Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:26:22 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức công binh Trường Sơn  (Đọc 21922 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #50 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2025, 08:36:09 pm »

Kỹ sư
TRẦN Y VINH


Sinh năm:   1943
Quê quán:   Đại Đồng, Thạch Long, Thạch Hà, Hà Tĩnh
Thường trú: Đại Đồng, Thạch Long, Thạch Hà, Hà Tĩnh
Điện thoại: 0396.518492 - 0919.786552
Cán bộ Ban Kiến thiết 206 Bộ GTVT chuyển sang Quân đội
Nguyên Cán bộ Kỹ thuật Đội Khảo sát 1, Trung uý Cục
Tham mưu Công binh Bộ Tư lệnh 559
Nguyên Trưởng phòng sở GTVT Hà Tĩnh


ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

Đầu năm 1965, miền Bắc đang sống những ngày hoà bình, nhưng không yên ả. Gần như mọi người dân miền Bắc đã ngửi thấy mùi thuốc súng. Sau sự kiện vịnh Bắc Bộ, ngày 05 tháng 8 năm 1964, không ai nói với ai nhưng chắc sẽ có những sự chia tay giữa bạn bè, người thân, những người trong gia đình đã ngấm ngầm xuất hiện. Mà cũng phải thế! Phải chia tay tạm thời để sớm có ngày sum họp vĩnh viễn.


Ngày đó đã đến với tôi và rất nhiều người, kể cả ở nông thôn, thành thị và những cán bộ đang ở các cơ quan nhà nước.

9 giờ sáng ngày 29 tháng 5 năm 1965, máy bay điên cuồng đánh phá ga Vinh. Lúc này tôi đang công tác ở Ban Kiến thiết1 (Nay gọi là Ban Quản lý dự án) 206, Cục Kiến thiết Cơ bản, Bộ Giao thông vận tải. Cơ quan ở gần ga Vinh, sau bệnh viện Quân khu 4 cũ, cách cơ quan tôi khoảng 500 mét. Thật là lạc quan và bình thản, tan khói bom, còi báo yên, mấy anh em tôi dắt nhau ra ga Vinh xem hiện trường. Cũng may, trận bom đó chỉ làm một người dân quê ở Hưng Lợi, huyện Hưng Nguyên đi qua bị thương, thiệt hại không có gì đáng kể.


Cái nắng miền Trung, nhất là thành phố Vinh quả thật vô cùng khắc nghiệt. Gió Lào quật về nóng không chịu nổi. Tại cơ quan, chúng tôi phải quét nhà sạch, dội nước mới nghỉ trưa được ít phút. Nói là nghỉ chứ thực ra nóng quá có ngủ được đâu!

Khoảng 13 giờ, một chiếc xe Gatz 69 đến cơ quan, xe của Cục Kiến thiết Cơ bản vào làm việc. Đúng 14 giờ, Trưởng ban Kiến thiết triệu tập họp cơ quan. Đây là một cuộc họp đột xuất, không ai đoán ra nội dung. Anh Phan, Cục phó Cục Kiến thiết cơ bản vào "đề" ngay:

- Thưa các đồng chí! Hôm nay tôi chủ trì cuộc họp cơ quan của các đồng chí, kể cũng hơi lạ, nhưng không sao! Vì thời gian có hạn nên tôi muốn vào "cuộc" ngay. Nghe nói đến dây mọi người như nín thở, chờ đợi, pha lẫn ít nhiều lo lắng.

Anh Phan nói một số tình hình thời sự tổng quát trong nước và trên thế giới. Đặc biệt anh nhấn mạnh việc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, tình hình có nhiều thay đổi. Ngừng một lát, anh Phan nói tiếp:

Không còn nhiều thời gian, bây giờ tôi xin đọc quyết định của Bộ điều một số đồng chí đi công tác đột xuất. Đồng chí nào vướng víu gia đình, vợ con thì có ý kiến ngay, Bộ sẽ điều người khác. Nếu không, các đồng chí có tên trong danh sách khẩn trương chuẩn bị thu xếp, đúng 18 giờ 30, có xe đến cơ quan đón các đồng chí đi làm nhiệm vụ.


Nghe xong, mọi người trong cơ quan đều im phăng phắc. Một giây lát, một trong 6 người được điều động, trong đó có tôi phát biểu:

- "Thưa Cục phó! Anh em chúng tôi đã sẵn sàng nhận nhiệm vụ".

Anh Phan vả Thủ trưởng cơ quan nở một nụ cười mãn nguyện. Anh Phan nói:

Thay mặt lãnh đạo Cục, tôi chúc các đồng chí mạnh khoẻ, lên đường làm nhiệm vụ. Còn nhiệm vụ gì đến nơi tập kết các đồng chí sẽ rõ. Hẹn ngày gặp lại!

Xe của Cục chuyển bánh, cơ quan tiếp tục họp ngay, anh Hoan, anh Trà trưởng phó ban một chút lúng túng pha lẫn ngậm ngùi khi phải chia tay với cán bộ của mình đi làm nhiệm vụ. Rồi đây ai còn, ai mất, dễ gì có ngày gặp lại. Chiến tranh đã bước vào thời kỳ ác liệt.

Thử thách đầu tiên

Đúng 18 giờ 30 phút ngày 29 tháng 5 năm 1965, một chiếc xe Gatz 63 tiến thẳng vào cơ quan. Sáu anh em có danh sách được điều động đi làm nhiệm vụ đã sẵn sàng. Bước xuống xe, tôi thấy một người thấp, đậm, nước da bánh mật, trạc khoảng 35 - 38 tuổi, bắt tay anh em rồi bước vào phòng đồng chí Trưởng ban Kiến thiết 206 nói một vài điều gì đó, sau quay ra với tác phong "rất quân sự":

- "Xin mời các đồng chí lên xe".

Ổn định chỗ ngồi rồi tôi mới biết đó là anh NguyễnHùng, quê Phú Thọ, trưởng đoàn chuyến đi. Trên xe đã sẵn có gạo, thực phẩm, súng CKC, đường, sữa và 24 cán bộ khác cũng thuộc ngành Giao thông. Mỗi người một cơ quan nên hầu hết chưa biết nhau. Tôi chỉ biết anh Nguyễn Vũ Trụ học trước tôi 2 khoá, và mấy anh em ở Ban Kiến thiết 206.


Mùa hè ở thành phố Vinh nóng như nung mà xe phải bịt kín bạt. Không ai trong chúng tôi rõ mình được đi đâu và làm nhiệm vụ gì. Xe chạy lòng vòng gần 40 phút mới đến cầu phao Bến Thuỷ. Tôi đoán: "Các cụ nghi binh". Qua cầu phao Bến Thuỷ xe chạy theo quốc lộ 1, rẽ lên đường 8 và sang đường 15. Lúc này tôi nói với anh em: "Đi Nam rồi các ông ơi". Gần sáng thì đến xã Hương Thuỷ, Hương Khê, Hà Tĩnh.


Nghỉ tại Hương Thuỷ một ngày. Lợi dụng đường rừng, vả lại thời kỳ này từ Hương Khê đến ngã ba Khe Ve máy bay đánh phá còn ít nên anh Hùng cho xe xuất phát lúc 17 giờ. Xe chạy suốt đêm, vượt đèo Mụ Dạ, qua cổng Trời đến đồn công an Cha Lo khoảng 4 giờ sáng, cả đoàn nghỉ lại, đến 16 giờ anh Hùng cho họp tổ và phân công các nhóm để làm nhiệm vụ. Lúc này toàn đoàn mới vỡ nhẽ: khảo sát và thi công đường quân sự. Tôi được phân vào tổ gồm có: anh Nguyễn Hùng, anh Đinh Kiện, anh Nguyễn Vũ Trụ, anh Kính công nhân khảo sát, anh Việt y tá và 2 đồng chí người dân tộc, quê ở Cao Bằng, vừa làm công nhân khảo sát vừa bảo vệ.


Đêm đầu tiên, và cũng là lần đầu tiên chúng tôi ngủ ở đất bạn Lào, cách đồn Cha Lo khoảng 500 mét. Vào đầu mùa mưa ở đất Bạn, địa điểm chúng tôi trú đêm nằm vào "vùng đệm" giữa biên giới Lào - Việt. Bầu trời trong xanh!

- "Không mưa đâu, đêm nay anh em ta nghỉ tại suối cạn, chặt cây đường kính 8-10 cen ti mét bắc ngang qua suối, dưới trải lá, trên trải chăn, ngày mai ta tìm vị trí đóng quân". - Anh Hùng nói.

Cả nhóm chấp hành nhanh chóng và đi chặt cây làm giường. Đến khoảng một giờ sáng, bất thình lình một trận mưa ào ạt đổ về. Tất cả ngồi nhổm dậy, dùng đèn pin le lói kiểm tra mức nước suối. Quái lạ, nước về rất nhanh, đến khi gần mấp mé sạp ngủ, anh Hùng mới vội vã cho anh em chuyển lên sườn núi. Mưa ngàn, gió núi ào ạt đổ về, 30 phút sau toàn bộ sạp "giường" bắc qua suối cạn đã bị cuốn trôi. Thế là đêm đầu tiên trên đất Bạn, chúng tôi phải thức trắng, mỗi người lấy ni lông che mưa và ôm lấy một gốc cây.


Tuy nhiên, chúng tôi là "lính cậu" nay gặp rừng, ngủ suối lại rất lạc quan, thậm chí còn thích thú, thoả mãn tính tò mò của tuổi trẻ.

Ngày hôm sau cả tổ khảo sát cùng đi tìm vị trí đóng quân. Một cái hang đá thật lý tưởng, có thể chứa được 30 người, nấu ăn an toàn, không sợ khói. Kiểm lại quân số, tư trang còn đầy đủ, anh Hùng nói:

- "Thế là yên tâm rồi!"

Tổ khảo sát chúng tôi có nhiệm vụ khảo sát đường tránh 050. Đường này nối từ đường 12 đến ngã ba Lằng Khằng, đi Pha Nốp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #51 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2025, 08:38:02 pm »

Tháng 6 năm 1965, một tháng không thể nào quên ở trận đất Bạn. Mưa liên miên suốt ngày đêm, mưa trọn 30 ngày. Mưa dầm dề, tê tái, sên vắt được dịp hoành hành. Tổ chúng tôi ngày đầu xuất quân, chỉ để lại hang đá 2 đồng chí làm nhiệm vụ hậu cần, bảo vệ.


Anh Hùng nói: "Mình có kinh nghiệm ở Điện Biên rồi, các cậu yên tâm!

Chúng tôi lần theo bản đồ dùng địa bản tìm hướng, vừa đi vừa dừng lại xem bản đồ. Khoảng 2 giờ chiều đến ngã ba Lằng Khang, anh em đùa tếu: "ngà ba lằng nhằng", hai từ đùa tếu này còn mãi đến nhiều năm sau.

Mưa càng ngày càng nặng hạt, nước suối dội vềào ào. Anh Hùng động viên, không sao, hãy dũng cảm vượt qua sông Pha Nốp. Lúc này, đứng trên bờ sông, nhìn nước nguồn về ngày càng lớn, nước sông đục ngầu, chảy như thác, cả tổ khảo sát không thể qua được sông, đành quay lại cách đó khoảng 1 cây số để tìm hang đá trú ẩn. May sao tìm được một hang đá khá đẹp, có thể chứa được 20 người. Trong hang đã có sẵn sạp ngủ, chỉ cần củng cố, đỡ mất công. Anh em đoán đây là một chỗ trú quân của Pa thét Lào trước đây.


Mặc! Trời đã tối! mưa càng ngày càng to, nước dâng cao. Vừa phân công nhau canh gác, số còn lại tranh thủ ngủ. Tối đó bọn tôi chỉ ăn nắm cơm buổi sáng mang theo, lúc trưa chưa kịp ăn.

Ngày sau mưa càng nặng hạt hơn. Lương thực chỉ dự kiến mang đi có hai ngày. Mưa liên miên, ngày này qua ngày khác, nước chỉ cách cửa hang khoảng 1 mét. Sang ngày thứ tư hết lương thực, loanh quanh chỉ đi hái măng, luộc chấm muối. Sang ngày thứ 5, nguồn măng xung quanh hang đá cùng đã cạn, nước lại rút rất chậm.


Thoáng thấy lo lắng! May sao, anh em cầm đèn pin rọi khắp hang đá thấy một bao tải muối và một chú lợn con khoảng 3 cân. Đói, mệt, ở trong hang đá thấm lạnh; anh em xin ý kiến anh Hùng cho bắt con lợn làm thịt Lúc đầu anh Hùng không đồng ý, nhưng sau nghe anh em nói có lý, anh Hùng cũng chấp nhận. Mấy anh em chạy đuổi con vật quanh hang đá mãi mà không thể bắt được, hang đá có nhiều ngóc ngách, đá tai mèo lởm chởm. Dùng súng bắn thì dễ nhưng cũng sợ vì mới một vài ngày chưa rõ địch tình ở vùng này. Loay hoay mãi rồi cũng tóm được chú lợn làm thịt. Anh Hùng phải chia phần: Làm xong lợn thì lòng, thủ, 4 chân ta liên hoan, còn lại thái nhỏ, kho muối bỏ vào ống pháo sáng. Mỗi bữa chỉ có măng luộc và mỗi người được hai miếng thịt nhỏ. Sang ngày thứ 6 nước đã rút khá mạnh nhưng chưa thể đi được. Đêm nằm trong hang đá lạnh, tôi ngủ miên man, tỉnh dậy thấy quần áo ướt đẫm, đói lại càng lạnh. Tôi vội gọi anh Hùng:

- Anh Hùng ơi? Hang đá dột, em ướt hết cả rồi.

Anh Hùng dậy soi đèn pin kiểm tra, tất cả đều an toàn, hang đá không hề có rò rỉ.

- Không việc gì đâu! Em đói quá thôi, cố mà chịu, ngày mai ta lui quân...

Trời tạnh mưa, nước lũ đã lùi về các con sông, con suối nhưng cũng đang còn nhiều đoạn trũng bị ngập. Có đoạn đường, chúng tôi phải lội nước quá đầu gối. May sao về đến "đại bản doanh" không ai việc gì.

Cuối tháng 7 năm 1965, chúng tôi được lệnh rút về Đoàn bộ 559, lúc này Bộ Tư lệnh đang đóng quân ở R - một căn cứ của Đoàn 559 đóng ở Tuyên Hoá, Quảng Bình. Chúng tôi ở lại được 2 hôm, ngày thứ 3 lên đường nhận nhiệm vụ mới.

Thử thách mới

Qua ba đêm hành quân, chúng tôi đến Làng Ho, trên đường 16 để khảo sát và thi công tuyến xe thồ. Anh Đinh Kiện dạn dày kinh nghiệm được phân công chỉ đạo khảo sát đoạn tránh đèo 1001, chọc đường qua Cù Bai để đi về Sê Băng Hiêng. Tôi được phân công C phó kỹ thuật, một C thanh niên xung phong hầu hết người Quảng Bình, do anh Hỷ, người làng Bảo Ninh huyện Lệ Thuỷ làm C trưởng và một đồng chí C phó phụ trách hậu cần cũng người Quảng Bình. Đơn vị chúng tôi đảm nhận thi công đoạn đầu mối từ Làng Ho trở vào.

Đường vừa khảo sát vừa thi công, cái khó nhất là trong tay không có một dụng cụ cần thiết đáng kể ngoài cuốc chim, xẻng, dao tông và lòng dũng cảm.

Đường khảo sát đến đâu, thi công đến đó. Thi công đường không khó cho dù vách núi có chỗ dốc 60°. Cái khó nhất của đơn vị chúng tôi là phải giữ bí mật tuyệt đối, vì đường đầu mối không để máy bay phát hiện. Khó thứ hai là bắc một cầu treo qua suối Xa Rắc, ngay gần đầu mối dài hơn 40 mét. Tìm được vị trí đặt 2 mố cầu phù hợp là rất khó. Yêu cầu là mỗi bên suối phải có 2 cây cổ thụ cách nhau 4 - 5 mét, ở vị trí qua suối ngắn nhất, bởi vì nguồn vật liệu hoàn toàn do rừng cung cấp: gỗ, mây, song. Vấn đề quan trọng thứ hai là phải tìm bằng được 8 –10 dây song, mỗi dây dài 60 mét trở lên làm dây chủ.


Song song với việc bố trí người xuyên rừng, lội suối tìm song thì một bộ phận làm đường, một bộ phận chặt cây để lát mặt cầu, mỗi cây dài 3 mét, đường kính 10 - 12 cen ti mét. Một bộ phận khác làm tời quay tự tạo để căng "cáp song". Qua 3 ngày lặn lội không quản khó khăn vất vả, thú rừng và máy bay rình rập (đã có một đêm bộ phận tìm song ăn cơm nắm, ngủ lại trong rừng để mai đi tiếp), cuối cùng cũng đã tìm được đủ số lượng song để căng "cáp" bắc cầu.


Sau 7 ngày vật lộn với thời gian, mưa nắng, cầu treo Xa Rắc đã hoàn thành như kế hoạch dự kiến 10 ngày, rút ngắn được 3 ngày. Cầu treo rộng 1,8 mét, có 6 dây song làm "cáp" chủ, mỗi dây cách nhau 0,36 mét; phía trên mỗi bên 2 đây song và có làm lan can phòng hộ. Sau khi thử tải trọng tĩnh an toàn, rồi đến từng tốp thanh niên xung phong đi qua cầu đều cảm thấy thích thú và tự hào, lực lượng thanh niên xung phong đầy lòng nhiệt huyết, rất quả cảm. Tất cả cho miền Nam ruột thịt, tất cả cho tiền tuyến để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.


Tuyến đường 16 này có 2 cầu treo bằng song, mỗi cầu dài hơn 40 mét. Đây là 2 điểm chốt vượt sông cực kỳ quan trọng.

Sau hơn 4 tháng thi công, đường xe thồ từ làng Ho, Lệ Thuỷ, Quảng Bình đến đường 9 Quảng Trị đã hoàn thành. Gian khổ, sốt rét hoành hành và tuy đã có bom đạn địch thăm dò nhưng với lòng quyết tâm vì miền Nam ruột thịt nên các cán bộ, thanh niên xưng phong đã vượt qua tất cả để hoàn thành nhiệm vụ. Một chiến công mà không có lòng yêu nước, không dễ gì có được.


Đường đã hoàn thành. Một buổi chiều, tôi gặp anh Đinh Kiện từ tổ khảo sát "mũi nhọn" trở về. Anh em gặp nhau mừng mừng, tủi tủi. Hai anh em, mới có mấy tháng mà thân hình đã gầy guộc, da vàng như nghệ vì sốt rét và gian khổ. Ăn cơm tôì xong, tôi và anh Kiện rủ nhau ra đường chơi. Đứng trên một chiếc cầu gỗ mới xây dựng, gió ngàn thổi vi vu, vọng lại tiếng hú của con khỉ lạc đàn, nghe giọng hót của con chim "khó khăn khắc phục" lúc xa, lúc gần, nghe mà buồn và nhớ nhà đến não ruột. Tôi thì chưa có vợ, còn anh Kiện lúc ra đi đã có một con nhỏ. Hai anh em cùng quê Hà Tĩnh, cùng một cơ quan ra đi! Lặng một lát, anh Kiện đột nhiên hỏi:

- Vinh ơi! Đến khi nào hoà bình? Đến ngày đó ta cùng về quê".

Tôi hơi ngạc nhiên nhưng cũng trả lời anh gọn lỏn:

- "Trời mà biết được!"

Anh Kiện nói với tôi, một ý nghĩ đùa vui mà lãng mạn:

- Đến ngày hoà bình ta về qua thị xã Đồng Hới, mua một chiếc xe đạp rẻ tiền không chuông, không gác đờ bu. Hai anh em đạp thay nhau, về đến Hà Tĩnh, ông về nhà ông, còn tôi đạp xe về Đức Thọ thăm nhà. Sau đó tôi lại đạp xe vào nhà ông, bán xe đạp và mua rượu, thịt chó ta ăn mừng.

Tiếc thay ước vọng đó không thành; xong Công trường 16, mỗi người đi một nơi. Mãi đến năm 1976 tôi mới gặp lại anh Đinh Kiện tại công trường cầu Thăng Long, Hà Nội.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #52 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2025, 08:39:46 pm »

Xong Công trường đường xe thồ 16, từ Lệ Thuỷ, tôi được điều về đội khảo sát, lúc này Đoàn bộ 559 đóng ở Hạ Lào. Cùng đi với tôi có 5 thanh niên xung phong và anh Việt y tá;Hành quân cách Hoàn Lão, Quảng Bình 5 cây số, lúc này khoảng 17 giờ, thì bị một loạt bom toạ độ, tất cả bị vùi lấp. Tan khói bom, đi tìm nhau thì cô Ninh thanh niên xung phong, quê ở huyện Quảng Trạch hy sinh chỉ cách nhà cô khoảng 5 cây số, anh Việt y tá thì bị thương nặng, đến trạm xá tiền phương mới biết anh bị thủng 7 khúc ruột.


Tổ hành quân có 7 người thì một người hy sinh, một người bị thương nặng. Trời chập choạng tối, máy bay địch vẫn gầm gừ đâu đó. Thỉnh thoảng vẫn nghe tiếng bom từ xa vọng lại.

Quả thực năm anh em còn lại rất lúng túng. Tôi lấy súng bắn chỉ thiên 3 phát báo cho dân quân địa phương gần đó ra ứng cứu. Khoảng 5 phút sau thấy 10 dân quân vừa nam vừa nữ kịp thời đến địa điểm bom vừa dội. Tôi báo cáo tổng quát cho cán bộ địa phương, dân quân du kích và nhờ mai táng cô Ninh và bàn giao tư trang, giấy tờ cần thiết. Đồng thời xin 4 dân quân cáng anh Việt bị thương đến làng Cự Nẫm. Chúng tôi cùng hành quân về Cự Nẫm ngay đêm đó. Không một chút đắn đo chần chừ, tốp dân quân chấp nhận ngay.


Thế đấy, cuộc chiến tranh nhân dân của ta thật là kỳ lạ sự kỳ lạ vĩ đại. Ở đâu cũng là tiền tuyến, ở đâu cũng là hậu phương; một người dân là một người lính, một người lính cũng là một người dân. Hợp tác giữa quân chính quy, bộ đội địa phương, dân quân du kích và mọi người dân thật là chặt chẽ. Ai ai cũng một lòng, một dạ dốc sức cho tiền tuyến. Không ai so đo, tính toán thiệt hơn, không ai sợ gian khổ, hy sinh. Mỗi người dân, mỗi người lính, mỗi cán bộ ở hậu phương cũng như ngoài mặt trận chỉ tập trung vào một mục đích, một quyết tâm: Tất cả để đánh thắng Mỹ Nguỵ, giành lại độc lập thống nhất nước nhà.


Sau hai ngày hành quân, vượt đốc Ba Thang, khập khiễng đi trên đường 20 lúc này đang thi công, tuy rất mệt nhưng lại rất vui. Vui vì gặp được nhiều cô thanh niên xung phong đang thi công trên đường hóm hỉnh, vui tính, yêu đời.

- Các chú bộ đội ơi! Ở đâu ra mà vàng vọt, xanh xao thế, chúng em thương quá! Các cô nhao nhao đùa.

- Các chú ở "trong nớ" ra đây, các cháu có mệt không? Tôi hóm hỉnh trả lời.

Một cô cười và nói:

- Ơ! Cái anh này, bọn em hỏi đường thẳng mà anh lại bắt cong.

Tôi nói tiếp:

- Vẫn thẳng đấy chứ? Khéo thế! Mới chào chú xong lại chuyển sang chào anh. Hay thật!

Vui với các cô thanh niên xung phong Diễn Châu rất bạo dạn ít phút, xong lại tiếp tục hành quân về Ban Chỉ huy Công trường 20. Mấy anh em chúng tôi đến công trường bộ khoảng 18 giờ, đúng vào tối 29 tết âm lịch năm 1965. Đến đây tôi gặp lại anh Cao Xuân Can, cùng cơ quan cũ sau gần 1 năm xa cách.


Tết 1965 -1966, chúng tôi ăn Tết ở Công trường 20. Chiến tranh ác liệt, công việc khẩn trương, vất vả nhưng chúng tôi đón một cái Tết ở rừng Trường Sơn khá thịnh soạn. Ngày mồng 02 âm lịch, Tết năm 1966, chúng tôi tiếp tục hành quân về Lùm Pùm để nhận nhiệm vụ. Lúc này đường 20 đang thi công từ phà Xuân Sơn qua dốc Ba Thang, đường còn nham nhở đá và gốc cây, còn lại chúng tôi phải luồn rừng, lội suối tìm đường về Lùm Pùm.


Đến địa điểm ít hôm, tôi được anh Phan Văn Kiến, quê Khu 5, Chính trị viên Đội Khảo sát phân công về nhóm cùng anh Bùi Quang Cảnh, anh Trần Quốc Dần, hai anh cán bộ kỹ thuật khoá trước, lại là đồng hương. Chúng tôi được nhận nhiệm vụ khảo sát đường tránh ngầm Tha Mé và đăng ký đường từ Lùm Pùm đi Tha Mé đến Si dài 62 ki lô mét. Vào thời điểm này, cả 3 anh em chúng tôi rất ốm yếu, sốt rét hoành hành liên miên. Đi công tác lẻ nên hậu cần rất khó khăn.


Thời này phần lớn anh em ở tuyến đường Trường Sơn rất vất vả về hậu cần. Hàng vận chuyển từ ngoài Bắc vào đến Vĩnh Linh và sang đường 12, đến Khăm Muộn hầu như chỉ còn 30% để chuyển vào tiền tuyến, ở trung tuyến hậu cần rất khó khăn. Cũng may mà lính khảo sát đường Trường Sơn tuy vất vả, gian khổ, công việc lại rải khắp miền, mỗi nhóm chỉ 3-5 người nhưng anh em chịu khó học tiếng Lào, đầu tiên phải học tiếng bồi với mục đích để hỏi đường, chào hỏi ngoại giao và trao đổi trong sinh hoạt hàng ngày, nên cũng thuận lợi hơn.


Những năm tháng chúng tôi ở Khăm Muộn và Xa Va Na Khẹt, gặp được đồng bào Lào rất khó, thậm chí còn hiếm, bởi vì máy bay Mỹ tàn phá hầu hết các bản Lào, dân phải vào sơ tán thành từng nhóm trong rừng sâu. Nhà dân là những túp lều nhỏ dựng tạm, rất cơ động. Trong điều kiện lương thực, thực phẩm rất khó khăn, lại ốm yếu do sốt rét rừng. Mùa mưa ở rừng Trường Sơn thì thật khủng khiếp. Mưa liên miên, mưa ngày này qua ngày khác, mưa tuần này sang tuần khác, mưa 3-4 tháng liền. Trong điều kiện địa hình và thời tiết như vậy nhưng chúng tôi vẫn làm việc, kịp số liệu để cuối mùa mưa, đầu mùa khô, bộ đội công binh và thanh niên xung phong tiếp tục mở đường ra mặt trận.


Khảo sát xong tuyến tránh ngầm Tha Mé, 3 anh em Bùi Quang Cảnh, Trần Quốc Dần và tôi tiếp tục nhận nhiệm vụ đăng ký đường từ Lùm Pùm đi S1. Việc đăng ký đường đã thi công, có một số nhiệm vụ chính:

- Đo chiều dài đường để có số liệu tính toán cung độ vận tải.

- Điều tra tài nguyên, chủ yếu là vật liệu gỗ, đá trên từng đoạn đường để có phương án đảm bảo giao thông trong mùa mưa.

- Khảo sát kỹ những trọng điểm địch có thể đánh phá, từ đó có phương án tìm đường tránh thích hợp.

Mới nghe qua thì đơn giản, thực tế lại vô cùng khó khăn và phức tạp, nguy hiểm. Hàng ngày phải có mặt trên đường để đo và đếm. Đo từng mét đường, đếm từng loại cây có khả năng dùng để đảm bảo giao thông, trong khi đó địch đánh phá thường xuyên. Có những đoạn đường, B52 đánh huỷ diệt với chiều dài hàng cây số, rộng hàng trăm mét. Những chỗ ấy muốn đi qua phải dùng đất hố bom trát vào mũ tai bèo và quần áo để nguỵ trang. Nếu không rất dễ bị máy bay L19 phát hiện. Chúng tôi đi lại trên đường thường xuyên nên rất sợ loại máy bay trinh sát này. Bao giờ cũng có 2 chiếc bay rất thấp theo hình số 8. Đang làm việc trên đường mà gặp loại máy bay trinh sát này là phải lùi vào rừng để tránh. Khi đã nghi ngờ một vùng nào đó, thường nó bay đi bay lại hàng giờ đồng hồ, nghe tiếng "vè vè" mà sốt cả ruột.


S1 là điểm cuối đường chúng tôi đăng ký. Đến ngã ba đường, anh em thở phào: Hoàn thành nhiệm vụ và có đầy đủ số liệu. Nghỉ trưa, ba anh em ăn cơm nắm, nắm cơm chỉ bằng quả cam và một viên "ma di cô" mang theo. Vui và phấn khởi vì hoàn thành nhiệm vụ trước kế hoạch 7 ngày.

- "Cần gì phải đi đâu xa, ngồi ngay trọng điểm "đàng hoàng" mà ăn!" Anh Dần vẫn lạc quan.

- "Xin hai ông anh, em thì ngại lắm, mất "gáo" như chơi". Tôi nói.

Thế là cả 3 anh em lùi vào rừng khoảng 500 mét vừa mát vừa kín đáo. Đang ăn dở thì ầm, ầm, ầm! Một loạt bom toa độ đánh ngay vào trọng điểm.

Tôi thở phào, nói: "Biết mà? Thánh không? Nếu ngồi nghỉ ngoài đó thì "xong" hết cả rồi. Em thì không sao, chưa vợ con còn các ông anh thì vợ con lại khổ".

Về đến chỗ đóng quân các ông phải khao em một "chầu" thuốc lào đấy nhé?
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #53 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2025, 08:42:36 pm »

Chiến tranh còn tiếp diễn, ngày càng gay go và quyết liệt; hết đường này chúng tôi lại ba lô con cóc, đôi hài vạn dặm, súng, bản đồ, địa bàn đi tìm đường khác.

Đầu tháng 10 năm 1966, tôi và anh Trần Quốc Dần nhận nhiệm vụ: về đường xe thồ 16, bổ sung cho tổ khảo sát do anh Vi Văn Miết làm tổ trưởng làm đường tránh hai trọng điểm. Cuộc hành quân của hai anh em tôi tìm tổ khảo sát anh Miết cực kỳ khó khăn. Cung đường đi bộ theo bản đồ 1/100.000 khoảng 4 ngày đường. Trong tay chỉ có bản đồ và lương thực đủ ăn trong 5 ngày. Cái khó ở chỗ là đi theo bản đồ, qua các làng bản nhưng vì bản đồ có tỷ lệ khá nhỏ, mặt khác bản đồ này xuất bản trước 1940 nên qua nhiều làng bản có ghi trên bản đồ thì: một là, làng bản chuyển sang vị trí khác, hai là làng bản cũng đổi tên nên rất khó xác định. Chiều ngày thứ 5, chúng tôi đến gần Bản Đông, cạnh sông Sê Pôn thì trời vừa tối. Hai anh em phải ngủ tại một cái chòi canh lúa của nông dân Lào. Đêm đó nằm trong chòi trên đồi cao chúng tôi lấy rơm rạ chất ba phía làm "công sự", chỉ để một cửa nhỏ ra vào.


Đêm đó thật đáng sợ, hai anh em súng đạn đã lên nòng, để song song với người đề phòng bất trắc. Khoảng 9 giờ đêm, dưới ánh trăng bàng bạc, nghe tiếng máy bay mỗi lúc một gần. Đầu tiên là C130 rải pháo sáng dọc sông Sê Pôn và Bản Đông (sau này chúng tôi mới biết đây là "Bản Đông nhạy - Bản Đông lớn", tiếng Lào). Một lúc sau, một tốp AD6 đến rải bom và bắn 20 ly xuống Bản Đông. Ngồi trên đồi cách đó khoảng 1 cây số, mỗi lần máy bay AD6 lao xuống bắn, chúng tôi thấy cả lưng máy bay. Vào thời điểm này toàn bộ dân bản đã sơ tán. Một đêm có chỗ nằm "thiên đường" nhưng không sao ngủ được vì nghe tin vùng này còn quân Phu Mi hoạt động.


Ngày hôm sau hai anh em lại ba lô lên đường, đến Bản Đông không còn một ngôi nhà nào trọn ven. Gặp sông Sê Pôn là yên tâm lắm rồi. Theo bản đồ thì chỉ một ngày đường nữa là gặp được tổ anh Vi Văn Miết. Trời mưa rả rích, đứng trên bờ nhìn nước sông Sê Pôn đục ngầu, nước chảy cuồn cuộn. Suy đi tính lại, hai anh em quyết định dùng ni lông làm phao bơi qua sông. Nhưng nước sông chảy xiết, người ốm yếu, lại đói, nên không đủ sức vượt sông, mặc dầu biết qua được sông thì bên kia là đường số 9.


Chúng tôi quay lại dừng dưới chân đồi 660, nhìn quanh thấy một con đường mòn nhỏ lên núi, tìm mãi không thấy dấu dày. Chúng tôi đoán trên đồi có bộ đội mình đóng quân. Đi được một quãng khá xa, đói, mệt, càng đi càng thấy vắng vẻ, lại xuống núi, mở bản đồ ra xem. Tính cung độ tỷ lệ trên bản đồ thì khoảng hơn 10 cây số có đánh dấu bản làng. Đọc kỹ thì thấy Bản Đông noi (Bản Đông nhỏ), cạnh sông Sê Pôn, cách đường 9 khoảng gần 2 cây số. Chúng tôi quyết định đi về bản đó để tìm phương tiện vượt sông. Một ngày đường trèo đèo, lội suối, gần tôi, chúng tôi đến được Bản Đông noi. (Đồi 660 chính là nơi năm 1972 quân ta bắt đại tá Thọ, ngụy quân Sài Gòn).

Đến nơi, vào gặp phó bản, đầu tiên ông ta hăng hái nói:

- Bản có thuyền độc mộc, để phó bản chở ta hán1 (Ta hán = Bộ đội) Việt Nam sang sông. Bên kia sông có một đơn vị ta hán Việt mới về đóng quân hôm qua. Súng nhiều lắm! Ta hán đông lắm.

Lúc này trời đã tối hẳn. Nghe phó bản nói chúng tôi hơi ái ngại: Không hiểu "lão" này có theo Pha Thét Lào không? Bên kia có một đơn vị, có súng ống, có phải bộ đội của ta ngoài Bắc mới vào hay là một đơn vị của nguỵ (vì bản này cách Lao Bảo và đồn Huội San không xa). Một phút lưỡng lự, chúng tôi quyết định nghỉ lại Bản Đông noi. Phó bản một mực từ chối. Chúng tôi nói:

"Phó bản không cho ngủ nhà sàn thì "mình" mắc võng ngoài cây mít. Và xin báo trước, đêm ai đến cách 20 mét phải lên tiếng, nếu không "mình" bắn".

- "Ngủ ngoài rừng muỗi lắm, không chịu được mô. Mời Palangan (cán bộ) về nhà tôi mà ngủ".

Chúng tôi cũng hạ giọng và theo phó bản lên nhà sàn. Vừa mới đặt ba lô xuống, mồ hôi ướt đẫm, tôi liếc nhìn qua bếp thấy mấy bó rau cải dựng xung quanh. Gần hai năm rồi có biết rau cải là gì đâu; chỉ ăn rau tàu bay, môn thục và cây chua ở suối. Nhìn thấy rau cải, tôi đã thèm chảy nước miếng.


Tôi liếc mắt qua anh Dần và nói tiếng "lóng" của Việt Nam (để phòng phó bản biết - vì ông này cũng biết một ít tiếng Việt) để anh Dần "ra tay", anh Dần biết khá nhiều tiếng Lao. Anh quay sang tôi và nói: cứ để mặc anh, rồi quay sang pho bản, chỉ vào bó rau:

- Phắc nhăng? Anh Dần hỏi (rau gì?).

- Phắc cạt! Mường Việt gọi phắc nhăng? phó bản hỏi:

- Mường Việt bò mi phắc cát (Việt Nam không có rau cải). Phắc ni kin đạy bọ? (Rau này ăn được không?). Anh Dần hỏi.

- Kin đạy! Kin đạy! Chốp lai, (ăn được, ăn được, tốt lắm). Tà hán Việt Nam kin bừng (ăn thử) - phó bản nói.

- Bò kin (khồng ăn). Anh Dần trả lời.

Phó bản sợ bộ đội không tin nên lây ngay một lá rau lớn, đập đập bụi và bỏ vào nhai ngấu nghiến. Lúc này anh Dần cũng giả vờ lấy một cọng và nhấm nháp...

Sau đó, phó bản nói đại ý: Bộ đội Việt lấy rau cải luộc mà ăn, ở đây nhiều lắm. Anh Dần quay sang tôi cười.

- Chú lấy một ít, rửa và luộc chấm muối, thử coi!

Lính khảo sát ngoại giao khá tốt! Rất may, sau này chúng tôi mới biết một nửa thanh niên bản này còn đi lính Phumi.

Sáng sớm hôm sau, phó bản dẫn chúng tôi ra một chiếc thuyền độc mộc, tự chèo đưa chúng tôi sang sông. Chúng tôi hơi yên tâm. Lên bờ, phó bản chỉ cho chúng tôi chỗ đóng quân của một đơn vị bộ đội, nhưng chúng tôi vẫn cảnh giác, tìm đường đến đường 9. Đi ngược đường 9 gần đến Bản Đông, tìm đường rẽ vào đường 16, tìm tổ anh Vi Văn Miết. Mãi tới gần 4 giờ chiều, đi trên đường giao liên, nghe lao xao ở sườn núi, chúng tôi đành liều và gọi hờ:

- "Anh Miết ơi? Anh Miết? Vinh, Dần đến đây rồi".

Dưới sườn đồi nghe vọng lại: "Chờ tý, lên ngay".

Ôi chao ơi! Ba anh em gặp nhau mừng không kể xiết. Một lúc, anh Miết giọng Khu 5:

- "Các cậu về trước đi, theo lối này, rồi rẽ trái sẽ gặp một bản không có dân, có một cậu ở nhà đang nấu ăn".

Tôi và anh Dần tìm đường về "bản quán". Tối đó, 9-10 anh em rất vui, quây quần bên mâm cơm có cá suối nâu lá chua ở rừng, một ít cơm và một ít rau tàu bay luộc.

Xong hai tuyến đường tránh đường xe thồ 16, chúng tôi trở về Đoàn bộ Bộ Tư lệnh 559, Đội Khảo sát cũng ở gần đó.

Lại một chuyến chia tay. Tôi, anh Miết, anh Dần trở về Đội Khảo sát. Số anh em còn lại đi làm nhiệm vụ khác.

Ba anh em Miết, Dần, Vinh lại hành quân qua Quảng Bình. Không may, đến trạm Mai Thuỷ, Quảng Bình, anh Miết sốt rất cao. Qua một ngày một đêm mà anh vẫn sốt dữ dội. Sang ngày thứ hai, trạm trưởng giao liên Mai Thuỷ nói:

Hai đồng chí cứ hành quân theo kế hoạch; anh Miết không đi nổi, chúng tôi lo sau.

Chia tay anh Vi Văn Miết lòng chúng tôi tràn đầy lo lắng, xúc động. Nếu anh bị một cơn sốt ác tính thì vĩnh viễn anh em xa nhau và chúng tôi sẽ vô cùng ân hận. Dù vậy, theo kế hoạch, thực ra là lệnh, chúng tôi phải hành quân. Ngày sau, tôi và anh Dần về đến xã Đại Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình, gần cầu Chánh Hoà. Nghỉ một ngày chúng tôi lại hành quân, sang đất Bạn, nơi bản doanh của Đội Khảo sát...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #54 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2025, 08:44:23 pm »

Đón xuân Đinh Mùi 1967

Về tới Đội Khảo sát Cục Tham mưu Công binh. Lúc này, tóc tôi hoe vàng, Cục trưởng Phạm Văn Diêu, gọi đùa tôi là: "Xuân tóc đỏ" - một nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng. Tôi chỉ cười...

Gần Tết rồi mà anh em chẳng thấy gì. Anh Kiến, Chính trị viên nói: "Các cậu yên tâm, có hết, có mọi thứ. Tết này tôi giao cho đồng chí Vinh làm bếp trưởng". Tôi hoảng quá vì tôi mới vẫn là "lính cậu", chưa từng tổ chức "cỗ bàn" lần nào.

- "Xin thủ trưởng! Em không làm được đâu!" - Tôi nói.

- Anh Kiến cười nói: "Cứ làm đi, có gì tôi giúp. Mà có gì đâu, hái hoa dân chủ, cơm muối, măng rừng và dăm bảy hôp thịt. Có vậy mà không làm được à!".

Khoảng hơn 5 giờ chiều, rừng Trường Sơn đã tối lắm rồi, nghe tiếng chuông điện thoại: rèng! rèng! rèng! Anh Kiên Cầm ống nghe:

- "Trạm xá phải không? Cái gì đấy? Sao! Sao! Thịt nai à?Bao nhiêu ký?". Anh Kiến cười: "Ít quá, quân tôi tết này về đông lắm".

Bỏ máy xuống. Anh Kiến nói to:

- "Các cậu ơi? Lại có món thịt nai, tuyệt vời. Tết này thế mà khá". Anh Kiến quay sang tôi nói:

- "Vinh ơi! Cậu quản lý thật tốt đấy, nếu không sáng mai mồng một Tết chỉ còn lại miếng da thôi! Lính khảo sát khiếp lắm!".

Tôi vừa mừng, vừa lo. Mừng vì có thêm chất tươi, lo vì không khéo lại như anh Kiến dự đoán.

Giờ đón giao thừa xuân Đinh Mùi (1967) sắp đến, chúng tôi ớ dưới hầm ngầm với ngọn đèn dầu hoả leo lét, vài ba gói chè Hồng Đào và mấy gói thuốc lá Tam Đảo, mấy gói thuốc lào. Chỉ vậy thôi nhưng anh em rất vui. Riêng tôi khá bận rộn việc "bếp núc". Thỉnh thoảng lại có cậu ghé tai tôi nói nhỏ: "Tao miếng thịt nai, nhỏ thôi, tao nướng"...


Đến mờ sáng ngày mồng một Tết, tôi xuống kiểm tra bếp thì đúng như anh Kiến dự đoán, 5 ki lô gam thịt nai chỉ còn lại da và một ít thịt lằng nhằng.

Ngày đầu xuân khá yên bình, không nghe tiếng bom rơi, đạn nổ, máy bay chiến đấu cũng im tiếng, chỉ vè vè tiếng máy bay trinh sát L.19 ở miệt rừng xa. Đúng 15 giờ, tiếng chuông điện thoại réo rắt, anh Kiên cầm ống nghe, chúng tôi ngồi bên chỉ nghe anh Kiến trả lời:

- "Vâng! Vâng! Báo cáo thủ trưởng, xin tuân lệnh. Mấy giờ lên đường?"

- "Đúng 17 giờ 30', đi cùng đồng chí Hà Kỳ Thự, đại uý. Vâng, vâng!" Anh Kiến nhắc lại.

Chiều mồng một Tết, đơn vị hội ý đột xuất, anh Kiến nói:

- "Báo cáo với các đồng chí, đầu năm đơn vị ta "mở hàng" sớm. Cục đã điện thoại trao đổi và giao nhiệm vụ cho đội khảo sát chúng ta cử 3 đồng chí đi làm nhiệm vụ. Chúng tôi đã hội ý trong ban chỉ huy cử đồng chí Thương, đồng chí Hùng và đồng chí Vinh đi công tác đợt này.

Đúng 17 giờ các đồng chí sang Bộ Tư lệnh gặp đồng chí Hà Kỳ Thự cùng đi. Nhiệm vụ cụ thể đồng chí Thự sẽ trao đổi...".

Đúng 17 giờ 30' chúng tôi xuất quân. Tiết xuân trời dìu dịu mát. Hoàng hôn xuống, rừng Trường Sơn phủ một màu bàng bạc. Chúng tôi ngồi trên một chiếc u-oát, anh Thự ngồi trước, anh Thương ngồi sau lái xe, anh Hùng, quê Hưng Yên ngồi ghế giữa, tôi ngồi sau anh Thự.

Xe bắt dầu xuống dốc Vang Mu thì C.130 đã giăng đầy pháo sáng. Anh Thự nói:

- "Tăng ga, vượt ngầm, lợi dụng pháo sáng mà chạy".

Xe lao xuống được 2/3 ngầm thì ầm ầm, một tốp A.D6 bay ngược chiều và lao xuống nhả đạn 20 ly. Tôi thoáng thấy chớp nhoáng trước đầu xe, xe khựng lại, đồng chí lái xe bảo:

- "Xe trúng đạn rồi thủ trưởng ạ!".

Tất cả nhìn ra sau, anh Thương quê Thừa Thiên đã gục xuống ghế, anh Hùng bị một viên 20 ly xuyên qua đùi ở phần mềm.

Máy bay chỉ nhả một loạt 20 ly rồi đi, pháo sáng đã tắt ngỏm. Kiểm tra kỹ thì anh Thương bị một viên 20 ly xuyên qua tim và hy sinh ngay, anh Hùng bị thương. Anh Thự quyết định cho xe quay lại bệnh viện 59. May mà xe hỏng nhẹ, còn đi được.

Về đến đơn vị chúng tôi dự đoán: Đáy là kiểu bắn "cầm canh" của máy bay Mỹ qua các trọng điểm, chứ không phải phát hiện được mục tiêu...

Mọi chuyện lại thay đổi... Sau một thời gian, tôi được phân công cùng một nhóm làm tài liệu từ Binh trạm 7 chuyển ra...

Và thế là sau cái tết Đinh Mùi đáng nhớ, tôi làm bếp trưởng, được xuất quân đầu năm và được chứng kiến sự hy sinh, mất mát và đau thương của đồng đội, đồng chí.

Tôi viết những dòng này như một nén tâm nhang tưởng nhớ đến vong linh của đồng chí Nguyễn Ngọc Thương và các đồng đội đã ngã xuống ở chiến trường. Chúng tôi những người còn lại sẽ mãi mãi không bao giờ quên các Anh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #55 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2025, 08:53:29 pm »

Đại tá
ĐẶNG VĂN NGỮ


Sinh năm:   1928
Quê quán:   An Tảo, Kim Động, Hưng Yên
Thường trú: Nhà 14-N2, Tổ 57, Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 04.38536626
Từ Bộ Tư lệnh Công binh chuyển vào Bộ Tư lệnh 559
Nguyên Binh trạm trưởng Binh trạm 32, Trưởng phòng Bảo đảm Giao thông Cục Tham mưu Công binh
Nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 565



MỞ ĐƯỜNG CẤP TỐC CHI VIỆN CHIẾN TRƯỜNG TRỊ THIÊN VÀ ĐƯA ĐOÀN THÂN SĨ YÊU NƯỚC MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG THEO ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN RA HẬU PHƯƠNG


Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968, thành phố Huế vẫn đang kiên cường tiếp tục chống giữ, giành giật của hai bên trở nên ác liệt.

Địch đã nống ra A Sầu, A Lưới đổ bộ quân bằng trực thăng xuống chiếm giữ vùng núi Con Mèo ngã ba đường đi Nam Đông Khe Tre, đi A Lưới, A Sầu. Địch đã phải trả giá bằng 34 trực thăng bị bắn rơi trong một ngày, nhưng vẫn không chịu từ bỏ ý định chiếm giữ dốc Con Mèo.


Việc tuyên chi viện Trường Sơn với chiến trường Trị Thiên bị chia cắt đang giằng co quyết liệt giữa ta và địch, buộc Binh trạm 42 phải bằng mọi cách nối thông đường vận chuyển đưa hàng vào chiến trường.

Sau buổi giao ban căng thẳng, một đoàn đốc chiến của Bộ Tư lệnh được thành lập khẩn trương vào giúp Binh trạm 42, binh trạm sát nách chiến trường để thực hiện nhiệm vụ đó. Phó Tư lệnh Lê Đinh Sum cùng một số sĩ quan các ngành chính trị, tác chiến, pháo binh, hậu cần, vận tải, công binh, trên hai xe Gatz 69, chạy lấn sáng lấn chiều, vượt qua ngã ba La Hạp đi thẳng vào chỉ huy sở Binh trạm 42, tại khu vực Động Con Tiên cách dốc Con Mèo không xa.


Binh trạm trưởng Hoàng Huyềnh đã có mặt đón đoàn tại địa đạo trung tâm, và dẫn khách về nhà nghỉ, ăn sáng. Nhà khách của Binh trạm là những nhà hầm nửa âm nửa dương, đào dựa vào sườn đồi, nguỵ trang rất khéo, mái lợp cỏ tranh, có hầm chữ A liền kề, cửa hầm bố trí thuận tiện. Mỗi nhà có 2 hoặc 3 giường nằm chân thấp, dát giường ken nứa bằng phẳng, có chăn đơn, màn đơn sạch sẽ gọn gàng. Một chiếc bàn tre nhỏ, thường trực chiếc đèn bão dầu ma zút cài một miếng bìa che ánh sáng, đề phòng máy bay địch phát hiện cạnh đó một chiếc ca Trung Quốc pha nước, 4 chiếc chén trong đĩa men sắt. Có ai nghĩ rằng ở đây ngày đêm đang đối mặt với chiến trường?


Trong buổi làm việc đầu tiên với Binh trạm, Phó Tư lệnh Lê Đinh Sum nói rõ nhiệm vụ, phân công từng mảng công việc. Việc phải triển khai hết sức cấp bách là trong 10 ngày phải nối thông đoạn đường tránh dốc Con Mèo đến Sông Bồ gặp đường 12 sẵn có để chi viện hàng trực tiếp vào Huế. Lực lượng nòng cốt thi công đường là công binh Binh trạm 42, một tiểu đoàn của Trung đoàn 7 công binh do đồng chí Lê Văn Xương, Trung đoàn trưởng chỉ huy trực tiếp, Trung đoàn 4 của đồng chí Tạ Viết Quý, 2 máy ủi đã bố trí tại nam A Lưới. Ngoài ra còn huy động thêm 4 tiểu đoàn đi B dừng lại tham gia mở đường.

- "Bộ Tư lệnh đã giao cho đồng chí Đặng Văn Ngữ, Trưởng phòng Bảo đảm giao thông chịu trách nhiệm chung, đồng chí Bùi Đức Tạm, Phó Chủ nhiệm Chính trị giúp đồng chí Ngữ công tác chính trị, và vào họp với Mặt trận Dân tộc Giải phóng tại địa đạo trên đường 12" - đồng chí Phó Tư lệnh kết thúc buổi làm việc.


Công việc triển khai rất khẩn trương, việc đầu tiên là bố trí cán bộ công binh làm nòng cốt giúp đỡ các tiểu đoàn quân đi B biết cách tổ chức thi công. Trên đường, vừa đi vừa giao nhiệm vụ cho từng đơn vị về khối lượng và mệnh lệnh, về thời gian hoàn thành. Hiểu rất rõ nhiệm vụ phục vụ chiến trường, các đơn vị phấn khởi hứa quyết tâm thực hiện nhiệm vụ.


Đúng đến ngày thứ 10, Chính uỷ Vũ Xuân Chiêm trực tiếp gọi thắng điện thoại cho tôi:

- "Sống chết gì, vào ngày hôm nay đồng chí vẫn phải cho xe vận chuyển hàng vào đường 12!"

Những đoạn dốc còn cao trên tiêu chuẩn, chúng tôi đã kịp thời huy động cả nhân lực và máy húc bảo đảm. Mặt trận đã huy động một đại đội dân công người Vân Kiều gùi sắn, bột bống báng bổ sung khẩu phần lương thực hiện đã thiếu thốn, cạn kiệt.

Đoạn đường đã được khai thông. Một đoàn xe Gatz 69 chở chuyến hàng thiết yếu đầu tiên vào đến Sông Bồ giao cho chiến trường.

Công việc tạm ổn, đồng chí Thế, Binh trạm phó tác chiến truyền đạt chỉ thị của Tư lệnh giao bảo đảm an toàn cho một đoàn thân sĩ của Mặt trận ra hậu phương. Đoàn gồm Thượng toạ Thích Đôn Hậu, Phó Chủ tịch liên minh các lực lượng dân chủ và hoà bình miền Nam Việt Nam, cụ Nguyễn Văn Đoá, giáo sư trường Đồng Khánh, bả Tuần Chi và chú tiểu lái xe của Thượng toạ lúc còn ở Huế.


Đồng chí Thế, Binh trạm phó tác chiến, được giao tổ chức lực lượng thực hiện nhiệm vụ này và tôi, Trưởng phòng Bảo đảm giao thông Cục Tham mưu Công binh tham gia. Chúng tôi xem lại toạ độ nơi đón đoàn, nghiên cứu điện của Bộ Tư lệnh và tổ chức thực hiện ngay.


Hoàng hôn đã buông xuống miền Tây Huế. Một đêm mới sang xuân, trời mưa phùn nhẹ hạt, se lạnh. Trong thời điểm cuộc chiến đang trong thế giằng co ác liệt, không gian cứ trầm trầm, ẩn ẩn, họ đã gặp nhau, hai trưởng đoàn trao đổi mật hiệu, tay bắt mặt mừng.


Một tập thể tổ chức quân đội miền Bắc ở chiến trường có sĩ quan, chiến sĩ, quân y đi theo đón một đoàn các nhân sĩ, các phật tử sống trong vùng địch hậu gần suốt cả cuộc đời, khác nhau cả về cuộc sống vật chất đến phong cách tập quán, nhưng tất cả đồng nhất một nguyện vọng độc lập dân tộc, thống nhất: đất nước. Mới lần đầu gặp nhau trong ánh sáng mờ ảo, sao như đã quen nhau từ lâu!


Thượng toạ Thích Đôn Hậu có thân hình tầm thước, dáng đi đạo mạo, vẻ mặt đượm chút tư lự đăm chiêu, hai tay chắp vào nhau có chút gì vừa cung kính vừa thân tình gọi mọi người bằng đồng chí. Đã biết trước trong đoàn có bà "Tuần Chi1 (Vợ Tuần phủ Nguyễn Đình Chi)", Binh trạm bố trí 2 nữ quân nhân phục vụ. Bằng giọng Huế ngọt ngào, bà trìu mến nắm tay, vỗ vai, xoa đầu khen ngợi các cô gái dịu hiền, khoẻ khoắn, rắn rỏi. Bà đăm chiêu nhìn xa xăm, có lẽ bà đang liên tưởng nghĩ đến các cô gái con bà. Cụ Đốc Đoá, một nhà giáo nổi tiếng ở nội đô thành phố Huế, đã lớn tuổi, dáng không được khỏe, anh Thế đề nghị mời cụ lên võng nhưng cụ nhất quyết không chịu. Một tay cầm gậy, một tay cầm chiếc đèn pin đã bọc "mùi xoa" che mờ ánh sáng, đi hàng dọc giữa anh Thế và tôi, vừa đi vừa trao đổi chuyện trò. Cụ Đốc Đoá là nhà trí thức Huế, hoạt động cách mạng đã khá lâu, am hiểu nhiều mặt, từ vùng giải phóng đến miền Bắc, cụ lại vui tính, cởi mở, nói chuyện râm ran dọc đường với anh chị em như đã thành người bạn đường thân thiết.


Đến trạm tiền phương Binh trạm 42, trăng lên quá đỉnh đầu, đã "nửa đêm, canh ba, giờ tý"- cụ Đốc Đoá nói vui như vậy. Sương đêm về sáng nhỏ giọt, rừng khuya trải dài bàng bạc. Giá như không có tiếng OV10 rè rè bền bỉ, tiếng bom toạ độ xa xa, tiếng pháo cầm canh điểm đều đều, quay vòng một bán kính mà tâm của nó đâu đó từ thành phố Huế nổ vu vơ thì cảnh quan đất trời với núi non Trường Sơn trùng điệp nơi đây cũng đã khẳng định một cảnh đẹp u tịch thần tiên hiếm có.


Đây là chặng nghỉ chân, nói là "tiền phương dã chiến" nhưng đoàn cũng được tiếp đón khá chu đáo, có nước nóng rửa chân tay, có bát cháo khuya ăn tạm, mắm muối đậm đà. Bên hầm chữ A tiền phương nhường cho khách, ánh pháo sáng lập loè khi vơi khi đầy, đủ giúp họ sắp xếp một chỗ ngả lưng tạm thời nhưng thật thú vị. Lo cho các vị phật tử cao niên, tạm an tâm, anh Ngữ, anh Thế và đoàn phục vụ, rất quen thuộc động tác tự phục vụ mình, đã nhẹ nhàng treo xong chiếc võng vi ni lông, không quên vắt lên đoạn dây dù dọc võng mảnh ni lỏng màu xám che sương đêm.


Cả đoàn chủ, khách đà im lặng trong không gian tĩnh mịch. Một giấc ngủ ngon lành hiếm có ngay tại chiến trường. Cả cuộc đời đã xế bóng của 3 vị khách cao niên chắc chắn chưa có được một lần mà có lẽ cũng khó có được lần thứ hai.

Trưa ngày hôm sau, đoàn đến Binh trạm bộ 42. Thượng toạ, bà Tuần Chi, cụ Đốc Đoá nắm chặt tay Binh trạm trưởng Hoàng Huyềnh và Chính uỷ Binh trạm xúc động trầm trồ khen ngợi, thán phục việc tổ chức tiếp đón nhiệt tình, đã thắng lợi ở chặng đầu tiên.

Chỉ huy Binh trạm cùng dùng cơm trưa chiêu đãi khách. Các vị không khỏi ngạc nhiên với bữa cơm chiêu đãi này. Giữa rừng núi âm u xung quanh dầy bom đạn, đoàn phật tử từ cố đô Huế lên, lại có một bữa "cơm chay" thật sự. Giữa bàn, hai đĩa đậu phụ được đơm đầy. Anh nuôi bày rất khéo, nhưng không hoa lá, hai bát tương, đĩa rau cải tăng gia đĩa nộm hoa chuối trộn vừng, cụm rau sống, và khá nhiều loại rau bày gọn trên hai chiếc lá dong rừng xếp ngược đầu nhau được cắt ghép thành hình bầu dục đặt ở hai đầu bàn, mặt bàn trải tấm ni lông vuông vắn màu cánh dán.


Bà Tuần Chi, đời thường chắc hẳn là một nữ tướng nội trợ. Bà nhìn chăm chú một lượt khắp bàn ăn khen:

- "Chà! Anh em giỏi quá, các cháu gái nấu ăn giỏi quá, lãnh đạo cũng quá chu đáo, bộ đội đánh giặc giỏi, ngoại giao giỏi, nội trợ cũng tài."

Thượng toạ Thích Đôn Hậu đăm chiêu suy nghĩ, chậm rãi tán thành ý kiến bà Tuần. Bữa cơm chay đơn sơ, có bình phẩm, có ngợi khen thật tình, người dùng bữa thấy thật sự ngon miệng, người phục vụ vui vẻ lấy thêm thức ăn, mang thêm bát canh chua rau rừng, xới thêm bát cơm cho khách, được tiếp thêm sự hào hứng phấn khởi.


Thực tình tôi cũng không khỏi ngạc nhiên, rỉ tai Binh trạm trưởng thì được biết Chính uỷ Bộ Tư lệnh đã có thông báo và chỉ đạo từ trước nên cũng có sự chuẩn bị.

Bỗng cụ Đốc Đoá cởi mở: "Với đôi dép hạ, dày bata, chúng tôi đang dùng, đi đường mòn Hồ Chí Minh có lẽ không phù hợp, muốn xin các đồng chí cho chúng tôi đôi dép cao su được không? Đôi dép Bác Hồ, tôi đã được biết đến từ hồi chống Pháp, đôi dép Bình Trị Thiên, lợi hại lắm, dùng vừa bền, vừa rất thuận tiện."

Binh trạm trưởng thông cảm, cười: "Xin hoàn toàn nhất trí và xin có ngay, thưa Cụ!"

Hậu cần đã mang dép cao su lên, chẳng biết có phải đã chuẩn bị trước, một lần nữa tôi cũng phải ngạc nhiên.

- "À, còn phải dự bị vài quai dép thay thế" - Anh Thế rút sau túi quần dụng cụ là chiếc kẹp sắt dùng để xâu quai và làm động tác thay quai.

Không hiểu có phải mới được thấy lần đầu không, Thượng toạ và bà Tuần quan sát rất chăm chú. Trong tâm tư của họ đã hết nỗi lo âu là lấy gì để bảo vệ đôi chân sẽ còn phải bước chắc là rất nhiều ngày trên đường mòn Hồ Chí Minh vạn dặm này.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #56 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2025, 08:55:16 pm »

Ba chiếc xe con Gatz - 69 đã sẵn sàng. Xe được ngụy trang cẩn thận, đầu quay về hướng Tây. Cụ Đốc Đoá và bà Tuần Chi đi xe đầu, Thượng toạ Thích Đôn Hậu và chú tiểu ngồi xe thứ hai, tôi cùng hai cán bộ của Binh trạm ngồi xe sau cùng, có nhiệm vụ hộ tống khách. Tất nhiên, mỗi xe của các vị khách đều có quân y Binh trạm đi theo đề phòng bất trắc rủi ro có thể xảy ra trên dường đi. Xe đi theo đường B45 về ngã ba La Hạp, một ngã ba trọng điểm bom đạn nổi tiếng ác liệt, đến Binh trạm 33 nghỉ một ngày theo kế hoạch, hôm sau mới vể Đoàn bộ ở K1.


Đến Binh trạm bộ 33 mới phát hiện được chiếc ví đầm bằng da màu đen bà Tuần Chi luôn cầm tay bị rơi lúc nào không hay biết. Bà Tuần băn khoăn trao đổi với Thượng toạ rồi cho Binh trạm biết là trong ví còn có giấy tờ của Mặt trận, từ lúc ra đi bà xem là vật tuỳ thân của cả cuộc đời còn lại, cùng một số vật kỉ niệm quý mà bà mang theo ra Bắc.


Trong tình huống đặc biệt này thật khó tìm ra giải pháp xử lí. Suốt gần trăm ki lô mét, xe không có sự cố, không phải dừng lại dọc đường. Đường đất đá gồ ghề, xe di có xóc, nhưng vẫn chạy đều đều, xe không bị máy bay săn đuổi. Người nữ quân y đi theo ngồi cạnh bà cho biết bà rất tỉnh táo, không say xe, vẫn trò chuyện trao đổi...


Đã có phương án của Binh trạm 33 phải thông báo cho các đơn vị bảo đảm giao thông sáng sớm mai tổ chức đi tìm lại, hy vong ban ngày dễ phát hiện hơn.

Tôi có chút suy tư, bình tĩnh nghĩ lại chặng đường đã đi qua và quả quyết: Khi đi qua dốc Ông Đời, ánh pháo sáng đã làm cho tôi nhìn thấy hai đốm tròn xoe, long lanh sáng chóingờ ngợ đôi mắt của thú rừng, lúc đó tôi đã nghĩ chắc là con thú nhỏ bị chẹt xe chết về phía phải đường. Đang làm nhiệm vụ hộ tống đoàn khách không có thời gian dừng xe lại. Nghe bà Tuần kể sự việc, tôi liên tưởng đến đó là hai khuy cài tròn bằng đồng của chiếc ví.


Binh trạm tán thành ngay ý kiến của tôi, điện thoại hướng dẫn cho trực barie ở đốc Ông Đời xuống dốc về phía bắc khoảng 50 mét tìm chiếc ví và mang ví ngay về Binh trạm bộ. Cán bộ Binh tram không quên dặn không được mở ví ra, phải giữ nguyên dạng.


Hơn 30 phút sau, cũng vừa mới kịp lau rửa chân tay, nhấm nháp miếng lương khô cùng chén trà hồng đào ấm áp thì một chiến sĩ công binh trực trạm barie dốc Ông Đời đã mang ví giao trả. Chiếc ví màu đen dính đất đổ đã bị biến dạng, vẹt đi một phía. Nét mặt bà Tuần lộ rõ sự vui mừng nhưng sợ ngộ nhận, chưa dám cầm lại.


Chính uỷ Binh trạm hiểu được tâm lí đó, khẳng định với bà Tuần mấy hôm nay chỉ có đoàn này ở phía Nam đi ra, còn bộ đội Trường Sơn, kể cả các cháu gái cũng không ai có ví này.

Tay run run, bà Tuần mở ví. Chiếc đèn pin hiệu "con cọp" bị bật vỡ kính, bà cười vui và cho biết giấy tờ, vàng bạc mang theo không hề suy suyển.

Bà đã kịp thăm hỏi nói lời cảm ơn với người chiến sĩ đã tìm trả lại bà chiếc ví trước khi anh trở lại vị trí chiến đấu của mình trước lúc trời sáng hẳn. Bà trầm trồ:

- "Hôm qua người nữ y tá cũng đã tốt nghiệp lớp 10, nay anh bộ đội trẻ này vào chiến trường đã 2 năm, cũng đã học xong lớp 10, họ có bằng tú tài cả rồi đó."

Chiều tối hôm sau, đoàn rời Binh trạm 33 để về chỉ huy sở Bộ Tư lệnh. Đội hình vẫn giữ nguyên, thêm một cán bộ Tiểu đoàn 35 công binh dẫn theo con đường mới mở vượt ngầm Tha Mé, địch chưa phát hiện, bảo đảm an toàn hơn. Nhưng đến phía nam ngầm Tha Mé thì mới hay nước ngầm còn sâu, xe con không qua được, phải quay lại theo đường xuống hạ lưu sông Sê Băng Hiêng qua cầu nổi Bản Khốc. Nhưng phà lại đang còn sự cố.


Tôi nhảy lên cầu, quan sát cụ thể, nêu giải pháp tháo rời phà hàn khẩu, cho từng thuyền một vào tạm neo giữ, sau đó mới lắp dẩm và ván mặt cầu. Sau 15 phút, chiếc cầu nổi đã lắp xong nối thông hai bờ Nam Bắc. Đây là chiếc cầu nổi tự tạo bằng gỗ đầu tiên trên dòng sông Sê Băng Hiêng.


Ở nơi tạm lánh, anh Kiểm, chính trị viên phó Đại đội kể với đoàn khách tóm tắt bộ cầu nổi Bản Khốc do các sĩ quan tổ vượt sông Phòng Công trình cùng đại đội vượt sông của anh tổ chức chế tạo. Các sĩ quan Phòng Công trình còn rất trẻ, đã tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội, ở lại Trường Sơn suốt cả mùa mưa Lào tầm tã. Công việc thi công bộ cầu nối này cũng không đơn giản, phải qua nhiều công đoạn: chọn, đẵn, xẻ gỗ, đốt uốn cong, lắp chàm xảm... chất liệu chàm xảm phải mua từ hậu phương mang vào. Thuyền gỗ đủ để lắp ghép cầu có chiều dài hàng trăm mét trên sông này.


Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn Đồng Sỹ Nguyên tiếp đoàn tại chỉ huy sở ở K1, ngay sau buổi giao ban thường ngày điều hành công việc của mấy chục đơn vị đầu mối cấp dưới và khi đã giải quyết các quan hệ nóng bỏng với các chiến trường.

Tư lệnh nói những lời chân tình hỏi thăm qua 3 chặng đường và vui mừng cho biết trong buổi giao ban sáng nay đã nghe việc đảm bảo cho đoàn khách qua 2 binh trạm và câu chuyện chiếc ví. Nhìn gương sắc vui vẻ, phấn chấn của các vị khách, Tư lệnh cũng đã thầm hiểu, đánh giá được trình độ "ngoại giao" mà thêm tin tưởng khả năng cán bộ cấp dưới của mình.


Trưởng đoàn, Thượng toạ Thích Đôn Hậu nhỏ nhẹ, tế nhị hỏi:

- "Xin đồng chí Tư lệnh cho chúng tôi rõ thêm bao giờ được đến đường mòn Hồ Chí Minh, và từ đó ra Bắc bao xa?".

Tư lệnh cười, cởi mở chậm rãi nói: "đường mòn Hồ Chí Minh đến nay đã thành nhiều trục ngang dọc nối từ hậu phương vào đến chiến trường Khu 5, Nam Bộ, chính là con đường các vị vừa đi 3 đêm qua, và còn đi tiếp dăm đêm nữa thì mới đến hậu phương".

Các vị khách đã hiểu, cùng cười vui sung sướng vì vẫn nghĩ rằng đường mòn Hồ Chí Minh chỉ là một con đường mòn đi bộ.

Đêm nay, cũng trong gian hầm nhỏ nửa âm nửa dương, khác một chút là xung quanh có phên nứa đan che tránh đất đổ, mái nứa băm, lợp kéo sát xuống một rãnh nhỏ được khơi xung quanh để thoát nước mưa, cụ Đốc Đoá ngồi trầm ngâm ghi chép gì đó bên ngọn đèn điện rất sáng, ánh sáng chum lại qua một miếng vải xanh vừa vặn trên trang giấy. Thượng toạ Thích Đôn Hậu đứng ngoài sân, một mảnh đất nhỏ tương đối bằng phẳng trước nhà, tay chắp sau lưng ngắm nhìn những vì sao len lỏi trong lá cây. Hình ảnh một nhà sư với bộ thiền phục rộng rãi thoải mái đang nghĩ về thế sự, cầu mong Trời Phật phù hộ cho những điều tâm đắc đoạn tuyệt được nỗi khô của chiến tranh, đem lại cho phía chính nghĩa, cho dân tộc Việt Nam sớm được hoà bình, độc lập, tự do, thống nhất.


Đêm tối mênh mông, xa xa phía đường số 9, pháo sáng địch vẫn toả chiếu, đẫn đường cho các đoàn xe hối hả vận chuyển hảng hoá đến các chiến trường.

Trên đường mòn Hồ Chí Minh, chiến sĩ lái xe Trường Sơn đang xung trận!
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #57 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2025, 08:21:55 pm »

CẦU CAO SA LUNG,
MỘT CHỨNG TÍCH LỊCH SỬ CỦA TUYẾN ĐƯỜNG 559

Kỹ sư Nguyễn Xuân


Trong lịch sử đánh giặc ngoại xâm, cha ông chúng ta đã có nhiều hình thức đánh lừa kẻ địch.

Trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước, nhiều chiến thuật nghi binh cũng đã được tiến hành đạt hiệu quả. Trong bài viết ngắn này, tôi xin kể câu chuyện nghi binh làm cầu Sa Lung, Vĩnh Linh để bộ đội ta mở đường vào phía tây tỉnh Quảng Bình vượt dãy Trường Sơn.


Tóm tắt sự kiện như sau:

1. Giữa năm 1962, theo yêu cầu của Cục Tác chiến Cục Công binh, Bộ Tổng Tham mưu cử đồng chí Trần Tất Thắng, Tham mưu trưởng và một số trợ lý Ban Nghiên cứu đi khảo sát giới tuyến phía Bắc. Rất tiếc cho đến nay, tôi vẫn không rõ trên Bộ, vị tướng nào đã chỉ đạo việc này.


Đoàn hành quân theo đường sắt, tiếp đó đi bộ vào phía nam, gặp một con sông trên bản đồ có tên gọi sông Bến Xe, một nhánh của sông Bến Hải, có một cầu sắt bị phá hoại, chỉ còn lại hai mố cầu, bản đồ ghi tên là cầu Sa Lung. Đồng chí Cục trưởng Cục Tác chiến quyết định giao nhiệm vụ cho công binh nghiên cứu bắc một cây cầu qua sông với điều kiện:

- Vật liệu bằng gỗ

- Tải trọng cho xe 10 tấn

- Thời hạn sử dụng từ 2 đến 3 năm

- Yêu cầu phải giữ bí mật ý định làm cầu.


2. Triển khai của Cục Công binh:

Cục giao nhiệm vụ cho Ban Nghiên cứu làm cầu theo dạng cầu quân sự của quân đội Liên Xô trong đại chiến thứ hai. Hai cán bộ được Cục trực tiếp giao nhiệm vụ là Phan Thanh Vân, trung uý chịu trách nghiệm các quan hệ; và tôi - Nguyễn Xuân, kỹ sư thiết kế và tổ chức thi công.


Cục Công binh đã điều động một tiểu đoàn của Trung đoàn 98, trực thuộc Cục Công binh gồm 2 đại đội phục vụ thi cóng cầu. Cục cấp đủ các máy móc thi công cầu và dụng cụ làm mộc tốt nhất lúc đó như: máy phát điện 50 kw, máy Pec 15 làm mộc, máy cưa IFA của Đức để xẻ gỗ, máy đầm, máy đóng cọc C254...


3. Thông qua phương án và tổ chức thi công:

Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi đã thiết kếhai phương án:

- Phương án 1: Làm cầu quân sự nhịp đơn giản phải đóng xuống sông 15 hàng cọc để bắc các dầm cầu, phương án này bất lợi là khi có lũ về thì sông bị tắc dòng chảy, nguy hiểm cho cầu.

- Phương án 2: Thiết kế kiểu cầu dàn, nhịp dài, nhưng kích thước cầu lại rất lớn, khó giữ bí mật.

Sông rộng 60 mét, chia thành 3 nhịp, mỗi nhịp 20 mét thiết kế với trục xe 10 tấn và xe xích 30 tấn. Khối lượng gỗ thành khí 150 mét khối.

Trình phương án thiết kế lên Cục Tác chiến, phương án 2 được phê chuẩn, với yêu cầu thi công nhanh, giữ bí mật ý định làm cầu đến phút cuối cùng.


4. Tổ chức thi công:

Với lực lượng 2 đại đội, chia làm 2 mũi.

Một mũi chuyên khai thác gỗ trong rừng Bãi Hà, tây Vĩnh Linh. Số lượng 300 cây gỗ lim, đường kính từ 20 đến 40 cen ti mét, dài 4 đến 5 mét, tự vận chuyển ra khỏi rừng.

Mũi thứ hai dùng cưa EFA xẻ gỗ và tổ chức chế biến thành các thanh dầm cầu theo thiết kế, thời gian trong 3 tháng.

Chúng tôi chọn vị trí tổ chức công trình ở thượng lưu cầu chừng 3 ki lô mét trong một khu rừng kín, máy bay địch không thể phát hiện được. Chọn ngày N chính thức khởi công, đóng cọc chân cầu. Đó là một ngày thời tiết mưa dầm, mây mù.

Dùng búa đóng cọc C254 nhiên liệu diezel, có khối lượng quả búa 600 ki lô gam, tổ chức đóng 24 cọc trên sông trong hai ngày. Từ ngày N+3 thì dùng thuyền gỗ vận chuyển các nhịp cầu xuôi theo dòng sông trôi về đến cầu.

Dùng giá búa tời của máy đóng cọc, kéo nhịp cầu bắc lên trụ cầu. Ngày N+5 đã bắc xong 3 nhịp cầu. Sau đó công binh Lữ đoàn 341 đóng tại Vĩnh Linh cho lắp đặt hai đầu cầu và cho xe chở vật liệu qua cầu sang xây dựng công trình tại cao điểm 74 ở bờ Nam. Thời gian sử dụng cầu từ tháng 9 năm 1962 đến cuối năm 1965, khi đế quốc Mỹ dùng máy bay đánh phá Vĩnh Linh thì cầu bị hỏng.

Sau đó, công binh Quân khu 4 đã tranh thủ tháo dỡ phần gỗ đưa ra xây dựng cống sự tại đảo Cồn Cỏ.

Cấp trên tuyên bố: cầu cao Sa Lung đã hoàn thành nhiệm vụ.

Chấp hành nghiêm túc lệnh của trên, Ban Nghiên cứu Cục Công binh đã thí nghiệm một kiểu cầu theo kiểu cầu cao của Liên Xô, nhưng lại chọn địa điểm gần địch và cầu được sử dụng một thời gian. Kẻ địch bên kia giới tuyến tập trung quan sát, theo dõi các hành động của ta. Trong lúc đó, ta bí mật theo đường phía tây Quảng Bình Bang, Làng Ho,... sang phía tây Trường Sơn. Khi địch phát hiện thì ta đã mở sâu được hàng trăm ki lô mét đường, địch chỉ còn cách rải chất độc lảm trụi lá cây để tìm đường đi của quân ta.


Việc làm cầu cao ở Sa Lung là một hình thức nghi binh chiến lược rất khôn khéo, khoa học, rất hiện đại. Tôi nghĩ cũng cần tổng kết và ghi vào lịch sử của tuyến đường Trường Sơn thời chống Mỹ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #58 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2025, 08:26:34 pm »

Kỹ sư
NGUYỄN CÔNG NGHỆ


Sinh năm:   1935
Quê quán:   Thái Yên, Đức Thọ, Hà Tĩnh
Thường trú: Nhà số 35/ngõ 91, phố Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 04.38314544 - 0167.7219755
Cán bộ kỹ thuật Bộ GTVT biệt phái tháng 4 năm 1965
Nguyên Cán bộ kỹ thuật Công trường 128, Đội Khảo sát 1 Công binh
Nguyên Quân Tình nguyện Việt Nam tại Lào (1953)
Nguyên Chuyên viên Uỷ ban Nhân dân Tp. Hà Nội


LÍNH KHẢO SÁT THIẾT KẾ ĐƯỜNG 559 - TRƯỜNG SƠN


Tháng 4 năm 1965, nhận quyết định của Bộ Giao thông vận tải "Đi công tác đặc biệt". Chỉ có gia đình được biết, không được mang theo các giấy tờ có chữ Việt. Thời ấy tôi là cán bộ trung cấp cầu đường, chuyến đi nghiên cứu khảo sát thiết kế các tuyến đường Tây Bắc, Việt Bắc.


Lệnh đi công tác chỉ báo trước hai ngày, tối 17 tháng 4 năm 1965 phải có mặt tại 80 Trần Hưng Đạo để nghe Bộ trưởng dặn dò trước khi lên đường. Đoàn chúng tôi gồm 21 anh em. Cùng cơ quan Viện Kỹ thuật Giao thông với tôi có đồng chí Trần Quốc Dần, Lê Xuân Nhâm và Vi Văn Miết, số còn lại đa phần ở Viện Thiết kế Giao thông. Đoàn được bố trí chiếc xe ô tô của Liên Xô do đồng chí Đẩu lái. Cứ xem cung cách chuẩn bị tư trang, máy móc thiết bị khảo sát thiết kế,mỗi người một khẩu K44 chưa bóc tem, hẳn chúng tôi biết là đi mặt trận khảo sát đường quân sự rồi.


Mười giờ đêm ngày 17 tháng 4 năm 1965, xe xuất phát tại trụ sở Bộ Giao thông vận tải 80 Trần Hưng Đạo - Hà Nội theo hướng nam tiến, ngày nghỉ, đêm đi để tránh máy bay địch phát hiện. Đến đêm thứ bảy thì xe rẽ phải theo hướng tây qua Cha Lo; 8 giờ sáng 24 tháng 4 năm 1965, tại một địa điểm thuộc bản Tha Pha Chon, huyện Bua La Pha, tỉnh Khăm Muộn, cả đoàn có mặt tại địa đầu của tuyến đường an toàn, khoẻ mạnh.


Nhớ lại, ngay từ khi đặt chân đến bản Tha Pha Chon buổi tiếp xúc đầu tiên giữa đoàn quân đi trước, lính khảo sát 559 với nhân dân và chính quyền địa phương có phần hấp dẫn kì lạ về tình quân dân Việt - Lào. Trưởng bản, các ông "phò", bà "me"1(Phò, me: dịch sang tiếng Việt lả bố, mẹ) và các em nhỏ đến chào đón, họ mang theo xôi để trong "tip", thịt thú rừng, các loại hoa quả như xoài, chuối, dừa... để chung vui cùng bộ đội Việt Nam. Thấy tôi nói tiếng Lào thành thạo, họ bắt chuyện rất đỗi thân mật.


Nhiều anh em hỏi tôi vốn tiếng Lào có tự bao giờ. Tuổi thơ của tôi gắn liền với một thành phố bên sông Mê Kông thành phố Thà Khẹc, tỉnh Khăm Muộn, đối diện với bên kia sông là thành phố Na Khon của Thái Lan. Ngày 21 tháng 3 năm 1946, giặc Pháp gồm bộ binh từ ngoài và máy bay ồ ạt ném bom đánh chiếm thành phố. Trận ấy, Việt kiều ta có trên 2.000 người ngã xuống, máu đổ loang cả khúc sông, xác người trôi lềnh bềnh. Số còn lại vượt sông lánh nạn sang Thái Lan, tôi theo cha mẹ vượt sông thoát chết, năm ấy tôi mới 11 tuổi. Với lòng căm thù giặc khôn nguôi, tuy nhỏ tuổi nhưng tôi đã theo cha anh hoạt động bí mật, một lòng hướng về Bác Hồ, mong đợi ngày trở về trả thù giặc và tôi đã tình nguyện vượt sông tham gia bộ đội giải phóng Thà Khẹc, giải phóng Trung Lào 1953-1954.


Cái duyên tiếng Lào đã theo tôi suốt những năm tháng cuộc đời kể từ độ ấy. Và chính tại Công trường 128, Đoàn 559 này, tôi là phiên dịch duy nhất của Ban chỉ huy.

Năm tháng trôi đi, anh lính khảo sát kiêm phiên dịch ngày ấy còn lăn lộn với đoàn khảo sát thiết kế của Bộ Giao thông vận tải Việt Nam giúp Lào khảo sát thiết kế tuyến đường sắt thông ra biển chạy dọc quốc lộ số 9, nối liền cảng Đà Nẵng Việt Nam và thành phố Sa Va Na Khẹt - cũng là thành phố bên sông Mê Kông - sự việc đó xảy ra cách đây cũng đã 30 năm rồi.


Sau buổi tiếp xúc giữa anh em khảo sát và nhân dân địa phương, đồng chí Hồ Sĩ Dậu, trưởng đoàn bàn giao quân số với Bộ Tư lệnh 559, nhận nhiệm vụ trực tiếp tại Công trường 128, đã phân công anh em tiến hành ngay công việc. Hướng tuyến đã được trên duyệt, từ rừng Trường Sơn đại ngàn nay biến thành đường cho xe cơ giới chạy.


Các đơn vị thi công cơ giới và công nhân các công trường thuộc Bộ Giao thông vận tải từ ngoài Bắc vào, các đơn vị thanh niên xung phong biên chế cấp tiểu đoàn lần lượt tập kết quân sẵn sàng chờ lệnh.

Trước tình hình khẩn trương, đội khảo sát thiết kế phải phân đoạn chia nhau làm để có tài liệu bàn giao cho các đơn vị thi công. Việc đi tuyến, cắm mốc, phát tuyết thật vất vả, phải chọn địa hình địa vật thích hợp vừa rút ngắn cự ly, vừa giảm được khối lượng đào đắp, ít cầu cống. Nhiều lý trình phải làm đi làm lại, cây rừng nào phải chặt, cây nào giữ lại che chắn để máy bay khó phát hiện.


Trèo đèo, lội suối, luồn rừng, lên dốc lại xuống dốc. Mưa như trút, quần áo ướt sũng, ướt rồi lại tự khô, dày dép rách bươm, tất chống vắt thiếu, anh em phải cắt ống quần ra tư khâu mà dùng. Vắt nhiều đến nỗi không kịp phát hiện, khi thấy máu thấm đỏ áo quần thì chứng đã hút màu mình căng tròn và tự rơi. Còn vô tình dẫm phải tổ ong là chúng bổ vào đốt cho bươu đầu, phát sốt. Ngày làm vất vả, tối phải căng võng ngủ rừng thì vắt và muỗi cũng không tha. Những đoạn tuyến đi gần bản có thể mượn nhà sàn để anh em ngả lưng khi mệt mồi, nhưng cũng là mối nguy hiểm nếu không phòng tránh máy bay như nấu ăn, phơi phóng để lộ màu sắc khác thường hoặc đi lại thành đoàn đông người là máy bay đến bắn phá tan tành cả bản. Tuyến dài trên 100 ki lô mét nhưng anh em phải đi đi lại lại cả ngàn ki lô mét mới quyết định được.


Lính khảo sát thiết kế chúng tôi thường đi trước, đến trước và biết trước nhưng, chưa ai hiểu sự "trước" ấy mà anh lính phải tự lực cánh sinh mọi mặt sinh hoạt giữa nơi rừng thiêng nước độc chưa có dấu chân người. Cũng may mà cứ đến mỗi bản, chính quyền địa phương lại chọn cử một người am hiểu địa hình địa vật đi theo anh khảo sát, cũng chui rừng lội suối, cũng chịu vắt bâu bám khắp người, máu thẫm đẫm áo quần mà vẫn lặn lội cùng khảo sát, kể cả việc dìu bước anh em khi bị lên cơn sốt dọc đường, khênh cáng thương binh. Cùng vì sự "trước" ấy mà nhiều ngày anh em phải nhịn cơm ăn cháo, thiếu thuốc men, quân trang, quân dụng vì tác nghiệp cuối tuyến mà kho cấp phát đầu tuyến, vì trời mưa úng ngập cả khu rừng...


Tình hình khẩn trương nên Bộ Tư lệnh, cán bộ lãnh đạo phải theo sát từng lý trình, xuống tận nơi thị sát thực tế để chỉ đạo, động viên kịp thời. Những tưởng sau khi bàn giao xong tài liệu toàn tuyến, anh em được xả hơi. Nhưng không, họ phải chia nhau bám sát các trọng điểm địch đánh phá tắc đường.


Ở đâu cần lại có khảo sát, họ lại luồn rừng băng qua bom đạn để tìm tuyến tránh. Khi bên thi công thiếu cán bộ, trên lại điều anh em làm cán bộ kĩ thuật. Lính khảo sát 559 lúc ban đầu như thế đó.

Tháng 5 nắng đã nhạt, báo hiệu mùa mưa bắt đầu, mưa Trường Sơn thật khủng khiếp, mưa như trút, không có ánh nắng 5, 6 tháng liền. Tiếng sét đánh, tiếng máy bay nhào lộn thả bom bắn phá suốt ngày đêm, toàn bộ cây rừng trước xanh tươi nay chất độc đã làm rụng, hết lá, bom phạt đổ ngổn ngang. Chúng thả cả những thiết bị điện tử phát hiện xe máy của ta, thả cả mìn nom như cục đá dăm để sát thương bộ đội. Cứ 6 giờ tối, loại máy bay C130 đi thả pháo sáng, sáng đến mức có thể đọc được báo; pháo sáng soi bước tiến của bộ đội Trường Sơn đang ngày đêm đào núi mở đường. Tiếng máy thi công, tiếng mìn phá đá chặt cây át cả tiếng bom đạn của kẻ thù. Không khí một đại công trường thật hối há, náo nức, tất cả vì tuyến đường quyết thắng làm cho tâm hồn mọi người cũng cảm thấy phấn chấn, quên cả lo âu gian khổ, dám xả thân vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Từng ngày, từng ngày, con đường cho xe cơ giới cứ tiến dài lên phía trước hướng vào miền Nam.


Tôi nhớ cuối mùa mưa 1965, khi tôi đang là Tiểu đoàn phó kỹ thuật Tiểu đoàn 4 thanh niên xung phong Thanh Hoá (đồng chí Hoàng Đạc là Tiểu đoàn trưởng), Bộ Tư lệnh điều về Phòng tham mưu Công binh của đồng chí Nam Hải để chuẩn bị đón Tư lệnh 559 Phan Trọng Tuệ sang thăm Công trường 128.


Tin bay đi toàn công trường, nhờ đó báo cáo với Tư lệnh những thành quả phi thường về tiến độ hoàn thành công việc trước sự đánh phá khốc liệt của kẻ thù, đồng thời để Tư lệnh biết đến khó khăn thiếu thốn và những cực nhọc của anh em kể cả hy sinh tính mạng khi đang tác nghiệp. Suốt dọc đường, ở đâu có anh chị em đang làm việc, Tư lệnh dừng lại động viên, thăm nơi ăn nghỉ, dặn dò việc phơi phóng, nhất là chị em nữ, không để máy bay phát hiện, thăm bếp ăn không khói. Đến thăm một đoạn đường "rông đanh" thấy anh em dùng dây rừng neo buộc, đồng chí chỉ thị cho hậu cần cấp dây thép, gợi ý cách nêm cài sao cho khi xe đi qua không bọng bật. Đến đoạn đường trống trải, đồng chí yêu cầu trồng cây, cỏ nguỵ trang để hạn chế máy bay đánh phá. Đến thăm bệnh xá, đồng chí biết rằng sau mùa mưa tỉ lệ sốt rét, ốm đau lên đến 50-60 phần trăm.


Chuyến thăm của Tư lệnh Phan Trọng Tuệ đến Trường Sơn đã để lại ấn tượng trong anh em về một thủ trưởng có tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát, thoăn thoắt như ẩn hiện sâu sát tình hình.

Sau chuyến thăm của Tư lệnh Phan Trọng Tuệ, Công trường 128 phát động thi đua nước rút, tranh thủ mùa khô đẩy nhanh tiến độ thi công. Và thật bất ngờ, tháng 5 năm 1966, Công trường đã hoàn thành tuyến đường 128 dài 176 ki lô mét. Để đánh giá thành quả đạt được, các đơn vị đều được cử đại biểu về dự tổng kết trong hai ngày 24 và 25 tháng 5 năm 1966 tại bản Na Cha Ling. Trên đỉnh Trường Sơn từ nay ghi dấu một con đường vì miền Nam ruột thịt, đường Trường Sơn quyết thắng.


Hòa chung niềm vui của Công trường, tôi cũng thật vui vì được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam, được công trường tặng giấy khen hai lần. Và đặc biệt được Chính uỷ 559 Vũ Xuân Chiêm tặng bằng khen. Lễ kết nạp Đảng của tôi đã được tổ chức tại công trường bộ, tại khu rừng Na Cha Ling, dưới ảnh Bác Hồ, Đảng kỳ và hoa phong lan rừng rực rỡ do anh em khảo sát hái về.


Niềm vui chung và vui riêng thật ấn tượng, sâu sắc nhất đời tôi, người cán bộ kỹ thuật cầu đường, lính khảo sát thiết kế 559 - Trường Sơn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #59 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2025, 08:36:13 pm »

Đại tá
PHẠM NGỌC VŨ

Sinh năm:   1944
Quê quán:   Tiến Thuỷ, Quỳnh Lưu, Nghệ An
Thường trú: Nhà 30, H3A, Thanh Xuân Nam, Thanh Xuân, Hà Nội
Điện thoại: 04.38543239 - 0983.341502
Cán bộ Kỹ thuật Bộ GTVT chuyển sang Quân đội
Nguyên Thiếu uý, Đại đội trưởng Cầu phà Binh trạm 14 Bộ Tư lệnh 559
Nguyên Phó Giám đốc Công ty Tư vấn và Xây dựng Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn


NHỮNG NGÀY ĐẦU
ĐI TÌM HƯỚNG TUYẾN VƯỢT HẢI VÂN


Ngày 26 tháng 6 năm 1997, khi đang chỉ đạo khảo sát Dự án 3 xa lộ Bắc - Nam (sau này là đường Hồ Chí Minh) ở khu vực Thừa Thiên - Huế, tôi nhận được lệnh phải tổ chức ngay một tổ thị sát để tìm hướng tuyến không đi chung qua hầm Hải Vân, theo chỉ đạo của Đặc phái viên Chính phủ Đồng Sỹ Nguyên và Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo Nhà nước về công trình Xa lộ Bắc - Nam.


Hải Vân là một phần của giải Trường Sơn trùng điệp với các đỉnh núi cao hàng ngàn mét sừng sững án ngữ suốt chiều dài 70 ki lô mét từ biên giới Việt Lào đến bờ biển, chia cắt Thừa Thiên - Huế với Quảng Nam - Đà Nẵng.

Hiện tại, hai tuyến giao thông xuyên Việt là quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Thống Nhất đều tập trung ở điểm nút Hải Vân. Đây là điều bất lợi về mặt quân sự, cần phải tìm con đường khác cho đường Hồ Chí Minh. Liệu có đưa hướng tuyến của Xa lộ Bắc - Nam lên phía tây để dãn nút Hải Vân? Đây là câu hỏi đặt ra cho tư vấn Trường Sơn phải trả lời trước Bộ Giao thông vận tải trong thời gian ngắn nhất.


Để giải đáp câu hỏi này, tôi tổ chức một tổ thị sát gồm ba người: tôi, anh Phan Bá Liêm, anh Phạm Văn Đăng và bắt tay ngay vào công tác chuẩn bị. Việc đầu tiên là nghiên cứu các phương án tuyến trên bản đồ. Chúng tôi đưa ra ba phương án vượt Hải Vân, cách nhau khoảng 10 - 15 ki lô mét:

- Phương án 1: qua Bạch Mã - Mũi Trâu

- Phương án 2: qua đèo 900 ở khoảng giữa

- Phương án 3: qua đèo 880 ở phía tây

Để thị sát 2 phương án đầu, chúng tôi dùng xe ô tô kết hợp với đi bộ, lội suối, cắt rừng. Bằng mọi cách, mọi hướng để tiếp cận, quan sát cho được các điểm không chế, xác định, vẽ lên bản đồ.

Để thị sát phương án thứ 3, chúng tôi chọn hướng đi từ Hiên ra Nam Đông. Ngày 01 tháng 7 năm 1997, từ Nam Đông xe quay ra Đà Nẵng để lên Hiên theo Tỉnh lộ 604. Đến Trung Mang thì xe bị hỏng. Lái xe khắc phục đến tối mịt vẫn không được. Đêm ấy, 4 anh em căng màn ngủ trước nhà Bưu điện Trung Mang. Nửa đêm, trời đổ mưa, mọi người lục tục soi đèn căng áo mưa che chắn. Cô nhân viên bưu điện phát hiện, bật đèn mời vào nhà nhưng thấy bất tiện, cánh lính từ chối. Sáng hôm sau, tôi quyết định thay đổi phương án: Anh Đăng cùng cậu Khoái - lái xe, ở lại tìm cách khắc phục rồi quay ra Nam Đông chờ. Tôi cùng anh Liêm bắt xe ngoài lên thị trấn Trao.


Buổi chiều, chúng tôi vào làm việc với UBND huyện Hiên để báo cáo về mục đích chuyến đi và xin được sự giúp đỡ của địa phương. Chúng tôi tìm hiểu địa hình và lên kế hoạch thị sát. Huyện đội cử đại uý Hùng cùng đi. Đêm ấy hai anh em ngủ lại nhà khách uỷ ban, chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho chuyến đi bộ ngày hôm sau.


Sáng 03 tháng 7 năm 1997, chúng tôi lên đường. Văn phòng uỷ ban huyện cho một chuyến xe U-oát để đỡ quãng đường phải đi bộ. Đây là con đường Trường Sơn năm xưa, từ Trao đi A Tép và vòng qua đất Lào về Bù Lạch - A Đớt của huyện A Lưới. Đi được 9 ki lô mét thì xuống xe, bắt đầu đi bộ. Lội qua sông A Vương theo đứng con đường mòn và các vật chuẩn mà anh Chánh văn phòng UBND huyện đã chỉ dẫn, chúng tôi tìm vào được UBND xã A Vương. Lúc này là 9 giờ.


Văn phòng UBND xã A Vương là một căn nhà tranh ba gian hoang vắng, nằm trơ trọi bên sườn đồi. Không một bóng người. Cạnh hồi nhà buộc một con trâu đang thở phì phò. Ngó qua phên nứa, phía trong có một tủ đứng, một chiếc bàn rộng với hai ghế băng dài mốc meo bụi bặm. Ở gian trái, treo một chiếc sàn bằng nứa, trên úp vài cái nồi, mươi bộ bát đĩa. Tất cả những vật đụng đó coi như đủ "tiện nghi" cho vài người làm việc và ăn ngủ qua đêm. Đây là Văn phòng của UBND xã A Vương, huyện Hiên. Có đến đây mới thấy cơ sở vật chất của một xã miền núi còn đơn sơ và thiếu thốn biết chừng nào!


Chẳng biết hỏi ai, và cũng chẳng có ai mà hỏi. Đến 10 giờ 15 phút thì một phụ nữ người dân tộc khoác chiếc gùi sau lưng bước vào. Chị có dáng người đậm và đen. Không biết nên đoán tuổi chị khoảng 30 hay 40 từ khuôn mặt khắc khổ của người phụ nữ. Chị nhìn chúng tôi bình thản như người không có cảm xúc, nhưng chúng tôi thì mừng hẳn vì ít ra cũng có người để hỏi. Đoán là khách đến làm việc, chị tự giới thiệu chị là Chi hội trưởng phụ nữ xã, hôm nay đến phiên trực. Chị bảo vừa phải đi bộ hơn 10 cây số từ nhà đến đây, mệt lắm! Không ai khác, chị chính là người chúng tôi đã gặp trên đường đi khi vừa ra khỏi thị trấn Trao được vài cây số. Lúc gặp xe, chị có vẫy xin đi nhưng hình như lái xe không để ý. Giá như biết chị đi trực thì chúng tôi đã mời lên xe. Đại uý Hùng giới thiệu với chị về đoàn công tác. Tôi báo cáo mục đích chuyến đi và xin phép được hoạt động trên địa bàn của xã. Chị viết cho tôi mấy chữ, giá trị như giấy giới thiệu để liên hệ khi vào bản. Rồi chị hướng dẫn đường đi, dặn vào bản gặp ai... Lúc này cái chất cán bộ của chị mới được bộc lộ. Chia tay chị, chúng tôi mang theo ấn tượng về một cán bộ phụ nữ miền núi thầm lặng, chân thật và thiệt thòi.


Đội hình hành quân lúc này gồm bốn người: cậu thanh niên địa phương mà chúng tôi vừa gặp nhờ dẫn đường, khoác ba lô đầy chăn màn và lương thực đi trước. Anh Liêm cầm địa bàn và dao phát đi sau. Tiếp đến là tôi với tấm bản đồ thường trực trên tay và chiếc máy ảnh đeo lủng lắng bên hông. Đại uý Hùng mang khâu AK đi sau cùng. Vừa đi vừa quan sát địa hình, đối chiếu với hướng tuyến đã vạch trên bản đồ.


Đi được khoảng 5 ki lô mét, tôi bắt đầu thấy đau khớp gối chân phải. Sợ mọi người lo lắng, tôi lặng lẽ chặt một cây rừng làm gậy, tiếp tục đi. Đến bờ suối, có bãi đá mát mẻ, cả đoàn nghỉ ăn trưa, chớp nhoáng rồi lại hành quân. Kinh nghiệm đi đường cho thấy càng nghỉ nhiều càng ngại đi. Khoảng 5 giờ chiều thì gặp một bà cụ đang lom khom mò cá dưới suối, biết là sắp đến bản. Đi thêm chừng vài cây số thì tới một bản nhỏ có 6, 7 nóc nhà.


Đang ngồi trong nhà trưởng bản thì cụ già mà chúng tôi vừa gặp ngoài suối đi qua, ông trưởng bản bô bô một tràng bằng tiếng dân tộc. Chúng tôi không hiểu gì, chỉ đoán chắc ông hỏi về chuyện mò cua bắt cá. Rồi ông quay sang nói với chúng tôi bằng tiếng Kinh không sõi:

- "Nó là dũng sĩ diệt máy bay Mỹ ngày trước!".

Thế nó bao nhiêu tuổi ?" - Tôi hỏi.

"Năm mươi, bằng mình thôi mà" - ông trưởng bản đáp.

Hoá ra chưa bằng cái tuổi 53 của tôi. Bất chợt tôi nghĩ đến "năm tuổi" của mình. Hồi Tết, tôi tự nhủ là năm nay sẽ không đi đâu xa cả. Năm 49 tuổi, tôi phụ trách thi công trên đường Bắc Thăng Long - Nội Bài. Ngồi trên chiếc Bò Ma chở cát, cậu Cường lái xe không quan sát, giương thùng Bel lên, móc vào đường cáp điện mà không biết, cứ thế vừa đổ cát vừa chạy làm đứt cáp nổ toé lửa, khiếp mãi... Từ đó, tôi tự dặn mình nhớ để đến tuổi 53 mà phòng. Thế mà bây giờ lại đang ở đây, chân đang đau!


Nghe ông trưởng bản nói mà tôi không thể nào tin nổi. Một bà già lam lũ, gầy khô như que củi thế kia lại có một thời oanh liệt - dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ! Đúng là dân tộc Việt Nam, ra ngõ gặp anh hùng!

Lúc này, sau một ngày lặn lội, cả bốn chúng tôi đều thấm mệt. Chặng đường còn lại hơn 30 ki lô mét, chắc chắn không thể đi trong một ngày. Đại uý Hùng, người của huyện đội cử đi xin được quay lại với lý do là chặng đường ngày mai năm ngoài địa bàn quản lý, không thuộc đường đi. Cậu thanh niên dẫn đường cũng bỏ cuộc vì kêu mệt, mặc dù chúng tôi đã động viên và hứa sẽ cho đi thăm quan cố đô Huế khi về đến Nam Đông.


Đang lo lắng thì may sao được một thanh niên có tên Châu Văn Mười nhận sẽ đi dẫn đường. Mười nói là có biết con đường mòn từ đây đi Nam Đông, lâu ngày không ai đi, chắc đã lấp khuất nhưng có thể vẫn còn dấu vết. Tìm hiểu, biết cách đây khoảng 3 ki lô mét trên đường đi còn có hai nóc nhà của người cùng bản, tôi quyết định đi lấn, đêm nay sẽ ngủ ở đó. 3 cây số đối với chúng tôi lúc này phải lê từng bước, thế mà một lũ trẻ con lít nhít, đầu trần chân đất, có đứa chỉ mỗi cái quần xà lổn, mũi thò lò, người đen thui thủi, bám theo chúng tôi đến tận bản trong. Rồi chúng lại mò mẫm quay về trong màn đêm chập choạng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM