vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #160 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2025, 09:25:27 pm » |
|
3. Phát triển chiến tranh du kích đều khắp, đẩy mạnh xây dựng khu du kích và căn cứ du kích (từ trung tuần tháng 1 đến cuối tháng 2 năm 1952)
Ngày 20 tháng 1 năm 1952, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị Đẩy mạnh du kích chiến tranh trên chiến trường Bắc Bộ, xác định nhiệm vụ: Tích cực phát triển và củng cố cơ sở, đẩy mạnh phong trào du kích, nhằm "tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá kế hoạch dùng người Việt đánh người Việt lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của chủng"; "đặc biệt cần chú trọng việc xây dựng căn cứ", "mở rộng và củng cố căn cứ địa". Những căn cứ chính cần xây dựng cho được là: Vùng Tiên Lữ, Phù Cừ - Hưng Yên, Hải Dương và vùng Tiên - Duyên - Hưng (Thái Bình), sau đó thì đến căn cứ Hà Nam (Lý Nhân, Bình Lục, Thanh Liêm), ở hữu ngạn sông Hồng và căn cứ Nam phần Bắc Ninh (Gia Lương và Tiên - Quế -Võ), ở tả, hữu ngạn sông Đuống... chú trọng làm thế nào đánh thông được đường liên lạc giữa các căn cứ đó để khi địch càn quét lớn thì có thể dựa vào nhau mà đối phó. Ngoài ra, mỗi địa phương cũng cần xây dựng nhiều căn cứ nữa, nhưng cũng phải phân biệt căn cứ phụ và căn cứ chính. Căn cứ chính thì cấp ủy phải tập trung cán bộ mà trực tiếp phụ trách"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 4-5, 9).
Ngày 26 tháng 1 năm 1952, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị phát triển và củng cố các vùng du kích và căn cứ du kích, tích cực chuẩn bị chống giặc càn quét (gửi các liên khu ủy, tỉnh và thành ủy). Bản chỉ thị đánh giá: "Từ hơn hai tháng nay, để phối hợp chặt chẽ với mặt trận chính, các liên khu 3 và Việt Bắc đã đẩy mạnh phong trào du kích tiến tới, hầu hết các vùng du kích và căn cứ du kích được phục hồi, ngoài ra ta lại mở thêm được nhiều vùng du kích và căn cứ du kích mới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 13, Sđd, tr. 15,23). Chỉ thị nhấn mạnh: "Cơ hội tốt cho công tác vùng địch của ta còn nhiều. Giặc Pháp đang lúng túng to. Nhưng sức địch còn mạnh, chúng vẫn có thể mở càn quét lớn vào vùng du kích và căn cứ du kích của ta. Cho nên không được chủ quan khinh địch, phải luôn tỉnh táo và tranh thủ thời gian tích cực phát triển và củng cố vùng du kích và căn cứ du kích, sẵn sàng chống lại tất cả mọi cuộc càn quét lớn nhỏ của địch mà bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 13, Sđd, tr. 15,23).
Cuối tháng 1 năm 1952, Đại đoàn 320 (thiếu Trung đoàn 64) vượt sông Hồng sang Thái Bình. Đảng ủy Mặt trận vùng sau lưng địch tả ngạn được thành lập và chủ trương tung toàn bộ lực lượng đánh mạnh, phát triển chiến tranh du kích, mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích, tranh thủ nhân dân, phá bộ máy kìm kẹp của địch. Trung đoàn 64 tiếp tục ở lại hữu ngạn, hoạt động ở Nam Định và Hà Nam. Đại đoàn 316 đưa thêm Trung đoàn 174 vào hoạt động ở Bắc Ninh, Quảng Yên.
Ngày 30 tháng 1 năm 1952, Thường vụ Liên khu ủy 3 tổ chức hội nghị, đánh giá "nhân thời cơ địch sơ hở chủ lực ta hoạt động mạnh, phong trào du kích chiến tranh đang phát triển, hệ thống hương tổng dũng bị phá vỡ, hoang mang... khu du kích và căn cứ du kích đang phục hồi, mở rộng và mở rộng thêm. Nhưng nhiều địa phương hoạt động chưa có trọng tâm, chưa tập trung khả năng xây dựng những khu Căn cứ du kích chính..., việc phối hợp chỉ đạo trong các khu Căn cứ du kích liên hoàn giữa nhiều địa phương cần được ấn định cụ thể"1 (Nghị quyết Hội nghị Thường vụ Liên khu ủy III (30, 31-1-1952), tài liệu lưu tại Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tr. 236).
Hội nghị xác định những khu Căn cứ du kích chính và phụ cần xây đựng ở các tỉnh: Hà Nam, Nam Định, Hà Đông, Ninh Bình Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An và hướng dẫn thành lập những ban chỉ đạo phối hợp giữa những căn cứ du kích liên huyện, liên tỉnh. Hội nghị còn chủ trương "nhổ các vị trí lẻ, các tổ võ trang của địch" và chỉ đạo "các đơn vị bộ đội địa phương vừa tác chiến, vừa chỉnh huấn, đồng thời tăng cường lực lượng cho những khu Căn cứ du kích mở rộng"2 (Nghị quyết Hội nghị Thường vụ Liên khu ủy III (30, 31-1-1952), Tlđd, tr. 238).
Thực hiện kế hoạch trên, Thường vụ Liên Khu ủy 3 và Ban Chỉ đạo Mặt trận đồng bằng chủ trương đưa chủ lực vào sâu hơn nữa trong vùng quân Pháp chiếm đóng để hoạt động, phát triển chiến tranh du kích, mở rộng và củng cố các khu du kích và căn cứ du kích.
Bên hữu ngạn, phối hợp với Trung đoàn 64, quân dân Hà Nam Nam Định tiêu diệt 2 đại đội biệt kích của Pháp, mở rộng căn cứ du kích thuộc 2 huyện Vụ Bản và Mỹ Lộc, nối liền lên phía Bắc với khu du kích Khoái Châu, Ân Thi, Kim Động (Hưng Yên) Chợ Cháy (Hà Đông).
Quân dân các tỉnh tả ngạn đẩy mạnh mọi hoạt động, làm cho phong trào chiến tranh du kích lên cao với những hình thức hoạt động phong phú, hỗ trợ phong trào quần chúng nổi dậy phá tề xóa bỏ bộ máy chính quyền địch ở cơ sở.
Riêng tỉnh Thái Bình đã tiêu diệt, bức hàng, bức rút 75 vị trí địch, giải phóng hoàn toàn 2 huyện Tiền Hải và Kiến Xương,hầu hết huyện Thụy Anh, một phần huyện Đông Quan, phục hồi khu du kích liên huyện Vũ Tiên, Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân, Quỳnh Côi và Phụ Dực. Căn cứ du kích liên huyện Tiên - Duyên - Hưng với diện tích 300km2. Hệ thống tề, dõng ở Thái Bình bị tan rã về cơ bản. Đểđối phó, Bộ Chỉ huy quân Pháp lần lượt điều các binh đoàn số 4 và số 7 tập trung càn quét từ phía Bắc xuống phía Nam của tỉnh, nhưng bị tổn thất nhiều về sinh lực, không thể đẩy bộ đội chủ lực Việt Nam ra khỏi địa bàn. Các căn cứ du kích ở Thái Bình được giữ vững.
Ở Hải Dương, Hưng Yên, các lực lượng vũ trang tiến công, diệt hàng loạt vị trí địch, nhất là các vị trí hương dõng ven Đường số 5, uy hiếp mạnh tuyến vận chuyển của quân Pháp. Bộ đội địa phương, dân quân du kích các huyện Thanh Hà, Cẩm Giàng... đánh mìn lật đồ tàu hỏa trên đường sắt, phá hoại các trục đường 5, 17, 20 và 12B, làm tê liệt hoạt động vận chuyển của địch. Dân quân du kích phối hợp với bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương tiến công nhiều vị trí địch ở An Thi, Phù Cừ, Khoái Châu, bao vây bức hàng nhiều vị trí hương dõng, tạo điều kiện cho nhân dân 2 huyện Ân Thi, Khoái Châu vùng lên giành quyền làm chủ; liên tục đánh phá giao thông, phá hoại Đường số 5, Đường số 39 đắp ụ trên đê sông Hồng. Cơ sở chính trị được xây dựng lại ở các huyện Mỹ Hào, Văn Giang... Trong tháng 2 năm 1951, Hải Dương và Hưng Yên đã giải phóng hàng trăm thôn, xã và mở lại khu du kích, căn cứ du kích ở tất cả các huyện.
Đảng bộ Kiến An phát động nhân dân nổi dậy, cùng lực lượng vũ trang bức rút, bức hàng 46 đồn hương dũng, giải phóng 22 xã, khống chế những vị trí lớn do quân chính quy Pháp đóng giữ. Căn cứ du kích Tiên Lãng - Vĩnh bảo được khôi phục, trở thành bàn đạp quan trọng để tiến công địch ở Hải Phòng, Kiến An. Trung tuần tháng 2 năm 1952, quân dân Tiên Lãng - Vĩnh Bảo anh dũng chống càn, đánh trả một binh đoàn cơ động chiến lược quân Pháp, diệt 70 tên, làm bị thương 170 tên, phá hủy 13 xe bọc thép, buộc địch phải rút lui, giữ vững căn cứ du kích.
Phối hợp với bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương Vĩnh Yên, Phúc Yên mở đợt tiến công, tiêu diệt hoàn toàn hệ thống công sự mới của quân Pháp ở Đa Phúc, 18 tháp canh hương dũng, hỗ trợ quần chúng nổi dậy, giải tán các ban tề, đưa chính quyền kháng chiến ra hoạt động công khai, mở 3 khu du kích đầu tiên ở địa phương: Tây Đông Anh - Nam Yên Lãng, Tây Yên Lãng - Nam Yên Lạc, Nam Bình Xuyên - Đông Nam Yên Lạc, gồm 18 xã, 45 thôn. Cơ sở chính trị và vũ trang trong vùng địch hậu phát triển mạnh, từ 117 thôn non yếu chỉ còn 67 thôn, từ 200 thôn không có cơ sở chỉ còn 50 thôn. Đầu năm 1952, ở vùng địch hậu thuộc 2 tỉnh có 4.725 du kích và 6.035 dân quân. Ở nhiều xã du kích đã độc lập tác chiến. Thanh niên hăng hái tòng quân, vào dân quân du kích, tham gia tiếp tế, tải thương, phục vụ chiến đấu. Chính sách thuế nông nghiệp, đi dân công hỏa tuyến được thực hiện. Vụ mùa năm 1951 và vụ chiêm năm 1952, nhân dân đã nộp và chuyển ra vùng tự do 592 tấn thóc thuế...
Ở phía Bắc Đường số 5, bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương cùng dân quân du kích tiêu diệt 2 vị trí An Dật và Văn Tài (Quảng Yên), xóa nhiều đồn bốt và chính quyền cơ sở của địch giải phóng phần lớn huyện Nam Sách (Hải Dương); bao vây vị trí Lạc Thổ (Bắc Giang), tiêu diệt 300 lính Âu - Phi đến tiếp viện- tiêu diệt các vị trí Đồng Kỵ (huyện Tiên Du), Vân Đô (huyện Bình Giang)...
Chiến dịch Hòa Bình kết thúc. "Thắng lợi to lớn của ta ở mặt trận sau lưng địch làm thay đổi tình thế đồng bằng Bắc Bộ, đã có ý nghĩa quyết định thắng lợi của toàn bộ Chiến dịch Hòa Bình"1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr. 459).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #161 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2025, 09:26:45 pm » |
|
4. Biến hậu phương của địch thành hậu phương kháng chiến - thành công đặc sắc của quân dân đồng bằng trong Chiến dịch Hòa Bình
Đồng bằng sông Hồng, một kho người, kho của, là nơi quân Pháp ra sức bình định, chiếm đóng để biến thành hậu phương của chiến tranh xâm lược. Chúng ra sức chiếm đất, giành dân. Kháng chiến muốn thắng lợi cũng cần phải giữ đất, giữ dân. Vì thế cuộc kháng chiến ở đồng bằng luôn diễn ra vô cùng cam go. Tận dụng thời cơ khi bộ đội chủ lực liên tiếp tiến công địch trên Mặt trận Hòa Bình, quân dân đồng bằng sông Hồng, với sự phối hợp chặt chẽ ba thứ quân phát triển chiến tranh du kích lên đỉnh cao, kết hợp hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang với phong trào nổi dậy phá tề của quần chúng, đã tiêu diệt và bắt hơn 10.000 tên địch, diệt 160 cứ điểm quân Pháp và hơn 1.000 vị trí tề vũ trang, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh; mở nhiều khu du kích và căn cứ du kích, giải phóng hàng loạt làng xã với tổng diện tích 4.800km2 (chiếm 2/3 diện tích đồng bằng châu thổ). Hệ thống chiếm đóng của quân Pháp ở đồng bằng bị ruỗng nát. Cả vùng đồng bằng rung chuyển mạnh, làm xôn xao dư luận Pháp. Tờ báo Diện mạo nước Pháp (22.2.1952) viết: "Việc giữ gìn đồng bằng Bắc Bộ rất đắt đỏ cho Pháp, cán bộ quân sự Pháp bị chết trận ở đó nhiều hơn số cán bộ trường quân sự Pháp đào tạo trong cả một năm".
Khu du kích và căn cứ du kích được xây dựng ở tất cả các tỉnh đồng bằng. Căn cứ du kích bao gồm 109 xã, 842 thôn, khu du kích bao gồm 163 xã và 1.460 thôn với số dân là 3.038.265 người. Nhiều khu du kích, căn cứ du kích liên tỉnh, liên huyện rộng lớn được củng cố, nối liền với nhau từ Bắc Giang, Bắc Ninh đến Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Kiến An, Quảng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông. Thắng lợi đó làm cục diện chiến trường thay đổi có lợi cho cuộc kháng chiến. Khu du kích và căncứ du kích càng mở rộng thì vùng chiếm đóng của quân Pháp càng bị thu hẹp. Đến tháng 2 năm 1952, "chỉ còn Sơn Tây, Tây Vĩnh Yên, Bắc Hà Đông, Đông Kiến An, Gia Lâm, dọc các đường giao thông quan trọng và thành phố là vùng tạm chiếm mà thôi. Ngay trong các vùng tạm chiếm này, cơ sở của ta cũng đã phục hồi nhiều... Đó là điều kiện căn bản để giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích, để giải quyết vấn đề hoạt động chiến lược trong địch hậu và mọi mặt công tác địch hậu. Khả năng chiến thắng địch của ta lớn mạnh hẳn lên"1 (Báo cáo tình hình dân quân du kích các liên khu, tổng kết phong trào du kích chiến tranh ở Bắc Bộ, 1952, tài liệu lưu tại Trung tâm lữu trữ Bộ Quốc phòng tr. 7-8).
Nếu như mỗi khu du kích khi ra đời ở đồng bằng trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến còn nhỏ bé và nằm trong tình thế bị địch bao vây, thì trong thời gian diễn ra Chiến dịch Hòa Bình, cả một hệ thống căn cứ du kích được xây dựng và nối liền nhau, tạo thành thế liên hoàn, trở thành một tấm lưới bủa vây quân địch, làm cho lực lượng quân Pháp bị chia cắt, phân tán và bị giam chân ờ khắp nơi, khoét sâu mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán binh lực của quân xâm lược; là một thành tổ để phát triển chiến tranh du kích, đưa chiến tranh nhân dân ở vùng đồng bằng lên đỉnh cao.
Căn cứ du kích không chỉ là hậu phương của chiến tranh du kích, điểm tựa của lực lượng vũ trang địa phương để tiến hành kháng chiến lâu dài, mà còn là nơi đứng chân của các trung đoàn và đại đoàn bộ đội chủ lực trên đường tiến vào địch hậu để tác chiến hoặc rút ra vùng tự do để xây dựng lực lượng. Hai đại đoàn 320 và 316 có thể tiến sâu vào vùng địch hậu hoạt động trong một thời gian dài là nhờ sự phát triển của các căn cứ du kích và khu du kích. Đó là nét độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam một hiện tượng chưa từng có trong lịch sử thế giới.
Căn cứ du kích không chỉ là chiến trường, là trận địa tiến công địch từ trong lòng chúng, mà còn là một loại hình hậu phương tại chỗ của chiến tranh nhân dân, là nơi cung cấp sức người sức của cho kháng chiến. Biến hậu phương của địch thành hậu phương kháng chiến, "các đảng bộ và chính quyền địa phương đã tổ chức các ban cung cấp, ban quân lương, từ huyện đến xã, chuẩn bị cơ sở vật chất, cơ sở quần chúng cho bộ đội vào hoạt động. Do đó, khi chiến dịch mở màn, nhân dân địch hậu đã tích cực giúp đỡ bộ đội, lương thực, thực phẩm được tiếp tế đầy đủ"1 (Biên niên sự kiện Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam 1944 - 1954, Tổng cục Hậu cần xuất bản, Hà Nội, 1986, tr. 273). Tính chung trong thời gian diễn ra Chiến dịch Hòa Bình, nhân dân đồng bằng đã cung cấp cho bộ đội 6.275 tấn gạo, 70 tấn muối, 60 tấn thịt, 60 tấn thực phẩm khác, phục vụ 6.390 thương binh; huy động 333.200 dân công phục vụ chiến dịch.
Thắng lợi của chiến tranh du kích ở đồng bằng sông Hồng trong Đông - Xuân 1951 - 1952 là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân toàn diện; thắng lợi của sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ đạo sắc sảo, linh hoạt của các cấp ủy Đảng và chỉ huy các cấp. Đó cũng là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh: "Nước lấy dân làm gốc".
Thắng lợi đó cũng khẳng định, ở đâu có nhân dân yêu nước thì ở đó có nhân tố của hậu phương. Vì thế, hậu phương không còn là đối xứng của tiền tuyến theo cách hiểu thông thường, cũng không thể phân biệt rạch ròi với tiền tuyến chỉ bằng yếu tố không gian, mà đan xen với tiền tuyến, làm cho tiền tuyến cũng là hậu phương, hậu phương cũng là tiền tuyến. Đó là nét đặc sắc của hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam, là một đóng góp quan trọng của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận Mác - Lênin về chiến tranh cách mạng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #162 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2025, 09:29:58 pm » |
|
BẾP HOÀNG CẦM - MỘT SÁNG TẠO ĐỘC ĐÁO TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH Đại tá, PGS, TS DƯƠNG HỒNG ANH Phó Viện trường Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) có một điều còn ít người biết đến, đó là từ chiến dịch này, một sáng tạo độc đáo đã đi cùng với Quân đội ta, nhân dân ta đến hết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng như trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Đến nay, sau 70 năm, sáng tạo đó vẫn còn nguyên giá trị, nó tiếp tục được nghiên cứu và đưa vào chương trình huấn luyện cho bộ đội. Đó là cái bếp được mang tên người sáng tạo ra nó - Bếp Hoàng Cầm. Bếp Hoàng Cầm là bếp dã chiến đào dưới đất, đun bằng củi, không bị lộ khói và lửa, tránh địch phát hiện do Tiểu đội trưởng nuôi quân Hoàng Cầm thuộc Đội điều trị Sư đoàn 308 sáng tạo ra 1 (Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần, Từ điển Hậu cần quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr. 47). Bếp được mang tên người tiểu đội trưởng nuôi quân nghiên cứu, sáng tạo ra trong Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) 2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Từ điển Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 19). Ngày 14 tháng 11 năm 1951, thực hiện âm mưu mở rộng phạm vi chiếm đóng, cắt đứt giao thông liên lạc giữa căn cứ địa Việt Bắc với các chiến trường, phá vỡ kế hoạch chuẩn bị Thu - Đông 1951 - 1952 của ta, giành thế chủ động trên chiến trường chính, Bộ Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp huy động 20 tiểu đoàn bộ binh và dù, 7 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn thiết giáp 2 đại đội xe tăng, nhiều tàu chiến mở cuộc tiến công đánh chiếm các vị trí then chốt của ta ở khu vực Hòa Bình, Đường số 6, sông Đà - Ba Vì. Địch tấn công ra Hòa Bình trong lúc ta đang tích cực chuẩn bị cho kế hoạch Đông - Xuân 1951 - 1952 nhưng gặp khó khăn về chọn hướng chiến dịch. Nhận thấy đây là một cơ hội tốt để ta diệt địch, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch và chọn Hòa Bình làm hướng chính của kế hoạch Đông - Xuân 1951 - 1952. Diễn biến Chiến dịch Hòa Bình được chia làm 3 đợt. Đợt 1 (10 - 26.12.1951), ta tập trung đột phá phòng tuyến Sông Đà, đánh địch càn quét ở Nam Ba Vì, tiến công diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh nhiều trận phục kích cắt đứt tuyến vận chuyển của địch trên sông Đà, uy hiếp Đường số 6, đồng thời đánh mạnh ở vùng địch hậu Bắc Ninh. Thực dân Pháp phải rút bớt lực lượng cơ động từ Hòa Bình về Bắc Ninh để đối phó, nhưng ngay sau đó phải đưa quân trở lại cứu nguy cho Hòa Bình. Đợt 2 (27 - 31.12.1951), ta tiếp tục đánh mạnh hướng sông Đà - Ba Vì, tập kích diệt địch ở các điểm cao 500 và 564; trên hướng Đường số 6 tiến công các cứ điểm Đồi Mồi, Hàm Voi, tiêu diệt một bộ phận địch. Quân Pháp cố gắng tăng viện cho Hòa Bình song vẫn không đánh thông được tuyến sông Đà, phải chuyển sang củng cố tuyến Đường số 6, bảo vệ thị xã Hòa Bình. Đợt 3 (7.1 - 25.2.1952), ta chuyển hướng tiến công chủ yếu sang Đường số 6 và bao vây thị xã Hòa Bình: Tập kích tiêu diệt trận địa pháo và 4 vị trí địch ở trung tâm và ngoại vi thị xã; đánh cắt giao thông, làm tê liệt vận chuyển của địch trên Đường số 6. Bị bao vây, cô lập ở Hòa Bình, lại bị đánh mạnh ở trung du, đồng bằng, ngày 23 tháng 2 quân Pháp buộc phải rút khỏi Hòa Bình. Kết quả toàn chiến dịch, ta loại khỏi chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá hủy 12 khẩu pháo, hàng trăm xe vận tải, thu 24 khẩu pháo; giải phóng khu vực Hòa Bình - Sông Đà, giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với các liên khu 3 và 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp 1 (Bộ Quốc phòng, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 176). Bước vào đợt 2 chiến dịch, bộ đội ta chuyển sang vây đánh địch ở thị xã Hòa Bình và trên Đường số 6. Nhiều đơn vị phải liên tục bám sát trận địa, vây đánh địch cả ngày đêm. Do yêu cầu tác chiến liên tục để giữ gìn sức khỏe cho bộ đội, các đơn vị đã chú trọng tổ chức cải thiện sinh hoạt với khẩu hiệu "rau xanh, cơm nóng, nước chín, không để đói" 2 (Tổng cục Hậu cần, Lịch sử Quân nhu Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 152). Địch đánh phá ác liệt, ban ngày nuôi quân không triển khai nấu ăn được. Việc bảo đảm cơm nóng, nước sôi cho bộ đội rất khó thực hiện. Anh em cấp dưỡng phải chuyển sang nấu ăn chủ yếu về đêm nhưng vẫn bị địch phát hiện, đánh phá. Lúc đầu có đơn vị còn tổ chức cho bộ đội ở tuyến sau đốt củi lấy than hoa chuyển lên để có thể giảm lượng khói bay lên khi nấu ban ngày, nhưng làm như vậy tốn công mà không nấu được nhiều. Có đơn vị nấu cơm ban đèm, gói vào lá dong rồi đào hố để ủ cơm. Bộ đội thường xuyên phải ăn nguội hoặc không có cơm ăn nên sức khỏe bị giảm sút. Các bếp nấu ăn của các đơn vị thường xuyên là mục tiêu đánh phá của địch do bếp bị địch phát hiện bởi ban ngày nâu ăn bị lộ do khói bếp bay lên, ban đêm nấu ăn bị lộ bởi ánh lửa. Việc lộ bếp lúc nấu ăn nhiều khi còn dẫn đến lộ bí mật khu vực bố trí hậu cần của đơn vị, ảnh hưởng đến ý định và phương án tác chiến. Chiến sĩ nấu ăn không được che chắn bảovệ nên khi địch đánh phá vào khu vực bếp dễ bị thương vong. Việc nấu ăn của nuôi quân còn chịu ảnh hưởng nhiều của thời tiết, nhất là khi mưa gió làm cho củi và bếp bị ướt. Hiệu quả sử đụng nhiệt thập, tốn nhiều củi và mất nhiều thời gian nấu ăn. Chính vào thời điểm này, Tiểu đội trưởng nuôi quân Hoàng Cầm thuộc Đội điều trị Đại đoàn 308 đã mày mò, nghiên cứu thành công một kiểu bếp đơn giản nhưng rất hiệu quả. Bếp được đào xuống đất, sử dụng chất đốt bằng củi khô. Khi đun ánh lửa được che chắn kỳ nên xung quanh không nhìn thấy, khói không tạo thành cột mà tồn tại như dạng sương mù bay là là mặt đất nên tránh bị địch phát hiện, đánh phá. Bếp gồm: Hố đặt nồi (chảo), hố ngồi nấu, hệ thống đường dẫn khói và tản khói; rãnh thoát nước và mái che. Bếp vừa che được ánh lửa khi nấu ban đêm, vừa làm cho khói lan tỏa rộng khi nấu ban ngày. Sáng kiến này đã bảo đảm cho bộ đội có cơm nóng và nước uống đầy đủ cả ngày và đêm ngay trên trận địa 1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Hậu cần - Kỹ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 388).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #163 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2025, 09:32:09 pm » |
|
Hoàng Cầm sinh ra và lớn lên ở làng Cát Nội, xã Trực Đại, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Sau đó gia đình chuyển lên sinh sống tại làng Đồi Mây, nay là thị trấn Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Tháng 2 năm 1946, Hoàng Cầm tình nguyện lên đường vào bộ đội chống Pháp. Trước khi vào quân ngũ, ông làm đầu bếp cho một gia đình ở Hà Nội. Có lẽ vì thế, ông được giao làm chiến sĩ nuôi quân thuộc đơn vị quân y tiền phương Đại đoàn 308. Là anh nuôi, ông luôn tận tâm, tận lực với công việc nấu ăn phục vụ bộ đội trong nhiều chiến dịch. Qua các chiến dịch, ông nhận ra chiến tranh ngày càng khốc liệt, bộ đội ta chiến đấu, hy sinh không chỉ ở mặt trận giáp mặt quân thù mà hy sinh, thương vong ngay cả khi về hậu cứ nghỉ ngơi, sinh hoạt. Nguyên nhân của việc mất mát ấy có một phần do việc nấu ăn hằng ngày của anh em nuôi quân. Những cột khói từ những khu vực đặt bếp nuôi quân bốc lên cao, máy bay địch phát hiện được đã trút bom đạn xuống. Tổ anh nuôi của ông và nhiều đơn vị khác đã phải thường xuyên phòng tránh bằng cách chuyển sang nấu ăn ban đêm, khi nghe tiếng động cơ máy bay địch bay tới thì dập lửa, dội nước nhưng nhiều khi vẫn không tránh kịp. Đang đun, dập lửa, rồi sau đó nấu lại, cơm thường bị khê, sống. Nấu ăn vào ban đêm, mang đến cho bộ đội vào ban ngày thì cơm đã nguội lạnh, hoặc ôi thiu. Bộ đội ăn cơm sống, khê, nguội lạnh, không đảm bảo sức khỏe. Có lần, thủ trưởng đơn vị đi kiểm tra, nhắc tổ nuôi quân: Các đồng chí cố gắng xem có cách nào khắc phục cái bếp. Để anh em thương vong chết chóc ở ngay nơi đóng quân và ăn uống khổ cực là mình có tội với nhân dân, với bộ đội đây.
Ông trăn trở ngày đêm suy nghĩ. Có buổi ông ngồi hàng giờ đồng hồ dưới tán cây rừng quan sát anh em nhóm bếp và đăm đăm nhìn ngọn lửa, nhìn làn khói cuồn cuộn bay lên. Rồi ông chợt nhớ đến cách nấu cám lợn ở quê. Bếp thường đắp bằng đất sét bao kín chung quanh chỉ để một lỗ thoát hơi phía sau, nên lửa cháy tập trung ít bốc ra ngoài. Nhưng làm thế nào để bếp đun không có khói bốc lên. Ông lại nghĩ ra cảnh mình từng đi hun chuột ngoài đồng. Đào cửa hang sâu xuống, chất rạ đốt, hầu như khói hút cả vào trong hang. Như vậy, nếu áp dụng để cải tiến thành bếp nuôi quân kiểu mới sẽ hạn chế được khói và lửa bốc cao.
Từ suy nghĩ đó, ông miệt mài nghiên cứu, vẽ sơ đồ một số kiểu bếp. Lúc rảnh, ông tranh thủ vác xẻng, đeo xoong nồi, đi vào rừng đào bếp thử nghiệm. Chưa biết thành công hay thất bại, nhưng sợ anh em tốn sức, vất vả, ông giấu kín mọi người. Ông đào hàng chục cái bếp khác nhau, có nhiều nhánh dẫn khói như hang chuột. Làm xong, ông đặt nồi lên từng cái bếp rồi chất củi đun thử. Kết quả tạm được, nhưng lửa vẫn lộ, khói ra vẫn phảng phất bay lên. Ông lại hì hục đào bếp khác. Lần này ông đào các đường dẫn khói chia ra nhiều nhánh và dài hơn. Trên rãnh dẫn khói, ông rải cành cây rồi đổ đất san phẳng. Phía trước cửa bếp đào một hố sâu để chiến sĩ nuôi quân ngồi nấu, trên phủ lá cây để che ánh lửa khi đun nấu. Phía sau có ống dẫn khói ra hầm chứa khói để hút lửa mạnh hơn.
Lần này bếp có nhiều ưu điểm hơn, đã giấu kín được ánh lửa, nhưng khói trên ống dẫn vẫn lảng vảng bay lên ngọn cây. Rồi ông chợt nhớ ngày ở quê, chiều chiều nấu cơm, gặp trời mưa, khói chui qua mái tranh ướt, bốc lên nhè nhẹ như sương mù. Thế là ông lật hết cành cây khô lát trên đường ống dẫn khói, rồi dùng cây chuối rừng chẻ ra lát lên trên, phủ đất san phẳng và dùng nước tưới đều lên rãnh dẫn khói. Quả nhiên, khi đun khói cứ là là tỏa đều mặt đất, không bốc lên cao nữa.
Trong hồi ức của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp có đoạn viết: Sẽ là một thiếu sót nếu không nhắc ở đây một sáng kiến đã mang lại sự cải thiện rất quan trọng trong đời sống các chiến sĩ ngoài mặt trận. Khói lửa từ những bếp của anh nuôi đã nhiều lần làm lộ vị trí trú quân, dẫn đến những tổn thất xương máu... Một chiến sĩ nuôi quân ở Trạm Quân y của Đại đoàn 308 đã có sáng kiến đào những đường rãnh thoát khói bên sườn núi, nối liền với lò bếp, bên trên rãnh đặt những cành cây và phủ một lớp đất mỏng được tưới nước để giữ độ ẩm. Khói từ trong lò bếp bốc lên qua các đường rãnh chỉ còn là một dải hơi nước tan nhanh khi rời khỏi mặt đất. Từ đó anh nuôi có thể thổi nấu ban ngày, ngay cả khi máy bay trinh sát địch bay trên đầu. Bộ đội bắt đầu được ăn cơm nóng, uống nước nóng1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 286).
Cái bếp do chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm sáng tạo ra rất phù hợp với việc nấu ăn cho bộ đội, nhất là khi phải đóng quân gần địch. Bếp có các đặc điểm nổi bật: Giấu được ánh lửa, giấu được khói, bảo vệ được người nấu; hệ số sử dụng nhiệt cao nên quá trình nấu ăn nhanh, tiết kiệm củi, nhiên liệu; giữ cho nồi chảo không bị ám khói và đóng nhọ nồi xung quanh. Bếp đào xuống đất nên ánh lửa của bếp được che kín, khói theo các rãnh len lỏi trong đất ẩm và lá cây tạo thành màn sương mỏng bay là là mặt đất không bốc lên cao. Chiến sĩ nuôi quân ngồi dưới hố sâu hoặc trong hầm kiên cố, không sợ máy bay địch phát hiện đánh phá. Từ đó, bộ đội được phục vụ ăn uống đúng giờ, có cơm canh nóng, nước sôi. Khi quân ta ém sát địch, chiến sĩ nuôi quân vẫn nổi lửa nấu ăn không kể đêm, ngày. Củi được để trong hầm có mái che nên không bị ảnh hưởng khi thời tiết mưa gió. Tháng 10 năm 1952, đơn vị đề nghị và được cấp trên quyết định bếp mang tên người chiến sĩ đã sáng tạo ra nó: Bếp Hoàng Cầm. Chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm được tặng thường Huân chương Chiến công hạng Ba. Và năm đó ông được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc. Bếp Hoàng Cầm ngay sau đó được phổ biến, áp dụng trong toàn quân.
Do có hiệu quả trong sử dụng, phù hợp với điều kiện chiến đấu, bếp Hoàng Cầm nhanh chóng được phổ biến và thực hiện rộng rãi đáp ứng yêu cầu cải thiện ăn uống, tăng sức chiến đấu của bộ đội1 (Tổng cục Hậu cần, Lịch sử Quân nhu Quân đội nhân dân Việt Nam, Sđd, tr. 152), đặc biệt trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch có quy mô lớn nhất trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Chiến dịch được tổ chức trong điều kiện địa hình hết sức phức tạp, trận địa của ta và địch sát gần nhau nên công tác bảo đảm cho bộ đội gặp nhiều khó khăn do hỏa lực và không quân của địch khống chế mạnh, liên tục uy hiếp ta suốt ngày đêm. Do vậy, việc sử dụng bếp Hoàng Cầm đặt dưới hầm để nấu ăn cho bộ đội trong chiến đấu phát huy hiệu quả rất cao. Bếp bảo đảm yếu tố bí mật, tránh được sự phát hiện của máy bay địch, hạn chế thương vong cho bộ đội. Thậm chí, có đơn vị hàng trăm người, đóng quân ngay sát các cứ điểm của địch trong thời gian dài mà địch hoàn toàn không biết vị trí đặt bếp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #164 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2025, 09:33:28 pm » |
|
Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, bếp được cải tiến với kích thước lớn hơn, có hệ thống đường hào liên hoàn nối liền với hố chiến đấu, hầm bếp, hầm chứa lương thực, thực phẩm, hầm ngủ kiểu chữ A, phù hợp với điều kiện chiến đấu phòng ngự tại các căn cứ chiến đấu, các binh trạm. Bếp còn được làm trong các địa đạo Vĩnh Linh, Củ Chi1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Từ điển Lịch sử quân sự Việt Nam, Sdd, tr. 20). Bếp Hoàng Cầm có thể bảo đảm yêu cầu ăn, uống cho bộ đội với số lượng lớn và đối phó với khả năng phát hiện bằng các phương tiện trinh sát hiện đại của địch. Một số nơi địa hình núi đá kênh rạch, nền đất yếu không thể đào bếp được, bộ đội còn có sáng kiến làm sẵn các "môđun bếp", khi cần triển khai sẽ chọn địa hình rồi lắp ghép các bộ phận lại, phủ cây cỏ, đất vụn lên trên, tưới nước tạo ẩm, vừa rút ngắn thời gian triển khai mà vẫn đáp ứng yêu cầu phòng tránh, giữ bí mật.
Bếp Hoàng Cầm là một sáng tạo độc đáo của bộ đội ta để giải quyết yêu cầu thực tiễn đặt ra trong chiến đấu. Bếp dễ làm, triển khai nhanh được ở nhiều địa hình khác nhau. Bếp sử dụng được cả trong quá trình hành quân dã ngoại và cả trong chiến đấu ác liệt. Chiến sĩ nuôi quân có thể nấu ăn trong mọi điều kiện để bảo đảm đầy đủ, kịp thời cơm ăn nước uống cho bộ đội. Từ chiếc bếp sơ khai do Tiểu đội trưởng cấp dưỡng Hoàng Cầm sáng tạo ra trong Chiến dịch Hòa Bình, sau 70 năm, qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, bếp không ngừng được cán bộ, chiến sĩ nghiên cứu cải tiến và dần hoàn thiện.
Đến nay, theo quy mô cấu tạo, bếp Hoàng cầm được phân chia thành 3 loại: Bếp cấp 1, cấp 2 và cấp 3. Bếp cấp 1 cấu tạo gồm hầm bếp, hệ thống thoát khói và mái che tạm thời bằng tăng bạt, lá cây. Bếp thường được sử dụng trong thời gian tạm dừng khi hành quân còn cách xa địch, ít phi pháo hoặc trong chiến đấu tiến công. Bếp cấp 2 cũng gồm 3 phần như bếp cấp 1, nhưng ở bếp cấp 2 phải đưa cả khu vực đun nấu xuống hầm. Bếp có chỗ để thực phẩm, có bể nước, trên lát bằng tre, gỗ chắc chắn, phía trên hầm lấp đất dày 0,5m trở lên. Bếp cấp 3 tương tự như bếp cấp 2, có thêm hầm chứa lương thực, thực phẩm và hầm ngủ của nuôi quân, mái hầm bếp bằng bê tông hoặc gỗ, phía trên lấp đất dày trên 1 m. Bếp dùng trong chiến đấu phòng ngự hoặc trú quân dài ngày gần địch, nơi địch đánh phá ác liệt.
Cấu tạo bếp Hoàng cầm cấp 1 gồm có các bộ phận chính:
1. Bệ bếp: Nếu là đất bằng thì mặt bệ bếp cần đào thấp xuống 15 - 20cm, kích thước dài 1,4m, rộng 0,8m, cao 0,8m, phía dưới chân bệ bếp làm một gờ rộng 10cm để đỡ củi dọc theo chiều dài bệ bếp.
2. Hố đặt nồi: Lấy nồi đặt lên bệ bếp, khoanh đánh dấu rồi khoét dần, khi đặt nồi xuống, nồi còn thừa lên trên khoảng 5cm là vừa, xung quanh mép hố ôm sát khít vào thành nồi. Trong lòng hố khoét hình tang trống, sửa cho nhẵn, tạo ra một khoảng cách với thành nồi để khi đun ngọn lửa lùa đều xung quanh, tận dụng nhiệt lượng, đun chóng sôi. Đáy hố cách đáy nồi khoảng 20 - 25cm. Hai nồi cách nhau khoảng 15cm.
3. Cửa bếp: Cửa bếp được khoét cân đối với mặt nồi có dạng hình vòm loa kèn (bên trong to, bên ngoài nhỏ), rộng 20 - 25cm, cửa bếp nhỏ hơn khoảng cách từ đáy nồi tới đáy hố đặt nồi 5cm.
4. Ống khói: Đào phía trong đáy hố đặt nồi, hướng lên phía trên, khoét ống khói cao dần lên nối đến hầm chứa khói, bảo đảm luồng khói thoát ra đi được dễ dàng.
5. Hố ngồi của người nấu: Để chiến sĩ nuôi quân ngồi đun nấu, đồng thời che chắn ánh lửa và che chắn bảo đảm an toàncho nuôi quân. Hố có chiều dài bằng bề dài bệ bếp, rộng khoảng 0,80m và sâu tùy yêu cầu, nhưng tối thiểu phải bằng 0,95m.
6. Hệ thống dẫn khỏi, chứa khói, tản khói: Hệ thống thoát khói có tác dụng hút khí tạo ra sự đối lưu không khí giúp cho bếp cháy tốt và dẫn khói thoát ra tạo thành làn khói mỏng. Hệ thống thoát khói gồm 3 bộ phận: Hầm chứa khói, rãnh dẫn khói và tia tản khói. Rãnh dẫn khói có tiết diện 30x30cm, chiều dài từ ống khói đến hầm chứa khói thứ nhất 2,5 đến 3m, thẳng góc và cân đối với chiều dài bệ bếp, hướng thoai thoải vươn lên, góc vươn 30°C là tốt nhất. Rãnh dẫn khói đưa khói tới 2 hầm chứa khói, hầm thứ nhất có kích thước 0,8x0,8x0,8m. Hầm thứ 2 cách hầm thứ nhất 3m có kích thước 1x1x1m. Các tia tản khói bắt đầu từ hầm chứa khói thứ 2. Mỗi bếp thường có 3 tia tản khói, có tiết diện 20x20cm hoặc 25x25cm, dài ít nhất là 7m; đầu tia tản khói khuất vào trong bụi rậm hoặc lùm cây. Phía trên hầm khói, rãnh khói và tia tản khói được lát bằng cây, que tươi, phủ một lớp lá tươi và trên cùng là một lớp đất ẩm, tơi xốp để cho khói thoát ra thành làn khói mỏng.
7. Mái che, lợp bếp: Nhằm giữ cho ánh lửa không lọt ra ngoài và đun nấu được trong mọi điều kiện thời tiết. Có thể dùng tăng bạt có khung là tre, nứa, cây gỗ nhỏ căng ra che kín bếp hoặc dùng tranh, lá để lợp. Đề phòng khi trời mưa nước tràn xuống bếp, cần đào xung quanh bếp hệ thống rãnh thoát nước để dẫn nước chảy ra ngoài; khi đào bếp ở sườn đồi phải đắp bờ cao, chắc chắn để giữ nước khỏi tràn vào gây ngập và vỡ bếp.
Với những ưu điểm vượt trội, bếp Hoàng Cầm được sáng tạo ra từ trong Chiến dịch Hòa Bình, trải qua thực tiễn, sau 70 năm, bếp Hoàng Cầm vẫn được các đơn vị trong toàn quân sử dụng trong điều kiện huấn luyện dã ngoại và là một nội dung huấn luyện về hậu cần của các đơn vị trong toàn quân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #165 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2025, 07:02:10 pm » |
|
CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH VÀ CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ BƯỚC PHÁT TRIỂN Thượng tá, ThS LÊ QUANG LẠNG Trưởng phòng Lịch sử kháng chiến, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Mười chín năm là khoảng thời gian giữa 2 chiến dịch: Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) trong kháng chiến chống thực dân Pháp và Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (30.1 - 23.3.1971) trong kháng chiến chống Mỹ. Mặc dù diễn ra ở hai thời điểm, với đặc điểm tình hình, đối tượng tác chiến, phương châm tác chiến mục tiêu chiến dịch và các yêu cầu về chuẩn bị, tổ chức sử dụng lực lượng, công tác bảo đảm,v.v.. khác nhau, nhưng thông qua việc so sánh đổi chiếu có thể gợi ra những nét tương đồng "thú vị" giữa 2 chiến dịch về thời cơ, hiệu quả và những tác động đối với cục diện chiến tranh. 1. Thời cơ tiêu diệt sinh lực đối phươngTrong cả 2 chiến dịch Hòa Bình và Đường 9 - Nam Lào "thời cơ tiêu diệt sinh lực đối phương" là yếu tố nổi bật. Thời cơ do khách quan và chủ quan tạo nên sẽ trở thành lợi thế nếu biết tranh thủ, tận dụng. Do đó, trong khi các đại đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam khẩn trương chuẩn bị mở chiến dịch ở trung du, hữu ngạn sông Hồng và Tây Bắc theo phương án tác chiến mùa Đông thì quân Pháp tổ chức đánh ra Hòa Bình 1 (Quân Pháp tập trung một lực lượng lớn mở cuộc tiến công đánh chiếm Hòa Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược; mở rộngkhu chiếm đóng, bịt chặt của ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc vận chuyểncủa ta giữa Việt Bắc và các liên khu 3, 4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá sự chuẩn bịtiến công Thu - Đông của ta. Cuộc tiến công do tướng Xalăng (Raoul Salan) - Phó Tổng Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương trực tiếp chỉ huy. Ngày 9 tháng 11, quân Pháp sử dụng 3 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3), 1 tiểu đoàn dù, 2 đại đội biệt kích mở cuộc hành quân Tuylíp (Tulipe) đánh chiếm khu vực Chợ Bến; ngày 14 tháng 11, tăng cường thêm 2 binh đoàn cơ động (GM4, GM7), 3 tiểu đoàn dù, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp vả 2 đại đội xe tăng mở tiếp cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm thị xã Hòa Bình, Đường số 6, Ba Vì. Sau khi chiếm được các mục tiêu trên, Pháp để lại 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội và 1 trung đội xe tăng tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Phân khu Sông Đà - Ba Vì (khu Bắc) và Phân khu Hoà Bình - Đường số 6 (Khu Nam); ngoài ra, có Phân khu Chợ Bến là tiên đôn phía Đông bảo vệ Hòa Bình). Trước hành động của quân Pháp, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy nhận định: "Cuộc tiến công của địch sẽ gây cho ta những khó khăn nhưng cũng tạo cho ta một cơ hội tốt để tiêu diệt sinh lực của địch" 2 (Dẫn theo: Ban Nghiên cứu Lịch sử Quân đội thuộc Tổng cục Chính trị - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập I, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 324). Vì "địch đã mang lực lượng cơ động tinh nhuệ phân tán trên một tuyến dài đột xuất, công sự chưa vững chắc, địa hình không thuận lợi...; vì phần lớn lực lượng cơ động đã tập trung vào Mặt trận Hòa Bình, cho nên lực lượng của địch ở vùng địch hậu đồng bằng bị dàn mỏng..., các vùng từ hữu ngạn, tả ngạn Liên khu 3 đến trung du đều tương đối sơ hở hơn trước" 3 (Dẫn theo: Ban Nghiên cứu Lịch sử Quân đội thuộc Tổng cục Chính trị - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập I, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 324). Tiếp đó, ngày 21 tháng 11 năm 1951, thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, đồng chí Phạm Văn Đồng 4 (Lúc này là ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ) gửi thư cho Tổng Quân ủy chỉ rõ: "Đây là cơ hội rất tốt để mình đánh giặc. Phải thấy điều đó để tin tưởng, và quyết tâm đánh và thắng... ta khéo và quyết nhằm chỗ hở của nó mà đánh cho đúng,cho kịp thời, chuẩn bị chu đáo và bí mật thì ta sẽ thắng" 1 (Dẫn theo: Trận đánh 30 năm, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 460). Tháng 11 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ chủ lực và dân quân du kích tham gia Chiến dịch Hòa Bình: "Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta... Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp nhau chặt chẽ để tiêu diệt sinh lực của địch, để đánh tan kế hoạch Thu - Đông của chúng" 2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242). Do yêu cầu và tầm quan trọng của Chiến dịch Hòa Bình, Bộ Chính trị quyết định tập trung 3 đại đoàn chủ lực (308, 312, 304) và Đại đoàn công pháo 351 cho mặt trận chính Hòa Bình, đồng thời đưa 2 đại đoàn chủ lực (316, 320) vào hoạt động trong vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hoà Bình gồm: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch; Thiếu tướng Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng; đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Phó Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Chiến dịch. Đối với Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, thời cơ để chuẩn bị tiến hành một đòn phản công quyết liệt tiêu diệt địch xuất hiện sớm hơn so với Chiến dịch Hòa Bình. Ngay từ giữa năm 1970, trên cơ sở nắm bắt được ý đồ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, cơ quan tham mưu chiến lược của ta nhận định: Sau khi kết thúc cuộc tiến công sang Campuchia, Mỹ và quân đội Sài Gòn sẽ mở một số cuộc hành quân lớn đánh phá hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam, trọng điểm là hướng Đường 9 - Nam Lào. Đúng như nhận định của cơ quan tham mưu chiến lược, đầu năm 1971, quân đội Sài Gòn và quân Mỹ cùng lúc mở 3 cuộc hành quân lớn: Lam Sơn 719 (Đường 9 - Nam Lào), Toàn Thắng 1 -71 (miền Đông Nam Bộ - Đông Bắc Campuchia) và Quang Trung (Bắc Tây Nguyên - Khu vực Ngã ba biên giới). Trước hành động của địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thống nhất nhận định: Đây là bước phiêu lưu quân sự cực kỳ nghiêm trọng, nhưng cũng là một sai lầm về chiến lược của địch. Cả 3 cuộc hành quân nói trên đều nằm trong một động thái thống nhất nhằm thực hiện có hệ thống biện pháp chiếm đất giành dân, tiêu diệt Quân giải phóng miền Nam Việt Nam và triệt phá cơ sở hậu cần, chặn cắt hành lang vận chuyển chi viện Bắc - Nam. Do đó, các chiến dịch phản công đánh bại các cuộc hành quân nói trên không diễn ra đơn lẻ, cục bộ, mà gắn kết thành một hệ thống, có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình chiến đấu. Việc địch tập trung lực lượng 1 (Địch huy động lúc đầu gồm 3 sư đoàn (bộ binh, dù, thuỷ quân lục chiến) và Liên đoàn Biệt động quân 1 quân đội Sài Gòn, 2 lữ đoàn thiết giáp (7 tiểu đoàn, có 4 tiểu đoàn Mỹ), 16 tiểu đoàn pháo binh (5 tiểu đoàn Mỹ), 700 máy bay các loại, tổng số quân khoảng 42 nghìn (có 9 nghìn lính Mỹ); trong quá trình hành quân bổ sung thêm 1 lữ đoàn thuỷ quân lục chiến (369), Trung đoàn bộ binh 4 (Sư đoàn bộ binh 2) và một số đơn vị hoả lực, nâng tổng quân số lên 55 nghìn (có 15 nghìn lính Mỹ), 578 xe tăng, thiết giáp, 318 pháo từ 105mm trở lên. Quân đội Phái hữu Lào tham gia phối hợp có 2 binh đoàn cơ động (30,31 ) gồm 9 tiểu đoàn bộ binh. Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Cục Khoa học quân sự, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, CD phiên bản 1.0, năm 2015, mục từ: Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào) mở cuộc hành binh lớn ở khu vực Đường 9 - Nam Lào đặt ra yêu cầu bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược, đồng thời đây cũng là cơ hội thực hiện một trận "quyết chiến chiến lược" nhằm tiêu diệt một bộ phận lớn quân đội Sài Gòn, làm thất bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Với tầm quan trọng của chiến dịch, Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam được cử vào chiến trường trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Ngày 31 tháng 1 năm 1971, trong cuộc họp với Bộ Tư lệnh Chiến dịch 1 (Bộ Tư lệnh Chiến dịch do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy), Tổng Tham mưu trưởng đã quán triệt yêu cầu của Trung ương Đảng đối với Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đó là: Tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng dự bị chiến lược của địch; làm thất bại một bước âm mưu chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", đẩy mạnh cuộc kháng chiến tiến tới giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc; thực hiện vẻ vang nhiệm vụ quốc tế, đồng thời nâng cao trình độ tác chiến của các đơn vị chủ lực... Cần thấy rằng, thời cơ tiêu diệt sinh lực đối phương đặt ra yêu cầu rất cao, trước hết là sự chủ động, nhạy bén, đúng đắn, sáng suốt về chỉ đạo chiến lược và chỉ huy điều hành chiến dịch. Cả trong Chiến dịch Hòa Bình và Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy (thời kỳ chống Mỹ gọi là Quân ủy Trung ương) đều nắm giữ và từng bước làm chủ tình hình; giải quyết được những tình huống khó khăn, bất ngờ trong quá trình chiến dịch.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #166 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2025, 07:04:40 pm » |
|
2.Hiệu quả của quá trình chỉ đạo, chỉ huy và thực hành chiến dịch
Trong Chiến dịch Hòa Bình, quân và dân ta phải đối mặt với lực lượng địch đông, vũ khí, trang bị, phương tiện chiến đấu hiện đại, được bố trí trong 3 phân khu: Phân khu Chợ Bến, Phân khu Sông Đà và Phân khu Hòa Bình (bao gồm cả Đường số 6). Riêng tại thị xã Hòa Bình, địch xây dựng một cụm cứ điểm lớn với binh lực 8 tiểu đoàn. Hình thức phòng ngự theo kiểu tập đoàn cứ điểm đã xuất hiện2 (Ban Nghiên cứu Lịch sử Quân đội thuộc Tổng cục Chính trị - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập I, Sđd, tr. 326).
Do đó, để giành thắng lợi cho chiến dịch, công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch đặt ra yêu cầu hết sức khẩn trương, nhấtlà công tác nắm địch và bảo đảm hậu cần. Ta phải cố gắng nổ súng mở màn càng sớm càng tốt để tận dụng tình trạng còn sơ hở của địch1 (Lúc đầu, ta định tiến hành chiến dịch phản công khi địch đang còn tiến công, phần lớn vị trí chiếm đóng chưa được củng cố. Tuy nhiên, do không chuẩn bị kịp, ta chuyển từ ý định chiến dịch phản công sang chuẩn bị và tiến hành chiến dịchtiến công quân địch đã chiếm đóng), hạn chế khả năng chúng củng cố thế chiếm đóng. Qua nghiên cứu nắm bắt tình hình địch và khả năng của bộ đội ta, Bộ Chỉ huy Chiến dịch xác định cách đánh chiến dịch là "đánh điểm, diệt viện"; kết hợp đánh địch trong công sự với đánh phục kích, đánh địch càn quét hoặc tăng viện, ứng cứu bằng đường bộ, đường sông hoặc đường không2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945 - 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 127-128)...; khoét sâu khó khăn của địch về vận tải, tiếp tế, dồn địch vào thế bị bao vây, cô lập; tổ chức, sử dụng lực lượng thích hợp, bảo đảm chiến đấu liên tục, dài ngày trên phạm vi chiến trường rộng lớn...
Về vận dụng chiến thuật, các đơn vị chủ lực đã vận dụng đúng nguyên tắc tập trung binh lực ở một điểm để tiến công, đồng thời bố trí lực lượng hai đến ba mặt để bao vây, tiêu diệt địch; phát huy lối đánh gần để hạn chế ưu thế hỏa lực pháo binh, máy bay của địch và khoét sâu chỗ yếu về mặt tinh thần của chúng. Trên hướng chính diện Mặt trận Hòa Bình, ngoài đánh công kiên và đánh chính diện như các chiến dịch trước, lần này bộ đội phát triển nhiều cách đánh mới như đánh địch vận chuyển trên sông, dùng lực lượng ít nhưng tinh nhuệ tập kích tiêu diệt các điểm cao và trận địa pháo của địch... Riêng với hình thức chiến thuật công kiên đã khẳng định qua Chiến thắng Tu Vũ, mở ra khả năng đánh tiêu diệt quân địch phòng ngự trong công sự vững chắc với hình thức cụm cứ điểm cỡ tiểu đoàn tăng cường có xe tăng, pháo binh chi viện, tạo điều kiện cho các trận công kiên lớn trong các chiến dịch sau này. Ở hướng phối hợp, các đơn vị thực hiện "đánh điểm, diệt viện", "vây điểm, diệt viện"kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, tiến công và nổi dậy của quần chúng. Đặc biệt, nổi lên cách đánh tập kích sâu vào lòng địch, đánh công sự mới, để lại nhiều kinh nghiệm về vận dụng các hình thức chiến thuật cho các chiến dịch sau này. Có thể nói, diễn tiến Chiến dịch Hòa Bình đã khẳng định thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật chiến dịch, là nguyên nhân quan trọng trực tiếp quyết định thắng lợi.
Sau hơn 2 tháng chiến đấu, trải qua 3 đợt tiến công (10.12.1951 - 25.2.1952), tại Mặt trận Hòa Bình, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 quân địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá hủy 12 pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 pháo và gần 800 súng các loại; giải phóng khu vực Hòa Bình - Sông Đà, giữ vững đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc và các liên khu 3, 4; đập tan âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược, mở rộng vùng chiếm đóng và lập "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp. Tại mặt trận địch hậu, quân và dân ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 quân địch, thu 6.000 súng các loại, mở rộng nhiều khu du kích và căn cứ du kích, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm, phối hợp và hỗ trợ cho mặt trận chính Hòa Bình giành thắng lợi. Sự chỉ đạo phối hợp có hiệu quả giữa hai mặt trận là yếu tố quyết định trực tiếp thắng lợi của chiến dịch1 (Bộ Quốc phòng - Cục Khoa học quân sự, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyển 1: Lịch sử quân sự, CD phiên bản 1.0, năm 2015, mục từ: Chiến dịch Hòa Bình).
Cuộc giao tranh giữa ta và địch tại Đường 9 - Nam Lào thực sự là một cuộc đấu trí, đấu lực đầy cam go, thử thách. Đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đưa quân sang vùng Nam Lào là thử thách sức mạnh cuối cùng của quân đội Sài Gòn trước khi quân Mỹ rút về nước. Thắng hay thua trong cuộc hành quân này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự tồn vong của"Học thuyết Níchxơn (R.Nixon)" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ,cũng như uy tín của Tổng thống Mỹ Níchxơn. Và, mặc dù đặt hy vọng vào cuộc hành quân, nhưng giới quân sự Mỹ không giấu được những băn khoăn: "Đối với quân đội Việt Nam cộng hòa, mặc dù trước đây họ từng tham gia nhiều cuộc hành quân tìm diệt, nhưng cuộc hành quân Lam Sơn 719 mới thực sự là cuộc đọ sức trong một cuộc chiến tranh quy ước. Về phương diện này, không ai có thể phủ nhận quân đội Sài Gòn đã có sự chuẩn bị kém hơn nhiều so với quân đội Bắc Việt Nam"1 (History of the Joint Chiefs of Staff (Willard J. Webb and Walter S. Poole), The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam 1971-1973, ...,p. 2).
Về ta, tiến hành chiến dịch phản công tường chừng như là sự bị động chống đỡ với cuộc tiến công của đối phương. Tuy nhiên, ta đã chủ động chuẩn bị trước một chiến dịch phản công quy mô lớn. Về mặt chiến lược, ta nắm chắc toàn bộ âm mưu, kế hoạch hành binh đánh ra Đường 9 - Nam Lào của địch ngay từ đầu nên đã chủ động chuẩn bị và điều địch vào phương án chọn sẵn. Về chiến dịch, ta cũng hoàn toàn chủ động nên địch không phát huy được sức mạnh các binh chủng kỹ thuật như tăng, thiết giáp, không quân, pháo binh chi viện cho bộ binh2 (Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2), 4 tiểu đoàn tăng - thiết giáp (177, 297, 397, 198), 4 trung đoàn pháo binh (368, 38,45, 84), 4 trung đoàn pháo phòng không (230, 237, 241, 491), 3 trung đoàn công binh (7, 83,219), một số tiểu đoàn đặc công của Bộ và lực lượng chiến đấu tại chỗ của Đoàn 559, Quân khu Trị - Thiên (B4), Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5). Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Cục Khoa học quân sự, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyên 1: Lịch sử quân sự, CD phiên bản 1.0, năm 2015, mục từ: Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào).
Quá trình bố trí lực lượng và tạo thế, ta đã giữ bí mật mọi ý định và chặt chẽ mọi hành động. Ta đã kết hợp chặt chẽ giữa nghi binh và kế hoạch tác chiến chiến dịch nên thế trận của ta càng kín và vững chắc, cho phép đánh vào toàn bộ đội hình hành quân tiến công của địch bằng việc sử dụng lực lượng, binh chủng thích hợp, đồng thời bảo đảm cho việc tập trung lực lượng mạnh đánh những trận then chốt quyết định, những khu vực, mục tiêu trọng điểm của chiến dịch. Đó là một thế trận sâu hiểm và kín, có khả năng phá thể của địch và điều khiển địch theo ý định của mình. Thế trận của ta ờ Đường 9 - Nam Lào là một thế trận hoàn chỉnh, tạo điều kiện phối hợp tác chiến giữa các binh chủng, có thể chuyển hóa theo sự phát triển của chiến dịch, do đó, ta luôn nắm quyền chủ động chiến trường, chủ động trong chiến đấu... Nhờ nắm quyền chủ động, bộ đội ta đã bình tĩnh tìm mọi cách phát huy các cách đánh của mình, buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta và cuối cùng, ta đã điều địch vào khu vực Bản Đông, đánh trận then chốt quyết định, giành thắng lợi cho chiến dịch1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nạm, Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971 - Tầm vóc, ý nghĩa và bài học lịch sử, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 675-676).
Sau 3 đợt tiến công, Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã giành thắng lợi giòn giã. Quân ta đã tiêu diệt 2 lữ đoàn, 1 trung đoàn và 5 tiểu đoàn bộ binh, 4 thiết đoàn tăng - thiết giáp, 8 tiểu đoàn pháo binh; đánh thiệt hại nặng 2 trung đoàn bộ binh, 1 liên đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn và 3 tiểu đoàn khác; loại khỏi vòng chiến đấu hơn 21.000 quân địch (bắt 1.142); bắn rơi, phá hủy 556 máy bay 1.138 xe quân sự, 112 pháo, cối; thu 2 máy bay trực thăng,24xe quân sự, 78 pháo, cối, 2.268 súng2 (Bộ Quốc phòng - Cục Khoa học quân sự, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyển 1: Lịch sử quân sự, CD phiên bản 1.0, năm 2015, mục từ: Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào).
Kết quả của 2 chiến dịch là minh chứng sống động khẳng định tính hiệu quả, hiệu lực của việc chỉ đạo, chỉ huy và thực hành chiến dịch; là yếu tố tiên quyết quyết định đến việc tiêu diệt nhiều sinh lực và trang bị chiến tranh của địch. Nói cách khác, thắng lợi to lớn của quân và dân ta đã thể hiện rõ nét trí tuệ và sức sáng tạo của con người Việt Nam, biết đánh và biết thắng địch bằng "thế, thời, mưu".
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #167 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2025, 07:06:33 pm » |
|
3.Tác động to lớn đến cục diện chiến tranh
Chiến dịch Hòa Bình và Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đều ở vào thời điểm quan trọng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có giá trị về mặt tác chiến chiến dịch và có ý nghĩa quan trọng chiến lược. Nếu như thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đã góp phần quan trọng làm thất bại mưu đồ của thực dân Pháp hòng củng cố phòng tuyến (hệ thống boongke), tiến công ra vùng tự do của ta và giành lại quyền chủ động thì Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào làm thất bại âm mưu của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn hòng chặn cắt, phá hủy tuyến chi viện chiến lược và hệ thống kho tàng chiến lược của ta, thực hiện mục tiêu của cuộc "chiến tranh bóp nghẹt" (đối với cách mạng miền Nam)... Sâu xa hơn là toan tính của thực dân Pháp "dùng người Việt trị người Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và của đế quốc Mỹ là "thay màu da trên xác chết", "thử nghiệm quân đội Sài Gòn" thay thế quân Mỹ trong vai trò đối đầu với Quân giải phóng miền Nam - mục tiêu chủ yếu trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh"...
Một cách cụ thể hơn, Chiến thắng Hòa Bình đã đáp ứng kịp thời yêu cầu bức thiết về mặt chiến lược của cuộc kháng chiến lúc bấy giờ phá thế giằng co giữa ta và địch, đưa cuộc kháng chiến của quân và dân ta phát triển lên một bước mới, tiếp tục giữ vững quyền chủ động chiến lược, buộc thực dân Pháp phải chuyển dần vào thế phòng ngự bị động.
Cuộc kháng chiến của ta chuyển từ hình thái chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích ở trình độ cao hơn.
Trong khi đó, Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào với quy mô sử dụng lực lượng, chiến đấu hiệp đồng binh chủng lớn nhất cuộc kháng chiến chống Mỹ tính đến thời điểm đầu năm 1971 giành thắng lợi mang ý nghĩa to lớn, tác động mạnh mẽ đến cục diện chiến trường 3 nước Đông Dương; tạo cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước một tình thế thuận lợi mới để quân và dân ta có điều kiện kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, tiếp tục phát huy quyền chủ động tiến công, giành thắng lợi mới có ý nghĩa chiến lược to lớn hơn trong năm 1972.
Đánh giá về cuộc đọ sức giữa quân ta và quân Pháp trên chiến trường Hòa Bình, nhà sử học người Pháp Bécna Phôn (Bernard Fall) cho rằng: "Chiến dịch Hòa Bình đối với quân đội Pháp cũng tổn thất về sinh mạng và trang bị nhiều không kém gì Chiến dịch Biên Giới và Chiến dịch Điện Biên Phủ sau này"1 (Bernard B. Fall, Street without Yoy, Indochina at war, 1946-54, The Stackpole Company, Harrisbarg, Pennsylvania 1961, p. 55).
Đối với Mỹ và chính quyền Sài Gòn, thất bại tại Đường 9 - Nam Lào đầu năm 1971 chỉ ra rằng "Việt Nam hóa sẽ không bao giờ thành công nếu không có một số lớn quân của Mỹ"2 (Dẫn theo: Maicơn Mắclia (Michael Maclear), Việt Nam: Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày (Vietnam: The Ten Thousand Day War), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990, tr. 193).
Như vậy, Chiến thắng Hòa Bình báo trước thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ, còn Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào thì cắm cột mốc đánh dấu chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" tất yếu sẽ bị phá sản hoàn toàn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #168 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2025, 07:11:05 pm » |
|
CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH - BƯỚC PHÁT TRIỂN CỦA NGHỆ THUẬT CHỈ HUY ĐIỀU HÀNH TÁC CHIẾN CHIẾN DỊCH Đại tá, TS PHẠM ĐÌNH BÁCH Phó Chủ nhiệm Khoa Chiến lược, Học viện Quốc phòng Nghiên cứu thực tiễn Chiến dịch tiến công Hòa Bình cho thấy: Chiến dịch phải giải quyết một loạt các vấn đề lớn, quan trọng, trong đó, vấn đề quan trọng nhất là nghệ thuật chỉ đạo, chỉ huy điều hành tác chiến chiến dịch. Đó là tổng thể các chủ trương, biện pháp của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, trực tiếp là Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Chỉ huy Chiến dịch trong việc nhận định, đánh giá tình hình, xây dựng quyết tâm, tổ chức chuẩn bị chu đáo, bố trí sử dụng lực lượng phù hợp, phối hợp hoạt động của các lực lượng giữa Mặt trận Hòa Bình và mặt trận vùng sau lưng địch chặt chẽ, chỉ huy xử lý tốt các tình huống. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tham gia chiến dịch, đánh bại các biện pháp, thủ đoạn tác chiến của địch, hoàn thành thắng lợi mục tiêu chiến dịch, cùng với những thắng lợi tại mặt trận sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1951 - 1952, phá tan âm mưu đánh chiếm vùng tự do, giành lại quyền chủ động chiến lược và chiến dịch trên chiến trường Bắc Bộ của địch. Ở bài viết này, tác giả tập trung trao đổi một số nội dung chủ yếu về "sự phát triển của nghệ thuật chỉ huy điều hành tác chiến chiến dịch" - một nhân tố giữ vai trò quyết định làm nên chiến thắng trong chiến dịch này. Sau hơn 1 năm đối phó bị động với những cuộc tiến công liên tiếp của ta trên các mặt trận kể từ sau những thất bại ở biên giới năm 1950, với âm mưu giành lại thế chủ động trên chiến trường, "từ ngày 14 đến 16 tháng 11 năm 1951, quân Pháp đã dùng 20 tiểu đoàn tinh nhuệ bộ binh và quân nhảy dù phối hợp hoạt động, tấn công chiếm đóng Hòa Bình" 1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Bộ Tổng Tham mưu, Hà Nội, 1959, tr. 13) nhằm mở rộng khu Chiếm đóng, tăng cường phòng ngự phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, bịt chặt con đường giao thông chiến lược từ Việt Bắc xuống phía Nam của ta; đồng thời, xây dựng "Xứ Mường tự trị" để thực hiện "Da vàng hóa chiến tranh", dùng các lợi ích về kinh tế chính trị để thuyết phục người dân tộc thiểu số đi lính cho Pháp. Trước những âm mưu và hành động của Pháp, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp bàn, thống nhất đề nghị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mở chiến dịch tại Hòa Bình, chuyển hướng hoạt động thụ động sang tiến công địch mới chiếm đóng; xác định Hòa Bình là hướng chính, các nơi khác là hướng phối hợp. Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tổng Quân ủy họp bàn và nhất trí với đề nghị của Tổng Quân ủy, quyết định mở một cuộc tiến công lớn đánh địch trên cả hai mặt trận: "Tập trung chủ lực ở hướng chính là Hòa Bình và mạnh bạo đưa một bộ phận chủ lực vào trong địch hậu đồng bằng Bắc Bộ nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tiến tới phá tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình, đẩy mạnh chiến tranh du kích"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 9). Chiến dịch diễn ra qua 3 đợt tác chiến: Đợt 1 (10 - 26.12.1951), đợt 2 (27 - 31.12.1951), đợt 3 (7.1 - 25.2.1952). Sau gần 3 tháng chiến đấu liên tục, ta đã phá tan kế hoạch chiếm đóngHòa Bình của địch, giải phóng khu vực Hòa Bình, sông Đà, phá tan ý định giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ của địch, đảm bảo đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc và Liên khu 3, Liên khu 4. Đồng thời, đánh dấu bước phát triển của nghệ thuật chỉ huy điều hành tác chiến chiến dịch, thể hiện trên một số nét chính sau: Một là, bước phát triển về tổ chức chỉ huy và nghệ thuật tạo lập thế trận tác chiến chiến dịch Trước khi diễn ra Chiến dịch Hòa Bình, quân và dân ta đã tiến hành một số chiến dịch với các quy mô khác nhau, trên nhiều chiến trường. Các chiến dịch chủ yếu do bộ tư lệnh khu và liên khu đảm nhiệm, tổ chức lãnh đạo, chỉ huy điều hành tác chiến chiến dịch từng bước phát triển, đến Chiến dịch Biên Giới năm 1950 đã phát triển lên một bước cao hơn, cơ cấu tổ chức chỉ huy tương đối hoàn chỉnh, có Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch; tuy nhiên, về quy mô chỉ huy điều hành tác chiến mới chỉ giới hạn trên một hướng, một khu vực nhất định. Trong Chiến dịch Hòa Bình, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy đã sớm thành lập Bộ Chỉ huy Chiến dịch và trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo. Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch gồm: Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch; đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị, Phó Bí thư; đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng. Việc chỉ huy điều hành tác chiến không chỉ giới hạn trên một khu vực (hướng) chiến trường mà đã mở rộng trên một quy mô rộng lớn hầu hết chiến trường Bắc Bộ và có sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ với các lực lượng và nhân dân, huy động được mọi khả năng về sức người, sức của đáp ứng đủ, cung cấp kịp thời cho chiến dịch. Chính nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy điều hành tập trung, thống nhất mà ta đã có những nhận định, đánh giá đúng tình hình về địch, về ta, hạ quyết tâm, tổ chức chuẩn bị, tạo lập thế trận và nắm bắt đúng thời cơ, chỉ huy điều hành các lực lượng tiến công tiêu diệt địch, thực hiện thắng lợi mục đích chiến dịch. Tạo lập thế trận là một trong những nội dung cơ bản góp phần quyết định tới việc thực hiện thành công phương pháp tác chiến chiến dịch. Thực tiễn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trước khi diễn ra Chiến dịch Hòa Bình, ta đã tiến hành một số chiến dịch; việc chỉ huy điều hành hoạt động tạo lập thế trận cho các chiến dịch cũng đã được thực hiện tốt. Tuy nhiên, hầu hết các chiến dịch đều được dự kiến và có kế hoạch từ trước nên có nhiều thời gian chuẩn bị cho tạo lập thế trận. Chiến dịch Hòa Bình đã đánh dấu một bước phát triển cao hơn các chiến dịch trước đó về nghệ thuật chỉ huy điều hành hoạt động tạo lập thế trận. Mặc dù không được xây dựng kế hoạch từ trước, khi địch đánh ra Hòa Bình, ta mới hạ quyết tâm mở chiến dịch, tổ chức mở chiến dịch trong điều kiện chưa có chuẩn bị, phạm vi chiến trường rộng. "Khi trên quyết định mở chiến dịch thì Bộ Tổng Tham mưu mới bắt tay vào làm mọi công tác chuẩn bị. Mọi việc phải tiến hành gấp rút vừa điều tra trinh sát bám địch, vừa chuẩn bị chiến trường, vừa điều động bộ đội, vừa tổ chức chỉ huy sở tiền phương, vừa dự kiến bố trí lực lượng, bố trí kho tàng, lương thực, đạn dược, vừa dự kiến kế hoạch tác chiến" 1 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 414). Chúng ta không có thời gian chủ động chuẩn bị trước, mọi công tác chuẩn bị phải chạy đua với thời gian, khối lượng cung cấp lớn, đường giao thông bị gián đoạn, nhưng do biết tận dụng được khả năng của các địa phương, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng và nhân dân cùng tham gia nên mọi công tác chuẩn bị vẫn được Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ huy điều hành bảo đảm chu đáo, toàn diện. Hoạt động tạo lập thế trận tác chiến chiến dịch phải tiến hành trong điều kiện thời gian gấp, tiềm lực quân sự còn nhiều hạn chế, nhưng do ta có chủ trương đúng nên quá trình lập thế trận đã tổ chức các hoạt động tác chiến tạo thế và bố trí triển khai lực lượng hợp lý. Ngay trong khi chờ đợi trên quyết định cho mở chiến dịch, Bộ Tổng Tham mưu đã lệnh cho Đại đoàn 312 cơ động xuống gần Hòa Bình bảo vệ căn cứ tiếp tế, bảo vệ đường vận chuyển, điều Trung đoàn 209 cơ động bám sát địch, tác chiến tiêu diệt địch, giúp địa phương phân tán kho tàng. Đồng thời, chỉ thị cho Liên khu Việt Bắc và Liên khu 3 lợi dụng địch sơ hở, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tích cực hoạt động tác chiến tạo thế. Sau khi có chỉ thị của trên, Bộ Tổng Tham mưu bắt tay ngay vào xây dựng kế hoạch tác chiến, triển khai cơ động lực lượng và bố trí các đại đoàn 308, 312, 304 trên hướng chủ yếu Hòa Bình; ở đồng bằng Bắc Bộ, ta bố trí các đại đoàn 320, 316 cùng với lực lượng vũ trang tại chỗ đẩy mạnh chiến tranh du kích, tranh thủ tiêu diệt sinh lực và phá vỡ hệ thống phòng ngự địch, mở rộng vùng giải phóng, biển hậu phương của địch thành tiền phương của ta. Đồng thời, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các chiến trường từ Bình - Trị - Thiên trở vào Nam Bộ đẩy mạnh hoạt động tác chiến để phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ; tổ chức hiệp đồng tác chiến chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau gây cho địch nhiều thiệt hại, buộc chúng phải kéo bớt lực lượng cơ động về đối phó với ta ở đồng bằng, tạo điều kiện cho tác chiến giành thắng lợi quyết định trên hướng chủ yếu Hoà Bình. Đây là một bước phát triển rất quan trọng về nghệ thuật chỉ huy điều hành hoạt động tạo lập thế trận tác chiến chiến dịch của chiến tranh nhân dân Việt Nam.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #169 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2025, 07:12:50 pm » |
|
Hai là, bước phát triển về nghệ thuật chỉ huy điều hành tác chiến mở đầu chiến dịch
Mở đầu chiến dịch là giai đoạn rất quan trọng, có ý nghĩa nền tảng cho toàn bộ chiến dịch, nếu mở đầu thắng lợi có thể sẽ phá vỡ thế trận chiến dịch, chiến lược của địch, tạo ra đột biến về chiến lược ngay từ đầu. Để mở đầu thắng lợi, cần lựa chọn mục tiêu mở đầu hiểm yếu, có tác động lớn đến toàn bộ quá trình tác chiến chiến dịch; tích cực tạo thế, tạo thời cơ và lựa chọn phương pháp mở đầu hợp lý; thường xuyên nắm chắc tình hình địch chỉ huy tập trung, kiên quyết, linh hoạt, hiệp đồng chặt chẽ, bảo đảm chu đáo. Trong đó, cần tập trung chỉ huy lực lượng tác chiến phù hợp, đủ sức, tạo ưu thế sức mạnh càn thiết, bảo đảm mở đầu chắc thắng. Thực tiễn, ngay từ đầu trước khi mở đầu Chiến dịch Hòa Bình, thực hiện chỉ thị của Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu đã tổ chức nắm vững tình hình địch ở Bắc Bộ, đặc biệt trên Mặt trận Sông Đà; trong trận đánh mở đầu chiến dịch, tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ và các mục tiêu tuyến phòng ngự Sông Đà của địch Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã rất sâu sát, điều hành tác chiến linh hoạt, sáng tạo, xử lý tốt các tình huống chỉ huy đánh trận then chốt mở đầu thắng lợi; đồng thời, chỉ huy điều hành một số đơn vị chủ lực của Đại đoàn 320, Đại đoàn 316 tiến sâu vào sau lưng địch phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương tiến công tiêu hao sinh lực địch. Thắng lợi ở Tu Vũ mở ra khả năng 1 trung đoàn bộ binh của ta hoàn toàn có đủ khả năng đánh thắng 1 tiểu đoàn Pháp có xe tăng, thiết giáp phòng ngự cứ điểm có công sự vững chắc với hỏa lực pháo binh chi viện mạnh. Đây cũng là trận đánh cung cấp kinh nghiệm quý về chiến thuật công kiên và nghệ thuật chỉ huy điều hành đánh trận then chổt mở màn chiến dịch lớn.
Mở đầu Chiến dịch tiến công Hòa Bình trong điều kiện nhiều khó khăn, tiềm lực quân sự còn nhiều hạn chế, nhưng do ta có chủ trương đúng, chỉ huy điều hành tác chiến tập trung, thống nhất nên mở đầu đã giành được thắng lợi ngoài dự kiến, để lại nhiều bài học co giá trị về công tác chỉ đạo, chỉ huy điều hành tác chiến của Bộ Tổng Tư lệnh vừa kịp thời, vừa cụ thể; ta đã lựa chọn hướng, mục tiêu, phương pháp mở đầu chính xác. Quá trình mở đầu đã tổ chức sử dụng lực lượng hợp lý, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân địa phương, phát triển phong phú và sáng tạo các hình thức tác chiến. Chiến tranh chính quy kết hợp chặt chẽ với chiến tranh du kích, các hoạt động tác chiến nhỏ lẻ rộng khắp kết hợp chặt chẽ vớitiến công đánh chiếm mục tiêu hiểm yếu đầu tiên. Giữa các chiến trường (chiến trường chính Bắc Bộ và các chiến trường phối hợp Trị - Thiên, Liên khu 5, Nam Bộ), các mặt trận (mặt trận chính Hoà Bình và mặt trận phối hợp vùng địch hậu ở đồng bằng Bắc Bộ của chiến trường chính Bắc Bộ) đã phối hợp hiệp đồng gắn bó, hỗ trợ được cho nhau, nhất là đồng bằng Bắc Bộ, đã gây cho địch nhiều thiệt hại, buộc chúng phải kéo bớt lực lượng cơ động về đối phó ở đồng bằng, tạo điều kiện cho Mặt trận Hoà Bình giành thắng lợi quyết định ở các đợt tiếp sau. Đây là một bước phát triển rất quan trọng về nghệ thuật chỉ huy điều hành mở đầu tác chiến chiến dịch của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Ba là, bước phát triển mới về nghệ thuật chỉ huy điều hành tác chiến phối hợp chặt chẽ giữa mặt trận chỉnh diện và mặt trận sau lưng địch, liên tục tiến công tiêu diệt địch
Trước Chiến dịch Hòa Bình, ta thường chỉ huy điều hành tác chiến đánh địch trên một hướng, sự phối hợp các hướng khác không chặt chẽ. Chiến dịch tiến công Hòa Bình, ta đánh địch ở nhiều hướng trên khắp chiến trường Bắc Bộ, phạm vi chiến dịch rộng lớn, có sự phối hợp chặt chẽ giữa mặt trận chính diện với các hướng trung du, hữu ngạn, tả ngạn, dưới sự chỉ huy điều hành tác chiến thống nhất trên toàn chiến trường Bắc Bộ. Trong các chiến dịch trước đó, ta cũng phối hợp nội ngoại tuyến, song lực lượng tác chiến sau lưng địch thường chỉ là lực lượng vũ trang địa phương, nếu bộ đội chủ lực có vào thì cũng chỉ vào một bộ phận nhỏ và vào trong thời gian ngắn, vì vậy thế phối hợp nội ngoại tuyến về chiến dịch của ta thường yếu. Đánh ra Hòa Bình, địch đã gây cho ta nhiều khó khăn, chúng đã chiếm được một số vị trí chiến lược quan trọng, đường giao thông trọng yếu, cắt đứt liên lạc của ta giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và miền Nam, nhưng cũng tạo ra nhiều sơ hở ở chính diện và nhất là ở trong vùng địch hậu. Do đó, Bộ Tổng Tư lệnh có điều kiện thực hiện đầy đủ nhất ý định của trên là chỉ huy điều hành tác chiến đánh địch trên hai mặt trận chính diện và vùng địch hậu bằng hai phương thức tác chiến kết hợp với nhau chặt chẽ là chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích.
Ngay từ đầu chiến dịch, một mặt Bộ Tổng Tư lệnh đã cho chuẩn bị tác chiến ở chính diện, một mặt ra chỉ thị phát triển chiến tranh du kích, đưa chủ lực vào địch hậu. Trên mặt trận chính diện, ta tập trung lực lượng chủ lực tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, Núi Chẹ - các trọng điểm án ngữ con đường vận chuyển huyết mạch trên sông Đà - kết hợp với đánh địch từ nhiều hướng. Do sợ mất 2 cứ điểm này, địch buộc phải điều quân từ phía sau lên, tạo điều kiện cho ta tiếp tục tiêu diệt địch ứng cứu. Chớp thời cơ, mặt trận phía sau lưng địch đẩy mạnh hoạt động tác chiến ở Phát Diệm, Hà Nam và một số địa phương đồng bằng Bắc Bộ, diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng đất đai, cùng với bộ đội địa phương, dân quân du kích đẩy mạnh phong trào cách mạng. Trong chỉ huy điều hành tác chiến, ta đã chỉ huy phối hợp chặt chẽ hai mặt trận; lúc chỉ huy bộ đội tiến công tiêu diệt địch ở Tu Vũ thì ở địch hậu ta đưa lực lượng tấn công Phát Diệm; lúc địch tập trung ở chính diện, thì ta điều chủ lực tiến mạnh sang tả ngạn, buộc địch phải điều 2 trung đoàn ở chính diện về đối phó; lúc địch từ Hòa Bình rút quân về đối phó với ta trong địch hậu thì ta chủ trương kiềm chế giữ địch ở Hòa Bình, còn địch hậu thì tiếp tục hoạt động mạnh, đồng thời chuẩn bị chống càn quét. Như vậy, sự chỉ huy phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp trong hoạt động tác chiến của các lực lượng ở mặt trận chính diện với các lực lượng mặt trận sau lưng địch khiến chúng bị động buộc phải điều lực lượng cơ động giữa hai chiến trường, không phát huy được hiệu quả của vũ khí, bị tổn thất lớn, mất thế chủ động, chấp nhận "một thất bại kép" trên cả hai chiến trường.
Đây là bước phát triển mới về nghệ thuật chỉ huy điều hành tác chiến chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Mặc dù các chiến dịch trước đó, ta cũng có sự chỉ đạo phối hợp giữa nội tuyến và ngoại tuyến, song chưa nhịp nhàng, ăn khớp ở phạm vi chiến dịch và từng trận đánh, vì thế chưa đạt được mục tiêu làm đảo lộn thế trận của địch. Trong chỉ huy điều hành tác chiến Chiến dịch Hòa Bình, ta đã chỉ huy lực lượng chủ lực phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương tạo sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi.
Về nghệ thuật chỉ huy điều hành các lực lượng liên tục chiến đấu, tiến công tiêu diệt địch cũng có bước phát triển quan trọng. Từ Chiến dịch Biên Giới năm 1950, ta đã xây dựng các phương án liên tục chiến đấu. Trong các chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, ta thực hiện chỉ huy các lực lượng tiến công liên tục mấy trận trong thời gian ngắn. Chiến dịch Hòa Bình, ta đã tiến hành đánh liên tiếp nhiều trận trong thời gian ngắn rồi tạm dừng để củng cố và chấn chỉnh, rồi lại đánh tiếp..., liên tục tiến công địch trong một thời gian tương đối dài "trước đây, địch tường ta chỉ có thể tác chiến trong một thời gian ngắn, lần này nhiều lúc địch cho là ta đã kết thúc chiến dịch, nhưng rồi lại thấy ta hoạt động, chúng bị bất ngờ vì sự chiến đấu dẻo dai bền bỉ của ta"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Sđd, tr. 107).
Để chỉ huy bộ đội thực hiện "liên tục chiến đấu", Bộ Tổng Tư lệnh đã rất linh hoạt trong chỉ huy điều hành tác chiến, không sử dụng toàn bộ lực lượng ngay một lúc mà sử dụng lần lượt từng đơn vị, để các đơn vị có thể thay nhau tác chiến và nghỉ ngơi chấn chỉnh, lúc thì thay đổi từng đại đoàn, lúc thì thay đổi từng trung đoàn; trong địch hậu, khi bộ đội chủ lực nghỉ thì bộ đội địa phương hoạt động. Thực tế trong quá trình diễn ra chiến dịch, "các trung đoàn 88, 209 đánh địch trong đợt 1, sau đó được nghi ngơi, chấn chỉnh, thay bằng các trung đoàn 102, 141 và 165 đánh địch trong đợt 2, do vậy đến đợt 3 các trung đoàn 88, 209 lại có thể tiếp tục tham chiến được"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Sđd, tr. 51). Đồng thời, Bộ Tổng Tư lệnh rất chú trọng chỉ đạo công tác bảo đảm, chấn chỉnh tổ chức, chuẩn bị kế hoạch tuyển mộ tân binh và các trang bị vũ khí, khí tài sẵn sàng bổ sung cho chiến dịch để bảo đảm cho bộ đội liên tục chiến đấu...
Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là thành công của Đảng ta trong chỉ đạo tác chiến chiến dịch và đưa Quân đội ta có bước tiến mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chỉ huy điều hành chiến đấu liên tục dài ngày trên hai mặt trận rộng lớn và phức tạp; tạo ra cơ hội cho các chiến trường khác đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển lực lượng kháng chiến, mở rộng thêm nhiều vùng căn cứ làm cho cục diện chiến trường thay đổi ngày càng có lợi cho ta, góp phần giành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đồng thời, để lại cho chúng ta những bài học quý về nghệ thuật quân sự, cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai.
Tuy nhiên, trong điều kiện tác chiến mới hiện nay, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra) sẽ có những phát triển mới cả về ta, về địch. Để chỉ huy điều hành tác chiến chiến dịch (chiến lược) có hiệu quả cần chuẩn bị chu đáo, tiến hành chiến dịch đúng thời cơ có lợi, luôn nắm chắc tình hình, xử lý có hiệu quả các tình huống chiến dịch, chiến lược. Trong các thời điểm quan trọng, cần có các quyết định chính xác và quyết đoán, phát triển thế và lực của ta, hạn chế chỗ mạnh, đánh vào chỗ yếu của địch, thúc đẩy tác chiến chiến dịch, chiến lược phát triển theo hướng càng đánh càng mạnh. Bên cạnh đó, cần kết hợp chặt chẽ với các hoạt động tác chiến khác, như: Tác chiến của khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, tác chiến phòng thủ quân khu, tác chiến của các chiến trường phối hợp, cũng như các hoạt động đấu tranh chính trị, kinh tế, ngoại giao tạo sức mạnh tổng hợp, giành thắng lợi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|