Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:50:05 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng  (Đọc 45652 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #180 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2025, 09:00:17 pm »

PHỐI HỢP GIỮA MẶT TRẬN CHÍNH DIỆN HÒA BÌNH VỚI MẶT TRẬN SAU LƯNG ĐỊCH BÀI HỌC VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP GIÀNH THẮNG LỢI

Thiếu tướng, TS ĐỖ HỒNG LÂM
Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân


Sau một thời gian tiến hành "chiến tranh tổng lực" cao độ tại chiến trường Việt Nam, với những kết quả đã giành được, Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương cho rằng "cán cân đã nghiêng về Pháp" và đã đến lúc Pháp phải từ bỏ thái độ phòng ngự, chuyển sang thế tiến công. Theo đó, tháng 11 năm 1951, quân Pháp tập trung phần lớn lực lượng, phương tiện "đánh đòn quyết định" ở Mặt trận Hòa Bình. Giành thắng lợi, quân Pháp mở rộng khu vực chiếm đóng, tăng cường phòng ngự khu vực phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, giảm nhẹ sự cô lập của Tây Bắc, đồng thời uy hiếp vùng tự do của ta ở Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hóa... và ngăn chặn, cắt đứt đường liên lạc, vận chuyển giữa Liên khu 3 với Việt Bắc. Ngoài ra, việc chọn Hòa Bình làm chiến trường một cách có chủ định, quân Pháp hy vọng sẽ phá hỏng sự chuẩn bị và "nghiền nát" chủ lực đối phương, ổn định ngụy quân, ngụy quyền, làm yên lòng chính phủ Pháp, đồng thời xây dựng "xứ Mường tự trị", từ đó chia rẽ tình đoàn kết giữa các dân tộc, tạo thế, tạo bàn đạp tiến công Tây Bắc.


Sau khi đánh chiếm được Hòa Bình, quân Pháp tập trung binh lực, hỏa lực xây dựng khu vực này thành cụm cứ điểm mạnh, gồm 2 phân khu: Sông Đà - Ba Vì và Hòa Bình - Đường số 6 - một hình thức tổ chức chiếm đóng quy mô tương đối lớn, lần đầu xuất hiện ở chiến trường Đông Dương. Nghiên cứu tình hình địch, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: Việc quân địch tổ chức tiến công và chiếm đóng tại Hòa Bình khiến chúng phải phân tán lực lượng cơ động, lực lượng tinh nhuệ trên một mặt trận rộng lớn, khu vực có địa hình đột xuất, núi rừng hiểm trở, giao thông không thuận lợi, công sự, trận địa phòng ngự chưa được chuẩn bị, củng cố vững chắc. Mặc dù gây cho ta nhiều khó khăn nhưng đây cũng là một cơ hội hiểm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Chính vì vậy, theo đề nghị của Tổng Quân ủy, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương mở cuộc tiến công lớn, đánh địch trên hướng chính là Hòa Bình và đưa các đơn vị chủ lực vào hoạt động ở mặt trận sau lưng địch nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực chủ yếu của chúng, tiến tới đánh bại kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình. Quyết định trên thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình nhận định, đánh giá, phân tích tình hình, so sánh tương quan lực lượng, đồng thời thể hiện tư tưởng tiến công, khả năng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân và lực lượng vũ trang ba thứ quân cũng như nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân độc đáo, sáng tạo.


Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 12 năm 1951, Chiến dịch Hòa Bình mở màn với hướng tiến công chủ yếu là cụm cứ điểm Tu Vũ - núi Chẹ. Bộ Tổng Tư lệnh đã sử dụng Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 102) ở bên tả ngạn sông Đà tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh địch chi viện trên sông Đà từ Tu Vũ đến thị xã Hòa Bình; Đại đoàn 312 ở bên hữu ngạn sông Đà tiêu diệt cứ điểm núi Chẹ, đánh địch chi viện đường bộ từ Sơn Tây đi Đá Chông và từ Đá Chông đến núi Chẹ; Đại đoàn 304 ở hướng thứ yếu của chiến dịch làm nhiệm vụ kiềm chế mọi hoạt động của địch ở thị xã Hòa Bình và đánh địch trên Đường số 6; Trung đoàn 102 là lực lượng dự bị của chiến dịch. Cùng với việc tập trung lực lượng, phương tiện tiến công địch trên mặt trận chính diện, tại mặt trận sau lưng địch, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho Đại đoàn 316 (được tăng cường Trung đoàn 246) phối hợp với bộ đội địa phương và lực lượng dân quân Bắc Ninh, Bắc Giang đẩy mạnh chiến tranh du kích, mở rộng căn cứ; Đại đoàn 320 phối hợp với chủ lực Liên khu 3, các trung đoàn 42, 46 bộ đội địa phương và dân quân du kích giúp các huyện Duy Tiên Bình Lục, Lý Nhân (Hà Nam), Kim Sơn, Phát Diệm (Ninh Bình) củng cố lực lượng, chống càn, bảo vệ và xây dựng cơ sở chính trị.


Quán triệt phương châm đánh điểm, diệt viện, kết hợp chặt chẽ đánh công kiên với đánh phục kích giao thông tiêu diệt quân viện, vận dụng linh hoạt chiến thuật đánh vận động, tiêu diệt từng bộ phận quân địch càn quét, sục sạo, quân dù và quân ứng cứu giải tỏa, các đơn vị tham gia chiến dịch đã làm tốt công tác chuẩn bị về lực lượng, phương tiện, chủ động xây dựng phương án, kế hoạch, xác định quyết tâm, sẵn sàng đánh địch. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng, trực tiếp là Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, sau hơn nửa tháng chiến đấu mưu trí, dũng cảm, kiên cường, ta đã kết thúc thắng lợi đợt 1 chiến dịch, làm chủ cứ điểm Tu Vũ, phá sản kế hoạch càn quét của địch ở Ba Vì, uy hiếp mạnh Đường số 6, cắt đứt phòng tuyến Sông Đà. Cùng với đó, trên mặt trận sau lưng địch, các đại đoàn chủ lực phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương tiến công địch rộng khắp và giành thắng lợi lớn, buộc quân địch phải điều quân từ mặt trận chính diện về đối phó. Tuy nhiên, khi ta uy hiếp mạnh ở Hòa Bình, chúng buộc phải bỏ dở các cuộc càn, điều lại quân ứng cứu cho sông Đà, Ba Vì, điều đó thể hiện sự lúng túng, bị động của quânđịch. Thắng lợi của các trận đánh tại cứ điểm Tu Vũ, sông Đà cùng với thắng lợi ở Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình khẳng định sự chỉ đạo đánh địch của Trung ương trên mặt trận chính diện và vùng sau lưng địch là sáng suốt và đạt hiệu quả cao.


Triệt để tranh thủ sự lúng túng, bị động, giằng xé trong điều động lực lượng của quân địch, bước vào đợt 2 và đợt 3 của chiến dịch, Trung ương Đảng cùng Tổng Quân ủy chủ trương đẩy mạnh các hoạt động quấy rối, đánh điểm nhỏ, diệt viện nhỏ, phá giao thông, chặn tiếp tế của địch; đồng thời lợi dụng sự sơ hở, phân tán trong bố trí lực lượng, phương tiện của địch để tổ chức tiêu diệt một bộ phận sinh lực chủ yếu và khống chế đường vận chuyển trên sông Đà, bám sát, vây chặt quân địch trong các cứ điểm ở Hòa Bình. Theo đó, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo Đại đoàn 308 tiến hành đánh địch ở Đá Chông, Ba Vì, diệt quân viện trên sông Đà và Đường số 87; Đại đoàn 312 diệt địch ở cứ điểm 600, núi Chẹ đánh quân viện trên đường Mỹ Khê - Ba Vì; Đại đoàn 304 tiếp tục hoạt động trên Đường số 6. Ở vùng sau lưng địch, các đại đoàn 316,320 tiếp tục phối hợp với các lực lượng dân quân du kích giúp địa phương củng cố và bảo vệ cơ sở chính trị. Phát huy thắng lợi, các đại đoàn chủ lực trên mặt trận chính diện chủ động, sáng tạo, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến đấu, tiến hành bao vây, cô lập cụm cứ điểm Hòa Bình, chặn cắt các trục đường giao thông thủy, bộ và tiêu diệt quân viện đã khiến tinh thần chiến đấu của quân địch sa sút.


Cùng với đó, ở vùng sau lưng địch, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân phát triển mạnh mẽ, lực lượng vũ trang, bán vũ trang, cơ sở chính trị được củng cố và mở rộng làm cho tình thế, cục diện thay đổi theo chiều hướng có lợi cho ta. Nhận thấy cụm cứ điểm trên mặt trận chính diện Hòa Bình gặp khó khăn trong tiếp tế, chi viện; các vị trí chiếm đóng trên trục Đường số 6 liên tục bị chia cắt và tấn công; ở vùng đồng bằng Bắc Bộ có "những khoảng trống lớn" do lực lượng cơ động tăng cường cho mặt trận chính diện nên trung tuần tháng 2 năm 1952, quân địch đã quyết định thực hiện Kế hoạch "Cầu vồng", rút quân khỏi cụm cứ điểm Hòa Bình. Dưới sự yểm trợ của không quân, pháo binh, ngày 25 tháng 2 năm 1952, quân địch rút toàn bộ lực lượng, phương tiện khỏi Hòa Bình, kết thúc cuộc hành quân chiếm đóng tại nơi đây.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #181 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2025, 09:02:34 pm »

Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Quân ủy trong nhận định đánh giá tình hình, xác định phương thức, phương châm đánh địch; sự thành công trong chỉ đạo đánh địch trên 2 hướng chiến lược là mặt trận chính diện và vùng sau lưng địch; minh chứng sự phát triển lớn mạnh của các đại đoàn chủ lực; sự phối hợp hiệu quả giữa hoạt động tác chiến với công tác dân vận, địch vận. Đồng thời, thắng lợi còn có ý nghĩa chiến lược quan trọng cả về chính trị và quân sự, làm phá sản âm mưu chia rẽ tình đoàn kết giữa đồng bào các dân tộc và chính sách dùng người Việt đánh người Việt của địch, đẩy chúng vào thế bị động, lúng túng, tạo ra thế trận mới trong chiến cục Đông - Xuân 1951 - 1952.


Hiện nay, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường. Trong nước, cùng với những thời cơ, thuận lợi, đất nước ta cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh chống phá Đảng và Nhà nước ta bằng những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt. Thách thức an ninh phi truyền thống, đặc biệt là đại dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân, gây ra nhiều hệ lụy, nhiều khó khăn mới cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa "từ sớm, từ xa", bằng các biện pháp hòa bình, đồng thời tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả phương châm: "Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đào, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 48) mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định, gắn với giữ gìn và phát huy truyền thống chống giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với Quân đội trong thực hành tác chiến chiến dịch

Thực tiễn thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình cho thấy, trong thời điểm khó khăn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Trung ương Đảng mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định, phân tích, đánh giá đúng tình hình các mặt, tương quan lực lượng. Theo đó, trên cơ sở báo cáo, đề xuất của Tổng Quân ủy, ngày 24 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 22-CT/TƯ "về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Việc ban hành Chỉ thị khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nói riêng, đồng thời thể hiện tư duy nhạy bén, sáng tạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi khi quân địch chọn Hòa Bình để chiếm đóng, chúng sẽ tập trung bố trí binh lực, hỏa lực, phi cơ, pháo binh trên tuyến phòng ngự chủ yếu và hình thành cụm cứ điểm liên hoàn. Song, địch cũng sẽ bị phân tán lực lượng, phương tiện trên mặt trận chính diện và các nơi khác. Chúng có thể gây cho ta những khó khăn nhất định, nhưng đó cũng là một cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch.


Có thể khẳng định, việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với Quân đội trong thực hành tác chiến chiến dịch, chiến lược là bài học kinh nghiệm có giá trị cả về lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Vì vậy, các cấp, các ngành, các lực lượng cần chủ động, nhạy bén, nắm, dự báo sớm, đánh giá đúng tình hình, làm cơ sở để Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tham mưu đề xuất với Đảng, Nhà nước ban hành những đối sách chiến lược, cách xử lý các tình huống về quốc phòng, an ninh linh hoạt, sáng tạo, không để bị động, bất ngờ. Cùng với đó, theo thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ, các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương tích cực tham mưu cho Đảng, Nhà nước các chủ trương, xem xét quyết định, sửa đổi, ban hành một số luật, văn bản quy phạm pháp luật nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về lĩnh vực quân sự, quốc phòng như: Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Quản lý các công trình quốc phòng, Luật Động viên công nghiệp quốc phòng..., tạo cơ sở, hành lang pháp lý vững chắc trong thực hiện sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang. Ngoài ra, phải tích cực thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới nhằm phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, chuẩn bị các tiềm lực quốc gia đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển kinh tế xã hội, tạo điều kiện để thực thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước.


Hai là, coi trọng công tác giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cho bộ đội

Thực tiễn trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc đã chứng minh có nhiều yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp, làm nên thắng lợi vẻ vang, song qua thực tế chiến đấu và công tác, yếu tố quan trọng nhất để làm nên chiến thắng chính là "Sức mạnh chính trị, tinh thần". Sức mạnh đó được kết tinh trong mỗi cán bộ, chiến sĩ, là động lực thôi thúc họ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, không quản ngại hy sinh, mưu trí, dũng cảm, tạo nên những chiến công chói lọi. Trong Chiến dịch Hòa Bình, để cổ vũ động viên tinh thần, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho cán bộ, chiến sĩ của các đơn vị chủ lực và dân quân du kích: "Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242). Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cũng ra huấn lệnh, kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương: "Tìm địch mà đánh, diệt các cứ điểm mới đóng của địch, diệt các đội càn quét của chúng, cắt đường giao thông liên lạc của chúng, biến sông Đà thành sông Lô năm xưa, Đường số 6 thành Đường số 4, tiêu diệt sinh lực địch, phá tan âm mưu chiếm đóng Hòa Bình"2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, Hà Nội, 1963, tr. 73). Đây chính là minh chứng sinh động, bài học kinh nghiệm quý trong công tác giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.


Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, chúng ta cần tập trung giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoạt động nhằm giác ngộ mục tiêu, lý tưởng, lòng yêu nước, danh dự và khát khao cống hiến cho Tổ quốc; chuyển hóa mục tiêu, lý tưởng thành suy nghĩ và hành động, thành niềm tin chiến thắng trước những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù; nhận thức rõ đối tác, đối tượng, xử lý hài hòa những diễn biến, tình huống phức tạp,những thông tin sai trái, bịa đặt, xuyên tạc, giữ vững lập trường, quan điểm, đổi sách. Tích cực đấu tranh làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; củng cố vững chắc trận địa tư tưởng, xứng đáng với phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới. Để công tác giáo dục chính trị đạt kết quả cao, chúng ta phải tiến hành với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, đặc biệt phải coi trọng việc nêu gương những cán bộ, chiến sĩ dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #182 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2025, 09:03:41 pm »

Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng "thế trận lòng dân " vững mạnh

Hiện nay, bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa" đặt ra nhiều yêu cầu mới cao hơn, do đó, vận dụng bài học kinh nghiệm trong Chiến dịch Hòa Bình về phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng "thế trận lòng dân" vững mạnh có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Theo đó, chúng ta cần đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân, "thế trận lòng dân", từ đó làm chuyển biến tư tưởng và hành động trong việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là các chủ trương, chính sách về xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, "thế trận lòng dân" vững chắc. Trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có cả những thuận lợi và khó khăn; các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh các hoạt động chống phá bằng những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, vì vậy chúng ta càng phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục để nhân dân thấy rõ thời cơ và thách thức đang đặt ra đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, củng cố "thế trận lòng dân" nói riêng; phải làm cho ý Đảng về "thế trận lòng dân" thấm sâu vào mỗi người, trở thành tư tưởng chủ đạo trong xây dựng "thế trận lòng dân" thời kỳ mới.


Cùng với đó, tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, gắn với tự tu dưỡng, rèn luyện của đội ngũ cán bộ, đảng viên với coi trọng công tác quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, gắn học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình làm cho từng tổ chức đảng và đảng viên thực sự trong sạch, vững mạnh, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức lãnh đạo xây dựng "thế trận lòng dân". Tích cực củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, xây dựng "thế trận lòng dân" làm nền tảng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Bốn là, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ

Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Theo đó, phát huy kinh nghiệm xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang địa phương trong Chiến dịch Hòa Bình, các bộ, ban, ngành Trung ương và các địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững chắc, trong đó cần tập trung thực hiện có hiệu quả các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ đã được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia và các quy định của Luật Quốc phòng... Trên cơ sở đó, xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, bộ, ban, ngành Trung ương, bảo đảm cho các quyết sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng, củng cố quốc phòng được thực hiện với quyết tâm cao, đạt hiệu quả thiết thực. Cùng với đó, các bộ, ban, ngành Trung ương, các địa phương, nòng cốt là Bộ Quốc phòng cần chủ động nắm chắc tình hình, phân tích, nhận định, đánh giá và dự báo đúng các tình huống phức tạp có thể xảy ra, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước những kế sách, chiến lược nhằm ngăn ngừa, loại bỏ các nguy cơ xung đột, chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; không để bị động, bất ngờ.


Tập trung xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có cơ cấu, số lượng hợp lý, với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu; nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu từ cơ sở bảo đảm cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ tinh thông về nghiệp vụ, giỏi chuyên môn, làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, có khả năng hiệp đồng chiến đấu cao; dũng cảm, mưu trí, ứng phó linh hoạt, xử lý thắng lợi các tình huống tác chiến. Bên cạnh đó, phải kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm, vai trò của từng cán bộ, chiến sĩ trong từng nhiệm vụ, hoạt động công tác. Xây dựng các tổ chức đảng trong Quân đội thực sự trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu đủ sức lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, các tỉnh, thành phố cần quan tâm xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh vững chắc, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh toàn diện, có chất lượng và sức mạnh tổng hợp ngày càng cao, thực sự là lực lượng nòng cốt, là công cụ sắc bén bảo vệ cấp ủy, chính quyền và nhân dân từ địa phương, cơ sở và đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.


Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Hòa Bình là dịp để chúng ta ôn lại truyền thống lịch sử vẻ vang, hào hùng của dân tộc và Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây cũng là dịp để cán bộ, chiến sĩ Quân đội nói riêng, lực lượng vũ trang cả nước nói chung tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu, xứng đáng là lực lượng nòng cốt cùng toàn Đảng, toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #183 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2025, 09:16:41 pm »

CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH BÀI HỌC VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

Thiếu tướng NGUYỄN QUỐC TUẤN
Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 3


Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến ở Việt Nam; kết thúc hơn 80 năm đô hộ của thực dân, phát xít. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, được sự hậu thuẫn của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta lần thứ hai, mở đầu là tiến công vào các tỉnh Nam Bộ. Năm 1946 chúng gây hấn đánh ra Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh miền Bắc, ngày 20 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, ngay sau đó, ta mở nhiều chiến dịch lớn, tiêu biểu như: Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông (1947), Chiến dịch Biên Giới (1950), Chiến dịch Hòa Bình (1951 - 1952).


Trong Chiến dịch Hòa Bình, do làm tốt công tác dân vận, ta đã huy động được đông đảo lực lượng quần chúng nhân dân ở các địa phương tham gia chiến dịch, hình thành được 3 tuyến vận chuyển để phục vụ công tác hậu cần, tiếp chuyển lương thực từ các nơi như: Phú Thọ, Hà Đông, Hà Nam, Ninh Bình, Liên khu 4 chuyển đến. Tại tỉnh Hòa Bình đã vận động đồng bào các dân tộc ủng hộ gần 6.500 tấn lương thực, thực phẩm và hàng trăm tấn vật chất hậu cần khác; hàng nghìn dân công; hàng chục nghìn cây tre, nứa; hàng nghìn cây gỗ để làm cầu, bè mảng, dựng lán trại. Nhiều nữ thanh niên hăng hái xung phong vào các đội tải thương, phục vụ trong các trạm quân y.


Sau hơn 2 tháng chiến đấu, ở Mặt trận Hoà Bình, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá huỷ 12 khẩu pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 khẩu pháo và gần 800 súng các loại; giải phóng khu vực Hòa Bình - Sông Đà1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, tập I: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 167). Hoà Bình được giải phóng đã giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp; buộc quân Pháp phải rút khỏi địa bàn tỉnh Hòa Bình. Hành lang Đông - Tây của địch bị phá vỡ, âm mưu giành thế chủ động của thực dân Pháp không còn, cục diện chiến trường Bắc Bộ đã thay đổi có lợi cho ta, địch bị dồn vào thế bị động, đối mặt với nguy cơ bị tiêu diệt từng mảng lớn. Thắng lợi này còn có ý nghĩa lớn về chính trị: Ta đã giải tán được nhiều tổ chức ngụy quyền và mở rộng được vùng tự do. Âm mưu lập lại "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp và bọn phản động bị thất bại hoàn toàn.


Thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình đã để lại nhiều bài học quý báu về công tác dân vận của Đảng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cụ thể:

Một là, luôn dựa vào lực lượng, sức mạnh của nhân dân, lấy dân làm gốc, gắn bó mật thiết với nhân dân

Trong Chiến dịch Hòa Bình, để huy động sức người, sức của phục vụ cho chiến dịch, Đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành có hiệu quả công tác dân vận trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến dịch cho nên đã huy động được đông đảo quần chúng đồng bào các dân tộc tỉnh Hòa Bình hưởng ứng ủng hộ kháng chiến. Từng địa phương, bản làng, thôn xóm, đến từng gia đình, mọi tầng lớp nhân dân đã chung sức, đồng lòng quy tụ thành một khối thống nhất, sẵn sàng hy sinh tính mạng, tài sản phục vụ kháng chiến. Mỗi người dân dù trực tiếp cầm súng chiến đấu hay phục vụ chiến đấu đều có chung ý chí quyết tâm đánh giặc. Tiêu biểu như mế Thành 80 tuổi, người Cao Phong, Kỳ Sơn thiết tha yêu cầu chính quyền địa phương cho gia nhập đoàn dân công phục vụ chiến dịch, tình nguyện đi nấu cơm phục vụ bộ đội. Nhiều gia đình tự nguyện nhường nhà cho bộ đội, đón thương binh về chăm sóc, giữ bí mật bảo vệ mọi hoạt động cho bộ đội.


Phát huy bài học trong Chiến dịch Hòa Bình, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn xác định "Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân... Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân" (Văn kiện Đại hội lần thứ VII của Đảng). Đồng thời, trong tình hình mới phải tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận nhằm củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo phong trào cách mạng rộng lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho uy tín, vị thế của đất nước trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đề ra nhiệm vụ của công tác dân vận là củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" và phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", "dân giám sát, dân thụ hưởng". Điều đó thể hiện nền dân chủ xã hội ngày càng được mở rộng, đi vào nền nếp trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Với quan điểm xuyên suốt: Nước lấy dân làm gốc. Để thêm "dân giám sát, dân hưởng thụ" là một quá trình hơn 35 năm đổi mới đất nước, được trải nghiệm, chứng minh qua thực tiễn cuộc sống của người dân.


Hai là, xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tiến hành chiến tranh cách mạng

Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được biểu hiện sinh động trong Chiến dịch Hòa Bình, là sự tiếp nối tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc ta. Sức mạnh đó trước hết từ sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây là một là nét độc đáo của Đảng ta về tổ chức tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Chiến thắng Hòa Bình thể hiện sự thành công của Đảng về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Với đường lối đúng đắn, Đảng đã phát động và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, dựa vào sức mạnh đoàn kết để đẩy mạnh kháng chiến; Chiến dịch Hòa Bình không chỉ có Quân đội lực lượng vũ trang đánh giặc mà toàn dân Việt Nam, không phân biệt già trẻ, gái trai, dân tộc, tôn giáo, đảng phái đều tham gia cuộc kháng chiến toàn diện.


Trong giai đoạn hiện nay, lợi dụng quá trình mở cửa, hội nhập các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động "diễn biến hòa bình" kích động tư tưởng ly khai, chia rẽ dân tộc, gây thù hằn tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta; khoét sâu các mâu thuẫn, gây xung đột xã hội, kích động biểu tình, bạo loạn làm mất ổn định chính trị - xã hội. Âm mưu "diễn biến hòa bình" và các nguy cơ đe dọa độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, nhất là giữ vững chủ quyền biển, đảo và an ninh quốc gia đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải đồng lòng, chung sức, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Khắc phục những hạn chế trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thời gian qua, đồng thời để giải quyết hiệu quả những vấn đề mới nảy sinh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.


Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng khẳng định: "Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Đại hội XIII của Đảng tiếp tục chỉ rõ và cũng là những quan điểm chỉ đạo công tác dân vận của Đảng: "Công tác dân vận được chú trọng và tiếp tục đổi mới; quan điểm "dân là gốc", là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường". Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là bài học của quá khứ mà tiếp tục là động lực chủ yếu, nhân tô có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #184 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2025, 09:18:10 pm »

Ba là, tiến hành có hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trong tiểu hành chiến dịch

Đây là bài học thể hiện nguyên tắc, nghệ thuật tài tình trong công tác lãnh đạo của Đảng ta về công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trong đường lối lãnh đạo, chỉ đạo chiến dịch cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Khẳng định vị trí vai trò, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, do vậy đề huy động, phát huy sức mạnh của nhân dân trong chiến dịch, các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành hưởng ứng, triển khai thực hiện. Các cấp từ tỉnh, huyện, xã đều có cơ quan chuyên trách về công tác tuyên truyền, vận động nhân dân gồm các thành phần bộ đội, công an, dân quân du kích, mặt trận, hội phụ nữ, thông tin... do một cấp ủy viên phụ trách. Nhiều hình thức, biện pháp được tiến hành hiệu quả, có tính thuyết phục cao, tạo sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân để tham gia và phục vụ chiến dịch.


Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, Đảng ta tiến hành công tác tuyên truyền, vận động nhân dân với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân trên từng địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc. Thường xuyên sâu sát, gần gũi nắm bắt tình hình, những vấn đề bức xúc trong nhân dân để có nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp, kịp thời, nhất là những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; chủ động dự báo, đánh giá xu hướng của dư luận xã hội; vận động nhân dân nhận thức đúng, phối hợp để phản bác các thông tin không đúng, luận điệu xuyên tạc, chia rẽ, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng đến quan hệ giữa Đảng với nhân dân.


Cùng với đó là tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền bằng các hình thức phù hợp cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo. Tiếp tục đổi mới công tác dân vận ở vùng khó khăn, chăm lo phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, giữ vững quốc phòng an ninh. Phát huy vai trò người có uy tín trong tuyên truyền, giải thích, vận động đồng bào trên địa bàn. Nâng cao hiệu quả vận động nhân dân bằng chính sách hợp lòng dân, đảm bảo hài hòa lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích chính đáng của người dân; bằng sự gương mẫu chuẩn mực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu và bằng những hành động cụ thể, những hình ảnh đẹp của cả hệ thống chính trị chúng ta chăm lo cho dân.


Bốn là, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức quần chúng theo hướng sát cơ sở, thực chất, hiệu quả hơn

Thực hiện chủ trương của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chỉ đạo kháng chiến, các tổ chức đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể đã vận động nhân dân các dân tộc trên địa bàn đóng góp to lớn sức người, sức của cho cuộc kháng chiến. Quân và dân tỉnh Hòa Bình đã đẩy mạnh chiến tranh du kích, chống địch tiến công, phá hoại giao thông, ngăn chặn các bước tiến công, vận chuyển của địch; cất giấu của cải, triệt để thực hiện "vườn không nhà trống", tránh sự cướp phá của kẻ thù. Trong đợt quân ta tập kích, vây đánh địch ở thị xã Hòa Bình và Đường số 6A, từ Thịnh Lang đến Quỳnh Lâm, nơi nào cũng có cán bộ, có cơ sở kháng chiến hoạt động, bám sát địch và vận động ngụy binh đào ngũ, bỏ ngũ, phản chiến; liên hệ chặt chẽ với bộ đội, cung cấp tình hình hoạt động của địch, dẫn đường cho bộ đội, làm công tác địch vận, kết quả đã có trên 50 tên lính lê dương và ngụy quân bỏ đồn chạy ra đầu hàng.


Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp, chú trọng công tác dân vận đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài; chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác dân vận. Nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; đa dạng hóa các hình thức tổ chức và phương thức tập hợp, vận động, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân, phù hợp với biến đổi cơ cấu xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, thực hiện tốt hơn tính minh bạch và thông tin cho nhân dân và xã hội các vấn đề nguồn lực, sử dụng nguồn lực và kiểm soát tính hiệu quả của sử dụng các nguồn lực xã hội.


Tăng cường công tác phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội với các cơ quan Nhà nước trong lắng nghe, tiếp thu, giải trình ý kiến của nhân dân; kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết các chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến đời sống nhân dân, giải quyết kịp thời, hiệu quả những điểm nóng, phức tạp trong cộng đồng dân cư. Không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ làm công tác dân vận. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu trong cuộc sống. Theo đó, cần "Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự gần dân, tin dân, trọng dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân", luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết, kiên quyết phòng, chống chủ nghĩa cá nhân. Đặc biệt, cần quan tâm lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và có cơ chế, chính sách chăm lo, động viên đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, Mặt trận và các tổ chức thành viên; kiên quyết không bố trí cán bộ vi phạm kỷ luật, thiếu gương mẫu, đạo đức kém làm công tác dân vận.


Những bài học về công tác dân vận của Chiến dịch Hòa Bình khẳng định trong thực tiễn lịch sử 2 cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc và mang ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tiếp tục phát huy hơn nữa những giá trị của những bài học kinh nghiệm về công tác dân vận trong thời kỳ kháng chiến và thực tiễn hiện nay, đòi hỏi các cấp ủy Đảng phải nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác dân vận; phải không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đa dạng hóa các hình thức vận động quần chúng, gần dân, lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân, làm cho nhân dân tin tưởng và ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng. Những bài học trên đây cần được tiếp tục vận dụng sáng tạo, hiệu quả để công tác dân vận của Đảng ngày càng cỏ thêm nhiều kết quả và thành tích mới, góp phần củng cố vững chắc mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #185 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2025, 08:26:42 pm »

BÀI HỌC VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH HẬU CẦN NHÂN DÂN TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Trung tướng TRẦN DUY GIANG
Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần


Sau những thất bại liên tiếp từ năm 1947, nhất là thất bại nặng nề ở biên giới trong Thu - Đông 1950, địch tăng cường củng cố hệ thống phòng thủ, lập vành đai trắng, hòng ngăn chặn chủ lực của ta tiến công; đồng thời, ra sức càn quét vùng chiếm đóng, tập trung quân cơ động, dùng máy bay, pháo binh tăng cường đánh phá vùng tự do, vùng căn cứ kháng chiến hoặc chúng nghi có bộ đội trú ẩn gây cho ta nhiều khó khăn, tổn thất.


Trước tình hình đó, Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương mở đợt hoạt động Đông - Xuân 1951 - 1952 trên chiến trường chính là trung du, đồng bằng sông Hồng với phương châm: Những nơi địch kiểm soát chặt, lấy đấu tranh kinh tế và chính trị là chính, kết hợp xây dựng, phát triển cơ sở; ở các vùng tranh chấp, đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, xây dựng và mở rộng các khu du kích. Chuẩn bị cho đợt hoạt động này, Tổng cục Cung cấp gấp rút triển khai làm đường ôtô từ Phú Thọ qua Đồn Vàng, Hòa Bình vào các liên khu 3 và 4; tranh thủ chở vũ khí, đạn về Liên khu 3 và tiến hành các mặt công tác chuẩn bị hậu cần.


Nhằm thu hút chủ lực và phá sự chuẩn bị của ta, sau khi đánh chiếm các vị trí then chốt khu vực Hòa Bình - Đường số 6, sông Đà - Ba Vì, Pháp tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Sông Đà - Ba Vì (khu Bắc) và Hòa Bình - Đường số 6 (khu Nam), theo hình thức kiểu tập đoàn cứ điểm. Ngoài ra, địch còn tổ chức phân khu Chợ Bến là tiền đồn phía Đông nhằm bảo vệ thị xã Hòa Bình. Lực lượng gồm 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội công binh và 1 trung đội xe tăng1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 165).


Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: Cuộc tiến công ra Hòa Bình của địch "gây cho ta những khó khăn, nhưng cũng tạo cho ta một cơ hội tốt để tiêu diệt sinh lực địch". Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng ra Chỉ thị về "Nhiệm vụ phá cuộc tiến công Hòa Bình của địch" trên các mặt. Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho cán bộ, chiến sĩ chủ lực và dân quân du kích trong Chiến dịch Hòa Bình, căn dặn: "Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là một cơ hội rất tốt cho ta. Muốn thắng thì ta phải tích cực, chủ động, bí mật, mau chóng, kiên quyết, dẻo dai. Chắc thắng mới đánh"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Sđd, tr. 242).


Thực hiện Chỉ thị của Trung ương Đảng và Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở chiến dịch tiến công Hòa Bình, lực lượng tham gia chiến dịch gồm 3 đại đoàn bộ binh: 304, 308 và 312 phản công địch ở Mặt trận Hòa Bình; 2 đại đoàn 320, 316 vào vùng sau lưng địch - đồng bằng Bắc Bộ, phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương phá bình định, phát triển chiến tranh du kích3 (Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 182).


Để bảo đảm cho các lực lượng chiến đấu ở cả 2 mặt trận Bắc - Nam Hòa Bình và sâu trong vùng địch hậu, Tổng cục Cung cấp thành lập 2 ban cung cấp tiền phương, gồm cán bộ cung cấp và cán bộ Đảng, chính quyền địa phương. Ban Cung cấp Mặt trận Bắc Hòa Bình bảo đảm cho các đại đoàn 308, 312 và một số đơn vị binh chủng do đồng chí Trần Quyết - Khu ủy viên Liên khu ủy Việt Bắc làm Trưởng ban, đồng chí Nguyễn Hữu Chỉnh - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Phú Thọ và đồng chí Vũ Xuân Chiêm - Cục phó Cục Chính trị Tổng cục Cung cấp làm Phó ban. Các đồng chí Trần Minh Tước - Ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc và Phạm Ngọc San - Phó Văn phòng Tông cục Cung cấp làm ủy viên. Ban Cung cấp Mặt trận Nam Hòa Bình bảo đảm cho Đại đoàn 304 đánh địch trên Đường số 6, Nam Hòa Bình và Đại đoàn 320 hoạt động ở vùng địch hậu đồng bằng sông Hồng do đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, đại diện Tổng cục ở Liên khu 3 và Liên khu 4 làm Trường ban, các đồng chí khu ủy viên liên khu 3, 4 làm ủy viên. Các cơ quan Tổng cục ở hậu phương trực tiếp bảo đảm cho Đại đoàn 316 hoạt động ở vùng trung du1 (Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 183).


Khi bộ đội bắt đầu hành quân đi chiến dịch, các lực lượng hậu cần mới chuẩn bị theo kế hoạch được hơn 4.000 tấn thóc ở các địa phương thuộc Phú Thọ và một số gạo ở Nho Quan (Ninh Bình), nên phải huy động lực lượng nhân dân chuyển gấp lương thực, thực phẩm từ Thanh Hóa ra, chuyển đạn từ Việt Bắc về Liên khu 3. Địch đánh ra Hòa Bình, đường giao thông vận tải bị cắt, ta phải mở lại con đường vận tải bộ phía Tây thị xã Hòa Bình qua Tu Lý, Hiền Lương xuống Mãn Đức. Ban Cung cấp Mặt trận phía Bắc tập trung khai thác lương thực, thực phẩm tại chỗ ở khu vực bộ đội tập kết. Cán bộ các đoàn thể, sở kho thóc, quân nhu đơn vị xuống tận các xã vận động nhân dân thu hoạch vụ mùa, nộp thuế nông nghiệp, tổ chức xay giã và gấp rút vận chuyển gạo đến trung tuyến để kịp phục vụ bộ đội. Ban Cung cấp Mặt trận phía Nam, tập trung lực lượng cùng nhân dân chuyển gạo từ Thanh Hóa ra, cung cấp cho lực lượng chiến đấu ở mặt trận chính diện và lập một số kho trung tuyến ở hữu ngạn sông Đáy, bảo đảm cho mặt trận vùng địch hậu. Đồng thời, tổ chức chuyển vũ khí, đạn từ Đồn Vàng qua Tu Lý đến Mãn Đức và từ Nho Quan qua Chi Nê, Đầm Đa đến Bãi Khoai bảo đảm cho các đơn vị. Các kho, trạm trung tuyến sử dụng dân công vận chuyển theo dây chuyền, kết hợp dùng thuyền chuyển theo đường sông từ Nho Quan đi Chi Nê, Đầm Đa, đã chuyển nhanh được khối lượng lớn vũ khí, trang bị phục vụ chiến đấu.


Chiến dịch Hòa Bình diễn ra 3 đợt. Đợt 1 (10 - 26.12.1951), ta tập trung đột phá tuyến sông Đà: Đánh địch càn quét ở Nam Ba Vì, tiến công diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh nhiều trận phục kích cắt đứt tuyến vận chuyển của địch trên sông Đà, uy hiếp Đường số 6, đồng thời đánh mạnh ở vùng địch hậu Bắc Ninh. Pháp rút bớt lực lượng cơ động từ Hòa Bình về Bắc Ninh để đối phó, nhưng ngay sau đó phải đưa quân trở lại cứu nguy cho Hòa Bình. Ở hướng Đường số 6 và Đường số 21, ngày 2 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 66, Đại đoàn 304 tiêu diệt đoàn xe vận tải 34 chiếc cùng 1 đại đội hộ tống và đánh nhiều trận phục kích trên Đường số 6, nổi bật là trận Giang Mỗ (Tây thị xã Hòa Bình 8km), diệt 200 tên địch, phá hủy 10 xe, có cả xe tăng và thiết giáp. Trong trận này, Cù Chính Lan đã dùng lựu đạn diệt xe tăng địch. Ta hình thành thế trận bao vây thị xã và uy hiếp địch ở phía Bắc Đường số 6. Lực lượng hậu cần đã mở đường đưa ôtô vận tải lên phía trước tiếp cận thị xã Hòa Bình và làm cầu phao vượt sông bám sát đội hình chiến đấu phục vụ bộ đội.


Ở hướng phối hợp, Đại đoàn 316 hoạt động ở Nam Bắc Ninh, tiêu diệt các mục tiêu Thứa, Bốt Dầu, Vệ Linh. Đại đoàn 320 hoạt động ở Hà Nam, Ninh Bình diệt các mục tiêu Ngô Khê, Phát Diệm, Yên Mô Thượng, cầu Xanh... Đợt 1 ta giành được thắng lợi lớn, tạo thế uy hiếp mạnh với địch, làm cho hậu phương địch mất ổn định, phải bị động đối phó.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #186 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2025, 08:27:54 pm »

Đợt 2 (27 - 31.12.1951), ta tiếp tục đánh mạnh hướng sông Đà - Ba Vì, tập kích tiêu diệt địch ở các điểm cao 600,400 và 165; trên hướng Đường số 6, tiến công các cứ điểm Đồi Mồi, Hàm Voi, diệt được một bộ phận địch.

Để bảo đảm sức khỏe bộ đội chiến đấu liên tục dài ngày, Tổ trưởng cấp dưỡng Hoàng Cầm (Đội điều trị Đại đoàn 308) đã dựa vào thực tế hun bắt chuột ở cánh đồng khi còn nhỏ tuổi, sáng tạo ra kiểu bếp nấu ăn đơn giản, vừa che được ánh lửa khi nấu ban đêm, vừa làm cho khói lan tỏa rộng và thấp khi nấu ban ngày, máy bay địch không phát hiện được. Sáng kiến có ý nghĩa lớn này, nhanh chóng được phổ biến trên toàn mặt trận, nhờ vậy bộ đội được ăn, uống nóng, sức khỏe nâng lên rõ rệt. Đồng chí Hoàng Cầm đã được thưởng Huân chương Chiến công và được tuyên dương danh hiệu Chiến sĩ Thi đua toàn quốc lần thứ nhất (5.1952).


Nhằm tăng thêm hỏa lực đánh địch, Tổng cục Cung cấp giao Xưởng quân giới Lê Tổ sửa chữa gấp 3 khẩu pháo 105mm thu được của địch trong Chiến dịch Biên Giới. Cục Vận tải đã tổ chức kéo pháo từ Cao Bằng về. Cục Quân khí chuẩn bị đạn. Do không đọc được tiếng Anh và ký hiệu ghi trên hộp đạn thu được của địch, không phân biệt được các loại đạn, lực lượng vận tải đã chuyển đến mặt trận một số đạn khói. Pháo ta bắn, không diệt được địch lại tạo màn khói cho chúng rút chạy khỏi thị xã Hòa Bình. Đây là một bài học sâu sắc đối với các chiến sĩ Hậu cần trong việc vận chuyển đạn cho bộ đội chiến đấu.


Ở mặt trận phối hợp, Đại đoàn 320 hoạt động mạnh ở Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình; Đại đoàn 316 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương hoạt động ở Nam Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên... trong hơn 3 tháng liền. Biến hậu phương địch thành hậu phương của ta, Tổng cục Cung cấp đã tích cực chuẩn bị cơ sở từ trước, tổ chức một số tuyến vận tải vào vùng địch hậu Bắc Bộ, tiếp tế đạn cho bộ đội địa phương và dân quân du kích, lập một số kho nhỏ dự trữ mìn, lựu đạn sẵn sàng bổ sung cho các đơn vị. Nhân dân vùng địch hậu, luôn bị địch uy hiếp, càn quét, phá hoại nên đời sống rất khó khăn, nhưng vẫn bí mật hăng hái đi dân công, đóng thuế nông nghiệp phục vụ chiến dịch, ở vùng Phát Diệm (Ninh Bình), để giữ bí mật tác chiến, quân nhu cùng cán bộ địa phương đến từng gia đình vận động, gửi thóc nhờ nhân dân cất giữ, khi đơn vị chuẩn bị nổ súng, nhân dân xay giã, tiếp tế cho bộ đội. Vì vậy, chỉ trong một đêm bảo đảm đủ gạo cho bộ đội và một phần để dự trữ cho đợt hoạt động sau.


Hoạt động trong vùng địch hậu, các đơn vị đã tổ chức cứu chữa, điều trị thương binh rất linh hoạt: Tiểu đoàn tổ chức đội phẫu thuật nhỏ, còn đội phẫu thuật trung đoàn được tăng cường bảo đảm cứu chữa và lưu giữ thương binh trong thời gian tương đối dài. Việc chăm sóc, bảo vệ và chuyển thương binh ra vùng tự do hoàn toàn dựa vào nhân dân. Từ vùng địch hậu Bắc Bộ ra vùng tự do phải vượt các sông lớn như sông Hồng, sông Đáy, sông Cầu, sông Thương trong điều kiện địch kiểm soát gắt gao. Để bảo đảm an toàn khi chuyển thương binh, cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương đã tổ chức nhiều cung chặng, tìm lúc địch sơ hở và thời cơ thuận lợi, chuyển từng chuyến. Tuy nhiên, khi vây đánh cụm cứ điểm thị xã Hòa Bình (khoảng 8 tiểu đoàn địch) và Đường số 6 với nhiều trận đánh công kiên, thương vong cao, việc cấp cứu và chuyển thương binh về phía sau trong một số trận (không tìm kiếm hết được) còn bỏ sót thương binh, tử sĩ khi rút quân. Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Mặt trận nghiêm khắc kiểm điểm rút kinh nghiệm, sau đó giao cho chính trị viên phó các đại đội, tiểu đoàn và phó chính ủy trung đoàn quay lại phối hợp với chính quyền địa phương, cùng nhân dân tìm kiếm, giải quyết chính sách.


Đợt 3 (7.1 - 25.2.1952), ta chuyển hướng tiến công chủ yếu sang Đường số 6 và bao vây thị xã Hòa Bình: Tập kích tiêu diệt trận địa pháo và 4 vị trí địch ở trung tâm và ngoại vi thị xã; đánh cắt giao thông, làm tê liệt vận chuyển của địch trên Đường số 6. Hậu cần chiến dịch đã bảo đảm kịp thời nhu cầu hậu cần cho các đơn vị, trong đó có 83 tấn vũ khí, đạn dược. Bị bao vây, cô lập ở Hòa Bình, lại bị đánh mạnh ở trung du, đồng bằng, sáng 23 tháng 2 năm 1952, quân Pháp buộc phải rút khỏi Hòa Bình, chiến dịch kết thúc.


Sau hơn 2 tháng chiến đấu, ở Mặt trận Hoà Bình ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá huỷ 12 pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 pháo và gần 800 súng các loại; giải phóng khu vực Hòa Bình - Sông Đà1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Tập 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 167); giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp.


Dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân các địa phương, hậu cần chiến dịch đã huy động và cung cấp kịp thời cho các đơn vị 6.275 tấn gạo, hơn 200 tấn thực phẩm, 280 tấn đạn, cứu chữa 6.390 thương binh; huy động trên 330.400 lượt dân công phục vụ chiến dịch với 11.914.000 ngày công2 (Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 187-188)... góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch. Các lực lượng hậu cần đã tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm về bảo đảm cho chiến dịch tiến công quy mô lớn (5 đại đoàn) trong điều kiện chưa có chuẩn bị trước, tác chiến ác liệt, dài ngày cả trên mặt trận chính Hòa Bình và mặt trận phối hợp trong vùng địch hậu; nhu cầu vật chất, cứu chữa thương binh số lượng lớn trong khi nguồn lực của đất nước còn hạn chế, viện trợ quốc tế mới có rất ít. Mặt khác, các chiến trường bị chia cắt, vùng tự do và vùng tạm bị địch chiếm xen kẽ, đường vận chuyển không thuận lợi, việc huy động nhân vật lực gặp nhiều khó khăn.


Dựa chắc vào dân, phát huy sức mạnh của hậu cần nhân dân; cùng sự giúp đỡ của cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương, cơ quan cung cấp chiến dịch đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ trong huy động nhân lực, vật lực tại chỗ và ở hậu phương chuyển đến cùng với khả năng bảo đảm của trên bảo đảm cho chiến đấu ở tiền tuyến, hoàn thành tốt nhiệm vụ hậu cần đã trở thành bài học vô cùng quý giá. Những bài học đó đã được kế thừa, vận dụng, phát triển mạnh mẽ trong chiến tranh giải phóng, góp phần cùng toàn dân đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đi đến thắng lợi cuối cùng, giành độc lập, tự do cho dân tộc và thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và ngày nay vẫn vẹn nguyên giá trị đối với ngành Hậu cần Quân đội.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #187 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2025, 08:28:53 pm »

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đặt ra những nhiệm vụ, yêu cầu cao đối với Quân đội nói chung, công tác hậu cần nói riêng, trong đó có hậu cần nhân dân. Kế thừa, vận dụng, phát triển các bài học kinh nghiệm hậu cần trong chiến tranh vào điều kiện mới, đòi hỏi công tác hậu cần phải tiến hành đồng bộ nhiều nội dung, giải pháp, nhất là hậu cần nhân dân phải được xây dựng vững mạnh toàn diện, thực sự là nền tảng của hậu cần khu vực phòng thủ và quốc phòng toàn dân trong bảo vệ Tổ quốc. Trong đó cần tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau:


Một là, quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện sáng tạo, hiệu quả đường lối quốc phòng toàn dân, hậu cần toàn dân của Đảng trong xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức hậu cần nhân dân các cấp, gắn với xây dựng khu vực phòng thủ địa phương vững mạnh toàn diện. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, cả nước và từng địa phương đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - nền tảng của tiềm lực và thế trận hậu cần quốc phòng toàn dân. Hậu cần nhân dân địa phương là lực lượng rộng khắp hình thành trong các tổ chức kinh tế - xã hội tỉnh (thành phố), huyện (quận), cơ sở (xã, phường, nông lâm trường, doanh nghiệp). Cùng với sự phát triển nhanh, mạnh về lực lượng do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần thường xuyên coi trọng củng cố, phát triển hệ thống tổ chức hậu cần nhân dân các cấp đủ mạnh; trước hết là cấp cơ sở, huyện (quận), nhất là trong các doanh nghiệp (tỉnh, thành phố, kể cả doanh nghiệp trung ương) trên địa bàn để làm nền tảng xây dựng hậu cần khu vực phòng thủ vững mạnh cả về thế trận và tiềm lực theo phương châm ở đâu có tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức quần chúng, ở đó có tổ chức hậu cần nhân dân tương ứng vững mạnh, hoạt động có hiệu quả. Mặt khác, cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp cần quan tâm nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với xây dựng nông thôn mới, nâng cao sức sản xuất, hiệu quả kinh tế, tạo điều kiện giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội và tiềm lực hậu cần tại chỗ dồi dào ngay từ cơ sở. Đẩy mạnh việc thu hút nguồn lực của các thành phần kinh tế Nhà nước, địa phương và của tư nhân (cả đầu tư nước ngoài) phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đời sống nhân dân, tăng cường quốc phòng, an ninh và nâng cao khả năng bảo đảm của hậu cần tại chỗ.


Hai là, đổi mới tư duy hậu cần, nghiên cứu đề xuất với Chính phủ thành lập các hội đồng bảo đảm quốc phòng từ cấp tỉnh, thành phố đến cơ sở với mô hình tổ chức phù hợp, có quy chế hoạt động chặt chẽ, hiệu quả giúp cấp ủy và chính quyền các cấp trong xây dựng và huy động các nguồn lực (trong đó có hậu cần - kỹ thuật) trong xây dựng và tác chiến của khu vực phòng thủ. Bởi nhiệm vụ quốc phòng, an ninh địa phương các cấp là nhiệm vụ cơ bản, yêu cầu ngày càng cao, đa dạng, nhu cầu về quốc phòng nói chung, hậu cần nói riêng rất lớn; hiện nay hệ thống tổ chức gồm nhiều hội đồng (Hội đồng Nghĩa vụ quân sự, Hội đồng Hậu cần - kỹ thuật...) cồng kềnh về tổ chức, nhiệm vụ, chức năng thiếu liên kết, không phát huy được sức mạnh tổng hợp của địa phương trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, nhất là khi có tình huống.


Ba là, tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế chính sách có hình thức hợp lý huy động có hiệu quả nguồn lực của hậu cần nhân dân trong xây dựng khu vực phòng thủ; chú trọng kết hợp giữa xây dựng với huy động. Trên cơ sở Kết luận số 64-KL/TW ngày 30 tháng 10 năm 2019 của Bộ Chính trị trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22 tháng 9 năm 2008 của Bộ Chính trị khóa X, đẩy mạnh xây dựng hậu cần khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh toàn diện, đi vào chiều sâu; Nghị định số 21/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng 2 năm 2019 của Chính phủ về khu vực phòng thủ, cần nghiên cứu vận dụng sáng tạo phù hợp với từng địa phương. Đồng thời, kế thừa, phát triển sáng tạo kinh nghiệm đã có với các hình thức: Trưng dụng, trưng thu, trưng mua, thuê mướn, vay, ứng trước trừ thuế... phù hợp với điều kiện cụ thể từng địa phương. Chú trọng kết hợp chặt chẽ giữa huy động sức dân với bồi dưỡng sức dàn; sử dụng tiết kiệm, minh bạch và hiệu quả nguồn lực nhân dân đóng góp. Các đơn vị quân đội phải tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương, trước hết là nâng cao hiệu quả các dự án kinh tế - quốc phòng, hoạt động của các khu kinh tế - quốc phòng, góp phần xoá đói giảm nghèo cho nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa - địa bàn chiến lược nhưng có nhiều khó khăn.


Bốn là, phát huy vai trò nòng cốt của hậu cần quân sự địa phương trong xây dựng hậu cần nhân dân các cấp, đáp ứng yêu cầu xây dựng khu vực phòng thủ. Cơ quan hậu cần quân sự địa phương các cấp định kỳ rà soát, hoàn thiện các kế hoạch bảo đảm,xây dựng tiềm lực, thế trận hậu cần... Trọng tâm là tổ chức dự trữ vật chất, phương tiện; phương án huy động hậu cần nhân dân trong các tình huống; phòng thủ dân sự và duy trì sản xuất thời chiến đảm bảo cân đối giữa nhu cầu quốc phòng và dân sinh, nâng cao khả năng hậu cần tại chỗ đáp ứng kịp thời mọi tình huống. Đặc biệt, chú trọng kết hợp chặt chẽ dự trữ trong dân, trong các ngành kinh tế - xã hội với dự trữ quốc gia trên các địa bàn chiến lược theo các phương án của khu vực phòng thủ và cấp trên, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu hậu cần trong các tình huống và hạn chế tối đa cơ động từ xa đến, vừa tiết kiệm, vừa tránh được tổn thất trong quá trình vận chuyển. Hậu cần cấp chiến lược và cấp quân khu phải phân công cán bộ chuyên trách giúp cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng, củng cố, duy trì hoạt động của hậu cần nhân dân. Đồng thời, cần đưa nội dung công tác hậu cần nhân dân nói chung, hậu cần nhân dân địa phương nói riêng vào giáo dục quốc phòng để mọi công dân nắm được ý nghĩa, vị trí, vai trò và nội dung của hậu cần nhân dân, xác định và làm tròn trách nhiệm của mình trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân nói chung và hậu cần nhân dân nói riêng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #188 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2025, 08:32:46 pm »

CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH - BÀI HỌC VỀ XÂY DỰNG QUYẾT TÂM,
Ý CHÍ QUYẾT CHIẾN, QUYẾT THẮNG

Thiếu tướng NGUYỄN VĂN ĐỨC
Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị


Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952) là chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam ở khu vực thị xã Hòa Bình - sông Đà - Đường số 6 nhằm tiêu diệt sinh lực địch, đập tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của Pháp. Kết quả, ta đã loại khỏi chiến đấu hơn 6.000 tên địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá hủy 12 khẩu pháo, hàng trăm xe vận tải, thu 24 khẩu pháo1 (Bộ Quốc phòng, Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 176); giải phóng khu vực Hòa Bình - sông Đà, giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp.


Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình phản ảnh sức mạnh tổng hợp trên các mặt công tác quân sự, chính trị, hậu cần-kỹ thuật và để lại nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị. Thành công trong xây dựng quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội là bài học có ý nghĩa to lớn, góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch, được thể hiện qua một số nội dung cơ bản sau:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội

Thực tiễn cho thấy, trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch, Đảng ủy Chiến dịch, cấp ủy, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp đã tập trung tuyên truyền giáo dục, quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng về mở chiến dịch Hòa Bình. Qua đó, cán bộ, chiến sĩ nắm vững nhiệm vụ, xác định: "Đây là cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt sinh lực địch trên cả chiến trường phía trước và vùng địch hậu. Mọi nỗ lực của ta phải được tập trung vào đánh bại cuộc hành binh của địch chiếm đóng Hoà Bình"1 (Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch, chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam (1945 - 1954), Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2013, tr. 359,365); nhận thức sâu sắc về tính chất, đặc điểm, tư tưởng chỉ đạo, phương châm tác chiến chiến dịch và cách đánh, nhiệm vụ của từng bộ phận, từng lực lượng. Trên cơ sở đó nắm chắc ý nghĩa, mục đích, tầm quan trọng của chiến dịch, xác định những thuận lợi, khó khăn, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm chiến đấu cao, lòng căm thù giặc sâu sắc, không sợ hy sinh, có ý thức kỷ luật nghiêm, thực hiện chính sách tốt, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, tiến công với tinh thần dũng cảm, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ.


Tuyên truyền, giáo dục cho bộ đội nhận thức đầy đủ âm mưu, thủ đoạn của địch, những nhược điểm và khó khăn của địch, đánh giá đúng chỗ mạnh, yếu của chúng, nhất là kịp thời chống lại luận điệu tuyên truyền của địch "về căn bản địch vẫn ở trong thế phòng ngự"2 (Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch, chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam (1945 - 1954), Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2013, tr. 359,365). Đặc biệt, các đơn vị đã tổ chức cho bộ đội sinh hoạt, quán triệt, học tập kinh nghiệm chiến đấu và lấy thắng lợi từ những trận đánh, chiến dịch trước đó, điển hình là Chiến dịch Việt Bắc (1947), Chiến dịch Sông Thao (1949), Chiến dịch Lê Hồng Phong I (1950), Chiến dịch Biên Giới (1950)...; tôn vinh, học tậpcác gương điển hỉnh trong chiến đấu của toàn quân làm nội dung giáo dục sống động, liên tục cổ vũ, động viên tinh thần quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội, khắc phục tâm trạng băn khoăn, ngại ác liệt, hy sinh. Các cuộc vận động lập công được phát động nhằm tạo không khí thi đua sôi nổi tới từng đơn vị, từng bộ phận, trong đó chú trọng vào các đơn vị đảm nhiệm chiến đấu trên hướng, mũi chủ yếu, thực hiện nhiệm vụ khó khăn, phức tạp; từng cán bộ, chiến sĩ đều xây dựng kế hoạch lập công, nỗ lực phấn đấu vượt bậc để tạo ra sức chiến đấu mới, khí thế mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.


Những nội dung cơ bản trên đã được các cơ quan, đơn vị tiến hành một cách sâu rộng, làm đi làm lại nhiều lần, với nhiều hình thức, phương pháp phong phú, thấm nhuần tới từng cán bộ, chiến sĩ, từng đảng viên, biến ý chí của lãnh đạo thành ý chí của quần chúng. Nhờ đó, toàn Mặt trận trên dưới một lòng, đoàn kết trong cấp ủy, trong cán bộ, giữa cán bộ với chiến sĩ. Mọi người, mọi lực lượng đều đồng tâm nhất trí, với tinh thần "tất cả để chiến thắng"; các đơn vị nhận nhiệm vụ đều phấn khởi, tin tưởng và ra sức chấp hành. Trong trận Hòa Bình "Việc phổ biến giáo dục nhiệm vụ trong chi bộ đặc biệt được coi trọng, vai trò lãnh đạo của chi bộ đã nổi bật và là yếu tố bảo đảm chính cho thắng lợi. Trong trận Đồi Mồi, công tác quán triệt, giáo dục nhiệm vụ được tiến hành kỳ trong đội ngũ cán bộ. Trận Tu Vũ, công tác quán triệt, giáo dục nhiệm vụ được tiến hành chu đáo, tỷ mỷ với nhiều hình thức sinh động, phù hợp theo điều kiện hoàn cảnh nên đã chuẩn bị tốt tư tưởng cho bộ đội, tinh thần quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng được nâng lên cao độ, sự chủ động, linh hoạt của bộ đội được phát huy là yếu tố căn bản của thắng lợi Tu Vũ"1 (Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch, chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam (1945 - 1954), Tập 1, Sđd, tr. 367-368).


Hai là, thường xuyên tiến hành tốt công tác lãnh đạo tư tưởng, cổ động chiến trường, giữ vững và củng cốý chí quyết tâm liên tục chiến đấu cho bộ đội

Nắm vững tư tưởng chỉ đạo, phương châm tác chiến chiến dịch và bám sát diễn biến tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, giải quyết tư tưởng một cách kịp thời, kiên trì, bền bỉ liên tục ở tất cả các đơn vị và các lực lượng tham gia chiến dịch. Các nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành công tác tư tưởng đã được Đảng ủy Chiến dịch, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp tiến hành chặt chẽ, chủ động, liên tục, kịp thời ở tất cả các đơn vị, các cấp ngay trong quá trình chuẩn bị và thực hành chiến đấu; vận dụng linh hoạt, sáng tạo, đa dạng và phong phú, phù hợp với điều kiện chiến đấu và thực tiễn các đơn vị, đặc điểm của bộ đội. Do vậy, mọi chủ trương, quyết tâm của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy - Tổng Tư lệnh, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, nhiệm vụ chiến đấu đều được nhanh chóng quán triệt đến bộ đội. Tư tưởng ngại khó khăn, gian khổ, sợ hy sinh, tổn thất từng bước được giải quyết. Cán bộ, chiến sĩ bước vào chiến dịch với một sự thôi thúc hăm hở, với tư thế chủ động cả về lực lượng, phương tiện, cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; với niềm tin chiến thắng và tâm lý vững vàng. Trong quá trình thực hành chiến đấu, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch và Phòng Chính trị Mặt trận liên tục chỉ đạo công tác tư tưởng, trong đó hướng vào xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ ý chí quyết chiến, quyết thắng không hề lay chuyển trước những khó khăn, thử thách khốc liệt, sẵn sàng hy sinh vì thắng lợi của cuộc kháng chiến. Trong các đơn vị, cán bộ, chiến sĩ đều hừng hực khí thế cách mạng hào hùng, tinh thần lạc quan, niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi của chiến dịch.


Cổ động chiến trường là một nghệ thuật được tiến hành linh hoạt, sáng tạo, sát với thực tiễn. Trong suốt chiến dịch, tày theo tình huống và diễn biến trận đánh, các đơn vị đã vận dụng phong phú, sinh động các biện pháp cổ động chiến trường. Những bức thư, điện biểu dương khen ngợi, động viên, thăm hỏi của cấp trên nhất là của Bộ Tổng Tư lệnh được cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp kịp thời tuyên truyền, phổ biến, quán triệt sâu rộng đến cán bộ, chiến sĩ, góp phần cổ vũ, động viên, mài sắc ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội. Thư khen của Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp gửi đơn vị diệt Điểm cao 400 đã kịp thời cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 312 tiến công làm chủ Điểm cao 600. Trong trận Tu Vũ, Đồi Mồi, thư khen của đảng ủy, chỉ huy trung đoàn đã có tác dụng khích lệ, cổ vũ rất lớn đối với bộ đội, tạo thành phong trào thi đua giết giặc lập công sôi nổi. Việc khêu gợi lòng căm thù giặc tàn phá mùa màng, cướp của giết người, đốt phá nhà dân đã khơi dậy lòng căm thù giặc, xây dựng quyết tâm ý chí chiến đấu trả thù cho cán bộ, chiến sĩ trong trận Lai Đồng, Kiệt Sơn.


Trong nhiều trận đánh, nhất là vào những thời điểm gay go, ác liệt, tin chiến thắng của các đơn vị, gương chiến đấu anh dũng của bộ đội thường xuyên được cập nhật, phổ biến. Bộ đội cũng có nhiều khẩu hiệu và những lời động viên. Trong trận Tu Vũ, khi pháo binh ta được lệnh rút lui, tinh thần cán bộ, chiến sĩ nảy sinh dao động, một đồng chí đã hô to: "Tạm thời rút lui để hoàn thành nhiệm vụ, rút lui không phải là chạy dài" đã ổn định ngay được tinh thần của cả khẩu đội. Trong trận Đồi Mồi, bộ đội ta vừa đánh, vừa hô: "Noi gương Cù Chính Lan"; khi đại đội trưởng và chính trị viên đại đội hy sinh, bộ đội ta đã tự động viên, cổ vũ nhau bằng khẩu hiệu: "Quyết tâm vào trận nội, trả thù cho đại đội trưởng và chính trị viên"1 (Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch, chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam (1945 - 1954), Tập 1, Sđd, tr. 380).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #189 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2025, 08:34:20 pm »

Ba là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, hiệu lực chỉ huy; phát huy vai trò của chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị và cán bộ Chính trị các cấp trong xây dựng quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội    Với vai trò là hạt nhân lãnh đạo của Đảng ở các cơ quan, đơn vị, nên việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, hiệu lực chỉ huy các cấp có tác động trực tiếp đến việc xây dựng quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội. Thực tiễn cho thấy, trong suốt quá trình tham gia chiến dịch, Đảng ủy Mặt trận, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp luôn bám sát diễn biến của chiến trường, cùng người chỉ huy thường xuyên giữ vững sự lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị trong mọi tình huống; kịp thời phân tích, đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn của địch, nắm chắc diễn biến của cả địch và ta trên chiến trường để đề ra các biện pháp lãnh đạo đúng đắn, xử trí linh hoạt, chính xác các tình huống xảy ra, nhất là vào những thời điểm đơn vị gặp khó khăn, chiến đấu ác liệt. Chủ động bám sát từng nhiệm vụ, từng lực lượng, con người, trận địa, trên từng hướng và từng trận đánh cụ thể; nắm chắc diễn biến tình hình mọi mặt của đơn vị, bộ phận, thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, chấn chỉnh kịp thời mọi hiện tượng lỏng lẻo về tư tưởng, tổ chức, kỷ luật, cổ vũ, động viên, khích lệ tinh thần khắc phục khó khăn, củng cố niềm tin, tâm lý vững vàng, xây dựng quyết tâm, ý chí quyết chiến, chiến thắng cho bộ đội.


Đặc biệt, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp đã phát huy tốt vị trí, vai trò, trách nhiệm trong xây dựng quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội. Thường xuyên bám sát đơn vị, nắm chắc diễn biến tư tưởng của bộ đội, phát hiện và giải quyết kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh trong chiến đấu ác liệt, nhất là những biểu hiện chủ quan, coi thường địch; kịp thời cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên, chiến sĩ không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh, chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy và kỷ luật chiến trường, nêu cao tinh thần đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể, tìm ra cách đánh địch có hiệu quả nhất. Chủ động xây dựng kế hoạch, hướng dẫn các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trước, trong và sau chiến dịch, qua đó xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, quyết tâm chiến đấu vững chắc, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Coi trọng việc chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị quán triệt sâu sắc tinh thần nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh, nhiệm vụ của cấp trên và cấp mình đến mọi cán bộ, đảng viên, đoàn viên và tổ chức phát động cuộc vận động lập công, tạo khí thế thi đua sôi nổi trong các đơn vị. Duy trì các đơn vị hoạt động có nền nếp, chế độ công tác đảng, công tác chính trị; tăng cường công tác kiềm tra, đôn đốc, rút kinh nghiệm và nâng cao chất lượng của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, nhất là đã chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị thực hiện tốt công tác tuyên truyền cổ động trên chiến trường, công tác thi đua - khen thưởng trong chiến đấu, công tác bảo vệ an ninh, công tác dân vận, địch vận và công tác chính sách, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu của đơn vị.


Bốn là, bám sát diễn biến chiến đấu, kịp thời phát hiện, đấu tranh khac phục mọi biểu hiện tư tưởng tiêu cực, giữ vững quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội

Trong chiến dịch, bộ đội ta phải chiến đấu liên tục, dài ngày nên không tránh khỏi xuất hiện tư tưởng tiêu cực, nhất là tư tưởng chủ quan, coi thường địch khi bộ đội ta đánh thắng hoặc quá trình chiến đấu gặp nhiều thuận lợi và tư tưởng hữu khuynh, bi quan, dao động, ngại hy sinh, gian khổ, đánh giá cao về địch, thiếu lòng tin vào vũ khí, trang bị và thắng lợi cuối cùng của chiến dịch. Trong báo cáo tại Hội nghị tổng kết Mặt trận Hòa Bình (3 - 15.4.1952), Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Tổng Quân ủy - Bộ Tổng Tư lệnh, Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã khẳng định thành công chung của các mặt hoạt động đều lớn, nhưng cũng còn nhiều khuyết điểm làm hạn chế thắng lợi, trong đó có tư tưởng tiêu cực xuất hiện ở một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, nhất là tư tưởng chủ quan, khinh thường địch. Đại tướng đã chỉ ra nguyên nhân của thực trạng trên là do: "Trong chiến dịch này, cán bộ phạm nhiều khuyết điểm hơn chiến sĩ. Nói như vậy, không có nghĩa là cán bộ kém hơn chiến sĩ và cũng không sợ chiến sĩ tự mãn rồi coi thường cán bộ. Lẽ tất nhiên là cán bộ vẫn hơn và phải hơn chiến sĩ. Nói cán bộ có nhiều khuyết điểm hơn chiến sĩ nghĩa là cán bộ chưa thật xứng đáng với cương vị của mình, với trách nhiệm của mình, trách nhiệm độ nặng nề hơn trách nhiệm người chiến sĩ. Cán bộ có nhiều khuyết điểm hơn là vì trách nhiệm cán bộ nặng nề hơn, tư tưởng cán bộ còn phức tạp hơn; chiến sĩ có ít khuyết điểm hơn là vì trách nhiệm chiến sĩ nhẹ hơn và tư tưởng chiến sĩ đơn giản hơn"1 (Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 130).


Chiến dịch Hòa Bình đã để lại kinh nghiệm quý về công tác đấu tranh chống tư tưởng tiêu cực, giữ vững quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội, nhất là trong cấp ủy và chỉ huy đơn vị.

Trong trận Tu Vũ, khi bộ đội ta hành quân vào chiếm lĩnh trận địa bị địch phát hiện và bắn phá mãnh liệt nên gặp nhiều thương vong. Phát hiện kịp thời tư tưởng tiêu cực "lui quân", Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 88 đã nhanh chóng nhận định, đánh giá tình hình và khẳng định: Khả năng đánh thắng địch vẫn còn, lui quân lúc này càng thêm tổn thất và ảnh hưởng đến tư tưởng bộ đội. Trên cơ sở nhận định đó, Thường vụ Đảng ủy quyết định: "Tiếp tục lãnh đạo Trung đoàn thực hiện nhiệm vụ tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh thắng trận mở màn chiến dịch. Biện pháp khắc phục: Nhanh chóng củng cố tổ chức, chấn chỉnh đội hình, đưa bộ đội vào tiếp cận sát hàng rào để tránh pháo địch sát thương, khẩn trương hoàn thành công tác chuẩn bị, sẵn sàng nổ súng khi có lệnh"1 (Một số trận đánh trong kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ (1945 -1975), Tập III, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1992, tr. 52). Đồng thời, Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn phân công cán bộ trực tiếp xuống từng đơn vị tiến hành sinh hoạt chính trị tư tưởng để kiểm điểm, rút kinh nghiệm, kịp thời động viên bộ đội vượt mọi khó khăn, thử thách, không sợ hy sinh, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch. Nhờ nắm vững tư tưởng bộ đội, dự kiến và có hướng giải quyết đúng, bộ đội ta đã dũng cảm, ngoan cường chiến đấu, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ.


70 năm đã trôi qua, bài học về xây dựng quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng cho bộ đội trong Chiến dịch Hòa Bình đã được khơi dậy và phát huy mạnh mẽ, trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc, động lực thôi thúc cán bộ, chiến sĩ khắc phục khó khăn, gian khổ, sẵn sàng xả thân hy sinh vì thắng lợi của chiến dịch và nền độc lập dân tộc. Ngày nay, bài học kinh nghiệm đó vẫn còn nguyên giá trị, là cơ sở thực tiễn quan trọng để cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân tiếp tục kế thừa và vận dụng sáng tạo trong công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ quân sự - quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM