghĩa giải phóng Sài Gòn đã chín   Từ nhận định đó, Bộ Chính trị đề ra quyết tâm chiến lược mới: "Nắm lấy thời cơ, tập trung nhanh nhất lực lượng (từ 12 sư đoàn trở lên), binh khí kỹ thuật và vật chất, giải phóng xong Sài Gòn trước mùa mưa".


Căn cứ vào quyết tâm chiến lược mới của Bộ Chính trị, theo ý kiến chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu ra lệnh cho Quân đoàn 1: "Để lại Sư đoàn 308 làm nhiệm vụ dự bị chiến lược và bảo vệ miền Bắc, khẩn trương cơ động toàn bộ lực lượng và binh khí kỹ thuật vào hướng Sài Gòn".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #83 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2022, 07:58:45 am »

Trong quyết tâm chiến lược lịch sử này, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã tính toán rất kỹ đến khả năng liều lĩnh của Mỹ - Ngụy và các thế lực phản động khác trong bước đường cùng; vì thế trong khi dồn lực lượng cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng Sài Gòn - Gia Định, ta phải chuẩn bị lực lượng dự bị mạnh, sẵn sàng ứng phó với những tình huống phức tạp nhất để bảo vệ miền Bắc, bảo vệ Trung ương Đảng và Chính phủ, đồng thời sẵn sàng cơ động thần tốc vào chiến trường. Và Sư đoàn 308 (Quân Tiên Phong), Sư đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta, từng lập nhiều chiến công hiển hách trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã được giao trọng trách này.


Ngày 31 tháng 3 năm 1975, chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ thị của Quân ủy Trung ương, tại Tổng hành dinh ở Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Thế Bôn - Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 1: "Quân đoàn 1 (trừ Sư đoàn 308) có nhiệm vụ tổ chức hành quân gấp vào miền Đông Nam Bộ, hiệp đồng với các đơn vị bạn tham gia trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn - Gia Định". Trong vòng 16 ngày, Quân đoàn tổ chức các lực lượng hành quân đưa đội hình vào tập kết tại Đồng Xoài - tỉnh Phước Long (nay là tỉnh Bình Phước).


Nhận nhiệm vụ của Bộ giao, Quân đoàn phải đối mặt với một loạt khó khăn. Một trong những khó khăn lớn là hành quân xa hàng nghìn kilômét, nhưng đường hành quân chưa được Bộ xác định, mà giao cho quân đoàn quyết định. Trong khi đó, thông tin về tình hình các tuyến mà Quân đoàn có thể chọn lại rất hạn chế. Mặt khác công tác bảo đảm cho hành quân, đặc biệt về hậu cần - kỹ thuật còn rất khó khăn. Thời gian làm công tác chuẩn bị cho hành quân chỉ vẻn vẹn 4 ngày. Lực lượng của Quân đoàn đang ở rất xa nhau: Một phần lớn đã đứng chân ở Quảng Trị, phần còn lại đang còn ở hai tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa. Vì thế mọi công việc đều phải làm với tinh thần "Thần tốc". Cơ quan Tham mưu, chính trị các cấp phổ biến, quán triệt nhanh chỉ thị của Chính ủy Quân đoàn đến từng xe, từng phân đội: "...Thời gian là sức mạnh, là lực lượng. Phải động viên anh em đi, đi nhanh hơn nữa...".


Ngày 1 tháng 4 năm 1975, trong khi các đơn vị khẩn trương làm công tác chuẩn bị, bổ sung vật chất, trang bị kỹ thuật thì các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn cùng thủ trưởng các cơ quan, đơn vị họp bàn kế hoạch, biện pháp lãnh đạo, chỉ huy cuộc hành quân. Ngay sau khi nhận lệnh của Bộ, Tư lệnh Quân đoàn Nguyễn Hòa và Chính ủy Hoàng Minh Thi đã vượt lên trước vào nhận lệnh chiến đấu nên đồng chí Nguyễn Thế Bôn - Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng và đồng chí Nguyễn Hùng Phong - Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn được giao trọng trách trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân.


Sáng 5 tháng 4, sở chỉ huy cơ bản Quân đoàn xuất phát từ Tam Điệp, Ninh Bình. Ngày 7 tháng 4, tại vị trí tạm dừng ở Cam Lộ (Quảng Trị), Bộ Tư lệnh Quân đoàn họp bàn kế hoạch tổ chức thực hiện giai đoạn 2 cuộc hành quân.


Về đường hành quân, sau khi nghiên cứu, xem xét tình trạng đường sá một cách khách quan, khoa học, Bộ Tư lệnh Quân đoàn thống nhất khẳng định: Lúc này trên cả 3 trục đường (Đường số 1, Đường Đông Trường Sơn và Đường Tâỵ Trường Sơn) đều có những khó khăn và thuận lợi.


Đường số 1 tuy ngắn nhất và tốt nhất, nhưng chắc chắn để cản bước tiến của ta, khi rút chạy từ Trị - Thiên Huế, Đà Nẵng vào Trung Trung Bộ và Nam Bộ, quân địch đã phá nhiều cầu cống. Trong khi đó Quân đoàn 2 và các đoàn binh khí, kỹ thuật của Bộ Tổng Tư lệnh cũng đang hành quân; không quân địch còn có thể đánh phá ngăn chặn, nên đội hình hành quân rất dễ bị ùn tắc. Đường số 1 từ Đà Nẵng vào Xuân Lộc dài gần 1.000 kilômét có 569 cầu và 288 công các loại (trong đó có 18 cầu bắc qua sông lớn). Nếu địch phá cầu thì vấn đề đảm bảo vượt sông cho các đơn vị, đặc biệt là đơn vị có nhiều vũ khí trang bị nặng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, trong khi khả năng bảo đảm vượt sông của Tiểu đoàn công binh cầu phà thuộc Lữ đoàn công binh 299 lại có hạn. Qua trinh sát, Quân đoàn còn biết thêm: Trong quá trình rút chạy từ các tỉnh duyên hải miền Trung về "tử thủ" ở Nha Trang, địch đã cho nổ mìn đánh sập một số cầu lớn như Cao Lâu, Hương An, Bà Pén, Kê Xuyên... càng làm cho việc tổ chức hành quân trên trục đường này trở nên khó khăn hơn.


Tuyến đường Đông Trường Sơn do Đoàn 559 mới mở, các đơn vị vận tải chiến lược đang tập trung vận chuyển vật chất hậu cần cho chiến dịch. Các đơn vị của Quân đoàn 3 cũng đang hành quân trên trục đường này. Tuy đang là mùa khô, nhưng do địa hình và khí hậu khu vực nên thời tiết Đông Trường Sơn đã bắt đầu có những đợt mưa, tuyến đường trở nên chật chội và lầy lội; đường dốc, trơn khó đi; nhất là đối với các loại xe một cầu, xe kéo pháo.


Trong khi đó tuyến đường Tây Trường Sơn tuy có nhiều đèo dốc và là đường xa nhất (vì phải vòng qua đất bạn Lào) nhưng thời tiết đang còn khô hanh nên toàn bộ lực lượng Quân đoàn có thể cơ động tốt, vừa không bị ùn tắc, vừa giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ vào tập kết chiến đấu trên tuyến đường này là đoạn đèo Âm Pun đường hẹp, ngầm sâu, dốc đứng. Một yếu tố quan trọng khác phải tính toán kỹ là vấn đề bảo đảm hậu cần - kỹ thuật, do Quân đoàn phải tự bảo đảm toàn bộ xăng dầu, lương thực, thực phẩm, thuốc men, vũ khí đạn dược... trong suốt quá trình hành quân làm sao vào đến vị trí tập kết, vẫn có lượng dự trữ (10 ngày) để sẵn sàng triển khai chiến đấu được ngay.


Trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình, thấy hết những thuận lợi, khó khăn của các tuyến đường, Bộ Tư lệnh đưa ra một quyết định táo bạo và chính xác Quân đoàn sẽ hành quân theo đường Tây Trường Sơn.

Căn cứ vào yêu cầu hành quân cơ giới và ý định sử dụng lực lượng tác chiến (khi vào đến Đồng Xoài), Bộ Tư lệnh Quân đoàn quyết định tổ chức đội hình và phương pháp hành quân như sau:

- Khối 1: Cơ động theo đường số 9 vào đường Tây Trường Sơn qua Hạ Lào, đến Đắc Tô (tỉnh Đắc Lắc) rồi nhập vào Đường 14 qua Công Tum, Pleiku, Buôn Ma Thuột vào tập kết ở Đồng Xoài (riêng Tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp 66 Lữ đoàn 202 xuất phát từ Phú Lộc (tỉnh Thừa Thiên qua Đà Nẵng lên Khâm Đức, Tây Nguyên vào Đường số 14 và vào thẳng Đồng Xoài).

- Khối 2: Xuất phát từ các vị trí đứng chân ở các huyện Hà Trung, Cẩm Thủy, Triệu Sơn, Tĩnh Gia (tỉnh Thanh Hóa); Nho Quan, Yên Mô (tỉnh Ninh Bình)... đi bằng xe tô của Trung đoàn 10 ô tô thuộc Cục Vận tải Tổng cục Hậu cần và xe đơn vị theo Đường số 1 vào Cam Lộ; sau đó chuyển sang xe của Trung đoàn vận tải 52 Sư đoàn 571 và Sư đoàn vận tải 471 Bộ Tư lệnh Trường Sơn từ Cam Lộ đến Binh trạm rồi theo Đường 14 vào vị trí tập kết tại Đồng Xoài.


Một số phân đội kỹ thuật sửa chữa, cứu kéo cơ động được phép vượt lên phía trước để sẵn sàng bảo đảm cho đội hình hành quân qua các trọng điểm, nhất là đèo Âm Pun, hai đầu lên xuống cầu phao sông Bạc và ở ngầm sâu, dốc đứng trên vùng ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #84 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2022, 07:59:52 am »

Ngày 2 tháng 4 năm 1975, Bộ Tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho Khối 1 bắt đầu xuất phát.

Trong khi các đơn vị bộ binh, pháo binh... chuẩn bị hành quân, ngày 30 tháng 3, Lữ đoàn xe tăng 202 đã cơ động bằng tàu hỏa từ ga Văn Trai vào Vinh, sau đó chuyển sang cơ động bằng tàu biển từ Bến Thủy vào Đông Hà. Riêng Tiểu đoàn 66 Lữ đoàn xe tăng 202 từ Tây Đà Nẵng (tập kết tại đây sau khi kết thúc chiến dịch Trị - Thiên và chiến dịch Đà Nẵng) cơ động theo trục Đường 14 vào thẳng Đồng Xoài.


Ngày 3 tháng 4, các đơn vị thuộc Khối 2 được lệnh xuất phát.

Như vậy cho đến lúc này cả Quân đoàn đã ra trận. Nhân dân các địa phương thuộc hai tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa đổ ra hai bên đường lưu luyến tiễn đưa bộ đội. Hàng nghìn xe vận tải chở quân, xe tăng thiết giáp, xe kéo pháo, xe cầu phà, xe chở đạn dược, xăng dầu... nhằm phương Nam, nhằm Sài Gòn thẳng tiến!


Ngày 5 tháng 4, khi các đơn vị thuộc Khối 1 đang hối hả vượt qua vùng Hạ Lào thì ở phía sau, các đơn vị thuộc Khối 2 nhanh chóng vượt qua Quảng Bình, Vĩnh Linh cơ động vào vị trí tạm dừng tại Đông Hà, Quảng Trị. Tại đây, các đơn vị được bổ sung vật chất, xăng dầu, lương thực, vũ khí, trang bị kỹ thuật đủ cho cơ số thứ nhất trong đợt đầu chiến dịch. Từ Đông Hà, các đơn vị thuộc Khối 2 chuyển sang đi xe của Trung đoàn vận tải 52 Sư đoàn 571, đến Binh trạm 15 và từ Binh trạm 15 đến Đồng Xoài, do Sư đoàn vận tải ô tô 471 cũng thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn đảm nhiệm.


Lúc này đội hình hành quân của Quân đoàn kéo dài hàng trăm cây số. Càng xuôi xuống vùng Hạ Lào, thời tiết càng khô nóng như ở vùng hoang mạc. Nắng như thiêu như đốt. Những cánh rừng khộp, rừng le trần trụi. Đường đất bụi ngập bánh xe. Hàng nghìn chiếc xe nối đuôi nhau đi như trong một dòng bụi khổng lồ đang cuộn chảy. Bụi mù trời. Xe trước nhìn xe sau không rõ, nhưng các xe vẫn cố giữ khoảng cách từ 20 đến 30 mét, bám đội hình tiếp tục hành quân. Bộ đội ăn ngủ ngay trên xe. Mỗi xe bố trí 2 người lái thay nhau đi liên tục cả ngày lẫn đêm. Mỗi xe là một phân đội nhỏ tự quản lý, giúp đỡ nhau về mọi mặt. Khi gặp địch, từng xe là một phân đội chiến đấu. Nếu bị tắc đường, nhiều xe phối hợp lại giúp nhau để giải tỏa thông nhanh chóng. Xe trước hỏng, nhường đường cho xe sau vượt lên.


Đúng kế hoạch hành quân, ngày 7 tháng 4, Bộ Tư lệnh Quân đoàn ra lệnh cho các khối tạm dừng để củng cố bộ đội, điều chỉnh đội hình. Từng đoàn xe pháo ghé sát bên rừng, nhường đường cho đơn vị bạn. Các chiến sĩ lái xe tranh thủ kiểm tra kỹ thuật xe, chăm sóc các thiết bị hành quân, bổ sung xăng dầu, nước làm mát máy, chuẩn bị tốt cho chặng tới. Các chiến sĩ bộ binh, pháo binh, công binh, trinh sát..., người kiểm tra súng đạn, trang bị; người chuẩn bị nấu cơm, người xách nước tiếp cho xe hoặc giúp lái xe chăm sóc kỹ thuật xe máy. Cán bộ các cấp tranh thủ rút kinh nghiệm tổ chức hành quân, uốn nắn những sai sót của bộ đội; đồng thời kiểm tra, đôn đốc công tác chuẩn bị của đơn vị. Những xe hành quân tốt, những tập thể và cá nhân thực hiện nghiêm các qui định trong hành quân được biểu dương khen thưởng kịp thời. Những tổ máy thông tin liên lạc vô tuyến điện vẫn hối hả làm việc, kịp thời giúp Bộ Tư lệnh Quân đoàn chỉ huy cuộc hành quân. Lúc 9 giờ 30 phút ngày 7 tháng 4, trong phiên liên lạc với Bộ Tổng Tư lệnh (qua đường dây thông tin của Bộ Tư lệnh 5ẽ9), sở chỉ huy Quân đoàn nhận được bức điện khẩn của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Toàn văn bức điện như sau:

"Gửi Bộ Tư lệnh 559 + Tiền phương 559. Các sư đoàn, các đoàn binh khí kỹ thuật trên đường hành quân. 559 chuyển Quân đoàn 1, Quân đoàn 2. Anh Tấn VNII.

Mệnh lệnh:

1. Thần tốc, thần tốc hơn nữa.
Táo bạo, táo bạo hơn nữa.
Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng.

2. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ.

Bức điện có lời văn ngắn gọn của một mệnh lệnh chiến đấu, có ngữ điệu như một bài hịch, làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ trên đường ra trận. Những tổ máy thông tin lập tức truyền đạt mệnh lệnh của Đại tướng tới từng đơn vị. Bộ Tư lệnh Quân đoàn lập tức ra lệnh đến các khối hành quân: "Hành quân liên tục với tốc độ nhanh nhất, khí thế cao nhất. Không xe nào, không đơn vị nào được làm tắc đường. Xe nào hỏng phải nhường đường cho xe sau vượt lên".


Mệnh lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, của Bộ Tư lệnh Quân đoàn như tiếp thêm sức mạnh cho đoàn quân cơ giới của quân đoàn, hừng hực lao về phía trước. Trên mỗi thành xe, tháp pháo, trên từng chiếc mũ, trên vách đá rừng Trường Sơn hay trên mỗi thân cây dọc đường và trên từng báng súng..., hai chữ "Thần tốc" được viết lên như một lời động viên thôi thúc đoàn quân đi nhanh hơn nữa tới mặt trận.


Trong lịch sử quân đội ta chưa bao giờ có một cuộc hành quân qui mô oai hùng đến thế, thần tốc như thế. Xưa, vua Quang Trung tổ chức hành quân thần tốc từ Phú Xuân ra Thăng Long với chặng đường dài 700km, ngày đi đêm nghỉ. Nay Quân đoàn 1 hành quân với hàng nghìn phương tiện cơ giới vượt chặng đường dài 1.700km từ Bắc vào Nam, đi suốt ngày đêm không nghỉ. "Hành quân thần tốc" giờ đây mang nội dung mới, sức mạnh mới, ý nghĩa mới. Ngoài vai trò hỗ trợ của lực lượng vận tải cơ giới của Tổng cục Hậu cần, Bộ Tư lệnh 559, cuộc hành quân vĩ đại này là kết quả của quá trình xây dựng Quân đoàn "Có sức chiến đấu cao, sức đột kích mạnh, sức cơ động lớn, tác chiến hiệp đồng binh chủng qui mô lớn, quyết định chiến trường...".


Đường Trường Sơn như rung chuyển dưới hàng chục nghìn bánh xe lăn của đoàn xe, pháo nối đuôi nhau vượt núi, băng đèo.

Do yêu cầu hành quân "Thần tốc" toàn Quân đoàn ở trạng thái luôn cơ động - một trạng thái làm cho công tác chỉ huy và bảo đảm hậu cần - kỹ thuật gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp. Bám sát mọi diễn biến tình hình, Bộ Tư lệnh Quân đoàn kịp thời để ra 5 biện pháp để chỉ đạo cụ thể của từng đơn vị:

- Các xe chạy liên tục trên Đường 18 - 20 giờ/ngày.

- Bộ đội ăn ngủ ngay trên xe. Mỗi xe là một đơn vị tự quản giúp đỡ nhau về mọi mặt.

- Mỗi xe phải có hai người lái thay nhau, ưu tiên việc ăn, ngủ đối với lái xe.
   
- Các xe giữ tốc độ trung bình 30km/giờ; cự ly 20m/xe. Các xe, các khối hành quân nối tiếp nhau. Không xe nào được làm cản đường hoặc làm tắc đường. Khi xảy ra sự cố dọc đường, từng xe, từng khối chủ động khắc phục.

- Trung đoàn là đơn vị cơ sở thực hiện các biện pháp trên. Cơ quan và phân đội kỹ thuật, quân y, các cấp chia thành nhiều tổ công tác đi cùng các khối hành quân để sửa chữa xe pháo và cứu chữa thương, bệnh binh kịp thời khi có sự cố xảy ra...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #85 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2022, 08:01:33 am »

Khi đoàn xe chuẩn bị vượt qua đèo Nứa, có một đoạn đường lầy lội; nhiều xe bị trơn trượt, sa lầy. Tốc độ hành quân chậm hơn hẳn. Tư lệnh Nguyễn Hòa quyết định nhanh chóng lệnh cho Trung đoàn 27 Sư đoàn 320B cho bộ đội xuống xe mở gấp một đoạn đường khác vòng tránh. Dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu, các chiến sĩ Trung đoàn 27 dùng xẻng, cuốc, dao tông... đồng loạt triển khai phát tuyến, chặt cây, bạt đồi và đã hoàn thành đoạn đường trong vòng 2 giờ. Quyết định chính xác kịp thời của người chỉ huy cộng với ý chí quyết tâm cao của bộ đội đã tạo thuận lợi cho các đơn vị và hàng nghìn xe phía sau vượt đèo Nứa được nhanh chóng và an toàn.


Quá trình hành quân, cán bộ chỉ huy cấp trưởng tiểu đoàn, trung đoàn trỏ lên luôn vượt lên trước đội hình, vừa làm nhiệm vụ trinh sát đường, vừa chuẩn bị các phương án tác chiến trước mắt và sau khi đến Đồng Xoài.


Do có sự tổ chức chỉ huy chặt chẽ với nhiều biện pháp cụ thể của lãnh đạo, chỉ huy các cấp cùng với khí thế quyết tâm cao của bộ đội quyết khắc phục mọi khó khăn, nên mặc dù đội hình hành quân đông tới hàng chục nghìn người cùng hàng nghìn xe pháo các loại, nhưng tốc độ vẫn rất "Thần tốc", trung bình mỗi ngày đi được từ 180 đến 200km.


Về công tác kỹ thuật, với phương châm từng xe, từng phân đội tự bảo đảm kỹ thuật, tự sửa chữa khắc phục những hỏng hóc thông thường; nhưng quân đoàn vẫn chỉ đạo thực hiện công tác kỹ thuật rất sát sao, đặc biệt tại cầu phao sông Bạc hay ở ngầm dưới chân đèo Âm Pun... đều được bố trí các tổ cứu kéo và các tốp thợ sửa chữa cơ động để kịp thời sửa chữa và giải phóng xe nhanh, kiên quyết không để ùn tắc, xe nào không vượt được ngầm là tổ chức cứu kéo ngay.


Ngày 10 tháng 4, trong đội hình Sư đoàn 312 có 1 xe kéo pháo bị gãy nhíp giữa ngầm Âm Pun; chỉ sau ít phút cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã có phương án khắc phục, bảo đảm tốc độ hành quân của cả đội hình. Càng trong khó khăn càng tỏ rõ ý chí và quyết tâm của những người lính thợ; dụng cụ đồ nghề sửa chữa của 4 - 5 xe góp lại; 1 xe hỏng thì 9 - 10 lái xe khác cùng xúm nhau vào sửa chữa, người góp công, người góp "của”. Với cách làm đó, đoàn xe hàng nghìn chiếc dù có "chứng nọ tật kia", nhưng khống có chiếc nào phải nằm lại dọc đường. Ở đội hình hành quân của Lữ đoàn pháo binh 45 với những chiếc xe Kraz, Uran, Zin157 kéo những khẩu pháo 130mm, 122mm bịt nòng kín mít nặng nề, việc tổ chức hành quân càng khó khăn hơn nhiều. Khi vượt ngầm Âm Pun, 1 khẩu pháo bị gãy khung chữ A. Đây là một tình huống bất ngờ đối với cả lính thợ và lái xe kéo pháo, nếu chờ "đội sửa chữa cơ động Z7" để mang khung chữ A khác đến thay thế sẽ mất nhiều thời gian. Trong cái khó đã "ló" cái khôn! Một chiến sĩ lái xe đề nghị dùng tạm khung chữ A của khẩu pháo trước lắp vào khẩu pháo hỏng để kéo pháo lên rồi tiếp tục hành quân. Bằng cách "tăng bo khung chữ A" như vậy, anh em đã kéo được khẩu pháo cho đến vị trí tạm dừng.


Đường hành quân càng đến gần ngã ba Đông Dương, thời tiết càng khô nóng. Nắng nóng đã làm một lốp tiền xa của một khẩu pháo cao xạ bị nổ, không thể khắc phục. Anh em lái xe nghĩ cách dùng lốp dự phòng của loại xe "Vọt tiến" lắp vào. Tuy không đúng chỉ số kỹ thuật nhưng cũng duy trì được tốc độ hành quân.


Ngày 13 tháng 4, các đơn vị đi đầu đội hình hành quân của Quân đoàn đã tới ngã ba Đông Dương - ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia. Các phân đội được lệnh "tăng tốc" dồn đội hình lên. Tạm biệt đường Trường-Sơn, tạm biệt những miền đất Hạ Lào đầy nắng gió, đội hình chiến đấu của quân đoàn tiếp tục tiến qua Tây Nguyên vừa giải phóng, theo Đường 14 tiến xuống phía Bắc Sài Gòn. Đến Tây Nguyên mùa khô nắng nóng không kém trên đất Lào. Nhiều chặng hành quân cả ngày chỉ gặp toàn suối cạn. Một vấn đề mới nảy sinh: Thiếu nước cho người, cho xe. Người có thể nhịn được nhiều giờ nhưng xe không thể thiếu nước dù chỉ 1 giờ. Một số xe tăng, ô tô vì thiếu nước làm mát nên máy bị nóng quá, do đó không thể hành quân được. Bộ đội đã khắc phục đào sâu tới 2-3m vẫn không có nước. Cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn công binh 299 có sáng kiến độc đáo: Dùng phần nước uống cá nhân trong hành quân của từng người để đổ vào xe. Ngay lập tức, hàng trăm chiếc bình tông nước uống được tập trung lại. Bằng cách đó, những chiếc xe tăng, xe ô tô đã có thể tiếp tục hành quân.


Trong khi lực lượng cơ bản của Quân đoàn đang "Thần tốc" tiến về miền Đông Nam Bộ thì ở phía sau, Sư đoàn 308 cũng được lệnh xuất phát rời doanh trại tiến về phía Nam thực hiện cuộc nghi binh chiến lược. Các đơn vị thông tin vô tuyến của sư đoàn ở vị trí cũ vẫn đều đặn phát tín hiệu lên không trung vào các giờ đã định. Đối phương không thể ngờ được Sư đoàn 308 đã lặng lẽ hành quân bí mật vào chiếm lĩnh vị trí ở khu vực Tam Điệp - Bỉm Sơn, sẵn sàng làm nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và cơ động chi viện chiến trường.


Cùng thời gian này, Bộ Tư lệnh Quân đoàn đã chỉ thị cho các đơn vị tiến hành một loạt các công tác chuẩn bị chiến đấu. Ngoài việc tổ chức cho cán bộ chỉ huy và cơ quan Tham mưu các cấp đi trước đội hình hành quân để kịp thời nhận và triển khai các mệnh lệnh, nghiên cứu các phương án chiến đấu; Bộ Tư lệnh Quân đoàn còn chỉ đạo các khối, các đơn vị tiếp tục tiến hành công tác giáo dục chính trị, động viên tư tưởng, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu và huấn luyện bổ sung cho các đối tượng, nhất là chiến sĩ mới về sử dụng các loại vũ khí. Việc huấn luyện được tổ chức ngay trên thùng xe, trên đường hành quân. Chặng đường từ Tây Nguyên vào Đồng Xoài, Quân đoàn điều chỉnh lực lượng trong các khối đều có bộ binh, pháo binh, xe tăng tạo nên đội hình binh chủng hợp thành theo các phương án chiến đấu đã được dự kiến.


Từ ngày 14 tháng 4, các Sư đoàn 320B, 367, 312; các Lữ đoàn 202, 299, 45; Trung đoàn thông tin 140 và các cơ quan, phân đội hậu cần - kỹ thuật... lần lượt vào vị trí tập kết tại Đồng Xoài.

Vậy là sau 12 ngày đêm hành quân thần tốc vượt chặng đường dài 1.700km, đội hình chiến đấu của Quân đoàn đã kịp thời có mặt tại khu vực tập kết Đồng Xoài vượt thời gian qui định của Bộ 1 ngày, sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu.

Sau khi kiểm tra toàn bộ lực lượng cơ bản của Quân đoàn tại khu vực Đồng Xoài, Bộ Tư lệnh Quân đoàn đã báo cáo với Bộ Chỉ huy chiến dịch: "Quân đoàn 1 đã có mặt ở vị trí tập kết, sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu!". Thay mặt Bộ Tư lệnh chiến dịch, Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Tư lệnh chiến dịch biểu dương khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 1 đã chấp hành nghiêm mệnh lệnh của Bộ, vượt mọi khó khăn, hoàn thành thắng lợi cuộc hành quân thần tốc đưa lực lượng vào vị trí tập kết vượt thời gian qui định, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu được ngay khi có lệnh.


Thắng lợi của cuộc hành quân "Thần tốc" của Quân đoàn có ý nghĩa lịch sử to lớn: đây là lần đầu tiên trong lịch sử quân đội ta tổ chức một cuộc hành quân "Thần tốc" xuyên Đông Dương - cuộc hành quân trên chặng đường dài nhất, qua nhiều địa hình phức tạp nhất, được thực hiện trong thời gian ngắn nhất và vận chuyển lực lượng lớn nhất (về người và vũ khí trang bị) vào tham gia chiến đấu trên một hướng chiến dịch. Thắng lợi của cuộc hành quân còn có ý nghĩa rất to lớn về chiến lược, góp phần quan trọng chuyển yếu tố thời gian thành lực lượng, thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương là nhanh chóng tập trung toàn bộ lực lượng, đập tan sức đề kháng cuối cùng của địch, giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #86 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2022, 08:02:32 am »

Ngày 14 tháng 4 năm 1975, các đơn vị của Quân đoàn 1 lần lượt vào vị trí tập kết tại Đồng Xoài và chuẩn bị sẵn sàng bước vào chiến đấu. Thiếu tướng Nguyễn Hòa - Tư lệnh và Thiếu tướng Hoàng Minh Thi - Chính ủy Quân đoàn có mặt tại Sở chỉ huy chiến dịch để nhận nhiệm vụ. Thay mặt Bộ Tư lệnh chiến dịch, Đại tướng Văn Tiến Dũng giao nhiệm vụ cho Quân đoàn: "Quân đoàn 1 (thiếu Sư đoàn bộ binh 308) được tăng cường Trung đoàn bộ binh 95B, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 trung đoàn pháo cao xạ tự hành, phối hợp với lực lượng địa phương các tỉnh: Bình Phước, Bình Dương và 1 trung đoàn đặc công vùng ven, có nhiệm vụ:

- Dùng một sư đoàn phối hợp với bộ đội địa phương tiêu diệt hoặc bao vây quân địch ở Phú Lợi; bao vây, tiến công tiêu diệt các điểm: Bình Dương, Lai Khê, Bến Cát, Tân Uyên; ngăn chặn, tiêu diệt và làm tan rã Sư đoàn bộ binh 5 của địch, không cho chúng co cụm về Sài Gòn.

- Tổ chức một lực lượng đột kích binh chủng hợp thành mạnh cỡ sư đoàn tăng cường, thọc sâu đánh thắng vào nội đô chiếm mục tiêu chủ yếu là Bộ Tổng Tham mưu Ngụý, các Bộ Tư lệnh binh chủng Ngụy ở Gò Vấp, các quận Gò Vấp, Bình Thạnh, hợp điểm ở dinh Độc Lập.

- Tiếp tục tiêu diệt các cụm đề kháng, bảo vệ các mục tiêu đã chiếm, bảo vệ trật tự an ninh trong phạm vi phụ trách, nhanh chóng củng cố làm lực lượng dự bị chiến lược, sẵn sàng cơ động phát triển về đồng bằng sông Cửu Long khi có lệnh.

Ngay hôm sau (15 tháng 4), tại Đồng Xoài, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn họp nghiên cứu, quán triệt và bàn biệp pháp lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Căn cứ vào nhiệm vụ mà Bộ Tư lệnh chiến dịch giao cho; tình hình cụ thể về địch, địa hình và khả năng tác chiến của quân đoàn, Bộ Tư lệnh Quân đoàn hạ quyết tâm sơ bộ, xác định 2 mục tiêu tiến công chính của quân đoàn là: Thọc sâu vào Sài Gòn và bao vây, tiến tới tiêu diệt Sư đoàn 5 Ngụy.


Quán triệt sâu sắc phương châm chỉ đạo cách đánh chiến dịch "Táo bạo, bất ngờ, chắc thắng", Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn nghiên cứu, quyết định chọn cách đánh của Quân đoàn như sau: Tác chiến hiệp đồng binh chủng, tiến hành đột phá vòng ngoài và thọc sâu vào Sài Gòn. Cách đánh này phải được vận dụng một cách linh hoạt, táo bạo trong từng trận đánh, trên từng hướng, từng mũi.


Ngày 16 tháng 4, tại sở chỉ huy ở Đồng Xoài. Bộ Tư lệnh Quân đoàn tổ chức giao nhiệm vụ sơ bộ cho các đơn vị.

Ngoài các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn, chỉ huy các cơ quan, đơn vị có mặt gồm: Nguyễn Trung Kiên, Lương Ngọc Chi, (Phó Tham mưu trưởng Quân đoàn); Lê Khay, Nguyễn Hồng Thanh (Phó Chủ nhiệm chính trị Quân đoàn); Nguyễn Như Nguyên, Trần Thành (Phó Chủ nhiệm và Chính ủy Cục Hậu cần); Lưu Bá Xảo, Đỗ Mạnh Đạo (Tư lệnh và Chính ủy Sư đoàn 320B); Nguyễn Chuông, Nguyễn Xuyên (Tư lệnh và Chính ủy Sư đoàn 312); Đinh Đình Sành, Hoàng Khoát (Tư lệnh và Chính ủy Sư đoàn phòng không 367); Vũ Trọng Hà, Tạ Thân (Lữ đoàn trưởng và Chính ủy Lữ đoàn công binh 299); Nguyễn Văn Lãng, Lê Quang Pnước (Lữ đoàn trưởng và Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 202); Lê Văn Toàn, Bùi Đăng Lục (Lữ đoàn trưởng và Chính ủy Lữ đoàn pháo binh 45); Chu Văn Mùi, Ngô Huy Bội (Trung đoàn trưởng và Chính ủy Trung đoàn thông tin 140); cùng các trưởng phòng, ban các cơ quan quân đoàn, các Trung đoàn trưởng và Chính ủy các trung đoàn bộ binh và binh chủng, các đơn vị phối thuộc của bộ đội địa phương tỉnh Bình Dương. Nhiệm vụ của các đơn vị được đồng chí Tư lệnh Nguyễn Hòa giao như sau:

- Sư đoàn 320B được tăng cường 1 Tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú Lợi, Tiểu đoàn tăng - thiết giáp 66 (Lữ đoàn 202), 1 đại đội xe tăng (Lữ đoàn 206), Trung đoàn phòng không 280 (Sư đoàn 367), Tiểu đoàn công binh cầu thuyền (Lữ đoàn 299), Tiểu đoàn pháo 367, Tiểu đoàn pháo 130mm (Lữ đoàn pháo binh 45), Tiểu đoàn ô tô vận tải 51 và một số phân đội A72, súng phun lửa... có nhiệm vụ đánh thọc sâu vào Sài Gòn, chiếm Bộ Tổng Tham mưu và khu binh chủng Ngụy ở Gò Vấp, kết hợp với lực lượng tại chỗ và nhân dân địa phương nổi dậy giành chính quyền làm chủ, giải phóng tiểu khu Gia Định và quận Gò Vấp.

- Sư đoàn 312 được tăng cường 1 Tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Bình Dương, Trung đoàn phòng không 241 (Sư đoàn 367), 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội xe tăng thiết giáp (Lữ đoàn 202), 1 đại đội công binh (tỉnh Bình Dương), đại đội bộ đội địa phương 61 (quận Bến Cát), 1 trung đội súng phun lửa; được hỏa lực cụm pháo binh quân đoàn trực tiếp chi viện. Có nhiệm vụ chia cắt địch, tiến công căn cứ Phú Lợi, cắt Đường 13; bao vây tiến tới tiêu diệt Sư đoàn 5 Ngụy, phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương thực hành tiến công và nổi dậy, tiêu diệt toàn bộ quân địch trên tuyến Phú Lợi - Bình Dương, giải phóng Thủ Dầu Một.

- Sư đoàn phòng không 367 có nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy Quân đoàn, bảo vệ ngầm Bến Bầu và đội hình chiến đấu của Quân đoàn; đồng thời có lực lượng trực tiếp đi cùng các sư đoàn bộ binh, phối hợp chiến đấu trên cả hai hướng, đặc biệt là trên hướng thọc sâu vào Sài Gòn.

- Lữ đoàn pháo binh 45 tổ chức thành cụm hỏa lực mạnh, chi viện cho cả hai hướng chiến đấu của quân đoàn.

- Lữ đoàn công binh 299 có nhiệm vụ làm ngầm Bến Bầu qua Sông Bé và mở đường cho các đơn vị cơ động vào tuyến xuất phát tiến công; đồng thời bảo đảm các công trình sở chỉ huy, trận địa pháo và khắc phục chướng ngại, vật cản trên đường thọc sâu.


Căn cứ vào quyết tâm sơ bộ của Quân đoàn, từ ngày 17 đến 22 tháng 4, các cơ quan đơn vị dồn sức triển khai công tác chuẩn bị chiến đấu. Mọi người đều phải chạy đua với thời gian, tranh thủ từng giờ, từng phút chuẩn bị cho chiến dịch. Trước hết là làm cho cán bộ, chiến sĩ, cơ quan và đơn vị quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ, thống nhất về nhiệm vụ, phương châm chỉ đạo tác chiến chiến dịch; trên cơ sở đó động viên tinh thần quyết chiến quyết thắng, hăng hái thi đua ra trận giết giặc, lập công; khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ; chống mọi tư tưởng chần chừ, do dự, sợ gian khổ ác liệt, hy sinh.


Tham gia chiến dịch, Quân đoàn có nhiệm vụ tác chiến trên dải tiến công nằm giữa sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, chỗ rộng nhất 20 km, chỗ hẹp nhất là 12km; nhưng chiều sâu dải tiến công lại rất lớn: Từ Phước Vĩnh đến Bộ Tổng Tham mưu Ngụy tại Sài Gòn (khoảng 80km). Trong khi đó, Quân đoàn mới cơ động từ xa đến, địa hình khu vực tác chiến hoàn toàn mới lạ, chỉ có 5 ngày chuẩn bị để hạ quyết tâm chính thức. Vì vậy mọi công tác như: Trinh sát địa hình, nắm địch, mở đường cơ động, chuẩn bị vật chất, vũ khí, đạn dược, liên hệ phối hợp tác chiến với lực lượng địa phương tỉnh Bình Dương và Thành phố Sài Gòn... đều phải được triển khai hết sức khẩn trương. Mọi cơ quan, đơn vị đều phải chạy đua với thời gian, tranh thủ từng giờ, từng phút chuẩn bị cho chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #87 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2022, 08:03:27 am »

Ngay trong ngày 17 tháng 4, Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn dẫn đầu đoàn cán bộ Tham mưu, tác chiến đi trinh sát địa hình và nắm tình hình địch trên hướng tiến công của quân đoàn. Tiểu đoàn trinh sát 701 sau khi vào tập kết tại Đồng Xoài (16 tháng 4) đã nhanh chóng triển khai mạng trinh sát bộ binh, binh chủng và trinh sát kỹ thuật để nắm địch. Cũng trong thời gian này, lực lượng trinh sát của sư đoàn, lữ đoàn cũng triển khai bám nắm địch trên các Đường 14, 15, 16 và các Căn cứ Bình Cơ, Bình Mỹ, Phú Lợi, Tân Uyên.


Ngày 18 tháng 4, sau khi các đồng chí Tư lệnh Quân đoàn đi trinh sát thực địa về, Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn họp thảo luận hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến chiến dịch. Cùng dự hội nghị có đồng chí Sáu Phát - Khu ủy viên kiêm Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương, đồng chí Một Hữu - Tỉnh đội trưởng Bình Dương. Đồng chí Sáu Phát đã cung cấp thêm một số tư liệu quí về địch, về địa hình, thời tiết và đặc biệt là tình hình nhân dân trong khu vực tác chiến của quân đoàn.


Căn cứ vào nhiệm vụ Bộ Tư lệnh Chiến dịch giao cho quân đoàn và tình hình địch, tình hình nhân dân và địa hình trên hướng tiến công, Bộ Tư lệnh Quân đoàn quyết định cách đánh của quân đoàn như sau: "Bao vây chia cắt, cô lập Sư đoàn 5 Ngụy và các lực lượng phòng thủ vòng ngoài của địch, tiêu diệt không cho chúng co cụm hoặc rút chạy về Thành phố Sài Gòn. Đồng thời, tổ chức lực lượng mạnh táo bạo thọc sâu vào nội đô, nhanh chóng đánh chiếm mục tiêu chủ yếu là Bộ Tổng Tham mưu Ngụy và khu binh chủng Gò Vấp - Gia Định".


Cách đánh trên phù hợp với quyết tâm chiến đấu (sơ bộ) đã được Quân đoàn xác định từ ngày 15 tháng 4, làm cơ sở để Quân đoàn triển khai thế trận xuất phát tiến công một cách chủ động, tạo thế và phát huy sức mạnh tổng hợp, tác chiến hiệp đồng quân binh chủng trên cả hai hướng chiến dịch. Trong đó, hướng chủ yếu là hướng thọc sâu vào Bộ Tổng Tham mưu Ngụy trong Thành phố Sài Gòn và khu binh chủng ở Gò Vấp - Gia Định. Hướng quan trọng là hướng Phú Lợi - Bình Dương, chia cắt cô lập Sư đoàn 5 Ngụy và các đơn vị chủ lực của địch, không cho chúng co cụm hoặc rút chạy về Thành phố Sài Gòn.


Đến ngày 18 tháng 4, còn lại hai vấn đề quan trọng mà Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân đoàn thảo luận, cân nhắc kỹ lưỡng để sớm đi đến kết luận. Một là, có nên đề nghị Bộ chỉ huy chiến dịch cho Quân đoàn đưa sớm lực lượng xuống Nam Sông Bé, áp sát Đường 15, 16 để khóa chặt địch trước khi ta tiến công? Hai là, hướng tiến công chủ yếu của Quân đoàn sẽ triển khai theo trục Đường 14 hay Đường 16.


Trong khi đó, toàn bộ lực lượng của Quân đoàn (gồm hơn 30.000 cán bộ, chiến sĩ và các phương tiện vũ khí trang bị) đang tập kết ở phía Bắc Sông Bé, còn cách mục tiêu tiến công chủ yếu là Bộ Tổng Tham mưu Ngụy tại Sài Gòn gần 100km, lại bị ngăn cách bởi một dòng sông, gây rất nhiều khó khăn cho việc cơ động, triển khai lực lượng vào chiến đấu. Đứng chân ở đây tuy giữ được bí mật, nhưng nếu xảy ra tình huống chiến đấu gấp, nhất là trường hợp Sư đoàn 5 Ngụy co cụm, Quân đoàn sẽ không kịp triển khai lực lượng thực hành ngăn chặn. Nếu đưa sớm lực lượng Quân đoàn xuống Nam Sông Bé, Quân đoàn sẽ gặp khó khăn trong công tác giữ bí mật (vì lực lượng lớn, lại vào gần địch) và bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cũng phức tạp hơn. Tuy nhiên, tiếp cận gần địch hơn sẽ tạo thế áp sát, sẵn sàng kìm giữ, bao vây và tiến công quân địch, cắt đứt Đường 13, giải quyết nhanh chóng các tình huống chiến đấu nhằm cô lập, tiến tới tiêu diệt Sư đoàn 5 Ngụy; đồng thời rút ngắn được thời gian và đường thọc sâu vào Sài Gòn, tạo được yếu tố táo bạo, bất ngờ đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Ngụy.


Trên cơ sở những phân tích đánh giá khoa học đó, Bộ Tư lệnh Quân đoàn đề nghị Bộ Chỉ huy chiến dịch cho Quân đoàn chuyển dần lực lượng xuống Nam Sông Bé. Bộ Tư lệnh chiến dịch đồng ý với đề nghị này và nhắc nhở Quân đoàn phải giữ bí mật. Để giữ bí mật việc cơ động lực lượng, Quân đoàn quyết định chuyển dần từng tiểu đoàn (chủ yếu là bộ binh) sang phía Nam Sông Bé, dựa vào các "cứ" cũ của bộ đội địa phương vùng chiến khu Đ để cùng ém quân và tổ chức một bộ phận nhỏ (của Sư đoàn 312) ở Phước Vĩnh, thu hút sự chú ý của địch, khoét sâu thêm phán đoán sai lầm của chúng về hướng tiến công của Quân đoàn.


Về vấn đề thứ 2 là chọn hướng tiến công và đường thọc sâu. Có ý kiến cho rằng nên chọn Đường 13 làm hướng tiến công chủ yếu, vì đây là con đường huyết mạch nối các tỉnh miến Đông với Sài Gòn. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng phải dựa vào Đường 16 - một nhánh đường đất nhỏ hơn Đường 13, chạy tắt từ Chánh Lưu đến dốc Bà Nghĩa rồi nhập vào Đường số 8 xuống Đường 13 đi Lái Thiêu vào Sài Gòn. Sau khi phân tích, cân nhắc kỹ lưỡng, Bộ Tư lệnh Quân đoàn quyết định chọn hướng tiến công và triển khai lực lượng thọc sâu trên trục Đường 16. Bởi vì, trên hướng Đường 13, tuy mặt đường rộng, thuận tiện cho cơ động lực lượng và binh khí kỹ thuật bằng xe cơ giới, nhưng lực lượng địch phòng thủ mạnh (3 trung đoàn thuộc Sư đoàn 5 Ngụy), bố trí thành nhiều lớp có chiều sâu phòng ngự từ Lai Khê, Bến Cát đến Phú Lợi, Bình Dương, Lái Thiêu. Nếu chọn hướng tiến công trên Đường 13 ta sẽ khó thực hiện được ý định thọc sâu nhanh. Vì Quân đoàn buộc phải tiến công chính diện phòng ngự của Sư đoàn 5 Ngụy. Đặc biệt, ta phải liên tục đột phá các trận địa phòng ngự của địch có chiều sâu từ Phước Vĩnh đến Sài Gòn (gần 80km). Trong quá trình đó, lực lượng ta có thể bị tiêu hao tổn thất và để mất yếu tố bí mật, bất ngờ, không thực hiện được cách đánh táo bạo, đánh nhanh và đánh hiểm thọc sâu chiến dịch vào sào huyệt của địch ở Sài Gòn. Mặt khác nếu tiến công theo kiểu "bóc vỏ" ấy sẽ là đánh địch dồn về phía Sài Gòn, chúng sẽ có điều kiện củng cố, co cụm, từng bước chống cự, gây khó khăn cho ta trên hướng thọc sâu và như vậy Quân đoàn sẽ không hoàn thành nhiệm vụ mà Bộ Tư lệnh chiến dịch giao cho.


Nếu chọn hướng tiến công từ Đường 16 qua Búng, Lái Thiêu vào Bộ Tổng Tham mưu và khu binh chủng Ngụy thì Quân đoàn sẽ gặp nhiều khó khăn về đường cơ động triển khai đội hình xuống Nam Sông Bé, vì trên hướng này chỉ có một trục đường duy nhất từ ngã ba Trần Lệ Xuân vào Bến Bầu. Đây vốn là con đường kéo gỗ của dân khai thác rừng, rất hẹp (chỉ rộng khoảng 3m); để cơ động lực lượng và binh khí kỹ thuật vào vị trí triển khai xuất phát tiến công, ta buộc phải khắc phục mở rộng đường và làm ngầm vượt sông Bé. Tuy nhiên về địa hình khu vực này chủ yếu là địa hình bán sơn địa gồm các dải đồi thấp, có rừng che phủ nên rất thuận lợi cho việc triển khai cơ động lực lượng và phương tiện cơ giới. Từ Đường 16 đến Sài Gòn tuy hệ thống đường sá xấu, nhưng ít cầu công và cự ly cơ động ngắn nhất. Mặt khác, trên hướng này địch bố trí phòng thủ tương đối sơ hở, lực lượng mỏng và yếu (chủ yếu là lực lượng bảo an dân vệ).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #88 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2022, 10:36:58 pm »

Từ những phân tích đánh giá tình hình (địch, ta, địa hình) như trên, Bộ Tư lệnh Quân đoàn kết luận:

Sư đoàn bộ binh 5 Ngụy là lực lượng gây trở ngại nhất trên dải tiến công của Quân đoàn, khi bị đánh mạnh hoặc có nguy cơ bị tiêu diệt, chúng sẽ co về khu vực nam thị xã Bình Dương lập tuyến phòng thủ. Để giải quyết được vấn đề trên, một mặt ta phải lập thế chia cắt nhanh và vững chắc, kiên quyết không để chúng co cụm, mặt khác, phải triển khai hướng tiến công chủ yếu từ Đường 16 qua Búng, Lái Thiêu, thọc sâu đánh chiếm khu binh chủng và Bộ Tổng Tham mưu Ngụy. Muốn chia cắt bao vây cô lập được Sư đoàn bộ binh 5 Ngụy tại Bắc thị xã Bình Dương, ta phải chốt chặn Đường 13, tiêu diệt mục tiêu chủ yếu là căn cứ Phú Lợi và thị xã Bình Dương, tổ chức nghi binh hướng Lai Khê, Phước Vĩnh để đánh lạc hướng chú ý của địch, giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ cho hướng thọc sâu vào Sài Gòn. Muốn chiếm nhanh cơ quan đầu não của địch ở Sài Gòn, ta phải thực hành thọc sâu nhanh, hành động táo bạo, bất ngờ. Giữa hai nhiệm vụ: Bao vây, chia cắt Sư đoàn 5 Ngụy, không cho chúng co cụm về Băc Sài Gòn và nhiệm vụ thọc sâu nhanh vào Bộ Tổng Tham mưu Ngụv có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ, mật thiết với nhau. Nếu chia cắt, cô lập hoàn toàn Sư đoàn 5 Ngụy, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng thọc sâu vào đánh chiếm mục tiêu chủ yếu trong Sài Gòn. Ngược lại, ta thọc sâu nhanh, táo bạo đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu và khu binh chủng Ngụy - cơ quan đầu não của Ngụy quân, Ngụy quyền Sài Gòn thì dù Sư đoàn 5 Ngụy có trên 8.000 quân, 4 tiểu đoàn pháo binh và gần 200 xe tăng, thiết giáp của thiết đoàn 3 cũng phải suy sụp về tinh thần, tan rã về tổ chức, không còn ý nghĩa chiến dịch.


Như vậy, lấy Đường 16 làm hướng tiến công chủ yếu là một quyết định táo bạo, chính xác, phù hợp với cách đánh chiến dịch của Quân đoàn. Quyết định này có cân nhắc đầy đủ các yếu tố khách quan, khoa học về tình hình địch, ta và địa hình trong một thế trận chung của toàn chiến dịch.


Thực hiện ý định của Bộ Tư lệnh Quân đoàn, ngay trong đêm 18 tháng 4, Sư đoàn bộ binh 312 và Sư đoàn bộ binh 320B lặng lẽ xuyên rừng, bí mật cơ động lực lượng vào vị trí mối thuộc địa phận chiến khu Đ.

Cũng trong thời gian này, để đảm bảo cho lực lượng cơ giới của quân đoàn cơ động vào phía Nam Sông Bé, Lữ đoàn công binh 299 triển khai thi công ngầm Bến Bầu qua Sông Bé, với khối lượng đào đắp hơn 2.000m3; đồng thời mở rộng, nâng cấp con đường từ ngã ba Trần Lệ Xuân vào Bến Bầu, có chiều dài 26km, rộng từ 3m lên 6m và bảo đảm đường cơ động từ Nam ngầm Bến Bầu đến Đường 16, dài khoảng 20 km. Ngoài ra Lữ đoàn còn triển khai sửa 25km đường từ sông Bé đi suối Nhung và làm ngầm Nha Bích (ngầm dự bị). Việc sửa chữa đoạn đường từ Sông Bé đến suối Nhung phải giữ hoàn toàn bí mật, bộ đội chỉ được đặt sẵn những khối thuốc nổ để san đất, cắt cây, khi có lệnh của quân đoàn mới được mở đường nhanh cho các lực lượng của quân đoàn cơ động vào vị trí xuất phát tiến công.


Ngày 25 tháng 4, tại sở chỉ huy Rạch Bé, Bộ Tư lệnh Quân đoàn phổ biến quyết tâm chiến đấu của quân đoàn (đã được Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh phê chuẩn) và giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị.

Căn cứ vào phương châm chỉ đạo tác chiến chiến dịch: "Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng" và căn cứ vào tình hình nhiệm vụ được giao, Bộ Tư lệnh Quân đoàn xác định tư tưởng chỉ đạo tác chiến:

- Tranh thủ thời gian chuẩn bị nhanh và chu đáo để đánh chắc thắng; không đánh ẩu nhưng phải nắm chắc thời cơ, xuất kích kịp thời, không cho địch co cụm. Sáng tạo, linh hoạt, tích cực chủ động trong mọi tình huống.

- Táo bạo, mạnh dạn thọc sâu, chia cắt các mục tiêu bên trong, phá thế địch, thực hành bao vây tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch trong dải tiến công của quân đoàn.

- Phát huy sức mạnh của binh chủng hợp thành, dứt điểm nhanh gọn các trận then chốt; chủ động phối hợp hiệp đồng giữa các binh chủng với các đơn vị và địa phương trong quá trình tiến công tiêu diệt địch.

- Kết hợp tiến công quân sự mạnh với địch vận và nổi dậy của nhân dân đê làm tan rã địch, giải phóng toàn bộ khu vực trong phạm vi tác chiến của quân đoàn.

Để thực hiện thắng lợi phương châm, tư tưởng chỉ đạo nêu trên, Bộ lệnh Quân đoàn quyết định sử dụng Sư đoàn 320B (được tăng cường Tiểu đoàn xe tăng 66, Lữ đoàn xe tăng 202, một đại đội xe tăng (Lữ đoàn tăng 206); một trung đội súng phun lửa; một đại đội A72; một tiểu đoàn công binh cầu thuyền; một đại đội công binh công trình; một tiểu đoàn ô tô vận tải (Tiểu đoàn 51 thiếu); một tiểu đội trinh sát hỗn hợp, một tiểu đoàn pháo 130mm đi cùng, co cụm pháo của Lữ đoàn 45 chi viện) đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu của quân đoàn, tổ chức đột phá thọc sâu vào Sài Gòn, đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu, khu binh chủng Ngụy ở Gò Vấp, và chi khu Gia Định.


Trên hướng tiến công thứ yếu, Quân đoàn sử dụng Sư đoàn 312 được tăng cường một đại đội xe tăng (8 chiếc) (Lữ đoàn xe tăng 206); Tiểu đoàn thiết giáp 244, (Lữ đoàn xe tăng 202); một tiểu đoàn phòng không (thiếu) (Sư đoàn phòng không 367), một tiểu đoàn bộ đội địa phương (tỉnh Bình Dương), một đại đội công binh của tỉnh, một đại đội bộ đội địa phương (huyện Bến Cát), được Cụm pháo binh quân đoàn trực tiếp chi viện đảm nhiệm tiến công chia cắt, ngăn chặn, bao vây cô lập tiến tới tiêu diệt Sư đoàn 5 Ngụy, không cho chúng co cựm hoặc rút chạy về Sài Gòn. Bộ Tư lệnh Quân đoàn nhấn mạnh: "Cả hai hướng tiến công đều hỗ trợ cho nhau, cùng thổng nhất một mục đích thực hiện nhiệm vụ chính của quân đoàn là đánh nhanh, đánh mạnh, táo bạo thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu được phân công trong Thành phố Sài Gòn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #89 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2022, 10:37:46 pm »

Kế hoạch hiệp đồng chiến đấu giữa các đơn vị trong quân đoàn được triển khai theo nhiệm vụ, thời gian, trên từng hướng và được phân công chia thành 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Cơ động lực lượng triển khai chiến dịch chiếm lĩnh khu vực xuất phát tiến công ở phía Nam Sông Bé. Các đơn vị bộ binh tự tìm đường, vượt Sông Bé bằng khí tài đơn giản. Lực lượng cơ giới cơ động theo đường mới mở từ ngã ba Trần Lệ Xuân vượt ngầm Bến Bầu vào khu vực triển khai ở Nam Sông Bé.

Trên hướng chủ yếu: Sư đoàn bộ binh 320B và các đơn vị tăng cường vào chiếm lĩnh khu vực suối Đá Mài, Mã Đà, Bà Đá, xóm Sình, Bum Tre, có một bộ phận vào Đông Bắc dốc Bà Nghĩa 300m.

Trên hướng thứ yếu: Sư đoàn bộ binh 312 và lực lượng tăng cường cơ động vào triển khai ở khu vực Cai Co, suối Con, bầu Cá Lóc, xóm Mía và xóm Ông Trọng. Cụm pháo binh quân đoàn cơ động vào triển khai trận địa ở khu vực bầu Cá Trê.


+ Giai đoạn 2: Thực hành mở cửa cài thế chiến dịch và chiếm lĩnh, các vị trí xuất phát tiến công. Đêm ngày N - 2 (ngày 27 tháng 4), Sư đoàn bộ binh 320B sử dụng Tiểu đoàn 4 Trung đoàn bộ binh 27 tiến công tiêu diệt Tiểu đoàn bảo an 316 của địch trên Đường 16, tổ chức kiểm chế pháo binh địch đánh chiếm sân bay Ông Lình và Bình Chuẩn, bảo đảm cho bộ đội mở cửa vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát thọc sâu chiến dịch. Sư đoàn 312 sử dụng Đại đội 9, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 141 và Tiểu đoàn địa phương 2 Phú Lợi tiến công tiêu diệt Tiểu đoàn bảo an 306, tiến công chiếm 2 căn cứ Bình Cơ, Binh Mỹ tạo điều kiện cho bộ đội ta vượt qua Đường 16 vào vị trí xuất phát tiến công. Trung đoàn 141 có một bộ phận phối thuộc của Trung đoàn 165 bao vây căn cứ Phú Lợi. Trung đoàn 209 chốt chặn Đường 13, 14 đoạn Bến Trắc, Sở Sao, An Lợi. Trung đoàn 165 cơ động vào khu vực Hố Đá, chuẩn bị đánh chiếm Phú Lợi.


+ Giai đoạn 3: Quân đoàn thực hành tổng công kích trên cả hai hướng. Sư đoàn 312 đánh chiếm căn cứ Phú Lợi, Bình Dương; đánh cắt Đường 13, 14, 15; bao vây cô lập Sư đoàn 5 Ngụy, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch trên tuyến phòng thủ Bắc Sài Gòn. Đồng thời, Sư đoàn 320B tiến công trong hành tiến từ Bình Chuẩn vượt Tân Uyên đến Đường 8, tiến thẳng xuống Lái Thiêu, chiếm cầu Bình Triệu, thọc sâu vào Sài Gòn đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu, khu quân binh chủng Ngụy ở Gò Vấp và chi khu Gia Định.

Trung đoàn 95 và một bộ phận đội xe tăng (trên tăng cường) làm lực lượng dự bị, sẵn sàng đánh địch trên cả hai hướng. Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320B) làm dự bị cho hướng thọc sâu. Quá trình chiến đấu, hỏa lực pháo binh của quân đoàn sẽ chi viện cho cả hai hướng.


Kế hoạch tác chiến trên khẳng định cách đánh của quân đoàn là dùng lực lượng binh chủng hợp thành, tiến hành đồng thời giữa đột phá với thọc sâu chiến dịch, kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương tạo nên sức mạnh tổng hợp của đòn tiến công và nổi dậy. Trên cơ sở cách đánh chung đó, từng hướng chiến đấu vận dụng cách đánh sáng tạo, phù hợp với tình hình, nhiệm vụ của đơn vị. Sư đoàn 312 thực hành bao vây, chia cắt, tiến công tiêu diệt địch ở căn cứ Phú Lợi và đánh cắt Đường 13, không cho địch rút chạy về co cụm ở Sài Gòn. Sư đoàn 320B thực hành tiến công trong hành tiến, lướt qua những mục tiêu ở vòng ngoài, táo bạo thọc sâu vào Bộ Tổng Tham mưu Ngụy.


Đây là lần đầu tiên ta tổ chức lực lượng sư đoàn tăng cường đánh thọc sâu vào thành phố. Nhờ được tập luyện trong cuộc diễn tập ở Sầm Sơn (tháng 1 năm 1975), Quân đoàn đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, vận dụng sát hợp với yêu cầu nhiệm vụ tác chiến hiệp đồng binh chủng qui mô lớn trên hướng Bắc Sài Gòn.


Chấp hành mệnh lệnh của Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, 17 giờ ngày 26 tháng 4, cuộc tiến công của quân ta bắt đầu. Gần 20 tiểu đoàn pháo binh của Quân đoàn 2, Quân đoàn 4 và Quân khu 7 đồng loạt bắn phá dữ dội các căn cứ Hố Nai, Biên Hòa, Nước Trong, Long Thành, Bà Rịa... phá vỡ tuyến phòng thủ của địch ở phía Đông Nam Sài Gòn. Quân đoàn 3 pháo kích Đồng Dù, uy hiếp Trảng Bàng, Gò Dầu (Củ Chi). Đoàn 232 tiến công cắt đứt Đường số 4 (đoạn từ Bến Lức đến Tân An). Trên cả 5 hướng tiến công vào Sài Gòn, quân ta gây áp lực rất mạnh, tạo thành 5 gọng kìm đang dần xiết chặt trung tâm đầu não và sào huyệt cuối cùng của Ngụy quân, Ngụy quyền tay sai bán nước. Trời Sài Gòn về đêm sáng rực ánh chớp của các loại đạn pháo. Tiếng đạn nổ, tiến gầm rú của các loại máy bay, của xe tăng không lúc nào ngớt. Trên các ngả đường tiến vào Sài Gòn, rầm rập bước chân đoàn quân giải phóng.


Trên hướng Bắc Sài Gòn, lúc này Quân đoàn 1 đã chiếm lĩnh các vị trí sẵn sàng xuất phát tiến công. Một bộ phận lực lượng của Sư đoàn 312 áp sát các căn cứ Chánh Lưu, Phước Vĩnh, Phước Hòa; thực hiện nhiệm vụ nghi binh thu hút sự chú ý của địch; buộc Sư đoàn 5 Ngụy phải điều Trung đoàn 8 ra chặn Đường 14. Tuy lực lượng của địch ở đây không lớn, nhưng ta đã khôn khéo đánh lừa địch, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng của Trung đoàn 141 (Sư đoàn 312) đánh chiếm căn cứ điểm Bình Cơ và Bình Mỹ, thực hành mở Đường 16. Trong khi đó, địch tăng cường sử dụng không quân, pháo binh đánh ngăn chặn ta từ xa và điều thêm lực lượng chốt giữ các căn cứ vòng ngoài như Bình Mỹ, dốc Bà Nghĩa, quận lỵ Tân Uyên...


Đêm 26 tháng 4, sở chỉ huy Quân đoàn chuyển từ Rạch Bé xuống Ván Hương để trực tiếp chỉ huy các hướng tiến công. Sáng ngày 27 tháng 4, tại sở chỉ huy Quân đoàn, Trung tướng Lê Quang Hòa - Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị chiến dịch xuống phổ biến và hướng dẫn quân đoàn triển khai thực hiện công tác chính trị chiến dịch. Cùng lúc đó, qua đường dây thông tin từ sở chỉ huy mặt trận, đồng chí Văn Tiến Dũng - Tư lệnh chiến dịch kiểm tra lại các mặt chuẩn bị của Quân đoàn trước khi nổ súng và thông báo tình hình chung trên các hướng chiến dịch. Đại tướng nói: Bộ Chính trị đã chỉ thị cho toàn quân ta tiến công vào Sài Gòn với khí thế hùng mạnh nhất, nhanh chóng đập tan mọi sự kháng cự của địch, đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong thành phố, buộc địch phải nộp vũ khí đầu hàng, giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM