Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:50:53 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 2  (Đọc 8805 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #10 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2022, 08:42:11 am »

NGHE - NHÌN ĐÃ CÓ TỪ LÂU TRONG HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ


Ngày nay, nói đến Nghe - Nhìn, người ta nghĩ đến Trung tâm nghe - nhìn (trước đây) của Đài Truyền hình Việt Nam nói riêng và phương tiện thông tin đại chúng (Mass media) nói chung. Có biết đâu rằng, từ rất lâu, nó đã có mặt trong nhiều lĩnh vực. Bởi lẽ có hoạt động nào lại thiếu quan sát, việc làm gì lại không phải mắt thấy, tai nghe, nhất là trong chỉ huy chiến đấu trên chiến địa, một công việc luôn luôn phải trực tiếp với thế giới hiện thực vì nó liên quan đến sự tồn vong của đất nước, sự sống còn của nhân dân.


Trong nghe - nhìn thì nghe có thể là gián tiếp, không cần tận tai mà chỉ cần qua mắt người khác, chứ nhìn thì phải trực tiếp, phải tận mắt của chính người chỉ huy; nghe có khi được cảm nhận từ một vật phát ra âm thanh dù có bị che khuất, còn nhìn phải thấy trực tiếp một vật hiện rõ dưới ánh sáng tự nhiên hay ánh sáng tự tạo. Do đó, nhìn đòi hỏi điều kiện cao hơn nghe. Chính vì thế mà nó giúp cho việc nhận thức về sự vật đạt chất lượng cao hơn, tạo điều kiện cho người chỉ huy xử trí tình huống được tốt hơn, sát hơn và kịp thời hơn. Từ đó, người xưa cho rằng: "Nhĩ văn bất như nhất kiến" (Tai nghe không bằng mắt thấy). Tục ngữ nhân dân ta cũng chấp nhận là "giàu hai con mẳt" chứ chưa bao giờ chấp nhận "giàu hai lỗ tai". Ngày nay, người ta thường nói đến việc nghe - nhìn trên phương tiện truyền thông. Tuy vậy, nhìn mới là chính, còn nghe chỉ nhằm làm rõ cho nhìn. Và như trên đã nói, nghe - nhìn là một nhu cầu bức thiết trong đấu tranh vũ trang, trong chỉ huy tác chiến. Nhưng thật ra, công việc đó không đơn giản chút nào.


Thời cổ đại, ở phương Đông, người Hán chiến đấu trong đội hình "bát quái"; ở phương Tây, người Hi Lạp chiến đấu trong đội hình pha-lăng, người La Mã chiến đấu trong đội hình ma-níp. Các trận đánh diễn ra trên một không gian hẹp và một thời gian ngắn. Việc nghe - nhìn của người chỉ huy hoàn toàn trực tiếp bằng thính giác và thị giác. Các hiệu lệnh được phát ra bằng lời nói, bằng trống, cồng, chiêng (và sau này để âm thanh vang xa, người ta dùng kèn đồng) hoặc dùng màu sắc của cờ, của khói lúc ban ngày và ánh sáng của đèn, của lửa lúc ban đêm. Nhưng rồi lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, việc giải quyết chiến tranh không chỉ bằng một vài trận đánh bởi vì chiến địa ngày càng mở rộng, số quân tham chiến ngày một dồi dào. Ví như vào cuối thời Chiến Quốc (475 đến 221 trước công nguyên), tại hội chiến Trường Bình (- 260), hai bên đã huy động tới mấy trăm ngàn người. Khi chiến tranh chấm dứt, riêng số quân Triệu bị quân Tần chôn sống đã tới hơn 400 ngàn. Còn dưới thời La Mã (từ 753 trước công nguyên đến 476), tại hội chiến Can (- 216), lực lượng tham chiến hai bên cũng bao gồm 136 ngàn. Do số quân tăng lên, chiến địa mở rộng, thời gian tác chiến kéo dài trong khi người ta bắt đầu xem "việc binh là nghệ thuật dối trá"1 (Tôn Tử, Binh pháp thập tam thiên, Thiên Thủy kế) nên đã luôn luôn tìm cách "bưng tai, bịt mắt" nhau. Các bên tham chiến đánh lừa nhau bằng cách ngụy trang từ bộ quân phục đến toàn trận địa, làm động tác giả, dựng mưu lập kế, đưa đối phương vào bẫy để tiêu diệt. Những việc làm đó không chỉ ở qui mô chiến thuật mà còn ở qui mô chiến lược, qui mô cả cuộc chiến tranh nếu như các vị chỉ huy quân sự không tỉnh táo để nghe - nhìn. Trước đây, khi hai bên dàn quân, đối trận, tất cả mọi điểm mạnh, yếu của địch, ta đã được bày ra, những người chỉ huy cứ tai nghe, mắt thấy thế nào thì hạ quyết tâm thế ấy. Bây giờ không gian giao tranh đã không còn như cũ, muốn nghe, muốn nhìn cho rõ cũng rất khó mà nhịp độ chiến đấu lại khẩn trương. Mặt khác, chiến tranh lại bắt buộc phải nghe, phải nhìn sự thật đúng như nó có. Muốn vậy, việc đưa người đến gần đối phương để nghe, để nhìn, để tìm hiểu cụ thể tình hình là điều phải làm. Đó chính là nguyên nhân hình thành công việc của người lính trinh sát, của công tác quân báo. Nhưng đó chỉ là nội dung nghe - nhìn ở ngay chiến địa. Để hiểu rõ tình hình, việc nghe - nhìn của chiến trận phải đâu chịu dừng lại. Giới lãnh đạo chiến tranh nói chung, những người chỉ huy quân sự nói riêng còn muốn đi sâu vào "bếp núc" của nó nữa. Cho nên "cài người" vào hàng ngủ đối phương là cần thiết. Lịch sử các cơ quan tình báo thế giới như CIA của Mỹ, KGB của Liên Xô, 2e bureau của Pháp... đã cho ta những ví dụ sinh động. Nhiệm vụ của điệp viên không đơn giản là phục vụ cho từng trận đánh, từng chiến dịch mà là nghe - nhìn thấu suốt cả cuộc chiến tranh. Trong hàng ngũ địch, họ là những người giả điếc, giả mù nhưng trong hàng ngũ ta, họ là những người cực kì "thính tai", "tinh mắt". Ngày nay, trên thế giới có cuộc chiến tranh nào mà sự thắng lợi của nó lại thiếu phần nghe - nhìn của các điệp viên. Vũ Ngọc Nhạ ở Việt Nam trong cuộc Kháng chiến chống Mĩ (1955 - 1975), Ri-hác Gioóc-giơ ở Liên Xô trong cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại (1941 - 1945) - người từng được tặng danh hiệu ''Người tình báo vĩ đại" - đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ muôn vàn khó khăn đó.


Cùng với việc "nối dài giác quan" cho người chỉ huy quân sự bằng sức người, ở đây vai trò của khoa học - kỹ thuật cũng mỗi ngày một lớn. Ví như khi chiến trường bắt đầu mở rộng, để phục vụ cho việc nhìn được xa, người ta đã đặt những vọng lâu, những tháp canh trên tường thành trong phòng ngự hay trên chiến thuyền trong tiến công. Tiến lên một bước nữa, chiếc ống nhòm, chiếc pháo đối kính, chiếc kính đo xa được đưa vào chiến trận. Để phục vụ đắc lực cho việc nghe - nhìn của người chỉ huy qua thời gian, không gian, đến cuối thế kỷ XIX, người ta đã sử dụng điện báo - điện thoại. Sang thế kỉ XX, việc nghe - nhìn trong quân sự lại có thêm bước phát triển mới. Ban đêm, để nhìn cho rõ, người ta chiếu đèn pha, bắn pháo sáng. Và để giữ bí mật, thời gian gần đây, người ta nhìn đêm bằng kính hồng ngoại. Trong những năm đầu của Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945), chiến tranh phát triển mạnh ở trên không, việc nghe - nhìn không thuận lợi một chút nào. Để nhanh chóng phát hiện sự xâm nhập của không quân, người ta đã sử dụng sóng điện từ. Từ đấy ra-đa ra đời. Ở dưới nước, để chống lại tàu ngầm, người ta dùng ra-đa thủy âm (xô-na). Mấy thập kỉ gần đây, việc nghe - nhìn còn được sử dụng đến máy bay không người lái, vệ tinh nhân tạo có lắp camêra. Trên không trung, chúng có thể truyền hình về mặt đất những kết quả đã thu lượm được. Qua màn ảnh nhỏ, người chỉ huy có thể trực tiếp nghe - nhìn mà truyền mệnh lệnh tác chiến.


Tóm lại, nghe - nhìn đã có từ lâu trong hoạt động quân sự. Để phục vụ công việc tác chiến, lúc đầu người chỉ huy nghe - nhìn trực tiếp bằng tai, bằng mắt. Chiến địa mở rộng, thời gian tác chiến kéo dài, việc nghe - nhìn của người chỉ huy buộc phải gián tiếp qua người khác như trinh sát, quân báo và xa hơn nữa là qua điệp viên, tình báo. Trong việc nghe - nhìn trên chiến địa còn có sự đóng góp của khoa học - kỹ thuật như ra-đa trên không, trên đất liền, như xô-na trong lòng nước, như kính hồng ngoại để nhìn đêm, như camêra để truyền hình đi xa... và cao hơn, xa hơn nửa là máy bay trinh sát, là vệ tinh nhân tạo thám không... Quả là nghe - nhìn trong hoạt động quân sự không đơn giản.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #11 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2022, 08:43:36 am »

MÂU THUẪN VÀ CAN QUA


Trong sách "Cổ học tinh hoa " có truyện "bán mộc, bán giáo" (mộc dịch từ thuẫn, giáo dịch từ mâu):

"Có người nước Sở làm nghề vừa bán mộc, vừa bán giáo. Ai hỏi mua mộc, anh ta khoe rằng: "Mộc này thật chắc chắn, không gì đâm thủng". Ai hỏi mua giáo, anh ta khoe rằng: "Giáo này thật sắc, gì đâm cũng thủng". Nghe nói, có người hỏi rẳng: "Thế bây giờ lấy giáo của bác đâm vào mộc của bác thì thế nào?". Anh ta không trả lời ra làm sao được"1 (Ôn Như Nguyễn Vân Ngọc - Từ An Trần Lê Nhân, Cổ học tinh hoa, Nxb Trẻ, Long An 1992, tr.28-29).


Từ điển tích này, cặp từ gốc Hán mâu thuẫn, trong tiếng Việt hiện đại, được dùng với nghĩa là "trái ngược nhau, phủ định nhau"2 (Hoàng Phê (chủ biên), Sđd, Hà Nội - Đà Nẵng, 2000, tr.624). Xét về thuật ngữ quân sự cổ, mâu là một loại vũ khí để đâm, để tiến công; thuẫn là một loại phương tiện để đỡ, để phòng ngự nhưng trong giao tiếp ngày nay, cặp từ đó đã đi vào đời sống dân sự theo nghĩa như đã nói. Trong khi đó, cặp từ gốc Hán khác như can qua - can cũng là một loại phương tiện phòng hộ và qua cũng là một loại vũ khí tiến công - lại có nghĩa là "chiến tranh, giết chóc, loạn lạc" . Tại sao như vậy?


Để giải thích hiện tượng này, chúng ta hãy tìm hiểu lịch sử vũ khí lạnh thời cổ đại ở Trung Quốc. Mâu và qua là những vũ khí tiến công, đều được dịch ra tiếng Việt là giáo (hay móc). Bên cạnh đó, giáo trong tiếng Hán còn có bác, kích và thương. Thuẫn và can đều là loại phương tiện phòng hộ, cùng được dịch là mộc (hay khiên), gọi chung là tấm lá chắn. Cây giáo - loại vũ khí cơ bản này của người lính chiến - có một lịch sử rất dài. Chính vì vậy, trong tiếng Hán, nó được biểu hiện ra nhiều dạng tự với những tên gọi khác nhau ở từng giai đoạn cụ thể, tương ứng với từng loại vật liệu chế tạo ra nó. Tiền thân cây giáo là chiếc gậy bằng gỗ, loại vũ khí thông dụng đương thời và cả cho đến tận bây giờ. Dần dần, để nâng cao hiệu qủa sát thương, người ta cắm vào đầu gậy những mẩu đá nhọn, những mảnh xương thú và đến khi kim loại ra đời, người ta đã thay vào đấy những mũi nhọn bằng đồng rồi bằng sắt. Đó chính là chiếc mâu. Đến lúc ấy, chiếc giáo mới hoàn chỉnh, chính thức trở thành vũ khí cơ bản của người lính chiến trong giai đoạn đầu thời đại bạch khí với nét đặc trưng là chỉ dùng mũi nhọn để sát thương qua động tác đâm bằng sức mạnh của hai cánh tay, đẩy nhanh đầu vũ khí về phía trước. Bởi vậy, trong "Hán - Việt từ điển", Đào Duy Anh định nghĩa: mâu là "một thứ binh khí cổ, có cán dài, mũi nhọn". "Từ điển tiếng Việt" của Hoàng Phê (chủ biên) thêm "dùng để đâm". Và khi đầu nhọn chiếc mâu được tạo theo hình con rắn thì người ta gọi là xà mâu. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, người Pháp gọi cây giáo là lance, là pique - nghĩa đen là vật để lao, để phóng, để đâm.


Thuẫn thì ai cũng rõ, còn can ? Đây cũng là loại vũ khí cổ, lúc đầu làm bằng chạc cây. Nó có thể dùng đè cổ người hoặc dã thú. Cách sử dụng can rất linh hoạt, phần thân cây có thể làm vũ khí để đánh, để tiến công như một chiếc gậy nhưng phần chạc cây lại có thể ngăn chặn đòn tiến công của đối phương, nghĩa là để đỡ, để phòng ngự như một tấm mộc. Bởi thế, trong thư tịch cổ, can cũng chỉ thuẫn. Bây giờ chúng ta tìm hiểu đến từ qua. Theo lịch sử, cuối thời Xuân Thu, khoảng thế kỷ V trước công nguyên, Trung Quốc bắt đầu có sắt. Sang đầu thời Chiến Quốc, khoảng thế kỷ IV trước công nguyên, cày sắt, rìu sắt xuất hiện. Rừng rú được khai phá. Sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh. Dân số tăng nhanh. Sau đó, khoảng một trăm năm nữa, vào thế kỷ III trước công nguyên, vũ khí sắt ra đời. Trên cơ sở chất liệu của sắt, người ta có thể sản xuất được loại vũ khí mỏng, sắc, đủ khả năng chém đứt cơ thể đối phương. Từ chiếc mâu, chiếc qua, lâu nay vẫn được chế tạo bằng chất liệu đồng và có tên gọi chung là bác đồng, "Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân" thì giờ đây được chế tạo bằng chất liệu sắt. Chiếc mâu vốn là một loại vũ khí chỉ dùng để đâm thẳng. Để nâng cao hiệu quả sát thương của loại vũ khí này, người ta chuyển phần mũi nhọn kim loại, lâu nay vẫn lắp theo chiều dọc, vào vị trí vuông góc với cán gỗ ngõ hầu có thể đánh ngang và móc. Thế là chiếc qua ra đời. Do cách cấu tạo, loại vũ khí này còn có tên gọi "chiếc kích bằng đầu”. Cũng như mâu, về dạng tự, qua được viết theo phép tượng hình: phía trên là chiếc mũi nhọn để ngang (-), tạo thành cái móc, phía dưới là cán có buộc dây, thắt vào tay người lính khi lâm trận, không sợ mất vũ khí. So với mâu, loại vũ khí mới này hơn hẳn về tính năng tác dụng. Thế nhưng người ta đâu có chịu dừng mà còn cải tiến chiếc qua thành chiếc kích. Trên đại thể, kích cũng được cấu tạo tương tự như qua. Bởi thế, về dạng tự, kích vẫn thuộc bộ qua. Chỉ có điều là nó không "bằng đầu" như qua mà ở đây có một mũi nhọn. Thêm vào đấy, kích còn có hai mũi nhọn chĩa ra hai phía, vì vậy, hiệu quả chiến đấu của nó lớn hơn qua. Nó vừa đánh ngang như lưỡi dao, vừa bổ xuống như lưỡi rìu lại vừa móc, lôi đối phương lại gần để sát thương như chiếc lưỡi câu lớn... Có lẽ vì vậy mà thư tịch cổ Trung Hoa đã miêu tả nhiều về nó. Sách "Ngọc Thiên" viết: "Kích là vũ khí có ba lưỡi mác". Sách "Tả Truyện" cũng viết: "Dùng kích câu nó lại, cắt tay và giết đi".


Đến đây có điều đáng nói là dạng tự của kích. Khi bàn về từ nguyên của nó, Lý Lạc Nghị cho rằng kích "có sức sát thương mạnh nên thêm nhục" - nghĩa là thịt - vào bên trái chữ qua. Thế nhưng ngay sau đó, sang dạng tự khải thư, kích vẫn được ghi như dạng tự truyền thống trên sách báo chữ Hán. Như vậy, bộ phận bên trái hiện nay của từ kích được dùng thay cho bộ phận nhục, như đã nói, của từ đó trong dạng tự kim văn không thể hiện rõ hết tính chất của cây kích, một thứ vũ khí được cải tiến, phát triển trên cơ sở cây qua. Trong trường hợp này, dạng tự của Gustave Hue - một nhà Hán học người Pháp - có lẽ thỏa đáng hơn. Theo tác giả, chữ kích được hình thành theo phép hội ý, bên trái là chứ trác, nghĩa là tuyệt vời, rất xuất sắc, không gì bằng, quá sức tưởng tượng - và bên phải là chữ qua. Cách viết theo dạng tự kiểu này, kích, có nghĩa là trác qua, "chiếc giáo tuyệt vời".


Thế là với tư cách một loại vũ khí mới, đến thế kỉ III trước công nguyên, kích được trang bị rộng rãi và trở thành vũ khí cơ bản nhưng rất lợi hại của người lính lúc bấy giờ. Điều đó đã làm cho sức chiến đấu của bộ binh mạnh thêm. Đồng thời ở Trung Quốc, kị binh cũng ra đời, dựa theo cách cưỡi ngựa của dân du mục phía Bắc. Từ đó, người Hán chuyển chiến thuật bộ binh - chiến xa (dùng ngựa kéo) sang chiến thuật bộ binh - kị binh (dùng ngựa cưỡi). Cũng chính từ thế kỉ này, ở Trung Quốc mới có vài ba nước như Tề, Sở, Tần đủ sức mạnh vũ lực để nghĩ tới việc thâu tóm toàn bộ đất nước vào tay bằng can qua. Và thế là, chiến tranh được đẩy mạnh, được mở rộng với cường độ lớn nhất trong lịch sử của vùng lục địa bao la này, tính đến thời điểm ấy.


Tóm lại, mâu chỉ là một loại vũ khí đâm thẳng, dù chế tạo bằng chất liệu gì nên sức sát thương không cao. Thuẫn chỉ thuần túy là phương tiện phòng hộ. Còn can thì không những là phương tiện phòng hộ mà lại còn có thể dùng làm vũ khí tiến công. Khi qua ra đời, nhất là khi được chế tạo từ chất liệu sắt và được cải tiến thành kích thì hiệu quả sát thương được nâng lên rõ rệt khiến cho sự giết chóc, tàn sát diễn ra một cách ghê rợn. Vì vậy mà từ đấy, can qua được xem như đồng nghĩa với loạn lạc, với chiến tranh.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #12 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2022, 08:44:26 am »

MŨI NHỌN


Hiện nay trên sách báo người ta thường viết: "Tin học, dầu khí, điện lực, giao thông vận tải... là những ngành kinh tế mũi nhọn." Vậy mũi nhọn là gì mà người ta lại dùng từ này để xác định tính chất của các ngành kinh tế trên?


Theo Từ điển tiếng Việt, mũi nhọn là: "Bộ phận lực lượng đi đầu, chiến đấu, đấu tranh mạnh mẽ theo một hướng nhất định. Mũi nhọn tiến công. Chĩa mũi nhọn đấu tranh. Tổ mũi nhọn. Ngành sản xuất mũi nhọn".

Thật ra, sự giải thích này chỉ mới nói được nghĩa phái sinh của mũi nhọn. Phải tách đôi cặp từ, chúng ta mới có thể làm rõ được nghĩa thực của nó.

Mũi: bộ phận có đầu nhọn nhô ra phía trước của một số vật. Mũi tên. Mũi kéo. Nhọn: có phần đầu nhỏ dần lại như hình mũi kim để đâm thủng vật khác. Gai nhọn. Vót chông cho nhọn.

Qua các đoạn văn vừa nêu, chúng ta thấy mũi nhọn đã đi sát được nghĩa ban đầu qua ba ý chính, về hình dáng: bộ phận có phần đầu nhỏ dần lại như hình mũi kim; về vị trí: nhô ra phía trước của một số vật; về công dụng: đâm thủng vật khác.


Như vậy, nghĩa ban đầu đã giúp ta hiểu được mũi nhọn là bộ phận chính của công cụ bạo lực, thường là vũ khí lạnh, như gươm, giáo, lao... để sát thương địch thủ khi giao chiến bằng động tác đâm.

Sách báo Trung Quốc cũng ghi: "Vũ khí lạnh đối lập với vũ khí nóng (vũ khí dùng thuốc nổ) chủ yếu dựa vào mũi nhọn của bản thân mình để sát thương quân địch".

Mũi nhọn, tiếng Hán gọi là phong trong từ giao phong, nghĩa là đối chọi nhau, như giao tranh, giao chiến... Nghĩa đen của từ này là: qua lại với nhau bằng mũi nhọn. Phong bao gồm kim, chỉ kim loại và phong chỉ thanh. Bắt đầu từ phong là mũi nhọn, tiếng Hán có phong đích là mũi dao (vũ khí đánh gần) và mũi tên (vũ khí đánh xa), cũng có nghĩa khái quát là chiến tranh; phong lợi, là vũ khí sắc bén; xung phong, là xông tới bằng mũi nhọn, xung phong thương, là súng tiểu liên: phong mang, là mũi dao, cũng có nghĩa là mũi nhọn đấu tranh.


Như vậy, mũi nhọn, tiếng Hán còn gọi là mang như vừa nêu. Từ này gồm hai phần: mang là đọt nhọn của cỏ cây, là đòng đòng của cây lúa và kim là kim loại. Với nghĩa trên, trong lịch nông nghiệp có từ mang chủng với nghĩa chủng là hạt giống. Mang chủng nghĩa là giống lúa đã có đòng rồi nảy hạt. Người làm ruộng gọi là phơi đòng hay chắc hạt. Từ này thường được ghi vào các ngày 5, 6 hoặc 7 tháng 6 trên tờ lịch mặt trời.


Mũi nhọn, tiếng Hán còn thêm tên gọi nữa là tiêm trong tiêm đao, là dao nhọn, tiêm binh, là đội mũi nhọn. Nó khác với tiêm là tiêu diệt trong tiêm kích cơ, là máy bay tiêm kích, tiêm diệt chiến là đánh tiêu diệt.

Đến đây, một vấn đề được đặt ra là tại sao mũi nhọn lại là bộ phận chủ yếu của vũ khí lạnh?

Như lịch sử quân sự đã ghi lại, kim loại ra đời, xã hội loài người mới có của thừa. Hiện tượng này đã khêu gợi lòng tham, làm nảy sinh ý định chiếm đoạt của những kẻ xấu. Từ đó, xung đột vũ trang rồi chiến tranh ra đời. Để tiến hành chiến tranh, loại công cụ được sử dụng đầu tiên là vũ khí lạnh bằng đông từ dưới thời Tây Chu (độ thế kỷ XI - 771 trước công nguyên) trở đi. Loại chất liệu chế tạo vũ khí lúc ấy tuy cứng, nhất là khi được pha thêm thiếc, nhưng không sắc, chỉ có thể đâm thủng mà không thể chém đứt cơ thể đối phương như kim loại sắt sau đó. Do điều kiện vật chất như vậy, vũ khí lạnh thường được tạo dáng với mũi nhọn ở phía trước để hạ sát đối phương bằng động tác đâm như cây giáo - loại vũ khí cơ bản của người lính bộ binh - được sử dụng tới 2.800 năm trên phạm vi toàn thế giới. Ngay cả đến nửa cuối thế kỷ XVII, khi vũ khí nóng cầm tay được trang bị rộng rãi cho quân đội nhiều nước châu Âu, chiếc lưỡi lê cắm trên đầu súng vẫn góp phần không nhỏ vào việc kết thúc trận đánh bằng mũi nhọn của mình. Thậm chí khi kim loại sắt ra đời, lưỡi kiếm sắc có thể chém đứt cơ thể đối phương nhưng phía trước loại vũ khí này cũng vẫn cứ là một mũi nhọn. Vì có một vị trí to lớn trong thời đại vũ khí lạnh mà người Pháp cho rằng: "Mũi nhọn rất quí giá nên được bảo vệ chu đáo. Khi tuốt kiếm, nó ra sau cùng và khi tra kiếm, nó vào trước nhất".


Sở dĩ mũi nhọn được trở thành bộ phận chủ yếu của vũ khí lạnh để sát thương vì hai nhân tố:

Thứ nhất là do áp suất dồn lên trên diện tích đầu mũi nhọn. Là đại lượng vật lý, áp suất có trị số bằng áp lực trên một đơn vị diện tích. Cùng một áp lực, diện tích càng nhỏ thì áp suất càng lớn. Mũi nhọn là diện tích tiếp xúc thu nhỏ lại thành cực tiểu, chỉ còn một điểm, khiến áp suất trở thành cực đại. Đầu mũi nhọn càng nhỏ bao nhiêu, động tác đâm của người lính khi giao chiến càng thuận lợi bấy nhiêu. Cho nên mài sắc, khiến cho đầu mũi nhọn của vũ khí thu nhỏ lại là việc làm thường xuyên của người lính bộ binh dưới thời đại vũ khí lạnh.

Thứ hai là do sức đẩy, đưa mũi nhọn lao tới đích. Đầu mũi nhọn càng nhỏ, hiệu quả sát thương của vũ khí càng lớn nhưng lại phải có sức người tác động. Thiếu sức người, vũ khí không thể phát huy được tác dụng. Sử dụng vũ khí có mũi nhọn, nhất thiết phải thực hiện động tác đâm. Để thao tác, người lính khom lưng, dùng sức đẩy, dồn hết sức mạnh của toàn thân vào mũi nhọn nên có thể duy trì được quá trình đó trong một thời gian dài, trên một không gian rộng. Trái lại, khi sử dụng các loại vũ khí có trọng lượng lớn như rìu, chùy... thì người lính lại phải thực hiện động tác bổ từ trên xuống hoặc khi sử dụng các loại vũ khí có lưỡi sắc như gươm, dao... thì người lính phải dùng động tác chém, có thể từ trên xuống dưới, có thể phạt ngang... Do tư thế thao tác khó khăn, khổng thuận lợi như ở động tác đâm, nên những động tác này của người lính chỉ diễn ra trong chốc lát, trên một không gian hết sức hạn hẹp với sức lực chỉ riêng của đôi tay và có chăng một phần nào của toàn cơ thể. 


Như đã trình bày, chúng ta, ít nhiều cũng đã thấy được mũi nhọn là bộ phận chủ yếu của vũ khí lạnh - tồn tại ở chiến địa ngót 2.800 nám trên phạm vi toàn thế giới. Cho đến khi hỏa khí cầm tay ra đời, lưỡi lê, với mũi nhọn cắm trên đầu khẩu súng trường - còn tồn tại thêm 300 năm nữa. Chỉ từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), khẩu tiểu liên mới phủ định hoàn toàn khẩu súng trường với chiếc lưỡi lê, cũng là phủ định thế hệ thứ hai của vũ khí lạnh. Nhưng với vai trò thích đáng của mình trong chiến tranh hơn ba thiên niên kỉ, "mũi nhọn” đã đi vào đời sống dân sự một cách nhẹ nhàng và có mặt trên sách, báo cho đến ngày nay với cách hiểu "những ngành kinh tế mũi nhọn" là những ngành kinh tế chủ yếu, ở vị trí hàng đầu.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #13 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2022, 08:45:22 am »

TẤM LÁ CHẮN THỜI CỔ ĐẠI


Tiến công và phòng ngự vốn là hai hình thức tác chiến cơ bản trong toàn bộ lịch sử quân sự loài người. Muốn tiến công, phải dùng vũ khí nhưng để phòng ngự thì phải dùng phương tiện phòng hộ, mà loại hình đầu tiên chính là tấm lá chắn.


Đây là một thứ phương tiện phòng hộ cá nhân thô sơ, giản dị nhất nhưng lại có một lịch sử rất lâu dài và muôn hình muôn vẻ. Bởi thế, đến tận bây giờ, trên đường phố hiện đại ở các nước tư bản, người ta vẫn còn thấy những tấm lá chắn - làm bằng chất liệu com-pô-dít, trong suốt - che chắn cho bộ mặt hung dữ của những tên lính cảnh sát vũ trang, lăm lăm cầm dùi cui, đứng trước các đoàn biểu tình chống đối giới cầm quyền vi phạm lợi ích của nhân dân lao động.


Ngay từ khi các quân đội đầu tiên trên thế giới ra đời, tấm lá chắn đã có mặt trong thành phần trang bị của người lính chiến, ở phương Đông có thể kể đến loại phương tiện này trong quân đội các nhà nước "Ngũ bá” thời Xuân Thu và các nhà nước "Thất hùng" thời Chiến Quốc. Tiếc rằng những tư liệu ghi chép về chúng ở vùng này còn lại không nhiều. Phải chăng sách vở bị thất truyền hay các nhà sử học quân sự đương thời cho rằng vũ khí mới là quan trọng còn phương tiện phòng hộ chỉ là thứ yếu? Trái lại, tấm lá chắn ở trong các quân đội vùng Lưỡng Hà, vùng lưu vực sông Nin và vùng Bắc Địa Trung Hải, được mô tả đầy đủ hơn. Thực ra, trong hành động chiến đấu cá nhân người lính, tiến công cũng như phòng ngự đều phải được "đối xử bình đẳng" như nhau. Nếu sát thương địch mà không biết tích cực bảo vệ mình, "ngộ nhỡ ra" thì làm sao người lính có thể tiếp tục hoàn thành được nhiệm vụ. Hãy cứ cho rằng thành lũy là phương tiện phòng ngự cho một cộng đồng người, một tập đoàn tác chiến thì tấm lá chắn chính là phương tiện phòng hộ cá nhân cho từng người cầm vũ khí, kể từ khi chiến tranh bắt đầu xuất hiện trên hành tinh của chúng ta.


Dưới thời Xuân Thu - Chiến Quốc, ở Trung Quốc, tấm lá chắn được trang bị cho những người lính chiến đấu trên xe chiến - phần lớn thuộc giai cấp chủ nô - dù phía trước xe đã có hẳn một tấm lá chắn lớn. Còn những binh lính đi bộ phía sau, yểm hộ cho xe chiến, là những đồ binh (nghĩa đen là lính đi bộ, không mang vũ khí) - được bổ sung từ nô lệ - thì trang bị rất sơ sài, thiếu phương tiện phòng hộ, thậm chí tấm lá chắn che thân cũng không có. Những tấm lá chắn trên xe chiến có hình dạng tựa như chiếc mu rùa, làm bằng gỗ, có khi là cả một tấm ván dày, lại có khi được ghép từ nhiều thanh gỗ cứng.


Nếu như ở phương Đông, tấm lá chắn chỉ là một chiến cụ sơ sài đơn giản thì trái lại, ở phương Tây nó lại được thiết kế khá kĩ càng, và được sử dụng một cách "bài bản" hơn. Trước hết là về hình dáng và chất liệu. Trong quân đội Ai Cập cổ đại, tấm lá chắn chỉ làm bằng gỗ nhưng trong quân đội Át-xi-ri, tấm lá chắn có hình dáng gọn ghẽ hơn - thường là hình mu rùa hoặc hình lá nho - và được chế tạo tốt hơn. Không những làm bằng gỗ mà bên ngoài, tấm lá chắn còn được bọc da thuộc hoặc dạ thô. Trong quân đội Ba Tư, tấm lá chắn không còn bằng chất liệu gỗ nữa mà phần lớn được đan kết bằng những vòng sắt. Trong quân đội Hi Lạp - một quân đội dựa trên cơ sở chế độ chiếm hữu nô lệ - tất cả những người đàn ông tự do làm nghĩa vụ quân sự được tổ chức thành bộ binh nặng. Ban đầu, toàn bộ các lực lượng vũ trang đều chỉ là loại bộ binh này. Về sau, khi bộ binh được bổ sung thêm bộ binh nhẹ và kị binh thì bộ binh nặng trở thành nòng cốt, một binh chủng quyết định kết cục của trận đánh. Bên cạnh tấm lá chắn lớn, bằng gỗ bọc da, đủ che kín người, bộ binh nặng còn được trang bị giáp che ngực - phương Đông gọi là hộ tâm phiến và chỉ những người chỉ huy mới có. Thế nhưng rồi do mối đe dọa khủng khiếp về cuộc xâm lăng của quân Ba Tư, tình hình đã đòi hỏi phải tăng thêm một số người làm nghĩa vụ quân sự. Trong danh sách những người đàn ông tự do, bây giờ đã phải ghi thêm cả những người đàn ông thuộc giai cấp nghèo khổ nhất trong dân cư. Những người này được tổ chức thành bộ binh nhẹ. Loại bộ binh này hoàn toàn không có phương tiện phòng hộ và có chăng thì cũng chỉ độc một tấm lá chắn nhỏ. Còn trong quân đội Xpác-tơ, tấm lá chắn của người lính lại có dây quàng vào cổ hoặc buộc chặt vào cánh tay trái để hai bàn tay có thể sử dụng vũ khí được dễ dàng. Người dân ở đây rất xem trọng tấm lá chắn trong chiến trận. Họ coi người lính sau khi bị thất bại mà đánh mất tấm lá chắn là một điều hết sức sỉ nhục. Việc giữ gìn được loại phương tiện phòng hộ này là một bằng chứng để nói lên rằng cuộc rút lui đã diễn ra hoàn toàn có trật tự. Toàn chấp kích đội đã trở thành một khối. Còn như những tên lính chạy lẻ, mong trốn thoát lấy thân thì tất nhiên phải tìm cách vứt tấm lá chắn nặng nề đi cho nhẹ mình, vì thế, bằng mọi giá, người lính phải giữ cho được thứ phương tiện phòng hộ này. Trong quân đội La Mã, tấm lá chắn bằng gỗ lại được tạo dáng theo hình cong cong, dài khoảng 4 phút (1, 2m), rộng khoảng 2 phút rưỡi (0,75m), bọc da, có đóng đinh sắt. Ở chính giữa có gờ nổi lên để gạt những mũi nhọn của vũ khí lạnh từ phía đối phương xốc tới.


Đến đây, có điều cần nói là khi sự chiếm đóng của A-ten được mở rộng, những đơn vị bộ binh nhẹ đã có thêm lực lượng bổ sung, thậm chí còn có cả lính đánh thuê. Từ đó - nhất là từ khi mà tính cơ động hầu như bắt đầu được xem là một thành phần đáng kể trong chiến thuật - người ta đã xây dựng thêm một loại binh chủng trung gian giữa bộ binh nhẹ và bộ binh nặng, vì thế, cách sử dụng tấm lá chắn đã không còn đơn giản như trước nữa. Cho đến thời điểm ấy, trong đội hình chiến đấu của quân đội Hi Lạp, bộ binh nhẹ thường đứng sau bộ binh nặng. Và như trên đã nói, phương tiện phòng hộ của họ hầu như không có gì ngoài tấm lá chắn nhỏ - tiếng Hi Lạp gọi là pen-ta - nên họ có tên gọi là những pen-tát. Thế nhưng thực tế chiến trận của hội chiến Ma-ra-tông (-490) và đặc biệt là hội chiến Lớt (-371), vai trò chủ đạo của bộ binh nặng hầu như đã bị giảm sút - vì khó cơ động - nên các thủ lĩnh quân sự Hi Lạp đã "nâng cấp" trình độ tác chiến của bộ binh nhẹ lên một bước mới bằng cách trang bị cho họ những chiến cụ nhẹ như thay thế tấm lá chắn nhỏ kiểu cũ bằng tấm lá chắn lớn cùng thanh kiếm sắc nhọn và huấn luyện cho họ về sự vận động của đội hình với những nhịp bước nhanh mà trước đó ngay cả bộ binh nặng cũng không thể nào làm nổi. Điều đó khiến cho loại binh chủng này phát huy được hết tính tích cực của mình. Bởi thế, bộ binh nhẹ của A-ten đã được dư luận đánh giá cao về tinh thần tháo vát và sự mau lẹ trong khi hạ quyết tâm chiến đấu cũng như khi thực hiện những quyết tâm ấy. Với những trang bị mới, bộ binh nhẹ đã đủ khả năng chiến đấu theo đội hình tuyến dài và khi cần thiết có thể tiến công hoặc phòng thủ các vị trí đã đánh chiếm được. Thậm chí, bộ binh nhẹ còn có thể lợi dụng địa hình mấp mô, lồi lõm để đánh bại ngay cả các chấp kích đội của Xpác-tơ cũng như các cỗ xe chiến, loại chiến cụ giữ vị trí then chốt trên chiến địa ở thời điểm ấy. Đặc biệt khi xung phong, đội hình chiến đấu khối dọc của bộ binh nhẹ còn được tổ chức thành những hàng phía ngoài, giơ tấm lá chắn ra phía trước và những hàng phía trong thì nâng cao tấm lá chắn lên che kín đầu. Tất cả tạo nên một mái che ngăn cản những mũi tên hay những viên đạn đá của quân địch.


Sự cải tiến bộ binh nhẹ lại được phát triển thêm sau khi A-lếch-xăng-đrơ Ma-xê-đoan trở thành thống soái quân sự Hi Lạp. Loại binh chủng này được xuất hiện dưới một hình thức mới, hoàn thiện hơn. Tuy chỉ là những đội quân vác tấm lá chắn trên dọc trận tuyến đối phương, bộ binh nhẹ vẫn có đủ khả năng thực hành những sự vận động theo qui tắc trong đội hình của chấp kích đội và đóng vai trò một loại bộ binh trung gian, có thể ít nhiều thích ứng với những hoạt động trong đội hình dày đặc cũng như trong đội hình phân tán để khuếch trương chiến quả đã giành được trong quá trình tác chiến. Ở thời điểm ấy, trong trường hợp giao chiến với một đội quân mạnh, người ta không tổ chức bộ binh cơ động vì bộ binh nặng không đủ khả năng đảm nhiệm. Và để làm công việc đó, A-lếch-xăng-đrơ Ma-xê-đoan đã tổ chức ra đội kị binh của mình. Bởi vậy, cánh quân làm nhiệm vụ tiến công là kị binh nặng. Cùng phối hợp chiến đấu với kị binh là các đội quân vác tấm lá chắn. Những đội quân này tiến sau kị binh và lao vào những lỗ hổng mà kị binh đã đột phá, củng cố thắng lợi đã đạt được ở các vị trí mà quân địch vừa rút chạy. Do đó, sau khi đã đánh chiếm được phần trung tâm của vương quốc Ba Tư, A-lếch-xăng-đrơ Ma-xê-đoan đã sử dụng bộ binh nặng chủ yếu để làm nhiệm vụ đóng giữ những thành phố đã chiếm được. Nhưng rồi loại bộ binh chậm chạp này cũng đá nhanh chóng biến khỏi đạo quân đầy những cuộc hành quân dũng cảm và thần tốc của vị thống soái quân sự Hi Lạp kiệt xuất dưới thời cổ đại. Để rồi khi tiến sang phía đông, đạo quân viễn chinh của A-lếch-xăng-đrơ Ma-xê-đoan chỉ bao gồm các binh chủng chủ yếu: kị binh, bộ binh nhẹ, những người lính vác tấm lá chắn.


Cùng với vũ khí, dưới thời Hùng Vương, người Việt Nam cũng đã biết sử dụng tấm lá chắn trong chiến đấu. Ngày nay, chúng ta biết đến sự tồn tại của loại phương tiện phòng hộ này chủ yếu là nhờ những hình khắc trên trống, thạp đồng Đông Sơn. Trên hầu hết những chiếc trống đồng có niên đại sớm được trang trí hoa văn tả thực như Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Sông Đà, Miếu Môn... đều tìm thấy những chiến binh cầm lá chắn trong tay. Họ được khắc họa đông đảo nhất ở phần lưng trống. Lưng trống Ngọc Lũ chia thành sáu ô chữ nhật, trong mỗi ô có hai người đều tay cầm rìu chiến, tay cầm lá chắn. Lưng trống Hoàng Hạ cũng chia sáu ô, mỗi ô có hai người cầm rìu chiến và lá chắn tương tự lưng trống Ngọc Lũ. Trống Miếu Môn II, ở lưng có tám ô, trong đó có năm ô, mỗi ô có một người cầm rìu chiến và lá chắn, một ô có người một tay cầm lá chắn, một tay xòe múa.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #14 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2022, 08:46:00 am »

Trên những thuyền chiến khác trên tang trống, cũng có một số người cầm lá chắn, ở trống Hoàng Hạ, người ngồi ở mũi thuyền cầm lá chắn, tay kia cầm rìu chiến hoặc cầm giáo. Trên thuyền ở tang trống bản Thôm cũng có người cầm lá chắn. Nhưng có lẽ chiến binh được trang bị lá chắn đứng trên thuyền được khắc họa rõ ràng hơn cả là trên thạp Đào Thịnh.


Những tấm lá chắn trong tay các chiến binh đứng trong các ô chữ nhật ở phần lưng các trống đồng, cơ bản có hình dáng giống nhau. Chúng được thể hiện thành những hình chữ nhật đứng và cạnh ngoài có hai vạch thẳng song song, trên mặt là những đoạn vạch ngang song song, phủ gần hết chiều dài. Đầu trên có tua kéo dài, có chiếc có cả mào nhô lên, đầu dưới hơi vát xiên, khắc hình hồi văn. Những tấm lá chắn này bao giờ cũng có chiều dài hơn hẳn chiều cao thân người. Vị trí tay cầm ở thấp, gần phía đầu dưới.


Những tấm lá chắn trên tay chiến binh ở thuyền chiến trên thạp Đào Thịnh được thể hiện khác hẳn như trên các trống đồng. Chúng gồm hai phần: phần dưới - thân lá chắn - hình chữ nhật dài, nửa đầu thu nhỏ, chiều dài bằng khoảng chiều cao thân người; phần trên có hình giống như chiếc lông chim hay bông lau cắm vào phần thân dưới, kéo dài vút lên cao, chiều dài gấp rưỡi, gấp đôi chiều dài phần dưới. Đây là bộ phận trang trí của tấm lá chắn, tương tự như vật trang trí trên đầu người chiến binh.


Điều dễ nhận biết là tính ổn định, nhất quán trong cách sử dụng lá chắn. Tấm lá chắn gần như lúc nào cũng đi kèm với rìu chiến. Trường hợp sử dụng cùng với giáo, lao là rất hiếm và cũng không thật phổ biến. Tấm lá chắn bao giờ cũng được cầm trong tay trái người chiến binh và bao giờ cũng ở vị trí trước mặt. Cách cầm như vậy là hoàn toàn thích hợp với chức năng của phương tiện phòng hộ này. Trong một vài trường hợp, như trên lưng trống Sông Đà, không thấy chiến binh cầm rìu chiến hay cầm một thứ vũ khí nào khác nhưng tay trái thì vẫn giơ tấm lá chắn ra phía trước và tay phải vẫn ở vị trí phía sau, xòe ra như múa hay cầm một vật hình đầu chim. Ngược lại ở một số trường hợp khác lại chỉ thấy chiến binh cầm rìu chiến mà lại không thấy lá chắn đi cùng. Dù sao những sự thiếu đồng bộ này cũng không phổ biến, chỉ là những ngoại lệ.


Quan sát kĩ những hoa văn trên tang và lưng trống đồng, chúng ta thấy không khí chiến đấu rất rõ rệt. Những tấm lá chắn xuất hiện chính trong khung cảnh sẵn sàng chiến đấu này khẳng định rõ vai trò của chúng là một loại chiến cụ phổ biến và quan trọng trong tay các chiến binh Đông Sơn.


Loại lá chắn này được chế tạo từ chất liệu gì, hầu như đến bây giờ chưa có một câu trả lời nào chính xác. Một bằng chứng duy nhất tuy còn đầy hoài nghi là tấm lá chân được tìm thấy trong ngôi mộ thuyền của một thủ lĩnh người Lạc Việt ở Việt Khê (Hải Phòng).


Đây là một mảnh da hình chữ nhật không còn nguyên vẹn. Kích thước khoảng 90 X 40 cm. Bề mặt tấm da được sơn hai lớp màu đen, trang trí bốn cặp hoa văn vòng tròn đồng tâm, vẽ bằng sơn màu đỏ gạch và xám. Đường kính vòng ngoài cùng là 19cm. Mảnh da có hình hơi cong, khum theo hình mu rùa, kích thước tương đối lớn, khá thích hợp trong việc dùng làm lá chắn. Các nhà nghiên cứu còn chú ý đến hiện tượng khá trùng hợp giữa tấm lá chắn bằng da ở Việt Khê và hình khắc trên thạp Đào Thịnh. Trên thạp, người ta thấy hình một tấm lá chắn chữ nhật, trên mặt trang trí ba vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến, phần nào gần gũi với hoa văn trên tấm lá chắn Việt Khê, như vừa nêu. Sự trùng hợp này cho chúng ta khẳng định rõ chức năng của tấm da Việt Khê.


Cũng như phần lớn tấm lá chắn thời cổ đại trên phạm vi toàn thế giới, lá chắn thời Hùng Vương thường bằng gỗ - nên sau này có tên gọi là mộc. Đây là những vật liệu sẵn có và dễ chế tạo.

Tấm lá chắn còn được người Việt Nam gọi là khiên. Trong khi đó, người Pháp gọi chung tấm lá chắn là bouclier. Loại phương tiện này - như vừa nêu - đan bàng mây! Giống như mộc, khiên có thể là một từ Hán, có nghĩa là vai - như khiên chương, cấp hiệu trên vai (épaulette) và đã được Việt hóa. Ai cũng hiểu, tấm lá chắn nhất thiết phải làm bằng chất liệu rắn chắc, nặng trĩu mới có thể chống đỡ được những cú đòn mạnh mẽ của địch thủ, nên dù sức vóc cao lớn của người lính Hi Lạp, họ vẫn phải dùng dây quàng lên cổ hoặc phải buộc chặt vào cánh tay. Ở người lính La Mã cũng vậy. Tấm giáp che ngực, to chừng 3 dm2 được buộc vào áo giáp bằng dây quàng qua vai khi xung trận. Bởi vậy, với sức vóc nhỏ bé như người lính của chúng ta thì việc "khoác lên vai” để chiến đấu cũng là lẽ đương nhiên. Như thế đó, "mộc" xuất phát từ "gỗ" còn "khiên" xuất phát từ "vai", một đàng gọi tên theo chất liệu chế tạo và một đàng gọi tên theo phương pháp sử dụng. Từ "khiên" (vai), tiếng Việt (chữ Nôm) có một biến âm sang từ "khiêng" - nghĩa là dùng vai của hai hoặc nhiều người qua những chiếc đòn để di chuyển đồ vật nặng - trong thành phần cấu tạo từ này có từ "khiên".


Chuyện về tấm lá chắn còn khá dài, đây mới chỉ là "khúc nhạc dạo đầu" về những phương tiện phòng hộ cá nhân của người lính chiến. Tiếp theo tấm lá chắn còn có các phương tiện phòng hộ che ngực (hộ tâm phiến), che đầu (trụ), che toàn thân (giáp)... giúp bạn đọc hiểu thêm nhiều điều thú vị.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #15 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2022, 08:47:20 am »

TỪ HỘ TÂM PHIẾN ĐẾN GIÁP TRỤ


Nếu như tấm lá chắn là loại phương tiện phòng hộ cá nhân một cách tự phát của người lính ở thời đại vũ khí lạnh thì hộ tâm phiến và giáp trụ lại là loại phương tiện có tính toán khá kĩ lưỡng.

Đúng như tên gọi, những tấm mộc, tấm khiên bằng gỗ, dưới sự điều khiển của vai và cánh tay người lính thường chỉ đủ sức che chắn được đòn tiến công của đối phương ở từng phía trên chiến địa. Qua thực tế chiến đấu, loại phương tiện này ngày càng lộ rõ những nhược điểm, không thể nào khắc phục được. Ví như khi những mũi giáo, mũi tên lao tới, người lính chỉ có thể vươn mình ra, chống đỡ về một phía nhất định mà trên chiến địa, đòn tiến công lại luôn luôn đến từ nhiều phía. Không những thế, từ tấm lá chắn đến mình người lính - dù chỉ là gang tấc - vẫn có một khoảng cách. Đó chính là chỗ rất sơ hở, vũ khí đối phương có thể lách vào để gây hại.


Ai cũng biết rằng cơ thể con người chia làm ba phần thì trong giao tranh, đầu và chân tay là những mục tiêu sát thương có diện tích nhỏ, lại luôn cử động. Trái lại, mình là mục tiêu có diện tích lớn hơn và "chậm chạp” hơn. Do đó, khi ”mặt đối mặt" mình - nhất là ngực - thường xuyên có nguy cơ "ăn đòn”. Bởi vì ngực vốn là nơi hiểm yếu nhất của cơ thể. Với lí do đó, hộ tâm phiến - tấm lá chắn bảo vệ lồng ngực - đã ra đời. So với tấm lá chắn - phương tiện phòng hộ từ xa - thì hộ tâm phiến là một bước phát triển mới, đưa phương tiện phòng hộ đến gần, sát mình người lính - triệt tiêu khoảng cách sát thương - dù đó cũng mới chỉ là tấm lá chắn đơn giản, đủ sức che riêng cho một bộ phận phía trước trên mình. Tuy vậy, so với các phương tiện phòng hộ khác, hộ tâm phiến cũng đã tồn tại tới mấy ngàn năm. Trong các di chỉ thời đại Hùng Vương, bên cạnh giáo, lao, dao găm, rìu chiến, mũi tên đồng, người ta đã thấy xuất hiện loại phương tiện phòng hộ này.


Đó là những hộ tâm phiến được phát hiện lần đầu tiên trong bộ vũ khí giai đoạn Hùng Vương - An Dương Vương vào thời kì văn hóa Đông Sơn. Tuy không phổ biến bằng các loại vũ khí như giáo, lao, tên, rìu chiến nhưng cũng không đến nỗi quá hiếm. Theo số liệu chưa đầy đủ, hiện nay đã tìm thấy ba mươi chiếc, phân bố ở lưu vực sông Hồng và sông Mã. Còn ở lựu vực sông Lam, chưa tìm thấy tiêu bản nào.


Căn cứ vào hình dáng, các hộ tâm phiến Đông Sơn, phần lớn được chia thành hai loại: loại hình chữ nhật và loại hình vuông. Số còn lại không rõ hình dáng.

Hộ tâm phiến hình chữ nhật, gồm năm chiếc, có hình dáng và hoa văn trang trí về cơ bản giống nhau, đều là những tấm đồng hình chữ nhật, dày khoảng 0,1cm, phần lớn phẳng, chỉ thấy một chiếc cong. Bốn quai được gắn đối xứng với nhau ở bốn vị trí tương tự: cách rìa cạnh ngang và rìa cạnh dọc gần nhất, khoảng một phần tư chiều dài và chiều rộng tấm đồng. Quai có hình bán nguyệt, nổi khum hình mũi thuyền. Kích thước trung bình của hộ tâm phiến hình chữ nhật có chiều dài là 31,1cm, rộng 13,3cm, dày 0,1cm. Mặt hộ tâm phiến phía trong để trơn, phẳng, mặt phía ngoài thường trang trí hoa văn mang phong cách Đông Sơn.


Trong một số địa điểm Đông Sơn như xóm Gấm, Kim Đường (Hà Tây) còn tìm thấy loại hộ tâm phiến bằng gỗ, chiều dài 30cm, rộng 15 - 20cm, dày 0,9 - 1,5cm.

Hộ tâm phiến hình vuông, gồm 22 chiếc, không những khác loại trên về hình dáng mà còn khác ở bộ phận buộc dây, không có quai đeo, chỉ đơn giản là xuyên lỗ để buộc dây. Hoa văn trang trí trên các hộ tâm phiến loại này cũng khác mặc dù vẫn là những hoa văn Đông Sơn. Đặc điểm chung của loại hộ tâm phiến này là hình vuông, mỗi cạnh dài khoảng 13-15cm, dày 0,1cm. Bốn góc có bốn lỗ hay bốn cặp lỗ buộc dây. Lỗ hình tròn, nhỏ, đường kính 0,3cm. Mặt phía trong để trơn, mặt phía ngoài trang trí hoa văn. Hoa văn chủ đạo trên chiếc nào cũng là hoa văn hình chữ X bố trí ở chính giữa mặt phía ngoài. Những hoa văn chung quanh có thể khác nhau, có khi là những vành hoa văn hình học hay động vật lần lượt bao quanh chữ X, có khi là những nhóm bố trí rời thành từng mảnh đối xứng nhau.


Những hộ tâm phiến hình vuông còn gần nguyên vẹn đã sưu tầm được ở Ninh Bình, phát hiện được trong mộ Đông Sơn ở Đại Trạch (Bắc Ninh), Mả Mè (Thanh Hóa)...

Trên các hộ tâm phiến này, đề tài được trang trí khá nhất quán. Đó là những hoa văn thể hiện những cặp cá sấu - những con vật sống dưới nước, có sức mạnh đặc biệt. Đó còn là những hình người chèo thuyền - thể hiện lối sống gắn bó với sông nước của chủ nhân những hộ tâm phiến này. Phải chăng những con cá sấu được các chiến binh Đông Sơn lấy làm biểu tượng cho sức mạnh và là con vật hộ mệnh thiêng liêng của mình!


Trước kia từng có những ý kiến cho rằng những tấm đồng mỏng này được dùng để đính trên váy áo phụ nữ với ý nghĩa thuần túy là trang trí. Nhưng dần dần, với những tài liệu mới phát hiện, các nhà nghiên cứu đã khẳng định rõ vai trò của phương tiện phòng hộ này. Đó là những hộ tâm phiến. Những hộ tâm phiến được tìm thấy trong các ngôi mộ Đông Sơn ở Thiệu Dương, Lật Phương... có kích thước lớn, có chiếc hơi cong khum, chứng tỏ chúng là những tấm che ngực thì phù hợp hơn là đồ trang sức trên quần áo. Ví như với kích thước 30 x 13cm, hộ tâm phiến Thiệu Dương rõ ràng là một vật chắn bảo vệ hữu hiệu cho cả phần ngực của người chiến binh trước sức tiến công của những mũi giáo, lao và mũi tên của đối phương. Đương nhiên, không phải là tất cả mọi chiến binh đều được trang bị phương tiện phòng hộ này. Với số lượng ít lại được chế tạo cùng hoa văn trang trí đẹp đẽ, hộ tâm phiến hẳn được dành riêng cho những người chỉ huy, những thủ lĩnh quân sự. Đó cũng là tình trạng phổ biến về trang bị vũ khí của các lực lượng vũ trang dưới thời cổ đại.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #16 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2022, 08:48:12 am »

Lịch sử đi lên, sức sản xuất phát triển, qui mô tiến hành chiến tranh ngày càng mở rộng. Hành động tác chiến tiến công không chỉ ở phía chính diện mà còn thêm cả ở phía cạnh sườn và phía sau lưng, vì vậy, phương tiện phòng hộ cũng không phải chỉ là che chân trước ngực nữa mà còn phải là cho cả bốn phía thân mình người lính chiến. Từ đó, tấm áo giáp hình thành, thay thế cho hộ tâm phiến. Cùng với chiếc áo giáp che mình là chiếc mũ che đầu - tiếng Hán gọi là "trụ" - tạo thành bộ giáp trụ hoàn chỉnh. Giữa áo giáp che mình và mũ trụ che đầu còn có thêm loại áo giáp vai dùng để che gáy, cổ và bả vai. Nó có hình dạng như một tấm mạng nối liền phía sau mũ trụ và rủ xuống hai vai. Như vậy là bên cạnh gươm giáo, cung tên, phương tiện phòng hộ cá nhân người lính dưới thời bạch khí là tấm lá chắn và bộ giáp trụ. Với tư cách là phương tiện phòng hộ, giáp trụ được sử dụng suốt các thời cổ đại và trung đại, khoảng hai ngàn năm. Mãi cho tới khi hỏa khí cầm tay được dùng phổ biến trong chiến tranh thì áo giáp mới giảm dần tác dụng. Vì ngày nay, đó đây trên thế giới, trong các cuộc xung đột nhỏ như giữa nghĩa quân sử dụng vũ khí thô sơ với quân đội tới đàn áp, giữa quần chúng biểu tình sử dụng gạch đá, gậy gộc với cảnh sát vũ trang, áo giáp vẫn đóng vai trò nhất định. Thường thường, trên chiến địa, tấm lá chắn được trang bị cho người lính còn giáp trụ được trang bị cho người chỉ huy. Thế nhưng những người lính làm nhiệm vụ đặc biệt như thân binh, vệ sĩ (bảo vệ các chủ soái, các thủ lĩnh, các hoàng đế...), cấm binh (bảo vệ hoàng thành, cung điện nhà vua...) cũng có khi được trang bị giáp trụ.


Là phương tiện phòng hộ, lúc đầu chất liệu chế tạo áo giáp thường là gỗ, như tấm lá chắn trước đó. Khi kim loại - đồng, sắt - xuất hiện, áo giáp lại được chế tạo theo chất liệu mới bằng hai phương pháp khác nhau: một là dùng vòng tròn kết nối thành mạng, hai là dùng từng mảnh lắp ghép thành tấm. Nhược điểm chung của các loại áo giáp trên là nặng, cho nên - theo Lễ kí - khi người tướng đã mặc giáp trụ, chuẩn bị ra trận thì không phải quì lạy, cáo biệt nhà vua.


Sử dụng chất liệu làm áo giáp, dù có hay không có ý thức, các nhà quân sự đều quan tâm thích đáng đến mối quan hệ của nó với hai thành phần chiến thuật dưới thời vũ khí lạnh là cơ động và đột kích. Hai thành phần này luôn luôn là sự tương khác và tương hợp trong tính năng, tác dụng của giáp trụ. Nếu tính đến độ bền, khi mà khoa học - kỹ thuật chưa phát triển thì chất liệu trong thiên nhiên không gì bền bằng gỗ và kim loại, bởi vì nó cứng, đủ sức chống lại mũi nhọn của gươm giáo đánh gần và của cung tên đánh xa. Tính chất đó giúp cho người lính có thể bảo vệ được mình khi đột kích thế nhưng lại nặng. Sức mang vác của người lính chiến không kham nổi, nhất là khi cơ động. Sức chở trên ngựa chiến kị binh tuy có lớn hơn thì cũng chỉ có hạn. Đó là tính tương khắc giữa đột kích và cơ động trong chiếc áo giáp bằng chất liệu gỗ và kim loại. Vấn đề này được đặt ra, buộc các nhà quân sự phải giải quyết, nghĩa là phải tìm đến một chất liệu mới, chế tạo áo giáp, vừa bảo đảm đủ độ bền để đột kích lại vừa đủ độ nhẹ để cơ động. Đây là việc làm rất khó. Chất liệu áo giáp nếu muốn bền, phòng hộ được tốt thì phải cứng, mà đã cứng thì lại nặng. Còn như muốn nhẹ thì thường là mềm trong điều kiện chất liệu đương thời. Mà đã mềm lại không bền, không đủ khả năng phòng hộ. Chất liệu áo giáp muốn bền mà lại nhẹ, có thể chế tạo được áo giáp, đủ sức chống đỡ các đòn đánh của vũ khí lạnh thì phải có độ dai nhất định. Đây là một vấn đề nan giải đối với điều kiện khoa học - kĩ thuật đương thời.


Trong lĩnh vực này, các nhà quân sự phương Đông đã đi trước các nhà quân sự phương Tây. Thật vậy. Theo lịch sử quân sự thế giới, người Tác-ta, vốn là dân du mục, sinh sống ở vùng đông - bắc châu Âu - thường được gọi là "Tác-ta trắng", tổ tiên người Nga - và vùng tây - bắc châu Á - thường được gọi là "Tác-ta đen", tổ tiên người Mông Cổ - đã biết lấy da thú thuộc, quét sơn, tạo nên độ cứng, độ bền nhưng lại nhẹ hơn hẳn gỗ và kim loại để làm áo giáp.


Không những biết dùng da thuộc mà người Mông Cổ còn biết tìm tòi ra một chất liệu mới nữa là tơ nhện. Theo người dân nước này kể lại, từ thế kỉ XIII, các chiến binh kị sĩ của Thành-cát-tư Hãn, khi lâm trận thường xuyên mang ở phía trước ngực chiếc áo giáp bằng da có bọc một loại tơ nhện, cản được những mũi tên nhọn từ xa bắn tới. Trong khi đó, trừ kị binh Nga, còn tất cả mọi kị binh châu Âu đều mang giáp trụ kim loại. Mỗi giáp trụ, cả người lẫn ngựa, nặng tới 300 kg. Cách trang bị này đã khiến cho kị binh phương Tây nặng nề, chậm chạp hơn kị binh phương Đông. Sự so sánh này giúp chúng ta hiểu được rằng ở kị binh phương Đông - nhất là kị binh Mông Cổ - giữa cơ động và đột kích đã có tính tương hợp cao trong chiếc áo giáp nên thường xuyên tạo được ưu thế so với kị binh phương Tây khi lâm trận. Vì thế, ngày 9-4-1241, tại hội chiến Van-stát, gần thành phố Lích-nít, thuộc vùng Xi-lê-di (Ba Lan), kị binh Mông Cổ đã nhanh chóng đánh tan 3 vạn kị binh tinh nhuệ của liên quân Ba Lan - Đức.


Dùng da thú làm áo giáp vốn là truyền thống xa xưa của dân du mục phương Đông. Cách làm đó du nhập vào Trung Nguyên rồi lan dần đến Việt Nam. Lấy da thú làm áo giáp ở nước ta chắc cũng hình thành đã lâu nên từ trong lĩnh vực quân sự, hiện tượng này mới đi vào văn thơ một cách thật nhuần nhuyễn. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết "Gặp cơn binh cách nhiều nàn cũng thương". Binh cách là từ Việt gốc Hán với nghĩa: binh là vũ khí và cách là da thuộc, dùng làm áo giáp, làm lá chắn.


Ngày nay, tác dụng của áo giáp không còn mạnh mẽ như dưới thời vũ khí lạnh. Thế nhưng có một số trường hợp trong đấu tranh vũ trang, người ta vẫn sử dụng đến nó nhưng quan tâm nhiều hơn về chất liệu chế tác là dai và nhẹ.


Như đã trình bày, từ thế kỉ XIII, người Mông Cổ đã biết sử dụng tơ nhện, một loại chất liệu sẵn có trong thiên nhiên, đáp ứng được hai tính chất vừa nêu trên. Nghiên cứu theo hướng này qua nhiều năm, nhà sinh vật học Mark Lacey cùng các bạn đồng nghiệp tại công ty Agricola, đã cho biết: "Tơ nhện có tính đàn hồi rất đặc biệt, nếu được tổng hợp, chế biến, có thể thay cho sợi kevlar, dùng vào công nghệ chế tạo áo giáp chống đạn". Sợi kevlar là loai sợi hóa học bền chắc nhất hiện nay. Với đường kính 1mm, nó có thể treo được một vật nặng tới 200 kg.


Tháng 6 năm 1997, các nhà khoa học của công ti trên phối hợp với một số chuyên gia thuộc Cục Nghiên cứu khoa học quân đội Mĩ đã thành công trong việc can thiệp vào "gien" của giống nhện vàng có tên là Nephila Clavipes, khiến chúng nhả ra một loại tơ rất chắc. Người ta xe những sợi tơ này thành một sợi dây dù và đem so với loại dây dù hóa học hiện đang dùng thì thấy rằng sợi dây tơ nhện chắc hơn nhiều. Được đan lại, chúng có thể đỡ được cả tầm đạn súng lục bắn gần và thậm chí còn có thể làm lưới chắn trên các tàu sân bay để chặn đà máy bay khi hạ cánh, vừa chắc chắn, vừa mềm mại, không làm hỏng máy bay nếu bị va chạm mạnh. Loại lưới thép đang dùng hiện nay so ra thi không bằng tơ nhện.


Một nhóm chuyên gia quân sự Mĩ còn cho rằng áo chống đạn dệt bằng tơ nhện sẽ nhẹ và mềm mại hơn loại áo giáp đang dùng hiện nay trong quân đội Mĩ. Một quan chức thuộc Bộ Quốc phòng Mĩ cũng cho biết thêm là năm 1997, tại nước này đã có kế hoạch trộn tơ nhện với sợi kevlar để chế tạo áo giáp chống đạn dùng đại trà cho bộ binh Mĩ trong thời gian tới1 (Theo Washington Post, 8-1997).


Bên cạnh đó, người ta còn nghĩ đến một loại chất liệu tương tự là tơ tằm. Đầu năm 1999, cánh sát Thái Lan vừa sản xuất thử nghiệm một loại áo giáp chống đạn bằng tơ tằm. Áo may bằng mười sáu lớp lụa mỏng, có thể chống được đạn 16mm, đủ sức bảo vệ an toàn cho nhân viên cảnh sát trước các loại đạn súng ngắn nòng 22, súng trường hay đạn chì đầu tròn cỡ 38. Giá một áo giáp lụa khoảng 150 đô-la Mỹ, chỉ bằng nửa giá một áo giáp sợi kevlar đang tiêu thụ trên thị trường1 (Theo Tạp chí Thế giới mới, số 344).
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #17 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2022, 08:50:12 am »

ĐƠN THƯƠNG ĐỘC MÃ


"Đơn thương độc mã" là một thành ngữ ngữ bao gồm các từ gốc Hán và có một thành ngữ tương tự: "đơn sang thất mã". Ở thành ngữ sau, từ "độc" được thay bằng từ "thất" (đơn chiếc).

Về nghĩa bóng, các cách giải thích đều thống nhất là "đấu tranh đơn độc, không ai giúp". Nhưng về nghĩa đen lại không giống nhau. "Từ điển tiếng Việt" Hoàng Phê (chủ biên) viết: "Chỉ có một ngọn giáo, một con ngựa”. "Hán - Việt từ điển "của Đào Duy Anh viết: "Một súng với một ngựa", sở dĩ có sự khác nhau đó (giáo và súng) tựu trung là xuất phát từ chữ "thương". Tuy đều là vũ khí cá nhân nhưng chúng được viết dưới ba dạng tự khác nhau. "Thương" là giáo, "thương" là súng cấm tay và "thương" là rìu chiến. Xét về góc độ văn hóa quân sự, trong thành ngữ này "thương" không thể là súng cầm tay mà chỉ có thể là giáo hoặc rìu chiến.


Tại sao vậy? Vì lịch sử quân sự thời trung đại ghi rằng ở châu Âu nói chung, nhất là Tây Âu, điều quyết định đối với nội dung chiến thuật là vai trò bộ binh đã bị suy giảm nhiều, kị binh hiệp sĩ chiếm địa vị thống trị trên chiến địa. Trận giao tranh về cơ bản chỉ còn là các cuộc đọ sức giữa các hiệp sĩ. Kị binh hiệp sĩ xếp thành một hàng ngang, người này cách người kia chừng năm, sáu bước chân. Đó là cách dàn trận theo kiểu "hàng rào chắn". Phía sau từng hiệp sĩ là các kị sĩ, các người cầm vũ khí và các người hầu. Trận đấu diễn ra quyết liệt giữa từng cặp hiệp sĩ hai bên, một chọi một theo đúng nghĩa "một giáo, một ngựa". Người hiệp sĩ lâm trận phải đạt được mục đích là đánh bật đối phương khỏi yên ngựa rồi bắt sống. Ph.Ăng-ghen đã từng nhận xét về phương pháp tác chiến này: "Đội kị binh hiệp sĩ khi gặp đối phương thì lập tức triển khai để chiến đấu cá nhân và kết thúc trận đánh bằng gươm ngắn, về sau, khi súng bắt đầu được sử dụng, người ta tổ chức đội hình có chiều sâu - thường là đội hình vuông - nhưng khi ấy cũng chính lại là những ngày cuối cùng của đội quân hiệp sĩ"1 (Ph. Ăng-ghen, Tuyển tập luận văn quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H.1978, t.2, tr.157). Sách "Bách khoa toàn thư quân sự Liên Xô" cũng viết: thời trung đại "trận chiến đấu về cơ bản chỉ còn là tập hợp các trận quyết đấu sống mái giữa các hiệp sĩ"2 (Bách khoa toàn thư quân sự Liên Xô, Tuyển dịch, Nxb Quân đội nhân dân, H.1985, t.1, tr.164). Các sách lịch sử quân sự còn viết thêm: "Quân đội phong kiến hồi thế kỉ VI-VIII được vũ trang bằng gươm giáo, rìu chiến, câu liêm, dùi có ngạnh, dao găm, kiếm, cung nỏ..."3 (lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự. Sách giáo khoa dùng cho các học viên - sĩ quan các trường cao đẳng quân sự Liên Xô... Bản dịch của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, H.1986, t.1, tr.39). Như vậy điều rõ ràng "đơn thương độc mã" là cách đánh phổ biến ở thời trung đại mà phương tiện chiến đấu chỉ gồm toàn vũ khí lạnh, không hề có súng. Và khi thời đại vũ khí nóng ra đời thì lại là bắt đầu giai đoạn cáo chung của kị binh hiệp sĩ. Khách quan mà nói thì cách đánh này trong chiều dài lịch sử tuy cũng lác đác dăm ba trường hợp thắng lợi như dưới thời Tam Quốc (220-280) ở Trung Quốc, Triệu Tử Long đã tả xung hữu đột qua bao vòng gươm đao để đưa A Đẩu về với Lưu Bị; như dưới thời Trần ở Việt Nam, Trần Nhật Duật không những "đơn kị" mà thậm chí còn "vô thương" nhưng vẫn gan dạ đi vào doanh trại đối phương khiến cho Trịnh Giác Mật cảm phục, qui thuận triều đình; như dưới thời hiện đại, sau Cách mạng tháng Tám, vào cuối những năm 50, đầu những năm 60 ở vùng biên giới Tây Bắc, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Mùa A Páo, người H’mông, trong thời gian tiễu phỉ đã dùng tiếng hát của mình kêu gọi được hàng trăm kẻ lầm đường mang vũ khí về với nhân dân. Mặc dù sự thật là như vậy, song nói chung, cách đánh "đơn thương độc mã" dưới thời trung đại hầu như không đem lại một chiến thắng khả quan nào kể cả trong hai cuộc viễn chinh lớn nhất ở châu Âu là cuộc hành quân của các hoàng đế Đức tiến vào nước I-ta-li-a, suốt từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI, và cuộc "chiến tranh chữ Thập", kéo dài từ thế kỉ XI đến thế kỷ XIII, tìm về đất thánh ở vùng Trung Cận Đông ngày nay.


Chính vì thế mà người Mông Cổ, dưới sự chỉ huy tài giỏi của thống soái quân sự Thành-cát-tư Hãn, đã kiên quyết đoạn tuyệt với kiểu tác chiến lỗi thời này. Họ mạnh dạn tổ chức kị binh thành những tập đoàn chiến lược, tới hàng vạn người - ngựa. Kiểu phiên chế mới này đã tạo nên những quả đấm thép, đưa tới những chiến thắng hiếm có trong lịch sử quân sự thế giới trung đại trên một không gian bao la, suốt từ châu Á đến châu Âu.


Trở lên trên là bàn về góc độ chiến thuật của câu thành ngữ. Bây giờ chúng ta bàn đến góc độ kĩ thuật - cụ thể là vũ khí.

Trong từ Hán, cây giáo có bảy tên gọi khác nhau: mâu, sóc, qua, việt, mậu, kích, thương. Thế nhưng trong câu thành ngữ này, người ta không nói đến sáu tên gọi kia mà chỉ nói đến thương. Điều này không phải là không có lí do.


Thương là từ đồng âm của ba từ gốc Hán để chỉ vũ khí, có thể có mặt trong câu thành ngữ trên nhưng chúng ta đã loại trừ thương là súng. Nghĩa là khi giao chiến giữa hai hiệp sĩ, mỗi bên chỉ là một người, một ngựa và một thứ vũ khí lạnh, thường là giáo hoặc rìu chiến như đã nói. Còn trong số sáu từ chỉ những tên gọi khác nhau của giáo thì việt là tên gọi của cây giáo có móc, mậu là tên gọi của cây giáo có lưỡi nhưng thực chất, chúng đều là những chiếc rìu. Việt là rìu cán dài còn mậu là rìu có lưỡi hình trăng khuyết. Những hiện tượng đó nói lên rằng dưới thời đại bạch khí, vũ khí chiến đấu cơ bản của người lính không chỉ là cây giáo mà còn là chiếc rìu.


Điều này, Ph. Ăng-ghen cũng đã có những nhận xét tương tự về vũ khí lạnh của bộ binh châu Âu dưới thời cổ - trung đại: "Giống như chiếc giáo nặng của bộ binh La Mã, quân Pháp lại có chiếc rìu ngắn hai lưỡi, dùng để chém quân địch ngay trước khi chiến đấu với chúng bằng kiếm1 (Ph. Ăng-ghen, Tuyển tập luận văn quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H.1978, t.2, tr.110).


Rìu chiến cũng được người Việt sử dụng khá phổ biến dưới thời Văn Lang - Âu Lạc, chiếm tới 30% số vũ khí của các chiến binh. Nó được phát triển từ những công cụ lao động thông dụng, gần gũi với nhân dân. Sự độc đáo về kiểu dáng của loại vũ khí - công cụ này - nhất là kiểu rìu cán dài - khiến người Trung Quốc thời cổ đại dùng ngay tên gọi của chúng để chỉ tộc người sử dụng, vì như đã nói, theo tiếng Hán, Việt vốn là tên gọi của rìu cán dài. Tộc danh "Việt" xuất hiện vào thời kì này. Rìu chiến được giới sử học quân sự đánh giá là "cây giáo" của người Lạc Việt. Đó là một thứ vũ khí lợi hại khi giáp chiến, vì có thể vừa bổ, vừa chém nhờ rìa bản lưỡi cong (hoặc thẳng) và nhờ cách tra cán vào tay cầm song song với rìa lưỡi, vừa gọn nhẹ, thích hợp với thể lực người sử dụng, vừa thuận lợi với cách đánh giáp lá cà và cơ động trong tác chiến. Qua quá trình sử dụng, một số rìu chiến đã được cải tiến về kiểu dáng như hình bàn chân, mũi thẳng kéo dài, hình ê-ke với lưỡi rìu nằm ở phía cạnh dài... Với những chiếc rìu chiến có mũi nhọn và dài, các chiến binh có thể sử dụng để đâm như giáo, lao. Trong các loại rìu chiến của người Việt cổ, cần phải kể đến loại rìu hình khánh, rìu xòe cân, rìa lưỡi cong, hai đầu mũi nhọn, được sử dụng hiệu quả khi đánh gần trong động tác chém, bổ quân địch1 (Theo Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999, t.1, tr.472).


Như vậy, xét về mặt vũ khí lạnh, thương dù là giáo hay rìu chiến, mỗi thứ đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Nắm vững tính năng, tác dụng của chúng để đưa vào chiến trận giành thắng lợi là vấn đề của người sử dụng.


Từ đó có thể kết luận: "Đơn thương độc mã” là phương pháp tác chiến một người, một giáo, một ngựa kém hiệu quả dưới thời trung đại. Đưa vào xã hội, đấu tranh theo kiểu đó cũng không hứa hẹn một kết cục sáng sủa nào. Nó được xem là một hành động tiêu cực, bị phê phán kịch liệt và trong cuộc sống thường ngày, không ai muốn noi theo.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #18 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2022, 08:51:49 am »

DƯƠNG ĐÔNG KÍCH TÂY


Dương đông kích tây là một cụm thuật ngữ quân sự. Theo Từ điển tiếng Việt, do Hoàng Phê chủ biên,nghĩa là nhử bên đông để đánh bên tây nhằm làm lạc hướng đối phương. Tương tự với nó còn có tả xung hữu đột. Nghĩa đen của cụm thuật ngữ này là xông bên trái, đánh bên phải và nghĩa bóng là mạnh mẽ chống đỡ khắp nơi.


Hai cụm thuật ngữ trên nhằm thể hiện một nội dung hành động tác chiến của bên tiến công. Ai cũng biết, suốt cổ kim, đông tây, đội hình chiến đấu bao giờ cũng mạnh ở phía trước - phía chính diện - và yếu ở hai bên sườn - phía bên trái và phía bên phải. Xuất phát từ thực tế chiến đấu đó, các nhà chỉ huy quân sự ở mọi thời đại, khi lâm trận, luôn luôn ra sức giữ vững các cạnh sườn đội hình của quân đội mình, đồng thời tìm đủ mọi cách tiến công vào các cạnh sườn của đối phương theo một nguyên tác bất di bất dịch là "tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu". Như thế, rõ ràng trục trái - phải là những điểm yếu, bên phòng ngự cần phải giữ vững và bên tiến công cần phải đánh chiếm. Nói một cách khác, một đội hình chiến đấu, mạnh hay yếu là do hai cạnh sườn chi phối. Bên cạnh đó, bất ngờ cũng lại là một trong những nguyên tác của tác chiến. Càng gây được bất ngờ bao nhiêu, càng nhanh chóng đẩy đối phương lún sâu vào thế bị động, lúng túng bấy nhiêu. Cho nên, đột kích vào hai cạnh sườn chính là một hành động bất ngờ mà bên tiến công luôn tính đến để giành thắng lợi. Còn trục trước - sau của đội hình chiến đấu thuộc phía đối phương chỉ có thể là đối tượng đột kích khi bên tiến công có ưa thế tuyệt đối.


Bằng cách đánh vào hai cạnh sườn, đúng thực chất là dương đông kích tây, ở Việt Nam, vào thời trung đại, năni 1077, Lý Thường Kiệt đã chiến thắng quân xâm lược Tống trên bờ sông Như Nguyệt. Và cũng bằng cách công kích này, vào thời cận đại, năm 1805, quân Pháp, dưới sự chỉ huy của Na-pô-lê-ông (Napoléon), đá đập tan liên quân Nga - Ao tại Au-xtéc-lít (Áo).


Như trên đã nói, dương đông kích tây và tả xung hữu đột là hai cụm thuật ngữ đồng nghĩa, vì vậy, xét về góc độ quân sự, trục tả - hữu - tức trục trái - phải - cũng là trục đông - tây của đội hình. Nhưng tại sao người ta không gọi trục "tả - hữu" là trục "bắc - nam", trục "thượng - hạ" mà lại là trục "đông - tây". Không những thế, trong các cụm thuật ngữ đó, người ta luôn để "tả", để "đông" lên trước. Chúng ta có thể nêu thêm những thí dụ khác nữa mong làm sáng tỏ vấn đề như: "tả phù, hữu trợ" (giúp bên trái, đỡ bên phảỉ); "tả tư, hữu tưởng" (ngẫm bên trái, nghĩ bên phải); "đông bôn, tây tẩu" (chạy bên đông, phóng bên tây); "móng đông, vòng tây, không mưa dây, cũng gió giật...".


Để hiểu rõ, chúng ta hãy tìm về phương pháp tư duy của người phương Đông, theo triết lí "âm dương, ngũ hành" của cư dân nông nghiệp bản địa. Theo quan niệm của triết lí này, bên tả bao giờ cũng được xem trọng hơn bên hữu. Ngay tổng thể những người thân cận, những chân tay giúp việc đắc lực cho vua, chúa, cho các thủ lĩnh, các chủ soái ở phương Đông, được gọi chung là "tả hữu" thì "tả" vẫn để trước "hữu".


Theo sự ứng dụng của triết lí "âm dương, ngũ hành" thì "ngũ hành'' gồm năm hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ thứ tự tương ứng với năm phương hướng: tây, đông, bắc, nam và trung tâm; với năm bộ phận của cơ thể người, theo góc độ y học phương Đông: bên phải, bên trái, dưới chân, trên đầu và thân mình; với năm màu sắc: trắng, xanh, đen, đỏ và vàng. Trong "ngũ hành", hành Mộc và hành Hỏa được người phương Đông coi trọng. Riêng về hành Mộc thì đó là hành tương ứng với phương Đông, phương mặt trời mọc, cây cối tốt tươi, làm cho thiên nhiên có một màu xanh dịu ngọt, đầy sức sống. Đó là điều tâm đắc đối với người dân nông nghiệp định cư đồng thời cũng là hành tương ứng với phía tả, phía có nhịp đập của trái tim con người, phía đáng được trân trọng.


Từ cách hiểu đó, người Việt Nam cho rằng đi về phía đông là đi tìm sự nghiệp lớn, chỗ trống phía bên trái đấng chí tôn là chỗ ngồi dành riêng cho bậc hiền giả:

   "Lòng cứu lê dân, chí háo hức mà miền đông muốn ruổi,
   Xe chờ hiền giả, lòng thiết tha mà bên tả để không"1 (Nguyễn Trãi, Bình Ngô đại cáo).

Chính vì vậy, theo thói quen suy nghĩ của người phương Đông, bên tả, phía trái cũng đồng nghĩa với hướng đông: sơn tả - phía đông của quả núi.

Như cách suy nghĩ đã nêu ở trên, theo thời gian, phía đông dần dần đồng nghĩa với người chủ, với vị trí chính yếu. Đông gia: ông chủ; đông sàng: chàng rể, ông chủ đám cưới; đông cung: nơi ở của thái tử, ông chủ tương lai của vương quốc; đông đạo quốc: nước đăng cai nước chủ nhà. Tiên - rồng, vật tổ của người Việt vốn là sản phẩm trong trí tưởng tượng của cư dân nông nghiệp - lấy từ hình mẫu con chim, con cá sấu và con rắn - cũng là những con vật vốn sinh sống ở vùng sông nước Đông - Nam Á.


Tìm hiểu thêm về phong tục, tập quán của nhân dân, chúng ta cũng thấy rõ điều đó. Nếu như phương đông là phương của sự sống thì trái lại, ở nông thôn, nghĩa địa chôn người chết bao giờ cũng đặt ở phía tây xóm làng, ở vùng người Chăm, nhân dân thường xem phương Đông là phương của thánh thần và phương Tây là phương của ma quỉ. Còn màu tang tóc được người phương Đông thể hiện bằng màu trắng cũng là màu tương ứng với phương Tây theo triết lí "ngũ hành". Ngày nay, trên các bức trướng đưa tang, người ta thường đọc thấy các dòng chữ vĩnh biệt người quá cố: "Tây phương cực lạc".


Ứng dụng vào chiến trận, chúng ta lại càng thấy rõ hơn vị trí thích đáng của triết lí "ngũ hành" - nhất là vị trí của hành Mộc và hành Hỏa, tương ứng với phía đông và phía nam - trong tư duy các nhà quân sự phương Đông. Ví như trong cuốn "Lục Thao" của Khương Thượng (tức Khương Tử Nha, Lã Vọng, Thái Công Vọng) - một trong bảy tác phẩm lí luận quân sự kinh điển và cổ xưa nhất của Trung Quốc - có ghi: "Phàm đánh thành, vây ấp mà trông thấy khí sắc... trong thành bốc về hướng bắc thì thành ấy có thể lấy được; bốc về hướng tây thì thành ấy phải đầu hàng; bốc về hướng nam thì thành ấy không thể chiếm được; bốc về hướng đông thì thành ấy không thể đánh được".


Tóm lại, phương Đông, phương mặt trời mọc - cũng đồng nghĩa với phía tả, phía bên trái - luôn được người dân phương Đông coi trọng. Cho nên dù rằng trong chiến trận, cả hai bên cạnh sườn của đội hình chiến đấu luôn luôn là những điểm yếu, cần phải giữ vững cũng như cần phải tiến đánh nhưng trong suy nghĩ, các nhà quân sự vẫn cứ "thiên vị" về một bên - bên phía đông, bên trái - theo một thói quen đã hình thành từ rất lâu đời, từ những khi mà loài người chưa hề biết đến chiến tranh.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 561



« Trả lời #19 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2022, 08:53:04 am »

TRẬN ĐỒ BÁT QUÁI, TRẬN ĐỒ TÁM QUẺ VÀ BÁT TRẬN ĐỒ


Trận đồ bát quái, trận đồ tám quẻ và bát trận đồ là những cụm từ mà một số người thường hay nhầm lẫn, từ chỗ nhầm lẫn khái niệm đến nhầm lẫn phạm trù.

Để chống nhầm lẫn, trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu khái niệm "trận đồ bát quái". Trận đồ là "hình vẽ cách bố trí thế trận chiến đấu". Còn bát quái? Bát là tám, ai nấy đều rõ. Vậy quái là gì? Chữ Hán có năm từ quái với những ngữ nghĩa khác nhau. Quái là lạ lùng, quái là quẻ, quái là áo choàng, quái là treo lơ lửng và quái là trở ngại. Hai từ quái sau còn đọc là quải. "Cách bố trí thế trận chiến đấu" không liên quan gì đến lạ lùng, áo choàng và treo lơ lửng. Có chăng chỉ còn quái là quẻ và quái (hay quải) là trở ngại.


Quái là quẻ, bao gồm tám kí hiệu, gọi là bát quái. Nó có thể ra đời vào cuối thời Ân - Thương (1200 năm trước công nguyên), nguồn gốc của Kinh dịch sau này1 (Nguyễn Hiến Lê, Kinh dịch, Đạo của người quân tử, Nxb Văn học, H.1994, tr.11, 12). Chúng bắt đầu từ thuyết âm - dương, một vạch đứt (- -) tượng trưng cho âm, một vạch liền (-) tượng trưng cho dương. Hai vạch đó chồng lên nhau, đối lẫn cho nhau nhiều lần thành ra bát quái, rồi bát quái (đơn quái) lại chồng lên nhau thành lục thập tứ quái (trùng quái). Cũng có tài liệu dựa theo truyền thuyết mà cho rằng bát quái do vua Phục Hi đặt ra nhưng giả thuyết này không đủ cứ liệu thuyết phục. Bát quái lúc đầu chỉ dùng để bói toán. Tới cuối thời Tây Chu, chúng trở thành một thứ triết lí tổng hợp những tư tưởng về, vũ trụ quan, nhân sinh quan của người Trung Hoa; thời Tiên Tần qua thời Hán, chúng bắt đầu có màu sắc tướng số học nhằm giải thích vũ trụ; tới thời Ngũ Đại, chúng được dùng trong môn lí số; thời Tống, chúng trở thành lí học. Ngày nay, một số nhà khoa học châu Âu lại muốn dùng chúng để phân tích tiềm thức con người, xem đấy là một phương pháp phân tâm học1 (Nguyễn Hiến Lê, Kinh dịch, Đạo của người quân tử, Nxb Văn học, H.1994, tr.11, 12). Nói như thế để thấy rằng tám quẻ không liên quan gì đến chiến trận cả.


Chúng ta tìm hiểu sang quái (hay quải) là trở ngại. Để rõ hơn quái là trở ngại, chúng ta có thể tham khảo thêm hai từ tiếng Việt. Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), từ thứ nhất: gàn quải, nghĩa là ngăn cản. Ví dụ câu Kiều thứ 549 viết: "Ông tơ gàn quải chi nhau"; từ thứ hai: quấy, một biến âm của quải, nghĩa là "gây điều rầy rà, cản trở, không để cho yên ổn" như quấy nhiễu, quấy phá, quấy rầy... Qua những điểm vừa trình bày, chúng ta hiểu được trận đồ bát quái không phải là trận đổ tám quẻ mà chính là trận đồ tám trở ngại.


Sự thể đã rõ ràng nhưng người ta vẫn cứ ngộ nhận tám trở ngại là tám quẻ. Tại sao? Bởi lẽ, dưới thời cổ đại ở Trung Quốc, tám trở ngại và tám quẻ đều lấy số 8 làm cơ sở để xây dựng hệ thống số đếm cho mình, cũng như người ta đã từng dùng hệ âm dương khi gặp cơ số 2, hệ ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) khi gặp cơ số 5, hệ thiên can (giáp, ất, bính, đinh...) khi gặp cơ số 10 và hệ địa chi (tí, sửu, dần, mão...) khi gặp cơ số 12 trong thời điểm trên phạm vi toàn thế giới - nhất là ở phương Đông - loài người chưa biết dùng dãy số tự nhiên (chữ số La Mã I, II, III... và chữ số Ả-rập 1, 2, 3...), tức hệ thống số thập phân - vào việc này. Nhưng đấy cũng chỉ thuần túy là về hình thức, không quan hệ gì tới nội dung. Theo thời gian, chiến tranh tiến lên qui mô lớn, kiểu trận đồ này cũng phát triển, biến hóa theo. Tình hình đó không cho phép các nhà quân sự dừng lại ở hệ thống số đếm mang tên tám quẻ: càn (trời), khôn (đất), li (lửa), khảm (nước), tốn (gió), chấn (sấm), cấn (núi), đoài (đầm) nhằm chỉ các lực lượng tự nhiên mà phải đưa thêm vào đây những hệ thống số đếm mới mang theo những tên khác, cũng nhằm chỉ những hiện tượng, những hành động trong tự nhiên và trong xã hội. Có thể kể đến hệ thống thứ nhất: thiên (trời), địa (đất), vân (mây), phong (gió), hổ (cọp), long (rồng), xà (rắn), điểu (chim), hay như hệ thống thứ hai: hưu (thờ ơ), cảnh (đề phòng), sinh (sống), tử (chết), kinh (quấy phá), thương (cản trở), khai (mở ra), đỗ (chặn lại) hay còn như hệ thống thứ ba: cang (cứng rắn), dác (sác nhọn), cơ (vững chắc), chi (cầm giữ), đẩu (bất ngờ), phòng (ngăn chặn), tâm (chính giữa), vĩ (cuối cùng)1 (Binh thư yếu lược - Phụ Hổ trướng khu cơ, Nxb Khoa học xã hội, H.1977, tr.453), v.v...


Như vậy là đến đây, chúng ta có thể nhất trí được với nhau rằng tám quẻ và tám trở ngại là hai khái niệm không mảy may giống nhau, một bên nằm trong Kinh dịch, thuộc phạm trù triết học còn một bên nằm trong thế trận chiến đấu, lại thuộc một phạm trù hoàn toàn khác hẳn. Chỉ có trận đồ bát quái - với nghĩa là trận đồ tám trở ngại và bát trận đồ mới có chung một phạm trù. Đó là phạm trù quân sự.


Tuy cũng là "một thứ trận đồ bát quái" nhưng bát trận đồ lại mang theo một tên gọi đã được rút gọn. Vì thế mà một số ý kiến cho rằng đây là "thế trận của Gia Cát Lượng", nghĩa là do nhà quân sự tài giỏi này tạo ra. Liệu thực tế lịch sử có chấp nhận không? Chỉ bằng sự tìm tòi, khai thác về quá trình phát sinh và phát triển của nó thì mới đi đến đáp số khả quan.


Về thời điểm xuất hiện của "trận đồ bát quái", cho đến nay đã có không ít những tranh cãi. Để tiếp cận vấn đề, chúng ta hãy viện dẫn đến một số tác phẩm đáng tin cậy. Trước hết là cuốn "Đông Chu liệt quốc" của Phùng Mộng Long, bao gồm một thời kì lịch sử dài tới 559 năm (771 - 221 trước công nguyên) - tính từ khi vua Chu Bình Vương dời đô sang phía đông đến khi vua Tần Thủy Hoàng thống nhất nước Trung Hoa. Trong tác phẩm có đoạn ghi: "... Huệ Vương muốn thử tài Tôn Tẫn, bày cuộc duyệt võ ở giáo đường, bảo Tôn, Bàng cùng diễn binh pháp. Những trận của Bàng Quyên bày ra, Tôn xem qua, nói ngay được là trận ấy, trận nọ trận nào nên phá bằng cách nào. Đến khi Tôn bày trận thì Bàng mờ mịt không biết, hỏi thăm Tôn là trận gì, Tôn nói đó là trận "Điên đảo bát môn" (tức "trận đồ bát quái” - DXĐ). Sách "Đại Việt sử kí toàn thư", do Ngô Sĩ Liên chủ biên, đã ghi lại bài tựa mà Trần Khánh Dư viết cho cuốn "Vạn Kiếp tông bí truyền thư" của Trần Quốc Tuấn, lưu truyền ở thế kỉ XIII. Đoạn văn trong sách chép: "Ngày xưa Hiên Hoàng đế lập phép tỉnh điền để đặt binh chế...”. Sách "Hổ trướng khu cơ" của Đào Duy Từ ở thế kỷ XVII còn ghi rõ: "Phép bày trận bắt đầu từ Hoàng đế đánh Xi Vưu...". "Hiên Viên xem trên, xét dưới, thấy trời có các sao Vũ Khúc, Phá Quân, đất có các tượng Ngũ Nhạc, Cửu Châu thì biết khoảng trời đất đã có trận thế tự nhiên rồi, huống chi là người! Bởi thế mới đặt ra các trận pháp Thái Cực, Thái Tổ, Thái Thủy và Hà Đồ, Bát Quái, Tiên Thiên..." "Về sau có sách Lục thao của Thái Công, sách Tam lược của Hoàng Thạch Công, sách Binh pháp của Tôn Tử, sách Yếu chỉ của Tử Phòng, phát thiên căn ở dĩ vãng, dò nguyệt quật ở tương lai mà làm thành 72 phép..." "Đến đời Hậu Hán có bảy người hiền ở Long Trung, ngẫm nghĩ dung hội, đem truyền bảo nhau chế ra các trận Bát môn kim tỏa, Chu thiên hồn nguyên...". "Bảy người hiền ở Long Trung là Thủy Kinh Tư Má Huy, Bàng Đức Công, Gia Cát Khổng Minh, Thôi Châu Bình, Thạch Quảng Tuyền, Từ Thứ, Mạnh Công Uy". "Trận Bát môn kim tỏa của Nam Dương tiên sinh đời Hậu Hán là: bắt chước số bát môn, bát quái mà đặt ra. Đó là phép Khổng Minh vẫn thường dùng, hình như cái khóa, phép rất khít khao, cho nên gọi là kim tỏa".


Qua những dẫn chứng trên, chúng ta thấy:

1. Đến thời Chiến Quốc (475 - 221 trước công nguyên), trước Gia Cát Lượng tám thế kỉ, "trận đồ bát quái" đã được các nhà quân sự sử dụng trong binh pháp.

2. Không những thế, kiểu trận đồ này có thể đã xuất hiện từ thời Hiên Viên Hoàng đế (2000 năm trước công nguyên), trước Gia Cát Lượng hai mươi ba thế kỉ.

3. Sau Hiên Viên Hoàng đế, trận đồ bát quái đã được các nhà quân sự hậu thế bổ sung. Cho đến thời Tam Quốc, các "người hiền", trong đó có Gia Cát Lượng, kế thừa và nâng cao chất lượng lên tới một trình độ mới đầy quái dị, bí hiểm.


Trước những biến hóa khôn lường trong "trận đồ bát quái" của Gia Cát Lượng, người đời sau lầm tưởng rằng loại đội hình chiến đấu này là của ông, do ông sáng tạo. Ý kiến đó là thiếu căn cứ. Đúng ra, phải nói rằng Bát trận đồ là một bước phát triển mới, là thành tựu về một sự kế thừa và nâng cao chất lượng của Gia Cát Lượng trên cơ sở một đội hình chiến đấu phòng ngự đã có sẵn trong nghệ thuật quân sự Trung Hoa.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM